Để dẫn dắt một đạo quân, ta cần không ngừng chăm lo cho nó, biết trước tin tức, dự phòng cho mọi điều.
• Napoleon nói với Joseph, tháng Tư năm 1813
Từ khải hoàn tới sụp đổ chỉ có một bước chân. Tôi đã thấy, trong những hoàn cảnh có ý nghĩa nhất, rằng điều nhỏ nhặt nào đó luôn quyết định những biến cố vĩ đại.
• Napoleon nói với Talleyrand, tháng Mười năm 1797
⚝ ✽ ⚝
Cho dù kẻ thù chính của Napoleon luôn là Áo trong suốt chiến dịch Italy, nhưng ông đã tận dụng những quãng thời gian ngắn ngủi khi quân Áo không gây ra mối nguy nào để bảo vệ mặt sau của mình. Người ta nói rằng khi quân Pháp tới Lãnh thổ Giáo hoàng vào tháng Sáu năm 1796, họ đã châm tẩu thuốc cho mình bằng những cây nến dùng để thắp trên bàn thờ, cho dù chỉ riêng sự sinh động của hình ảnh này đã thoảng mùi tuyên truyền bài Pháp. Sự thật là Giáo hoàng Pius VI đã chỉ trích Cách mạng Pháp và ủng hộ, nhưng không chính thức gia nhập, Liên minh Thứ nhất chống lại Pháp. Ông ta rồi sẽ sớm phải trả giá nặng nề cho sự sỉ nhục này. Giáo hoàng 78 tuổi đã trị vì được 21 năm, chẳng có năng lực về quân sự hay cá nhân để ngăn được Napoleon tiến vào Modena ngày 18 tháng Sáu, và Bologna ngày hôm sau, nơi ông trục xuất hết các chức sắc của Giáo hoàng và buộc họ phải quy thuận trong vòng một tuần. Đến cuối tháng Sáu, Napoleon đồng ý thỏa thuận đình chiến với Giáo hoàng, kèm theo một khoản “đóng góp” 15 triệu franc, đủ để đưa Đốc chính đi tới ý tưởng về một hiệp ước hòa bình. Saliceti cũng thương lượng việc giao nộp “100 bức tranh, bình, tượng bán thân hay toàn thân, như các phái viên Pháp sẽ quyết định”, gồm cả một bức tượng bán thân bằng đồng thau của Juninus Brutus và một bằng cẩm thạch của Marcus Brutus, thêm vào đó là 500 bản thảo viết tay từ Thư viện Vatican. Ngày 11 tháng Tám, con mắt sắc bén của Napoleon phát hiện ra Thư viện tìm cách giảm cam kết của mình xuống, nên đã viết cho François Cacault, đại diện Pháp tại Rome để nói: “Hiệp ước bao gồm 500 bản viết tay, không phải 300.”
Ngày 21 tháng Sáu, Napoleon, 26 tuổi viết ít nhất bốn lá thư gửi tới Đốc chính ở Paris, cảnh báo rằng ông chỉ có một “đạo quân trung bình” để “đối phó với mọi tình huống khẩn cấp; để kìm chân các đạo quân [Áo]; để bao vây các pháo đài, để bảo vệ phía sau của chúng ta, để đe dọa Genoa, Venice, Florence, Rome và Naples; chúng ta cần hiện diện mạnh mẽ ở khắp nơi”. Đúng thế: các thành phố lớn của Italy – ông có thể thêm vào cả Milan và Turin – bị kiểm soát vừa bởi sự e sợ được tạo ra từ tài năng có vẻ như bất khả chiến bại của ông, vừa bởi bất cứ lực lượng quân sự nào có mặt tại chỗ. Ông ở vào thế yếu trước một cuộc nổi dậy được điều phối khéo léo. Đốc chính cung cấp rất ít tăng viện, vì vẫn coi sông Rhine là chiến trường quan trọng hơn.
Một sự tương hỗ có tính toán giữa những lời đe dọa và vẻ bàng quan đóng một phần quan trọng trong nghệ thuật quản lý nhà nước tại Italy của Napoleon vào thời gian này. “Ở đây, người ta phải đốt phá, bắn giết để tạo ra nỗi kinh hoàng”, ông viết vào ngày 21 tháng Sáu, “và ở kia người ta phải giả bộ không nhìn thấy vì vẫn chưa tới thời điểm để hành động”. Ông kêu gọi lòng tự hào của những người ông sẽ chinh phục, song lại làm cho họ không thể nghi ngờ về những hậu quả của việc kháng cự. “Quân đội Pháp yêu quý và tôn trọng mọi dân tộc, đặc biệt là những cư dân thuần phác và đức hạnh của miền núi”, một bản thông cáo gửi tới người dân Tyrol vào tháng đó viết. “Nhưng nếu các bạn bỏ qua lợi ích của riêng mình và cầm vũ khí, chúng tôi sẽ khùng lên như lửa dội xuống từ thiên đường.”
Ông trông cậy rất nhiều vào Berthier, nhưng cũng không e ngại khẳng định năng lực của chính mình. Khi ông gặp Miot de Melito ở Bologna ngày 22 tháng Sáu, Napoleon đã hỏi nhà ngoại giao về tin đồn “rằng nhờ vào Berthier mà tôi có được thành công của mình, rằng anh ta chỉ đạo các kế hoạch của tôi, và rằng tôi chỉ thực hiện những gì anh ta đề xuất với mình”. Miot, người đã biết đến Berthier khi còn là một thanh niên tại Versailles, phủ nhận điều này, và tới đây Napoleon nói đầy hào hứng, “Ông có lý, Berthier không có khả năng chỉ huy một tiểu đoàn!” Nhưng đấy không phải là điều ông tin thực sự – vì ông đã giao quyền chỉ huy Đạo quân Italy cho Berthier năm 1798 và Đạo quân Dự bị năm 1800 – song nó cho thấy ông ý thức sâu sắc tới mức nào về hình ảnh của mình trước công chúng. Trong cùng một xu hướng, ông giờ đây sẽ thay đổi cách dùng từ trong các bản tuyên cáo để biến câu “Các tư lệnh của Quân đội Pháp” thành số ít.
Người Anh, vốn là các đối tác thương mại thân thiện với Đại công quốc Tuscany, bị trục xuất khỏi Livorno ngày 27 tháng Sáu, còn lượng hàng hóa trị giá 12 triệu bảng Anh của họ bị chiếm đoạt; thành cổ Milan thất thủ sau một cuộc pháo kích kéo dài 48 tiếng vào ngày 29. Khi người Anh đáp trả vào ngày 11 tháng Bảy bằng việc chiếm đảo Elba ở ngoài khơi Italy, một lãnh thổ trước đây thuộc về Đại công quốc, Napoleon nhận xét sắc bén: “Chúng ta sẽ không có quyền phàn nàn về một sự vi phạm tình trạng trung lập mà chính chúng ta đã làm gương”. Không lâu sau đó, Napoleon lấy được một khoản “đóng góp” từ Đại Công tước Ferdinand III của Tuscany, em trai Hoàng đế Francis, người đã trao cho các thương nhân Anh những đặc quyền thương mại ở Livorno. Khi Napoleon tiến tới Florence ngày 1 tháng Bảy, các con phố từ San Fridiano tới các cổng cung điện Pitti “đầy kín toàn bộ dân chúng cố gắng được nhìn thấy ông”. Napoleon tới gặp Ferdinand trong cung điện tại đó, trong Vườn Boboli, và nhìn thấy các bức tranh vẽ trên trần nhà lộng lẫy của Pietro da Cortona được nhà Medici đặt hàng, những thứ không thể dễ dàng di chuyển tới Paris được, cũng như các bức tranh của Rubens, Raphael, Titian, Van Dyck và Rembrandt, những thứ có thể mang đi được. Ông nói với Đại Công tước, người đón tiếp ông với tất cả sự lịch thiệp. “Anh trai ngài không còn một mẩu đất nào ở Lombardy nữa”. Điều này không đúng: Mantua vẫn đứng vững. Dù Ferdinand “tự chủ đến mức không để lộ ra chút lo lắng nào”, nhưng ông ta biết việc pháo đài này thất thủ sẽ sớm kéo theo việc ông ta bị mất ngai.
•••
Ngày 26 tháng Sáu, cuối cùng Josephine cũng rời Paris tới Milan trong nước mắt. Bà được tháp tùng bởi Joseph Bonaparte (người đang điều trị một căn bệnh lây qua đường tình dục), hầu gái Louise Compoint của bà, anh vợ của Joseph là Nicolas Clary, nhà tài chính Antoine Hamelin (người muốn tìm một công việc từ Napoleon và đang bao bọc Josephine), Junot, bốn người hầu, một đội kỵ binh hộ tống và con chó lai nhỏ Fortuné của Josephine, con vật từng có lần cắn Napoleon trên giường và sau này bị chết trong cuộc chiến không cân sức với con chó to và dữ hơn của người đầu bếp của ông. Với sự trơ tráo đến kinh ngạc, Josephine còn mang theo cả Hippolyte Charles, chàng sĩ quan khinh kỵ trong phòng ngủ của mình. Junot quyến rũ Louise trên đường đi, vậy là Josephine đã đuổi cô này khi họ tới Milan, biến Junot thành kẻ thù của mình. Hai năm sau, bà sẽ phải hối tiếc điều này một cách cay đắng.
Napoleon khiến bà chìm ngập trong những bức thư tình lê thê trên chặng đường xuống phía nam của bà, chẳng hạn một lá thư kết thúc bằng “Từ biệt, tình yêu của anh, một nụ hôn trên môi em – một nụ hôn nữa lên trái tim em” và trông đợi khoảnh khắc khi “anh có thể ở trong vòng tay em, dưới đôi chân em, kề bên ngực em”. Ông viết từ Pistoia ở Tuscany để nói với bà rằng trong các túi ông “đầy ắp những lá thư anh không bao giờ gửi cho em vì chúng thật ngốc nghếch, thật ngớ ngẩn – đúng hơn là dở hơi”. Xét về bản chất, những lá thư ông đã gửi đi, thực sự phải là quá dở hơi . Trong một đoạn lặp lại những cảm xúc khổ dâm của mình trước đây, ông viết: “Cứ việc giễu cợt anh như em muốn, ở lại Paris, kiếm nhân tình và để cả thế giới biết điều đó, không bao giờ viết thư cho anh – Vậy đấy! Anh sẽ chỉ yêu em nhiều hơn gấp chục lần!”
Josephine đến cung điện Serbelloni ngày 10 tháng Bảy, và ba ngày sau Napoleon tới đó gặp bà, sau một hành trình hơn 480 km từ Milan qua các lãnh thổ của nhà Habsburg, Giáo hoàng, Venice và các thành phố độc lập gồm Peschiera, Brescia, Tortona, Modena, Bologna, Livorno, Florence, Roverbella, Verona, rồi trở lại Milan sau sáu tuần, thị uy với cả miền Trung Italy và thu lấy những khoản đóng góp tổng cộng tới hơn 40 triệu franc. Ông không biết tới Hippolyte Charles – cả Junot, Murat và Joseph không ai định nói với ông – còn Josephine có vẻ đã đáp lại khá nồng nhiệt sự quan tâm của ông, dù về mặt cảm xúc bà có thể cảm thấy khác. Hamelin nhớ lại, rằng: “Thỉnh thoảng ông ấy lại rời khỏi phòng làm việc của mình để chơi với vợ như thể bà ấy là một đứa trẻ. Ông ấy trêu đùa vợ làm bà ấy kêu thét lên, và áp đảo bà ấy với những cái vuốt ve dữ dội tới mức tôi buộc phải tới chỗ cửa sổ và quan sát thời tiết bên ngoài”. Đó chắc chắn là một mối quan hệ đụng chạm thân mật; nhà soạn kịch Carrion de Nisas ghi lại rằng “phu nhân Bonaparte không trẻ cũng không đẹp, song bà vô cùng khiêm tốn và hấp dẫn. Bà thường xuyên vuốt ve chồng, người có vẻ tận tụy với bà. Bà hay khóc, có lúc cả ngày, vì những lý do rất nhỏ nhặt.”
Napoleon cho gọi Joseph, vì Saliceti đã dành cho ông này vị trí phụ trách quân nhu của Đạo quân Italy, để có ai đó thân cận mà ông có thể tin tưởng giao cho những cuộc thương lượng bí mật tế nhị. Với năng lực đó, Joseph sẽ được em trai sử dụng vào các sứ mệnh tới Livorno, Parma và Rome, và ông này sau đó đi cùng Miot de Melito để tái lập quyền kiểm soát của Pháp tại Corse. Trong những chuyến đi này, Joseph đã bộc lộ một năng lực ngoại giao thực sự.
Napoleon chỉ có thể ở lại hai đêm: Wurmser đang trên đường xuống phía nam với 50.000 quân, và người Pháp cần chiếm Mantua từ tay Beaulieu trước khi ông ta kịp giải vây cho nó. “Tôi đề xuất thực hiện một cú đánh táo bạo”, ông báo với Đốc chính. Sau đó, ông thông báo với họ về kế hoạch của Murat, vượt qua một trong bốn hồ nước nhân tạo che chở cho Mantua vào ban đêm, sử dụng binh lính ngụy trang trong quân phục Áo, hy vọng có thể giữ cho các cổng thành phố mở đủ lâu để quân của Napoleon tiến vào. Napoleon nhiều khả năng đang nghĩ tới những con ngỗng trên đồi Capitol đã cứu La Mã cổ đại(*) khi ông viết về “cuộc tấn công bất ngờ của Murat, giống như tất cả các cuộc tấn công tương tự, sẽ phụ thuộc vào may mắn – một con chó hoặc một con ngỗng”. Trong trường hợp này, một sự sụt giảm bất ngờ mực nước sông Po làm hạ mức nước trong các hồ là đủ gây trở ngại cho kế hoạch.
Đến cuối tháng Bảy, Napoleon biết được từ một người bán tin lấy tiền trong đội tham mưu Áo rằng Wurmser đang dẫn đạo quân của ông ta, hiện bao gồm cả các đơn vị kỳ cựu tinh nhuệ được rút về từ chiến dịch sông Rhine, xuôi xuống dọc hai bên hồ Garda để giải cứu Mantua, nơi mà bệnh tật bắt đầu làm lực lượng đồn trú của Beaulieu kiệt quệ. Napoleon trông cậy rất nhiều vào tin tình báo trong các chiến dịch của ông; những thông tin này ông luôn nhất quyết tự phân tích thay vì nhận chúng qua các sĩ quan tham mưu, nhờ đó ông có thể tự quyết định nên đặt niềm tin vào mỗi tin tức ở mức độ nào. Các phương pháp thu thập tin tình báo bao gồm hỏi cung những kẻ đào ngũ và tù binh, phái đi các toán kỵ binh tuần tiễu, và thậm chí là cho binh lính mặc như những người làm việc tại các trang trại sau khi đã bắt giữ vợ của những người này làm con tin. Napoleon hiểu rõ cách các điệp viên và sĩ quan được phái đi trinh sát có thể nhầm lẫn cả quân đoàn thành một toán quân nhỏ và ngược lại, và thường xuyên nhắc lại những gì họ nghe được từ “những thường dân trong cơn hoảng loạn hay bị bất ngờ” hơn là những gì họ chứng kiến. Mệnh lệnh của ông cho các sĩ quan quân báo là: “Trinh sát chính xác các hẻm núi và chỗ cạn để mô tả chúng đầy đủ. Cung cấp những ngươi dẫn đường có thể tin cậy. Thẩm vấn tu sĩ và bưu tá. Thiết lập nhanh chóng một sự hiểu biết tốt với cư dân. Phái đi các điệp viên. Chặn giữ mọi thư từ cả công cả tư… Nói tóm lại, có khả năng trả lời mọi câu hỏi của tư lệnh khi ông ta dẫn đầu đạo quân tới nơi.”
Lần này, các điệp viên đã đúng: Wurmser đang tiến xuống theo bờ đông hồ Garda với 32.000 quân chia thành năm cánh, trong khi viên tướng kỵ binh gốc Croatia là Peter von Quasdanovich đang tiến xuống theo bờ tây với 18.000 quân. Napoleon để Sérurier lại cùng 10.500 quân để duy trì cuộc vây hãm Mantua. Như vậy ông còn 31.000 quân để đối phó với các mối đe dọa mới. Ông phái 4.400 quân dưới quyền Tướng Pierre-François Sauret tới Salo để kìm chân Quasdanovich, ra lệnh cho Masséna với 15.400 quân tới phía bờ đông, bố trí Tướng Plyacinthe Despinoy cùng 4.700 quân bảo vệ tuyến đường Peschiera-Verona, phái 5.300 quân của Augereau đi kiểm soát các tuyến đường từ phía đông tới, và giữ 1.500 kỵ binh của Kilmaine làm dự bị. Sau đó, ông di chuyển thường xuyên giữa Brescia, Castelnuovo, Desenzano, Roverbella, Castiglione, Goïto và Peschiera, đưa bản doanh cơ động của ông tới bất cứ nơi nào giúp ông nắm bắt được tốt nhất về diễn biến của chiến dịch. Việc vận động liên tục trong thời tiết thường nóng gay gắt đã khiến ông nhanh chóng mất liền năm con ngựa vì bị kiệt sức. Một sĩ quan phụ tá người Ba Lan của ông, Dezydery Adam Chlapowski, nhớ lại là ông “không bao giờ dùng bàn đạp hay đầu gối để thúc ngựa phi nước đại, mà luôn dùng roi.”
Ngày 29 tháng Bảy, Quasdanovich đánh bật Sauret ra khỏi Salo như dự kiến, cho dù nơi này đã đổi chủ đến ba lần. Vào 3 giờ sáng cùng ngày, ở phía đông hồ Garda, Masséna bị tấn công tại La Corona và Rivoli bởi những cánh quân đông đảo và phải vừa đánh vừa lùi một quãng dài dọc theo sông Adige tới Bussolengo khi trời tối. Quân Áo táo bạo tấn công và chiếm Rivoli. “Chúng ta sẽ chiếm lại vào ngày mai, hay sau đó, những gì anh đã để mất hôm nay”, Napoleon trấn an Masséna. “Chưa có gì bị mất chừng nào lòng dũng cảm vẫn còn”. Tuy nhiên, vào ngày 30 tháng Bảy, trong một cuộc tấn công được biết đến như “Bất ngờ tại Brescia”, quân Áo đánh chiếm trại lính và các bệnh viện ở Brescia mà chỉ có 3 người bị giết và 11 người bị thương. Trong số bệnh binh có Murat (người đã mắc phải bệnh hoa liễu từ phu nhân Rugat), Lannes và chàng kỵ binh xuất chúng con của Kellermann, François-Etienne. Josephine, người đã từ Milan tới Brescia theo yêu cầu của Napoleon vì ông cho là thành phố này an toàn đằng sau chiến tuyến, thiếu chút nữa đã bị bắt, khiến Napoleon thề “Wurmser sẽ trả giá đắt cho những giọt nước mắt đó.”
“Chúng ta đã phải chịu một vài bất lợi”, Napoleon thừa nhận với Đốc chính, trong khi đưa mọi trang bị không cần thiết về tuyến sau. Vào trưa ngày 29 tháng Bảy, ông đoán rằng kẻ thù đang tiến xuống từ Bassano với lực lượng mạnh, nên ra lệnh tập trung quân tại Villanova, phía đông Verona. Sư đoàn của Augereau đã vượt qua 96 km trong 35 giờ hành quân tới và hành quân trở lại, song đến trưa hôm sau Napoleon nhận ra chủ lực của quân địch thực ra đang ở phía bắc và phía tây của mình. Nếu ông đương đầu với mũi tiến quân chủ lực của Wurmser và không giành được chiến thắng trọn vẹn, kiểu gì ông cũng sẽ mất Mantua, cho nên ông quyết định tấn công Quasdanovich trước tiên. Do đó, vào ngày 30 tháng Bảy, ông lệnh cho Sérurier triệt thoái cuộc vây hãm Mantua để tăng thêm binh lực của mình trên chiến trường bằng cách bổ sung lữ đoàn của Tướng Louis Pelletier vào lực lượng của Augereau, và lữ đoàn của Dallemagne cho cánh quân của Masséna. Mệnh lệnh của ông yêu cầu Augereau rút lui về Roverbella viết: “Mỗi khoảnh khắc đều quý giá… Kẻ thù đã đột kích qua chiến tuyến của chúng ta tại ba nơi: hắn làm chủ các điểm quan trọng ở Corona và Rivoli… Ông sẽ thấy là liên lạc của chúng ta với Milan và Verona đã bị cắt đứt. Hãy đợi lệnh mới tại Roverbella; tôi sẽ đích thân tới đó”. Augereau đã không để mất thời gian.
Chấm dứt cuộc vây hãm Mantua liên quan đến việc bỏ lại ít nhất 179 khẩu đại bác và súng cối không thể di dời đi được, và phải ném đạn của chúng xuống các hồ nước. Napoleon đau đớn khi phải làm điều này, song ông biết rằng các chiến thắng quyết định trên chiến trường chứ không phải tại các pháo đài là chìa khóa của chiến tranh hiện đại. “Dù bất cứ điều gì xảy ra, và bằng bất cứ giá nào, ngày mai chúng ta nhất định phải ngủ ở Brescia”, ông nói với Masséna. Ngày 31 hôm đó, những di chuyển liên tục của ông suýt nữa đã biến thành tai họa khi ông may mắn thoát khỏi ổ phục kích của một đơn vị Croatia trên đường từ Roverbella tới Goato.
Địa hình giữa Brescia và Mantua gồm các ngọn núi cao tới 900 m và những dãy đồi phong hóa chạy qua Lonato, Castiglione và Solferino tới Volta, một khu vực địa hình rất gập ghềnh, rồi bất thần hạ thấp tiếp giáp với một đồng bằng rộng. Ngày 31 tháng Bảy, đạo quân Pháp hành quân về phía tây từ lúc 3 giờ sáng, và đến tảng sáng diễn ra cuộc giao chiến dữ dội kéo dài suốt bốn giờ nhằm giành lấy thành phố Lonato giữa Sauret và Tướng Ott của Áo. Trong khi đó, Masséna triển khai giữa Desenzano và Lonato với Bán lữ đoàn bộ binh 32 bên cánh trái. Bị áp đảo mạnh về quân số, Ott đã phải lùi lại. Với Augereau đang hành quân tới nhanh hết mức có thể, 18.000 quân của Quasdanovich giờ đây phải đối mặt với 30.000 quân Pháp, nên ông ta đã nhanh chóng rút lui. Tối hôm đó, Napoleon, lo ngại cho các tuyến liên lạc của mình, liền cùng với Augereau hành quân tới Brescia, và tới nơi vào 10 giờ sáng hôm sau.
Đến lúc này, Wurmser, người hay tin Napoleon vừa hành quân về phía tây tới Brescia vừa tập trung quân ở Roverbella để bảo vệ các tuyến bao vây ở Mantua (mà kỳ thực ông đã triệt thoái), bị rơi vào tình trạng cực kỳ lúng túng, và ông ta đã để mất thế chủ động qua sự án binh bất động. Ngày hôm sau, Tướng Antoine La Valette, vốn hoảng sợ và bỏ chạy khỏi Castiglione, đã bị tước quyền chỉ huy trước mặt thuộc cấp của ông ta tại Bán lữ đoàn Khinh binh 18. Tinh thần phấn chấn của binh lính hôm đó giúp Napoleon quyết định tìm cách đè bẹp Quasdanovich. Trong trận Lonato thứ hai, vào ngày 3 tháng Tám, ông điều lực lượng của Despinoy từ Brescia tấn công vào sườn phải của Quasdanovich ở Gavardo, và Sauret đã được tăng cường lực lượng thì tấn công sườn trái của ông ta tại Salo, trong khi lữ đoàn của Dallemagne tiến vào giữa hai cánh để làm một mắt xích. Khi lính của Sauret phàn nàn là đang đói, Napoleon bảo họ có thể tìm thức ăn trong doanh trại địch.
Đúng lúc lữ đoàn của Tướng Jean-Joseph Pijon bị đẩy lùi khỏi Lonato, bản thân Pijon bị bắt, Napoleon dẫn đầu các đơn vị thuộc sư đoàn của Masséna tới nơi. Ông ra lệnh cho Bán lữ đoàn bộ binh 32 tập hợp thành “đội hình hàng dọc theo trung đội”, và trong lúc các tay trống và quân nhạc nổi nhạc, phái họ xung phong giáp lá cà không ngơi nghỉ, dưới sự yểm trợ của Bán lữ đoàn bộ binh 18. Bất chấp việc bị mất cả hai tiểu đoàn trưởng, họ đã đẩy lùi quân Áo trở lại phía Desenzano, đúng vào tuyến đường của đại đội kỵ binh hộ tống Napoleon cùng các đơn vị thuộc Trung đoàn long kỵ(*) 15 và Bán lữ đoàn khinh binh 4. Junot bị sáu vết thương, song điều này không ngăn cản ông ta chấp nhận sự đầu hàng của toàn bộ lữ đoàn Áo. Khi biết tin về tai họa, Quasdanovich bèn rút lui về phía phải, vòng theo bờ bắc của hồ để hội quân với Wurmser. Ông này sẽ tiếp tục nằm im trong 10 ngày tiếp theo. “Tôi thấy yên tâm”, Napoleon viết trong bản thông cáo sau trận đánh. “Bán lữ đoàn 32 can trường đang ở đó”. Bán lữ đoàn 32 đã thêu câu này bằng chữ vàng loại lớn lên quân kỳ của mình, và niềm tự hào càng thúc đẩy họ trở nên anh dũng hơn. “Sức mạnh của lời nói với con người thật đáng kinh ngạc”, Napoleon nói về Bán lữ đoàn 32 nhiều năm sau đó.
Augereau chiếm lại Castiglione ngày 3 tháng Tám, sau 16 tiếng giao chiến dữ dội trên đồng bằng nóng bức, khô cằn. Trong nhiều năm sau đó, bất cứ khi nào Augereau bị những người xung quanh chỉ trích là không trung thành, Napoleon đều nói: “À, nhưng chúng ta đừng quên rằng ông ấy đã cứu chúng ta ở Castiglione”. Khi quân Pháp lại tập trung ở đó ngày 4 tháng Tám, Wurmser đã đánh mất mọi cơ hội ông ta có thể có để đánh tập hậu Napoleon. Điều tốt nhất ông ta có thể hy vọng trong lúc chậm chạp di chuyển vòng qua Solferino với khoảng 20.000 quân là kéo dài thời gian để Mantua chuẩn bị chống lại một cuộc vây hãm nữa. Sáng ngày 4 tháng Tám, Napoleon đang ở Lonato với chỉ 1.200 quân tại đây, khi hơn 3.000 quân Áo lạc đường đã bị cắt đứt khỏi sự chỉ huy của Quasdanovich bất ngờ ập vào thành phố. Napoleon bình tĩnh thông báo với viên sĩ quan của họ được cử tới thương lượng rằng “toàn bộ đạo quân” của ông đang có mặt, và “nếu trong 8 phút nữa sư đoàn các anh không hạ vũ khí, tôi sẽ không chừa một người nào”. Ông hỗ trợ cho trò bịp này bằng cách ra lệnh cho Berthier về các đơn vị thủ pháo và pháo binh mà Berthier biết là toàn hư cấu. Quân Áo chỉ vỡ lẽ khi đã đầu hàng và bị tước vũ khí, rằng không có lực lượng Pháp nào ở gần đó, và họ lẽ ra đã có thể dễ dàng bắt sống Napoleon.
•••
Trận Lonato thứ hai chứng kiến lần đầu tiên Napoleon sử dụng hệ thống đội hình vuông . Mặc dù đã được Guibert và Bourcet đề xuất trong sách giáo khoa quân sự vào những năm 1760 và 1770, nhưng chính Napoleon là người đầu tiên đã đưa hệ thống này vào ứng dụng thành công trên chiến trường. Dưới đội hình các đơn vị được bố trí thành hình thoi của hệ thống này, nếu gặp lực lượng chủ lực của địch ở cánh phải chẳng hạn, cánh quân bên phải trở thành tiền quân mới có nhiệm vụ kìm chân địch tại chỗ. Các đơn vị tạo thành tiền quân và hậu quân cũ thì tự động trở thành chủ lực cơ động , là lực lượng công kích trung tầm có khả năng hỗ trợ cho tiền quân mới với mục tiêu bao vây hai bên sườn quân địch. Như vậy, cả đạo quân có thể quay 90 độ theo cả hai bên một cách tương đối dễ dàng; hệ thống này còn có thêm lợi thế là có khả năng nâng cấp quy mô, vì có thể áp dụng được với cả quân đoàn cũng như với các sư đoàn. Mấu chốt ở đây được Bourcet gọi là phân tán có kiểm soát, và điều này đã cho phép Napoleon tăng cường đáng kể sự linh hoạt, cho phép chiến tuyến thay đổi được liên tục thích ứng với các tình huống thay đổi.
Đội hình vuông cũng được Napoleon áp dụng trong trận đánh thứ hai tại Castiglione, cách Mantua 32 km về phía tây bắc, vào thứ Sáu ngày 5 tháng Tám. Wurmser đã triển khai quân ở Solferino bên sườn phải và một cứ điểm mạnh trên đồi Monte Medolano nằm trên tuyến đường Mantua – Brescia bên sườn trái, với khoảng 20.000 đến 25.000 quân. Napoleon có trên 30.000 quân, 10.000 quân của Masséna tập trung thành đội hình hàng ngang và hàng dọc ở cánh trái, 8.000 quân của Augereau triển khai thành hai hàng ngang trước thành phố Castiglione, kỵ binh của Kilmaine làm quân dự bị bên cánh phải, 5.000 quân của Despinoy trở lại từ Salò, và 7.500 quân của Tướng Pascal Fiorella đến từ phía nam, hy vọng giáng một đòn quyết định vào đằng sau quân Áo. Ông dự định lôi kéo lực lượng dự bị của Wurmser về phía bắc bằng cách giả vờ rút lui. Castiglione là một trận đánh rất phức tạp, có thể hiểu rõ nhất từ trên đỉnh tòa lâu đài Lonato nguy nga và tháp chuông La Rocca ở Solferino, những nơi cho phép có tầm quan sát tuyệt hảo xuống cả vùng.
Khi nghe tiếng đại bác nổ ở phía nam vào 9 giờ sáng 5 tháng Tám, Napoleon đoán nó báo hiệu Fiorella đã tới, song trên thực tế đó chỉ là Trung đoàn long kỵ 8 của ông đang tập kích đoàn xe quân sự Áo tại Guidizzolo. Ông tung Masséna và Augereau vào tấn công, còn Marmont được phái đi với một khẩu đội 12 pháo về phía Monte Medolano. Giao tranh lan ra toàn chiến tuyến, với Augereau chiếm Solferino và Despinoy tới nơi đúng lúc để trợ giúp cánh quân trung tâm bên sườn trái, khiến Wurmser phải điều bộ binh tới để chặn Fiorella. Vậy là Wurmser rơi vào thế bị kẹt giữa hai cánh quân, và một cánh quân thứ ba đe dọa đằng sau. Ông ta buộc phải rút lui, và thiếu chút nữa đã bị khinh kỵ Pháp bắt sống. Duy việc quân Pháp đã kiệt sức vì phải hành quân cật lực mới ngăn được đạo quân Áo khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn, có thể vượt qua sông Mincio để tháo chạy.
Quân Áo có 2.000 người bị giết và bị thương ngày hôm đó, và 1.000 người nữa bị bắt cùng 20 đại bác. Khi các sĩ quan của Napoleon đếm số quân Pháp tử trận, họ tính được khoảng 1.100 người bị chết, bị thương hoặc mất tích.(*) “Vậy là chúng ta”, Napoleon báo cáo về Đốc chính ngày 6 tháng Tám, “đã hoàn tất một chiến dịch nữa trong năm ngày”. Hai ngày sau đó, khi tái chiếm Verona, ông báo cáo thêm: Quân đội Áo… đã biến mất như một giấc mơ và Italy vốn bị nó đe dọa giờ đây lại yên tĩnh”. Ông tiếp tục cuộc vây hãm Mantua vào ngày 10 tháng Tám. Nơi đây vẫn còn chứa 16.400 quân Áo bên trong các bức tường dày hơn 3 m của nó, nhưng chỉ 12.200 người đủ khả năng chiến đấu.
Napoleon dùng ba tuần còn lại của tháng Tám để tái củng cố đạo quân của mình, gửi về nước Sauret và Sérurier, hai trong số các tướng đã bị thương và là những người ông rất ngưỡng mộ. Ông thay thế họ bằng viên tướng pháo binh kỳ cựu Claude-Henri de Vaubois và viên tướng 30 tuổi mới được thăng cấp Jean-Joseph de Sahuguet, với sự can thiệp rất ít từ Paris. Tiếng tăm của ông tại Pháp lớn lên theo từng chiến thắng, và Đốc chính ngày càng nghi ngờ rằng không thể kiềm chế được ông. “Nếu ở Pháp chỉ cần có một người với tấm lòng trong sạch và trung thực dám nghi ngờ các mục đích chính trị của tôi”, ông nói với Carnot và Barras, “tôi sẽ lập tức từ chối niềm hạnh phúc được phụng sự Tổ quốc mình”. Lúc ấy, ông biết họ khó lòng mà dám lật tẩy trò tháu cáy của ông. Trước đó, ông đã phải thương lượng với họ về việc ông có thể thăng cấp cho tướng lĩnh nào, vì có đến 343 cái tên trong danh sách chờ. Tuy nhiên, ông càng thành công trên chiến trường và Đốc chính càng phụ thuộc vào ông để duy trì khả năng thanh toán và tiếng tăm của họ bao nhiêu, ông càng ít phải đối mặt với sự can thiệp vào những lựa chọn của mình bấy nhiêu.
Cuộc sống riêng tư của ông đang bất ổn hơn rõ rệt. Ông đã cố tìm kiếm Josephine vào ngày nghỉ, và viết: “Vợ tôi đã chạy quanh Italy trong hai tuần vừa qua; tôi tin rằng cô ấy đang ở Livorno, hoặc ở Florence”. Ông cũng đề nghị điều động cậu em trai Lucien “khá mạnh mẽ nhưng cũng cứng đầu mà ông đã tìm cho một chân phụ trách quân nhu ở Marseilles, song đã bất ngờ đi Paris mà không được phép của Tư lệnh (cũng là anh trai) của cậu ta, tới Đạo quân miền Bắc trong vòng 24 giờ sau khi tìm thấy cậu ta.
•••
Vào cuối tháng Tám, Napoleon biết được Wurmser sắp sửa tìm cách giải vây cho Mantua lần thứ hai. Rút bớt quân từ các tuyến đường liên lạc và nhận được một số quân từ Đạo quân Alps cho phép ông có tổng cộng trên 50.000 quân. Vì không biết tuyến đường nào trong ba tuyến đường có khả năng sẽ được Wurmser chọn, nên ông đã phái Vaubois cùng 11.000 quân ngược lên bờ tây hồ Garda để chặn hướng tiếp cận này, và phái Masséna với 13.000 quân cùng Augereau với 9.000 quân lần lượt tới Rivoli và Verona để đóng vai trò chủ lực cơ động trung tâm của ông. Kilmane giám sát các hướng tiếp cận từ phía đông với 1.200 bộ binh và phần lớn kỵ binh. Bản thân Napoleon ở lại Legnago cùng 3.500 quân dự bị trong khi Sahuguet bao vây Mantua với 10.000 quân, và 6.000 quân nữa canh chừng lực lượng phiến quân quanh Cremona. Khi Napoleon phát hiện ra tuyến tấn công của Wurmser, ông tập hợp lực lượng của mình lại; cho tới tận lúc đó, ông vẫn tập trung vào việc đảm bảo có nguồn cung cấp dồi dào về rượu mạnh, bột mì, cỏ khô, đạn và bánh quy quân đội (những miếng bánh mì nướng không ủ men).
Đến ngày 2 tháng Chín, Napoleon biết chắc chắn là Wurmser đang tiến xuống thung lũng Vallagarina của sông Adige. Ông lên kế hoạch tấn công sau khi biết tin Tướng Moreau, Tư lệnh Đạo quân Đức, đã tới Innsbruck, vì nếu có thể thì các cuộc tấn công của Napoleon cần được phối hợp với những gì đang diễn ra tại Đức. Tuy nhiên, Đại Công tước Charles đã đánh bại Tướng Jourdan ở Wurzburg ngày 3 tháng Chín và Moreau đang đánh phá Munich, nằm sâu ở miền Nam Bavaria, vì vậy cả hai cánh quân này đều không thể giúp được gì. Napoleon cần được bảo vệ tránh khỏi mối nguy hiểm buộc phải chiến đấu đồng thời với các đạo quân của Đại Công tước Charles và Wurmser, bởi đơn giản là ông không có lực lượng để thực hiện.
Napoleon tiến tới Rovereto, cách Trento 24 km về phía nam, tại đây ông chặn đánh tiền quân của Wurmser vào ngày 4. Vào lúc rạng sáng, ông có mặt trước hẻm núi Marco được phòng thủ cẩn mật (ở ngay bên dưới Rovereto), trong khi một cánh quân khác của địch đang ở bên kia sông Adige trong doanh trại Mori có công sự phòng thủ. Khinh binh của Pijon chiếm được các cao điểm ở bên trái Marco, và sau hai tiếng chống cự quyết liệt, trận tuyến quân Áo tan vỡ. Khoảng 750 quân Pháp bị chết, bị thương hoặc mất tích. Tướng Áo là Nam tước Davidovich mất 3.000 quân (phần lớn bị bắt), 25 khẩu pháo và 7 lá quân kỳ.
Lúc này, khi quân Áo rút lui, thêm bốn trận đánh nữa diễn ra tại cùng thung lũng này trong tuần kế tiếp. Tại Calliano, việc cảnh giới lỏng lẻo của quân Áo đã giúp quân Pháp tấn công bất ngờ quân Áo khi họ đang nấu ăn sáng và buộc họ phải tháo chạy khỏi các vị trí của mình. Vào ngày 7 tháng Chín tại Primolano, quân Pháp tấn công một vị trí dường như bất khả xâm phạm và giành được nó bằng nhuệ khí. Hai vách thung lũng khép sát vào nhau thành một hình chữ U với khoảng cách giữa các vách núi cao ở cả hai bên chỉ có nửa dặm. Quân Áo đáng lẽ đã có thể dễ dàng phòng thủ hẻm núi, song chiều hôm đó các đội khinh binh của Pháp đã ào ạt leo lên cả hai sườn núi, lội qua sông Brenta chảy xiết sâu tới ngang hông và cứ thế tấn công quân Áo, đẩy họ tháo chạy xuống Bassano.
Tối hôm đó, Napoleon ngủ tại sư đoàn của Augereau, quấn mình trong áo khoác dưới các vì sao và chia sẻ khẩu phần ăn với họ, như ông vẫn thường làm trong các chiến dịch hồi đầu của mình. Ngày hôm sau, ông bắt được 2.000 quân Áo và 30 đại bác tại Bassano, cùng nhiều xe đạn. Duy chỉ ở Cerea vào ngày 11 là Masséna chịu một tổn thất nhỏ – 400 quân Pháp bị chết và bị thương – bởi ông tách ra quá xa trong khi truy kích địch. Ngày hôm sau, Augereau chiếm được Legnago và 22 khẩu pháo của quân Áo mà không có tổn thất nào, giải thoát 500 tù binh Pháp. Tiếp theo, chỉ ba ngày sau đó, ngày 15 tháng Chín, tại La Favorita bên ngoài Mantua, Kilmane giáng cho Wurmser một thất bại buộc viên tư lệnh Áo phải trốn vào thành phố.
•••
Napoleon quay lại Milan với Josephine vào ngày 19 tháng Chín, và ở lại đó gần một tháng, cử Marmont tới Paris mang theo thứ công cụ tuyên truyền hữu hiệu nhất: 22 lá quân kỳ Áo đoạt được để trưng bày tại điện Invalides. Nhịp điệu của các hoạt động tác chiến đảm bảo ông luôn giữ được thế chủ động, tấn công không sao cản nổi theo một thung lũng hẹp toàn những nơi mà đáng ra quân Áo đã có thể làm chậm hay chặn đứng ông. Chiến dịch chớp nhoáng ngược lên thung lũng sông Brenta là hình ảnh minh họa hoàn hảo vì sao tinh thần đồng đội lại giá trị đến vậy. Napoleon đã dùng khả năng tiếng Italy của mình để hỏi chuyện cư dân địa phương, và sử dụng hệ thống đội hình vuông để hướng đạo quân của ông theo bất cứ phía nào một cách nhanh chóng. Ông đã chia cắt đạo quân Áo tại Rovereto và buộc lực lượng này phải hành quân thành từng cánh quân riêng rẽ, rồi đánh bại từng cánh quân bằng thế trận tấn công kinh điển từ vị trí trung tâm và duy trì áp lực lên Wurmser bằng những cuộc tấn công đều đặn lúc rạng sáng.
Wurmser đã bắt đầu chiến dịch với 20.000 quân và ra quân sớm hơn ba ngày; ông ta kết thúc nó khi 14.000 quân của ông ta hội cùng 16.000 quân bị vây hãm ở Mantua. Đến ngày 10 tháng Mười, Mantua lại bị vây hãm triệt để, chỉ có điều lần này với cả Wurmser bên trong. 4.000 quân của ông ta đã chết vì các vết thương, suy dinh dưỡng và bệnh tật trong sáu tuần, và 7.000 quân nữa phải nằm viện. Với dự trữ lương thực chỉ còn 38 ngày, Wurmser buộc phải tổ chức các cuộc đột kích ra ngoài để tìm lương thực từ vùng nông thôn xung quanh, dù rằng một cuộc đột kích như thế đã làm ông ta tổn thất gần 1.000 người.
Mantua không thể giữ vững lâu hơn nữa, song chiến tranh lan rộng hơn đã không tạo thuận lợi cho cơ hội chiếm thành phố của Napoleon. Jourdan thì bị Đại Công tước Charles đánh bật trở lại qua sông Rhine vào ngày 21 tháng Chín, và có khả năng quân Áo sẽ sớm thử sức lần thứ ba để giải vây cho Mantua, lần này với một lực lượng lớn hơn nhiều. Napoleon yêu cầu Đốc chính tăng viện 25.000 quân, để phòng trường hợp Lãnh thổ Giáo hoàng và Naples tuyên chiến, và nói thêm rằng thật may là “Công tước Parma đang cư xử khá tốt; ông ta cũng vô dụng về mọi mặt”. Ngày 2 tháng Mười, Napoleon đề xuất các điều khoản hòa bình với Hoàng đế Francis, hy vọng dụ được ông ta tới bàn đàm phán với một sự kết hợp kiểu vừa đấm vừa xoa. “Thưa bệ hạ, châu Âu muốn hòa bình”, ông viết. “Cuộc chiến thảm họa này đã kéo dài quá lâu”. Tiếp theo, ông cảnh báo rằng Đốc chính đã lệnh cho ông đóng cửa Triest và các cảng khác của Áo dọc bờ biển Adriatic, và thêm: “Cho tới giờ, tôi đã trì hoãn thực thi kế hoạch đó với hy vọng không làm tăng thêm số nạn nhân vô tội của cuộc chiến tranh này”. Hoàng đế Áo Francis – người đứng đầu liên minh độc lập về chính trị do Đế chế La Mã Thần thánh và Áo nắm vai trò khống chế một liên minh lỏng lẻo của những quốc gia nửa độc lập trải trên khắp phần lớn Đức và Trung Âu – là một người kiêu hãnh, khổ hạnh và tính toán, vốn căm ghét cuộc Cách mạng đã cho chặt đầu người cô Marie Antoinette của mình, và đã từng chỉ huy quân Áo một thời gian ngắn trong chiến dịch Flanders năm 1794 trước khi giao lại cho người em trai tài năng hơn về quân sự, Đại Công tước Charles. Napoleon không nhận được câu trả lời nào cho đề nghị hòa bình của mình.
Napoleon lại đe dọa từ chức vào ngày 8 tháng Mười, lần này với lý do suy nhược toàn diện. “Tôi không thể ngồi trên lưng ngựa thêm được nữa”, ông viết, “trong tôi chỉ còn lại lòng dũng cảm, điều không đủ ở một vị trí như thế này”. Ông cũng tuyên bố không thể chiếm được Mantua trước tháng Hai, và “Rome đang vũ trang, và kích động sự cuồng tín của dân chúng”. Ông tin rằng ảnh hưởng của Vatican là “không thể tính được”. Ông yêu cầu được quyền ký một hiệp ước cuối cùng “cốt yếu nhất” với Naples và một liên minh “cần thiết” với Genoa và Piedmont, khuyến cáo rằng những cơn mưa mùa thu đã mang tới bệnh tật làm các bệnh xá của ông chật cứng. Thông điệp chính của ông là “Trên hết hãy gửi quân đến”. Song ông cũng muốn Paris biết rằng “Bất cứ khi nào vị tướng của các ngài ở Italy không phải là trung tâm của mọi thứ, các ngài đang gặp phải những nguy cơ lớn.”
Hai ngày sau, không cần đến sự đồng ý trước của Đốc chính, Napoleon ký một hiệp ước hòa bình toàn diện với Naples, cho phép nhà Bourbon giữ lại ngôi báu mà không bị làm phiền, nếu họ đồng ý không tham gia vào bất cứ hoạt động nào chống lại người Pháp. Nếu quân Áo tấn công từ phía bắc, Napoleon cần được an toàn ở phía nam. Ông cũng đảm bảo rằng các tuyến đường liên lạc của ông chạy qua lãnh thổ Genoa đáng tin cậy hơn, thay vì Piedmont nơi ở đó tân vương Charles Emmanuel IV là một ẩn số.
Napoleon ý thức được về những lời thì thầm đang lan truyền ở Paris, nơi một số người đang nói ông được thúc đẩy chỉ bởi tham vọng và có thể đến một ngày sẽ lật đổ chính quyền. Trong những lá thư gửi về Đốc chính, ông giễu cợt những kẻ nói xấu mình, nói rằng: “Nếu hai tháng trước tôi ước được là Công tước Milan, thì hôm nay tôi mong được là Vua Italy!” Song họ không bị thuyết phục; cho dù Barras và Carnot thừa nhận năng lực quân sự không thể chối cãi của ông, nhưng tất cả các Ủy viên Đốc chính đều e sợ về việc ông có thể sử dụng cảm tình ngày càng tăng trong dân chúng đối với mình ngay khi chiến dịch Italy kết thúc. Mối bận tâm chính của Napoleon lúc này là sự ranh ma khó tin tưởng của các nhà thầu quân sự, những người mà ông thường xuyên mô tả như lũ lừa đảo, nhất là Công ty Flachat rất có ảnh hưởng, vốn “chẳng là gì ngoài một đám gian lận không có chút tín nhiệm thực sự nào, không tiền và vô đạo đức”. Ông ước gì mình có thể xử bắn bọn họ, khi viết cho Đốc chính ngày 12 tháng Mười: “Tôi chưa bao giờ ngừng cho bắt chúng và đưa ra xử trước tòa án binh, song chúng mua chuộc các thẩm phán; ở đây tất cả là một hội chợ, nơi mọi thứ đều được bán.”
Ngày 16 tháng Mười, Napoleon kêu gọi Wurmser giao nộp Mantua. “Sự can đảm nên để đối mặt với hiểm nguy chứ không phải dịch bệnh từ đầm lầy”, ông viết, song đề nghị của ông bị bác bỏ thẳng thừng. Cùng ngày, một lần nữa với sự can thiệp tối thiểu từ Đốc chính, ông tuyên bố thành lập Cộng hòa Cispadane, được hình thành từ Bologna, Ferrara, Modena, và Reggio (chuyện này liên quan đến việc phế truất Công tước Modena, người đã cho phép một đoàn vận tải tiếp tế vào được Mantua), với một Quân đoàn Italy mới gồm 2.800 người để bảo vệ nó. Cộng hòa Cispadane (tên gọi này nghĩa là “Bên bờ sông Po”) bãi bỏ chế độ phong kiến, tuyên bố quyền bình đẳng dân sự, thiết lập một nghị viện do dân chúng bầu ra và khởi xướng phong trào thống nhất Risorgimento (Tái sinh) mà sau cùng sẽ tạo nên một Italy thống nhất, độc lập – dù phải ba phần tư thế kỷ sau. Việc soạn thảo hiến pháp của nền Cộng hòa cần tới không ít hơn 38 cuộc họp, một minh chứng cho sự kiên nhẫn của Napoleon vì ông đã tích cực tham gia vào. Người Pháp đang bắt đầu mang tới sự thống nhất chính trị cho một bán đảo đã không biết đến điều đó trong nhiều thế kỷ.
Tuy nhiên, ở một lĩnh vực, các định chế cách mạng của Pháp không bao giờ có nhiều hy vọng để giành phần thắng ở Italy, và đó là nỗ lực của họ nhằm thu hẹp quyền lực của Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã. Người Italy chống đối lại quyết liệt những cải cách tôn giáo của Napoleon, và trong giai đoạn được gọi là epoca francese trong lịch sử Italy, những cải cách Giáo hội của Napoleon bị căm ghét cũng nhiều như sự ngưỡng mộ trước việc giới thiệu văn hóa quản lý nhà nước của ông. Nỗ lực trấn áp Vatican của ông bắt đầu rất sớm. Vào tháng Mười năm 1796, Napoleon khuyến cáo Pius VI không được chống lại Cộng hòa Cispadane, chứ đừng nói đến chuyện tấn công quân Pháp khi người Áo quay trở lại. Ông cảnh báo Giáo hoàng rằng “để tiêu diệt quyền lực thế tục của Giáo hoàng, chỉ cần tới quyết tâm”, song vào thời bình “mọi thứ có thể được thu xếp”. Sau đó, ông cảnh cáo Giáo hoàng rằng nếu ông ta tuyên chiến, nó sẽ đồng nghĩa với “sự suy tàn và cái chết của những kẻ điên rồ muốn chống lại các đội quân Cộng hòa”. Với việc Đốc chính không thể thu xếp được 25.000 quân tăng viện mà ông đang rất cần sau các thất bại của Jourdan và Moreau ở Đức – chỉ chưa đến 3.000 quân được tăng viện cho chiến dịch sắp tới – Napoleon cần phải kéo dài thời gian. Như ông nói với Cacault ở Rome: “Trò chơi thực sự với chúng ta là ném bóng qua lại với nhau để đánh lừa con cáo già đó.”
Đầu tháng Mười một, người Áo đã sẵn sàng cho nỗ lực lần thứ ba để giải vây cho Mantua, sử dụng một kế hoạch chiến lược chỉ có thể được nghĩ ra bởi một hội đồng, trong trường hợp này là Hội đồng Triều đình ở Vienna. Viên tướng kỳ cựu người Hungary József Alvinczi và 28.000 quân của mình cần đẩy lùi quân Pháp từ Rivoli tới Mantua, trong khi Tướng Giovanni di Provera sẽ cùng 9.000 quân từ Brenta tới Legnago để đánh lạc hướng, và 10.000 quân tại Bassano sẽ cố gắng ngăn Napoleon tập trung lực lượng. Dùng tới 19.000 quân chủ yếu để tham gia vào các cuộc tấn công nghi binh, và chỉ có 28.000 quân cho lực lượng chủ công, chứng tỏ Hội đồng đã không rút ra được các bài học của sáu tháng trước đó. Napoleon sau này nói rằng viên tướng 60 tuổi Alvinczi, người đã từng chiến đấu ở Bavaria, Hà Lan, và Thổ Nhĩ Kỳ trong sự nghiệp lâu dài của mình, là viên tướng giỏi nhất mà ông phải chống lại cho tới lúc đó, và đó là lý do vì sao ông không bao giờ nói gì dù tích cực hay tiêu cực về ông ta trong các thông cáo của mình (trái lại, ông ca ngợi Beaulieu, Wurmser và Đại Công tước Charles, những người ông không đánh giá cao). Ông cũng thể hiện sự tôn trọng rất lớn dành cho Tướng Provera trong các bản tuyên bố và Nhật lệnh của mình, vì ông nghĩ ông ta là kẻ tồi nhất trong các đối thủ và hy vọng ông ta không bị cách chức.
•••
Lúc này Napoleon có 41.400 quân. Ông bố trí họ cách xa nhất như có thể trong khi cố gắng thu được tối đa thông tin cảnh báo về nơi chốn và thời điểm quân Áo tiến tới. Thêm vào đó, ông có 2.700 quân đóng tại Brescia, Peschiera, và Verona, cùng Bán lữ đoàn 40 gồm 2.500 quân đang trên đường từ Pháp sang. Alvinczi vượt sông Piave ngày 2 tháng Mười một. Ông ta chỉ thị cho Quasdanovich và Provera lên đường tới Vicenza; Quasdanovich qua nẻo Bassano, còn Provera qua đường Treviso. Cuộc tiến công của Áo đã bắt đầu.
Dù rất phiền lòng, nhưng Masséna phải tuân lệnh của Napoleon rút lui về Vicenza mà không giao chiến. Tiếp theo Augereau, viên tướng này đã đi đến chỗ đánh giá cao Napoleon trong vai trò một thủ lĩnh và một người lính, song ông ta cũng ganh tị cho danh tiếng của bản thân với tư cách một trong những tướng lĩnh xuất sắc nhất của Pháp, và tự hào về biệt danh “con cưng của chiến thắng” của mình. Ông ta không thích bị ra lệnh phải rút lui, kể cả là trước đối thủ mạnh hơn. Ngày 5 tháng Mười một, Napoleon điều Augereau tới Montebello, và khi thấy tiền quân Áo ở bên kia sông Brenta ngay phía trước đội hình, đã quyết định tấn công lực lượng này vào hôm sau. Trong khi đó, Masséna tấn công cánh quân của Provera tại Fontaniva, đẩy lùi họ lên một vài hòn đảo trên sông nhưng không đánh bật được qua sông.
Ngày 6 tháng Mười một, Augereau tấn công lực lượng của Quasdanovich khi nó xuất hiện từ Bassano, nhưng dù đã chiến đấu quyết liệt nhưng ông ta vẫn không thể đánh bật đối phương trở lại qua sông Brenta. Làng Nove đổi chủ mấy lần trong ngày hôm đó, và Napoleon lúc này bị áp đảo với 19.500 quân chống lại 28.000 đã phải rút lui. Có vài cách để đánh giá một chiến thắng, trong đó có cách căn cứ trên con số thương vong, việc kiểm soát chiến trường, phá vỡ kế hoạch của đối phương. Dù trận Bassano được nhìn nhận theo bất cứ cách nào, thì nó cũng là thất bại đầu tiên của Napoleon, dù không phải là thất bại nghiêm trọng.
Lùi trở lại Vicenza, Napoleon được tin về thất bại của Vaubois dưới tay Davidovich sau năm ngày giao chiến tại các làng Cembra và Calliano. Trên 40% lực lượng của viên tướng này đã bị giết, bị thương hoặc mất tích. Augereau lập tức được lệnh lui về sông Adige ở phía nam Verona, Masséna lui về Verona, và Tướng Barthélemy Joubert – con trai một luật sư đã bỏ nhà đi năm 15 tuổi để gia nhập pháo binh – được yêu cầu điều một lữ đoàn từ Mantua tới Rivoli để giúp Vaubois củng cố lực lượng ở đó. Sau đó, Napoleon đã diễn thuyết trước binh lính của Vaubois: “Hỡi binh lính các Bán lữ đoàn bộ binh 39 và 85, các bạn không còn thích hợp để thuộc về Quân đội Pháp nữa. Các bạn đã không cho thấy cả kỷ luật lẫn sự dũng cảm; các bạn đã cho phép quân thù đánh bật mình ra khỏi một vị trí mà chỉ cần một nhóm nhỏ những người dũng cảm đã có thể chặn đứng cả một đạo quân. Tham mưu trưởng sẽ cho ghi những từ này trên quân kỳ của các bạn: ‘Những người này không còn thuộc Đạo quân Italy nữa.’” Với cảm nhận sắc bén về điều gì sẽ kích thích và điều gì sẽ làm suy sụp tinh thần một đơn vị, Napoleon đã đánh giá chính xác rằng sự sỉ nhục công khai này sẽ đảm bảo rằng cả hai bán lữ đoàn sẽ chiến đấu dữ dội và kiên quyết hơn trong những ngày tới so với trước đây.
Sự án binh bất động của quân Áo sau chiến thắng tại Bassano cho phép Napoleon bố trí lại lực lượng. Đến ngày 12, ông giữ Verona với 2.500 quân và hai bờ sông Adige với 6.000 quân, trong khi viên tướng bị thất sủng Vaubois kìm chân Davidovich tại Rivoli và Kilmaine tiếp tục vây hãm Mantua. Như vậy, còn lại Masséna với 13.000 quân bên cánh phải và Augereau với 5.000 quân bên cánh trái để tấn công Alvinczi tại Caldiero, một ngôi làng nằm cách Verona 16 km về phía đông. Trong cơn mưa xối xả quất thẳng vào mặt, họ không thể thực hiện cuộc tấn công chớp nhoáng thường thấy của Đạo quân Italy. Gió thổi bay thuốc súng, giày trượt trong bùn, và những đợt tấn công của họ trong suốt buổi sáng chỉ đạt được chút tiến triển bên cánh phải, nhưng cũng đành phải nhường lại cánh này khi viện binh Áo tới nơi lúc 3 giờ chiều. Khoảng 1.000 người bị giết hoặc bị thương ở mỗi bên. Cho dù dĩ nhiên ông tuyên bố đây là một chiến thắng, nhưng người ta kể rằng khi Napoleon cho đúc huy chương để kỷ niệm Montenotte, Millesimo, và Castiglione năm đó, ông đã không ra lệnh đúc huy chương cho Caldiero.
Ngày 13 tháng Mười một, cả hai đạo quân cùng tạm nghỉ. Napoleon tranh thủ thời gian viết một lá thư khẩn thiết gửi Đốc chính từ Verona, chủ yếu là trách họ về tình thế khó khăn của ông:
⚝ ✽ ⚝
Đúng là Sérurier và Sauret đã bị thương, còn Lannes, Murat và Kellermann trẻ tuổi đều bị ốm và nằm viện, nhưng ông còn nhiều tướng lĩnh giỏi nữa phục vụ dưới quyền. Thực tế là ông đã kết thúc lá thư bằng một thông điệp lạc quan như thể để phủ định lại mọi điều đã viết: “Trong vài ngày nữa, chúng tôi sẽ thử nỗ lực lần cuối. Nếu may mắn mỉm cười với chúng tôi, Mantua sẽ bị chiếm, và cùng với nó là Italy.”
Napoleon đã vạch ra một kế hoạch táo bạo: vòng ra sau lưng Alvinczi tại Villanova và buộc ông ta phải chiến đấu để giữ đường rút lui của mình ở một vùng đất với các cánh đồng lúa ngập nước, khiến cho số quân đông hơn của ông ta sẽ không còn mấy ý nghĩa. Bỏ qua chỗ vượt sông Adige dễ hơn tại Albaredo, nơi kỵ binh Áo có thể cảnh giác, ông chọn vượt sông tại Ronco, nơi một cầu phao đã được bắc cho chiến dịch trước đó; nó đã bị tháo bỏ nhưng được cất giữ an toàn gần đó. Trong đêm 14 tháng Mười một, Masséna rời Verona đi về hướng tây để đánh lừa các gián điệp Áo trong thành phố, nhưng sau đó rẽ về hướng đông nam để hợp quân cùng Augereau trên con đường tại đấy.
Những con đường đắp cao ở vùng đó của Italy khi ấy (và bây giờ vẫn thế) thật đáng chú ý, với các vệ đường rất dốc và nhô cao lên trên các đầm lầy, vì thế quá trình tiếp cận sông và bắc cầu phao của quân Pháp diễn ra hoàn toàn không bị các đội tuần tra Áo phát hiện. Bán lữ đoàn bộ binh 51 vượt sông bằng thuyền để thiết lập đầu cầu lúc rạng sáng, và cây cầu được hoàn thành lúc 7 giờ sáng hôm sau. Tại nơi con đường rẽ nhánh ở bên kia sông, Augereau đi về bên phải dọc theo một con đê tới thành phố Arcole, dự định vượt qua suối Alpone và hành quân lên phía bắc về phía Villanova để tấn công nơi tập kết pháo binh của Alvinczi. Trong lúc đó, Masséna đi theo con đường bên trái về phía Porcile để tìm cách tấn công cánh trái của Alvinczi từ phía sau. Augereau tiến quân cùng Bán lữ đoàn khinh binh 5 của Tướng Louis-André Bon trong bóng tối, nhưng nhanh chóng nằm dưới làn đạn bắn suốt dọc con đường chạy cạnh suối Alpone từ hai tiểu đoàn lính Croatia và hai khẩu pháo đang bảo vệ cánh trái hậu quân của Alvinczi. Arcole được phòng thủ chặt chẽ – với các lỗ châu mai và chiến lũy – và đẩy lui đợt tấn công đầu tiên, cũng như đợt tấn công thứ hai của Bán lữ đoàn bộ binh 4 do đích thân Augereau chỉ huy. Lực lượng tấn công phải trượt xuống các bờ sông dốc đứng để tìm chỗ nấp tránh khỏi làn đạn. Cùng lúc đó, Masséna chạm trán một tiểu đoàn Croatia khác và một trung đoàn Áo dưới quyền Provera trên đường tới Porcile và đẩy lùi các đơn vị này, qua đó giữ chắc đầu cầu cánh trái. Chiến đấu trên đồng bằng Lombardy khác hẳn so với ở vùng núi, và đem đến cho kỵ binh Áo nhiều cơ hội hơn, song ở đây những dòng suối chảy xiết và mạng lưới kênh mương lại tạo lợi thế cho vị chỉ huy trẻ tuổi nhạy bén về các chi tiết chiến thuật nhưng lại có ít kỵ binh hơn nhiều.
Cho dù Alvinczi nhanh chóng được thông báo về động thái của quân Pháp, nhưng ông ta phỏng đoán đó chỉ đơn thuần là một lực lượng nhỏ thực hiện một đòn nghi binh do địa hình đầm lầy. Khi các toán tuần tiễu của ông ta phát hiện ra Verona yên ắng, ông liền phái họ đi tìm hiểu xem những gì đang diễn ra bên cánh trái của mình, nơi 3.000 quân của Provera đã bị Masséna đánh bại. 3.000 quân khác đã hành quân gấp tới Arcole, vừa đến nơi lúc xế trưa. Họ bố trí hai khẩu lựu pháo bắn dữ dội liên tục lên con đường nhô cao, và tại đó Lannes, người vừa trở lại đội hình từ bệnh viện ở Milan, lại bị thương.
Napoleon tới cây cầu ở Arcole đúng lúc nỗ lực chiếm cầu của Augereau bị đánh bại. Ông ra lệnh tổ chức một đợt tấn công nữa, nhưng bị chững lại dưới làn đạn dày đặc. Augereau liền giật lấy một lá quân kỳ và bước về phía trước đội hình của mình 15 bước, nói, “Những người lính thủ pháo, hãy tới đây tìm quân kỳ của các bạn”. Cùng lúc, Napoleon, vây quanh là các sĩ quan phụ tá và cận vệ, cầm lấy một lá cờ khác và đích thân dẫn đầu cuộc xung phong, lớn tiếng cổ vũ binh lính về lòng dũng cảm của họ ở Lodi. Bất chấp những dòng thư đã gửi cho Đốc chính hai ngày trước về chuyện không phơi mình ra trước hiểm nguy, ông thật sự đã làm thế tại Arcole. Song nỗ lực đó đã thất bại – binh lính tỏ ra “hèn nhát khác thường”, theo lời Sulkowski – và họ đã không tràn qua cây cầu ngổn ngang xác chết, cho dù sĩ quan phụ tá của Napoleon, Đại tá Muiron, và nhiều người khác bị giết trên cầu bên cạnh ông. Trong một cuộc phản kích của quân Áo, Napoleon đã bị đẩy xuống bãi lầy đằng sau cầu và chỉ được cứu thoát nhờ một đợt xung phong của lính thủ pháo. Ông là một người dũng cảm, song bất cứ ai cũng chỉ có thể làm được đến thế khi đối mặt với hỏa lực tập trung từ sự chống cự kiên cường của quân Áo, một việc sẽ còn tiếp diễn thêm hai ngày nữa. Khi tới thăm cây cầu ngày nay, người ta có thể thấy Napoleon chắc là đã bị đẩy xuống đường rãnh thoát nước ở ngay cạnh cầu, việc rất có thể đã cứu mạng ông bất chấp sự mất mặt nó gây ra.
Khi thấy rõ ràng là không thể chiếm được cầu, Napoleon đã lệnh cho Masséna và Augereau quay lại phía nam sông Adige, để lại ánh lửa trại tiếp tục cháy ở Arcole, ra vẻ là quân Pháp vẫn còn ở đó. Ông cần sẵn sàng để di chuyển chống lại Davidovich nếu Vaubois rút lui thêm nữa tại Rivoli. Từ tháp nhà thờ tại ngôi làng nhỏ Ronco, quân Pháp có thể thấy Alvinczi hành quân lui về Villanova và triển khai ở phía đông suối Alpone. Cây cầu tại Arcole phải hai ngày sau nữa mới bị Augereau và Masséna chiếm khi họ quay trở lại đó vào ngày 17, và Napoleon không có mặt khi chiếm được nó. Mặc dù tổn thất của quân Pháp là đáng kể – 1.200 người chết, trong đó có 8 tướng, và 2.300 người bị thương, so với 600 người chết và 1.600 người bị thương của bên Áo – nhưng cuối cùng người Pháp đã thắng trận Arcole, khi họ bắt được 4.000 tù binh Áo và 11 khẩu pháo. “Phải cần đến may mắn để đánh bại Alvinczi”, Napoleon sau này thừa nhận.
Khi mùa đông tới gần và mùa chiến dịch kết thúc, Mantua vẫn bị vây hãm, quân Áo thử sức lần thứ tư để giải vây cho thành phố. Chiến dịch này khiến Áo bị thương vong gần 18.000 người, còn quân Pháp mất hơn 19.000 người. Quân Pháp giờ đây thiếu thốn mọi thứ – sĩ quan, giày, thuốc chữa bệnh, và tiền trả lương. Một số binh lính bị đói tới mức xảy ra một cuộc binh biến tại Bán lữ đoàn bộ binh 33, khiến ba đại đội bị giam lại và hai kẻ cầm đầu bạo động bị xử bắn. Ngay khi ngừng giao chiến, Napoleon cách chức Vaubois và đưa Joubert lên chỉ huy sư đoàn phòng thủ Rivoli.
Báo cáo Napoleon gửi Carnot ngày 19 lạc quan hơn nhiều so với báo cáo trước đó của ông. “Số phận của Italy đang bắt đầu trở nên rõ ràng”, ông viết. “Tôi hy vọng, trước khi 10 ngày nữa trôi qua, có thể viết thư cho ngài từ bản doanh đặt tại Mantua. Chưa bao giờ có chiến trường nào bị giành giật nhiều hơn tại Arcole. Tôi gần như không còn viên tướng nào nữa; sự cống hiến và lòng dũng cảm của họ quả là vô song”. Ông kết thúc bằng việc cho biết mình dự định hành quân tới thành Rome “bất trị” ngay khi Mantua đầu hàng. Vào cuối tháng Mười một, Đốc chính phái Tướng Henri Clarke, cấp trên trước đây của Napoleon tại Cục Đồ bản, tới Vienna để thăm dò khả năng hòa bình, Napoleon thuyết phục ông ta, rằng Mantua sắp thất thủ nên ông ta sẽ không cần phải hy sinh Cộng hòa Cispadane trong các cuộc đàm phán. “Ông ta là một gián điệp được Đốc chính cài vào tôi”, nghe đâu Napoleon đã nói vậy với Miot, “ông ta là một người chẳng có tài năng gì – chỉ tự cao tự đại”. Đây khó có thể là cách nhìn của Napoleon, vì sau này ông sẽ đưa Clarke, một người rất có năng lực và được ông phong làm Công tước Feltre, trở thành thư ký riêng của mình, rồi Bộ trưởng Chiến tranh, và đến năm 1812 là một trong những người quyền lực nhất tại Pháp. “Hãy gửi cho tôi 30.000 quân và tôi sẽ hành quân tới Trieste”, Napoleon viết cho Đốc chính, “mang chiến tranh vào lãnh thổ của Hoàng đế Áo, cách mạng hóa Hungary, và tiến tới Vienna. Khi đó các ngài sẽ có quyền trông đợi hàng triệu franc, và một nền hòa bình tốt.”
•••
Anh tới Milan”, ngày 27 tháng Mười một Napoleon viết cho Josephine, người vẫn đang đi nghỉ ở Genoa cùng Hippolyte Charles, “anh ùa vào phòng em; anh đã bỏ lại mọi thứ để gặp em, để ôm chặt em trong vòng tay anh… Em không có ở đó: em chạy từ thành phố này tới thành phố khác theo các hội hè; em rời đi khi anh sắp tới; em không còn bận tâm tới Napoleon thân yêu của em nữa… Cả thế giới sẽ chỉ thật hạnh phúc nếu điều đó có thể khiến em vui lòng, và chỉ mình chồng em là rất, rất bất hạnh. Bonaparte”. Ngày hôm sau ông lại viết, nói rằng: “Khi anh đòi hỏi ở em một tình yêu sánh ngang tình yêu của anh, anh đã sai; làm sao người ta có thể cân đăng ten để so với vàng được?” Nhưng Josephine đã rất khôn khéo trong việc làm dịu đi sự nghi ngờ của Napoleon. Antoine Lavalette, một người họ hàng cọc chèo đã thế chỗ cho Muiron tử trận như một trong tám sĩ quan phụ tá của Napoleon, nhớ lại hồi ở Milan: “Phu nhân Bonaparte thường kéo chồng vào lòng sau bữa sáng, và ôm chặt lấy ông trong vài phút”. Ngoài những điều khác, đây là một dấu hiệu cho thấy hồi đó ông nhẹ cân tới mức nào. Một nét chấm phá cũng hấp dẫn tương tự về giai đoạn này có thể thấy trong thư Napoleon gửi Jérôme de Lalande, Giám đốc Đài quan sát thiên văn Paris, cho thấy sự mơ màng của ông: “Đêm ngụ bên một phụ nữ đẹp và một bầu trời đẹp, còn ngày ghi lại các quan sát và thực hiện các tính toán, với tôi có vẻ chính là hạnh phúc trên thế gian.
Ít hạnh phúc hơn thế là thư của Battaglia, sĩ quan chỉ huy của Venice trung lập, viết vào tháng Mười hai để phàn nàn về hành vi của quân Pháp trên lãnh thổ Venice. Napoleon phẫn nộ bác bỏ chuyện có bất cứ một phụ nữ nào bị quân Pháp hãm hiếp, ông hỏi, “Liệu Cộng hòa Venice có thực sự muốn tuyên bố chống lại chúng tôi công khai đến vậy không?” Battaglia lập tức xuống giọng và câu trả lời của Napoleon hai ngày sau đó đã bình tĩnh hơn, hứa hẹn “trừng phạt để làm gương cho bất cứ binh lính nào không tuân thủ các quy định kỷ luật nghiêm khắc.”
Nhận ra rằng sau khi Livorno thất thủ, họ không thể tiếp tục phòng thủ Corse trước người Pháp, nên người Anh dưới sự chỉ huy của Đô đốc xuất chúng 38 tuổi Horatio Nelson đã thực hiện một cuộc triệt thoái kiểu mẫu khỏi hòn đảo vào tháng Mười. Paoli và những người ủng hộ ông ta rời đảo cùng với họ. Napoleon phái Miot de Melito và Saliceti tới để tổ chức các đơn vị hành chính Pháp sẽ được thiết lập ở đó ngay khi người Anh rời đi. Cùng ngày ông viết cho Battaglia, ông cũng viết cho Joseph, người đi cùng Melito, để nói rằng ông muốn Casa Bonaparte được dọn “sạch sẽ và có thể ở được. Nó cần được đưa trở lại tình trạng trước đây của nó”, nghĩa là trước khi bị những người ủng hộ Paoli cướp phá bốn năm trước. Những năm tranh đấu của ông với bộ máy quan liêu Pháp về vườn ươm đã không hoàn toàn uổng phí.
Từ tháng Chín đến tháng Mười hai năm 1796, gần 9.000 người chết vì bệnh tật và đói khát tại Mantua. Trong số 18.500 quân đóng trong thành phố, chỉ còn 9.800 có khả năng chiến đấu. Những khẩu phần cuối cùng theo tính toán sẽ hết vào ngày 17 tháng Một. Cuộc tấn công tiếp theo của Áo sẽ phải diễn ra sớm, và mối bận tâm chủ yếu của Napoleon là chuẩn bị cho đạo quân của ông sẵn sàng đón nhận nó. Ông gửi 40 lá thư từ Milan tới cho Berthier trong vòng 18 ngày vào tháng Mười hai, xin Đốc chính tăng viện thêm nữa. “Kẻ thù đang rút quân khỏi sông Rhine để đưa tới Italy. Hãy làm tương tự, hãy giúp chúng tôi”, ông viết ngày 28. “Chúng tôi chỉ yêu cầu thêm người”. Trong cùng lá thư này, ông nói đã bắt được một điệp viên Áo mang theo một lá thư gửi Hoàng đế Francis giấu trong một cái ống được nuốt vào bụng. “Nếu bị tiêu chảy”, Napoleon bổ sung thông tin hữu ích, “sẽ lấy được cái ống nhỏ đó, rửa bằng rượu mạnh và lại nuốt nó vào. Cái ống được nhúng trong sáp Tây Ban Nha trộn với dấm.”
Không có khía cạnh nào trong đời sống và phúc lợi của binh lính dưới quyền Napoleon mà ông không quan tâm đến. Khi ông phát hiện ra một số người thuộc đơn vị của Joubert không có mặt trước sĩ quan hậu cần vào ngày trả lương, ông muốn biết lý do tại sao, vì nghi ngờ có trò lừa đảo nào đó. “Tôi càng tìm hiểu sâu hơn trong những lúc rảnh rỗi vào những ổ loét không thể chữa lành trong quản lý hành chính của Đạo quân Italy”, ông viết cho Đốc chính ngày 6 tháng Một năm 1797, “tôi càng bị thuyết phục về sự cần thiết của việc áp dụng một biện pháp dứt khoát và rõ ràng”. Tuyên bố rằng “những nữ diễn viên chính của Italy đều nằm trong tay các nhà thầu quân đội Pháp”, và rằng “sự xa hoa và tham ô đang ở đỉnh điểm”, ông nhắc lại đề nghị “cho xử bắn bất cứ viên quản lý nào của đạo quân”. (Đốc chính đã quá nhạy cảm, hoặc quá để tâm tới việc bảo vệ bản thân, nên đã để cho một viên tướng toàn quyền định đoạt việc sống chết với những người Pháp khác.) Napoleon không do dự sử dụng quyền lực ông có trong tay một cách không nương tay khi có thể. Ngày 7 tháng Một, ông ra lệnh cho Tướng Jean-Baptiste Rusca xử bắn các thủ lĩnh của một cuộc bạo động ở Modena, và phá hủy ngôi nhà của người cầm đầu là cha xưng tội của Công tước Modena. Một kim tự tháp được dựng lên trên đống đổ nát với một tấm biển ghi: “Sự trừng phạt dành cho một tu sĩ điên cuồng đã lạm dụng vị thế của mình rao giảng nổi loạn và giết người”.(*)
Cùng ngày hôm đó, Napoleon nhận được tin Alvinczi đang tiến xuống phía nam, lần này với 47.000 quân. Một lần nữa, người Áo chia lực lượng của họ ra: quân chủ lực của Alvinczi với 28.000 quân (bao gồm cả Quasdanovich) hành quân theo bờ đông hồ Garda thành sáu cánh, sử dụng tất cả các tuyến đường và đường mòn có sẵn, qua đó tránh phải chạm trán quân Pháp trên đồng bằng, trong khi 15.000 quân dưới quyền Provera tiến qua đồng bằng từ phía đông, hướng tới Verona. Hơn 4.000 quân được bố trí tới phía tây hồ Garda. Alvinczi ra lệnh cho Wurmser đột kích ra khỏi Mantua và đi về phía đông nam để hội quân với mình. Napoleon lập tức rời Milan và thực hiện nhiều chuyến đi tới Bologna, Verona, và bản doanh của ông ở Roverbella, cố gắng dự đoán ý định của Alvinczi. Ông có 37.000 quân trên chiến trường và 8.500 quân dưới quyền Sérurier tại các tuyến bao vây Mantua.
Ngày 12 tháng Một, Joubert báo cáo có một cuộc tấn công tại La Corona tới tận phía bắc Rivoli, nhưng bị kìm lại dưới lớp tuyết mới rơi rất dày. Tướng Brune bị bảy viên đạn xuyên qua quần áo mà không hề bị thương”, Napoleon nói với Josephine, “ông ấy thật may mắn”. Ông dự đoán chiến dịch sẽ được định đoạt dưới chân dãy Alps thuộc Italy dọc theo sông Adige, nhưng ông cần thêm nhiều thông tin hơn thế trước khi tung ra cuộc phản kích của mình. Trong khi chờ đợi, ông ra lệnh cho Masséna đóng giữ Verona và rút 7.000 quân lui lại qua sông Adige; Tướng Gabriel Rey cần tập trung hai lữ đoàn tại Castelnuovo. Lannes cần để lại số lính Italy ở phía nam và cho 2.000 quân Pháp của mình hành quân trở lại Badia để đề phòng bất cứ cuộc tấn công phía nam nào của người Áo, trong khi Augereau phòng thủ Ronco.
Hôm sau, trong khi Napoleon chuẩn bị di chuyển và đè bẹp Provera, ông được biết vào lúc 10 giờ sáng là Joubert đang đối mặt với một cuộc tấn công quy mô lớn và đang lùi về Rivoli theo trật tự, bỏ lại sau lưng các đống lửa trại vẫn cháy. Hiểu ra rằng mũi tấn công của Provera chỉ là nghi binh và mũi tấn công chính sẽ tới qua đường Rivoli, từ Verona, Napoleon phi ngựa nhanh tới đó, đưa ra một loạt mệnh lệnh hoàn toàn mới. Giờ đây Joubert cần giữ vững Rivoli bằng mọi giá; Sérurier cần đưa các tuyến vây hãm vào trạng thái báo động cao, nhưng cũng phải lập tức điều động kỵ binh, pháo binh và 600 bộ binh tới Rivoli ngay; Masséna phải cho các Bán lữ đoàn 18, 32, và 75 hành quân tới chiếm lĩnh vị trí bên trái Joubert; Augereau cần giữ chân Provera trên sông Adige và phái một số kỵ binh cùng pháo binh tới Rivoli. Mọi người được thông báo rằng một trận quyết chiến sắp diễn ra. Với hai lữ đoàn của Tướng Gabriel Rey, Napoleon trông đợi sẽ tập trung được 18.000 bộ binh, 4.000 kỵ binh và 60 khẩu pháo tại Rivoli vào trưa 14 tháng Một, để lại 16.000 quân bên sông Adige và 8.000 quân tại Mantua. Câu châm ngôn cũ “Hành quân riêng rẽ, chiến đấu tập trung” không thể được tuân thủ tốt hơn thế. Alvinczi đã thất bại trong việc mang thêm tới Rivoli bất cứ lực lượng nào ngoài 28.000 quân và 90 khẩu pháo ông ta có trong tay lúc khởi hành.
Napoleon tới cao nguyên bằng phẳng phía trên hẻm núi Rivoli, nơi sẽ là địa điểm mang tính chìa khóa quyết định của trận đánh – điểm tập kết – lúc 2 giờ sáng Thứ bảy, 14 tháng Một năm 1797. Tối hôm đó trời trong, rất lạnh, trăng sáng, ông suy đoán từ số lượng cũng như vị trí các đống lửa trại, có nghĩa là Hầu tước de Lusignan, một viên tướng Áo sinh ra tại Tây Ban Nha có tính cách mạnh mẽ, đang ở quá xa nên chỉ có thể tham chiến vào giữa buổi sáng. Ông biết rõ khu vực này vì đã cưỡi ngựa đi qua đây thường xuyên trong bốn tháng trước đó. Nếu ông có thể giữ vững hẻm Osteria và sườn dốc nơi có nhà nguyện San Marco ở phía đông của chiến trường, ông tin mình có thể chặn đứng mũi tấn công chính một cách tương đối dễ dàng. Ông cần để sư đoàn của Masséna nghỉ ngơi và kéo dài thời gian chờ Rey tới nơi, vì vậy ông quyết định tổ chức một cuộc tấn công bất thành để thu hút sự chú ý của Alvinczi. Joubert được lệnh hành quân ngược trở lại cao nguyên Rivoli và phái một lữ đoàn tới Osteria trước khi tấn công ở trung tâm, được yểm trợ bởi tất cả các khẩu pháo Pháp trên cao nguyên. Cùng lúc, Masséna được lệnh phái một lữ đoàn đi chặn Lusignan lại càng lâu càng tốt.
Vào 4 giờ sáng, ba tiếng trước hừng đông, lữ đoàn của Tướng Honoré Vial gồm các Bán lữ đoàn khinh binh 4, 17, và 22 đẩy lùi quân Áo ở San Giovanni và Gamberon, chiếm giữ nhà nguyện San Marco. Lúc rạng ngày, Joubert tấn công ở Caprino và San Giovanni, nhưng chiến tuyến của ông rất mỏng và bị chặn đứng bởi số quân đối phương vượt trội hơn nhiều. Quân Áo phản công lúc 9 giờ sáng, đánh bại lữ đoàn của Vial, rồi Napoleon lập tức điều một trong các lữ đoàn của Masséna tới cứu nguy cho trung tâm, nhờ đó chiếm lại được làng Trambassore. Giao tranh ở trung tâm tiếp diễn không ngừng trong suốt 10 tiếng đằng đẵng.
Đến 11 giờ sáng, Lusignan tới nơi cùng 5.000 quân của mình. Ông ta đã đánh bại lữ đoàn được Masséna phái đi, và thâm nhập sâu vào sườn trái hậu quân Pháp gần Affi, ngăn cản bất cứ lực lượng tăng viện nào tới. Napoleon vừa cố gắng duy trì được trung tâm của mình, vừa phải chịu áp lực lớn bên cánh phải và Lusignan đã vòng sang cánh trái. Ông chỉ còn một lữ đoàn dự bị và Rey vẫn còn cách một tiếng hành quân. Khi tin báo cho biết Lusignan đã ở sau lưng ông, các sĩ quan tham mưu đầy lo lắng nhìn vào Napoleon vẫn đang bình thản một cách lạ thường, và chỉ đơn giản nhận xét: “Giờ thì ta tóm được chúng rồi”. Khẳng định rằng quân Áo ở trung tâm đã bị tiêu hao sinh lực còn Lusignan vẫn còn ở quá xa để tác động tới trận đánh, Napoleon tập trung vào Quasdanovich ở phía đông, coi đây là mối đe dọa chính. Ông rút bớt quân khỏi chiến tuyến của Joubert và điều tất cả quân mà ông có được tới San Marco. Khi các cánh quân Áo dày đặc, được pháo binh yểm trợ, tràn qua hẻm núi và tiếp cận cao nguyên, liền bị pháo binh Pháp nã đạn chùm vào đội hình san sát của họ từ mọi phía, rồi bị một đội bộ binh tấn công giáp lá cà, sau đó bị toàn bộ lực lượng kỵ binh Pháp có mặt tấn công. Khi họ rút lui vào hẻm núi, một phát đạn may mắn trúng vào một xe chở đạn – làm cho mọi thứ càng thêm tàn khốc trong không gian chật hẹp – sau biến cố này Quasdanovich ra lệnh ngừng tấn công.
Napoleon lập tức chuyển cuộc tấn công của mình sang trung tâm, nơi quân Áo gần như không có pháo binh hay kỵ binh. Sau khi tới được cao nguyên với tổn thất lớn, cả ba cánh quân Áo đều bị đẩy lùi khỏi đó. Lusignan bị chặn đứng trên đường tới chiến trường, đúng lúc Rey bất ngờ xuất hiện sau lưng ông ta. Ông ta may lắm mới thoát được cùng khoảng 2.000 quân. Đến 2 giờ chiều, quân Áo đã rút lui hoàn toàn, và cuộc truy kích chỉ bị bãi bỏ khi nhận được tin từ Augereau rằng Provera đã vượt sông Adige và đang hướng về Mantua, rồi Masséna được cử đi giúp Augereau ngăn cản việc giải vây này.
Napoleon mất 2.200 người trong trận Rivoli và thêm 1.000 người nữa bị bắt, nhưng thiệt hại của phía Áo còn cao hơn nhiều: 4.000 người bị chết và bị thương, 8.000 người bị bắt, cùng với 8 khẩu pháo và 11 quân kỳ. Đây là một chiến thắng ấn tượng, cho dù không phải là 6.000 người bị giết và bị thương, đoạt được 60 khẩu pháo và 24 quân kỳ – “được thêu bởi chính tay Hoàng hậu” – như Napoleon tuyên bố khi ông viết thư về nước, cũng không phải là ông đã đối mặt với 45.000 quân Áo. Song cuộc rút lui của Alvinczi dần biến thành cuộc tháo chạy khi có thêm 11.000 tù binh nữa bị bắt trong những ngày kế tiếp.
Vào trưa 15 tháng Một, Provera tới La Favorita cùng lực lượng giải vây gồm 4.700 quân của mình, trong đó có nhiều tân binh được huấn luyện sơ sài. Trong ánh bình minh của hôm sau, Wurmser tìm cách đột kích ra khỏi Mantua, nhưng ông ta đã bị chặn ngay lại. Đến khi Napoleon tới nơi, Provera đã bị mắc kẹt giữa Masséna và Augereau tại La Favorita, một làng ở ngoại vi Mantua. Ông ta đã chiến đấu dũng cảm, nhưng buộc phải đầu hàng trước khi một cuộc thảm sát xảy ra, và toàn bộ cánh quân của ông ta đều bị bắt. Ở Mantua, lương thực cuối cùng cũng cạn kiệt. Wurmser đã cố gắng cầm cự được hai tuần, lâu hơn dự kiến với hy vọng vô ích rằng Alvinczi có thể xuất hiện một cách thần kỳ, song đến thứ Năm, ngày 2 tháng Hai năm 1797, ông ta đã phải đầu hàng, giao nộp thành phố và trại lính đã suy giảm số lượng ghê gớm. Chừng 16.300 quân Áo đã chết ở Mantua trong vòng tám tháng trước đó, cùng nhiều dân thường, những người đã buộc phải ăn cả chuột và chó. Quân Pháp chiếm được 325 khẩu pháo của Áo và đoạt lại 179 khẩu họ đã bỏ lại hồi tháng Tám. Wurmser và 500 người thuộc ban tham mưu của ông ta được phép rời khỏi thành phố trong danh dự quân nhân và trở về Áo, với điều kiện họ sẽ không chiến đấu chống lại Pháp cho tới khi có một cuộc trao đổi tù binh. Những người còn lại bị bắt về Pháp, nơi họ phải làm việc trong ngành nông nghiệp và các dự án xây dựng. Tin Mantua thất thủ đã tạo ra chấn động mạnh ở Paris, nơi nó được thông báo cùng tiếng kèn trumpet, và như một người đương thời nhớ lại, bởi một viên “sĩ quan công vụ, người tuyên cáo về vinh quang quân sự của Pháp giữa một đám đông mênh mông.”
Napoleon không có mặt để chứng kiến khúc ca khải hoàn của mình. Ông đi tiếp tới Verona và sau đó tới Bologna để trừng phạt Lãnh thổ Giáo hoàng vì đã dọa nổi dậy ủng hộ Áo bất chấp thỏa thuận ngừng bắn mà họ đã ký kết hồi tháng Sáu năm trước. Thản nhiên đoạt quyền của Đốc chính, ngày 22 tháng Một ông yêu cầu phái viên Pháp ở Rome là Cacault, “phải rời Rome trong vòng sáu tiếng đồng hồ khi nhận được thư này” để gây áp lực lên Vatican. Cùng ngày, ông viết thư cho nhà thương thuyết của Giáo hoàng, Hồng y Alessandro Mattei, để nói rằng ảnh hưởng của Áo và Naples lên chính sách ngoại giao của Rome cần phải chấm dứt. Nhưng giọng điệu của ông ở cuối thư lại mềm đi và đề nghị Hồng y đảm bảo với Đức Thánh Cha rằng ngài có thể ở lại Rome mà không có chút bất an nào khi tính đến việc ông ta “là người đứng đầu tôn giáo”. Như đã nói với Đốc chính, Napoleon e rằng “Nếu Giáo hoàng và tất cả các hồng y chạy trốn khỏi Rome, tôi sẽ không bao giờ có được thứ tôi cần”. Ông cũng biết rằng tấn công Vatican sẽ chuốc lấy cho ông sự giận dữ, thậm chí là sự thù hằn suốt đời, của những người Thiên Chúa giáo mộ đạo tại châu Âu. “Nếu tôi tới Rome, tôi sẽ mất Milan”, ông nói với Miot.
Napoleon ban hành một tuyên bố vào ngày 1 tháng Hai, nói rằng mọi tăng lữ và tu sĩ không “hành xử theo đúng các nguyên tắc của Tân Ước” sẽ bị xử lý “nghiêm khắc hơn các công dân khác”, hy vọng làm chùn bớt sự chống đối của họ với sự cai quản của Pháp tại Italy. Tuy nhiên, rất tức cười nhưng cũng rất can đảm, binh lính của Lãnh thổ Giáo hoàng đã cố gắng tổ chức một cuộc chiến đấu. Tại Castel Bolognese ngày 3 tháng Hai, Tướng Claude Victor-Perrin (được biết đến dưới cái tên Victor) dễ dàng áp đảo những binh lính mà ông ta chạm trán, và một tuần sau ông ta đã chiếm được trại lính của Giáo hoàng tại Ancona mà không bị tổn thất. Đến ngày 17 tháng Hai, Giáo hoàng cầu xin hòa bình. Ông ta cử Mattei tới bản doanh của Napoleon tại Tolentino để ký một hiệp ước, theo đó ông ta nhượng lại Romagna, Bologna, Avignon, và Ferrara cho Pháp, đóng cửa tất cả các cảng với người Anh, và hứa trả một khoản “đóng góp” 30 triệu franc và 100 tác phẩm nghệ thuật. “Chúng ta sẽ có mọi thứ đẹp đẽ ở Italy”, Napoleon báo với Đốc chính, “với ngoại lệ là một ít hiện vật tại Turin và Naples.”
•••
Ngày 18 tháng Hai năm 1797, Đạo quân Italy tung ra bản tin Journal de Bonaparte et des Hommes Vertueux (Nhật báo của Bonaparte và Những người Chính trực), với hàng tít tuyên bố “Hannibal ngủ lại ở Capua, nhưng Bonaparte không ngủ lại ở Mantua”. Napoleon ý thức rất rõ sức mạnh của tuyên truyền, và giờ đây ông thực hiện một nỗ lực có chủ đích nhằm tác động tới quan điểm của công chúng, vốn đã nghiêng về phía ông cực lực. Ông bắt đầu sự nghiệp mới của mình trong vai trò một chủ bút và nhà báo bằng cách đưa ra những câu kiểu “Bonaparte lao đi như tia chớp và tấn công như sấm sét”. Trong vòng 10 ngày, Journal úp mở chỉ trích Đốc chính, điều mà nó sẽ không làm được nếu không có sự cho phép của Napoleon. Muộn hơn trong cùng năm, ông cũng lập ra hai tờ tin của đạo quân, Courrier de l’Armée d’Italie (Tin tức của Đạo quân Italy), do một cựu Jacobin là Marc-Antoine Jullien biên tập, và tờ La France Vue de l’Armée d’Italie (Pháp nhìn từ Đạo quân Italy) ít quan trọng hơn, do Michel Regnaud de Saint-Jean d’Angély biên tập, thường xuyên được trích dẫn trên báo chí Paris. Trước mặt trận sông Rhine vốn gần Pháp hơn nhiều, Napoleon không muốn chiến dịch Italy trở thành thứ yếu trong tâm trí công chúng, và ông nghĩ binh lính của mình sẽ đánh giá cao tin tức từ Paris. D’Angély là một cựu nghị sĩ và luật sư, điều hành các bệnh viện của Đạo quân Italy và sau này sẽ trở thành một trong những trợ thủ cao cấp của Napoleon. Việc bổ nhiệm Jullien là một dấu hiệu về việc Napoleon sẵn sàng bỏ qua các bối cảnh quá khứ chính trị nếu cá nhân được xem xét là có tài năng và cho thấy sự sẵn sàng muốn khép lại quá khứ. Trong một chính thể hay thay đổi như ở Pháp, đây không phải là sự khoan dung quá lớn như cảm nhận thông thường. Nói cho cùng, chỉ mới ba năm trước, chính Napoleon cũng từng là một người Jacobin.
Tại Paris, tờ Moniteur tường thuật lại lễ kỷ niệm các chiến thắng của Napoleon với các màn nhảy múa, ca nhạc, các dạ tiệc lớn và các cuộc diễu hành. Các hoạt động này được tổ chức bởi đội ngũ những người ủng hộ ông đang lớn dần, những người mà các ủy viên Đốc chính nhận xét riêng với nhau là không phải lúc nào cũng ủng hộ họ. Ngoại trừ chính trị, Napoleon được lên mặt báo rất thường xuyên; tờ báo bảo thủ Nouvelles Politiques (Nền chính trị mới) nhắc tới Đạo quân Italy 66 lần trong sáu tháng. Về tổng thể, các chiến công của Napoleon được nói đến thường xuyên hơn nhiều so với các chiến công của bất cứ tướng lĩnh Pháp nào khác, trong nỗi phiền muộn ngày càng tăng trong số những chỉ huy cao cấp của Đạo quân sông Rhine và sông Moselle, của Đạo quân sông Sambre và Meuse, họ bực bội vì bị lu mờ trước Đạo quân Italy.
Năm 1796 là năm đầu tiên các bản in và tranh khắc gỗ về Napoleon bắt đầu được chế tác và tung ra thị trường, với những tiêu đề như “Tướng Bonaparte ở Lodi”, “Bonaparte tới Milan”, v.v… Một số thì thêm chữ “e” vào tên thánh và “u” vào họ của ông, số khác lại viết thành Bounaparte”. Hàng chục, có lẽ thậm chí hàng trăm kiểu thể hiện khác nhau về ông vào năm 1798 chứng tỏ rằng sự sùng bái cá nhân đã bắt đầu. Các nghệ sĩ cảm thấy không cần phải tận mắt nhìn thấy ông trước khi họ vẽ ông, vì thế trong một số bản in ta thấy ông được thể hiện như một người đàn ông trung niên với mái tóc hoa râm, phù hợp hơn với những gì người ta trông đợi từ một vị tướng chiến thắng.
Sau trận Montenotte, lần đầu tiên Napoleon đã ra lệnh đúc huy chương để kỷ niệm chiến thắng của mình, và những huy chương này cũng trở thành các công cụ tuyên truyền đầy tiềm năng. Những tướng lĩnh khác không làm việc này, và ông đã không cần xin phép Đốc chính. Bản đẹp nhất của những chiếc huy chương đồng thau này được thiết kế bởi nhà tạo mẫu khắc khéo léo kiêm cựu tiểu thuyết gia diễm tình Vivant Denon, người sau này trở thành Giám đốc bảo tàng Louvre. Chẳng hạn, huy chương Montenotte có đường kính chỉ hơn 3,8 cm, thể hiện hình bán thân của Napoleon trên mặt trước với áo khoác được trang hoàng bằng lá và quả sồi, cùng một hình tượng thể hiện “Thần chiến tranh” trên mặt sau. Tổng cộng đã có 141 huy chương chính thức các loại được đúc cho tới năm 1815 để kỷ niệm các trận đánh, hiệp ước, lễ đăng quang, cuộc vượt sông, hôn lễ của ông và những lần tiến vào các thủ đô nước ngoài, được phân phát rộng rãi cho đám đông tại các sự kiện và các lễ kỷ niệm chính thức. Một số huy chương để kỷ niệm những sự kiện tương đối tầm thường như việc thành lập trường Y Paris, khánh thành kênh đào Ourcq và sự ra đời của trường mỏ tại vùng Mont Blanc. Một huy chương thậm chí còn được phát hành khi Napoleon vẫn án binh bất động tại Osterode suốt tháng Ba năm 1807, thể hiện hình viên tướng La Mã nổi tiếng cẩn trọng (nhưng thành công) Fabius Maximus “Kẻ Trì hoãn” ở mặt sau.
•••
Vào thứ Sáu, 10 tháng Ba năm 1797, Napoleon khởi động chiến dịch phía bắc mà ông đã hứa với Đốc chính; một cuộc viễn chinh đầy mạo hiểm với chỉ 40.000 quân xuyên qua vùng Tyrol tới Klagenfurt, và cuối cùng tới Leoben ở Styria, từ nơi này, trên đỉnh các ngọn đồi Semmering, tiền quân của ông có thể nhìn thấy các ngọn tháp của thành Vienna. Các đạo quân của Jourdan và Moreau – cả hai đều có quân số đông gấp đôi – đã bị Đại Công tước Charles đánh bật ra khỏi Đức; Pháp giờ đây hy vọng lực lượng khiêm tốn hơn của Napoleon sẽ buộc người Áo phải chịu đàm phán hòa bình bằng cách đe dọa chính thủ đô của họ. Napoleon ban đầu dự định phối hợp tác chiến với Đạo quân sông Rhine trong một cuộc tấn công gọng kìm, và ngày càng trở nên lo lắng khi ông biết cả Jourdan lẫn Moreau đều không thể vượt sông Rhine trở lại sau những thất bại của họ mùa thu năm trước. Để động viên người của mình, ông chỉ trích anh trai Charles tức Hoàng đế Francis trong một bản tuyên bố của mình là “kẻ tôi đòi được trả công của đám lái buôn London” và cho rằng người Anh, “xa lạ với những nỗi khổ ải của chiến tranh, mỉm cười khoan khoái chứng kiến những tai họa của Lục địa”. Mũi tấn công này trong cuộc chiến tuyên truyền của Napoleon chống lại Áo đã diễn ra, bởi Chính phủ Anh sắp sửa cung cấp cho Áo khoản vay 1,62 triệu bảng, tương đương với hơn 40 triệu franc. Cho dù người Anh lần này không tìm cách đổ quân lên lục địa, nhưng họ luôn hào phóng trong việc tài trợ cho bất cứ kẻ thù nào của Pháp sẵn sàng ra trận chống lại quốc gia này.
Ngày 16 tháng Ba, Napoleon vượt sông Tagliamento, giáng cho Đại Công tước Charles một thất bại nhỏ tại Valvassone, và được Tướng Jean-Baptiste Bernadotte biến thành một thắng lợi lớn hơn vào hôm sau khi ông ta bắt giữ được một cánh quân Áo khá đông bị tách rời khỏi chủ lực. Tại Tagliamento, Napoleon giới thiệu đội hình hỗn hợp – một thỏa hiệp giữa tấn công theo đội hình hàng ngang và tấn công theo đội hình hàng dọc, được Guibert phát triển đầu tiên để thích ứng với sự thay đổi đột ngột của một địa hình không cho phép triển khai đội hình theo thường lệ. Đây là một kỹ thuật ông sẽ tái sử dụng vài ngày sau đó khi vượt sông Isonzo vào Áo; trong cả hai trường hợp này ông đều đích thân can thiệp để triển khai một đội hình kết hợp giữa hỏa lực của một tiểu đoàn theo hàng ngang với xung lực tấn công của hai tiểu đoàn theo hàng dọc.
“Hãy xua đi sự bất an của các bạn”, ông nói với dân chúng khu Görizia thuộc quyền cai trị của nhà Habsburg ở Đông bắc Italy, “chúng tôi tử tế và nhân đạo”. Ông không bị ấn tượng về đối thủ mới của mình, ông thấy danh tiếng của Charles với vai trò chiến lược gia là không có căn cứ, cho dù ông này đã thắng trận ở Hà Lan năm 1793 và đánh bại Jourdan và Moreau năm 1796. “Từ trước tới nay, Đại Công tước Charles điều quân tồi hơn cả Beaulieu và Wurmser”, Napoleon viết cho Đốc chính, “ông ta liên tục mắc sai lầm, và là những sai lầm cực kỳ ngu ngốc”. Chưa có một trận đánh quan trọng nào diễn ra giữa Napoleon và Đại Công tước Charles, còn người Áo – lúc này cũng đang phải đối mặt với một cuộc tấn công dữ dội lần nữa qua lãnh thổ Đức của Moreau – đã quyết định không mạo hiểm để mất thủ đô vào tay Napoleon, và chấp nhận đề nghị đình chiến của ông tại Leoben ngày 2 tháng Tư, cách Vienna hơn 160 km về phía tây nam.
Kể từ khi chiến dịch bắt đầu một năm trước, Napoleon đã vượt qua các dãy núi Apennines và Alps, đánh bại một đạo quân Sardinia và không ít hơn sáu đạo quân Áo, đã tiêu diệt, làm bị thương, và bắt sống 120.000 quân Áo. Tất cả những điều này ông đã làm được trước sinh nhật thứ 28 của mình. 18 tháng trước ông còn là một người lính buồn rầu chẳng ai biết đến, ngồi viết những bài luận về tự sát; còn giờ đây ông đã nổi tiếng khắp châu Âu, đánh bại Áo hùng mạnh, buộc Giáo hoàng và các vua Piedmont cũng như Naples phải ký hiệp ước hòa bình, xóa bỏ công quốc trung cổ Modena, và trong mọi bối cảnh quân sự có thể hình dung được đã đánh bại hầu hết các tướng lĩnh tiếng tăm nhất của Áo – Beaulieu, Wurmser, Provera, Quasdanovich, Alvinczi, Davidovich – và qua mặt Đại Công tước Charles.
Napoleon đã chiến đấu chống lại những lực lượng Áo luôn đông hơn về số lượng, song ông thường áp đảo các đạo quân này trên chiến trường nhờ vào chiến lược vị trí trung tâm được lặp đi lặp lại của ông. Sự nghiên cứu kỹ lưỡng về lịch sử và địa lý của Italy từ trước khi ông đặt chân tới đó đã tỏ ra cực kỳ hữu ích, cũng như việc ông sẵn sàng thử nghiệm với ý tưởng của người khác, nhất là đội hình vuông và đội hình hỗn hợp , và những tính toán tỉ mỉ về hậu cần của ông, trong đó trí nhớ phi thường của ông là vô giá. Vì luôn giữ cho các cánh quân của mình ở cách nhau trong vòng một ngày hành quân, nên ông có thể tập hợp họ lại cho trận đánh, và khi giao chiến ông đã thể hiện sự bình tĩnh cao độ dưới áp lực.
Nguyên việc Đạo quân Italy có thể ở vào trạng thái chiến đấu được, trước những thiếu thốn mà nó phải chịu đựng khi Napoleon nắm quyền chỉ huy, là một minh chứng khác cho nhiệt huyết và năng lực tổ chức của ông. Các phẩm chất lãnh đạo của ông – hành động nghiêm khắc khi ông nghĩ đáng phải vậy, nhưng không dè sẻn những lời ca ngợi hết mực vào những dịp khác – đã tạo ra tinh thần đồng đội cần thiết cho chiến thắng. “Trong chiến tranh”, ông nói vào năm 1808, “yếu tố tinh thần chiếm ba phần tư trong tổng thể; sức mạnh tương đối về vật chất chỉ chiếm một phần tư”. Lòng dũng cảm của cá nhân ông giúp ông thêm gắn bó với binh lính của mình. Tất nhiên, trên thực tế ông đã được trợ giúp rất nhiều từ việc người Áo luôn điều các tướng lĩnh đã thất tuần tới chống lại ông, họ luôn chia tách lực lượng của mình ra và cơ động với tốc độ chỉ bằng nửa quân Pháp. Điều này sẽ không phải là mãi mãi.
Napoleon cũng gặp may với các sĩ quan dưới quyền, đặc biệt là những con người xuất sắc Joubert, Masséna và Augereau, cũng như với những đóng góp tuyệt vời từ Lannes (tại Lodi và Arcole), Marmont (tại Castiglione), Victor (tại La Favorita) và Sérurier (tại Mantua), và cả từ Brune, Murat, và Junot. Napoleon xứng đáng được ghi nhận vì đã nhận diện ra những chỉ huy có năng lực này bất chấp tuổi tác và xuất thân của họ, và đã loại bỏ những người như Meynier và Vaubois, vốn không thể vươn lên ngang tầm các diễn biến. Chẳng phải ngẫu nhiên khi ông lên nắm quyền, các cựu chỉ huy của Đạo quân Italy đều được thăng cấp nhanh. Với “đám đông nhiều vô kể” tại Paris chào mừng 12 chiến thắng trong từng ấy tháng, và miền Bắc cùng miền Trung Italy giờ đây nằm chắc trong vòng ảnh hưởng của Cộng hòa Pháp, thì nếu có ai đó có thể được gọi là “con cưng của chiến thắng”, người đó phải là Napoleon.
•••
Chính trong những chiến dịch hồi đầu ở Italy mà triết lý cũng như thói quen quân sự của Napoleon lần đầu tiên trở nên rõ rệt. Ông tin tưởng trên hết vào việc duy trì tinh thần đồng đội mạnh mẽ. Cho dù sự kết hợp giữa tinh thần và niềm tự hào này vốn mơ hồ về bản chất, nhưng ông biết một đạo quân sở hữu nó có thể đạt được những điều kỳ diệu. “Hãy nhớ là cần đến 10 chiến dịch để tạo nên tinh thần đồng đội ”, ông nói với Joseph năm 1807, “thứ có thể bị hủy hoại chỉ trong khoảnh khắc”. Ông đã xây dựng nên một số cách để nâng cao và duy trì tinh thần, một số lấy từ việc đọc về lịch sử cổ đại của ông, số khác đặc trưng cho phong cách chỉ huy của riêng ông và được phát triển trong chiến dịch. Một cách là nuôi dưỡng trong mỗi người lính ý thức mạnh mẽ về việc nhận diện bản thân đồng nhất với đơn vị mình. Vào tháng Ba năm 1797, Napoleon cho phép một đơn vị, Bán lữ đoàn 57, được quyền thêu lên quân kỳ của mình dòng chữ “Bán lữ đoàn 57 khủng khiếp không gì cản nổi” để ghi nhận lòng dũng cảm của đơn vị này trong các trận Rivoli và La Favorita. Đơn vị này hội cùng các đơn vị anh hùng khác được biết đến dưới các biệt danh như “Những người can đảm” (Trung đoàn bộ binh 18), “Những người không gì sánh nổi” (Trung đoàn khinh binh 9) và “Một chọi mười” (Trung đoàn bộ binh 84), cho thấy Napoleon hiểu rõ tới mức nào tâm lý của người lính bình thường và sức mạnh từ niềm tự hào về đơn vị. Napoleon hiểu bằng trực giác những gì người lính muốn, và trao chúng cho họ: các vở kịch, bài hát, bản nhạc aria cho opera, thông cáo, lễ hội, lễ kỷ niệm, biểu tượng, quân kỳ, huy chương. Và ít nhất cho tới trận Aspern-Essling năm 1809, ông đã cho họ thứ họ muốn hơn tất cả: chiến thắng.
Trong chiến dịch, Napoleon thể hiện một sự gần gũi khiến ông được thuộc cấp quý mến. Họ được phép trình bày về trường hợp của mình như muốn được tặng thưởng huy chương, được thăng cấp và kể cả hưởng trợ cấp; sau đó, một khi ông đã kiểm tra được sự xác đáng trong đề nghị mà họ đưa ra với sĩ quan chỉ huy của mình, vấn đề sẽ được giải quyết nhanh chóng. Ông đích thân đọc các đơn từ của binh sĩ và cố đáp ứng mức cao nhất có thể. Nam tước Louis de Bausset-Roquefort, người phục vụ dưới quyền ông trong nhiều chiến dịch, nhớ lại rằng Napoleon “lắng nghe, hỏi và quyết định lập tức; nếu đó là một lời từ chối, lý do sẽ được diễn giải theo cách làm dịu bớt sự thất vọng”. Việc tiếp cận Tổng Tư lệnh dễ như vậy là chuyện không thể có trong quân đội Anh của Công tước Wellington hay quân đội Áo của Đại Công tước Charles, song ở Pháp cộng hòa đó là một phương thức quý giá để nắm bắt được nhu cầu và mối bận tâm của binh lính dưới quyền. Những người lính hò hét một cách vui vẻ trong đội ngũ thường được tưởng thưởng bằng một câu đùa cợt: trong chiến dịch Italy, khi một người lính lớn tiếng yêu cầu một bộ quân phục mới và chỉ vào cái áo khoác sờn rách của mình, Napoleon liền đáp: “Ồ không, thế không được. Nó sẽ che không cho thấy được các vết thương của anh”. Như Napoleon từng nói với Brune vào tháng Ba năm 1800: “Ông biết những gì mà lời nói có thể gây ra với những người lính chứ?” Sau này, có lần ông đã gỡ huân chương chữ thập Bắc đẩu bội tinh của mình để trao cho một người lính mà ông được chứng kiến lòng dũng cảm. (Khi Roustam, cận vệ người Mamluk của ông, định khâu huân chương chữ thập của Napoleon lên bộ quân phục của ông, Napoleon đã ngăn anh ta lại – “Để nó đó; ta làm vậy là có mục đích”.)
Napoleon thực sự thích dành thời gian với binh lính của mình; ông véo tai họ, đùa cợt với họ và chỉ ra những grognard già (nghĩa đen là “kẻ hay cằn nhằn”, nhưng cũng có thể hiểu là “lính cựu”), hồi tưởng về những trận đánh trước đây và hỏi dồn họ. Khi dừng lại ăn trưa trên đường hành quân trong chiến dịch, Napoleon và Berthier thường mời các sĩ quan phụ tá và lính liên lạc cùng ăn với họ, những bữa ăn mà Bausset nhớ lại như “một bữa tiệc thực sự với tất cả chúng tôi”. Ông cũng đảm bảo rằng rượu vang từ bàn ăn tối của ông luôn được chia cho những người lính gác của mình. Có thể chỉ là những điều nhỏ nhặt, song chúng được đánh giá cao và giúp nuôi dưỡng sự sùng bái. Sự viện dẫn liên tục của ông về thế giới cổ đại đã đưa lại hiệu quả mong muốn, đem đến cho những người lính bình thường một cảm nhận rằng mạng sống – và cái chết của họ trên chiến trường, nếu nó đến – là có ý nghĩa, rằng họ là một bộ phận hợp thành của một tổng thể lớn hơn sẽ vang dội trong suốt lịch sử Pháp. Trong nghệ thuật lãnh đạo, điều này rất khó đạt được, và nó là động lực thúc đẩy hành động mạnh mẽ hơn tất cả. Napoleon rao giảng với những người bình thường rằng họ có thể làm nên lịch sử, và thuyết phục những ai đi theo mình rằng họ đang tham gia vào một cuộc phiêu lưu, một đoàn diễu hành, một trải nghiệm, một thiên anh hùng ca mà sự huy hoàng của nó sẽ còn thu hút sự chú ý của hậu thế trong nhiều thế kỷ kế tiếp.
Trong những cuộc duyệt binh vốn có thể kéo dài tới năm tiếng, Napoleon hỏi han kỹ lưỡng lính của ông về thức ăn, quân phục, giày, sức khỏe nói chung của họ, những trò tiêu khiển, sự đều đặn của việc trả lương, và ông trông đợi được nghe sự thật. “Đừng giấu giếm tôi bất cứ điều gì các bạn muốn”, ông nói với Bán lữ đoàn 17, “đừng kìm nén bất cứ lời phàn nàn nào mà các bạn cần phải nói về cấp trên của mình. Tôi ở đây để thực thi công lý cho tất cả, và bên yếu thế hơn càng được hưởng sự bảo vệ của tôi”. Ý nghĩ rằng chú cai bé nhỏ đứng về phía họ chống lại “đám mũ to” là quan điểm chung phổ biến trong quân đội.
Chăm sóc chu đáo cho thương binh là mối quan tâm đặc biệt của Napoleon, một phần vì ông cần họ trở lại đội ngũ càng nhanh càng tốt, nhưng cũng vì ông biết rằng việc điều trị y tế kịp thời quan trọng ra sao với tinh thần binh lính. “Nếu ông ấy tình cờ gặp các đoàn xe chở thương binh”, một sĩ quan phụ tá nhớ lại, “ông ấy sẽ cho dừng họ lại, đích thân hỏi han tình hình của họ, những đau đớn họ phải chịu đựng, về bối cảnh họ bị thương, và không bao giờ rời đi mà không động viên họ vài lời hay chia cho họ tiền thưởng của mình. Ngược lại, ông thường quở trách các bác sĩ mà phần lớn trong số này bị ông coi là lang băm.”
Napoleon học được nhiều bài học thiết yếu về lãnh đạo từ Julius Caesar, nhất là việc khiển trách những binh lính ông coi là đã sa sút xuống dưới mức trông đợi, như ở Rivoli tháng Mười một năm 1796. Trong cuốn Những cuộc chiến tranh của Caesar của mình, được ông viết khi bị lưu đày tại St Helena, ông nhắc lại câu chuyện về một vụ binh biến ở thành La Mã: một cách ngắn gọn, Caesar đã đồng ý với yêu cầu được giải ngũ của binh lính dưới quyền, nhưng sau đó ông gọi họ với thái độ coi thường không giấu giếm là “các công dân” thay vì “những người lính” hay “những người anh em”. Tác động thật nhanh chóng và rõ ràng. “Cuối cùng”, ông kết luận, “kết quả của cảnh tượng xúc động này là giành được sự tiếp tục phục vụ của họ”. Tất nhiên, thường xuyên hơn nhiều, ông hào phóng ca ngợi: “Ba tiểu đoàn của các bạn như thể là sáu trong mắt tôi”, ông nói với Trung đoàn bộ binh 44 trong chiến dịch Eylau. “Và chúng tôi sẽ chứng minh điều đó!” họ hô lớn đáp lại.
Những gì Napoleon nói với binh lính của ông được đăng trên các bản tin và được đọc rộng rãi trong doanh trại. Ông thích thú tung ra hàng loạt những con số thống kê, điểm với binh lính họ đã giành được bao nhiêu chiến thắng trong khoảng thời gian nào, đã chiếm được bao nhiêu pháo đài, bắt được bao nhiêu tướng lĩnh, tù binh, đại bác, và quân kỳ. Một số tuyên bố này nghe có vẻ tự mãn, song chúng được viết cho những người lính thường là thất học. Napoleon tán dương binh lính của mình bằng cách viện dẫn tới thế giới cổ đại – dù chỉ một thiểu số rất nhỏ biết rõ những tác phẩm cổ điển – và khi ông so sánh họ với những con đại bàng qua cách diễn đạt đặc biệt khoa trương, hay nói rằng gia đình và láng giềng sẽ trân trọng họ đến mức nào, ông đã làm mê hoặc tâm trí binh lính của mình, thường là suốt đời.
Nguồn cảm hứng cho những lời hoa mỹ của Napoleon chủ yếu đến từ thế giới cổ đại, song qua những câu như “Đồng bào của các bạn sẽ nói khi họ chỉ vào các bạn, ‘Anh ta thuộc về Đạo quân Italy’”, người ta có thể thấy đâu đó bóng dáng của bản diễn văn Ngày St Crispin của Shakespeare trong vở kịch Henry V . Những dòng thác lũ ngợi ca mà ông hào phóng dành cho binh lính của mình đối lập một cách rõ nét với giọng điệu gay gắt ông dành cho các tướng lĩnh, đại sứ, nghị sĩ, bộ trưởng, và kể cả các thành viên gia đình mình trong thư từ cá nhân. “Nghiêm khắc với sĩ quan, tử tế với binh lính”, đó là tôn chỉ được nâng thành khẩu hiệu của ông.
Hoạt động tham mưu hiệu quả giúp Napoleon “nhận ra” những người lính kỳ cựu trong đội ngũ, nhưng ông cũng có một trí nhớ siêu hạng. “Tôi giới thiệu ba đại biểu của bang Valais với ông ấy”, một vị Bộ trưởng Nội vụ nhớ lại, “ông ấy liền hỏi một trong số họ về hai cô con gái nhỏ của ông này. Vị đại biểu này nói với tôi là ông ta mới chỉ thấy Napoleon một lần trước đó dưới chân dãy Alps, khi đang trên đường tới Marengo”. “Những vấn đề với pháo binh đã buộc ông ấy phải dừng lại giây lát trước cửa nhà tôi”, vị đại biểu thêm, “ông ấy nựng nịu hai con tôi, lên ngựa, và kể từ đó tôi chưa từng gặp lại ông ấy”. Cuộc gặp ấy đã diễn ra trước đó 10 năm.