Nếp Xưa

Lượt đọc: 1474 | 2 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG II

Tháng Tám bắt đầu mùa cưới. Người ta không cưới hỏi trong mấy tháng Hè, mùa của cô-hồn chúng-sinh, và tháng bảy tuy sang thu nhưng người ta kiêng tháng Ngâu, nên việc cưới xin là việc tốt-lành, không ai cử-hành trong tháng đó. Việc trăm-năm đâu phải việc một ngày, trước sau một tháng có đâu chậm trễ, vội gì chẳng đợi tháng tốt chọn ngày lành.

Gió thu mát, trời thu trong, tiết thu êm-dịu, cúc thu nở vàng khắp vườn ngỏ trong làng báo hiệu mùa cưới tới.

Làng Kim-Đôi, với tiết trời tháng Tám đã có nhiều đám dạm hỏi. Con ông Bá Nhất hỏi con gái ông Cả Huân, con ông Nhiêu Cư lấy con gái ông Lý Liệu và nhiều đám nữa, trong đó có hai đám ăn hỏi của Khoan và Thúc. Những ngày tốt có khi có hai ba đám cưới. Tiếng pháo đưa rể đón dâu nổ từ xóm này qua thôn khác. Xác pháo hồng như tô-điểm cho những cặp má ửng hồng của các cô thôn-nữ vu-quy. Những chàng trai sung-sướng trong đám cưới, chú rể sung-sướng vì được vợ đã đành, cả những anh phù rể cũng sung-sướng vì được dịp ngắm các cô phù dâu xinh đẹp để kén vợ. Có chàng trai mấy bữa trước đóng vai phù rể, mấy bữa sau đã chính mình là chú rể.

Các vị-hôn-thê nhộn-nhịp sắm-sửa đồ cưới. Nào áo quần, nào nón quai thao, nào dép cong kinh kỳ. Và các chàng trai sắp cưới vợ cũng lo may mặc, lo mua khăn, mua giày không thua các cô thôn-nữ.

Họ nhà trai sửa-soạn đồ dẫn cưới, họ nhà gái cũng sắm sanh chờ ngày vu-quy cho con gái.

Thúc may mặc toàn đồ sang. Áo đoạn kim ngân, phủ áo the La Cả, khăn nhiễu Kỳ-Cầu, giày Gia-Định.

Đồ dẫn cưới ông bà Chánh-Tổng cho người ra tận Hà-Nội để kén từ bánh trái đến chè cau. Và Thảo cũng lo trang điểm cho mình thật diêm-dúa, vượt hẳn các chị em trong làng. Một đời người mới có một lần, tội gì có tiền không trang-điểm cho hơn người. Mỗi lần mua bán được thứ gì tốt đẹp, Thảo lại rủ bạn-bè tới xem, chúng bạn nhiều cô thèm muốn số phận của nàng.

Một bữa nàng rủ Hoài tới xem chiếc vấn đầu nhung gửi mua tận phố Hàng Đào Hà-Nội. Sờ mặt nhung mịn-màng, nhìn sắc nhung đen óng-ánh, Hoài không ngớt lời khen. Hoài nói : « Chị sung-sướng thật ! Cái gì của chị cũng tốt cũng đẹp ».

Thảo hỏi thăm Hoài về Tiệp : « Chị có thấy chị Tiệp có sắm-sửa gì không. Chị ấy ăn hỏi trước em, nhưng có lẽ sẽ cưới sau em ».

- Em không thấy chị ấy nói chuyện và cũng chẳng thấy chị ấy mua bán gì. Ai sắp tới ngày cưới cũng sắm-sửa, riêng chị ấy, em chẳng thấy động tĩnh gì.

- Còn anh Khoan ?

- Anh Khoan em cũng không thấy sửa-soạn. Nhà anh ấy nghèo lấy tiền đâu may mặc như anh Thúc.

Thảo cũng hiểu nhà Khoan nghèo, nhưng nàng cứ hỏi Hoài cốt để nhắc đến sự sang trọng của Thúc, và nàng cũng muốn để Hoài so-sánh Thúc với Khoan, cũng như nàng với Tiệp.

Đám cưới của nàng đã cử hành linh-đình vào một ngày đầu tháng chín. Nhà Thúc đã mổ bò giết lợn để mời hàng tổng xã. Khách tới mừng đông-đúc đến nỗi chật cả mấy căn nhà ngói, lại chật cả rạp dựng tạp ở ngoài sân.

Những đồ mừng của bạn-bè ông Chánh-Tổng cũng sang-trọng. Nhưng bức trướng màu hồng, màu đỏ, màu vàng rực-rỡ được treo khắp hai bên tường nhà. Bao nhiêu là lời chúc tụng tốt đẹp trên những hàng chữ thêu kim-tuyến óng-ánh hoặc trên những hàng chữ đen biếc, mực quốc-bảo thơm phức.

Tiệc-tùng rã-rích ba bốn ngày liền. Những tràng pháo liên-tiếp nổ. Xác pháo hồng bay đỏ rực từ cổng vào tới sân nhà Thúc.

Ai cũng khen vợ chồng ông Chánh-Tổng tốt phúc. Và người ta tưng-bốc ông bà với những lời-lẽ làm cho ông bà rất mực sung-sướng. Ông bà không tiếc tiền chỉ cốt cho người ta trông vào, và không ai có thể dị nghị.

Trong nhà ba bốn bàn tổ-tôm để các cụ mua vui, và cụ nào không có tiền điều được ông Chánh-Tổng cấp vốn để thừa tiếp các cụ khác. Lại có cả bốn bàn đèn để các cụ ưa làm bạn với phù-dung hút sách. Thuốc phiện toàn thuốc ty hạng tốt, hộp Rồng Vàng. Mùi khói thuốc bốc lên thơm ngát, át cả mùi hương trên bàn thờ ngào-ngạt.

Các cụ cười to nói lớn, các cụ tán-dương những bức trướng mừng, các cụ khen ngợi sự rộng-rãi của ông bà Chánh-Tổng.

Và ở đằng nhà Thảo cũng cổ bàn tấp nập. Từ hôm tiên-thường, tiếng lợn bị thọc tiết kêu eng-éc đã kéo bà con tới làm giúp nhộn-nhịp.

Như muốn ganh đua với nhà trai, nhà Thảo cũng ran pháo nổ, cũng ồn-ào khách-khứa, khách trong làng, khách thiên hạ. Cô dâu đã nhận được những đồ mừng rất quý : có nhẫn vàng, có ống vôi bạc, có những rổ trầu cau xinh xinh bằng bạc nạm vàng, có trâm cài, có giải yếm lụa hồng và nhiều lắm…

Khách ăn cổ ở nhà trai sang nhà gái. Ở đây cũng mấy bàn tổ-tôm, và các cụ vui chơi, được thua cũng đều là tiền chủ cấp vốn. Cũng mấy bàn đèn sực mùi thuốc Cống-chạp, Rồng Vàng. Tiếng chúc-tụng cô dâu và mừng ông bà Phong vang lên trên những mâm rượu. Vui-vẻ tưng-bừng. Gia chủ vui, khách khứa cũng vui.

Rồi ngày đưa rể đón dâu, hai họ đều hoan-hỷ. Pháo càng nổ nhiều. Mặt chú rể hồng màu rượu, mặt cô dâu đỏ vì sung-sướng, và xác pháo đỏ như tăng vẻ huy-hoàng cho tiệc cưới.

Để trả thù Khoan và Tiệp, Thúc đã mời Khoan đến dự tiệc cưới, và Thảo cũng đã mời Tiệp đi phù dâu. Khoan đã đến mừng Thúc với lòng chân thành và chúc vợ chồng Thúc được bách-niên giai-lão, con cháu đề huề và luôn luôn hạnh-phúc. Nâng chén rượu mừng, Khoan không nghĩ đến sự Thúc vẫn căm mình vì không lấy được Tiệp.

Tiệp cũng đến mừng Thảo như các bạn đồng học khác, nhưng nàng đã từ-chối không đi phù dâu, nàng muốn tránh mặt Thúc không muốn thấy Thúc để nhớ lại buổi Thúc cợt ghẹo nàng ở bên sông. Nàng đã không thuận lấy Thúc lẽ nào nàng còn đi phù dâu.

Trong tiệc cưới có người nhắc tới cuộc hôn-nhân của Khoan. Một bạn học hỏi khoan : « Hôm nay chúng tôi được uống rượu mừng anh Thúc, bao giờ đến lượt anh trưởng tràng cho chúng tôi say sưa ».

Khoan ngay thẳng nói : « Anh em lo gì điều đó. Có điều xin nói trước là bữa tiệc rượu của tôi không linh-đình được như bữa rượu hôm nay của anh Thúc đâu ».

Lời khiêm tốn chân thật của Khoan khiến Thúc bằng lòng.

Thúc tự nghĩ Khoan có bắc bẩy tầng cầu cũng không bằng được sự sang-trọng của Thúc.

Chính Khoan cũng chưa biết ngày cưới của mình định vào bao giờ. Điều đó còn tùy thuộc cha mẹ chàng và ông Khóa Hữu. Chàng thấy nhà mình nghèo, cưới xin lại tốn kém. Đã đành rằng ông đồ Ngư thương không thách cưới gì, và mọi lễ-nghi đều giản-tiện, nhưng không nhiều thì ít cũng phải có tiền mới dám tính đến lễ cưới.

Khoan cũng mong chóng được gần Tiệp để phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng, sớm chừng nào hay chừng ấy. Và chính Tiệp, nàng cũng ngóng-đợi nhà trai xin cưới để chấm dứt mọi sự bàn ra tán vào của bạn bè cùng làng nước.

Ông đồ Ngư hiểu rõ lắm. Ông biết rõ tâm-lý của Tiệp cũng như tình trạng của Khoan. Đã có lần ông tỏ cho Khoan biết mọi sự dễ-dãi của ông để Khoan về thưa lại cùng cha mẹ.

Đã có hỏi tất phải có cưới, cha mẹ Khoan luôn luôn nghĩ đến việc hôn-nhân của con. Ông bà định chờ xong vụ gặt tháng mười, có tiền ông bà sẽ cố làm cho xong đi.

Khoan vẫn đi học, và sự học vẫn ngày càng tấn-tới. Chàng tin-tưởng vào sự học cũng như ông đồ tin-tưởng ở chàng.

Thời gian chầm chậm đi ! Tháng Tám hết rồi tháng chín. Dân quê đã bắt đầu gặt lúa sớm…

II

Vụ gặt tháng Mười ! Ngoài cánh đồng, những ruộng lúa mùa nặng trĩu những bông vàng như tơ ánh, và mùi lúa chín bốc lên thơm dìu-dịu. Những cơn gió tạt qua lung-lay những bông lúa nhẹ cọ sát vào nhau như những tiếng rì-rầm, và hương thơm của lúa chín tỏa rộng một mùi mát mát êm êm.

Từ sáng sớm, thợ gặt đã kéo nhau khắp cánh đồng để gặt lúa. Những ruộng lúa vàng, trước những lưỡi liềm lưỡi hái cứ vơi dần. Các cô thôn nữ, chít khăn mỏ quạ, váy xắn cao cùng những chàng trai quần nâu áo nâu gọn-gàng cũng cắt lúa.

Các cô tay cầm liềm, tay nắm mấy cây lúa, đưa lưỡi liềm cắt lúa kêu soèn-soẹt. Những bông lúa cắt rồi, các cô xếp ngay trên mặt ruộng, khi được thành từng đống, các cô bó lại thành từng con, từng lượm bằng ngay những ngọn rơm ở ruộng lúa. Các chàng trai cũng cắt lúa, cũng bó thành con thành lượm, nhưng các chàng trai sức-vóc khỏe mạnh hơn, các chàng phải bó những con lúa thành từng bó lớn. Rồi người ta chia nhau gánh lúa về nhà. Những chiếc đòn sóc nhọn hai đầu, thọc sâu vào bó lúa và người thợ gặt ghé vai vào nhấc lên để quảy đi một cách nhẹ nhàng.

Trong khi cùng gặt cùng hái, các cô các cậu trò truyện với nhau, tiếng nói vui-vẻ, tiếng cười ròn-rã khiến cho công việc đỡ mệt-nhọc. Thỉnh thoảng một vài cô lại cất giọng hát một vài câu. Tiếng hát như thúc đẩy cho công việc, và khiến cho mọi sự mỏi mệt tiêu-tan :

« Bao giờ cho đến tháng Mười,

Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta ».

Cũng có khi các cô hát những câu yêu-đương tình-tứ để nhắn-nhủ người yêu, thì lập tức có những chàng trai đáp lại bằng những câu thật là khả-ái. Đã có nhiều cuộc nhân-duyên bắt đầu bằng những câu hát trong buổi gặt.

Cảnh mùa gặt ở ngoài đồng thật vui. Xen vào những đám thợ gặt có các cô con gái nhà chủ ruộng đi trông nom. Các cô cũng gặt, cũng nói cười và ca hát, thật là bình-đẳng với các anh chị em thợ gặt. Lại còn có những người đi đổi đồng. Đây là mấy người trong làng nhân vụ gặt mang quà bánh, nước nôi ra đổi lấy lúa cho anh chị em thợ đồng.

Đi làm từ sớm, công việc nặng nhọc, trời tháng Mười lại nắng hanh, anh chị em thợ đồng thường đói bụng khát nước. Mấy người đổi đồng đưa quà bánh cho họ ăn, đổi lấy vài con lúa. Việc đổi đồng được các chủ ruộng mặc-nhiên ưng-thuận, miển là anh chị em thợ gặt không ăn uống quá đáng đến đỗi phí phạm mất nhiều lúa đổi.

Nhà Khoan cũng có ít ruộng mùa, nên vụ gặt tháng Mười, Khoan cũng thỉnh-thoảng có mặt tại cánh đồng sau buổi học. Cả Tiệp cũng bận-rộn ở ngoài đồng để trông nom thóc ruộng nhà. Nhờ vậy đôi lúc Khoan và Tiệp lại được cùng nhau trao đổi vài mẩu chuyện, những mẩu truyện tuy ngắn nhưng khiến lòng đôi bên đều vui vui trong khi chờ đợi chính thức cùng nhau như chim liền cánh, như cây liền cành.

Ruộng tốt, lúa nhiều, người dân làng Kim-Đôi yên lòng với vụ gặt. Người thu-hoạch được nhiều nhất về vụ lúa chín nầy là ông bà Chánh-Tổng. Ông bà nhiều ruộng lắm, ruộng đồng nhà lại ruộng ngoại canh.

Thảo được ông bà giao cho việc trông coi gặt hái tại cánh đồng nhà. Thúc cũng luôn có mặt tại cánh đồng với vợ. Chàng hãnh-diện về sự thu hoạch của nhà mình, và có ý dè bỉu khi nói tới Khoan.

Lẽ tất nhiên, cũng có mặt tại cánh đồng Thúc vẫn gặp Khoan cũng như Thảo vẫn gặp Tiệp. Thúc thường tỏ ý coi thường Khoan, nhưng trái lại Khoan không hề bao giờ có một hậu ý gì không tốt đối với Thúc.

Thảo gặp Tiệp ở ngoài cánh đồng thường khéo khoe khoang trong câu chuyện giàu có của gia đình nhà chồng, và nàng kể lại cùng Tiệp cái cảnh sung túc đầy đủ nàng sống với Thúc. Nàng lấy làm tự mãn được lấy chồng giàu. Đôi khi nàng hỏi tới ngày cưới của Tiệp. Bao giờ Tiệp cũng trả lời một câu rất không đâu : « Bao giờ cưới thế nào em chẳng phải mời chị. Chị nhớ mừng em thật sang đấy nhé ».

Với lúa tháng Mười gặt xong là mùa xêu của các chàng rể đã dạm hỏi vợ nhưng chưa cưới. Và cũng là mùa để học-trò mang biếu thày nhân dịp cơm mới.

Gia-đình Khoan cũng đã sắm-sửa đủ đồ lễ để Khoan mang xêu đằng nhà Tiệp.

Đồ lễ tuy đơn sơ, nhưng đủ chứng tỏ sự thành-kính của Khoan đối với ông đồ, vừa là thầy học lại vừa là bố vợ chưa cưới.

Chiều hôm đó, sau buổi học, Khoan cũng người nhà mang tới nhà ông đồ một thúng gạo nếp và hai chục con chim ngói cùng với trầu cau.

Về mùa lúa chín này, chim ngói bay ra rất nhiều, và được người ta dùng làm đồ xêu vào dịp cơm mới.

Người nhà Khoan thưa cùng ông đồ : « Nhân dịp cơm mới, nhà chúng tôi gọi có chút đồ lễ tới xin ông bà Đồ nhận cho để chứng lòng thành của bên ông bà chúng tôi ».

Lẽ tất nhiên ông bà Đồ vui vẻ nhận, nhưng ông vẫn xã giao nói : « Bên đằng ông bà nhà bày vẽ quá. Chúng tôi xin thành-thật cảm ơn ».

Rồi ông đồ nhắc tới việc cưới xin của Khoan và Tiệp : « Chỗ tôi với ông Khóa Hữu thân mật, việc trăm-năm của các cháu chúng tôi dễ-dàng. Nhờ ông về thưa lại với ông bà bên nhà rõ. Chúng tôi muốn cho đôi trẻ sớm phối-hợp, kẻo chúng phải chờ-đợi mãi tội-nghiệp ».

- Ông bà đồ thật quý-hóa quá. Bên ông bà chúng tôi cũng đang tính ngày.

Khi Khoan và người nhà về, mấy bọn học-trò của ông đồ tới. Họ cũng mang biếu ông đồ gạo nếp và chim ngói.

Hằng năm vào những dịp mồng năm tháng năm, rằm tháng tám, cơm mới tháng mười, bao giờ ông đồ cũng nhận được nhiều đồ lễ của học-trò.

Ngày xưa, học-trò đối với thày ân tình rất trọng, không bao giờ họ quên ngày tư ngày Tết của thày. Giàu nghèo họ cũng cố lo có chút ít đồ lễ mang biếu thày vào những dịp tháng năm ngày Tết. Một mình lo không xong, họ chung nhau rủ bạn-bè. Thày dạy học mở trường ngày xưa không lấy tiền học, hàng năm thường chỉ trông vào những đồ biếu sén. Khi còn đi học, học-trò tết biếu thày đã đành, ngay khi thôi học rồi, các học-trò cũng vẫn nhớ ơn thày.

Cha mẹ có công sinh-dưỡng, tác-thành cho mình nên người, ấy chính là công của thày.

Vợ chồng Thúc cũng mang biếu ông đồ gạo nếp và chim ngói như khi còn đi học.

Ông đồ nhận đồ lễ rồi bảo Thúc : « Thày cảm ơn anh. Thày mong anh không giận thày về việc em Tiệp. Chẳng qua cũng là duyên-số. Bây giờ anh lấy con gái ông bà Phong, thày thấy thật là đẹp đôi. Thày mong anh chị loan phụng hòa-minh, bách-niên giai-lão, con đàn cháu đông ».

Thúc chỉ biết vâng dạ. Sự thật, tuy cưới Thảo, nhưng lòng Thúc vẫn mang mang muốn yêu Tiệp.

Thúc vẫn oán ông đồ về chuyện không gả Tiệp cho chàng. Lẽ ra dịp cơm mới này, Thúc đã thôi học, Thúc không muốn trở lại nhà ông đồ nữa, phần vì ngượng-ngùng sợ gặp Tiệp, phần vì nỗi oán-hận của chàng chưa nguôi, nhưng chàng bị ông bà Chánh-Tổng bó buộc phải mang biếu ông đồ gạo và chim.

Ông Chánh-Tổng, tuy hơi không bằng lòng ông đồ ở chỗ không hỏi được Tiệp cho Thúc, nhưng ông lại không muốn bị ai chê cười là không hiểu lễ-nghĩa, nên trong dịp cơm mới ông bắt Thúc phải cư-xử đúng đạo thầy trò.

Thúng gạo nếp, vài chục chim ngói đối với nhà ông có nghĩa-lý gì, nhưng tiếng-tăm bề-thế của ông, đó mới là quan-trọng.

Trước khi Thúc ra về, ông Đồ lại bảo : « Thày gửi nhời về cám ơn ông bà Chánh-Tổng nhé ! Năm nay được mùa, chắc đằng nhà gặt hái được bội thóc lúa đấy nhỉ ».

Thúc ra về. Lại vài bọn học-trò khác tới biếu thầy.

Tiệp luôn luôn vất-vả vì phải đun nước pha trà để ông đồ tiếp khách. Đối với bạn học, nàng cũng chạy lên chạy xuống chào hỏi, nhưng riêng khi Thúc tới, nàng đã ở lỳ ở dưới bếp cho tới lúc Thúc ra về.

III

Khoan vừa bước chân vào tới sân thì Tiệp đã chạy ra đón. Nàng bảo Tiệp : « Thày đang chờ anh ».

- Thế nào thày đã đỡ chưa ?

- Bệnh thày vẫn vậy, không thuyên-giảm chút nào. Từ sáng thày đã uống thêm hai bát thuốc của ông lang Thiệu, nhưng bệnh tình thày không thấy khác. Anh vào ngay đi, thày mong anh lắm.

Ông đồ Ngư ốm nặng. Lúc đầu ông chỉ cảm sốt xoàng nhưng không ngờ bệnh một ngày một trọng. Tuổi già, sức yếu, ông tự thấy trong người suy kém nhiều.

Từ ngày ông ốm, đã hơn nửa tháng nay, Tiệp luôn luôn ở bên cha và hàng ngày Khoan tới thăm ông ít nhất hai ba lần. Lớp học ông vẫn mở, Khoan đảm-nhiệm dạy các học-trò nhỏ thay ông, còn các trò lớn đều nghỉ học.

Con trai lớn ông đồ, anh cả Vinh, đang làm việc tại dinh Án-Sát Sơn-Tây, cũng đã về thăm ông, và cũng luôn hầu-hạ chầu-chực ông. Các trò lớn thay phiên nhau tới túc-trực để nhờ ông sai bảo. Các trò cũ được tin cũng nhiều người tới thăm và mang sâm nhung lại để ông dùng.

Trước sự săn-sóc tận-tình của người nhà cũng như của đám học-trò mới cũ, bệnh ông không bớt lại cứ một ngày một tăng.

Ông đã bảo bà đồ và các con : « Tôi biết mình tôi lắm. Tôi cũng đã nhiều tuổi, có được các cụ gọi về cũng phải. Tôi xét đời tôi đã gây dựng được cho nhiều học-trò thành đạt, tôi có nhắm mắt cũng mãn-nguyện lắm rồi ».

Rồi ông lại nói về Tiệp : « Tiệp con, chết đi thày chỉ thương con. Thày sẽ bảo nhà thằng Khoan cưới chạy tang. Lẽ ra đám cưới của con cũng phải được đàng-hoàng. Nhưng số con vất-vã, thày chết đi giữa lúc cuộc nhân-duyên của con sắp hoàn-thành ».

Ông quay lại bà đồ và cả Vinh : « Bà cho nhà trai cưới chạy tang để con chúng ta khỏi phải chờ đợi. Nhà thằng Khoan nghèo, nhưng nó là người có tư-cách. Vinh con sau này phải giúp đở các em ».

Ông lại nhắc tới thằng Mẫn : « Thằng Mẫn nó còn nhỏ dại. Phải cho nó đi học cho đến lớn. Thằng Khoan sẽ trông nom cho nó ».

Bà đồ bảo chồng : « Ông cứ yên-tâm nằm nghỉ đi, thuốc thang rồi ông sẽ khỏi hơi đâu mà nghỉ truyện đường xa ».

Tiệp ngấn lệ long-lanh trên đôi mắt, nói : « Xin thày cứ nằm nghỉ, ngày một ngày hai thày sẽ bớt dần ».

Vinh cũng nói : « Thày đừng lo nghĩ điều gì cả. Chúng con lớn cả rồi. Chúng con biết thương yêu nhau ».

Ông đồ bảo : « Thày hiểu lắm. Thấy các con thương yêu nhau thày rất mừng, thày biết mình có lẽ khó qua khỏi bệnh này, nhưng thày cũng sung-sướng nhắm mắt, vì chẳng thọ thày cũng đã già. Các con phải nghe lời thày dặn bảo. Thày chết đi các con phải đối với mẹ con cho hiếu kính và anh em phải hết sức thương nhau, đùm-bọc với nhau, đừng bao giờ vì lợi ghẻ-lạnh nhau ».

Rồi ông đồ hỏi tới Khoan : « Thằng Khoan chưa tới à ? »

Tiệp đáp : « Từ sáng anh ấy đã có ở đây hai lần, có lẽ anh ấy cũng lại sắp tới nữa ».

Ông đồ nói : « Thày thương nó lắm ! Nó chỉ phải cái nhà nghèo, chứ nó thực xứng đáng làm rể thày. Tư cách nó khá, đạo-đức nó hơn người ».

Chiều hôm đó Khoan tới. Gặp Tiệp ở ngoài sân, Khoan hỏi thăm ngay đến bệnh tình của thày học. Ông đồ ốm, Khoan cũng lo lắng. Ông đồ có mệnh-hệ nào, thật là một điều đau-đớn cho Tiệp ; và cho cả chính Khoan. Chàng biết ông đồ thương mình và muốn gây dựng cho.

Ông đồ đang thiu-thiu nằm ngủ. Gian buồng đóng cửa tối mờ-mờ. Chiếc màn nâu buông hai cánh thõng nửa chừng, móc lên hai móc màn, khẽ rung-rung khi Khoan mở cửa buồng bước vào. Trên chiếc ghế kê ở đầu giường có bát thuốc ông đồ vừa uống hết.

Trông ông đồ gầy lắm, gầy trơ xương dưới bộ quần áo lụa mỏng. Ông thở nhè nhẹ.

Khoan đứng lặng ngắm ông ngủ. Chàng không dám đụng mạnh vì chàng biết mỗi phút ngủ được đối với người ốm là một phút hay. Ông đồ nằm nghiêng quay mặt vào trong tường lưng hơi cong-cong, chân nọ đè lên chân kia.

Có lẽ đã lâu, Khoan cứ đứng lặng ngắm ông đồ nằm ngủ như vậy. Tiệp thấp-thoáng ở ngoài cửa buồng. Khoan ra hiệu cho nàng biết ông đồ đang ngủ không nên đánh thức.

Chợt ông đồ trở mình rồi ho mạnh một tiếng. Sau tiếng ho mạnh tiếp một cơn ho kéo dài.

Chưa kịp nhìn thấy Khoan, ông gọi Tiệp : « Tiệp cho thày hớp nước ».

Tiệp ở ngoài cửa buồng chạy vào, rót nước đưa ông đồ uống. Lúc đó ông mới để ý tới Khoan đứng ở đầu giường.

Ngẩng đầu lên uống xong hớp nước, ông đồ lại nằm xuống. Ông ra hiệu cho Khoan lại gần giường nghe ông nói.

Khoan ghé lại bên, ngồi trên một chiếc ghế đẩu ở ngay cạnh giường, cúi sát người xuống ông đồ. Ông đồ bảo : « Khoan ạ, thày thấy mình yếu lắm rồi, khó qua khỏi lắm. Việc của con thày đã dặn đẻ và anh Vinh con. Con nói với các cụ lo cưới chạy tang để các con khỏi chờ-đợi. Sau khi ma chay thày xong, con giữ lấy lớp học của thày dạy bảo các em. Học lực của con cũng đã khá, có thể vừa dạy học vừa tự học để chờ khoa thi. Con trông nom em Mẫn cho thày ».

Lời ông đồ nói trầm trầm đều đều, không có vẻ gì là buồn, giọng rất chân-thật, đúng với lòng ông vẫn thương Khoan xưa nay.

Mọi việc Khoan đều vâng dạ, và hứa sẽ tận-tụy trông nom Mẫn.

Nói một hồi, ông đồ mệt lại ho, sau cơn ho ông lại bảo Khoan rót cho mình hớp nước. Uống xong hớp nước, ông nằm nghỉ để thở.

Trong lúc ông nói chuyện với Khoan, Tiệp vẫn thập-thò ngoài cửa buồng. Mắt nàng luôn luôn dưng-dưng ngấn lệ.

Một lát sau một số đông các học-trò kéo nhau tới thăm, trong số đó có cả Đáp. Thấy họ kéo nhau vào, Khoan ra hiệu bảo họ im lặng để ông đồ nằm nghỉ, nhưng bước chân dù nhẹ nhàng của họ cũng đủ làm cho ông đồ mở mắt nhìn ra. Ông đưa tay ra hiệu vẫy họ lại gần.

Họ kéo nhau lại đứng khoanh tay bên giường. Ông đồ nói : « Các con đến thăm thày tốt lắm. Thày chắc không sống được nữa đâu. Thày khuyên các con cố gắng học-hành để mai sau trở nên những người hữu-ích. Thầy chết đi, lớp học của thày sẽ do anh Khoan đây thay thày dạy-dỗ các con ».

Ông đồ lại bảo mấy anh học-trò lớn.

Còn các con đã lớn, học-lực đã khá, các con có thể đi học thêm với một thày đồ khác, hoặc các con có thể họp nhau lại với anh Đáp, anh Khoan cùng nhau học-tập, ôn luyện văn bài đợi khoa thi.

Anh em học trò đứng yên lặng nhìn thày, không ai có một cử chỉ nào.

Đáp thay mặt tất cả anh em nói : « Thưa thày, chắc là thày yếu đau ít bữa rồi đây thày sẽ khỏi. Chúng con đội ơn thày nhiều lắm, những lời thày dạy chúng con xin ghi xương khắc cốt ».

Ông đồ mỉm cười, một nụ cười héo-hắt trên một khuôn mặt gầy guộc, ông bảo : « Thày biết bệnh của thày. Các con cầu mong cho thày bình-phục đó là lòng quý-mến thày. Thày rất cảm động. Sinh ký, tử quy, trong cuộc sống gửi trên trần-thế, gây dựng được cho các con, thày mãn-nguyện lắm. Nay gần nhắm mắt, lại có các con ở cạnh thày càng vui mừng, sung-sướng hơn. Sau này các con nhớ thương yêu nhau, coi người hơn tuổi như anh, người kém tuổi như em, làm sáng tỏ nền đạo-đức, thày ở dưới suối vàng cũng thỏa dạ ».

Nói mệt ông lại nghỉ, rồi ông lại nói. Tình thày trò thật là thâm trọng. Trông thấy lũ học-trò ông cũng ham sống để dạy bảo thêm, nhưng sinh tử có mệnh, ông chỉ đành theo định số.

Học-trò có người dơm-dớm lệ trước những lời ân-cần của thày. Không lúc nào bằng lúc này, họ cảm thấy ông đồ thương họ lắm.

Nhưng rồi bọn học-trò cũng rút lui để thày nằm nghỉ. Và Khoan cũng trở ra. Trong gian buồng mờ mờ tối chỉ còn ông đồ nằm một mình thở nhè nhẹ trong một giấc ngủ không say.

Tiệp vẫn luôn luôn túc trực ở ngoài cửa buồng. Bà đồ tuy bận công việc nhà nhưng lát lát lại vào thăm ông và hỏi Tiệp về bệnh-tình của ông.

Đến giờ uống thuốc, bà đồ và Tiệp vào đánh thức ông đồ dậy. Ông đồ có vẻ mỏi-mệt hơn trước, không muốn uống nhưng nể vợ và thương con ông lại cố uống cho hết bát thuốc.

Trong làng nhiều bạn-bè tới hỏi thăm, nhưng bà đồ và Vinh chỉ tiếp ở nhà ngoài, trừ những người nào rất thân-mật bà đồ mới để vào buồng ông đồ. Gặp lúc ông đồ ngủ mệt thì người đó cũng chỉ rón-rén đến cạnh rồi lại lui ra.

Bệnh tình ông đồ ngày một trầm-trọng, không chút thuyên-giảm.

IV

Thuốc thang không chuyển, bệnh ông đồ càng nặng hơn cho đến một buổi chiều. Ông cho gọi hết vợ con trong nhà lại để ông trối-trăng lời cuối cùng. Lúc ấy ông thấy tỉnh vô cùng, không mơ hoảng li-bì như mọi ngày. Ngọn đèn sắp tắt, vụt lên sáng tỏ, người ta sắp chết cũng trở nên sáng-suốt.

Bà đồ, vợ chồng Vinh, Tiệp, Mẫn và cả Khoan nữa đã có mặt đủ bên giường ông đồ. Gian buồng mờ tối. Ông đồ bảo Tiệp mở cửa rộng cho sáng. Ông nói : « Nằm mãi trong bóng tối người đâm mê sảng. Hôm nay thày tỉnh, mở cửa cho thày nhìn thấy ánh-sáng ngoài trời lần cuối cùng ».

Cửa mở ra, trông ông đồ gầy đét, da bọc xương, nước da đen sạm, không còn sinh khí.

Ông thấy bà đồ nước mắt ràn-rụa đứng ngay sát bên giường nhìn ông. Ông lắc đầu thương hại vợ. Ông lại đưa mắt nhìn các con, các con đều có ngấn lệ trên má.

Ông bảo bà đồ : « Làm gì bà phải khóc. Sống chết có mệnh, sinh ký tử quy có ai mà sống mãi được đâu. Bà nên giữ-gìn sức-khỏe kẻo lại đau ốm thì khốn. Và các con nữa, cũng đừng khóc làm chi. Thày biết các con thương thày, nhưng trước số-mệnh các con có khóc cũng chẳng ích gì. Hôm nay thày tỉnh táo, có mặt đủ các con đây và mẹ các con, thày sung-sướng, thày chết đi, các con hãy nhớ lấy những lời thày đã dặn. Hôm nay thày muốn bảo thêm các con phải ăn ở với xóm giềng làng nước cho đứng-đắn, có nhân-nghĩa có thủy-chung đừng để cho ai chê cười. Còn anh Khoan, anh nhớ trông nom em Mẫn cho thày, và anh nên giữ lấy lớp học của thày ».

Rồi ông tự đặt lấy tên hèm là Thái Thụy : « Tên hèm còn gọi là tên thụy hoặc tên cúng cơm, tức là tên người ta đặt cho người chết, hoặc người sắp chết tự đặt lấy. Trong trường hợp hấp-hối người chết không còn tỉnh-táo hoặc không còn đủ sức để nói rõ ý muốn của mình thì người nhà đặt cho một tên hèm và nói cho người hấp-hối hay. Tên hèm này sẽ được khấn tới trong tang lễ cũng như trong những ngày giỗ ngày Tết hàng năm ».

Đặt xong tên hèm cho mình, ông đồ nói với bà đồ : « Việc ma chay của tôi bà liệu tùng-tiệm cho đỡ tốn. Nếu các môn sinh muốn, họ sẽ góp nhau làm ma, còn nếu không bà đừng nên xa-xỉ. Để tiền cho các con. Con chim sắp chết kêu lên tiếng đau thương, con người sắp chết bao giờ cũng nói lời nói phải. Những điều tôi nói, bà và các con phải nghe ».

Bà đồ mắt vẫn ràn-rụa lệ rơi nhìn chồng gật đầu và lũ các con cũng đều vâng dạ trước mọi lời trăng-trối của ông đồ.

Bỗng ông đồ bảo : « Thôi bà ở lại tôi đi ! Các con ở lại thày đi. Ông lim dim nhắm đôi mắt yếu ớt lại. Bà đồ và Tiệp òa khóc ra tiếng ».

Nghe tiếng khóc của vợ và con, ông đồ lại mở mắt ra và nhắc lại : « Tôi đã bảo bà và các con đừng khóc để tôi đi cho được yên-tâm ».

Ông bảo Vinh : « Con sờ chân thày mà xem, lạnh tới đầu gối rồi ».

Vinh đưa tay sờ đầu gối ông đồ quả nhiên cả hai bên đều lạnh ngắt. Sự lạnh cứ lên dần-dần, lên tới đâu ông đồ biết tới đó.

- Lạnh tới bẹn !

- Thày chết tới bụng !

Lạnh tới đâu người chết tới đó. Trong lúc đang chết ông đồ vẫn sáng-suốt. Ông hết đưa mắt nhìn bà đồ lại nhìn sang các con : « Thày chết quá bụng rồi ! »

Sau đó, ông không nói được nữa. Mắt ông vẫn mở. Ông nhìn bà đồ lưu-luyến, nhìn lũ con âu-yếm, nhất là nhìn Tiệp và Mẫn.

Bỗng môi ông nở một nụ cười như để chào vợ rồi đôi mắt ông nhắm nghiền lại.

Ông đã chết hẳn. Vinh thắp một nén hương kề khói vào mũi ông, không thấy khói hương lay động gì nữa, chứng tỏ rằng ông đồ đã tắt thở.

Vinh bảo mẹ : « Thày đã đi hẳn ! »

Bà đồ gào khóc ! Tiệp cũng khóc òa lên, cả vợ Vinh cũng khóc.

Vinh ra hiệu cho mẹ, vợ và em nín khóc. Chàng cùng Khoan khiêng ông đồ từ trên giường đặt xuống đất. Hành động này của thân nhân có ý hi vọng rằng sinh khí rải-rác trên mặt đất sẽ hồi-sinh người chết.

Đặt ông đồ nằm dưới đất giây lát thấy không có triệu chứng gì của sự hồi-sinh, Vinh và Khoan lại khiêng ông đồ đặt lên giường như cũ.

Liền đó, Vinh sai người nhà lấy một chiếc áo dài của ông đồ vẫn mặc, leo lên mái nhà, gọi ba hồn bảy vía 2 đích danh ông đồ ba lần rồi lại leo xuống.

Người Việt-Nam tin rằng người chết hồn vía chưa đi xa, còn lẩn quất quanh nhà nhớ thương con cháu, nên khi có người mang chiếc áo lên mái nhà gọi hồn vía người chết, hồn vía có thể nhập vào chiếc áo để trở lại vào thân xác.

Người nhà leo xuống, mang chiếc áo dài vào, nhưng hồn vía ông đồ vẫn không trở lại xác. Ông đồ đã chết hẳn.

Bà đồ gào thét gọi tên ông, Tiệp và vợ Vinh cũng khóc-lóc gọi cha. Xưa nay, người ta vẫn tin người chết có khi sống lại, nếu người nhà, nhất là vợ con khóc lóc kêu gào. Tình thương vợ nhớ con đã khiến cho người chết không thể dứt tình đi hẳn.

Trong những trường hợp người chết bất-đắc-kỳ-tử, chết sông, chết đò, chết đạn lạc, tên bay, khi có cha mẹ anh em hoặc con cháu tới nhận xác thường trào máu ra miệng. Linh cảm thiêng-liêng giữa tình máu-mủ ruột thịt đã khiến có sự trào máu đó.

Bà đồ khóc, vợ Vinh kêu gào, Tiệp vừa lạy xác ông đồ vừa gọi, người nhà đứng quanh đều rơm-rớm lệ, nhưng ông đồ vẫn không hồi lại.

Vinh bảo mẹ : « Thôi, đẻ đừng khóc-lóc quá nữa ! Thày con đi hẳn rồi ».

Ông đồ đi thật. Số mệnh của ông đã đến ngày phải về bên kia thế giới cùng tổ-tiên.

Bà đồ bảo Khoan : « Thôi thày đã đi hẳn rồi, anh nhớ lời thày dặn về nói với các cụ bên nhà lo cưới chạy tang trước khi phát phục ».

Cưới chạy tang tức là đám cưới cử hành trước đám tang. Đấy là một tục-lệ cổ-truyền để cho đôi trai gái có thể kết hôn với nhau, không phải đợi mãn tang người chết. Trong trường-hợp này, người chết được coi như vẫn còn sống, và hôn-lễ tuy được cử-hành giản-dị hơn, nhưng đối với người chết nằm đấy, phải dùng những lễ nghi như đối với người còn sống.

Nghe lời bà đồ, Khoan vội-vã về nhà lo việc cưới chạy tang.

Cưới là một việc vui mừng, nhưng cưới chạy tang, mọi lễ-nghi được giảm bớt rất nhiều, và do đó sự cưới xin cũng cử-hành rất mau lẹ. Sự kén chọn ngày cũng bớt cẩn-thận. Người ta chỉ cốt làm sao cho đám cưới mau xong để còn lo tới đám tang.

Với đám cưới, Tiệp sẽ được gần Khoan. Tuy nhiên nàng cũng đau-đớn trước cái chết của cha. Phải chi cha nàng còn sống, đám cưới không linh-đình cũng tấp-nập, có phải cha nàng cũng vui-vẻ và nàng cũng sung-sướng không.

Trong lúc Khoan ra về, tại nhà ông đồ, Vinh và người nhà lo tắm rửa thay quần áo cho ông đồ.

Tiệp đã đem nồi nước vị-hương thơm phức để lau mình cho cha, và sau đó, bà đồ đích thân mặc cho ông đồ bộ quần áo đẹp nhất xưa nay ông đồ vẫn ưa mặc.

Theo đúng tục lệ, Vinh khẻ cậy mồm cha để đặt vào một nhúm gạo nếp và ba đồng tiền, tượng trưng cho thức ăn của người chết và tiền đò để qua Cửu-tuyền về bên kia thế giới. Sau đó một tấm giấy bản được phủ lên mặt ông đồ.

Việc phát phục, phải đợi lễ chiêu-hồn và lễ chiêu-hồn chỉ thực-hiện sau đám cưới chạy tang của Tiệp.

Vì chưa phát phục nên người nhà dù có thương xót cũng chỉ khóc dấm-dút, không dám khóc to. Đối với làng nước, ông đồ vẫn được coi như còn sống, tuy với lễ cưới chạy tang của Tiệp ai cũng biết là ông đồ đã chết.

Tiệp thương cha vô cùng. Nàng khóc sưng cả đôi mắt. Từ bé nàng vẫn được cha mẹ thương chiều, và chưa bao giờ nàng phải xa cha mẹ. Nỗi sinh ly nàng chưa biết, nhưng nay nàng đau-đớn biết bao nhiêu với câu tử-biệt.

Bà đồ báo tin ông đồ mất cho mấy người em ông đồ và em bà để nhờ họ đi sắm sửa đồ ma chay.

Bà buồn, nhưng tuân lời ông đồ lúc lâm-chung, bà bình-tĩnh lo việc ma chay. Bà nhờ người này chạy đi khai tử, xin phép làng để động-thổ đào huyệt, nhờ người kia lo mua bán trầu cau rượu gạo cần-thiết cho một nhà đám. Lại còn việc đặt nhà táng, minh-tinh, lo mua sô gai vải bố để liệm cũng như xé khăn cho con cháu sau khi phát phục.

V

Đám cưới của Khoan và Tiệp đã cử hành rất dản dị và cũng rất mau chóng. Họ nhà gái chỉ mong đám cưới cho xong để còn lo việc chiêu-hồn cho ông đồ và phát tang.

Lễ cưới cũng đơn sơ. Nhà gái không đòi hỏi gì ở nhà trai ngoài lễ cúng gia-tiên, lễ gửi các nhà thờ họ và một ít cân chè để chia cho bạn bè thân quyến.

Nhà ông Chánh-Tổng cũng nhận được trầu cau chia. Ông cười hà hà bảo người nhà : « Bay xem, con ông đồ Ngư, giá lấy thằng Thúc nhà này có phải đám cưới linh-đình không. Bây giờ lấy thằng cháu Khóa Hữu, cưới chạy tang lúi-sùi như con nhà bách-tính ! Cho đáng kiếp ! Nhà thằng Khoan nghèo rớt mùng tơi, con ông đồ về làm dâu nhà ấy tha hồ vất-vả. Rồi bay sẽ thấy, nó sẽ ao ước số phận của nhà Thúc ! »

Thúc cũng bảo Thảo : « Em đi đưa dâu đám cưới con Tiệp không ? Đám cưới long-trọng nhỉ ? »

Thảo cười nhìn chồng rồi nói : « Mình riễu người ta làm gì ! Duyên ai phận nấy chứ. Thày đồ chẳng may mất đi, chị Tiệp mới phải lấy chồng cưới chạy tang ! »

- Em muốn binh con ấy hay sao ? Có dịp anh sẽ cho vợ chồng nó biết tay !

Người làng được tin ông đồ mệnh chung, Khoan cưới Tiệp chạy tang đều có vẻ ái-ngại. Có người nói : « Số cô Tiệp thế mà vất vả ! Một đời người mới có một lần lấy chồng lại cưới chạy tang ».

Người khác nói theo : « Rồi ra cô ấy sẽ vất-vả suốt đời. Cái trò cưới chạy tang thường không tốt đẹp ».

Lại có người nói : « Các ông bà chỉ bàn nhảm ! Cốt vợ chồng người ta thương yêu nhau thì thôi. Hạnh-phúc sung-sướng ở đời đều do mình tạo lấy hết. Vất-vả về đường vật-chất có hại gì ! Sung-sướng về tinh-thần mới thật là sung-sướng ».

Lúc Khoan dẫn lễ cưới tới nhà gái, lễ cưới được cử-hành như thường lệ, nhưng không có trẻ nhỏ chăng giây và cũng không có đốt pháo. Cưới chạy tang, trong nhà người chết còn nằm đó, ai lại đốt pháo.

Sau khi Vinh thắp hương để Khoan lễ gia tiên, cả Khoan lẫn Tiệp đều tới lễ trước thi hài ông đồ như lễ người còn đang sống. Sau đó, đôi vợ chồng lạy mừng bà đồ.

Lễ mừng trong đám cưới có ý nghĩa rất đẹp. Người con gái lễ cha mẹ để đền ơn sinh dưỡng. Cha mẹ nuôi nấng mình nên người, nay ra đi làm dâu con nhà khác phải có lễ mừng trước để tạ ơn. Còn chàng rể lễ bố mẹ vợ cũng cốt để tạ ơn cha mẹ vợ đã gây dựng nuôi nấng cô dâu. Khi cô dâu về nhà chồng cũng lễ bố mẹ chồng với ý nghĩa xin từ nay được làm dâu con trong nhà. Và chính chàng rể cũng phải lễ bố mẹ mình trước khi đi rước dâu để đền bù lại công sinh-dưỡng.

Lễ mừng ông bà đồ xong, mấy người em họ Tiệp đưa Khoan đi lễ vài nhà thờ chính trong họ. Việc lễ nhà thờ này coi như một sự trình diện của chú rể với tổ tiên họ hàng nhà vợ.

Ngày cưới là ngày vui mừng, nhưng Tiệp buồn rười-rượi. Nổi vui sướng của ngày vu-quy không át nổi sự đau-đớn mất cha ! Nàng yêu chồng, nhưng nàng lại rất thương cha.

Bà đồ nhìn con thương hại. Bà tự nghĩ thấy ái-ngại số phận kém may mắn của con. Ngày vui mừng nhất đời của con lại chính là ngày sắp chôn người cha yêu dấu.

Sau những cuộc lễ theo đúng tục lệ tại nhà gái, nhà trai xin đón Tiệp về để giữ đúng phép cưới. Cuộc đón dâu cũng vội-vàng hấp-tấp như cuộc đưa rể.

Lại lễ gia-tiên nhà chồng, rồi đến lễ mừng bố mẹ chồng.

Nhà trai, tuy là cưới chạy tang, nhưng vì đám tang về nhà gái, nên có mời họ hàng thân thuộc tới dự lễ cưới. Trong nhà cũng có vẻ tấp-nập nhộn-nhịp.

Lúc cô dâu tới nhà chồng, bà mẹ Khoan vội vàng xách ông bình vôi lẩn sang nhà hàng xóm trong một lát. Hành động này theo đúng cổ-lệ, người vợ là nội tướng trong gia-đình và bình vôi tượng-trưng cho căn bản của gia-đình. Khi cô dâu mới tới, bà mẹ chồng lánh mặt đi với bình vôi có ý nghĩa là nội tướng cũ nhường quyền cho nội tướng mới, vì thường khi có nàng dâu, bà mẹ chồng giao việc quán-xuyến nhà cửa cho nàng dâu. Trách-nhiệm của cô dâu thật là nặng-nề, lấy chồng gánh vác giang sơn nhà chồng.

Trong lúc mẹ Khoan lánh mặt đi thì đám rước dâu đi vào trong nhà. Một chiếc hỏa-lò hông lửa đặt ngay trước cửa ra vào. Tiệp phải bước qua chiếc hỏa lò đó, để những tà ma ám ảnh nàng sẽ bị đốt trừ hết.

Sau khi lễ gia tiên xong, thân mẫu Khoan cũng đã ở bên hàng xóm trở về để cùng chồng nhận lễ lạy mừng của Tiệp.

Nhà trai làm cổ mời nhà gái, trong khi cô dâu được đưa đi lễ các nhà thờ họ.

Tiệp như cái máy làm theo sự điều-khiển của mọi người. Nàng không nghĩ gì cả. Phải chi lễ cưới được cử-hành trước khi ông đồ thở hơi cuối cùng có phải tưng-bừng nhộn-nhịp bao nhiêu không. Thôi, âu là tại số !

Ngay buổi chiều hôm đó, Khoan và Tiệp liền trở lại nhà ông đồ để dự lễ chiêu-hồn phát phục của ông.

Lần này, Khoan và Tiệp đi cạnh nhau. Trước pháp-luật cũng như trước tôn-giáo, đôi bên đã thành vợ thành chồng.

Vài người làng thấy vợ chồng Khoan đi qua chỉ trỏ bàn-tán : « Cậu Khoan và cô Tiệp thật đẹp đôi, trông xứng với nhau quá. Ấy thế mà phải cưới chạy tang cũng đáng tiếc ».

- Cậu Khoan nhà nghèo, cô Tiệp lấy cậu ấy sẽ vất-vả. Biết đâu cưới chạy tang chẳng biến-đổi nổi số phận của hai người.

Có người nói : « Cậu Thúc con ông Chánh-Tổng mê cô Tiệp lắm đấy. Không lấy được cô Tiệp cậu ta mới lấy cô Thảo con ông Phong ».

Lại có người tiếp : « Tự nhiên cô Thảo sung-sướng thêm. Con nhà giàu lại lấy chồng giàu ».

Vợ chồng Khoan đang đi thì gặp Hoài. Hoài chào hai người và nói : « Em và mấy chị cũng được tin anh chị làm lễ thành-hôn, nhưng rất tiếc không được đến mừng anh chị. Rồi Hoài hỏi thăm về lúc ông đồ qua đời cùng việc ma chay ».

Tiệp nói : « Lúc mất thày tôi tỉnh lắm. Thày tôi có trối-trăng lại chúng tôi phải cưới chạy tang. Cũng là số mệnh của chúng tôi, lấy nhau không được đàng-hoàng nên không được mời các anh các chị ».

Khoan nói : « Ấy thế mà anh Đáp cũng tới mừng tôi và đóng vai phù rễ để đi đón dâu đó ».

Vừa nói Khoan vừa nhìn Tiệp tủm-tỉm cười, Tiệp cũng gượng cười theo chồng.

Khoan lại nói thêm : « Việc cưới xin của chúng tôi đã xong, giờ đây tôi đưa nhà tôi trở lại bên nhà để lo việc chiêu-hồn và phát phục ».

Hoài nói : « Em và các anh chị khác cũng đã định tới để giúp đỡ cô trong việc tang thày, nhưng vì còn vướng lễ cưới của anh chị ».

Tiệp đáp : « Bây giờ chúng em về để dự lễ chiêu-hồn thày em. Rồi sau đó là lễ phát-phục. Đẻ em và người nhà cũng đã lo sắm-sửa đủ mọi thức cần dùng rồi ».

Khoan và Tiệp từ giã Hoài nhưng Hoài đi theo họ đến tận nhà. Hoài cho họ biết là các bạn-bè nhiều người ái-ngại cho Tiệp và họ đều rất mến tiếc ông đồ.

Thực ra thì khi ông đồ ốm, học-trò cả mới lẫn cũ đều đã lũ lượt tới thăm thày và khi họ được tin ông đồ mất, họ đã cắt cử người tới hầu hạ thường-trực, và họ cũng đã trù-tính việc tham dự tang lễ.

Tình thày trò xưa nặng như tình cha con. Thày chết trò phải để tang trong lúc đi đưa. Các môn-sinh phải cắt nhau tới chầu-trực tại đám tang như con cháu trong nhà.

Khi vợ chồng Khoan và Hoài tới nhà, trong nhà đang đông khách-khứa tới hỏi thăm chia buồn. Bà đồ tiếp khách với đôi con mắt mọng lệ. Các con cháu ông đồ đều túc-trực sẳn để dự lễ chiêu-hồn.

Một pháp sư đã được mời tới để cầm đầu đám tang.

Lũ học-trò ông đồ cũng có mặt rất đông, trong số đó có cả Thúc lẫn Thảo.

Vợ chồng ông Chánh-Tổng cũng đã tới hỏi thăm chia buồn.

Ông Chánh-Tổng tuy không hài-lòng với ông đồ về việc hôn-nhân của Thúc, nhưng là kẻ cả trong hàng tổng, ông luôn luôn tỏ ra mình có một thái-độ đứng-đắn. Tới chia buồn cùng bà đồ và vợ chồng Vinh, ông Chánh-Tổng săn-đón hỏi-han đủ mọi việc và sẵn-sàng giúp đỡ tang gia bất cứ về phương diện gì.

Trong lúc ông đồ ốm, không những ông bắt vợ chồng Thúc phải luôn luôn thăm nom, chính vợ chồng ông cũng đã tới thăm và thường mua quà biếu.

VI

Có hai cách chiêu-hồn 3. Thày pháp có thể niệm chú chiêu-hồn người chết qua một tuần hương để hồn nhập vào một tàu chuối cắt thành hình người, nhưng đối với ông đồ, người nhà đã xin thày pháp làm phép « chiêu-hồn bạch ». Thày pháp đắp trên mặt ông đồ một tấm lụa trắng dài 7 thước ta 4 rồi khấn-khứa để hồn vía người chết nhập vào. Tấm lụa trắng được tết nhang-nhác hình người và sẽ được thờ tại linh-sàng.

Lễ chiêu-hồn ông đồ đã xong. Ông thày đã bấm giờ lâm-chung của ông đồ để biết ông đồ có bị nặng giờ không. Ông đồ đã may-mắn chết vào giờ lành, không bị các ác thần ám-ảnh lại còn được hai cái nhập mộ, tức là chết nhằm giờ có linh thần phù hộ để giữ-gìn chống thần trùng cho người chết.

Theo quan niệm của người Việt-Nam và người Trung-Hoa người chết có thể gặp giờ xấu bị thần trùng tới tra-khảo để bắt chết thêm người nhà, nhất là vợ con, hoặc được những giờ tốt các thần linh phù-hộ, không sợ bị thần trùng.

Những người bị thần trùng ám, thường thần này tra khảo tại mộ bắt chỉ cho con cháu. Muốn trị thần trùng phải có pháp-sư làm bùa phép cúng. Ông đồ không bị nặng giờ, con cháu đều mừng.

Sau lễ chiêu-hồn tới lễ khâm-liệm.

Tự tay Vinh quấn vào người ông đồ một tấm vải trắng dài suốt từ cổ tới chân. Trong lúc liệm, thày pháp cũng khấn vái để vong-hồn người quá cố được rõ.

Liệm xong là lễ nhập-quan. Lễ nhập-quan rất quan-trọng. Cả gia đình đều có mặt tại lễ này. Bà đồ và các con khóc-lóc thảm-thiết. Đã nhập-quan, người nhà không còn được nhìn mặt ông đồ nữa. Từ đây thật là vĩnh-biệt. Tiệp sấn tới bên thây cha lăn-lộn khóc-lóc. Nàng như cố muốn níu lấy hình dáng của cha già để ghi trong tâm-khảm lần cuối cùng. Rồi đây tiềm thức của nàng sẽ luôn luôn có bóng người cha thân mến.

Lũ học-trò ông đồ cũng tham-dự lễ nhập-quan. Các cô học-trò cũng khóc-lóc như Tiệp. Tình thày trò sâu nặng, thày còn hơn cha.

Lễ nhập-quan xong, người nhà và bọn học-trò ông đồ chia nhau canh gác áo quan. Chiếc áo quan của ông bằng gỗ vàng tâm, sơn son thiếp vàng do chính ông đồ đã sắm từ trước.

Đó là một tục lệ lo xa của người Việt. Mỗi khi tới tuổi già thường tính đến ngày về cõi chết, và thường sắm sẵn bộ áo quan mà các cụ gọi là cỗ thọ.

Trong áo quan có lót một lượt chè mạn thơm. Chè này dùng để ướp xác người chết, giữ cho xác lâu phân chất, và khỏi tỏa ra mùi hôi-hám.

Xác ông đồ được người nhà khiêng đặt vào trong áo quan, trong khi thày pháo niệm chú khẩn-khừa.

Người nhà cho đặt vào áo quan tất cả những đồ dùng thường nhật của ông đồ : quần áo, sách vở, kính, giày v.v… Ngoài ra, thày pháp lại lấy một cổ tổ-tôm rắc lên khắp người ông đồ trước khi nắp áo quan đóng lại. Theo sự tin-tưởng cổ tổ tôm có thể trừ được tà ma.

Áo quan đã đậy nắp. Một bát cơm bông đặt trên nắp áo quan : đấy là một bát cơm thật đầy, có một quả trứng luộc bóc vỏ để trên. Một thanh que tre nhỏ, một đầu được vót dua như một bông hoa cắm qua quả trứng thấu tới bát cơm.

Sau lễ nhập-quan là lễ thành-phục. Nhiều nơi, người ta chiêu-hồn người chết, làm lễ nhập-quan rồi, nếu có con cháu cần cưới chạy tang, lễ cưới mới cử hành. Lễ cưới chỉ cần xong trước lễ thành-phục tức là lễ phát phục, nói nôm là lễ phát tang. Nếu đám cưới không kịp cử hành trước lễ phát tang, đôi trai gái phải chờ cho đoạn tang mới được lấy nhau.

Bà đồ khóc-lóc kể-lể thảm-thiết, ôm lấy áo quan kêu gào, rồi lăn-lộn bên cạnh. Các bà con xúm nhau khuyên-giải nhưng nỗi đau đớn của bà phải đâu mỗi lúc vơi được ngay. Bà vẫn khóc. Mắt bà sưng mọng lên.

Tiệp cũng thương cha. Nàng cũng ôm lấy quan tài. Nàng không kêu gào nhiều, nhưng nhìn nàng người ta biết nàng đau-đớn.

Từ bé, luôn luôn ở cạnh cha mẹ, nay mất cha, tuy còn mẹ, nhưng nàng cũng vẫn thấy thiếu-thốn sự trìu-mến nghiêm-khắc, chỉ còn lại sự trìu mến dịu dàng.

Khoan tìm lời an-ủi, nhưng an-ủi nào làm nguôi cho ngay được nỗi đau tử biệt.

Vợ Vinh cũng khóc, nhưng khóc rất lớn và kể-lể rất dài. Nàng tuy có thương cha chồng, nhưng đau-đớn sao bằng bà đồ và Tiệp. Nàng phải khóc theo tục-lệ tang-chế của Việt-Nam, nhưng vì không thấy thấm thía sự xót thương, cho nên trong tiếng khóc, nàng phải lấy lời kể-lể thay vào sự bi ai buồn thảm.

Họa cùng tiếng khóc của mấy mẹ con bà đồ, có những tiếng khóc và lời than của các chị em ông đồ bà đồ, của bà cô bà thím họ hàng xa gần và của cả các cô học trò vẫn được ông đồ thương mến.

Kể từ lúc nhập quan, người nhà phải luôn luôn có người ngồi cạnh để canh chừng không cho một sinh vật nào nhẩy qua. Người ta tin rằng, nếu người chết đặt nằm một chỗ, chẳng may có một con vật nào nhẩy qua như con mèo, con chuột hoặc bất cứ một con gì, người chết có thể bị quỷ-nhập-tràng, nghĩa là bừng sống lại, nhưng đây không phải là hồn người trở lại, mà chính là hồn quỷ sẽ nhập vào xác người. Trong trường hợp này phải có thày pháp cao tay mới ếm bùa trị nổi.

Người nhà họ hàng bà đồ đông, lại thêm học-trò ông đồ cũng nhiều, nên luôn luôn có người ở cạnh áo quan.

Một ban nhạc đám đã được mời tới để thổi kèn đám tang.

Giọng kèn « tò e tí ỏi » dài dài buồn buồn bắt đầu vang lên theo tiếng khóc kể từ lúc tang gia có lễ phát-phục, tức là lễ phát quần áo khăn tang cho con cháu.

Khi ông đồ vừa nằm xuống bà đồ đã nhờ người nhà mua sẵn vải xé khăn và may sẵn tang-phục cũng như mua giàu cau và mọi thứ cần dùng cho tang-lễ.

Có hai loại vải để xé khăn.

Vải sô xé cho vợ, con và dâu. Ngoài khăn tang còn y phục để tang nữa.

Theo lễ ngũ phục, quần áo tang có năm loại khác nhau tùy theo người để tang là con cháu hoặc họ xa gần với người chết.

Vợ, con trai, con gái và dâu người chết ăn mặc « đại tang » và để tang 3 năm. Tang phục của những người nầy gồm một chiếc áo và một chiếc quần bằng vải thô sổ gấu, lưng có may trái sống nghĩa là đường chỉ ở giữa sống lưng may ngược ra ngoài. Trên lưng lại có miếng vải bấu hình vuông tượng trưng sự đau đớn của người để tang. Đằng trước ngực cũng có một miếng vải bấu gọi là thôi, tượng trưng sự nát tim não ruột của kẻ làm vợ làm con. Người để tang còn mặc ở ngoài bộ quần áo tang, một chiếc áo sô bằng vải màn, cũng may theo kiểu chiếc áo tang để mặc trong lúc tế lễ và đưa đám, và phải thắt ở ngoài cùng một chiếc giây lưng bằng giây chuối. Chít trên đầu là một chiếc khăn sô, quấn quanh đầu có một vòng và thắt múi dài ở đằng sau, thõng xuống lưng.

Người con trai người chết phải đội một chiếc khăn quấn bằng giây chuối và chống một chiếc gậy tre hoặc gậy vông tùy theo cha hay mẹ chết, trong lúc tế-lễ cũng như trong khi đưa người chết tới nơi an nghỉ cuối cùng.

Người đại tang đi giày cũng phải dùng màu trắng.

Những quần áo đại tang, tang chủ phải giữ trong ba năm. Sau đám tang, tang phục nầy được để ngay dưới bàn thờ người chết và chỉ đốt đi khi đoạn tang sau lễ trừ phục.

Cháu gọi người chết bằng ông bà, con rể để tang bố mẹ vợ, cháu để tang chú bác, bố mẹ để tang con hoặc dâu, anh chị em ruột để tang nhau gọi là tang « cơ niên ». Người để tang phải chịu tang một năm. Tang-phục gồm khăn trắng và quần áo trắng may theo kiểu thường, bằng một thứ vải nhỏ mặt đỡ thô hơn loại vải đại tang. Ngày nay người ta thường dùng loại vải thường.

Sau tang cơ niên là tang « đại công », mang trong chín tháng. Chắt để chở các cụ, anh chị em rể để chở nhau, cháu để chở cô chú họ, anh em con chú con bác để chở nhau mang tang đại công. Trang phục giống như tang cơ niên, duy có chắt để tang cụ thì chít khăn vàng.

Kế đó là tang « tiểu công » mang trong năm tháng. Cháu để chở cậu và dì, anh em cô cậu hoặc cháu chú cháu bác để chở lẫn nhau, chú và cô để chở cháu mang tang tiểu công. Tang phục cũng giống như tang cơ niên.

Sau cùng là tang « ty ma » mang trong ba tháng. Người ta còn gọi tang này là tang mọn. Chút để chở các kỵ, cậu và dì để chở cháu, anh em cháu cô cháu cậu để chở lẫn nhau, bố mẹ để chở chàng rể, con để chở mẹ ghẻ hoặc nhủ mẫu mang tang ty ma. Tang phục màu trắng bằng vải thường, nhưng chút để chở kỵ thì chít khăn đỏ.

Ngoài năm loại tang trên, học-trò cũng để tang thày và hàng xóm cũng để tang nhau trong ba ngày, đúng như câu ca dao :

« Hàng xóm để chở ba ngày.

Chồng cô vợ cậu một ngày cũng không ».

Nếu người chết không có con trai, người ăn thừa-tự sẽ để đại tang như chính người con, cũng như trường hợp người cháu đích-tôn phải để tang ông theo đại tang nếu cha mình đã chết.

Bà đồ đã cho xé khăn và phân-phát quần áo tang cho con cháu họ hàng đúng theo tục-lệ.

Tên họ và tên húy ông đồ được viết trên một tấm lụa hồng dài cùng với chức-tước của ông, để treo lên minh-tinh khi đưa đám.

Đồng thời một tấm lụa màu đỏ cũng viết những chữ như tấm lụa trên, được dán vào bài vị ông đồ.

Linh-sàng và linh-tọa, tức là giường và ghế của người khuất đã được thiết-lập.

Trong lúc làm lễ phát-phục, tất cả quần áo tang được đặt trước bài vị ông đồ. Nén hương được thắp lên và các con cháu lần lượt mặc tang-phục đứng trước linh-sàng dự lễ.

Lễ phát-phục xong, toàn thể người nhà đều mặc màu trắng. Tiếng kèn kéo dài của dàn kèn, màu trắng đục của quần áo vải sô như tăng nỗi đau-đớn của bà đồ và Tiệp.

Từ đây âm-dương đôi ngả, ông đồ đã ra người thiên cổ. Bộ tang-phục phải chăng đã ngăn cách kẻ khuất với người còn.

VII

Suốt từ trong nhà tới rạp dựng ngoài sân, hai bên tường treo la liệt những câu đối, những bức trướng của con cháu trong nhà, của bạn-bè thân-thuộc và của học-trò kính viếng ông đồ.

Câu đối của con cháu trong nhà viết bằng chữ đen trên vải trắng, còn những bức trướng và câu đối của bạn-bè thân-thuộc và học-trò đều bằng vải màu xanh, vàng, trắng hoặc đen có thêu hay dán chữ. Chung quanh lại có viền chỉ màu sặc-sỡ và có thêu những cảnh Bát-tiên quá hải, hoặc sơn thủy để tăng vẻ thẩm-mỹ cho đối-trướng.

Người đến viếng ông đồ đông lắm, người trong làng, người hàng tổng và cả bạn-bè các tỉnh xa nữa.

Tin ông đồ chết được loan đi, học-trò cũ của ông kẻ xa người gần đều về viếng lễ thày, chỉ những người nào thật mắc bận, không thể về được mới phải chịu. Thày học cũng như cha. Đạo thày trò nghĩa trọng, về viếng tang thày cũng là một cách để tỏ lòng kính mến và biết ơn.

Trong nhà đám đông những người. Tiếng nói ồn-ào. Khách tới viếng cùng nhắc lại những tính hay điều tốt lúc sinh thời của ông đồ.

Con cháu trong nhà chạy tíu-tít để pha trà, bưng trầu và cơm rượu.

Những mâm rượu đặt ngay ở hai bên áo quan, ở ngoài rạp, ở cả những căn nhà ngang, và ngay cả nhà học.

Mỗi lần có khách tới viếng, phường kèn trống lại nổi lên một điệu kèn trống thờ nghe buồn và kéo dài tiếng ngân áo-não.

Cùng với tiếng kèn trống, tiếng khóc của người nhà cũng vang lên, rền-rỉ đau-thương.

Kèn không thể thổi suốt đám tang, cũng như con cháu không thể khóc suốt ngày, chỉ lúc nào có khách viếng kèn mới lại nổi lên, và con cháu mới luân-phiên nhau khóc theo nhịp kèn thờ. Tuy vậy, có người gào khóc nhiều đã khan tiếng, và đôi mắt đỏ mọng sưng húp.

Đám thợ kèn thợ trống ngồi ở một góc nhà, trông ngay ra trước linh-sàng. Có khách tới viếng họ thấy ngay. Trống rung lên, và tiếng kèn cũng bắt đầu.

Nghe tiếng trống rung kèn thổi, con cháu dù đang ăn uống hoặc tiếp một bọn khách khác cũng phải cắt người ra để khóc theo tiếng kèn, và cử người đứng đáp lễ.

Tục lệ như vậy, có người viếng phải có tiếng khóc. Bởi thế nên nhiều đám tang, thiếu con cháu phải thuê người khóc mướn. Người khóc mướn chỉ kêu gào kể-lể, và tiếng khóc chỉ có chiều dài, không có tình thương.

Người viếng sau khi trao lễ viếng, đứng lễ trước bàn thờ người chết. Con cháu người chết phải đáp lễ. Khách viếng sau khi lễ người chết, được người sống đáp lễ, cũng phải quay về phía người đáp lễ vái lại.

Xác người chết còn nằm trong nhà, khách viếng chỉ phải lễ hai lễ và ba vái như khi lễ một người sống. Khi đã cất đám, khách đến viếng sau đám tang, lễ trước bài vị người chết bốn lễ ba vái, như trong một đám cúng hoặc đám giỗ.

Khách viếng thường mang theo đồ lễ, nhưng cũng có khách gửi đồ lễ tới trước và tới viếng sau. Đồ lễ viếng gồm câu đối, trướng, trầu cau, trà nến, vàng hương, và ở nhà quê chỗ thân tình người ta thường dùng lễ viếng bằng cả cỗ xôi con gà hoặc cỗ xôi thủ lợn. Cũng có người viếng bằng tiền. Đây là một cách giúp đỡ tang-chủ, và cũng là một cách để dành, vì sau này nếu người đi viếng có việc hiếu hỷ, tang chủ lúc đó sẽ lại mang tiền tới chia vui hoặc chia buồn.

Bà đồ, vợ chồng Vinh và Tiệp thật vất vả. Nào tiếp khách, nào lo cỗ bàn mời khách, nào lo việc khóc mỗi khi có trống kèn nổi lên.

Đáp lễ khách thường là Vinh, nhưng nhiều lúc Vinh mệt quá. Khoan phải đứng lễ thay anh vợ. Mẫn tuy bé cũng phải đứng đáp lễ. Đôi khi, có những học-trò của ông đồ đã làm nên cũng mặc tang-phục, quần áo trắng, khăn trắng đứng đáp lễ những người tới viếng lễ thày.

Trên giường thờ khói hương nghi-ngút. Người nhà chạy đi chạy lại, xen lẫn vào trong đám khách viếng, mời khách trầu, nước và cơm rượu.

Ma chê cưới trách, người nhà đám phải luôn luôn săn sóc khách khứa để tránh mọi sự chê-bai.

Thỉnh-thoảng mệt mỏi quá, bà đồ, vợ Vinh và Tiệp lại chia nhau vào trong buồng nằm nghỉ.

Đã hơn một ngày nay, Tiệp mệt quá, không ăn cơm. Nàng chỉ ăn cháo. Phần vì mỏi-mệt không muốn ăn, phần vì đau-đớn thương cha, ăn không thấy ngon. Đôi mắt nàng mọng sưng. Trông nàng trong bộ sô gai thật đáng thương hại.

Khoan bảo nàng : « Em phải cố gắng ăn uống, kẻo nhịn ăn mệt-mỏi, ốm đau thêm khổ ! »

Tiệp nhìn Khoan âu-yếm. Lòng tràn ngập yêu đương, nàng thầm cám ơn Khoan. Phải chi ông đồ còn sống, những ngày mới cưới của nàng sẽ tươi đẹp, tưng-bừng bao nhiêu. Nỗi sung-sướng ngày nay không sao át nổi sự đau đớn mất cha của nàng.

Nàng bảo Khoan : « Trong mình mệt em muốn ăn không được. Vả lại khách khứa luôn luôn, người ta tới lễ thày phải có người khóc ! »

Thật ra cả nhà đám ai cũng mệt-mỏi, nhưng bà đồ và Tiệp vất-vả hơn cả.

Khách viếng đông và tới luôn luôn. Rồi hàng ngõ, hàng xóm, hàng phe, hàng giáp đến, nhóm nào cũng muốn tế ông đồ một tuần rượu.

Lúc sinh thời, mỗi khi trong làng có đám tang, ông đồ vẫn là người viết câu đối giúp tang chủ, cho chữ những ai xin câu đối hoặc trướng đi viếng. Cũng lại chính ông làm những bản văn-tế để dân làng tế người quá cố. Dân làng ai cũng kính mến ông. Nay ông mất, nghĩa tình lân-lý, tình hàng phe hàng giáp, tình thôn trên xã dưới, họ đều mong được tế ông một tuần gọi là tiễn đưa ông đồ về cõi Phật.

Lẽ ra, đám tang đã cử hành sớm, nhưng vì có nhiều cuộc tế-lễ, người nhà phải đình lại một ngày.

Một cuộc tế, người nhà lại phải khóc trả lễ, khóc vì nghi-lễ cũng có nhưng cũng khóc chính vì những lời thống-thiết chân-thành trong các bài văn-tế.

Và đám học-trò cũ của ông đồ đã làm nên, lại đám học-trò đang học, ai cũng muốn dâng hương hồn ông đồ một tuần hương để gọi là tỏ chút lòng biết ơn đối với thày học đã tác-thành cho mình.

Khách tới nhà đám sau khi lễ viếng, thường cùng nhau thưởng-thức bình phẩm những đôi câu đối viếng treo hai bên tường nhà hoặc hai bên vách rạp.

Những câu đối viếng ông đồ đều là những đôi câu đối hay rất nhiều ý nghĩa, của các tay đại-khoa có, danh-sĩ có và của cả những học-trò giỏi của ông đồ.

Và người ta cũng nhắc lại những câu trong văn-tế đã nêu lên bao nhiêu đức-tính của ông đồ, bao nhiêu sự giúp đỡ lân-bang làng xóm của ông, và tất cả những sự-nghiệp tiếng tăm ông đã có.

Các bà trong làng gặp bà đồ, thường an-ủi : « Ông đồ đã tới số về với các cụ, bà cũng chẳng nên quá ưu-sầu ».

Bà đồ cảm ơn họ, đôi giòng lệ tràn ra theo lời nói. Tình chồng vợ, kẻ khuất, người còn nguôi sao được.

Cũng như khi ông đồ còn sống, ngày hai lần tới bữa có lễ cúng cơm. Trong lúc lễ cử-hành, lại kèn trống, lại tiếng khóc. Chủ lễ là Vinh. Vinh là con trưởng, được đứng mời hương-hồn ông đồ dùng bữa.

Người sới cơm hoặc là bà đồ hoặc là vợ Vinh. Đó là bổn-phận của người vợ và người con dâu trưởng, nhưng đây cũng là đặc quyền của những bực chính-thất và của nàng dâu.

Trong những buổi lễ dâng cơm như vậy tất cả tang-quyến đều đến lễ trước bàn thờ. Lòng thành-kính thương nhớ của người sống đối với người chết được chứng tỏ trong mọi lễ-nghi.

Xác ông đồ quàn ở trong nhà đã hai ngày, kể từ khi lễ thành phục. Chỉ còn đêm nay nữa, sớm hôm sau đám tang sẽ cử-hành. Suốt trong hai ngày, nhà đám luôn luôn tấp-nập nhộn-nhịp cho tới khuya. Tiếng kèn trống, tiếng khóc than, tiếng chuyện trò ồn-ào của khách-khứa. Nhà trên, nhà ngang, nhà bếp, những người là người. Người ăn cỗ, người làm giúp, người hầu-hạ !

Khuya, khách khứa vãn, cảnh tang-gia đượm một vẻ buồn.

Chiếc quan tài nằm giữa nhà nhắc-nhở sự chia-ly vĩnh-viễn kẻ khuất người còn. Mùi hương tỏa ra ảm-đạm.

Lúc khuya này vãn khách viếng, con cháu mới lần lượt nhờ phường kèn thổi những bài kèn thờ để tỏ nỗi lòng thương nhớ. Tiếng kèn kéo dài não-nuột, vang trong đêm vắng lan mãi xa xa.

Vợ khóc chồng bằng một bài kèn, con khóc cha cũng một bài kèn, rồi cháu khóc chú, em khóc anh đều có bản kèn riêng.

Phường kèn thổi những bài khóc này đem hết tài nghệ để điệu kèn nghe càng buồn-rầu, hòa với tiếng khóc lúc đêm hôm thảm-thiết. Mỗi bài kèn khóc thờ đều có tiền thưởng riêng của gia chủ.

Nhà càng vắng, các bài kèn nghe càng buồn thấm-thía, và cảnh tử-biệt càng thấy bi-ai.

Trong hai đêm quàn xác ông đồ ở trong nhà, con cháu và học-trò phải cắt phiên nhau thức canh chừng. Hương hết phải thắp thêm nén khác, nến hết phải nối ngay ngọn sau.

VIII

Chỉ còn đêm cuối cùng nữa, ngày hôm sau là ngày đám ông đồ.

Đêm nay có lễ chuyển-cữu và lễ yết-tổ, đúng theo như gia-lễ Việt-Nam.

Lễ chuyển-cữu tức là lễ sê dịch quan-tài, mang quan-tài từ nơi tang gia vẫn để từ trước trong lúc làm ma đến gian nhà thờ. Và ở đây cử-hành lễ yết-tổ, tức là lễ báo cho gia tiên biết người chết từ nay đã từ giã con cháu để về cùng các cụ.

Trong lễ chuyển-cữu có thày pháp khấn vái và các con cháu phải khiêng linh-cữu người quá cố.

Vinh, Mẫn, Khoan cùng tất cả anh em con cháu ông đồ có mặt đều xúm khiêng chiếc quan-tài. Cả một số học-trò lớn của ông đồ cũng dự lễ này.

Quan tài của ông đồ được khiêng tới nhà thờ. Ở đấy đèn nến vẫn thắp sáng chưng.

Vinh, nhân danh là gia-trưởng, vào thắp hương khấn vái báo với các cụ sự từ-trần của ông đồ để về âm cõi.

Kèn trống lại nổi lên, và con cháu lại khóc-lóc kể-lể.

Quan-tài ông đồ đặt trước bàn thờ.

Vinh lễ gia tiên. Các con cháu ông đồ cũng lễ theo, và sau đó mọi người lại xúm vào khiêng chuyển linh-cữu về chỗ cũ.

Theo sự tin tưởng của mọi người, kể từ lúc đó, ông đồ đã được gặp lại và đoàn tụ cùng những người đã chết về trước. Cuộc sống tại âm cõi bắt đầu.

Sau lễ chuyển-cữu, con cháu và học-trò ông đồ vẫn chia nhau canh chừng bên áo quan như hai đêm trước, và nếu có khách tới viếng muộn-màng, lại vẫn kèn trống và tiếng khóc nổi lên, Vinh cũng lại phải ra đáp lễ.

Nhưng đêm nay khác đêm trước ở chỗ người nhà và họ-hàng lo sửa-soạn việc cất đám ngày hôm sau.

Đám tang ông đồ là một đám tang trọng ; ông là người có danh-giá và học-trò ông đông-đảo, ai cũng muốn làm ma thày cho thật linh-đình. Bởi vậy, đưa đám ông đồ, người nhà phải dùng đòn kiệu đầu và đuôi rồng. Số đô-tùy khiêng đòn gồm tất cả 36 người đặt dưới quyền điều-khiển của một vị chấp-lịnh, nghĩa là một người gõ hai thanh tre đập vào nhau. Những đô-tùy nghe theo tiếng lệnh tùy nặng nhẹ mà nâng cao cỗ đòn trên tay hay đặt lên vai.

Việc khiêng đòn cũng khó-khăn, nên tối hôm trước phải có sự luyện-tập, người ta gọi là tập đòn, để đô-tùy ăn ý với người chấp-lịnh, ngõ hầu ngày hôm sau trong lúc đưa đám việc khiêng đòn được điều-hòa và ăn-nhịp.

Theo ý muốn của số đông học-trò ông đồ, việc tập đòn phải rất cẩn trọng. Ban đô-tùy đã được Vinh trả tiền thưởng hậu để họ chịu khó luyện tập với người chấp-lịnh.

Thường ra, ở thôn quê, việc khiêng đòn không phải thuê người. Dân làng vào một hạng tuổi nào trong hàng phe, hàng giáp, hoặc hàng thôn, được phe giáp hoặc thôn cử tới giúp việc đưa đám, họ chia nhau khiêng đòn, khiêng minh-tinh, cầm cờ, cầm câu đối hoặc phụ-trách tất cả những công việc khác trong lúc đưa đám.

Đám-tang ông đồ Ngư lẽ ra cũng do hàng giáp và hàng thôn phụ trách, nhưng vì cỗ đòn rồng to lớn, phải có sự ăn ý giữa các người khiêng, nên tang chủ phải trình với hàng thôn để xin phép mướn đồ-tùy cho có mệnh-lệnh trong lúc khiêng đòn. Và cũng do đó có sự tập đòn trước ngày đưa đám.

Sáng sớm hôm sau !

Đám tang ông đồ đã được sửa-soạn chu-đáo.

Học-trò và họ-hàng bè-bạn đã tề-tựu đủ mặt tại tang-gia.

Cỗ đòn đầu rồng đã được lắp và xếp ngay trước xóm, bên lề đường.

Hàng giáp, hàng thôn đã cho mõ đi rao để mời các người trong hạn tuổi tới phụ giúp trong đám tang.

Trong lúc đó con cháu quây quần-quanh áo quan. Giờ đây sắp là giờ vĩnh-biệt, người đi sẽ được vùi sâu ba thước đất để lại mối đau thương cho người ở lại.

Lễ kiến-diện được cử hành để bà đồ, vợ chồng Vinh, vợ chồng Khoan, Mẫn và tất cả các con cháu từ-biệt ông đồ.

Người người đều tới trước áo quan để tế lễ ông đồ lần cuối cùng trước khi đưa đám.

Đã đến giờ đám khởi hành. Thày pháp làm lễ cúng lộ-thần, tức là thần đường để xin phép cho đám tang được ra đi từ nhà tới huyệt.

Đám tang thật là long-trọng.

Đi đầu có đoàn phường tuồng dẫn đường trị huyệt. Đây là những người trong ban hát-bội hàng tổng đã được tang gia mượn để đóng các vai Thiên-tướng đi dẫn đường đám tang. Những người này trong khi đi đường sẽ hát những câu hát, mà chính là những câu chú để trừ tà-ma muốn ám-ảnh quấy nhiễu người quá cố. Những điệu múa của họ cũng là những điệu riêng, múa lên thành những nét bùa vạch vào không khí để trấn áp những ác-thần.

Phường tuồng dẫn đường đám tang cho tới huyệt. Tất cả bọn họ có năm người, một người đóng vai thần Hổ nhảy-nhót tứ phía, đi từ bên này đường sang bên kia đường, tiến lên trước lại lùi trở lại, như muốn tìm kiếm những hồn ma quỷ nào lẩn-quất quanh lối đi. Còn bốn người kia đóng bốn vai Thiên, tướng, vẽ mặt đeo râu, áo quần nai-nịt, giáp-trụ đường-hoàng với đủ khí giới đao thương như muốn ngăn cản các âm-hồn không cho xâm-nhập tới lộ-trình của đám tang.

Khi tới nghĩa-trang, bọn phường tuồng lại đọc chú vẽ bùa làm phép chung quanh ngôi huyệt. Họ múa, hát, đi quanh huyệt năm bảy lần. Vai thần Hổ nhảy xuống huyệt, gầm thét vờn trước vờn sau.

Những đám tang có phường tuồng dẫn đường trị huyệt, huyệt phải đào rất sâu và phải đào tam-cấp nghĩa là có ba bậc để thần Hổ và các Thiên, tướng làm phép bùa trấn-áp.

Bọn phường tuồng sau khi dẫn đường trị huyệt một đám tang, lúc trở về phải chia nhau năm người đi năm ngả, và không được trở về bằng lối đi, e các ác-thần tà-quỷ đón đường triệt hại. Ngoài ra tay quyết phải luôn luôn giữ chặt cho đến khi về tới nhà.

Người ta thuật truyền có những kép hát, đóng vai trị-huyệt khi trở về sơ-ý, hoặc buông lỏng tay quyết đã bị các tà-thần đánh chết ở dọc đường.

Có nhiều kép hát cẩn-thận, trên đường về đã lột bỏ những mũ mãng giáp trụ mặc lúc ra đi. Và một khi về tới nhà, họ phải vội vàng thay ngay quần áo, rửa mặt bỏ râu để trở thành một người thường như những người khác.

Đoàn phường tuồng dẫn đầu đám tang. Đàn bà trẻ con trong làng đi xem đám xúm quanh bọn họ ngay từ lúc họ mới tự trong nhà ra.

Dân làng cũng vây quanh và khen ngợi chiếc nhà táng hình thuyền bát-nhã đặt trên đòn rồng.

Đòn này đã lắp sẵn ở ngoài cổng xóm, chờ các đô-tùy vào trong nhà khiêng quan-tài.

Chiếc nhà táng rất cầu kỳ làm bằng giấy mầu sặc-sỡ trông mé trên như một ngôi nhà sang-trọng và mé dưới là hình con thuyền. Thợ mã đã khéo-léo làm các cửa sổ bằng giấy trang-kim và gắn trên thành thuyền những hình các linh-vật : long, ly, quy, phượng.

Ngay từ bữa trước, họ đã phải đo theo cỗ đòn rồng để làm cho ăn khớp với thành đòn, và sáng nay trước khi đám tang cử hành chiếc nhà táng đã được mang tới đầu xóm chờ quan-tài khiêng ra.

Người xem đứng đợi đám tang đều khen chiếc nhà táng công-phu và đám tang thật linh-đình.

Đã lâu lắm mới lại có một đám tang to như vậy tại làng Kim-Đôi. Người ta nô-nức kéo nhau đi xem, nghỉ cả công việc và không tiếc thì giờ chờ đợi.

Từ trong nhà bọn phường tuồng đã khởi-hành.

Tiếng khóc vang lên, tiếng trống rung và kèn tang từ trong nhà dội tới.

Đàn bà trẻ con chen-chúc ở trước nhà ông đồ. Họ chờ xem đám tang, và họ sẽ đi theo đám tang tới tận huyệt.

Hàng xóm, hàng phe đã túc-trực sẵn để phụ trách mọi công việc nhà đám nhờ theo tục-lệ trong làng.

IX

Phường tuồng dẫn đường trị-huyệt đi đầu, sau đó là pháp-sư.

Pháp-sư cũng yểm đường trị-huyệt bằng bùa chú của mình.

Đám tang nào cũng có pháp-sư. Chỉ những đám tang long-trọng mới có phường tuồng dẫn đường trị-huyệt.

Pháp-sư đi nghiêm-chỉnh tay cầm cờ phép, vẻ mặt đăm chiêu, miệng lâm-râm tụng-niệm đọc những câu chú.

Liền ngay sau pháp-sư, có hai người vác hai Phương-tướng, tức là hai hình nhân bằng giấy màu sặc-sở với nét mặt dữ-tợn. Hai Phương-tướng này đã được pháp-sư niệm chú hộ phép. Tà-ma quỷ-quái gặp hai Phương-tướng này đều phải tránh xa, nhường đường cho đám tang đi yên ổn.

Sau hai Phương-tướng là một lá thế-kỳ bằng vải trắng chữ đen lồng treo vào một chiếc khung. Hai bên khung lủng lẳng hai chiếc đèn lồng tròn như hai quả bóng có ghi chức tước và địa vị của ông đồ.

Kế tiếp thế-kỳ là minh-tinh do bốn người khiêng. Minh-tinh kết bằng lụa hồng dài tám thước. Minh-tinh giống như biển căn cước của người khuất. Trên tấm lụa minh-tinh có ghi danh-tính địa-vị của ông đồ.

Minh-tinh treo trong một chiếc khung cao bằng tre phết giấy trắng có vẽ màu sặc-sở. Những chữ viết trên tấm lụa minh-tinh, tang chủ phải tính sao để số chữ có thể chia được với bốn, hoặc chia xong với bốn còn thừa lại ba. Theo sự tín-ngưỡng của người mình khi viết những chữ đó, người ta đếm theo bốn chữ « Quỷ Khốc linh thính ». Minh-tinh phải mang một số chữ đủ để tránh chữ cuối cùng không đúng vào hai chữ « Quỷ » và « Khốc », nếu chẳng may chữ cuối cùng rơi vào hai chữ này, tang quyến sẽ gặp nhiều sự không may.

Đi theo minh-tinh là những người hàng xóm, hàng xã mang đối trướng.

Đám tang ông đồ Ngư nhiều đối trướng lắm. Dân làng xem nhìn không chán mắt những bức trướng đủ màu, có dán những mảnh gương tròn óng ánh, hoặc những mảnh giấy trang-kim vàng chói-lọi. Người ta khen ngợi bức trướng này đẹp, người ta ngắm-nghía đôi câu đối kia mỹ-thuật.

Rồi người ta đọc những vế câu đối, những chữ đại tự trên các bức trướng. Văn đã hay, chữ lại tốt, những hàng chữ ca tụng đủ mọi đức tính của ông đồ, đề cao mọi sự nghiệp của ông.

Nhiều đối trướng lắm. Một hàng dài, đi song song hai người một mà mãi không hết. Câu đối của con cháu, câu đối của học-trò, trướng của dân làng, trướng của bạn-hữu.

Hết hàng câu đối, tới một hương-án, trên có bày một bộ đồ thờ thất sự bằng đồng sáng choang. Trầm hương bốc khói, tỏa qua nắp đỉnh, và hai ngọn nến cháy chập-chờn như muốn tắt trước gió ngoài trời.

Hương-án dẫn trước để các thực-án theo sau. Nhiều thực-án lắm. Đây là những chiếc án-thư, trên có để những đồ ăn cúng hương-hồn người quá-cố. Những thức ăn này, lúc đám tang trở về, tang chủ sẽ dùng làm phần biếu các quan viên trong làng và hàng phe, hàng giáp đi đưa đám.

Qua những thực-án, ai cũng khen ông đồ Ngư tốt phúc, sống sao chết vậy, lúc chết vẫn được con cháu, học-trò và bạn-bè quý mến như lúc sống, ma-chay linh-đình, cỗ bàn to-tát.

Đây là một chiếc án-thư trên đặt một con lợn quay vàng rộm, mùi thơm phưng-phức như đánh thức dạ-dày của người đi xem đám ; đây là một cỗ xôi gạo nếp cái vừa dẻo vừa ngon, và trên cỗ xôi nằm hiên-ngang một con gà thiến béo ngậy da căng những mỡ.

Rồi những án-thư hoa quả, những án-thư bánh trái. Rất nhiều, nhiều lắm. Phần nhiều những đồ ăn trái quả bày trên các thực-án đều là những lễ viếng của bạn-bè và nhất là học-trò cũ ngày nay đã làm nên danh vọng.

Hết lượt các thực-án, ban nhạc đám dẫn-diệu đi. Cùng với ban nhạc đám hôm nay lại có cả phường bát âm của hàng xã đưa tiễn ông đồ đến nơi an-nghỉ cuối cùng.

Tiếng trống kèn của ban nhạc hòa hợp nên một điệu buồn thảm, nhắc cảnh đau thương tử-biệt. Tiếng trống lẫn tiếng kèn, thợ trống trước thợ kèn. Trong khi người thợ kèn phùng má trợn mép, vừa đi vừa thổi những điệu kèn « tò e tĩ ỏi » thì người thợ trống cũng luôn tay dùi, lựa cho tiếng trống ăn với tiếng kèn.

Những hồi kèn trống dứt, là điệu bát-âm ai-oán nổi lên. Dân làng muốn tiễn đưa ông đồ trong tiếng đàn tiếng sáo, nhưng đàn sáo đây phải nhiễm màu tang-tóc đau-thương.

Phương bát âm đi ! Họ đi trước hai người vác hai chiếc đan-biển mang hai chữ « Trung-tín » để biểu tả lòng trung-thực của người khuất.

Liền sau hai đan-biển là chiếc linh-xa, trên có bát hương tỏa khói nghi-ngút, trước một tấm hình thô-sơ trong y-phục chững-chạc của ông đồ.

Gió rung tấm lụa linh-xa. Khói hương uốn theo gió nhẹ.

Bốn người khiêng chiếc linh xa đi chậm chậm, vừa đi vừa như cố ý đợi chiếc đòn rồng đi kế sau, do ba mươi sáu đô-tùy khiêng theo mệnh-lệnh người chấp-lệnh. Trên cỗ đòn rồng là chiếc quan-tài gỗ vàng-tâm, cỗ hậu do ông đồ đã sắm từ lúc sinh-thời để khi chết yên-nghỉ trong đó. Phủ lên chiếc quan tài này là chiếc nhà táng hình thuyền bát-nhã màu sặc-sỡ.

Một tấm lụa dài buộc vắt qua nhà táng từ bên này sang bên kia cỗ đòn. Đi liền ngay cỗ đòn, hai người mang hai chiếc phù-phất áp lấy hai bên nhà táng. Hai chiếc phù-phất này sẽ cắm trên mộ ông đồ.

Vinh và Mẫn đầu đội khăn quấn bằng giây chuối, áo tang chống mỗi người một chiếc gậy tre đi dật lùi đằng trước quan-ải. Có nơi thì « cha đưa mẹ đón » nghĩa là khi đưa đám cha thì theo sau áo quan, khi đi đám đưa mẹ thì chống gậy đi lùi đằng trước, nhưng tục làng Kim-Đôi, cũng như phần nhiều các xã tỉnh Bắc-Ninh, dù đám tang cha hay tang mẹ, các con trai cũng đều chống gậy tre đi đón trước áo quan.

Cùng đi lùi trước áo quan, nhưng không chống gậy, đầu chít khăn tang trắng và y phục trắng là Khoan và mấy người học-trò cũ của ông đồ. Khoan là con rể phải đi trước áo quan theo tục lệ, còn mấy người kia là do tình thày trò thâm trọng. Thờ thày cũng như thờ cha mẹ, lúc thày chết, trò cũng mặc tang phục để tỏ lòng thành-kính biết-ơn.

Trông Vinh buồn-rầu lắm. Đôi mắt Vinh sưng mọng lên, chứng tỏ Vinh đã khóc nhiều. Vinh có vẻ mệt-nhọc, hai bên có hai người học-trò của ông đồ sốc cánh để Vinh đi.

Mẫn tuy ít tuổi, nhưng Mẫn cũng đau đớn trước tang cha. Một người học-trò khác đi kèm với Mẫn trong đám tang.

Sau cỗ đòn tới một chiếc màn trắng, gọi là « bạch-mạc » hoặc « phương-du ». Chiếc màn để che cho con cháu ông đồ đi đưa đám.

Bà đồ khóc lăn lộn. Tiệp cũng khóc-lóc như mẹ. Rồi đây chỉ trong vài giờ nữa, ông đồ sẽ được vùi sâu dưới ba thước đất, và âm-dương sẽ hoàn-toàn cách-biệt. Ai là không đau-đớn, ai có thể thản-nhiên trước cảnh tử-biệt của người thân.

Bà con, chị em, họ hàng cũng khóc-lóc đau thương. Tiếng khóc vang dội một quảng đường. Nhiều người đi xem cũng mủi lòng rơi lệ.

Đám tang đi từ từ dần dần, bước một.

Sau chiếc bạch-mạc với con cháu ông đồ là tất cả bạn-bè hàng xóm láng giềng, người quen thuộc, học-trò cũ mới của ông đồ. Nghĩa tử là nghĩa tận, ai cũng muốn đi đưa ông đồ một quãng đường tới nơi an-nghỉ cuối cùng.

Sau cùng là các cụ bà cùng nhau đội một chiếc long-kiều bằng vải vừa đi vừa niệm Phật tụng kinh để cầu cho hương-hồn ông đồ được siêu-sinh tịnh-độ.

Long-kiều là một chiếc cầu vải, có chữ nhà Phật.

Những người theo Phật giáo, các bà già đi quy, lúc chết được các bà già đồng-đạo đi đưa, đội chiếc long-kiều có ý muốn cầu chúc cho người chết mau tới cõi Phật.

Các cụ bà vừa đi vừa niệm Phật. Tiếng niệm Phật lâm-râm, nhưng không át nổi tiếng khóc xót-thương của con cháu.

Đám tang đi, đi chậm chậm từ đầu đến cuối, và tạm ngừng khi tới nhà trạm.

Đàn-bà trẻ con đi xem cũng rầm-rộ tiến theo đám tang. Và cũng có những người đàn ông nữa. Đàn ông thì đọc và phê-bình những đôi câu đối, câu nào hay, câu nào nhiều ý-nghĩa, câu nào lắm điển v.v…

Còn đàn-bà thì nghe người nhà đám khóc rồi cùng nhau bàn tán. Nào tiếng khóc của bà đồ thì thảm-thiết, tiếng khóc của Tiệp thì não-nùng, còn tiếng khóc của vợ Vinh thì thờ-ơ. Những tiếng khóc nhạt như nước lã là của các bà cô bà dì, chỉ có chiều dài chẳng có chiều thương.

Trẻ con chạy theo đám phường tuồng dẫn đường để xem họ hát và nhảy múa. Chúng cùng nhau cũng chỉ trỏ như người lớn.

Có nhiều đứa chăm chú vào chiếc nhà táng, dự-định lát nữa tới mộ, chúng sẽ cướp lấy những mảnh giấy đẹp, những cánh cửa trang kim, những chiếc hoa ngũ sắc, và tất cả những chiếc dua đang rung-rinh theo đà bước của bọn đô-tùy.

Đám tang tiến tới nhà trạm.

Trong lúc đám tang dẫn diệu đi, tang-gia thuê những người gánh theo nước uống để các người đi đưa đám có khát thì dùng. Thỉnh thoảng lại có người nhà bưng cơi trầu tới mời từng người.

Đám tang đã tới nhà trạm. Có một người nhà mang theo một gánh những thỏi vàng hồ để rắc ở dọc đường cho các tà-thần, ma, quỷ chia nhau.

X

Nhà trạm cất lên ở giữa đường từ nhà đến huyệt. Đây là một ngôi nhà nhỏ mới cất lên bởi tang gia. Nhà bằng tre vách nứa lợp lá, nhưng đã được trang-hoàng rất xứng-đáng với đám tang.

Chung quanh vách, bên trong nhà đều căng vải mới. Bên ngoài có cắm cờ ngũ sắc và treo đèn kết hoa.

Ở giữa nhà có đặt bài-vị của ông đồ, trong đó có hai chữ thần chủ thì chữ chủ mới có ba nét như chữ tam.

Ông Tiên-chỉ làng Kim-Đôi, một vị hưu quan có danh tiếng đã được tang-gia mời tới để làm đề-chủ.

Trong nhà trạm có sẵn trầu nước, điếu thuốc để mọi người đưa đám tạm dùng trong lúc nghỉ-ngơi.

Cỗ đòn rồng ngừng ngay trước nhà trạm. Tiếng khóc vẫn không ngừng.

Người nhà tang chủ thận trọng mời mọc mọi người đưa đám vào trong nhà trạm hút thuốc sơi nước. Những người nào không vào nhà trạm đã có người mang cơi giầu bình nước tới tận nơi mời. Tang chủ thật đã chu-đáo.

Ông tiên-chỉ giữ vai đề-chủ đã có trước ở trong nhà trạm.

Việc mời đề-chủ để viết trọn chữ chủ chỉ thấy có trong những đám tang long-trọng, nhất là của các tay văn-tự.

Người đứng đề-chủ phải là một vị quan đang tại chức hoặc một vị hưu-quan nhưng đã đỗ đại khoa. Vị này chỉ lấy bút mực chấm chữ tam thành chữ CHỦ, nghĩa là phải chấm một nét trên đầu và xổ một dọc thẳng ở dưới.

Đề-chủ có một người phụng-chủ phụ-tá. Người phụng-chủ này bưng bài-vị người chết từ bàn thờ tới chỗ ông đề-chủ ngồi, đợi ông đề-chủ viết xong lại mang bài vị trở lại bàn thờ.

Ông đồ Ngư là một tay văn-học, lại là thày học có nhiều học-trò đã làm nên, bởi vậy dù tang-chủ muốn giản-tiện cũng không được, các học-trò muốn đám tang thày được linh-đình với đủ mọi lễ-nghi để tỏ lòng biết ơn đối với thày. Mọi sự tốn kém các trò cũ mới đều chia nhau chịu.

Lễ-vật đối với vị đề-chủ rất sang-trọng. Thường thường ngoài tiền nong và lễ-vật riêng, vị đề-chủ được hưởng hết những vải lụa căng quanh vách trạm, những đồ-đạc bàn ghế bày trong nhà trạm.

Lễ đề-chủ rất long trọng. Ông tiên-chỉ trịnh trọng cầm bút chấm mực, thoạt đầu chấm nét trên đầu rồi vạch nét xổ.

Tang-chủ, các bạn-hữu ông đồ và cả những học-trò của ông đồ đều xúm quanh vị đề-chủ để xem vị này viết xong nét chấm và nét xổ cho chữ CHỦ.

Sau đó vị phụng-chủ lại bưng bài-vị trở lại bàn thờ.

Tang-chủ cám ơn hai vị đề-chủ và phụng-chủ, một lần nữa mời mọi người ăn trầu, hút thuốc và uống nước, trước khi đám tang lại tiếp-tục diễn-hành.

Đám tang thẳng phía nghĩa-địa làng tiến tới.

Phường tuồng dẫn đường vẫn đi đầu với lũ con trẻ rất đông chạy theo từng bước. Những lá cờ, những câu đối, những bức trướng phấp-phới bay. Tiếng trống tiếng kèn, nhạc bát-âm hòa điệu cùng tiếng khóc.

Mặt trời đã lên cao. Ánh nắng rung-rinh phản chiếu trên những mặt kính, trên những tờ trang-kim long-lanh của chiếc nhà táng đang chầm chậm tiến theo bước của bọn đô-tùy.

Các cụ bà đội long-kiều mồm không ngớt niệm Phật, cầu kinh.

Đám tang đi bước một, nhưng thủng-thẳng cũng đã tới huyệt.

Bọn phường tuồng nhảy vào huyệt múa hét. Vai thần Hổ chồm lên, bước xuống ngửi từ phía huyệt như tìm kiếm tà-ma.

Các Thiên tướng đi chung quanh huyệt vừa múa vừa hát những câu bùa trấn-áp.

Sau khi nhảy múa hò-hét một lúc bọn phường tuồng cả năm người đều vội-vã bỏ ra về, mỗi người đi mỗi ngã, không ai trở về lối đã đi.

Bọn đô-tùy cũng vừa khiêng đòn tới huyệt. Họ từ từ hạ cỗ đòn theo hiệu của người chấp-lệnh rất điều-hòa ngay-ngắn.

Bây giờ là lúc phải làm lễ Thổ-thần tại nơi cất mộ.

Đồ lễ cúng Thổ-thần gồm có gà xôi vàng mã. Vị pháp-sư tụng niệm khấn vái, cầu xin với Thổ-thần cho linh-hồn người chết được nương-tựa nơi đây.

Cùng trong lúc ấy, người nhà tang-chủ mang hương tới cắm tại những ngôi mộ ở chung-quanh như có ý để vong-hồn ông đồ làm thân cùng vong-hồn những người đã khuất trước.

Sau đó là lễ hạ-huyệt. Lễ hạ-huyệt cũng có văn-tế riêng.

Những người đô-tùy nâng chiếc nhà táng đặt sang một bên. Chiếc nhà táng sẽ bị hỏa-thiêu để biến thành nhà ở cho ông đồ dưới cõi âm, nhưng cũng như thường xẩy ra, khi hàng giáp mang nhà táng ra đốt, các trẻ em xô nhau vào cướp từng mảnh : đứa này được cái cửa nhà, đứa kia được mảnh giấy sặc-sỡ có dán mấy mảnh kính tròn, đứa thứ ba được cái cuốn góc nhà v.v…

Người ta cũng ngăn cấm chiếu-lệ, và một chiếc nhà táng chỉ cháy được một phần, còn đều bị lũ trẻ nhỏ chia nhau cướp hết. Người ta tin rằng lấy những giấy nhà táng của những đám tang ông già bà lão thì được khước bởi vậy ít có đám tang giữ chiếc nhà táng được hoàn-toàn hỏa-thiêu.

Khi những người đô-tùy nâng chiếc nhà táng đi, còn trơ trên đòn rồng chiếc áo quan sơn son thiếp vàng, đầu và đuôi có khắc chữ thọ. Trên mặt áo quan những ngọn nến đang cháy dở, có ngọn đã tắt, nhưng nhiều ngọn khác mặc dầu ra trước gió vẫn leo-lét cháy. Giữa mặt áo quan là bát cơm bông với quả trứng luộc đã bóc.

Cả bát cơm lẫn quả trứng đều có người bưng lấy ngay. Theo sự tin-tưởng xưa nay, cơm bông này có thể chữa được bệnh sài mòn cho con trẻ. Trong đám tang hay có những người tới nhắc bát cơm bông lấy về chữa bệnh cho con.

Sau lễ cúng Thổ-thần, những người đô-tùy cởi thừng chăng chiếc áo quan vào đòn, khiêng để hạ-huyệt.

Lúc này bà đồ kêu gào thảm-thiết, và Tiệp cũng rầm-rì khóc. Thôi từ đây thật là cách biệt kẻ âm người dương.

Bà đồ lăn cả xuống huyệt, phải có người kéo lên. Bộ quần áo tang của bà lấm-lem màu đất. Tóc bà rũ-rượi, đôi mắt bà sưng mọng.

Tiệp cũng lăn-lộn thương cha. Nàng như muốn ngăn những người đô-tùy không cho chôn xác cha. Người ta phải kéo nàng ra, cũng như kéo bà đồ sang một bên mới hạ-huyệt được chiếc áo quan của ông đồ.

Chiếc áo quan sơn đỏ của ông đồ từ từ hạ xuống nhờ mấy sợi giây thừng bắt ngang và do mấy người đô-tùy vừa buông dần dần xuống.

Pháp-sư lại tụng-niệm một hồi nữa. Tiếng kèn trống lại vang lên ở nghĩa-địa.

Sau hồi tụng-niệm, những đống đất cao ở hai bên huyệt được cào xuống, và dần dần, một sẻng đất lại một sẻng đất, một nhát cuốc lại một nhát cuốc, ngôi mộ được đắp xong. Nấm mộ đã cao cao. Những đô-tùy đi đánh thêm những vừng cỏ đặt phủ lên mộ.

Trên đỉnh mộ hai chiếc phù-phất được chống chéo vào nhau.

Bà đồ và Tiệp lại khóc-lóc lăn-lộn trên mồ. Người nhà phải đỡ bà đồ và Khoan phải vào kéo Tiệp ra.

Khoan bảo vợ : « Thôi em, đằng nào thày cũng chết rồi, thày được mồ yên mả đẹp thế này là tốt, em khóc-lóc làm gì quá, lăn-lộn làm gì nhiều, thày có sống lại được đâu ».

Một nắm hương đốt cắm trên đỉnh mộ.

Bây giờ làm lễ thành-phần, tức là lễ hoàn-tất ngôi mộ.

Tang-quyến lần-lượt đưa nhau vào lễ trước mộ, mỗi người hai lễ rưỡi. Sau tang-quyến là học-trò ông đồ, rồi tới bạn-bè thân-thuộc. Ai cũng vào lễ để từ-biệt cùng người khuất.

Cũng như ở nhà Vinh, Mẫn và Khoan lại đứng đáp lễ những thân-bằng cố-hữu.

Sau cuộc lễ, người ta lại đặt bài vị trên linh xa để khiêng ra về.

Tiếng kèn trống nghe buồn tênh. Lúc này người đi xem đã về hết, chỉ còn lại một số người đi đưa đám.

Họ lặng-lẽ ra về. Cùng tiếng kèn trống uể-oải và một vài tiếng khóc mỏi-mệt của bà đồ và của Tiệp.

Ông đồ đã ra người thiên-cổ, để lại xót-thương cho con cháu.

XI

Linh-xa ông đồ đã khiêng về tới nhà.

Hàng thôn, hàng giáp, dự cuộc đưa đám cũng lần lượt về dần.

Câu đối trướng lại được treo lên vách.

Bài-vị ông đồ được đặt lên bàn thờ đã kê sẵn từ trước dành để thờ ông cho đến ngày giỗ hết.

Những trai-tráng trong thôn, trong giáp đã phụ-trách trong công việc đưa đám ông đồ, sau một tuần nước cũng ra về.

Chấp-lệnh và đô-tùy khiêng đòn đã rở cỗ đòn đầu rồng cất vào nhà đòn hàng xã.

Đám táng hầu như đã xong.

Giờ đây, tại nhà đám, có lễ « tế ngu » tức là một cuộc tế để cầu nguyện cho linh-hồn người khuất được yên-nghỉ bình yên.

Lại tiếng kèn, tiếng trống, tiếng khóc của tang-gia.

Lễ tế ngu xong khách-khứa không còn ai, chỉ còn lại những người trong tang-quyến.

Nhà cửa như vắng-vẻ, mối đau buồn như muốn lan-tràn rộng hơn và ăn sâu vào tâm-hồn mỗi người.

Thỉnh-thoảng cũng còn một đôi người khách phương xa tới viếng, trống kèn lại rung lên và tiếng khóc lại rầu-rĩ kể-lể nỗi nhớ thương của những người còn sống.

Buổi chiều hôm đó, lúc bữa cơm, con cháu làm lễ dâng cơm lên hương-hồn ông đồ.

Bà đồ khóc-lóc sới cơm đặt lên bàn thờ chồng. Bà run-run vì đau đớn, bà tê-tái vì nhớ thương. Bữa dâng cơm này, bà đồ đã cho nấu nướng những món ăn khi sinh-thời ông đồ ưng-ý. Các con cháu vẫn khóc-lóc theo điệu trống kèn.

Và cả đám học-trò cũng lại có người có mặt để lễ thày. Bữa cơm chiều xong, Vinh, Khoan và mấy người nhà trở ra mộ ông đồ để ấp-mộ nghĩa là đem tình thân quyến lại cho ngôi mộ đỡ lạnh-lùng.

Việc ấp-mộ thực-hiện luôn trong ba ngày sau đám tang. Mỗi buổi sáng và mỗi buổi chiều con cháu ông đồ đều ra viếng mộ, thắp hương cắm lên mộ, và mỗi ngày đều cuốc đất chung-quanh đắp cho mộ thêm to.

Trong mọi đám tang thường thường sau lễ tế ngu, tang-chủ trả tiền cho phường kèn trống ra về, nhưng đám tang ông đồ là một đám long-trọng, nên ngoài lễ tế ngu, gọi là sơ-ngu còn lễ tái-ngu và lễ tam-ngu nữa.

Lễ tái-ngu cử hành ngày hôm sau, và lễ tam-ngu cử hành ngày thứ ba sau ngày đưa đám.

Trong những cuộc tế sơ-ngu, tái-ngu và tam-ngu, ngoài tang gia, học-trò ông đồ cũng có mặt đông lắm.

Luôn trong ba ngày, mỗi khi tới giờ cơm, bữa sáng cũng như bữa chiều lại có lễ dâng cơm.

Và chiều ngày thứ ba, sau bữa dâng cơm cuối cùng Vinh, Khoan, Mẫn và một số các người nhà cũng ra mộ để ấp-mộ lần chót.

Hôm nay, mộ được đắp kỹ-lưỡng lắm, vì từ đây chỉ tới những ngày mồng một hoặc ngày rằm người nhà mới lại đi thăm mộ.

Tang-lễ được kể như chấm dứt.

Sáng ngày thứ tư cảnh nhà ông đồ thật là buồn vắng. Trên bàn thờ mùi hương như nhắc nhở lại mọi hình ảnh cuộc sống đã qua của ông đồ. Hương hồn ông như hình phảng-phất đâu đây.

Người sống còn luyến thương người chết, tất nhiên người chết dù có qua cõi Phật cũng không mỗi lúc hết ngay sự quyến-luyến với người thân.

Bà đồ buồn-bã ít nói. Ngày ngày thắp hương ở bàn thờ nhìn lên tấm ảnh thô-sơ của chồng bà lại òa khóc.

Ôi ! mấy chục năm chung sống, giờ đây chỉ là dĩ-vãng. Ngọn gió hiu-hiu lung-lay khói hương đang bốc tỏa. Mùi hương ngào-ngạt, ngọn nến trên bàn thờ le-lói. Phải chăng hương-hồn ông vẫn về để nhận cơm canh vợ con thường dâng ! Phải chăng hương-hồn ông đồ chưa thể lìa khỏi nhà mình vì tình quấn-quít với vợ con. Cảnh nhà càng hiu-quạnh. Bà đồ càng buồn. Lắm lúc nhìn Mẫn bâng-khuâng ngó lên bức ảnh cha trên bàn thờ, lòng bà đồ càng se lại. Mẫn còn thơ dại lắm, đã biết chi đâu, ấy thế mà đã mồ côi, tang tóc.

Nghĩ lại lúc ông đồ lâm-chung, nghĩ lại những lời trối-trăng của chồng, bà đồ không thể cầm được giọt lệ. Chết đi ông đồ vẫn như chưa yên-tâm vì đứa con thơ. Ông đã căn-dặn mọi người phải săn-sóc Mẫn. Ông đã giao phó cho Khoan nhiệm-vụ dạy bảo Mẫn học-hành.

Nghĩ tới Khoan bà lại liên-tưởng nghĩ tới Tiệp, Tiệp thật là ngoan-ngoãn. Trông nét mặt thật là hiền-hậu, vậy mà cũng chẳng gặp may-mắn gì. Cả đời chỉ có một việc vui-mừng trọng đại nhất là lấy chồng thì nàng lại cưới chạy tang. Chẳng hiểu sau này, đời nàng có được sung-sướng không, hay đã không may trong việc cưới, nàng sẽ gặp nhiều không may khác trong tương-lai.

Ngày hai buổi bà đồ thắp hương khấn chồng. Bà không quên những sở-thích thường ngày của ông, nên trong những buổi thắp hương bà vẫn dâng cúng ông những món ăn xưa ông ưa-thích, bà vẫn pha thứ trà xưa ông hay dùng.

Sống ở trong nhà vợ hầu con hạ, nay thác đi trên nấm mộ lạnh-lùng ngoài nghĩa-địa ai là người săn-sóc cho ông. Thật là cô-quạnh, thật là lạnh-lẽo ! Bà đồ lại càng buồn.

Vinh thấy mẹ buồn thường khuyên giải. Nghĩa tử sinh sống gửi thác về, ai không phải chết. Mặc những lời khuyên-giải bà đồ quên làm sao được những ngày chung sống với chồng.

Cũng có hôm Tiệp thắp hương khấn cha thay mẹ và anh. Nàng cũng nhìn ảnh cha, nàng cũng đau-đớn nhưng nhờ mối duyên mới, nỗi đau khổ cũng đỡ được phần nào.

Từ ngày ông đồ chết, Tiệp vẫn đi về đằng nhà chồng hoặc ở nhà mình.

Thực ra bà đồ cũng muốn Tiệp thỉnh thoảng lui tới nhà mình cho đỡ hiu-quạnh, nhưng bà vẫn luôn nhắc Tiệp phải về nhà chồng để cho tròn bổn-phận nàng dâu.

Tiệp về nhà chồng thấy lạ-lùng bỡ-ngỡ nhất là những lúc Khoan đi vắng. Ở đây nếp sống khác hẳn ở nhà nàng, nhưng nàng bao giờ cũng tỏ ra khéo-léo đối với bố mẹ chồng cũng như đối với Khoan.

Thường khi nàng nói chuyện với bà đồ, bà đồ vẫn dạy bảo nàng mọi cách ăn ở đối xử với nhà chồng cho phải đạo và đúng theo nền nếp của con nhà có giáo dục.

Học-trò của ông đồ nghỉ học trong ít lâu thì Khoan lại tuân di mệnh ông đồ tiếp-tục việc dạy bảo các đàn em.

Học lực của Khoan đã cao, nên chỉ có mấy anh học-trò lớn như Đáp mới nghỉ học, còn phần đông các trò bé khác vẫn đi học đông như cũ.

Khoan vẫn dạy học ở gian phòng học trước, và vẫn với những sách của ông đồ để lại.

Mỗi lần lui tới nhà học, Khoan lại nhớ tới cha vợ, với nét mặt nghiêm khắc nhưng đầy phúc-đức. Khoan không bao giờ quên được lòng thương của ông đồ đối với mình, và chính cũng vì lòng thương ấy mà mối lương-duyên giữa chàng và Tiệp thành-tựu. Chàng nguyện sẽ ăn-ở sao cho xứng-đáng với đạo-đức của ông đồ cũng như xứng-đáng với sự tác-thành của ông.

Đối với Mẫn, Khoan đặc biệt săn-sóc, theo rõi cho Mẫn học.

Nhờ lớp học, ban ngày bà đồ cũng thấy nhà đỡ vắng-vẻ, và thỉnh-thoảng bà cũng ngó qua lớp học để nhìn thấy gương mặt sáng-sủa của các trò nhỏ như muốn nhớ lại dĩ-vãng thời xa xưa khi bà cũng còn là cô đồ như Tiệp ngày nay.

Và Tiệp những khi trở lại nhà mình cũng thỉnh-thoảng ghé vào lớp học.

Vẫn những « chi hồ dã giả », vẫn những giọng ê-a như ngày xưa, chỉ khác ngày nay ông đồ không còn đây, và trên chiếc sập gụ của ông đồ ấy là Khoan.

Khoan cũng áo the khăn lượt, cũng vẻ mặt nghiêm-trang như cha vợ xưa. Ngày ngày chàng dạy bảo lũ trò nhỏ, và không bao giờ chàng quên trau-dồi học-thức riêng cho mình.

Khoan nghĩ tới ngày « vãng anh đi trước, vãng nàng đi sau ».

XII

Thật đúng, như ta thường nói sống lâu mà chết chóng ! Thời gian thấm-thoát trôi qua rất mau lẹ. Kể từ ngày ông đồ nhắm mắt, tang ma xong chẳng mấy chốc tới ngày rằm đầu tiên, rồi lần lần rằm này qua, mồng một đến thoi đưa vùn-vụt đã tới tuần tứ-cửu.

Ngày rằm đầu tiên, bà đồ cho sửa lễ trịnh-trọng để cúng chồng. Cúng ở nhà rồi lại cúng ở mộ. Bà đồ lại khóc-lóc đau-đớn, và Tiệp cũng lại than-van kể-lể.

Mới có mấy ngày, nghĩa vợ chồng, tình ruột thịt phải đâu dễ khuây trước cảnh đau buồn tử-biệt.

Rằm trước rồi đến rằm sau qua ngày mồng một. Mỗi lần mồng một hay rằm, nhà bà đồ đều có lễ cúng ông đồ, và có mời sư tới tụng kinh cầu nguyện cho vong-hồn ông.

Trong những buổi lễ này, ngoài người nhà cũng có một số học-trò tới cúng thày, chia nhau ra thăm mộ thày.

Thỉnh-thoảng, một người bạn quen ở xa, một người học-trò cũ đang trọng-nhậm tại một nơi sơn cùng thủy tận nào được tin tới viếng lại là một dịp để bà đồ kể-lể nỗi thương đau.

Trước nỗi buồn của bà đồ, khách viếng không khỏi mủi lòng. Người bạn cũ nhắc lại sự thân-mật, tình liên-lạc giữa mình với ông đồ, và bao nhiêu kỷ-niệm cũ được nói tới để khen ngợi người đã khuất và để an-ủi người còn sống.

Còn các học-trò cũ, nhờ ông đồ tác-thành, mà lúc ông đồ trăm tuổi lại không được dự lễ tang tống chung, ai nấy đều ân-hận. Họ lễ trước bàn thờ thày, họ nhờ người nhà bà đồ đưa ra mộ để họ được lễ mộ thày, đắp thêm một nắm đất, cắm một nén hương.

« Nhất tự vi sư, bán tự vi sư » huống chi ông đồ đã dạy họ suốt ngày này sang ngày khác, rèn luyện để cho họ nên người !

Ngoài những buổi có khách hoặc học-trò cũ của ông đồ tới viếng, cuộc sống ở nhà bà đồ luôn luôn đượm vẻ u buồn, và những buổi chiều tà, những đêm vắng lặng, bà đồ lại càng nhớ thương chồng, và rất nhiều lúc bà không sao cầm được giọt lệ.

Cảnh nhà hiu-quạnh càng hiu-quạnh thêm, trong những lúc Tiệp về nhà Khoan, trong lúc người nhà phải ra đồng để trông nom ruộng mạ, săn sóc lúa ngô.

Cuộc sống bình-thường sau đám tang bắt buộc phải trở lại.

Bà đồ nhiều lúc như chán-nản, không muốn trông nom lấy việc nhà, giao mọi quyền cho vợ chồng Vinh.

Bà chỉ ngày ngày quanh-quẩn trong nhà lo đèn dầu hương nến bàn thờ chồng. Có những lúc bà ngắm ảnh ông đồ rất lâu trên bàn thờ rồi òa lên khóc.

Vinh cũng như Tiệp luôn luôn an-ủi mẹ.

Tuần tứ-cửu của ông đồ đã tới.

Tứ-cửu là bốn chín ngày sau đám tang. Những người theo đạo Phật thường nhân ngày này làm chay để cho hương-hồn người chết được siêu độ. Trong buổi lễ, bài-vị người chết được mang tới chùa làng. Ở đây, các vị sư tụng kinh sám hối để cầu xin Đức Phật tha-thứ cho mọi tội lỗi của người qua.

Lễ tứ-cửu của ông đồ được cử-hành long-trọng.

Bà đồ muốn vong-hồn chồng được ăn mày nương cửa Phật, và các học-trò đều muốn dự phần trong buổi lễ tứ-cửu của thày.

Ngoài lễ trên chùa, trong nhà cũng làm cỗ bàn để mời dân xã, nhất là những người đã giúp đỡ trong đám tang hoặc đã phụ trách một công việc gì trong buổi đưa đám. Tình đoàn-kết trong dân xã bao giờ cũng có, và sự giúp đỡ của dân làng trong những lúc hoạn-nạn tang ma thật là quý-báu. Nhân ngày tứ-cứu, nhà bà đồ làm cỗ để mời họ hàng làng nước như để tạ ơn mọi sự giúp đỡ trong buổi tang.

Cỗ ở nhà, cỗ ở trên chùa.

Trên chùa là cỗ chay mời thân-bằng cố-hữu cùng các cụ bà đã đội long-kiều và tụng kinh hôm đưa đám ông đồ.

Ngay từ buổi sáng, bài-vị ông đồ đã được đưa lên chùa. Người nhà chia nhau túc-trực ở chùa để tiếp khách và để sửa lễ cúng theo lời chỉ dẫn của các vị sư.

Sau khi lễ-vật đã bày đủ, các vị sư, đúng là bảy vị cùng nhau đọc kinh sám hối. Người nhà luôn thay phiên nhau vào lễ Kinh.

Các khách-khứa, con cháu và học-trò lần lượt vào lễ Phật lễ Kinh rồi lễ cả bài-vị của ông đồ.

Bọn học-trò nam hôm đó có mặt cả Thúc, và trong bọn học-trò nữ thì có Thảo và Hoài. Tiệp trông gầy đi, nhưng trong cái gầy mảnh-rẻ, nàng càng có duyên hơn và vẻ đẹp càng như quyến-rũ. Đôi mắt long-lanh lệ, trông nàng càng xinh hơn với dáng điệu êm-ái dịu-dàng xưa nay.

Tiệp đưa các cô bạn vào lễ.

Hoài nói : « Trong chị gầy đi. Chắc chị lo nghĩ nhiều ».

Tiệp đáp : « Em thương thày em lắm. Lắm lúc em tưởng như thày em còn sống ».

Thảo hỏi : « Chị đã về đằng nhà anh Khoan chưa ? »

- Em vẫn khi đi khi về. Đẻ em độ rày buồn, nếu em ở lại luôn đằng kia, nhà vắng vẻ, đẻ em càng buồn thêm.

Lễ Phật, lễ Kinh xong hai cô vào lễ bài-vị ông đồ.

Đứng trước bài vị thày học, Hoài nhớ thày hơi rơm-rớm lệ. Tiệp cũng thấy nước mắt tự trào ra.

Từ lúc đến chùa, Thúc vẫn để ý đến Tiệp. Tuy chàng cũng lễ các bàn thờ như những người khác nhưng mắt chàng thường hướng về phía Tiệp. Chàng thấy Tiệp đủ mọi vẻ đẹp, người yểu-điệu thanh-thoát, điệu-bộ duyên-dáng dịu-dàng, lời nói hiền-từ khả-ái. So-sánh, chàng thấy Tiệp hơn Thảo nhiều quá. Chàng tự nghĩ nếu Tiệp là vợ chàng có phải cuộc đời chàng đầy-đủ hạnh-phúc biết bao nhiêu !

Tiệp biết Thúc vẫn nhiều theo mình nên vẫn cố ý tránh tầm mắt của Thúc. Tự nhiên nàng thấy sợ Thúc vô cùng. Có Thảo đấy mà Thúc vẫn cứ nhìn theo nàng. Nàng tránh tầm mắt của Thúc, nhưng Thúc lại cố tìm cớ để tới gần nàng. Thật là khó xử. Ngộ Thảo hiểu lầm thì thật là một điều phiền.

Nàng bảo Thảo : « Anh chị sống với nhau sung-sướng nhỉ ! »

Thảo cười nói : « Vợ chồng mới, ai chẳng vậy, cứ riêng gì em ».

Tiệp nói : « Ấy thế mà em khác, em chưa sống hẳn bên đằng nhà em. Đẻ em bảo hết tuần tứ-cửu này của thày em, em sẽ về ở hẳn bên đó ».

Khách-khứa càng đến đông. Tiệp và mấy cô học-trò chia nhau ra tiếp khách mời giàu nước. Trong lúc ấy, Vinh và Khoan vẫn đứng đáp lễ ở bên bài-vị ông đồ, thỉnh-thoảng mới chạy ra.

Tiệp đang mải với các khách, bỗng Thúc tới cạnh. Thúc bảo nàng : « Chắc chị Tiệp ghét tôi lắm nhỉ ? »

Tiệp không nhìn lên đáp : « Xin anh đừng nghĩ vậy. Tôi chẳng để ý gì cả. Dứt lời, nàng bỏ đi chỗ khác ».

Sau mấy tuần kinh, các khách-khứa ở lại chùa dùng cơm chay, cho đến gần chiều ai nấy mới ra về.

Ở lại chùa chỉ còn tang-quyến lo dọn-dẹp.

« Lùi
Tiến »