Ngày Cuối Trong Đời Socrates

Lượt đọc: 152 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Socrates ngày cuối trên trần gian
quá khứ mơ hồ

Trong lịch sử nhân loại kể từ khi con người xuất hiện trên trái đất đến bây giờ, trong quá trình sinh hoạt tư tưởng, xem ra rất ít dân tộc vượt khỏi tình trạng huyền thoại, truyền thuyết, dị đoan, và có lẽ có thể nói không dân tộc nào có khả năng phát triển triết lý chân thực trừ dân tộc Hy-lạp ở vùng đất Nam Âu. Không những đặt nền móng để tư tưởng Tây phương phát triển như cây nhiều cành mà họ còn hầu như đề xướng mọi vấn đề, đồng thời giải đáp mọi câu hỏi văn minh châu Âu đã sử dụng làm nền tảng gần ba ngàn năm vừa qua. Triết lý của họ là khuôn mẫu tiêu biểu cho thấy tình trạng phát triển tiệm tiến về suy tư của con người từ khởi thủy huyền thoại đơn thuần, truyền thuyết mơ hồ tới hệ thống tư duy phức tạp, tường tận. Suy tư độc lập, yêu chuộng sự thật, tinh thần ấy như sóng triều, bão táp thôi thúc các nhà tư tưởng của họ đi sâu, vươn cao, tiến mạnh vào vấn đề liên hệ tới vũ trụ, thiên nhiên, xã hội, con người trong khi đa phần nhân loại còn đang sống trong tình trạng man rợ, bán khai. Triết lý đó là phong trào trí thức bắt nguồn, phát triển trong thế giới Hy-lạp; phong trào đó không những là suy tư của người Hy-lạp, mà còn phô diễn nét vẻ tư duy Hy-lạp và là sản phẩm của văn minh Hy-lạp bừng nở ở Athens, Roma, Alexandria hoặc Tiểu Á.

Dân tộc có nền triết lý rực rỡ, xum xuê nhắc tới sơ lược ở đây trong thời cổ đại cư ngụ trên bán đảo gồ ghề, lởm chởm, diện tích khoảng 132.000km vuông, gồm 26% đồng bằng, 15% rừng rú, 70% núi đồi, 3/4 hướng mặt ra biển, ngày xưa gọi là Hellas, ngày nay gọi là Ellas, ta gọi là Hy-lạp, dân số cả lục địa lẫn hải đảo bây giờ trên 10 triệu, ngày đó tổ chức tách biệt thành thành quốc rải rác chắc hẳn ít hơn, cụ thể là Sparta và Athens, dân số vài trăm ngàn, vùng đất do thiên nhiên đặc thù đã sản sinh giống người tinh thần kiên trì, dũng cảm, tưởng tượng dồi dào, phong phú, với vô vàn hải cảng lớn nhỏ thuận lợi cho việc hàng hải và thương mại, cửa ngõ mở ra dẫn tới vô số hải đảo bên ngoài. Thuộc địa Hy-lạp là chuỗi dài liên tục thiết lập từ lục địa tới bờ biển Tiểu Á mạn đông, Ai-cập mạn nam, đảo Sicile, miền nam nước Ý và eo biển Gibraltar mạn tây. Không xa lìa mẫu quốc, các thuộc địa thừa hưởng đủ thứ lợi ích khi tiếp xúc với các dân tộc tập quán, truyền thống và định chế khác hẳn. Kinh tế tiến bộ, thương mại, kỹ nghệ, giao dịch phát triển, thành phố nảy nở, của cải gia tăng, lao động trải rộng, tất cả đã tác động mãnh liệt và ảnh hưởng sâu đậm đời sống xã hội, chính trị, trí thức, tôn giáo thế giới Hy-lạp, đồng thời mở lối khai đường cho nền văn minh rạng rỡ và mới mẻ. Môi trường thiên nhiên và bối cảnh nhân lực thôi thúc, khích động ý chí và kiến thức; môi trường đó tạo điều kiện cho con người có cái nhìn xa rộng về cuộc đời và thế giới, có tinh thần nhận thức và thái độ suy tư, dẫn tới phát triển bản ngã đặc biệt, tiến bộ đa dạng trên mọi nẻo đường suy tư và hành động của con người. Đối với dân tộc thiên phú có năng khiếu bén nhạy, vi diệu, khao khát trau dồi kiến thức, ý thức tế nhị về cái đẹp, nhận thức cụ thể về thực tế, môi trường đó cung ứng đủ vật liệu để dân tộc đó phô diễn sức mạnh và khả năng, tiến bộ mau lẹ trong địa hạt chính trị, tôn giáo, đạo đức, văn chương và triết học. Sinh hoạt chính trị của các thành quốc trên lục địa và thuộc địa mang đặc tính tương tự: nơi nào cũng thấy tình trạng phát triển từ cơ chế quân chủ phụ quyền kinh qua chính thể quý tộc rồi đi tới chế độ dân chủ. Xã hội thi hào Homer miêu tả trong hai thi tập trường thiên Iliad và Odyssêy là xã hội đẳng cấp, hình thức chính quyền là chế độ quân chủ tộc trưởng. Sở đắc tư hữu và văn hóa trong tay thiểu số dẫn đến việc thiết lập chính quyền quý tộc, và theo thời gian, đưa tới việc khai sinh chế độ quả đầu. Thực trạng xã hội đổi thay, ngoi lên bằng mọi giá, thứ dân bắt đầu tranh giành quyền lực lãnh đạo với giai câp trưởng giả; qua cố gắng táo bạo, liều lĩnh giành giật quyền lực từ tay giai cấp quý tộc, cơ chế độc tài xuất hiện nhiều nơi trong thế giới Hy-lạp suốt thế kỷ VII và VI TCN. Cuối cùng, do ý thức quyền lợi bản thân, nhược điểm của giai tầng quý tộc, quả đầu, độc tài, quy tụ thành lực lượng áp đảo, quần chúng đấu tranh nắm giữ quyền hành, cơ chế chuyên chính tiêu vong, chính thể dân chủ tái lập.

Tình huống vừa kể là kết quả của cuộc bừng tỉnh dân tộc Hy-lạp bắt đầu ý thức sau giấc ngủ triền miên. Phong trào mới sinh vừa là triệu chứng vừa là nguyên nhân của sự trỗi dậy: phong trào là dấu hiệu hé lộ nhận định và phê phán giá trị quá khứ đang phát triển; phong trào tỏ ý phản đối định chế và đòi hỏi canh tân. Lịch sử văn học Hy-lạp trước thế kỷ VI TCN cho thấy tình trạng phát triển của tinh thần nhận định và phê phán tương tự như tinh thần thể hiện trong đời sống chính trị. Nét tươi trẻ, vẻ khách quan, đặc trưng biểu thị dáng thơ ngây của tuổi niên thiếu, Homer miêu tả trong hai thi tập bất hủ biến dạng dần dần; hàng ngũ thi sĩ bắt đầu bớt lạc quan, bớt yêu đời, mà trở nên đăm chiêu, bi quan. Ngay trong Homer thỉnh thoảng ta cũng thấy suy tư về đạo lý trước cung cách cư xử của con người, tính cách xuẩn động, rồ dại của thế nhân, tình trạng nghèo khó, đau khổ của cuộc đời, tình trạng phù du, tạm bợ của kiếp người, tình trạng tồi tệ, xấu xa của bất công, tàn ác. Trong Hesiod (thế kỷ VIII TCN) nét phê phán và điểm yếm thế đậm màu hơn; tác phẩm Ngày và Việc của ông là cuốn sổ tay đạo đức chê trách, chỉ trích thói hư tật xấu của thời đại, đồng thời đề xướng ngạn ngữ đạo lý, nguyên tắc thực tiễn sống ở đời, ca tụng đạo đức truyền thống, tiếc nuối đạo đức ngày xưa thui chột, tàn phai. Giọng điệu châm biếm, thương tiếc thi sĩ thế kỷ VII như Alcaeus (thế kỷ VI TCN) đảo Mytilene, Simonides (566-468) đảo Ceos, Archilochus (650 TCN) đảo Paros thảng thốt mô tả cơ chế độc tài, chê bai con người ti tiện, song thôi thúc con người can đảm gánh chịu số phận, kết quả thế nào để thần linh quyết định. Tinh thần giáo huấn, bi quan vẫn xuất hiện đậm nét trong thi ca thế kỷ VI; đời sống chính trị của dân chúng biến thành đề tài tranh luận, trật tự mới bị chỉ trích thường xuyên hết sức chua cay. Thuộc giai đoạn này là nhà văn ngụ ngôn Aesop (620-560) và nhóm gọi là thi sĩ ngạn ngữ, Solon (638-558) thành Athens, Phocylides thành Miletus, Theognis thành Megara, lời ngắn gọn, kín đáo, bí ẩn tiêu biểu suy tư có tính cách đạo đức có thể xác định như triết lý đạo đức trong thời kỳ phôi thai. Sự thật là, con người bắt đầu phân tích, nhận định cuộc đời, không phải chỉ sống trong cuộc đời, mà suy tư, cân nhắc kỹ lưỡng về cuộc đời, con người không còn bằng lòng góp tiếng nói với quan niệm thông thường và đạo lý quen thuộc của nòi giống, trái lại sẵn sàng đưa ra suy tư và khát vọng có tính cách tôn giáo, chính trị, đạo đức. Bởi thế, tinh thần tìm hiểu, thoát ly nảy sinh, kết quả là do kinh nghiệm tụ đọng lâu dài, phức tạp, dẫn tới tìm hiểu có tính cách triết lý về lối sống của con người trong hình thức lý thuyết về đạo đức và chính trị.

Phát triển tôn giáo cũng theo đường tương tự. Thoạt đầu hình thức thờ cúng thiên nhiên, tôn giáo của người Hy-lạp phát triển thành quan niệm đa thần, sáng tạo xã hội thần linh sống cuộc đời có tính cách lịch sử do hàng ngũ thi sĩ tưởng tượng chung sống với hằng hà xa số thực thể siêu phàm. Trong địa hạt này tinh thần suy tư và phê phán cũng ảnh hưởng, biến đổi tôn giáo thành sức mạnh đạo đức và duy lý. Suy tư về tính tình và cư xử của thần linh, như Homer miêu tả, cộng với ý thức tinh tế về đạo đức khai sinh quan niệm trong sáng về núi Olympus: với đà tiến bộ của văn minh thần linh trở thành đạo đức, Chúa tể (Zeus) quan niệm như thủ lĩnh cầm cân nảy mực đạo đức điều khiển trật tự xã hội siêu phàm, bảo vệ lẽ phải trên trần gian và thiên đình.

Trái lại, quan niệm siêu hình tìm thấy nhận thức trong lý thuyết về thần linh, nguồn gốc cùng liên hệ của thần linh với thần linh, và thần linh với thế giới. Bắt đầu suy ngẫm về huyền thoại truyền thống, con người tự hỏi thần linh xuất hiện như thế nào; cung cách còn ấu trĩ, sử dụng huyền thoại lâu đời như cơ sở suy cứu, con người muốn giải thích sự việc. Chứng tích cổ nhất về phả hệ thần linh là cuốn Thần phả của Hesiod. Thuộc cùng loại văn chương là thần phả của Pherecydes đảo Syros (540 TCN), và nguồn gốc vũ trụ theo tôn phái Orpheus, tín ngưỡng căn cứ vào thần thống, có lẽ thế kỷ VI TCN, song hình thức hiện tại có lẽ là thế kỷ I TCN. Theo Thần phổ của Hesiod xuất hiện trước tiên là Chaos (hỗn mang), tiếp theo Gaia (trái đất), rồi đến Eros (ái thần). Từ hỗn mang nảy sinh u minh (Erebos) và đêm (Nux), u minh kết hợp với đêm sản sinh tinh khí (Ether) và ngày (Hemera). Trái đất kết hợp với bầu trời (Uranos) hạ sinh biển cả, sông ngòi. Tình yêu (Aphrodite) kết hợp với hạt giống của bầu trời sinh ra mưa từ bầu trời đổ xuống gieo rắc sự sống, hạt giống nảy mầm sinh ra vạn vật trong thiên nhiên. Cố gắng như vậy là nhằm giải thích nguồn gốc sự vật, không phải theo đường lối khoa học, hợp lý như ta hiểu ngày nay, song với chất liệu rút ra từ tưởng tượng thi ca và huyền thoại dân gian. Thi sĩ tự hỏi sự vật triển diễn xung quanh bắt nguồn từ đâu, thi sĩ muốn giải thích theo kinh nghiệm thường nhật, như hậu quả của phát sinh tự nhiên hay ý định của con người: u minh kết hợp với đêm sinh ra ngày; trái đất kết hợp với bầu trời sinh ra biển cả, sông ngòi.

Tuy không phải triết học, song thần phả sửa soạn cho triết học nảy sinh. Trong khái niệm huyền thoại đã thấy hiển hiện mầm mống của tư tưởng triết học, ước muốn làm thế nào giải thích, mặc dù yêu cầu bắt nguồn từ ý chí và dễ dàng thỏa mãn bằng hình ảnh do tưởng tượng cung ứng. Thần phả và nguồn gốc vũ trụ biểu thị mức độ tiến bộ đối với huyền thoại; cả hai nhằm hợp lý hóa thế giới huyền thoại, giải thích nguồn gốc thực thể theo quan niệm chung chi phối biến chuyển trong thiên nhiên và thống trị sự cố trong đời sống con người. Dẫu thế ức thuyết vừa kể phần lớn vẫn chỉ là ức thuyết nhằm thỏa mãn tưởng tượng phơi bày trong thi ca hơn là nhận thức thể hiện trong lý luận, và ức thuyết đó kết hợp với sức mạnh siêu nhiên hơn là nguyên nhân tự nhiên. Triết học xuất hiện khi lý luận thay thế hư cảm, trí năng thay thế tưởng tượng, khi chiều hướng siêu nhiên coi như nguyên tắc giải thích bị hủy bỏ, khi dữ kiện cụ thể sử dụng làm căn cứ trong việc nghiên cứu và giải thích. Đó là cố gắng giải thích sự cố liên hệ đến con người và biến chuyển diễn ra trong thiên nhiên theo cung cách bớt chủ quan, bớt định kiến, không liên hệ với huyền thoại dân gian, không vướng mắc bởi nhu cầu thực tiễn. Xuất hiện ở Nam Âu trong thế kỷ VI TCN trong thời kỳ khai sáng, đó là sản phẩm tự nhiên của tinh thần tra vấn biểu lộ trong mọi hình thức cuộc sống tâm linh của người Hy-lạp.

Triết học Hy-lạp bắt đầu với việc tìm hiểu bản chất thế giới khách quan. Thoạt đầu hướng ngoại chăm chú tìm hiểu thiên nhiên, sau đó dần dần hướng nội tìm hiểu con người. Vấn đề đầu tiên là: thế nào là thiên nhiên, và do vậy, thế nào là con người? Vấn đề thứ hai là: thế nào là con người, và do vậy, thế nào là thiên nhiên? Trọng tâm chuyển dịch từ thiên nhiên tới con người dẫn đến việc tìm hiểu vấn đề tâm lý con người: tâm trí con người, cung cách cư xử của con người, tìm hiểu lý luận, đạo đức, tâm lý, chính trị, thi ca. Bước tiếp theo, đặc biệt hơn, chú trọng vấn đề đạo đức: cực điểm của toàn thiện là gì, mục đích và cứu cánh của cuộc đời là thế nào? Đạo đức trở thành đề tài chính yếu; luận lý và siêu hình lui về địa vị phụ trợ để giải quyết vấn đề luân lý, đạo đức. Sau cùng là vấn đề Thượng đế hay Tạo hóa, liên hệ của con người với Thiên chúa hay Hóa công vấn đề thần học, và cũng như lúc bắt đầu, triết học Hy-lạp kết thúc với

tôn giáo.

1. Vấn đề đầu tiên đề cập là thời kỳ tiền biện sư (Sô-phít) kéo dài từ năm 585 đến giữa thế kỷ V TCN. Triết học buổi đầu hướng tới thiên nhiên, đa phần chủ trương vật hoạt luận, quan niệm thiên nhiên sinh hoạt như con người; nghiêng về bản thể, triết học tìm hiểu bản chất sự vật; chủ trương nhất nguyên, triết học lý giải hiện tượng ngoại giới bằng nguyên tắc đơn thuần; có vẻ giáo điều, triết học cho rằng tâm trí con ngưới có khả năng giải quyết vấn đề thế giới. Phát sinh trong bối cảnh cục bộ, triết học giai đoạn bừng nở trong vùng Ionia, đảo Sicile, mạn nam nước Ý.

2. Thời kỳ biện sư, thuộc thế kỷ V, là thời kỳ chuyển tiếp. Suốt thời gian đó thái độ hồ nghi phát triển, không tin trí năng con người có thể giải quyết vấn đề thế giới, đồng thời giảm thiểu niềm tin đối với quan niệm và định thế cổ truyền. Phong trào tỏ vẻ hoài nghi, cực đoan, thách đố, lãnh đạm hoặc phản biện đối với suy tư siêu hình; tuy nhiên, thay vì đi vào đường trừu tượng, lại lớn tiếng kêu gọi chú ý vấn đề con người, đòi hỏi như điều kiện cần thiết, tìm hiểu chi li vấn đề nhận thức, vấn đề đạo đức, phong trào mở đường đi vào thời kỳ Socrates. Athens là quê hương của giai đoạn khai sáng phát triển lần này phong phú gấp bội, nhiều trường phái triết học như hoa mùa xuân nở rộ.

3. Thời kỳ Socrates kéo dài từ 430 đến 320 TCN là thời kỳ tái thiết. Bênh vực nhận thức, Socrates ra sức chống lại thái độ hoài nghi mải miết tấn công, đồng thời chứng tỏ nếu sử dụng phương pháp lô-gíc con người có thể tiến tới sự thật. Ông cũng mở đường cho khoa đạo đức học khi tìm đủ cách định nghĩa chân thiện. Plato và Aristotle thay nhau xây dựng nguyên tắc nhận thức (luận lý học), phẩm hạnh (đạo đức học), và nhà nước (chính trị học) trên nền móng sư phụ đã thiết lập. Hai người cũng khai triển siêu hình học, và giải thích vũ trụ theo tâm trí, lý luận hoặc tinh thần. Bởi thế có thể xác định triết học thời kỳ này là phê phán: nghiên cứu nguyên tắc nhận thức; là duy lý: chấp nhận lý luận có khả năng truy lùng sự thật; là nhân bản: tìm hiểu con người; là lý tưởng hoặc tinh thần: sử dụng trí năng như nhân tố chủ yếu trong việc cắt nghĩa thực tại; là nhị nguyên: công nhận vật chất là yếu tố thứ hai.

4. Thời kỳ cuối cùng kéo dài từ 320 đến 529 SCN mệnh danh thời kỳ hậu Aristotle, năm đó Hoàng đế La-mã Justinian hạ lệnh đóng cửa các trường phái triết học; pháp lệnh ghi: “Từ rày về sau không thần dân nào được phép giảng dạy triết học hoặc giải thích luật lệ ở Athens”. Athens, Alexandria và Roma chịu ảnh hưởng trực tiếp. Hai giai đoạn hiện hình: một đạo đức, một thần học. (a) Câu hỏi nổi trội đối với Zeno (340-265), triết gia khắc kỷ, và Epicurus (342-270), triết gia khoái lạc, là vấn đề luân lý. Con người cố gắng nhằm mục đích gì? Triết phái khoái lạc nói tìm hạnh phúc; triết phái khắc kỷ đáp sống đạo đức. Hai trường phái, một nghiêng về luận lý, một ngả về siêu hình. Trường phái trên, vì ý thức như vậy sẽ thủ tiêu mê tín, ngu muội và góp phần vào hạnh phúc; trường phái dưới, do hiểu biết như thế sẽ giáo dục con người hiểu bổn phận như một phần trong vũ trụ hợp lý. Người theo trường phái khoái lạc là thợ máy; người theo trường phái khắc kỷ là thầy tu, vũ trụ là sự biểu hiện vô biên của lý tính toàn thiện. (b) Phong trào thần học phát xuất từ Alexandria thành hình do triết học Hy-lạp tiếp xúc với tôn giáo Đông phương. Theo thời gian, khi phát triển cao độ, phong trào tìm cách giải thích thế giới như sản phẩm phát xuất từ Tạo-hóa siêu việt hoặc Thượng-đế toàn năng vừa là nguồn cội vừa là mục tiêu của mọi thực thể.

Hiện tại khe khắt

Thế kỷ V TCN. là thời kỳ khai phóng tích cực và thành công rực rỡ khắp địa bàn Hy-lạp. Phấn khởi khi đánh bại xâm lược Ba-tư, tinh thần mới đầy tin tưởng và táo bạo dẫn tới phát triển mau lẹ, bành trướng ráo riết trong mọi mặt đời sống. Tinh thần đó tập trung ở Athens, ngôi trường đào tạo nhân tài cho đất nước, dưới tài lãnh đạo của Pericles, chính trị, thương mại phát triển sung mãn, văn chương, nghệ thuật sinh hoa kết trái rực rỡ; khắp nơi con người hăng say tìm hiểu, đầu óc mải mê vươn tới chân trời kiến thức. Khoảng giữa thế kỷ, khoa học và triết học, từ lâu quấn quyện với nhau, đã bước những bước đáng kể, theo ngôn ngữ ngày nay là đạt mức tiến bộ, nhất là ngành vật lý. Không có dụng cụ chính xác, như kính thiên văn, phòng thí nghiệm, các nhà tư tưởng Hy-lạp chỉ tiến hành công cuộc tìm hiểu bằng quan sát và lý luận; vậy mà họ hầu như đã tiến gần thuyết nguyên tử. Tiếc chăng là khối kinh nghiệm, dữ kiện đó không được phối hợp, điều chỉnh, việc suy cứu, khảo sát lại theo đường hướng khác biệt theo trường phái tư tưởng khác biệt, không chia sẻ, tương trợ, chỉ tin tưởng học thuyết của mình, coi thường lý thuyết của người. Nhiều tiếng nói cất lên, phần lớn mâu thuẫn, tiếng nói nào cũng lôi cuốn, song cực kỳ mập mờ, dân thường không biết tin ai và tin cái gì.

Sinh hoạt trí thức sôi sục, tư tưởng chính trị phát triển đòi hỏi giáo dục tiến bộ. Nhằm thỏa mãn đòi hỏi tự nhiên xuất hiện, giai tầng mới gồm mẫu người xã hội đương thời mệnh danh Sô-phít ra đời, tiếng Hy-lạp sophistés trực nghĩa là người uyên bác, người lo việc hiểu biết, tiếng Pháp le sophiste, tiếng Anh the sophist, từ điển ngoại ngữ của ta dịch nhà quỷ biện, nhà ngụy biện, nhà tu từ. Thay vì thế nếu dịch tôi dịch là biện sư, và nếu dùng tôi dùng hai chữ nghĩa như nhau; nhưng suốt đối thoại tôi dùng chữ Sô-phít phiên âm nguyên tự, vì thiển nghĩ chữ này có giá trị lịch sử mệnh danh mẫu người thời đại. Hơn thế, trộm nghĩ, do giữ vai trò đặc biệt trong văn hóa và triết học, chữ này đương nhiên mang nghĩa đặc thù của nó. Họ huấn luyện học viên đạt mức tuyệt hảo, nổi tiếng có tài biến nói năng kém cỏi, tẻ nhạt thành tốt đẹp, hùng hồn, trao tay nghệ thuật phát biểu trước công chúng, vũ khí hữu hiệu vô cùng, vì mọi chuyện quan trọng đều do hội đồng công dân gồm toàn đàn ông hoặc tòa án bồi thẩm rất đông quyết định. Họ không phải triết gia hoặc nhà khoa học mà chỉ là thầy giáo chuyên nghiệp lang thang đó đây để kiếm sống giảng dạy cung cách phô diễn, biện luận ở hội trường, ở tòa án, ở nơi công cộng sao cho trôi chảy, lưu loát nhằm bảo vệ bản thân, đồng thời thuyết phục người nghe. Trong số họ có người có khả năng thực sự muốn đem kiến thức chia sẻ với đời; ngược lại, có người cổ vũ thái độ hoài nghi, dõng dạc tuyên bố việc gì ở đời cũng có hai mặt, tìm ra giá trị chân thực của sự việc không phải dễ dàng, bởi thế rao giảng khuynh hướng chủ quan, triết lý tương đối. Nhìn chung nhận thức của họ có vẻ nông cạn và vụ thực. Họ nói: “Hiểu biết là điều bất khả, song tôi có thể chỉ cách bạn tận dụng khả năng của mình”. Bởi thế họ nhắm làm thế nào đạt xảo diệu và hiệu quả hơn là nhận thức và đạo đức. Người muốn học phải trả tiền, sự thể khiến triết giới chau mày, dẫu vậy việc làm vẫn diễn ra êm ả và rộng khắp. Tuy thế việc làm lại có mòi hợp lý, nhất là người đời đánh giá cao cái mua mới giá trị, cái cho tầm thường. Tóm lại, lý tưởng đạo đức, tôn giáo thịnh hành xưa kia bây giờ bắt đầu nhường bước cho tư tưởng thực dụng. Bởi thế dân chúng lẫn lộn Socrates với Sô-phít do hai bên thường đặt vấn đề giá trị truyền thống. Nhưng hai bên khác nhau quyết liệt: Sô-phít hay biện sư chủ trương đưa người vào đường tiến tới thành công, trong khi Socrates khẳng định ông chẳng dạy gì; chuyện trò của ông chỉ nhằm khám phá sự thật, làm sao nắm bắt hiểu biết về cuộc đời và giá trị của cuộc đời, theo ông đó là nền tảng cơ bản của cuộc đời tốt đẹp và triết lý tốt đẹp, đối với ông đó là hành trình theo đuổi vừa trí thức vừa đức độ. Bởi đức độ là hiểu biết, bởi sở dĩ làm điều sai trái ấy là chỉ vì con người không biết làm gì tốt đẹp hơn.

Lẻ loi trong cõi người ta

Tình thế đòi hỏi người cất tiếng cấp kỳ, dẫn đưa trật tự ở tình trạng hỗn loạn thời đại đang è cổ gánh chịu trở về với trí thức và đạo đức, sàng lọc cái thực khỏi cái giả, cái cốt lõi khỏi cái bề ngoài, cái chủ yếu khỏi cái tình cờ, xếp đặt con người đúng chỗ, trợ giúp con người nhìn sự việc trong quan hệ đúng đắn, sứ giả hòa bình cầm cân nảy mực duy trì quân bình giữa cực hữu và cực tả. Người đó xuất hiện trong Socrates (469-399), nhân vật vĩ đại, hiếm có trong lịch sử tư tưởng Tây phương, và có lẽ cả Đông phương, cha đẻ trí thức sinh ra chuỗi dài bầy con triết gia, tư tưởng và lý tưởng chế ngự văn minh Tây phương hơn hai ngàn năm và còn tiếp tục ảnh hưởng tư duy nhân loại đến ngày nay, không viết chữ nào để lại cho đời, song đời tưởng nhớ khôn nguôi.

Cuộc đời Socrates dưới mắt người Tây phương đặt ra vấn đề tương tự cuộc đời Giê-su bốn trăm năm sau dưới mắt tín đồ Ki-tô. Không có vụ xử nào, trừ vụ xử Giê-su Ki-tô, gây ấn tượng day dứt trong tâm tư người Tây phương như vụ xử Socrates. Hai vụ gần như tương tự. Không có tường thuật đương thời, ngay cả ám chỉ ngắn ngủi. Không có biên bản, không có hồ sơ tòa án. Không nghe tiếng biện lý khép tội. Người sau biết chuyện là do môn sinh có cảm tình kể lại. Về tiểu sử người sau biết rất ít chi tiết, những gì người sau biết đều là phỏng đoán, phần đúng thì ít, phần sai thì nhiều, muốn dẫn chứng cần cân nhắc hết sức cẩn thận, bởi hầu hết chi tiết đều do Plato cung cấp. Mặt khác, đừng quên Socrates chịu án tử hình là do đa số bồi thẩm quyết định, hội đồng nghị án gồm 500 đàn ông thành quốc bốc thăm lựa chọn. Đương nhiên dưới mắt họ lúc đó hình ảnh Socrates không ngoạn mục như hình ảnh Socrates dưới mắt chúng ta bây giờ. Nhờ Plato người sau có hình ảnh hầu như hiện thực và khả ái. Là đệ tử kính trọng, quý mến sư phụ hơn ai hết, Plato biết và hiểu Socrates nhiều hơn những người kết án ông. Làm sao phủ nhận Socrates là nhân vật chủ chốt trong lịch sử triết học Tây phương? Trước khi bị cáo buộc và hành hình, ông đã sống qua giai đoạn lịch sử Athens và Sparta trở thành đế quốc cường thịnh, hai thành quốc xung đột, chiến tranh Peloponnesos kéo dài, lần thứ nhất từ 460 đến 445, lần thứ hai từ 431 đến 404. Trong cuộc thư hùng lần thứ hai, Athens đại bại, đế quốc tan rã, chế độ quả đầu Sparta nắm quyền cai trị, thường gọi là Ba Mươi Bạo Chúa hay Nhóm Ba Mươi. Chế độ giới hạn, kìm kẹp, kiểm soát gắt gao, công dân không được tự do như thời trước, hàng trăm người bị bức hại, ám sát hoặc tử hình, hàng ngàn người phải lẩn trốn hoặc bỏ nước lưu vong. Nhóm Ba Mươi bị lật đổ năm 403, chính thể dân chủ tái lập. Dĩ nhiên Socrates chịu

ảnh hưởng thời cuộc, đời ông gắn liền với giai đoạn lịch sử rối loạn. Chẳng hạn ông đi lính, chiến đấu trong cuộc chiến Peloponnesos lần thứ hai. Khi cầm quyền Nhóm Ba Mươi ra lệnh quân đội đến nhà một công dân bắt đem đi xử tử, nhưng ông từ chối. Dù bây giờ không tuân lệnh bạo quyền, song trước đây ông là thầy dạy Critias, thành viên Nhóm Ba Mươi, rất có thể vì liên hệ như thế nên ông bị bức hại sau này. Mặt khác, khi chế độ dân chủ tái lập, ông lại dửng dưng, không tỏ ra ủng hộ hay tham gia, rất có thể sự thể như vậy cũng khiến ông khó bề yên thân.

Ông chào đời trong ngôi làng ven biển thành phố Athens năm 469 TCN, gia đình nghèo khó, cha làm nghề xẻ đá, thợ chạm, ngày nay gọi là điêu khắc, tạc tượng, thuở đó không hề phân biệt, mẹ là Phaenarete làm mụ đỡ, tên nghĩa là ‘đem đức độ (arêté) ra ánh sáng’, tên và việc của bà quả là gia tài kỳ diệu dành cho con trai. Socrates sử dụng nghề đỡ đẻ của mẹ để thực hiện bản chất triết lý của ông. Trong Theaetetus 150c ông nói: ‘Khác nhau ở chỗ là bản nhân trợ giúp đàn ông, không phải đàn bà, và bản nhân canh chừng linh hồn chứ không phải thể xác họ lâm bồn’. Ông lấy vợ lúc nào không ai hay, chỉ biết người đàn bà sống với ông tên là Xanthippe. Chắc hẳn ông lập gia đình lúc khoảng ngũ tuần, hay muộn hơn, hoặc bà này là vợ thứ hai, vì lúc qua đời ông bảy mươi, ba con trai còn nhỏ, đứa lớn chưa đến hai mươi, đứa nhỏ còn bế trên tay. Theo lời văn gia Xenophon trong Memorabilia (Hồi ký) và kịch gia Aristophanes trong Đám mây bà là phụ nữ lắm điều, bà thường la lối, ông nín thinh không nói một lời, có lẽ vì thế mang tiếng sợ vợ. Nếu đúng vậy sự thể xem ra đáng tiếc về phần ông, song cũng không có gì quá đáng để chê trách về phần bà, người phụ nữ tần tảo đáng thương. Bởi lẽ bà phải một mình lo toan mọi việc, nuôi con, kiếm sống trong khi ông nhởn nhơ như mây trời bảng lảng. Lại có nguồn tin kể có người đàn bà tên Myrto sống với ông như vợ thứ nhất, như người tình, như vợ thứ hai, nhưng nguồn này chắc hẳn vô căn cứ nên ít người để ý. Nhắc lại lời văn sĩ khác Diogenes Laertius kể Socrates lấy vợ thứ hai vì luật Athens cho phép hợp thức hóa con ngoại hôn để trám lỗ hổng nhân mạng thiếu hụt trầm trọng do cuộc chiến lâu dài gây nên! Ông có được học hành hay không, người sau không biết, mà chỉ biết ông ham học hỏi, sự thể đương nhiên tạo điều kiện để ông phát triển kiến thức trong đô thị văn hóa đang phát triển mãnh liệt về mặt trí thức. Người sau biết ông đi lính một thời gian, tham gia chiến dịch ở mạn bắc xứ sở, tại Potidaea năm 432, rồi năm 429, và tại Amphipolis năm 422; ông còn tham dự trận Delium năm 424, vì trong Súmposium (Yến hội) của Plato, Alcibiades miêu tả ông kiên cường chịu đựng gian khổ và rất can trường lúc đoàn quân tháo lui, quân thành quốc Athens bị quân thành quốc Thebes đánh bại. Thuộc thành phần trưởng giả giàu có Alcibiades gia nhập kỵ binh; thuộc thành phần thứ dân nghèo nàn Socrates gia nhập bộ binh, hạng hoplite, trọng binh trang bị vũ khí nặng.

Socrates sống cả đời ở Athens. Trừ thời gian phục vụ trong quân ngũ ông thường nói chưa bao giờ rời nơi chôn rau cắt rốn. Lúc trẻ dường như ông ham tìm hiểu thiên văn và khoa học tự nhiên. Có lẽ vì thế Aristophanes hài hước châm chọc trong kịch phẩm Đám mây (trình diễn 25 năm trước khi Socrates qua đời). Mở trường dạy học mệnh danh là nhà suy tưởng, ông cuốn mình trong chiếc rổ lớn treo lủng lẳng để quan sát bầu trời và thiên thể; truyền bá chuyên môn ông dạy nghệ thuật hùng biện, dẫn đưa môn sinh tới chỗ báng bổ, bất kính đối với giá trị cổ truyền. Nhìn theo khía cạnh này ông đúng là Sô-phít hoặc biện sư chính cống! Trong thực tế ông không mở trường dạy học, và nói đúng ra ông không có học trò, ông chỉ thuyết giảng ở ngoài đường, nơi chợ búa, chỗ đông người qua lại. Ông không dính líu chính sự đương thời. Ông khẳng định có tiếng nói thiêng liêng (phải chăng hình bóng ảo tưởng, tiếng nói lương tâm, hay kinh nghiệm thần bí?) ông gọi là daimonion, không bao giờ bảo làm cái gì, song thỉnh thoảng chỉ cho thấy cái không nên làm. Tiếng nói đó dặn ông nên lánh xa chính trị. Tuy nhiên, khi nhiệm vụ đòi hỏi phải góp sức vào cộng đồng tiếng nói đó tỏ ra sáng suốt. Qua cuộc bốc thăm được cử làm chủ tịch ủy ban tổ chức hội đồng nhân dân, ông sẵn sàng tham dự. Chính thể thay đổi, chế độ dân chủ thắng thế, dù bị không ưa, song vẫn giữ vững chủ trương, ông phản đối việc đem mấy tướng chỉ huy ra xử tội, vì bão táp dữ dằn nên không thể cứu vớt thủy thủ tan tác trong trận hải chiến ở Arginusae. Khi Athens bại trận, Sparta thắng trận, chế độ dân chủ sụp đổ, chế độ quả đầu lên thay, cầm đầu là Ba Mươi Bạo Chúa, ông cũng bị đám này ghét bỏ do từ chối tham gia chiến dịch tàn sát và khủng bố. Trong đời sống thường nhật cư xử nhân từ, nhận thức sâu sắc, tính tình hòa nhã, tất cả biến ông thành mẫu người dễ thương. Người yêu sự thật, người sống lương thiện quý mến; thân hữu, đệ tử kính trọng như thánh nhân. Trái lại, do thái độ ngay thẳng, cương trực ông cũng khiến người ưa lươn lẹo, chuộng bề ngoài trong cách sống cũng như cách nghĩ hậm hực ghét bỏ.

Theo nghề cha ít lâu ông bỏ ngang vì cảm thấy “thiên hướng muốn tìm hiểu chính mình bằng cách hỏi han người khác” thôi thúc khôn nguôi. Do vậy ông có thói quen chuyện trò với đủ hạng người thuộc đủ thành phần, cả đàn ông lẫn đàn bà, ở ngoài đường, trong chợ, giữa phòng tập thể dục, bàn luận đủ thứ đề tài: chiến tranh, chính trị, hôn nhân, tình bạn, tình yêu, nội trợ, nghệ thuật, thương mại, thi ca, tôn giáo, khoa học, và đặc biệt đạo đức. Không có cái gì thuộc về con người xa lạ với ông. Cuộc đời vui buồn, hay dở, xấu tốt, sướng khổ, với đủ nét vẻ trở thành đề tài ông tìm hiểu ngọn ngành, song mọi khía cạnh của thế giới khách quan ông để nằm im nguội lạnh không đụng tới; ông nói ông không học hỏi được gì từ ngọn cây hay tảng đá. Tế nhị và mẫn cảm, mau lẹ nhận ra lý luận có mùi mậu luận, ông khéo léo lèo lái cuộc chuyện trò trở lại tâm điểm vấn đề. Mặc dù hiền lành, thật thà, hay bông đùa, pha trò, song ông cũng khoái moi móc thói hư tật xấu của thời đại, châm chọc vẻ bề ngoài rỗng tuếch bằng mũi kim dí dỏm.

Cư xử với ai, trong hoàn cảnh nào ông cũng biểu dương đức tính ông hằng rao giảng: ông là người tiết độ đáng kể, tâm hồn hào hiệp, tính tình cao thượng, lối sống đạm bac, phục sức giản dị, thái độ nhẫn nhục khác thường. Cuôc đời kéo dài bảy mươi năm trên trần gian, chứng kiến thế sự thăng trầm, thay ngôi đổi chủ, cảnh tượng lên voi xuống chó, chém giết đẫm máu, lừa đảo trắng trợn, con người nay thế này mai thế khác, ông nêu bật khí tiết, quả cảm về đức độ, can đảm trong hành động, trong chiến tranh cũng như trong sinh hoạt xã hội. Thái độ hiên ngang trong phiên xử tạo hình ảnh đầy ấn tượng – đĩnh đạc, cương quyết, nhất quán, kiên định; ông làm cái ông nghĩ là phải, không sợ sệt, không khúm núm. Ông chết ngoạn mục như đã sống ngoạn mục, thương cảm với mọi người, không oán hờn một ai. Bị kết tội phủ nhận thần linh, đầu độc thanh niên, kết tội như vậy là sai lầm, sai lầm đó không phải sai lầm của thành quốc hay luật pháp, mà là sai lầm của kẻ cầm quyền cố tình bẻ cong sự thật, bóp méo công lý, năm 399 TCN. ông phải uống thuốc độc. Tôn trọng chính quyền, trung thành với thành quốc, ông sẵn sàng chứng tỏ bản thân không coi thường luật pháp, và muốn người khác hành xử tương tự. Sau khi bị kết án, bị giam cầm, bị xiềng xích, khi thân hữu chạnh lòng thương tiếc sắp đặt kế hoạch trốn tù, ông từ chối, nại lý suốt đời đã hưởng lợi ích của luật pháp - tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do phát biểu - đến nay về già không thể bội nghĩa với ân nhân.

Về hình dạng và diện mạo Socrates không dễ thương chút nào. Lùn, khỏe, mập, da sần sùi, mắt lồi, tròng toét, mũi hếch, lông mày chổi xể; miệng rộng, môi dày, râu rậm, trán hói. Thân thể chắc nịch, cơ bắp gân guốc, khả năng chịu đựng phi thường, quần áo lôi thôi, chân không giày, không dép, đầu ngẩng cao, mặt quay nhìn hai bên, ông bước đi nghênh ngang, có vẻ tự tin, tự mãn, và thường dừng lại khá lâu làm như ngây ngất, xuất thần. Trái lại đầu óc minh mẫn, nhạy bén khác thường. Ý chí xem ra mãnh liệt như niềm tin, hành động tỉnh táo, minh mẫn chẳng khác suy tư. Sống ở thời đại hoài nghi ông vững tin đạo đức chân chính là điều phải quan tâm. Người ta bảo về ngoại diện ông trông tựa dương thần, vì thế trong Yến hội (Súmposium), Plato miêu tả, Alcibiades bảo ông giống hồn ma Silenus, thần linh rừng xanh. Tuy thế, nét xấu xí, vẻ thô kệch biến mất khi ông nói chuyện, vẻ duyên dáng, sức hấp dẫn do ngôn từ ý nhị tuôn ra khiến người nghe quên hết đặc điểm kỳ quặc vừa kể.

Năm 399 TCN, ông bị Anytus, Meletus và Lycon thuộc phe dân chủ mới lấy lại chính quyền đầu đơn khởi tố: “không tin tưởng thần linh thành quốc tin tưởng, hủ bại, tha hóa thanh niên.” Cáo buộc thứ nhất có vẻ phi lý, bởi trong thực tế đa số dân Athens không tin tưởng thần linh thành quốc tin tưởng, trái lại Socrates tin tưởng và tin tưởng mãnh liệt có thần linh nhân từ, độ lượng bảng lảng đâu đây. Cáo buộc thứ hai có vẻ cụ thể. Tuy nhiên, nếu hủ hóa thanh niên nghĩa là giáo dục họ không chấp nhận quan điểm phi lý của cha chú, cúi đầu tin tưởng không tra hỏi, không biện luận, như vậy rõ ràng ông có tội.

Phương thức tiến hành tố tụng ở Athens ngày đó khác hẳn ngày nay. Công dân nào cũng có quyền kiện cáo. Đúng thì thắng, sai bị phạt. Người bị kiện tự biện hộ trước tòa, vì thế phải học cách nói năng, biện luận sao cho lưu loát, mạch lạc. Cũng vì thế trong xã hội nảy sinh hai hạng người: Sô-phít (biện sư) và Sy-cô (cò mồi). Thành phần thứ nhất công khai huấn luyện nghệ thuật sử dụng ngôn từ nơi công cộng; thành phần thứ hai kín đáo bắt bí làm tiền nạn nhân: muốn yên chuyện thì giải quyết vấn đề riêng tư giữa đôi bên, Sy-cô hay tên gọi đầy đủ Sycophantes biết cách lo giùm, bên bị khỏi ra tòa, Sy-cô thương thảo với bên nguyên, kết quả bảo đảm mĩ mãn. Phiên xử diễn ra chỉ trong một ngày, án lệnh thi hành ngay hôm đó. Bởi thế dù có muốn mua chuộc cũng khó mà bỏ tiền hối lộ bồi thẩm, số lượng rất lớn; vụ xử Socrates bồi thẩm gồm 500 người, qua bốc thăm số nam công dân được lựa chọn sẽ thực hiện nhiệm vụ cộng đồng. Không có luật sư chuyên nghiệp bào chữa, không có biện lý hay công tố ủy viên khép tội, truy tố do cá nhân thực hiện làm đơn đưa nội vụ ra hội đồng nhân dân tức tòa án công cộng. Cung khai, biện giải theo thời gian đồng hồ nhỏ nước; đồng hồ là bình chứa nước, đồng hồ ngừng nhỏ khi nhân chứng cung khai. Nguyên cáo nói trước, bị cáo nói sau, bị cáo phải tự biện hộ. Sau khi nghe hai bên trình bày lý lẽ, bồi thẩm biểu quyết bị cáo có tội hay vô tội. Nếu vô tội, bị cáo được thả tức thì. Nếu có tội, bị cáo chờ, bồi thẩm sẽ bỏ phiếu nghị án. Phương thức diễn ra như thế là nhằm để bên nguyên và bên bị, mỗi bên chuẩn bị đưa ra hình phạt, đồng thời để bồi thẩm có thời gian cân nhắc đề nghị giữa đôi bên rồi quyết định. Không có thỏa hiệp hay hòa giải. Trong thực tế bên nguyên thường đề nghị tử hình nhằm áp đảo tinh thần bên bị. Nếu hiểu là có tội, và biết hình phạt sẽ là tử hình hay hình phạt bản thân đề nghị, bên bị đương nhiên sẽ đề nghị một cách cụ thể.

Theo sử liệu nhiều người ở Athens thực ra không muốn Socrates bị tử hình. Điều họ muốn hơn hết ấy là ông ngỏ lời tạ lỗi, làm vậy chắc hẳn hội đồng cũng ưng ý hài lòng. Trong số người nhiệt tình phải kể Alcibiades đã bỏ Athens theo Sparta, và nhiều người trong giới trưởng giả ủng hộ và cấu thành Ba Mươi Bạo Chúa đã nắm quyền điều hành chính sự. Socrates không ưa chế độ độc tài, ông cũng không có cảm tình với cơ chế dân chủ. Nhưng khi nhóm người có cảm tình với ông lật đổ chế độ dân chủ, sự thể chứng tỏ ảnh hưởng của ông có tác dụng rõ ràng. Như vậy lời tạ lỗi cộng với lời hứa hẹn trong tương lai cư xử khác hẳn có lẽ đủ để ông thoát nạn và chỉ chịu phạt vạ bình thường. Nếu tạ lỗi là điều mong muốn, bồi thẩm đoàn sẽ không có, mà sẽ thất vọng. Socrates kiên định, không hối hận, không ăn năn suốt buổi xét xử. Thái độ nghiêm túc, ngôn từ dõng dạc, ngay giữa công đường, ông nói bồi thẩm đoàn quả thực may mắn có ông sắm vai lương tri nói cho biết sự thật dài lâu đến thế. Bởi vậy bồi thẩm đoàn nên để ông sống trong Prytaneion, biệt thự nguyên lão ủy hội cổ kính, thiêng liêng, nơi vinh dự dành cho lực sĩ thể dục, tướng lĩnh anh hùng, danh nhân đất nước, đại diện gia đình tổ tiên đã góp phần to lớn cho thành quốc, đãi ngộ xứng đáng, phục vụ ẩm thực miễn phí suốt đời. Lúc tòa xác định có tội (tỉ số khác biệt tương đối nhỏ: 280 trên 220) ông từ chối đưa ra đề nghị cụ thể thay phán quyết tử hình. Ông thụ án một cách nhân đạo, uống thuốc độc giã từ tất cả. Bản án theo thông lệ đáng lẽ thi hành ngay hôm đó, nhưng ngày trước phiên xử cũng là ngày thuyền thành quốc ra đi tới đảo Delos làm lễ cảm tạ thần linh đã phù hộ thoát nạn tế sinh chưa trở về. Trong khi thuyền còn đang thi hành sứ mạng thiêng liêng, thành quốc đình chỉ mọi án tử hình. Năm nay không hiểu vì sao bão biển tung hoành, hải trình kéo dài, vì thế ông bị giam thêm một tháng, và tháng sau ông mới bình thản đi vào cõi vô biên.

Socrates thường nói ông không phải thầy giáo, ông không biết gì hết, điều ông biết ấy là ông không biết, hiểu biết của ông nghèo nàn, ông chỉ có khả năng nhỏ nhoi, như mẹ ông đỡ đẻ cho sản phụ, khả năng đó giúp ông đỡ người khác nảy sinh tư tưởng. Người quen biết, kẻ hâm mộ vây quanh hỏi han, chuyện trò. Họ là thân hữu, đệ tử hay khách qua đường. Hai bên đàm đạo vấn đề ai đó bữa ấy ngẫu hứng nêu ra. Trong số có người tinh nghịch tìm cách chọc phá cho bõ ghét, có người lắng nghe mê mẩn không hiểu tại sao, có người khoái chí quan sát đối lập bị cật vấn ấp úng, sượng sùng. Số sau cùng là đám thanh niên quý tộc do liên hệ mật thiết sau này ông gặp chuyện chẳng lành, song trong số đó có người trẻ tuổi quý trọng ông vô cùng.

Suốt đời Socrates ham mê theo đuổi luận lý và đạo đức. Ông tự đặt cho mình nhiệm vụ hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng. Hỏi đáp mạch lạc, trong quá trình sinh hoạt như thế, không những giúp người đối thoại hóa giải nghi ngờ, đánh tan ngộ nhận khỏi tâm trí, mà còn thanh lọc tâm trí bản thân, ông góp phần đáng kể vào luận lý, nhất là tiến tới quy nạp và định nghĩa. Thông thường ông làm như thế này. Trong lúc chuyện trò bất chợt chữ Công bình xuất hiện chẳng hạn, ông sẽ hỏi chữ đó nghĩa là gì; người đối thoại đáp, lời đáp có vẻ chưa thỏa đáng, ông tiếp tục nội triển đưa ra ví dụ khác nhau về Công bình, cuối cùng chứng tỏ, mặc dù khác biệt về chi tiết, song ví dụ mang đặc tính tương đồng, căn cứ vào đặc tính có thể nhận ra bản chất ví dụ; nhận ra như thế diễn tả bằng từ ngữ là định nghĩa. Trong khi cố gắng định nghĩa ông cho người đối thoại thấy đặc tính tổng quát tương đồng nhiều sự vật cá thể chia sẻ, dẫu sự vật này khác sự vật kia, song tất cả thảy “có vẻ” tương tự. Quả bưởi, quả cam, quả táo đều “có vẻ” tròn, quả này tròn hơn quả kia, nhưng tất cả là ví dụ biểu thị hình trạng tròn, căn cứ vào vẻ này, không cần là đặc tính biểu hiện, ta miêu tả bằng định nghĩa. Đón nhận khám phá của Socrates, Plato khai triển sâu xa hơn. Plato lý luận thế này. Nhận thức phải là điều khả dĩ; Socrates tin chắc như vậy, nếu không thế giới trở nên phi lý. Tuy nhiên sự vật trong thế giới không thể hiểu biết thực sự, vì biến đổi và vô thường, do vậy sự vật không có thực; chỉ có thực tại là bất biến. Về hình học chẳng hạn đặc tính ta biết và có thể chứng minh là đúng với hình tròn, hình tam giác không hoàn toàn đúng với hình đặc biệt ta vẽ, vì hình ta vẽ cũng bất toàn và vô thường. Những hình đó có vẻ hoặc trông như hình trạng vòng tròn, tam giác, tồn tại đâu đó trong trạng thái toàn bích bất diệt.

Nhân chứng thầm lặng

Thời đó do Socrates điềm nhiên chấp nhận cái chết trong nước có bốn nhà văn viết về ông và con người của ông: Xenophon với con mắt sử gia chân thực, Aristophanes với tầm nhìn kịch gia hài hước, Plato với phô diễn nhân chứng hiện thực và Aristote với cảm nghĩ triết gia khai phóng; thời sau sau khi Socrates qua đời có vô số nhà văn trong và ngoài nước làm việc tương tự, nhất là cái chết điển hình của ông, số lượng nhiều khôn kể. Gần cuối thế kỷ XVIII, màu mực sinh động, nét vẽ hiện thực, họa sĩ Pháp Jacques L. David ghi lại giây phút Socrates vừa bàn luận với thân hữu về sống chết ở đời, số phận linh hồn, vừa chìa tay cầm chén thuốc độc cai ngục đưa trong họa phẩm gợi cảm La mort de Socrate (1787). Thế kỷ sau nổi bật và đặc biệt là hai nhà tư tưởng khác thường: thầy tu dở dang Soren Kierkegaard ở Đan-mạch, giáo sư triết học Friedrich Nietzsche ở Đức thay phiên hăng say viết về thần tượng, đưa ra nhiều ý kiến táo bạo. Tuy nhiên, trong số người ghi chép sự kiện, bày tỏ cảm nghĩ, theo thiển kiến, Plato sâu sắc và tài hoa hơn cả. Plato kém Xenophon bảy tuổi. Cũng như Xenophon, Plato là người Athens. Khác Xenophon, Plato là nhà tư tưởng, lúc tuổi đôi mươi quen biết, rồi thụ giáo Socrates suốt mười năm cuối đời triết gia. Nhờ Plato, Socrates đến với mọi người trong hình thức quen thuộc là triết gia, khuôn mặt xấu xí, song tâm trí tươi đẹp, người quảng giao, vui vẻ, vậy mà đăm chiêu, khe khắt về mặt đạo đức vì luôn luôn quan tâm với câu hỏi làm người phải sống thế nào cho phải ở đời. Qua Plato, Socrates xuất hiện như người kể chuyện, nhà tư tưởng suy nghĩ và giảng dạy qua lời nói, không qua bài viết. Plato muốn duy trì, bảo vệ, đẹp hóa hình ảnh người bạn vong niên, người thầy khả kính vì nhân cách và tư tưởng, bởi theo lời sấm Delphi, Socrates là người hiểu biết uyên thâm nhất đời. Lúc trẻ Plato là thi sĩ, thơ đã đi vào tuyển tập thời đại, song Plato không làm thơ bày tỏ xúc động mà sử dụng đối thoại như hình thức chuyện trò ghi lại phong cách Socrates tỏ bày, biện giải giữa phiên tòa bất kể cáo buộc sẽ dẫn tới hậu quả bi thảm thế nào. Trước kia triết học ghi chép bằng thơ, bây giờ triết học ghi chép bằng văn. Đối thoại là hình thức Plato ưa chuộng. Theo học giới Tây Âu, Plato không những là người duy nhất hoặc đầu tiên mà độc đáo và chưa có nhà văn nào sử dụng thể loại tài tình như ông. Vừa là luận thuyết triết lý, vừa là tài liệu lịch sử, đối thoại của ông lôi cuốn khác thường. Đối thoại mang tên Euthyphro, Apologia, Crito, Phaedo tường thuật việc kiện cáo, cách biện giải, lối kết tội và cái chết của Socrates xuất hiện cùng lúc trong tác phẩm này minh chứng phần nào điều đó. Đối thoại thứ nhất mở màn đi vào bi kịch, Socrates đến tòa nghe cáo trạng; đối thoại thứ hai, phần chính bi kịch, Socrates phản biện quyết liệt; đối thoại thứ ba cảnh chuyển, không khí thay đổi, có người vào rủ trốn tù, Socrates từ chối, ở lại nhà giam chịu chết, không trốn ra ngoài đi lưu vong; đối thoại thứ tư kết thúc bi kịch, qua lời kể của nhân chứng, biến sự và tranh luận về ngày cuối trong đời Socrates, cung cách Socrates đón nhận cái chết, tranh luận có tính cách triết học và huyền thoại về bản chất linh hồn và kiếp sau. Socrates bảo chẳng nên thắc mắc vì chết. Thứ nhất, chết cũng tốt vì nó như giấc ngủ. Thứ hai, nếu chết không dẫn tới cuộc đời kiếp sau như người ta thường nói, ông sẽ tiếp tục sống như đã sống trên trần gian, chuyện trò, hỏi han người ông gặp dưới đó, nhất là người nổi tiếng lừng danh; ông chủ trương khi sống thì sống sao cho phải làm người, khi chết cũng chết như thế, không có gì phải bận lòng, thể xác cát bụi trở về cát bụi, linh hồn bất diệt phiêu du trong cõi bao la.

Người sau biết rất ít về cuộc đời Plato, nhất là thời trai trẻ, không rõ ông sinh năm nào và ở đâu, phần lớn học giả Tây phương chấp nhận thời gian giữa năm 429, 428 và 427 là năm sinh và năm 348 và 347 TCN là năm mất. Người sau biết gia đình thuộc hạng giàu có, tiếng tăm, quyền thế thành quốc Athens; cậu Charmides và ông chú Critias là thành viên Nhóm Ba Mươi. Sau khi Socrates chết, Plato rời Athens ra đi du lịch, thăm dân cho biết sự tình, tới nhiều vùng đất nước và sang cả Tiểu Á, trở về thành lập Học Viện. Người sau cũng không rõ ông thành lập cơ sở nghiên cứu và giảng huấn năm nào mà chỉ đoán khoảng thập niên 80 thế kỷ IV. Môn sinh đông đảo, song môn sinh nổi tiếng xuất thân từ học viện là Aristote. Triết giới ghi nhận Plato viết khoảng hai mươi lăm đối thoại và dường như mười ba lá thư. Đối thoại sử dụng như phương tiện để phô diễn triết học là sáng kiến của Plato, trước đó triết học phô diễn bằng thi ca; Plato sử dụng đối thoại để phản bác và khai triển tư tưởng triết học qua hình thức hỏi đáp trực tiếp.

Nhiều người từng hỏi tại sao người ta đem xử rồi kết tội Socrates? Câu hỏi khiến bấy lâu bàn cãi, song câu đáp đến nay vẫn chưa thỏa đáng. Bảo rằng ông có tội vì báng đạo thành quốc tin tưởng và hủ hóa thanh niên, câu nói khó lòng lọt tai nhiều người, nhất là người đã đọc Apologia (Biện giải) mặc dù dân Athens thời đó và đa số bồi thẩm nghĩ ông có tội. Và tại sao chờ đến khi ông 70 tuổi mới đem ra xử? Câu trả lời có thể là nhóm người quyền thế từng mang hận bấy lâu bây giờ lợi dụng cơ hội tình thế chính trị bất ổn ra tay thanh toán kẻ thù, có lẽ vì ông có lập trường chính trị chống đối, có lẽ vì ông quen biết mấy thành phần tiêu biểu trong chế độ quả đầu, hoặc có lẽ vì ông bẽ mặt họ trong khi biện giải. Cũng như trong giai đoạn chính trị xáo trộn ông đã sống qua thời kỳ niềm tin từng sưởi ấm đời sống thành quốc bắt đầu bị chất vấn và nghi ngờ, ông nổi tiếng là người liên hệ chặt chẽ với không khí công kích trí thức và sĩ phu đương thời biểu lộ. Điều này ăn khớp với đối thoại Apologia và nội dung lá thư thứ bảy. Tác giả lá thư viết: “Một số cá nhân quyền thế đem Socrates thân hữu của chúng ta ra tòa, khép tội hết sức trơ trẽn, và tội chẳng xác đáng tí nào với tiên sinh: họ buộc tội tiên sinh báng đạo, bồi thẩm đoàn kết án người trong khi họ chịu cảnh bất hạnh vì lưu vong đã từ chối không bắt giam phi lý thân hữu của họ”. Và theo Plato nhận định lầm lỗi to lớn dân Athens phạm phải là đã nhẫn tâm giết người xem ra quá lắm chỉ có tội là nhà tư tưởng tự do, song rõ ràng là người đã xây dựng ngôi nhà triết học Tây phương.

Giới thiệu, chú thích, chuyển ngữ bốn giai tác tôi chỉ muốn nhắc lại phần nào vụ án lịch sử, nhất là hình ảnh triết gia sống chết vì triết học để độc giả thưởng lãm, đồng thời nếu có thể suy ngẫm việc đời, con người trong cảnh nhiễu nhương; tất cả thuộc nhóm bảy đối thoại thời gian diễn ra quanh phiên xử và cái chết của Socrates. Tuy nhiên, xin lưu ý muốn biết trật tự có vẻ kịch tính, xin xem phần cuối Theaetetus, trong đó Socrates sắp xếp thời giờ hôm sau sẽ gặp Theodorus (phần đầu Sô-phít), rồi nói ông phải tới trụ sở pháp quan quốc vương, nơi Euthyphro bắt đầu. Thứ tự đối thoại như sau: Theaetetus, Euthyphro, Sô-phít, Chính khách, Biện giải, Crito và Phaedo. Trong bảy đối thoại ba đối thoại đầu có tính cách lý thuyết, lần lượt bàn vấn đề thế nào là nhận thức, thế nào là mộ đạo, hiếu thảo, chính trực, và thế nào là Sô-phít? Ba đối thoại sau có vẻ cụ thể, mô tả tác phong Socrates lúc xử và khi chết. Chính khách ở giữa đóng vai chuyển tiếp, vì là đi sâu có tính cách lý thuyết vào con người cụ thể, politikos hoặc chính khách. Mở đầu đối thoại

Sô-phít, Socrates đề nghị bàn chuyện mẫu người biện sư, chính khách, triết gia. Plato đã viết Biện sư và Chính khách, nhưng ông chưa viết Triết gia. Trong chuỗi bảy đối thoại Biện giải giữ vai trò Triết gia. Tôi sẽ thực hiện ba đối thoại còn lại trong cuốn tới, rồi sáng tác tiếp theo của Plato. Hy vọng tất cả sẽ ra mắt bạn đọc ngày gần đây. Trân trọng.

Toronto, đầu thu năm 2012

Đỗ Khánh Hoan

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của plato