Phaedo kể ngày cuối Socrates ở trong tù. Chấp nhận tử hình ông uống thuốc độc giã từ tất cả. Ngày cuối vĩnh biệt trần gian ông âm thầm đi vào cõi chết. Là nhân chứng bi kịch, bi kịch lịch sử đồng thời bi kịch văn học, đệ tử thân tín của Socrates, Phaedo vùng Elis thuật lại cho nhóm thân hữu ham triết học hay sự thể, trong số chỉ có Echecrates nêu tên và nói chuyện. Đối thoại còn kể cuộc đàm luận giữa Socrates và Simmias, Cebes, thanh niên thành quốc Thebes, linh hồn sẽ thế nào khi con người giã từ thế gian. Cảnh diễn ra tại Phlius, thị xã nhỏ mạn đông bắc bán đảo Peloponnesos. Bởi thế về mặt hình thức Phaedo là đối thoại tường thuật hay đối thoại trong đối thoại. Tuy nhiên, về mặt nội dung, Phaedo không chỉ miêu tả những gì nói và làm và cũng không chỉ bày tỏ thái độ cảm phục đối với cái chết quả cảm, hiên ngang của triết gia, Phaedo còn nhằm diễn tả niềm tin siêu hình, linh hồn bất tử, không thể chứng minh bằng lý luận, vì Plato hiểu đó là điều bất khả, mà chỉ có thể nhận thức bằng trực giác. Đưa độc giả đến chỗ chứng kiến cái chết của Socrates, song đối thoại không phải bi kịch. Bởi trước khi uống thuốc độc Socrates chuyện trò suốt ngày với thân hữu, làm như chẳng có gì phải bận tâm. Ông nói về chết, không phải chết của ông mà chết của con người, ông không than vãn, ông chỉ đặt câu hỏi, nhất là câu: ‘Quý hữu có tin có cái gọi là chết không?’ (64c). Trả lời thắc mắc thân hữu đưa ra ông nói về linh hồn, bản chất linh hồn, tính cách bất tử, bất diệt của linh hồn.
Người đến với ông trong nhà tù gồm thân nhân và thân hữu. Thân nhân là vợ, con nhỏ và nô lệ khi nhà giam mở cửa, dường như ba người đã ở đó với ông suốt đêm. Nhưng vì sợ bà khóc lóc om sòm lúc giờ cuối cùng tiến tới, với lòng thương cảm thầm kín, ông bảo tất cả đi về. Có mặt lúc đó chứng kiến cảnh tượng Phaedo thuật lại cho Echecrates và nhóm môn sinh triết phái Pythagore ở Phlius hay. Phaedo là người thành quốc Elis mạn Tây xứ sở. Bị bắt làm tù binh trong cuộc giao chiến, đem về Athens làm nô lệ, nhờ có người bỏ tiền ra chuộc nên được tự do, Phaedo trở thành môn sinh thân thiết của Socrates. Khi sư phụ qua đời, Phaedo về quê lập trường dạy triết học. Trước giờ thọ hình thân hữu gồm chín người Athens, ba người Thebes, hai người Megara, hai người đang ở Aegina, Plato vắng mặt vì ốm, trong số có Apollodorus là khác thường, nôn nao, nóng nảy, bộp chộp như đàn bà. Tất cả đều trẻ tuổi, ham học, tham gia triết phái khác nhau, trừ Crito, bố đẻ Critobulus. Lão nhân là chủ điền giàu có, cương trực, tử tế, lương thiện, thẳng thắn nổi tiếng khắp thành quốc. Lão nhân là bạn già, chí thiết của Socrates. Ba người Thebes là Phaedondas, Cebes và Simmias. Người thứ nhất là đệ tử trung thành của Socrates, hai người kia là môn sinh của Philolaus, một nhánh triết phái Pythagore. Trong đối thoại hai người chuyện trò với Socrates, vì thế đàm luận mang bối cảnh và không khí Pythagore. Tín lý triết phái thật khó miêu tả ở đây. Chỉ xin nói hết sức sơ lược. Thuở đó tín lý phát triển rộng rãi và tách biệt theo chiều hướng khác nhau. Có nhóm chỉ chăm chú vào việc thực hiện tôn giáo, có nhóm nghiêng hẳn vào việc nghiên cứu toán học, có nhóm gồm Cebes và Simmias chỉ quan tâm tới việc tìm hiểu ngoại giới. Dù thế nào, nếu không phải tất cả, đa số đều bịn rịn với hai giáo lý giảng dạy trong trường phái nguyên thủy: linh hồn chuyển sinh từ thể xác sang thể xác và nhận thức ở thế giới này là hồi tưởng vật thể ở thế giới trước kia, thế giới lý tính, thế giới thực tại, thế giới hình trạng. Tuy nhiên, dẫu khác biệt về kiến thức và tín ngưỡng, song số người trong đối thoại đều xúc động cao độ trước việc kết án và quyết định tử hình Socrates.
Người sau biết cuộc đời và triết lý của ông nhờ bốn nguồn tin đương thời: (1) hí họa của kịch gia Aristophanes, (2) hồi ký Memorabilia và sáng tác của văn gia Xenophon, (3) đối thoại của triết gia Plato, và (4) trước tác của triết gia Aristote. Tuy thế, mỗi người tường thuật một cách, dữ kiện không mấy giống nhau. Người nghe không rõ ai nắm bắt sự thật trong đời triết gia khó hiểu. Người cuối cùng trong bốn tác giả vừa kể kể rằng Socrates là người đầu tiên quy định định nghĩa và phương pháp quy nạp trong biện luận, và nhận xét triết thuyết về Hình trạng của Socrates áp dụng với triết thuyết của Pythagore về con số. Nhưng ra đời mười lăm năm sau sau khi Socrates qua đời, bề gì cũng phần nào không gần thực tế, Aristote chỉ lựa chọn nhận định nào của tiền bối thích hợp với dự kiến của mình. Xenophon tỏ ra muốn bảo vệ và biện hộ Socrates trước điều ong tiếng ve, song không thực sự hiểu đối tượng. Ông ít có thì giờ gần đối tượng, mấy năm cuối đời đối tượng ông lại bận việc chiến chinh. Năm 401, ông gia nhập lực lượng vũ trang do Cyrus con thứ vua Ba-tư tổ chức nhằm lật đổ anh ruột chiếm ngai vàng sau khi vua cha băng hà, mặc dù Socrates can ngăn. Phiêu lưu viễn chinh thảm bại, trận Cunaxa đẫm máu, thanh niên mưu đồ vương quyền mất mạng, đoàn quân tan rã. Cùng vạn binh sĩ ông lang thang khắp Mesopotamia, tây bắc Iraq bây giờ, vùng đất nằm giữa sông Tigris và sông Euphrates tìm đường ra Hắc Hải ba năm sau mới về tới Hy-lạp. Do vậy thế nào chẳng xa thực tế. Nếu quả thực vô hại như Xenophon miêu tả, Socrates sẽ chẳng bao giờ khiến người đời bận tâm suy nghĩ, chẳng bao giờ chế ngự tâm trí Plato, và cũng chẳng bao giờ là đối tượng người thành quốc Athens truy tố, hãm hại. Aristophanes là nhà văn hiểu biết và thân hữu gần gũi với Socrates. Hai mươi lăm năm trước ngày thọ hình hài kịch Đám mây miêu tả ông ngồi trong chiếc thúng treo lửng lơ nhòm ngó sự vật, nghiên cứu thiên nhiên, suy tư trên trời dưới biển. Như vậy kịch gia chỉ nhằm ngạo giễu mẫu người dị hợm bất đồ xuất hiện trong thời đại. Plato gần thực tế hơn cả. Đối thoại của ông phản ánh nếu không phải tất cả thì cũng phần nào sự thật, người đương thời không hề phản bác hay chê bai. Trong Phaedo người hỏi và người nghe đều cho rằng Socrates hiểu biết sâu rộng, từ triết gia cùng triết thuyết về vũ trụ, vật lý đến trước tác về y khoa, âm nhạc. Và ý nghĩa hơn hết, ngoài việc tường thuật trung thực, hấp dẫn, có thể nói rất nghệ thuật bi kịch có một không hai trong lịch sử nhân loại, cái chết bi hùng, vô úy, vô ưu của sư phụ, sĩ phu thái độ cương quyết, bất khuất trước cường quyền, Plato còn đề cập giải pháp cho vấn đề hệ trọng nêu trong đối thoại do chuyển biến bên trong tâm trí Socrates từ quan tâm ban đầu về nguyên nhân vật lý đến tìm hiểu về sau bản chất của nguyên nhân và thực thể.
Nhân vật trong đối thoại
Phaedo, người kể
Echecrates, người nghe, cảnh ở Phlius
Socrates
Apollodorus
Simmias
Cebes
Crito
Cai tù, nô lệ hầu hạ Mười Một Ông
Phaedo
Cảnh: nhà tù giam Socrates; nơi kể: Phlius
Echecrates [57a] Phaedo, quý nhân có mặt bên Socrates vào hôm tiên sinh uống thuốc độc trong tù, hay có người kể chuyện đó cho quý nhân hay?
Phaedo. Bỉ nhân có mặt tại đó, Echecrates.
E. Tiên sinh nói gì trước khi chết? Tiên sinh chết như thế nào? Tiện nhân nao nức muốn nghe. Dạo này ít thấy đồng bào từ Phlius tới thăm Athens, và kể cũng lâu rồi đấy hiếm gặp du khách từ Athens đến đây kể cho ngô bối hay chuyện diễn ra thực sự thế nào, [b] trừ điều tiên sinh uống thuốc độc rồi trút hơi thở cuối cùng, vậy thôi, không ai hay biết gì hơn.
P. Quý hữu [58a] cũng không nghe nói vụ xử diễn ra thế nào hả?
E. Có, có người nói cho ngô bối hay chuyện đó, song ngô bối có cảm tưởng hình như sau khi vụ xử diễn ra khá lâu tiên sinh mới vĩnh biệt ngô bối. Tại sao lại thế hở Phaedo?
P. Do ngẫu nhiên, trùng hợp kỳ lạ, Echecrates à. Ngày trước hôm diễn ra vụ xử, theo thông lệ, người ta làm lễ choàng hoa mũi thuyền dân thành quốc Athens phái đi Delos.
E. Chiếc nào vậy?
P. Chiếc trên đó có lần tới đảo Crete, dân Athens nói, Theseus mang theo hai nhóm bảy vật tế thần. Theseus cứu sống số người đó và cả bản thân. [b] Chuyện kể vì thế họ hứa với Apollo nếu nạn nhân được cứu sống hàng năm họ sẽ cử thuyền tới Delos. Từ đó đến nay năm nào họ cũng cử phái đoàn tới đó tạ ơn thần linh. Họ ra điều luật qui định trong khi thuyền thi hành sứ mạng thành quốc phải giữ gìn tinh khiết, không hành hình tử tội, mà phải chờ tới khi thuyền hoàn tất hành trình tới Delos, rồi trở về Athens, hành trình đôi khi kéo dài nếu gió lớn ngăn chặn. Sứ mạng bắt đầu khi tu sĩ nhân danh Apollo [c] choàng hoa lên mũi thuyền, sự việc diễn ra tình cờ, như bỉ nhân nói, ngày trước vụ xử tiên sinh. Đó là lý do tại sao tiên sinh ở trong tù lâu thế từ hôm xét xử đến ngày hành hình.
E. Tiên sinh chết thực sự ra sao hở Phaedo? Tiên sinh nói gì? Tiên sinh làm gì? Trong số thân hữu có người nào bên tiên sinh không? Hay chính quyền lao xá không cho phép bằng hữu hiện diện, vì thế tiên sinh lìa đời không bạn bè bên cạnh?
P. Ô, không. [d] Một số có mặt, thực ra, khá đông.
E. Ờ, vậy vui lòng cho ngô bối hay sự việc diễn ra thực sự và đầy đủ thế nào, nếu quý nhân không quá bận giải quyết việc cần kíp.
P. Bỉ nhân không bận chuyện gì, bỉ nhân sẽ cố gắng miêu tả cho quý hữu nghe đầy đủ, vì không có gì thú vị cho bằng hồi tưởng Socrates trong tâm trí, dù chính mình nói về tiên sinh hay nghe người khác làm điều tương tự.
E. Chắc chắn trong trường hợp như thế người nghe sẽ y hệt quý nhân, Phaedo à. Vậy khởi sự, tường thuật cho ngô bối hay đầy đủ chi tiết càng chính xác càng quý hóa.
P. Vâng, bỉ nhân sẽ cố gắng. Hiện diện ở đó bỉ nhân thấy rõ ràng cảm giác hết sức lạ lùng. [e] Bởi không sao tin nổi chứng kiến cái chết bên giường của người là thân hữu chí thiết, bỉ nhân không có cảm nghĩ thương hại. Vì cả thái độ lẫn ngôn từ đều biểu lộ sung sướng người đó tỏ ra cương quyết, hiên ngang vĩnh biệt cõi đời, không mảy may sợ sệt, Echecrates ạ. Bởi thế bỉ nhân có cảm tưởng ngay cả đi sang thế giới bên kia người đó cũng mang theo phúc lành, bước theo tiếng gọi thiêng liêng. [59a] Bỉ nhân còn có cảm tưởng khi tới đó người đó sẽ hạnh phúc tràn trề, thành công trọn vẹn, con người chưa hề hay biết! Đó là lý do tại sao bỉ nhân không có cảm nghĩ thương hại, cảm nghĩ dường như tự nhiên trong nỗi buồn da diết quý hữu thường thấy vào dịp trang nghiêm như thế, đồng thời cũng không có cảm nghĩ vui mừng ngô bối thường kinh qua khi đàm luận triết học, vì triết học là chủ đề ngô bối bàn luận, song bỉ nhân có cảm xúc kỳ lạ, cảm xúc khác thường, không sao hiểu nổi pha trộn lạ lùng cùng lúc cả vui lẫn buồn lúc bỉ nhân hình dung người đó sắp sửa vĩnh biệt mọi người, giã từ vĩnh viễn cõi đời. Thân hữu hiện diện đều xúc động tương tự, có lúc cười, có lúc khóc, đặc biệt Apollodorus, quý hữu biết con người và cung cách chứ?
E. Dĩ nhiên biết, sao không! [b]
P. Ồ, bộc lộ cảm xúc đường đột, đương sự nức nở thảm thiết, bỉ nhân bối rối hết sức, thân hữu cũng sững sờ.
E. Người hiện diện là ai hở Phaedo?
P. A, dân địa phương ngoài Apollodorus, bỉ nhân vừa kể, còn có Critobulus, thân phụ anh này, cả Hermogenes, Epigenes, Aeschines, Antisthenes nữa. Ồ, đúng rồi, Ctesippus khu Paeania, Menexenus cùng mấy người địa phương. Nếu bỉ nhân không lầm chắc hẳn Plato bị ốm.
E. Có người lạ không hở?
P. Có, Simmias, Cebes, Phaedondas từ Thebes, [c] và Euclides, Terpsion từ Megara.
E. Thế Aristippus, Cleombrotus không có mặt ư?
P. Không. Nghe nói hình như hai người đang ở Aegina.
E. Còn có ai nữa?
P. Bỉ nhân nghĩ số người có vậy thôi.
E. A, vậy theo quý nhân chuyện diễn ra thế nào?
P. Bỉ nhân sẽ cố gắng kể quý hữu hay từ đầu. Mấy ngày trước cùng mấy thân hữu ngày nào bỉ nhân cũng tới thăm tiên sinh. Khoảng rạng đông ngô bối tụ tập gần tòa án, nơi diễn ra vụ xử, [d] không xa nhà tù. Ngày nào cũng phải chờ, trong khi chờ ngô bối chuyện vãn, lao xá không mở cửa sớm, vì gác tù cố ý trì hoãn. Lao xá vừa mở cửa ngô bối vào gặp tức thì, rồi ở lại gần hết ngày với tiên sinh. Hôm đó ngày đặc biệt gặp nhau khá sớm, sớm hơn thường lệ, do chiều hôm trước lúc rời lao xá [e] hay tin thuyền từ Delos vừa trở về, ngô bối dặn nhau đến chỗ thường gặp càng sớm càng tốt. Lúc ngô bối tới người gác cổng bữa trước khi nghe tiếng gõ thường cho vào, bữa nay lại bảo phải chờ một lát chừng nào bảo vào mới vào. Người gác cổng nói: Mười Một Ông đang ở trong phòng giam, tháo xiềng và nói cho Socrates hay bữa nay tử tội sẽ chết như thế nào. Lát sau người gác cổng đi ra bảo bây giờ ngô bối có thể đi vào. [60a] Ngô bối thấy tiên sinh vừa được tháo xiềng, Xanthippe, quý hữu biết bà chứ, ngồi bên cạnh, tay bồng con nhỏ đặt trên vế đùi. Chợt thấy ngô bối bà bật khóc, vừa nức nở vừa thốt lời như phụ nữ thường làm: Ô, Socrates, đây là lần cuối thân hữu đến chuyện trò với anh và lần cuối anh ngồi trò chuyện với thân hữu! Tiên sinh đưa mắt nhìn Crito rồi nói: Bác bảo đứa nào đưa nhà tôi về nhà.
Crito sai mấy gia nhân dẫn bà đi; bà tiếp tục [b] kêu khóc thảm thiết, đấm ngực thùm thụp. Bà đi rồi tiên sinh mới nhỏm dậy ngồi trên giường, co chân sải tay xoa tới xoa lui, vừa xoa vừa nói: Các quý hữu ơi, cảm giác con người thường gọi là ‘thú vị’ xem ra có vẻ kỳ lạ, liên hệ đặc biệt làm sao mà bản chất dường như gần gũi cảm giác đối nghịch, mệnh danh ‘khó chịu’! Con người không thể có cả hai cùng một lúc. Tuy nhiên, nếu theo đuổi mà bắt được cảm giác này, con người luôn luôn hầu như cũng tóm được cảm giác kia; thân hình là hai, song nối liền với nhau bởi một cái đầu. Bản nhân dám chắc nếu suy ngẫm về điểm này thế nào Aesop cũng sẽ sáng tác bài ngụ ngôn kể chuyện, đại ý thế này: [c] thần linh muốn dung hòa tình trạng đối nghịch của hai cảm giác, song thấy không thể thực hiện, bởi thế nối hai đầu với nhau, cho nên khi con người có cảm giác này, cảm giác kia sẽ theo sau. Sự thể dường như đang diễn ra với bản nhân đúng hệt như thế. Vì xiềng nên chân khó chịu, bây giờ hình như thú vị theo sau.
Nghe thấy thế Cebes liền chen lời: Trời ơi, đúng thế, may quá tiên sinh nhắc tên Aesop khiến tiện phu sực nhớ. Hôm kia Evenus hỏi tiện phu, như nhiều người hỏi trước đó, [d] cái gì thúc đẩy tiên sinh làm thơ sau khi vào nhà tù, trước đây chưa bao giờ tiên sinh làm thơ, đổi ngụ ngôn của Aesop thành thơ trữ tình, lại còn sáng tác tán ca đề cao Apollo nữa. Vậy nếu muốn tiện phu có thể trả lời Evenus khi đương sự nhắc lại câu hỏi, theo chỗ tiện phu biết thế nào đương sự cũng sẽ hỏi, xin tiên sinh cho tiện phu hay trả lời ra sao.
Cứ nói sự thật cho đương sự hay, Cebes, tiên sinh đáp, làm thế bản nhân không có ý thi tài với thi sĩ hay ganh đua cùng thi ca của ông, vì bản nhân hiểu sự thể không dễ chút nào. Làm vậy trái lại bản nhân chỉ muốn tìm hiểu ý nghĩa giấc mơ đã trải qua, đồng thời giải tỏa tâm tư [e] khỏi thắc mắc phòng trường hợp giấc mơ đòi hỏi bản nhân thực hiện loại nghệ thuật tương tự. Giấc mơ thế này. Vẫn giấc mơ thường đến nhiều lần trong quá khứ, hình dạng khác nhau, thời gian khác nhau, lúc thế này, lúc thế nọ, song luôn luôn nói điều tương tự: Socrates, thực hiện nghệ thuật và trau dồi nghệ thuật đó! Trong quá khứ bản nhân thường nghĩ giấc mơ chỉ thị, khuyên nhủ bản nhân tiếp tục công trình hằng theo đuổi, như khán giả hối thúc, khuyến khích lực sĩ chạy đua trong cuộc tranh tài. Bản nhân nghĩ giấc mơ thôi thúc bản nhân sáng tác nghệ thuật bản nhân đang thực hiện, [61a] vì bản nhân nghĩ triết học là nghệ thuật cao siêu hơn hết, bản nhân bỏ cả cuộc đời theo đuổi.
Nhưng bây giờ, sau vụ xử, khi lễ hội cảm tạ thần linh đình hoãn hành hình, bản nhân cảm thấy có lẽ giấc mơ đòi hỏi thực hiện nghệ thuật phổ thông như thế, bản nhân không thể trái lời mà phải sáng tác thi ca. Bản nhân thầm nghĩ không nên rời nơi này ra đi chừng nào chưa thỏa mãn tâm tư làm thơ chân thành đáp lời giấc mơ. [b] Vì thế bản nhân bắt đầu sáng tác tán ca ngợi ca thần linh trong lễ hội hiện tại. Sáng tác tán ca xong xuôi bản nhân thầm nhủ thi sĩ, nếu xứng đáng là thi sĩ và quả thực là thi sĩ, phải sáng tác theo đề tài tưởng tượng, không theo đề tài cụ thể. Vì bản thân không phải người kể chuyện huyền thoại, bản nhân chọn chuyện bản nhân biết, chuyện sẵn sàng trong tầm tay, ngụ ngôn quen thuộc của Aesop, rồi chuyển đổi ngụ ngôn đầu tiên bắt gặp thành bài thơ. Kể chuyện này cho Evenus hay, Cebes, thay bản nhân nói giùm, cầu mong đương sự hạnh phúc tràn trề, thành công trọn vẹn, nhớ dặn đừng quên, nếu khôn ngoan, đương sự nên chạy theo bản nhân càng sớm càng quý. Bản nhân sẽ ra đi hôm nay, chắc vậy, người thành quốc Athens quyết định như thế. [c]
Simmias nói: Ô, Socrates, lời khuyên gửi Evenus kỳ lạ quá tiên sinh! Hạ nhân đã gặp nhiều lần trước đây, song theo chỗ hạ nhân quan sát, đương sự sẽ không sẵn sàng làm theo ý kiến tiên sinh đâu.
Sao lại thế, tiên sinh tiếp lời, Evenus có phải triết gia không?
Hạ nhân nghĩ phải, Simmias đáp.
Vậy thế nào Evenus cũng sẽ sẵn sàng muốn chết như bất kỳ ai nghiên cứu triết học xứng đáng mang danh triết gia. Tuy nhiên, có lẽ đương sự sẽ không sử dụng bạo lực với bản thân, vì người ta nói làm vậy là không hợp pháp. Trong lúc nói tiên sinh hạ chân xuống đất, rồi cứ ngồi như thế đến khi kết thúc chuyện trò. [d]
Bây giờ Cebes mới cất tiếng hỏi: Socrates, tiên sinh muốn nói gì khi bảo sử dụng bạo lực với bản thân là không chính đáng, mặc dù triết gia sẽ sẵn sàng đi theo thân hữu sắp sửa từ giã cõi đời?
Vậy Cebes, suốt thời gian giao du với Philolaus quý hữu và Simmias chưa hề nghe nói điều như thế hay sao?
Tuyệt nhiên không, tiên sinh.
A, thực ra điều bản nhân biết cũng chỉ là tin đồn; dẫu thế không ngại kể lại quý hữu hay do vô tình nghe thấy. Bản nhân nghĩ đối với người sắp sửa rời bỏ thế giới này ra đi có lẽ không có gì thích hợp cho bằng hỏi han, chuyện trò về chuyến du hành, tìm hiểu quan niệm của ngô bối về cuộc đời mai sau, đồng thời cố gắng tưởng tượng cuộc đời đó thế nào. [e] Thử hỏi con người có thể làm gì hơn thế trong khoảng thời gian từ bây giờ đến lúc mặt trời chìm lặn?
Tiên sinh, xin cho tiện phu hay căn cứ vào đâu mà nói tự sát là không phải phép? Vì tiên sinh hỏi nên nói thật, tiện phu đã nghe Philolaus phủ nhận việc tự sát khi triết gia tới thăm Thebes, và tiện phu cũng nghe người khác nói điều tương tự, nhưng tiện phu chưa hề nghe người nào giải thích rành rọt vấn đề.
Chớ vội nản lòng, tiên sinh nói, có lẽ ngày nào đó quý hữu sẽ nghe. Nhưng [62a] nếu bây giờ bản nhân nói điều này chắc hẳn quý hữu sẽ ngạc nhiên, đơn giản, tuyệt đối, không có ngoại lệ, không có câu trả lời dứt khoát, bản nhân muốn nói, không hề giống bất kỳ điều nào liên hệ tới con người, thực ra có lúc và có người đối với họ chết sướng hơn sống. Với người muốn thế, bản nhân nghĩ điều khiến quý hữu ngạc nhiên ấy là nếu bản nhân nói tự tạo cho mình việc tốt đẹp như thế là phi đạo, trái phép, thay vì người đó phải chờ ân nhân xa lạ ra tay trợ giúp.
Ô, trời ơi, đúng thế, Cebes cười lặng lẽ, thốt lời, giọng địa phương!
Đúng vậy, Socrates tiếp lời, nói như thế có vẻ phi lý, [b] song có lẽ nói như thế cũng hữu lý. Biểu tượng ngụ ngôn, giáo lý huyền bí thì thầm bí mật thế này: Con người chỉ là tù nhân trong nhà tù kín cổng cao tường, con người không có quyền đào thoát hoặc giải phóng bản thân. Bản nhân thấy giáo lý sâu sắc, hiểu biết đầy đủ xem ra không dễ. Tuy thế, Cebes ơi, bản nhân nghĩ giáo lý diễn tả khéo léo, chân thực: thần linh là người bảo vệ ngô bối, ngô bối là người thuộc về thần linh. Chẳng hay quý hữu có nghĩ thế không?
Thưa có, Cebes đáp.
Quý hữu có nổi giận không nếu một trong số vật sở hữu của quý hữu tự sát [c] khi quý hữu chưa biểu thị dấu hiệu quý hữu mong muốn vật sở hữu đó chết? Nếu có thể trừng phạt quý hữu có trừng phạt hay không?
Chắc chắn, Cebes nói.
Vậy nếu quý hữu nói thế này bản nhân nghĩ có lẽ hợp lý. Con người không có quyền chấm dứt cuộc đời mà phải chờ tới khi thần linh ban chỉ dấu cần thiết, như vừa truyền gửi bản nhân trực diện lúc này.
Thưa, dường như vậy, Cebes tiếp lời. Tuy nhiên, điều tiên sinh [d] vừa nói triết gia sẵn lòng và sẵn sàng chết nghe có vẻ phi lý, tiên sinh à, nếu điều ngô bối phát biểu lúc nãy hợp lý, nghĩa là, thần linh là người bảo vệ ngô bối, ngô bối là tài sản của thần linh. Xem ra không hợp lý khi nói người khôn ngoan chẳng nên cự tuyệt từ bỏ dịch vụ chủ nhân tuyệt hảo điều hành, vì người khôn ngoan không nghĩ khi được tự do người khôn ngoan sẽ có thể trông nom bản thân tốt đẹp hơn thần linh. Kẻ đần độn sẽ dễ dàng nghĩ thế, nên bằng mọi cách phải trốn thoát chủ nhân; kẻ đó sẽ không suy ngẫm chẳng nên chạy trốn chủ nhân tốt bụng [e] mà nên ở lại với ông càng lâu càng quý, bởi chạy trốn là điên rồ. Trái lại, người tỉnh táo luôn luôn muốn sống với người sáng suốt hơn mình. Bởi thế, tiên sinh ơi, cái ngược với cái vừa nói rõ ràng là thật; người khôn ngoan sẽ rầu rĩ chấp nhận, kẻ đần độn sẽ vui mừng đón nhận cái chết.
Bỉ nhân nghĩ khi nghe câu nói Socrates có vẻ hài lòng vì Cebes hối hả đáp lời. Liếc nhìn ngô bối tiên sinh nói nhỏ nhẹ: Quý hữu thấy không, Cebes luôn luôn tìm kiếm lý luận để chống đối, [63a] song không sẵn lòng chấp nhận thuyết phục tức thì dù ai phát biểu thế nào.
Simmias góp lời: Nhưng, tiên sinh ơi, hạ nhân nghĩ thực ra lần này Cebes có lý khi phát biểu. Tại sao người thực sự khôn ngoan lại muốn tránh né dịch vụ chủ nhân tốt đẹp hơn chính họ thể hiện, và từ bỏ chủ nhân dễ dàng đến thế? Hạ nhân nghĩ lý luận như vậy là Cebes nhắm tiên sinh, vì tiên sinh tìm cách từ bỏ ngô bối quá ư dễ dàng, đồng thời từ bỏ cả thần linh nữa, tiên sinh công nhận là chủ nhân tốt bụng.
Điều quý hữu và Cebes nói nghe chí phải, Socrates đáp. Bản nhân [b] thầm hiểu hai quý hữu muốn nói bản nhân phải biện giải bác bỏ điều này, làm như bản nhân đang đứng trước tòa.
Đương nhiên tiên sinh phải làm vậy, Simmias tiếp lời.
Vậy để bản nhân biện giải trước hai quý hữu thuyết phục hơn trước bồi thẩm phiên xử nhá. Simmias và Cebes ơi, nếu bản nhân không hy vọng trước hết tìm gặp thần linh khôn ngoan, tốt bụng, tiếp đến thế nhân đã qua đời cũng tốt bụng hơn thế nhân còn ở nơi đây, chắc hẳn bản nhân sai lầm vì không buồn rầu khi chết. Nhưng sự thể là, hai quý hữu cứ yên chí bản nhân hy vọng nhập bọn với người tử tế, đàng hoàng.[c] Bản nhân sẽ không đặc biệt mong muốn điểm này, song điểm khác khẳng định với hai quý hữu bản nhân sẽ ước ao bằng được, bản nhân sẽ tìm thấy chủ nhân thiêng liêng hết sức tốt bụng. Đó là lý do tại sao bản nhân không dứt mực cự tuyệt, tại sao bản nhân hy vọng tương lai tốt đẹp chờ đợi sau khi con người vĩnh biệt thế gian, như ngô bối từng nghe nói biết bao năm ròng, tương lai tốt đẹp gấp bội dành cho người hiền lành, tử tế hơn kẻ độc ác, xấu xa.
A, Socrates, ý kiến tiên sinh thế nào? Simmias hỏi. Tiên sinh có định giữ rịt niềm tin như thế không khi từ bỏ ngô bối, hay cũng muốn chia sẻ với ngô bối? Hạ nhân nghĩ đó là nguồn vui đặc biệt cũng dành cho ngô bối, [d] đồng thời đó sẽ là biện giải tiên sinh thực hiện nếu nhằm thuyết phục ngô bối những gì tiên sinh tỏ bày.
Ừ, bản nhân sẽ cố gắng, ông đáp, song trước khi bắt đầu ngô bối để ý xem Crito hiện diện ở đây dường như muốn nói đôi điều chốc lát.
Chỉ có thế này, bác ơi, Crito nói, người sẽ đưa thuốc độc cho bác vừa hỏi chuyện khá lâu dặn ta bảo bác nói ít thôi, càng ít càng tốt; người đó nói nói nhiều cơ thể sẽ nóng, [e] cơ thể nóng sẽ ảnh hưởng tác dụng của thuốc độc. Nếu không đôi khi cần phân lượng thứ hai, có lúc phân lượng thứ ba.
Đó là việc của anh ta, Socrates đáp. Cứ để anh ta pha chế để sử dụng hai hoặc ba lần nếu cần.
Ta biết chắc thế nào bác cũng sẽ nói thế, Crito tiếp lời, nhưng người đó cứ nắm chặt dặn tới dặn lui.
Kệ anh ta, bận tâm làm gì, Socrates nói. Bây giờ quay lại với hai quý hữu, bồi thẩm phán xét tội trạng. Bản nhân muốn giải thích hai quý hữu hay đối với bản nhân tự nhiên làm sao khi một người thực sự hy sinh cuộc đời cho triết học sẽ vui vẻ đón nhận cái chết, tin tưởng tìm thấy nguồn vui lớn lao ở thế giới tiếp theo khi cuộc đời người đó chấm dứt. [64a] Bản nhân sẽ cố gắng nói rõ hai quý hữu tường, Simmias và Cebes ạ, làm sao sự thể lại có thể như thế.
Người bình thường trong nhân loại hình như không biết mục đích duy nhất của người thực sự dấn thân tìm hiểu triết học đúng cách, trực tiếp và tự nguyện, là sửa soạn bản thân để chết và đón nhận cái chết. Nếu đó là sự thật, nếu suốt đời thực sự trông chờ cái chết, khi sự cố họ sửa soạn, trông chờ bấy lâu ập tới mà lại khước từ thì quả thật là phi lý.
Simmias vừa cười vừa nói: Trời đất ơi, tiên sinh làm hạ nhân phì cười, mặc dù trong thâm tâm lúc này chẳng muốn tí nào. Hạ nhân thầm nhủ nếu nghe tiên sinh nói đa số người bình thường [b] sẽ nghĩ, đồng bào cùng xứ sở với ngô bối sẽ nhiệt tình đồng ý, điều miêu tả triết gia rất hay: triết gia thực sự có ý định muốn chết, và phần lớn họ thừa hiểu, dù không nhìn thấy, chết là cái triết gia xứng đáng đón nhận.
Họ nói đúng đó, Simmias, trừ điều họ khẳng định trong suy tư họ có thể vượt xa triết gia. Họ không thể nhìn thấy theo cách nào triết gia thực sự có ý định muốn chết, theo nghĩa nào triết gia xứng đáng đón nhận cái chết, hay loại chết nào triết gia xứng đáng đón nhận. [c] Nhưng thôi bỏ qua chuyện họ, quay về chuyện ngô bối. Quý hữu có tin có cái gọi là chết không?
Có chứ, chắc chắn, Simmias đáp, chuẩn bị tư thế trả lời.
Phải chăng chết chỉ là linh hồn rời bỏ thể xác? Có thật chết chẳng qua chỉ là, nói một cách cụ thể, tình trạng thể xác tự nó tách rời linh hồn và tình trạng linh hồn tự nó tách biệt thể xác? Có phải chết chẳng là gì mà chỉ là vậy không?
Không, thưa không, chỉ là vậy.
Thế thì, quý hữu trẻ trung ơi, suy ngẫm xem có thể chia sẻ quan niệm với bản nhân chăng, vì làm vậy sẽ dẫn ngô bối tới chỗ am tường điều ngô bối đang tìm hiểu. [d] Quý hữu có nghĩ triết gia nên quan tâm tới thú vui mệnh danh thú vui ẩm thực không?
Không, chẳng nên, Simmias đáp.
Thú vui xác thịt thì sao?
Chẳng nên tí nào.
Thế còn thú vui liên hệ tới việc phục vụ thân thể thì thế nào? Quý hữu có nghĩ người như thế đánh giá cao thú vui đó không? Bản nhân muốn nói áo choàng lộng lẫy, giày dép sang trọng, trang sức đặc biệt. Quý hữu nghĩ người như thế quý trọng hay coi thường vật dụng vừa kể, trừ trường hợp bất khả kháng, không có không được? [e]
Hạ nhân nghĩ triết gia chân thực coi nhẹ mấy thứ đó.
Quý hữu có nghĩ, tiên sinh tiếp lời, thông thường người như thế quan tâm tới không phải thể xác mà đến mức tối đa rời bỏ thể xác quay về với linh hồn không?
Thưa, có.
Như vậy trước hết điều đó cho thấy rõ ràng khác hẳn mọi người trong nhân loại triết gia tìm đủ cách [65a] tách linh hồn khỏi thể xác?
Dường như thế.
Người không tìm thú vui trong thứ như thế, Simmias, không coi trọng thứ như vậy là người đa số thế nhân nghĩ không đáng sống mà đáng chết; nghĩa là người không quan tâm tới thú vui thể xác.
Điều tiên sinh nói quá ư chí lý.
Còn việc sở đắc cụ thể hiểu biết thì sao? Thể xác có là chướng ngại không khi con người kết hợp thể xác trên đường tìm kiếm hiểu biết? Bản nhân muốn nói, chẳng hạn, con người có tìm thấy sự thật trong việc nhìn, việc nghe không? [b] Ngay cả hàng ngũ thi sĩ cũng chẳng bao giờ cho biết ngô bối không nhìn hoặc nghe cái gì chính xác và chắc chắn. Nếu hai giác quan đó không rõ rệt hoặc chính xác, giác quan còn lại của ngô bối khó lòng chính xác, vì so ra thảy đều yếu kém. Quý hữu có nghĩ vậy không?
Thưa, chắc chắn.
Vậy, tiên sinh hỏi, khi nào linh hồn nắm bắt sự thật? Vì bất kể khi nào định tìm hiểu cái gì mà nhờ thể xác giúp đỡ thế nào linh hồn cũng bị thể xác đánh lừa.
Vâng, đúng thế. [c]
Có phải trong quá trình vận dụng suy tư, nếu quả thực cần thiết, linh hồn nhìn thực tại rõ ràng không?
Thưa, phải.
Đương nhiên linh hồn có thể suy tư tuyệt vời khi không bị đủ thứ cảm giác quấy nhiễu như nghe, nhìn, đau khổ, vui sướng, nghĩa là khi là chính mình, khi rời bỏ thể xác, khi tránh xa mọi tiếp xúc, mọi kết hợp vật chất trên đường đi tìm thực tại.
Vâng, chắc vậy.
Đến lúc đó cũng vậy, coi nhẹ, lánh xa thể xác, [d] linh hồn triết gia tìm cách tự tại biệt lập và là chính mình.
Dường như thế.
Thế câu hỏi sau đây thì sao hở Simmias? Ngô bối có công nhận điều như thế là chân tuyệt đối không? Hay ngô bối không công nhận?
Trời đất ơi, có.
Cả mỹ tuyệt đối và thiện tuyệt đối chứ?
Dĩ nhiên.
Quý hữu đã bao giờ nhìn thấy điều như thế bằng mắt chưa?
Thưa, chưa.
Ơ, quý hữu có hiểu biết điều như thế bằng giác quan khác không? Nói điều như thế bản nhân muốn nói không những chiều cao, sức khỏe, sức lực tuyệt đối, mà bản chất thực sự của bất kỳ sự vật nào, sự vật đó thực chất là gì? [e] Có phải qua thể xác ngô bối sở đắc nhận thức chân thực về sự vật không? Và có phải trong bất kể tìm hiểu nào quý hữu cũng hầu như đạt tới hiểu biết sự vật tương ứng với mức độ quan tâm và chính xác quý hữu đã chuẩn bị để hiểu sự vật đó trong chính nó không?
Thưa, chắc vậy.
Quý hữu có nghĩ người đạt thành công trong dự định này chắc hẳn là người tiếp cận sự vật càng xa càng quý với tư duy thuần tuý, không sử dụng thị giác trong suy tưởng, [66a] hoặc lôi kéo bất kỳ giác quan nào trong suy luận, người theo đuổi sự thật bằng cách ứng dụng tư tưởng thuần túy, trinh nguyên vào sự vật thuần túy, trinh nguyên, cắt đứt bản thân càng nhiều càng tốt khỏi con mắt, cặp tai cùng mọi thứ của thể xác, vì thể xác quấy nhiễu linh hồn, ngăn chặn linh hồn đạt tới sự thật và hiểu biết trong sáng? Simmias ơi, có phải người này là người sẽ tiến tới thực tại không?
Thưa, điều tiên sinh nói tuyệt đối đúng, Simmias đáp.
Điều vừa kể, Socrates tiếp lời, đương nhiên sẽ thúc đẩy triết gia chân thực suy tư [b] rồi trao đổi với nhau thế này: Xem ra dường như có đường hẻm dẫn ra đường chính đưa ngô bối cùng lý luận truy tìm sự thật rời khỏi chỗ lộn xộn đến nơi an toàn, vì chừng nào có thể xác mà linh hồn ô nhiễm như thế, ngô bối sẽ chẳng bao giờ có cơ may đạt mục đích một cách thỏa đáng, nắm bắt cái ngô bối xác nhận là sự thật. Trước hết thể xác khiến ngô bối bận rộn trăm chiều vì phải cung ứng vô vàn nhu cầu cần thiết. Hơn thế, nếu chẳng may mắc bệnh, bệnh thường tấn công, ngăn cản ngô bối đi tìm sự thực. [c] Ngoài ra, thể xác đòi hỏi ngô bối đáp ứng đầy đủ khao khát, thèm muốn, sợ sệt, đủ thứ ảo tưởng, vô số phi lý, nên như người ta nói thực sự và thực tế là ngô bối không bao giờ có cơ hội nghĩ ngợi về bất kể điều gì. Chiến tranh, hỗn loạn, trận mạc hoàn toàn do thể xác và thèm muốn của thể xác gây ra. Chiến tranh nào cũng nhằm vơ vét của cải; tại sao ngô bối phải vơ vét của cải ấy là do thể xác, vì ngô bối là nô lệ phục vụ thể xác. [d] Đó là lý do tại sao ngô bối không có thì giờ thực tập triết học. Tệ hơn hết nếu rảnh rỗi không bị thể xác quấy rầy, quay ra tìm hiểu, thể xác lại thọc gậy bánh xe can thiệp, phá rối, chặn đứng ngô bối thực hiện điều mong muốn, ngăn cản ngô bối tiến tới tìm kiếm sự thật. Sự thật đã cho thấy rõ ràng nếu muốn có hiểu biết tinh khiết về bất kể cái gì, ngô bối phải đào thoát khỏi thể xác, quan sát sự vật trong chính sự vật bằng linh hồn do chính linh hồn. Xem ra thì hình như ngô bối sẽ, [e] chỉ lúc đó, khi ngô bối chết, đạt tới cái ngô bối mong muốn, cái ngô bối khẳng định là người yêu, đem lòng yêu thương, nghĩa là, hiểu biết, như lý luận của ngô bối cho thấy, không phải lúc ngô bối sống. Nếu không thể đạt tới hiểu biết tinh khiết bằng thể xác, đương nhiên một trong hai điều sẽ là sự thật: một là ngô bối không bao giờ có thể đạt tới hiểu biết, hai là chỉ sau khi nhắm mắt lìa đời ngô bối mới có thể đạt tới hiểu biết, vì lúc đó, và chỉ lúc đó, không phải trước đó, linh hồn tự nó tách khỏi thể xác. [67a] Trong khi sống ngô bối sẽ gần gũi hiểu biết hơn hết nếu kìm hãm càng mạnh càng tốt kết hợp với thể xác, hoặc tăng gia tiếp xúc với thể xác nhiều hơn cần thiết, nếu không bị nhiễm độc vì bản chất thể xác, nhưng thanh tẩy bản thân tới khi thần linh giải thoát. Theo cách này ngô bối sẽ thoát khỏi tình trạng dơ bẩn do thể xác rồ dại gây nên; ngô bối sẽ gia nhập hàng ngũ người cùng loại, và do cố gắng riêng tư ngô bối sẽ biết cái tinh khiết, cái thầm hiểu là sự thật, bởi theo lẽ tự nhiên cái ô uế không thể bao giờ đạt tới cái tinh khiết. [b] Simmias ơi, điều như thế là điều người yêu chuộng học hỏi đúng cách, đúng đường phải trao đổi với nhau và tin tưởng. Chẳng hay quý hữu có nghĩ vậy không?
Thưa, chắc chắn, tiên sinh.
Ờ, nếu điều vừa nói mà đúng, quý hữu, Socrates tiếp tục, rất hy vọng khi đến nơi bản thân đang cất bước tiến tới, bất kể nơi nào, bản nhân sẽ sở đắc cái trong cuộc đời quá khứ ngô bối hằng quan tâm, như vậy hành trình bây giờ bản nhân phải thực hiện mới tràn trề hy vọng, [c] vì hành trình cũng dành cho bất kỳ ai tin tưởng tâm trí đã chuẩn bị và thanh tẩy.
Thưa, đương nhiên là vậy, Simmias nói.
Liệu thanh tẩy có đưa đến kết quả bàn luận lúc nãy ngô bối nhắc tới không, nghĩa là, tách linh hồn rời thể xác, càng xa càng tốt, huấn luyện cho linh hồn tự tập trung, tự thu thập từ mọi phần của thể xác, tự sinh sống càng lâu càng tốt, cả hiện tại lân tương lai, [d] bứt khỏi ràng buộc của thể xác? Được không?
Chắc chắn được.
Bứt và tách linh hồn khỏi thể xác người ta gọi là chết đúng không?
Thưa, chắc vậy.
Ngô bối nói đặc biệt, chỉ người thực tập triết học đúng đường, đúng lối mới mong mỏi giải thoát linh hồn; giải thoát và tách biệt linh hồn khỏi thể xác là điều triết gia hằng bận tâm.
Vâng, dường như vậy.
Bởi thế, như bản nhân nói lúc bắt đầu điểm này nghe tức cười, phi lý hết sức người khi sống cố gắng sống trong trạng thái gần gũi cái chết [e] thế mà lúc cái chết tới gần lại giãy nảy hoảng hốt, buồn rầu!
Tức cười, phi lý, dĩ nhiên, làm sao chối bỏ?
Trái lại, Simmias biết chứ, tiên sinh tiếp tục, người thực tập triết học đúng đường, đúng lối cố gắng tập luyện chuẩn bị để chết, họ sợ chết ít hơn mọi người. Để ý sự kiện theo cách này. Nếu họ hoàn toàn ngán ngẩm với thể xác, nếu họ muốn linh hồn tách biệt khỏi thể xác, vậy khi chết xuất hiện mà tỏ ra sợ hãi, bực bội thử hỏi có phải là phi lý hết sức không? Nếu không vui vẻ ra đi tới nơi, khi tới, họ hy vọng nắm bắt cái họ hằng khao khát suốt cả cuộc đời, nghĩa là, hiểu biết, [68a] tới nơi họ sẽ thoát cảnh liên hợp miễn cưỡng họ từng ngán ngẩm?
Nhiều người khi vợ, con hay người yêu chết nhất định muốn chết cho rồi, hăm hở hy vọng xuống âm phủ sẽ nhìn, sẽ gặp, sẽ gần gũi người mình từng yêu thương. Nếu sự thể là vậy, liệu người yêu hiểu biết chân chính, ấp ủ hy vọng tương tự, lại thừa biết sẽ không bao giờ thấy cảnh đó trừ dưới cõi âm, có sẽ khước từ chết, sẽ không vui vẻ thực hiện hành trình xuống đó không? Quý hữu trai trẻ ơi, đương nhiên ngô bối phải giả dụ, nghĩa là nếu là triết gia chân thực, vì triết gia chân thực vững tin triết gia sẽ không tìm thấy [b] hiểu biết thuần túy ở nơi nào trừ nơi đó. Nếu sự thể là vậy, như bản nhân vừa nói, vậy người như thế mà sợ chết dám hỏi có cực kỳ phi lý không?
Trời đất ơi, đương nhiên! Simmias đáp.
Vậy quý hữu có đủ chỉ dẫn để nhận định, tiên sinh nói, người quý hữu nhìn thấy sợ chết không phải người yêu hiểu biết mà là người yêu thể xác, đồng thời là người yêu tiền tài, danh vọng, yêu một hoặc yêu cả hai. [c]
Đúng như tiên sinh nói.
Và Simmias ơi, tiên sinh tiếp lời, đức tính gọi là can đảm đặc biệt thuộc về người có khuynh hướng triết lý phải không?
Thưa, chắc hẳn vậy.
Và tiết độ với phẩm chất của nó đa số người đời cũng mệnh danh như thế, nghĩa là, không để đam mê lôi cuốn, mà tế nhị coi thường, kìm hãm đam mê, không chỉ thích hợp với người coi nhẹ thể xác, sống cuộc đời triết lý, yêu chuộng hiểu biết phải không? [d]
Hẳn thế.
Nếu sẵn sàng suy ngẫm can đảm, tiết độ như người khác thể hiện, quý hữu sẽ thấy họ kỳ lạ.
Như thế nào, thưa tiên sinh?
Quý hữu biết, trừ triết gia, họ đều coi chết là cái bất hạnh nhất đời.
Rõ ràng, chẳng cần bàn cãi.
Có phải khi trực diện cái chết người can đảm làm vậy là vì sợ cái bất hạnh hơn nữa không?
Thưa, chắc vậy.
Như vậy sợ hãi và khiếp đảm khiến con người can đảm, trừ triết gia; nhưng phi lý vô cùng can đảm lại do khiếp đảm và nhút nhát mà ra.
Hiển nhiên. [e]
Người không phải triết gia mà sống tiết độ thì sao? Kinh nghiệm có tương tự không hả? Có phải buông thả sau đó khiến họ trở nên tiết độ không? Ngô bối có thể nói điều này bất khả, song dù sao người áp dụng hình thức tự chế đơn giản cũng na ná trường hợp bản nhân vừa miêu tả. Sợ mất vui thú hằng ao ước nên kiềm chế vui thú này vì họ không thể cưỡng lại vui thú kia. Mặc dù định nghĩa buông thả là điều kiện bị vui thú chế ngự, song sự thực là vì không thể chống lại thú vui này nên họ đành chế ngự thú vui kia. [69a] Sự thể như bản nhân vừa nói dù sao theo nghĩa nào đó buông thả đã khiến họ tiết độ.
Vâng, có vẻ đúng vậy.
Simmias quý hóa, thành thực ghi nhận hảo ý. Tuy nhiên, bản nhân sợ làm vậy, xét theo quan điểm đạo đức, không phải đường lối đổi trao đúng cách để vươn tới đạo đức, đổi trao vui thú lấy vui thú, đau khổ lấy đau khổ, sợ hãi lấy sợ hãi, nhiều lấy ít, như đổi trao tiền bạc giá trị khác nhau. Chỉ có đơn vị duy nhất giá trị thực sự mọi thứ vừa kể phải trao đổi ấy là hiểu biết. [b] Thực ra do hiểu biết ngô bối có thể có can đảm, tiết độ và chính trực, hoặc nói tóm lại, đạo đức chân thực, dù vui thú, sợ hãi hoặc cảm giác khác hiện diện hay vắng mặt sự thể không hề khác biệt. Trao đổi lẫn nhau trong riêng tư, không hiểu biết, không đạo đức như thế căn cứ trên giá trị tình cảm tương đối chỉ là bề ngoài ảo tưởng của đạo đức, chỉ thích hợp với hàng nô lệ, quan niệm hoàn toàn tầm thường bên trong không có gì chính xác, chân thực, trong khi tiết độ, can đảm, chính trực cụ thể và thực sự tẩy xóa những thứ như thế, và hiểu biết [c] chính nó là thứ tẩy rửa, thanh lọc. Hiển nhiên người thiết lập lễ nghi thụ pháp cho ngô bối noi theo không phải người kém cỏi, tầm thường mà là người cao cả luôn luôn qua thai ngữ, giáo lý bí ẩn hàm ngụ người xuống âm phủ không được truyền pháp, không được thanh hóa sẽ ngụp lặn trong bùn nhơ, người đến đó thanh tẩy, giác ngộ sẽ sống với thần linh. Lẽ thường chẳng thiếu người [d] như tín đồ giáo lý huyền bí nói: Người vác cây mật chùy thì nhiều, người đồng tế tửu thân lại rất ít. Số người sau theo thiển kiến không khác gì số người nghiền ngẫm triết học theo đúng đường lối. Trong khi hiện diện trên cõi đời, cố gắng hết sức để gia nhập hàng ngũ, cố gắng không bỏ cái gì dở dang, hăm hở như vậy là bản nhân mong muốn bằng mọi cách đạt tới mục đích. Không biết hăm hở của bản nhân đúng hay sai, không rõ ngô bối có hoàn tất cái gì hay không, song ngô bối sẽ biết, và biết chắc chắn, nếu thần linh quyết định, khi tới thế giới bên kia, bản nhân thầm nghĩ thời gian đó sẽ chẳng còn lâu.
Simmias và Cebes ơi, biện giải của bản nhân trình bày là vậy, biện giải như thế bản nhân muốn chứng tỏ bản nhân có thể điềm nhiên giã từ hai quý hữu và người cầm quyền trần thế, lòng không hề cảm thấy buồn rầu hay oán hận, vì tin tưởng [e] tới nơi đó bản nhân sẽ gặp, không kém nơi này, người cầm quyền tử tế và bạn bè chân thật. Nếu biện giải đối với hai quý hữu rành mạch, thuyết phục hơn đối với bồi thẩm đoàn Athens, bản nhân cảm thấy mãn nguyện vô cùng.
Socrates vừa dứt lời Cebes lên tiếng: Socrates, theo ngu kiến, phát biểu của tiên sinh tuyệt vời, song thiển nghĩ người bình thường khó lòng tin theo khi tiên sinh nói về linh hồn. [70a] Họ nghĩ sau khi giã từ thể xác linh hồn không hiện hữu ở đâu nữa; vừa lìa bỏ thể xác lúc con người trút hơi thở cuối cùng, linh hồn bị hủy diệt, tiêu vong; khi vĩnh biệt thể xác, tản mác như hơi thở, như làn khói, linh hồn bay xa, vun vút ra đi, phương hướng khác biệt, không còn là cái gì ở bất cứ nơi nào. Nếu linh hồn vẫn hiện hữu như thực thể độc lập, tự mình tụ lại, tự mình tồn tại, rũ bỏ mọi tác hại tiên sinh vừa kể, như vậy chắc hẳn có nhiều hy vọng điều tiên sinh nói là sự thật. [b] Nhưng tiện phu thầm nghĩ tin tưởng linh hồn vẫn tồn tại sau khi con người lìa đời, linh hồn vẫn có khả năng nhận thức có lẽ là điều đòi hỏi khá nhiều thiện chí, không ít lý luận thuyết phục.
Cebes ơi, điều quý hữu nói đúng đấy, vậy ngô bối sẽ làm thế nào? Quý hữu có muốn bàn thử xem điều này như bản nhân nói đúng hay sai không?
Thưa, phần riêng, Cebes đáp, về điểm đó tiện phu rất muốn nghe ý kiến tiên sinh.
Dù sao bản nhân nghĩ, Socrates tiếp lời, nghe bản nhân nói bây giờ, ngay cả thi sĩ hài hước, không ai bảo bản nhân ba hoa chích chòe, bàn chuyện không liên hệ bản thân. [c] Bởi thế ngô bối phải tiếp tục tìm hiểu, xem xét vấn đề thật cẩn thận, nếu quý hữu nghĩ ngô bối nên làm. Ngô bối nên tiếp cận vấn đề từ điểm này: Khi con người chết, linh hồn có tồn tại trong thế giới khác không? Bản nhân vẫn nhớ huyền thoại cổ xưa kể linh hồn ở đó sau khi rời đây; linh hồn trở lại thế giới này và sinh ra từ người chết. Nếu quả thực sự thể là thế, người sống đến từ người chết, vậy chắc hẳn linh hồn hiện hữu ở thế giới bên kia? Linh hồn không thể trở lại nếu không tồn tại; điều này đủ chứng tỏ [d] nhận định của bản nhân là đúng nếu quả thật người sống đến từ người chết, và không bao giờ tới từ nơi nào khác. Nếu sự thật không phải vậy ngô bối sẽ cần lập luận khác.
Chắc vậy, Cebes nói.
Đừng giới hạn, tiên sinh nói, vào con người nếu quý hữu muốn tìm hiểu vấn đề đầy đủ, mà nên lấy cả súc vật, cây cối làm đối tượng. Tóm lại, đối với mọi sự vật sinh ra ngô bối nên để ý có phải sự vật sinh ra theo cách này và không phải cách khác, nghĩa là, [e] từ đối nghịch nếu có đối nghịch, như chẳng hạn đẹp đối nghịch với xấu, đúng đối nghịch với sai, và hàng ngàn sự việc tương tự. Và ngô bối để ý có phải cái có đối nghịch đương nhiên phải sinh ra từ đối nghịch, không từ cái khác. Chẳng hạn cái sinh ra để lớn đương nhiên phải nhỏ trước rồi mới trở thành lớn?
Vâng.
Cũng như nếu cái sinh ra nhỏ, cái đó phải lớn trước rồi mới trở thành nhỏ sau? [71a]
Thưa, đúng thế.
Cái yếu sinh ra từ cái mạnh, cái nhanh sinh ra từ cái chậm?
Chắc vậy.
Thí dụ nữa: nếu cái trở thành xấu, có phải cái đó sinh ra từ cái tốt không? Và nếu cái trở thành đúng, có phải cái đó sinh ra từ cái không đúng không?
Dĩ nhiên.
Vậy là về điểm này ngô bối đã qui định đầy đủ sự vật đều sinh ra theo cách này, đối nghịch từ đối nghịch?
Đương nhiên.
Còn câu hỏi nữa thế này về đối nghịch. Thí dụ vừa kể có tiêu biểu đặc trưng khác không, giữa mỗi cặp đối nghịch có hai tiến trình phát sinh, [b] từ cái này tới cái kia, rồi từ cái kia đến cái này không? Giữa cái lớn và cái nhỏ có tiến trình tăng và giảm về kích thước, ngô bối miêu tả tiến trình này tăng, tiến trình kia giảm về khuôn khổ, phải không?
Vâng, Cebes đáp.
Bởi thế cũng có tách biệt và kết hợp, lạnh và nóng, sự việc đều như thế. Mặc dù đôi khi ngô bối không sử dụng từ ngữ diễn tả bằng nhiều tên gọi, song thực ra tiến trình hiện diện khắp nơi nên phát sinh từ cái này sang cái kia, và có tiến trình phát sinh từ cái này thành cái kia?
Chắc thế.
Vậy có đối nghịch với sống không như ngủ đối nghịch với [c] thức?
Hiển nhiên.
Cái đó là gì?
Là chết.
Vậy nếu là đối nghịch, hai cái sẽ trở thành cái này là cái kia và ngược lại, như thế có hai tiến trình phát sinh giữa hai cái?
Dĩ nhiên.
Bây giờ bản nhân sẽ giải thích cho quý hữu hay, Socrates tiếp lời, một trong hai cặp đối nghịch vừa đề cập, đối nghịch và phát sinh của cặp đó, quý hữu sẽ cắt nghĩa cho bản nhân hay cặp kia. Bản nhân muốn nói đối nghịch giữa ngủ và thức; thức đến từ ngủ, [d] ngủ đến từ thức. Tiến trình phát sinh giữa hai cái là đi ngủ và thức dậy. Quý hữu có đồng ý như thế hay không?
Thưa, chắc chắn.
Bây giờ đến lượt quý hữu cho bản nhân biết theo cách tương tự về sống và chết. Quý hữu có công nhận chết là đối nghịch của sống không?
Thưa, có.
Hai cái phát sinh từ cái này rồi cái kia?
Vâng.
Cái gì phát sinh từ sống?
Chết.
Cái gì phát sinh từ chết?
Đương nhiên tiện phu phải đồng ý là sống.
Vậy sinh vật và sự vật sống sinh ra từ sinh vật và sự vật chết, phải không Cebes?
Thưa, dường như vậy. [e]
Vậy linh hồn con người hiện hữu ở thế giới bên kia?
Thưa, chắc thế.
Trường hợp này trong hai tiến trình phát sinh một là chắc chắn, vì theo bản nhân chết là rõ ràng, phải không?
Vâng, chắc vậy.
Ngô bối sẽ làm thế nào tiếp theo? Ngô bối sẽ loại bỏ tiến trình bổ túc, thay vào đó khẳng định chỗ này luật tự nhiên khiếm khuyết? Hay ngô bối phải đề cập tiến trình đối nghịch tiến trình chết?
Đương nhiên ngô bối phải đề cập.
Tiến trình đó thế nào?
Trở lại sự sống.
Bởi thế, tiên sinh nói, nếu có cái gọi là trở lại sống, [72a] vậy chắc hẳn đó là tiến trình trở lại từ chết sang sống?
Chắc vậy.
Do đó ngô bối cũng đồng ý điểm này: người sống trở lại từ người chết không khác gì người chết trở lại từ người sống. Nếu sự thể là vậy, sự thể dường như đủ chứng tỏ linh hồn người chết phải tồn tại ở đâu đó rồi từ đó tái sinh.
Tiên sinh, tiện phu nghĩ điểm này ngô bối đã đồng ý.
Bản nhân cũng nghĩ có cách khác, Cebes. Nếu đồng ý quý hữu sẽ thấy ngô bối không sai lầm đâu. Nếu hai tiến trình phát sinh không luôn luôn tương hợp, thay vì thế đi theo vòng tròn, [b] nếu phát sinh là đường thẳng tiến từ điểm phát xuất tới điểm đối nghịch, không quay lại khởi điểmhoặc đổi hướng đi xiên, quý hữu có nghĩ rút cuộc mọi thứ đều có cùng hình trạng, tiến tới cùng trạng thái và cùng ngừng biến đổi không?
Tiên sinh muốn nói thế nào?
Điều bản nhân muốn nói không có gì khó hiểu, Socrates đáp. Chẳng hạn, nếu tiến trình buồn ngủ tồn tại, song tiến trình tương ứng muốn thức không đủ khả năng cân bằng lực lượng, quý hữu sẽ thấy cuối cùng mọi sự chứng tỏ chuyện Endymion vô nghĩa. [c] Chẳng ai nhận ra chàng, vì mọi vật sẽ cũng ở trạng thái thiếp ngủ như chàng. Nếu mọi vật kết hợp, không bao giờ tách rời, câu nói Anaxagoras miêu tả đương nhiên là sự thật, ông bảo ‘mọi vật hòa lẫn với nhau’. Cũng như, Cebes quý mến ơi, nếu mọi vật tham dự sự sống mà chết, nếu sau khi chết mọi vật ở trạng thái đó, không trở lại trạng thái sống nữa, vậy cuối cùng mọi vật đều chết, không có vật nào sống phải không? [d] Ngay cả nếu vật sống đến từ nguồn sống khác, không phải chết, nếu mọi vật sống đều chết, thử hỏi mọi vật làm sao tránh khỏi cạn kiệt trong tiến trình từ sống đến chết?
Thưa, không thể, tiện phu nghĩ điều tiên sinh nói là sự thật.
Cebes ơi, bản nhân nghĩ đây rõ ràng là sự thật, ngô bối không sai lầm khi đồng ý điểm này: trở lại cuộc đời là sự thật, người sống đến từ người chết là sự thật, và linh hồn người chết tồn tại là [e] sự thật.
Hơn thế, xin thưa, Cebes đáp, đây cũng là luận điểm cần bàn nếu quan niệm tiên sinh thường miêu tả cho ngô bối hay mà đúng, cái ngô bối gọi là nhận thức chẳng qua chỉ là hồi tưởng. Theo luận điểm này cái ngô bối hồi tưởng bây giờ chắc hẳn là cái ngô bối nhận thức lúc nào đó trước kia. Sự thể chỉ có thể khả dĩ [73a] nếu linh hồn ngô bối hiện hữu ở nơi nào trước khi nhập vào thể xác. Vì thế cũng theo quan niệm này chắc hẳn linh hồn là thực thể bất tử.
Cebes, Simmias ngắt lời, chứng minh luận điểm đó thế nào? Vui lòng nhắc lại, vì lúc này hạ nhân hoàn toàn không nhớ.
Ý kiến rất hay, Cebes đáp, nhất là khi có người đặt câu hỏi. Nếu câu hỏi đặt đúng cách, người ta sẽ trả lời chính xác. Người ta sẽ không thể trả lời chính xác, nếu không hiểu, không nắm chắc đề tài. Nếu [b] thân hữu chỉ cho người ta xem hình vẽ hoặc cái gì tương tự, sự thể sẽ cho thấy rõ ràng luận điểm đó đúng.
Nếu không đồng ý, Simmias, Socrates nói, vậy để ý xem liệu có tán thành hay không ngô bối tìm hiểu luận điểm theo cách thế này, vì bản nhân thầm nghĩ quý hữu có ý nghi ngờ làm sao ngô bối có thể bảo nhận thức là hồi tưởng?
Hạ nhân không hề nghi ngờ tiên sinh, Simmias đáp, song muốn tìm hiểu điều ngô bối đang bàn, hồi tưởng, và điểm Cebes định giải thích, bây giờ hạ nhân nhớ ra rồi và hầu như đồng ý. Tuy thế, lúc này hạ nhân muốn nghe cung cách tiên sinh định giải thích luận điểm.
Thế này này, tiên sinh nói. Đương nhiên ngô bối đồng ý nếu bây giờ nhớ cái gì ngô bối phải biết cái đó trước kia? [c]
Vâng, hẳn thế, Simmias đáp.
Ngô bối cũng đồng ý khi nhận thức xuất hiện trong trí theo cách đặc biệt đó là nhớ lại? Bản nhân sẽ giải thích bản nhân định nói thế nào? Như thế này. Khi một người nhìn, nghe hoặc bằng cách khác nhận ra cái gì, không những biết cái đó, mà còn nghĩ tới cái khác, hiểu biết về cái đó không tương tự mà khác biệt, ngô bối không có lý hay sao khi nói người đó hồi tưởng cái thứ hai khi cái thứ hai xuất hiện trong trí?
Tiên sinh muốn nói thế nào? [d]
Lấy ví dụ. Biết một người đương nhiên là biết khác với biết cây đàn.
Dĩ nhiên.
A, quý hữu biết chuyện gì xảy ra với người yêu khi nhìn thấy cây đàn, bộ quần áo, hay bất kể cái gì người yêu quen sử dụng? Khi nhận ra cây đàn, người yêu cũng thấy xuất hiện trong trí hình ảnh chàng trai chủ nhân cây đàn. Đó là hồi tưởng. Cũng như người nào đó vừa nom thấy Simmias liền nhớ ra Cebes, và dĩ nhiên hàng ngàn trường hợp tương tự.
Trời! Vâng, hàng ngàn thật đấy, Simmias nói.
Bởi vậy khi nói hồi tưởng là ngô bối hàm ý loại kinh nghiệm bản nhân vừa miêu tả, nhất là khi kinh nghiệm diễn ra lại liên hệ tới sự việc [e] khá lâu không nhìn thấy bây giờ ngô bối quên rồi.
Chắc vậy.
Ờ, thế thì, tiên sinh tiếp tục, nhìn bức tranh con ngựa, cây đàn người nhìn có liên tưởng người nào đó, hoặc người nào đó nhìn tấm hình Simmias có nhớ ra Cebes không?
Chắc chắn.
Từ đó có thể suy ra hồi tưởng là do đối tượng tương tự hoặc khác biệt không? Nhìn hình Simmias nhớ ngay Simmias người thật chứ?
Thưa, có thể.
Trong trường hợp vừa kể hồi tưởng là do sự vật tương tự, song cũng có thể do sự vật khác biệt? [74a]
Vâng, có thể.
Khi hồi tưởng là do sự vật tương tự, vậy có cần để ý điều này không: tình trạng tương tự ngô bối hồi tưởng là tương tự từng phần hay toàn bộ?
Tất nhiên phải để ý.
À, ừ, để ý bước tiếp theo xem có phải thế này không, Socrates nói. Ngô bối công nhận có tình trạng gọi là bằng nhau, không phải bằng nhau của khúc gỗ với khúc gỗ, tảng đá với tảng đá, hoặc bất kể cái gì, mà của cái vượt xa, vượt trên, khác hẳn tất cả, cái bằng nhau tự nó, cái bằng nhau tuyệt đối. Ngô bối có công nhận tình trạng này hiện hữu hay không?
Thưa, có, đương nhiên, Simmias nói lớn tiếng, [b] trời ơi, nhấn mạnh là khác!
Ngô bối có biết bản chất bản thể tuyệt đối này không?
Biết chứ, nhất định.
Căn cứ vào đâu ngô bối biết cái đó? Có phải từ thí dụ đặc biệt, vật thể ngoại giới ngô bối vừa nhắc tới không? Có phải từ nhìn khúc gỗ, tảng đá hay vật thể bằng nhau ngô bối có ý niệm bằng nhau tuyệt đối mặc dù cái đó khác hẳn những cái kia không? Hay cái đó đối với quý hữu không khác biệt? Cũng nên để ý vấn đề thế này. Có phải tảng đá bằng nhau, khúc gỗ bằng nhau, đôi khi tự chúng vẫn vậy, không hề thay đổi, có vẻ bằng nhau với người này, song không bằng nhau với người kia không?
Đương nhiên.
Nhưng vật thể tự chúng bằng nhau thì sao? Quý hữu có bao giờ nghĩ vật thể tuyệt đối bằng nhau thực ra không bằng nhau, [c] hoặc tình trạng bằng nhau tuyệt đối là tình trạng không bằng nhau không?
Không, chưa bao giờ, thưa tiên sinh.
Vậy vật thể bằng nhau vừa nói và bằng nhau tuyệt đối có tương tự không?
Không hề tí nào, như chỗ hạ nhân thấy, thưa tiên sinh.
Nhưng do vật thể bằng nhau, mặc dù khác biệt bằng nhau tuyệt đối, quý hữu rút ra và nắm bắt ý niệm về bằng nhau tuyệt đối, đúng không?
Thưa, đúng hết sức.
Bằng nhau tuyệt đối tương tự hay khác biệt vật thể bằng nhau?
Khác biệt.
Nhưng không khác nhau, Socrates nói. Nếu nhìn vật thể này quý hữu nhớ ra vật thể kia, dù hai vật thể tương tự hay không, sở dĩ vậy ấy là do nguyên nhân của hồi tưởng. [d]
Hẳn thế.
Vậy, tiên sinh tiếp lời, ngô bối thấy gì trong ví dụ khúc gỗ bằng nhau, tảng đá bằng nhau, vật thể bằng nhau như vừa nói? Vật thể đó có gợi ấn tượng bằng nhau không? Đối với ngô bối vật thể đó có bằng nhau theo nghĩa tương tự trong đó bằng nhau tuyệt đối là bằng nhau không? Hay không bằng nhau với bằng nhau tuyệt đối ở mức độ nào đó, vì chỉ đạt mức độ gần bằng nhau?
Thưa, không thể bằng nhau ở mức độ vô cùng lớn lao, Simmias đáp.
Chẳng hạn khi thấy cái gì quý hữu thầm nhủ: Cái này mình thấy hình như giống cái đó, nhưng không giống, và không thể thực sự giống cái đó, vì kém cỏi, chỉ na ná, từa tựa thôi. [e] Quý hữu có đồng ý với bản nhân người tiếp nhận ấn tượng vừa kể thực ra đã biết cái đó từ trước nên nói cái này giống cái đó, song không hoàn toàn không?
Chắc hẳn đã biết.
Ơ, hay quá, thế thì có phải đó cũng là nhận định của ngô bối đối với vật thể bằng nhau và bằng nhau tuyệt đối không?
Đúng thế.
Vậy chắc hẳn ngô bồi phải biết trước về bằng nhau tuyệt đối trước thời gian lần đầu khi ngô bối nhìn vật thể bằng nhau và nhận ra vật thể cố gắng giống bằng nhau tuyệt đối, song không thể đạt mục đích. [75a]
Đúng vậy.
Thế thì chắc hẳn ngô bối cũng đồng ý điểm này, ngô bối không có và không thể sở đắc khái niệm về bằng nhau trừ qua thị giác, xúc giác, hay giác quan nhận thức khác. Bản nhân coi các giác quan đều tương tự.
Giác quan đều tương tự, tiên sinh, vì mục đích ngô bối muốn minh chứng qua bàn luận.
Nhận thức qua giác quan đương nhiên khiến ngô bối ý thức [b] những gì nhận thức qua giác quan đều cố gắng đạt cái gọi là bằng nhau tuyệt đối, song không thể. Có phải thế không hay ngô bối diễn tả ý niệm đó thế nào?
Vâng, như thế.
Trước khi bắt đầu nhìn, nghe hoặc nhận thức cách khác chắc hẳn ngô bối đã biết có cái gọi là bằng nhau tuyệt đối ở đâu đó, nếu không ngô bối chẳng bao giờ có thể nhận ra, do sử dụng bằng nhau tuyệt đối như tiêu chuẩn để so sánh, mọi vật thể bằng nhau theo giác quan đều cố gắng giống bằng nhau tuyệt đối, song không thể vì chỉ là phiên bản bất toàn.
Đó là kết luận hợp lý, tiên sinh.
Có phải ngô bối bắt đầu nhìn, nghe, và sử dụng giác quan khác ngay khi vừa chào đời không?
Chắc chắn.
Nhưng ngô bối công nhận ngô bối phải biết bằng nhau tuyệt đối trước khi nhìn, nghe, nhận thức cách khác. [c]
Vâng.
Bởi thế ngô bối phải biết bằng nhau tuyệt đối trước trước khi chào đời.
Hình như thế.
Vậy nếu đạt tới hiểu biết này trước khi sinh ra, sở đắc hiểu biết này khi sinh ra, cả trước lúc chào đời lẫn lúc chào đời, ngô bối nắm vững hiểu biết không những bằng nhau và qui mô tương đối, mà cả mọi tiêu chuẩn tuyệt đối. Vì nhận định hiện tại của ngô bối không còn về bằng nhau tuyệt đối nữa mà về cái mỹ tuyệt đối, cái thiện tuyệt đối, cái chân tuyệt đối, cái chính tuyệt đối, [d] và như bản nhân nói, về tất cả đặc tính đó trong thảo luận ngô bối có thể gán chữ ‘tự thân’, ‘chính nó’, ‘tuyệt đối’ cả khi hỏi lẫn khi trả lời. Bởi thế ngô bối phải biết trước tất cả đặc tính đó trước khi chào đời .
Thưa, chắc vậy.
Sau khi sở đắc hiểu biết như thế trong mỗi trường hợp, nếu chưa quên, ngô bối luôn luôn sinh ra biết và tiếp tục biết suốt đời, vì biết đơn giản nghĩa là thâu lượm, duy trì, giữ gìn, không đánh mất hiểu biết. Ngô bối có gọi mất hiểu biết là quên không hở Simmias?
Hầu như có, tiên sinh. [e]
Dẫu thế, bản nhân nghĩ, nếu thu thập hiểu biết trước khi sinh, rồi đánh mất khi sinh, về sau do sử dụng giác quan liên hệ với vật thể khách quan, tìm thấy hiểu biết đã có, vậy cái ngô bồi gọi là nhận thức có phải đúng là tìm thấy hiểu biết của ngô bối, và ngô bối có quyền gọi sự tìm thấy là hồi tưởng không?
Có thể chứ sao.
Đúng rồi, [76a] vì ngô bối thấy có thể nhận thức vật thể bằng thị giác, thính giác hay bất kể giác quan nào cung ứng cho người nhận thức, qua kết hợp dù tương tự hay không với vật thể khác người đó đã quên. Bởi thế, như bản nhân nói, có hai điều để chọn: một là sinh ra đều biết tiêu chuẩn vừa kể, ngô bối duy trì hiểu biết đó suốt đời; hai là khi nói con người nhận thức, ngô bối muốn nói con người chỉ hồi tưởng những gì đã biết trước kia; nói khác đi, nhận thức là hồi tưởng.
Vâng, đúng thế, thưa tiên sinh.
Vậy quý hữu chọn điều nào hở Simmias? Khi sinh ra ngô bối đã biết, [b] hay ngô bối hồi tưởng sự việc đã biết trước khi sinh ra?
Hạ nhân chưa biết chọn điều nào lúc này, thưa tiên sinh.
Ơ, quý hữu có thể chọn điều này không? Quý hữu nghĩ thế nào? Người am tường đề tài có thể giải thích những gì người đó biết hay không?
Chắc chắn người đó có thể.
Quý hữu có nghĩ mọi người đều có thể giải thích điều ngô bối vừa đề cập không?
Hạ nhân hy vọng có, Simmias đáp, nhưng lo hết sức vào khoảng thời gian này ngày mai sẽ không có người nào trên trần gian có thể làm việc đó trơn tru.
Như vậy nghĩa là [c] quý hữu nghĩ không có ai biết điều đó chứ gì, Simmias?
Chắc hẳn không.
Vậy họ chỉ hồi tưởng những gì trước kia đã nhận thức?
Thưa, trả lời như thế mới đúng.
Khi nào linh hồn ngô bối sở đắc hiểu biết này? Chắc chắn không thể sau khi ngô bối bắt đầu sinh ra làm người trên trần gian.
Không, dĩ nhiên không.
Trước đó chứ gì?
Vâng.
Vậy, Simmias, linh hồn ngô bối hiện hữu trước khi nhập vào thể xác; linh hồn biệt lập với thể xác; và linh hồn sở đắc năng lực nhận thức.
Trừ phi ngô bối tiếp nhận hiểu biết lúc chào đời, tiên sinh ạ, vì đó là khoảng thời gian ngô bối vẫn có thể.
Đúng thế, quý hữu quý mến, nhưng xin cho hay ngô bối mất hiểu biết lúc nào? [d] Ngô bối vừa đồng ý lúc sinh ra ngô bối không có hiểu biết. Vậy có phải ngô bối mất đúng lúc sở đắc không? Hay quý hữu có thể nêu kể thời gian khác?
Không, dĩ nhiên không, hạ nhân không thể, thưa tiên sinh. Hạ nhân không hiểu làm vậy là hạ nhân nói điều phi lý.
Ơ, có phải ngô bối kết luận thế này không hở Simmias? Nếu thực thể tuyệt đối ngô bối thường xuyên đàm luận thực sự hiện hữu, như cái đẹp tự nó, cái thiện chính nó, tóm lại thực thể thuộc loại thực sự là nó; nếu ngô bối qui chiếu mọi sự vật với thực thể đó, qua thời gian nhận thức, khám phá thấy hiểu biết của ngô bối về thực thể đó đã tồn tại từ trước, và sẵn sàng là của ngô bối; nếu thực sự muốn so sánh mọi sự vật ngô bối lý giải với thực thể đó, ngô bối phải thừa nhận [e] cũng như cái đẹp, cái thiện, linh hồn ngô bối hiện hữu trước khi ngô bối sinh ra; nếu thực thể này không hiện hữu, nhận định của ngô bối đều có vẻ viển vông? Có phải sự thể là thế, ấy là mức độ cần thiết bằng nhau để thực thể đó tồn tại, linh hồn ngô bối tồn tại trước cũng như sau khi ngô bối sinh ra? Nếu sự thể trên không tồn tại, sự thể dưới cũng không tồn tại?
Hạ nhân thấy, thưa tiên sinh, Simmias nói, rõ ràng không còn nghi ngờ gì nữa cần thiết mức độ bằng nhau để cả hai tồn tại. Hạ nhân nghĩ may hết sức trong biện luận ngô bối đi tới kết luận linh hồn hiện hữu trước khi ngô bối sinh ra và ngang bằng thực thể tiên sinh đang nói. [77a] Phần riêng hạ nhân hình dung hiển nhiên sự việc như thế đương nhiên phải hiện hữu trọn vẹn và đầy đủ, cái mỹ tuyệt đối, cái thiện tuyệt đối, và những cái tiên sinh vừa kể. Hạ nhân cũng nghĩ sự việc đã được chứng minh thỏa đáng.
Thế đối với Cebes thì sao? Socrates nói. Ngô bối cũng phải thuyết phục đương sự.
Hạ nhân nghĩ đương sự đã chịu thuyết phục, Simmias đáp, mặc dù trong đàm đạo là người khó thuyết phục nhất hạng. Dẫu vậy hạ nhân tin tưởng đương sự đã hoàn toàn đồng ý linh hồn ngô bối hiện hữu trước khi ngô bối sinh ra. Tuy nhiên, phần riêng hạ nhân thấy [b] ngô bối chưa chứng tỏ linh hồn tiếp tục hiện hữu sau khi ngô bối lìa đời; đương sự kể quan niệm tồn tại hiện thời, đa số người đời vững tin khi con người chết, linh hồn tan biến, cuộc đời chấm dứt. Như vậy là ngăn chặn linh hồn tái sinh, thành hình từ nguồn nào đó, hiện hữu trước khi nhập vào thể xác, rồi sau khi làm vậy lại rời bỏ thể xác ra đi, chấm dứt và tiêu vong.
Đúng thế, Simmias, [c]Cebes nói. Nửa phần những gì cần chứng minh đã chứng minh, nghĩa là, linh hồn ngô bối tồn tại trước khi ngô bối ra đời, nhưng bây giờ cũng cần chứng minh linh hồn sẽ tồn tại sau khi ngô bối lìa đời như trước khi ngô bối chào đời, nếu muốn chứng minh đầy đủ.
Sự thể đã chứng minh, Simmias và Cebes quý hóa ơi, Socrates tiếp lời, nếu hai quý hữu sẵn sàng phối hợp nhận định này với nhận định ngô bối đồng ý trước đây, bất kỳ cái gì sống cũng phải từ cái chết mà ra. Nếu hiện hữu từ trước, vì trở lại cuộc đời và tái sinh, linh hồn không tới từ nơi nào mà phải tới từ chết hoặc trạng thái chết, [d] cho nên vì phải tái sinh làm thế nào linh hồn có thể tránh hiện hữu sau khi chết? Điều quý hữu nói lúc đó bây giờ đã được chứng minh. Tuy nhiên, mặc dù vậy bản nhân nghĩ quý hữu và Simmias vẫn nên bàn luận điều đó đầy đủ hơn nữa. Quý hữu hình như mang nỗi sợ trẻ con, lòng canh cánh gió sẽ thế nào cũng đánh tan, thổi bạt linh hồn lúc linh hồn rời thể xác, [e] nhất là nếu chẳng may con người chết lúc phong ba bão táp, không phải lúc trời quang mây tạnh, thời tiết êm ả.
Cebes vừa cười vừa nói: Vậy, Socrates, giả dụ ngô bối sợ hãi, tiên sinh phải biện luận tìm cách thuyết phục đưa ngô bối ra khỏi sợ hãi. Hoặc trái lại, nói cho đúng, giả thử ngô bối không sợ hãi, song có lẽ trong ngô bối có đứa trẻ sợ hãi như thế, tiên sinh cũng phải tìm cách thuyết phục nó đừng sợ chết, làm như chết là con ngáo ộp, ông ba bị không bằng.
Đúng thế, Socrates đáp, quý hữu phải hát bài bùa chú phù phép cho nó nghe hàng ngày chừng nào nó hết sợ hãi mới thôi.
Nhưng, tiên sinh ơi, Cebes tiếp lời, ngô bối [78a] tìm đâu ra thầy bùa phù phép tài ba để trừ khử sợ hãi như thế, trong khi tiên sinh sắp sửa rời bỏ ngô bối?
Cebes đừng lo, Hy-lạp là xứ lớn rộng, ông nói, trong đó thiếu gì người tài ba; đấy là chưa kể bộ tộc ngoại lai cũng đông đảo; quý hữu nên kiếm thầy pháp như thế trong đám họ, đừng quản công lao, chớ ngại tốn phí, vì không có cái gì quý hữu có thể chi tiền mà mang lại lợi ích hơn cái đó. Tuy thế, quý hữu cũng phải tìm trong thân hữu, bởi không dễ gì kiếm người khác có thể làm việc này giỏi hơn quý hữu.
Thưa điều đó sẽ thực hiện, Cebes khẳng định, song xin tiên sinh vui lòng nếu không chống đối, để ngô bối quay lại [b] lý luận bỏ dở.
Dĩ nhiên, bản nhân sẵn sàng, tại sao không làm thế?
Đa tạ.
Trước hết ngô bối nên tự hỏi thế này: Loại vật thể nào sẽ tự nhiên gánh chịu số phận tan biến? Loại vật thể nào ở tình trạng này, và loại vật thể nào ngô bối không sợ như thế? Sau khi đã trả lời câu hỏi ngô bối cần xem xét linh hồn thuộc loại vật thể thứ nhất hay thứ nhì, do vậy ngô bối sẽ biết ngô bối cảm thấy tin tưởng hay lo sợ cho số phận linh hồn.
Điều tiên sinh nói nghe chí phải.
Có phải cái là hợp tố và hợp chất [c] theo lẽ tự nhiên thế nào cũng tan vỡ thành phần cấu thành, và chỉ cái không phải hợp tố, chỉ cái này thôi, là không tan vỡ không?
Tiện phu nghĩ đúng vậy, Cebes đáp.
Có phải vật thể luôn luôn như thế, ở trạng thái như thế, tự tại và bất biến, hầu như không là hợp chất, trong khi vật thể thay đổi theo thời gian và không bao giờ như thế là hợp tố không?
Tiện phu nghĩ vật thể là vậy.
Ngô bối quay lại thí dụ tương tự bàn luận trước đây. Có phải thực thể tuyệt đối [d] ngô bối định nghĩa trong khi đàm luận luôn luôn bất biến và không thay đổi hay không? Có phải thực thể đó ở trạng thái tự tại hay thay đổi theo thời gian? Bằng nhau tuyệt đối, cái đẹp tự nó, mỗi sự vật chính nó, cái chân tuyệt đối có thể bị thay đổi ảnh hưởng không? Hay mỗi vật thể thực sự là nó, vì đơn thuần là chính nó, vẫn như thế, không bao giờ chấp nhận thay đổi?
Sự vật đó luôn luôn như thế, Cebes đáp, và ở trạng thái bất biến, thưa tiên sinh.
Thế đa số vật thể thông thường ngoạn mục, như người, ngựa, quần áo, hay thứ khác cùng loại, [e] hoặc đa số vật thể thông thường bằng nhau, vật thể thông thường mang cùng tên gọi như vật thể khác, vật thể đặc biệt thì sao? Chúng có ở trạng thái tương tự không, hay hoàn toàn tương phản thực thể khác, nên có thể nói, chúng không bao giờ và bất kể thế nào ở trạng thái như thế, như chính chúng hoặc trong liên hệ nối chúng với nhau?
Chúng ở trạng thái đối nghịch, tiên sinh, không bao giờ ở trạng thái tương tự, Cebes đáp.
Vật thể này cụ thể [79a] quý hữu có thể tiếp xúc, quan sát, nắm bắt bằng giác quan; trái lại vật thể ở trạng thái tự tại, bất biến quý hữu không bao giờ có thể tiếp cận, trừ sử dụng khả năng lý luận của trí tuệ. Vật thể như thế vô hình, con mắt không thể tiếp cận.
Đúng quá, Cebes tiếp lời.
Vậy quý hữu có bằng lòng ngô bối giả định có hai loại vật thể tồn tại, một hữu hình, một vô hình không?
Thưa, ngô bối nên giả định.
Vật thể vô hình là vật thể luôn luôn ở trạng thái y hệt trong khi vật thể hữu hình không bao giờ như vậy?
Vâng, ngô bối cũng nên giả định như thế.
Bây giờ mới hỏi quý hữu. Câu hỏi thế này, Socrates nói. [b] Có phải ngô bối gồm hai phần: một phần thể xác và một phần linh hồn không?
Thưa, phải, Cebes đáp.
Vậy ngô bối có thể khẳng định thể xác gần giống và gần gũi loại hiện hữu nào?
Loại hữu hình như mọi người đều thấy.
Thế còn linh hồn? Hữu hình hay vô hình?
Vô hình đối với con người, thưa tiên sinh.
Ừ, ngô bối hàm ý hữu hình và vô hình đối với mắt con người, hay đối với mọi thứ, quý hữu nghĩ thế nào?
Đối với mắt con người.
Ngô bối nói thế nào về linh hồn? Hữu hình hay không hữu hình?
Không hữu hình.
Vậy là linh hồn vô hình?
Vâng.
Linh hồn vô hình hơn thể xác, và thể xác hữu hình hơn linh hồn? [c]
Đúng thế, không chút nghi ngờ, thưa tiên sinh.
Trước đây ít lâu ngô bối đã chẳng nói rồi sao khi linh hồn sử dụng thể xác để tìm hiểu cái gì, dù bằng thính giác, thị giác hay giác quan nào, vì tìm hiểu cái gì qua giác quan cũng là tìm hiểu qua thể xác, linh hồn bị thể xác lôi kéo vào biên cương cái bất định, tới sự vật không bao giờ như thế nữa, linh hồn lang thang, lạc lõng, lẫn lộn, choáng váng, như thể say sưa, chừng nào còn tiếp xúc với sự vật bản chất tương tự?
Chắc vậy.
Nhưng [d] khi tự mình, chính mình tìm hiểu vấn đề, tự mình, do mình đi vào thế giới tinh khiết, vĩnh cửu, bất tử, bất biến, vì tương tự, gần gũi, thân thuộc, linh hồn ở với thế giới đó bất kể khi nào linh hồn là chính mình và có thể làm vậy; linh hồn không còn lang thang, lạc lõng; linh hồn vẫn ở trạng thái tương tự khi tiếp xúc với sự vật cùng loại, trạng thái của linh hồn lúc đó gọi là nhận thức?
Miêu tả đúng và hay quá, tiên sinh, Cebes nói.
Lại xin hỏi: căn cứ vào những gì ngô bối nói trước đây, những gì ngô bối nói bây giờ mà nhận xét, [e] trong hai loại vừa kể, theo quý hữu, linh hồn giống và gần loại nào?
Thưa, tiện phu nghĩ, theo chiều hướng lý luận vừa kể, bất kỳ ai, dù là người đần độn nhất đời, cũng đồng ý linh hồn hoàn toàn và tuyệt đối giống cái luôn luôn tồn tại ở trạng thái bất biến hơn là giống cái không ở trạng thái đó.
Thể xác thì sao?
Giống trạng thái kia.
Cũng nên nhìn linh hồn theo cách này. Khi linh hồn và thể xác hợp nhất, theo lẽ tự nhiên [80a] cái này phục vụ và tuân theo, cái kia chỉ huy và cai quản. Cũng từ phối cảnh đó, theo quý hữu, cái nào giống cái siêu nhiên, cái nào giống cái trần tục? Quý hữu có nghĩ bản chất cái siêu nhiên theo lẽ tự nhiên là chỉ huy và hướng dẫn, trong khi bản chất cái trần tục theo lẽ tự nhiên là bầy tôi phục vụ và nô lệ tuân theo không?
Thưa, có.
Linh hồn giống cái nào?
Hiển nhiên, tiên sinh, linh hồn giống cái siêu nhiên, thể xác giống cái trần tục.
Tiếp theo, Cebes, để ý có phải sự thể đúng như những gì đã nói linh hồn giống hệt cái siêu nhiên, bất tử, vô hình, không biến hóa, không phân tán, không thay đổi, luôn luôn như chính nó, [b] trong khi thể xác y hệt cái trần tục, tất tử, hữu hình, biến hóa, phân tán, thay đổi, không bao giờ là chính nó. Ngô bối có lý luận nào khác để chứng tỏ, Cebes quý mến, sự thể không phải vậy không?
Thưa, không.
Ơ, nếu sự thể là thế vậy có phải theo lẽ tự nhiên thể xác tan biến nhanh chóng, song linh hồn hoàn toàn hoặc hầu như không tan biến không?
Chắc vậy. [c]
Quý hữu quan sát, tiên sinh tiếp lời, sau khi con người chết, phần hữu hình, thể xác, nằm trong thế giới hữu hình, ngô bối gọi là tử thi, sẵn sàng tan biến, teo co, phân hóa, song không tan biến, phân hóa tức thì. Thi thể ở tình trạng như thế thời gian đáng kể, có khi khá dài, nếu người chết thể xác ở điều kiện tốt đẹp, tuổi đời tràn trề sức sống. Nếu co teo và ướp thuốc, như ở Ai-cập, [d] thi hài sẽ tồn tại thời gian đặc biệt dài lâu, nhiều phần cơ thể – xương, gân cốt, bắp thịt, đại loại như thế, dù tiêu tan song vẫn trông như bất tử. Đúng không?
Thưa, đúng.
Ngô bối có tin linh hồn, phần vô hình của ngô bối từ đây lần đường tới nơi khác giống chính nó, cao cả, tinh khiết, vô hình, nghĩa là xuống âm phủ, gọi đúng tên là thế giới vô hình, sống cùng thần linh độ lượng, anh minh, nơi đó, nếu thần linh chỉ định, linh hồn bản nhân cũng phải đi xuống ngay cả bây giờ - ngô bối có tin linh hồn, bản chất cao cả, tinh khiết, vô hình như thế, bản nhân vừa miêu tả, vừa rời thể xác tan tác, tiêu vong tức thì vì gió thổi, như đa số thế nhân nói không? Không, Cebes và Simmias quý mến vô cùng, sự thật không phải thế, sự thật thế này, [e] bản nhân nói quý hữu hay. Nếu ra đi trong trạng thái tinh khiết, linh hồn không kéo theo bất kể cái gì dính dáng tới thể xác, vì suốt đời cố ý không định kết hợp, trái lại muốn tránh né, bây giờ thoát ra trót lọt, tập trung toàn thân trong chính mình, vì thường xuyên luyện tập như vậy, không làm gì khác, [81a] đúng thế, mà chỉ luyện tập triết học đúng đường đúng lối và thực ra luyện tập để trực diện cái chết dễ dàng, không oán trách, không rên rỉ, làm vậy không phải luyện tập để chết hay sao?
Thưa, chắc chắn.
Linh hồn ở trạng thái này đi tới cõi vô hình, cõi đó giống hệt linh hồn, cõi siêu nhiên, bất tử, sáng suốt, tới đó là sung sướng, bứt khỏi lang thang, rối loạn, mê muội, sợ sệt, thèm muốn man rợ, tóm lại mọi thói hư tật xấu ràng buộc cảnh sống của con người, tới đó như người ta nói về người thụ pháp nhập môn trong tôn phái thần bí, linh hồn thực sự sống thời gian còn lại cùng thần linh. Cebes, ngô bối có nên nói như thế hay khác đi?
Như thế, trời ơi, Cebes đáp.
Nhưng [b] bản nhân hình dung khi rời thể xác nếu ô uế, vấy bẩn, do luôn luôn gắn bó, phục vụ, yêu thương thể xác, say mê vì thèm muốn vật chất, thú vui xác thịt tới độ tưởng chừng trên đời dường như không còn gì là thật trừ vật chất có thể sờ, nhìn, ăn, uống hoặc sử dụng để thỏa mãn vui thú phàm thế, nếu biết ganh ghét, lo sợ, tránh né cái mờ ảo, vô hình đối với con mắt, song cụ thể và có thể nắm bắt bằng triết học, quý hữu có nghĩ, nếu ở trạng thái như thế, linh hồn có sẽ ra đi trong sạch, tinh khiết không?
Không, nhất định không thể. [c]
Trái lại, bản nhân tưởng tượng, chắc hẳn do thấm nhập yếu tố vật chất, luôn luôn giao hòa, kết hợp với thể xác, cũng như do thực hành lâu dài, linh hồn đã liên tục tắm gội, tiêm nhiễm thói quen.
Đúng vậy.
Quý hữu quý mến, ngô bối phải tin yếu tố có tính cách thể xác như thế nặng nề, cồng kềnh, trần tục và hữu hình. Vì yếu tố đó nên trở thành phục phịch, linh hồn bị kéo xuống lôi trở lại vùng hữu hình, kinh hãi cõi vô hình, nơi âm phủ, thế giới Diêm Vương. Người ta bảo yếu tố đó lang thang quanh quẩn mộ phần, mồ mả, [d] nơi vong linh rập rờn, hình bóng mập mờ linh hồn tạo thành xuất hiện, linh hồn chưa giải thoát, chưa thanh tẩy, song thơ thẩn trong cõi hữu hình, vì thế nên nhìn thấy.
Đúng thế, tiên sinh.
Thế thật, Cebes. Hơn nữa số này cũng không phải linh hồn người tử tế mà linh hồn kẻ xấu xa, bắt buộc lang thang nơi chốn như thế, đền trả món nợ trừng phạt kiếp trước sống tồi tệ. Số này tiếp tục thơ thẩn tới khi thèm khát vật chất cất bước theo sau bám chặt, [e] cuối cùng lại bị giam cầm trong thể xác. Lúc đó quý hữu có thể hình dung số này thế nào cũng kết hợp với nhà tù nét vẻ tương tự đã thực tập để sở đắc từ kiếp trước.
Nét vẻ thế nào hở tiên sinh?
Bản nhân muốn nói chẳng hạn người vun trồng tham ô, phóng đãng, say sưa quá độ, thay vì cố gắng tránh né, thế nào cũng đội lốt hình dạng loài lừa hoặc súc vật hư hỏng. [82a] Quý hữu có nghĩ thế không?
Chắc chắn.
Linh hồn đề cao bất chính, tàn ác, cướp đoạt, trộm cắp sẽ nhập vào thể xác chó sói, chim ưng, diều hâu. Nếu không thử hỏi linh hồn số đó sẽ đi đâu?
Đương nhiên nhập bọn đó, Cebes đáp.
Như vậy rõ ràng là bến đậu của linh hồn loại khác sẽ phù hợp với cung cách linh hồn đó đã cư xử ở đời.
Vâng, dĩ nhiên.
Bản nhân nghĩ linh hồn sung sướng hơn hết, linh hồn có nơi nhập tốt đẹp hơn hết là linh hồn đã luyện tập, trau dồi đức tính của công dân bình thường - gọi là điều độ, chính trực - sở đắc và phát triển theo thói quen và tập luyện, [b] không do triết lý hay trí năng trợ giúp.
Làm sao linh hồn đó lại sung sướng hơn hết?
Bởi chắc hẳn linh hồn đó lại gia nhập nhóm sinh vật hiền lành, kỷ luật, có đầu óc xã hội như kiến, ong làm mật, ong vò vẽ, hoặc trở lại hàng ngũ loài người, rồi từ đó trở thành công dân tiết độ, ngay thẳng.
Hẳn thế.
Linh hồn chưa tập luyện triết học, khi từ giã cõi đời không hoàn toàn tinh khiết, không thể đạt tới bản chất siêu việt, không thể gia nhập hàng ngũ thần linh, bất kể linh hồn nào, trừ triết gia và linh hồn yêu chuộng hiểu biết. [c] Vì thế, Simmias và Cebes quý mến ơi, đó là lý do tại sao linh hồn thực tập triết học đúng đường đúng lối kìm hãm, lánh xa, chế ngự, chống trả, cương quyết không đầu hàng đam mê thể xác. Thực không phải vì sợ phí phạm sức lực, tiêu hao tiền bạc như đa số người ham tiền yêu của sợ, và cũng không phải do sợ mang tai mang tiếng giống người hám quyền mê chức. Không phải bởi lý do vừa kể mà linh hồn tiết độ.
Như vậy không tự nhiên chút nào, thưa tiên sinh, Cebes nói.
Trời ơi, không, Socrates tiếp lời. [d] Đó là lý do tại sao người chăm lo, săn sóc linh hồn không sống chỉ nhằm phục vụ thể xác mà xua đuổi, gạt bỏ mọi thứ khác. Họ từ chối không đi cùng đường như người đời đi mà không biết đi đâu. Trái lại, tin tưởng tuyệt đối không làm gì trái với triết học, giải thoát và thanh tẩy bản thân, họ nhất định quay lại xấn bước đi theo bất kể triết học dẫn tới đâu.
Sao lại thế, thế nghĩa là thế nào, tiên sinh?
Bản nhân sẽ giải thích quý hữu rõ, ông đáp. Người yêu chuộng hiểu biết biết khi triết học đón nhận linh hồn, linh hồn là tù nhân tuyệt vọng, bị giam giữ, gắn chặt tức thì vào thể xác, linh hồn quan sát thực tại, [e] không phải trực tiếp, không phải tự thân, mà qua chấn song nhà tù như chiếc cũi, linh hồn chìm đắm, ngụp lặn trong đủ thứ tối tăm, dốt nát. Triết học nhìn thấy nét tồi tệ, điểm khủng khiếp của cảnh giam cầm, sự thể bắt nguồn từ thèm muốn và tù nhân là đồng phạm tự mình góp phần tích cực vào việc giam giữ. Ơ, bản nhân nhắc lại, người yêu chuộng hiểu biết biết triết lý dang tay đón nhận linh hồn [83a] khi linh hồn ở trạng thái đó, âu yếm khuyến khích, nhẹ nhàng an ủi, đồng thời tìm cách giải thoát khỏi giam cầm bằng cách trưng nêu cho linh hồn thấy tìm hiểu qua thị giác cũng như thính giác hay giác quan khác là hão huyền không bao giờ bắt gặp sự thật. Sau đó triết lý thuyết phục linh hồn rút khỏi giác quan càng xa càng tốt, cự tuyệt sử dụng giác quan, chỉ sử dụng khi cần thiết, khuyến khích linh hồn tập trung bản thân do chính bản thân, chỉ tin tưởng bản thân và thực tại [b] hiện hữu do chính nó, linh hồn tự thân hiểu biết, không coi bất kể cái gì biến đổi, nhận thức bằng phương tiện khác là thực, vì sự vật như thế thì cụ thể và hữu hình, trong khi những gì linh hồn tự thân nhìn thấy thì trừu tượng và vô hình. Thầm nghĩ không nên chống đối giải thoát đó, bởi thế linh hồn triết gia chân thực tránh xa lạc thú, thèm muốn, đau khổ, càng xa càng quý; triết gia nghĩ lạc thú, đau khổ, đam mê quá độ không những gây ra cảnh xấu xa như con người hằng thấy, cảnh xấu xa con người gánh chịu khi bị ốm đau hoặc mất mát do thèm muốn quá độ chế ngự, [c] mà còn tạo nên cảnh xấu xa khủng khiếp, cực kỳ con người không hay biết.
Thế nghĩa là thế nào hở tiên sinh? Cebes hỏi.
Nghĩa là thế này. Khi cảm thấy vui khủng khiếp, buồn tột độ, linh hồn con người tức khắc và đồng thời nghĩ tới cái gây nên cảm giác như thế, bất kể thế nào, đương nhiên phải hết sức rõ rệt và rất ư chân thực; sự thể không phải vậy. Cái có tác dụng như thế chủ yếu là hữu hình, đúng không?
Chắc chắn.
Có phải trong trạng thái như thế [d] linh hồn hầu như hoàn toàn gắn bó, hòa nhập với thể xác không?
Sao lại thế?
Vì vui nào, buồn nào, sướng nào, khổ nào, thú nào, đau nào cũng như chiếc đinh ghìm chặt linh hồn vào thể xác, trao cho linh hồn bản chất có tính cách xác thịt, rồi hàn chặt hai cái với nhau. Vui đó, buồn đó, sướng đó, khổ đó, thú đó, đau đó biến linh hồn thành hữu hình, cho nên linh hồn tin những gì thể xác nói đều là thật. Vì chia sẻ niềm tin và lạc thú với thể xác trong cùng thứ, bản nhân nghĩ, không thể trở thành như thể xác về cung cách và lối sống, nên linh hồn không bao giờ có thể đi xuống âm phủ trong trạng thái tinh khiết. Khi rời bỏ ra đi linh hồn luôn luôn tràn đầy thể xác, do vậy chẳng mấy chốc lại rơi vào thể xác khác, nảy nở, phát triển làm như đã được gieo trồng trong thể xác đó. [e] Vì vậy linh hồn mất hết giao hợp với cái siêu nhiên, cái tinh khiết, cái bất biến.
Điều tiên sinh nói đúng vô cùng, Cebes đón lời.
Đó là lý do tại sao người yêu chuộng hiểu biết chân thật biểu lộ tự chế và can đảm, không phải lý do đa số người đời thường tưởng. Hay quý hữu nghĩ quan niệm chung là vậy?
Thưa, tiện phu không nghĩ thế. [84a]
Không, đương nhiên. Linh hồn triết gia sẽ chấp nhận quan điểm như bản nhân miêu tả. Trước hết linh hồn không mong đợi triết học giải thoát, tiếp đến không nép mình để vui thú, đau khổ lại giam cầm bản thân, cuối cùng cứ thế lao đầu vào việc làm bất tận như Penelope miệt mài trong khung cửi, dệt rồi tháo, tháo rồi dệt liên miên. Không! Linh hồn triết gia bình thản cao độ, khẳng định miễn nhiễm trước bối cảnh sóng gió như thế; linh hồn cất bước đi theo, luôn luôn bám sát lý trí quan sát, chiêm ngưỡng cái chân thực, cái siêu nhiên, cái không là đối tượng của niềm tin. Được cái này nuôi dưỡng, linh hồn tin tưởng con người phải sống đúng cách chừng nào còn sống ở đời, [b] sau khi chết sẽ tới cái gần gũi và cái tương tự bản chất, dứt khoát bứt khỏi hệ lụy trần thế. Được nuôi dưỡng và huấn luyện như thế, Simmias và Cebes ơi, con người không còn lý do để lo sợ khi rời bỏ thể xác ra đi, linh hồn sẽ bị gió thổi tan nát, tứ tán, không còn là gì, không còn ở đâu, hoàn toàn ngừng tồn tại.
Socrates dứt lời, im lặng kéo dài. [c] Tiên sinh tỏ vẻ suy ngẫm điều vừa nói, đa số ngô bối cũng vậy. Cebes và Simmias trái lại thì thầm với nhau. Đưa mắt quan sát tiên sinh bất đồ cất tiếng: Sao? Chắc hẳn, quý hữu nghĩ trong lý luận bản nhân bỏ xót điều gì? Dĩ nhiên vẫn còn nhiều điểm đáng ngờ và chẳng thiếu điểm phản bác dành cho bất kể ai muốn bàn luận thấu đáo đề tài. A, nếu bàn luận đề tài khác, hai quý hữu cứ tự tiện, bản nhân không có ý kiến; trái lại, nếu cảm thấy khó khăn với đề tài ngô bối đang bàn, hai quý hữu đừng ngần ngại nói rõ quan điểm, đồng thời giải thích đường hướng, nếu nghĩ muốn nâng cao tầm mức lý luận. Hơn thế, nếu nghĩ sẽ thể hiện tốt đẹp hơn, hai quý hữu vui lòng mang bản nhân đi theo tham dự cuộc bàn luận để giải quyết khó khăn. [d]
Vâng, đúng thế, hạ nhân sẽ nói sự thật tiên sinh hay, Simmias đáp. Cả hai có lúc gặp khó khăn, người này giục người kia đặt câu hỏi vì ngô bối muốn nghe tiên sinh giải đáp, song lưỡng lự không dám quấy rầy, vì sợ ngộ nhỡ làm vậy tiên sinh buồn lòng trong cảnh bất hạnh hiện tại.
Nghe thấy thế Socrates mỉm cười lặng lẽ, đoạn cất tiếng nhỏ nhẹ: Trời đất ơi, Simmias! Bản nhân sẽ khó lòng thuyết phục người khác tin bản nhân không coi số phận hiện tại của mình là bất hạnh,[e] nếu không thể thuyết phục ngay cả hai quý hữu, nhất là quý hữu ngại bản nhân lúc này âu sầu, buồn bã hơn mọi lúc. Hình như quý hữu nghĩ về trực cảm tiên đoán tương lai bản nhân kém xa thiên nga. Khi biết mình sẽ chết thiên nga kêu lớn hơn, hay hơn thường lệ, vì vui mừng sẽ ra đi gặp thần linh thiên nga là đệ tử trung thành.[85a] Do nghĩ đến chết là sợ hết hồn, con người nói sai về thiên nga. Con người bảo lúc chết thiên nga rên rỉ, thiên nga rít kêu lần cuối, giọng não nuột vì buồn. Con người quên chim không hót khi đói, khi lạnh hay khi đau đớn; ngay cả họa mi, chim én, rẻ quạt, con người khẳng định, cũng không than, không hót vì sầu. Trái lại, bản nhân nghĩ, mấy chim vừa kể, kể cả thiên nga không hót, không kêu vì phiền muộn. Bản nhân tin số chim đó có khả năng dự báo, tiên tri cái tốt đẹp ở thế giới vô hình, vì là chim của siêu thần Apollo, [b] do thế ríu rít, líu lo, vui vẻ vào ngày tử biệt sinh ly hơn bất kể lúc nào trong suốt cuộc đời. Và bản nhân tin bản nhân là nô lệ thực hiện việc làm như thiên nga, phục vụ thần linh tương tự; bản nhân đã tiếp nhận từ chủ nhân sức mạnh linh cảm không kém mấy chim, bản nhân không hề buồn phiền khi từ giã cõi đời. Bởi thế, dù sợ làm mích lòng, quý hữu cứ nói, cứ hỏi tự nhiên chừng nào đám Mười Một Ông thành quốc Athens vẫn còn cho phép.
Đa tạ diễn tả tuyệt vời, Simmias đáp. Hạ nhân sẽ nói tiên sinh rõ nông nỗi khó khăn trước, rồi Cebes sẽ kể sau vì sao không chấp nhận luận điểm tiên sinh đưa ra. Hạ nhân nghĩ, có lẽ tiên sinh cũng vậy, [c] đối với vấn đề như vấn đề hiện tại hiểu biết chính xác khó khăn hết sức nếu không phải bất khả, nhưng mặt khác hạ nhân cũng nghĩ chỉ có loại người kém cỏi tột bực mới không cố gắng thử nghiệm những gì đã nói bằng mọi cách có thể, không buông rơi rời bỏ chừng nào chưa tự mình xem xét vấn đề từ mọi khía cạnh. Đối với vấn đề ít nhất ngô bối phải làm bằng được một trong hai điều: Một là, ngô bối phải tìm hiểu từ nguồn khác hoặc khám phá cho bản thân sự thật bao quanh vấn đề. Hai là, nếu làm theo hai đường cũng không được, ngô bối đành chấp nhận trong số luận điểm con người ấp ủ luận điểm khả tín hơn hết, [d] khó bề bác bỏ, sử dụng luận điểm như chiếc bè chấp nhận rủi ro, can đảm vượt biển đi qua cuộc đời, trừ phi tìm thấy chiếc thuyền vững chắc thực hiện cuộc du hành an toàn, bớt hiểm nguy, nghĩa là lời thần linh phù hộ. Bởi thế, sau khi nghe tiên sinh nói, hạ nhân sẽ không ngại ngùng đặt câu hỏi, và trong tương lai sẽ không phải tự trách vì không nói những gì đang nghĩ bây giờ. Cebes và hạ nhân đã suy nghĩ luận điểm tiên sinh đưa ra, song ngô bối thấy hình như chưa thỏa đáng.
Cảm nghĩ rất ư chí lý, quý hữu tuổi đời còn trẻ ơi, [e] Socrates đáp, nhưng vui lòng cho bản nhân hay chưa thỏa đáng thế nào.
Thế này, hạ nhân nhận xét, Simmias tiếp lời. Tiên sinh có thể lý luận tương tự về hòa điệu, cây đàn, dây đàn, hòa điệu là cái gì vô hình, vô thể, tuyệt mỹ, vi diệu trong nhạc cụ dây căng đúng độ, cung phím điều hòa, [86a] trong khi cây đàn, dây đàn là vật chất, vật thể, hợp chất, trần thế, gần gũi cái bản chất phải chết. Bây giờ giả dụ cây đàn bị đập, dây đàn bị cắt hoặc chặt, theo luận điểm của tiên sinh, hòa điệu nhất định vẫn tồn tại, không hề bị hủy diệt; bởi phi lý hết sức cây đàn, dây đàn bản chất thế nào cũng tiêu ma vẫn tồn tại khi dây đàn đã đứt, trong khi hòa điệu gần gũi và cùng bản chất như cái siêu nhiên, cái bất tử không tồn tại mà tiêu ma [b] trước cái vốn phải tiêu vong. Tiên sinh sẽ nói hòa điệu đương nhiên vẫn tồn tại đâu đó như trước kia, gỗ và dây tất nhiên mục nát, suy tàn trước khi hòa điệu tan biến. Tiên sinh ơi, hạ nhân nghĩ chắc hẳn tiên sinh cũng biết đa số ngô bốithực sự giả định linh hồn là cái thuộc loại này; thể xác căng, tụ thành mối giữa cực điểm nóng, lạnh, khô, ướt, [c] linh hồn pha, hòa các cực điểm ấy khi cực điểm hòa hợp đúng cách theo mức độ cần thiết. Nếu linh hồn thực sự là hòa điệu, hiển nhiên khi thể xác co giãn, tăng giảm bất thường vượt quá điểm chuẩn, do ốm đau, bệnh tật hoặc rủi ro chi phối, đương nhiên linh hồn phải chết tức thì theo đúng tiến trình, dù siêu hình đến mấy như bất kỳ hòa điệu nào, trong âm nhạc, trong tác phẩm nghệ thuật, trong khi cái tồn tại trong mỗi cơ thể phải tồn tại lâu dài, tới khi bị đốt cháy hay mục nát. Vậy cho biết ngô bối sẽ nói thế nào để trả lời người khẳng định [d] linh hồn, vì là phối hợp các nhân tố của thể xác, sẽ là thành phần đầu tiên tàn lụi trong tiến trình ngô bối gọi là chết?
Mở mắt thao láo, tiên sinh nhìn ngô bối đăm đăm, như thường làm, mỉm cười tự nhiên, rồi khoan thai cất tiếng: Nhận định của Simmias quả thực ý nghĩa. Nếu một trong hai quý hữu chuẩn bị sẵn sàng hơn bản nhân, tại sao vị đó không trả lời vì xem ra Simmias lèo lái thảo luận rất ư tài tình. Tuy nhiên, bản nhân nghĩ trước khi Simmias trả lời, ngô bối nên nghe đến lượt Cebes phê bình lập luận của bản nhân, [e] ngõ hầu ngô bối có đủ thời gian cân nhắc, suy xét sẽ nói gì. Sau khi nghe Cebes phản bác, một là ngô bối đồng ý với hai người, nếu nghĩ hai người đồng điệu với ngô bối, hai là, nếu hai người đối nghịch, ngô bối phải tiến hành bênh vực, triển khai luận điểm. Vậy, bắt đầu, Cebes. Quý hữu thắc mắc và nghi ngờ cái gì?
Thưa, thế này, Cebes đáp. Đối với tiện phu thảo luận dường như vẫn đứng im tại chỗ và sẵn sàng đón nhận phê bình như ngô bối thể hiện trước đây. [87a] Lập luận linh hồn tồn tại trước khi nhập vào thể xác hiện tại nghe rất thỏa đáng, có thể nói thuyết phục; tiện phu không thay đổi quan điểm đối với lập luận. Nhưng lập luận linh hồn vẫn hiện hữu đâu đó sau khi ngô bối chết, tiện phu nghĩ lập luận đó có vẻ vu khoát. Xin lưu ý. Tiện phu không đồng ý với phản bác của Simmias cho rằng linh hồn không mạnh, không bền bằng thể xác, vì tiện phu nghĩ linh hồn vượt xa về nhiều mặt. Luận điểm của tiên sinh có thể hỏi: Vậy tại sao quý hữu vẫn chưa chịu thuyết phục? Quý hữu có vẫn nghi ngờ khi thấy sau khi con người chết phần yếu vẫn tiếp tục tồn tại không? Quý hữu có nghĩ phần mạnh tất nhiên phải tồn tại lâu hơn không? [b] Thưa, đây là câu trả lời. Tiện phu muốn tiên sinh để ý tiện phu nói có phải không. Vì cũng như Simmias tiện phu muốn diễn tả ý nghĩa bằng hình ảnh. Tiện phu giả dụ người thợ dệt già vừa chết. Luận điểm của tiên sinh dường như nói người đó không thực sự tàn lụi mà vẫn tồn tại đâu đó yên ổn, an toàn, rồi dẫn chứng sự kiện áo choàng người đó làm cho mình, mặc hàng ngày chưa suy tàn, vẫn tồn tại.[c] Nếu ai đó tỏ ý nghi ngờ tiện phu dám chắc tiên sinh sẽ hỏi giữa con người và áo choàng sử dụng thường nhật, sờn rách đương nhiên, thứ nào bền lâu; khi ai đó đáp thứ thứ nhất có thể bền hơn, tiên sinh sẽ nghĩ tiên sinh đã chứng minh rõ ràng người thợ dệt an toàn và yên ổn, vì vật thể kém bền chưa tiêu vong. Nhưng sự thực không phải vậy, Simmias, vì tiện phu muốn ý kiến của quý hữu nữa; ai cũng thấy người nói thế là nói càn, nói bừa. Người thợ dệt đã dệt và mặc nhiều áo choàng, mặc dù sống lâu hơn tất cả, song thế nào cũng tàn lụi trước tấm cuối cùng. [d] Nói vậy không có nghĩa con người yếu kém hoặc không bền bằng tấm áo. Tiện phu tin tưởng hình ảnh loại suy có thể áp dụng vào tương quan giữa linh hồn và thể xác; tiện phu thầm nghĩ người nào nói về hai thứ theo cách tương tự là nói phải, nói đúng, linh hồn sống lâu dài, thể xác tương đối yếu ớt, sống ngắn ngủi. Người đó có thể nói mỗi linh hồn sống lâu hơn nhiều thể xác, đặc biệt nếu linh hồn sống khá nhiều năm. Nếu thể xác liên tục thay đổi và phân hủy suốt cuộc đời, linh hồn không bao giờ ngừng thay thế phần tiêu hao, [e] nhưng hiển nhiên và tất nhiên, bất kể khi nào chết, linh hồn vẫn mặc tấm áo cuối cùng và chỉ tàn lụi trước tấm áo trong trường hợp này thôi. Vậy khi linh hồn tàn lụi, thể xác sẽ biểu thị tình trạng mong manh tự nhiên, ấy là tan rữa, biến dạng mau chóng. Vì thế ngô bối không thể chấp nhận quan điểm này và tin tưởng linh hồn tiếp tục tồn tại đâu đó sau khi ngô bối chết. [88a] Vì nếu ngô bối đồng ý dứt khoát hơn quý hữu, Simmias ơi, khẳng định với người sử dụng lập luận đó, nếu ngô bối đồng ý không những linh hồn con người tồn tại trước khi con người ra đời mà còn thừa nhận ngay cả sau khi chết không có lý do nào linh hồn một số không tồn tại, không tiếp tục tồn tại, sẽ không tồn tại, rồi cứ thế sống đi chết lại nhiều lần, nếu ngô bối đồng ý với người đó do năng lực trường tồn tự nhiên, do bản chất sinh tồn mãnh liệt, dù kinh qua giam cầm liên tiếp, linh hồn vẫn sống lâu hơn thể xác, tuy nhiên nếu sau khi đồng ý tất cả như thế, ngô bối vẫn không công nhận linh hồn không hề hấn do nhiều lần chào đời, cuối cùng không bị hủy diệt hoàn toàn trong một lần chết, người đó sẽ nói không ai biết cái chết nào hoặc tách biệt nào của thể xác [b] gây nên tình trạng tiêu vong của linh hồn vì không ai trong ngô bối có thể tiến sâu tìm hiểu vấn đề. Trong trường hợp đó, quý hữu ơi, không ai trừ người mất trí mới dám quả quyết trực diện cái chết, trừ phi người đó có thể chứng minh linh hồn tuyệt đối bất tử và bất diệt. Nếu không thể, con người luôn luôn và tất nhiên cảm thấy khiếp đảm khi cái chết lại gần, vì sợ hãi và nghi ngờ trong tách biệt chia ly đặc biệt khỏi thể xác cuối cùng linh hồn sẽ bị hủy diệt hoàn toàn.
Nghe [c] hai người biểu lộ cảm nghĩ chống đối ngô bối cảm thấy khó chịu hết sức, như ngô bối trao đổi với nhau sau đó. Ngô bối đã hoàn toàn đồng ý qua thảo luận trước đó, song bây giờ hai người lại có vẻ đẩy ngô bối xuống hố hoang mang, dẫn ngô bối tới chỗ nghi ngờ không những những gì đã nói, mà còn cả những gì sẽ nói sau đó, có lẽ sợ một là ngô bối không đủ khả năng nhận xét, hai là đề tài tự nó có vẻ viển vông.
Echecrates. Yên chí, Phaedo, quý hữu có thể tin tưởng tiện nhân. Vì trong lúc lắng nghe quý hữu phát biểu tiện nhân cũng hồ nghi tương tự: Ngô bối nên theo luận điểm nào? Luận điểm của Socrates cực kỳ thuyết phục [d] thế mà bây giờ bị ngờ vực hoàn toàn. Luận điểm cho rằng linh hồn là hòa điệu đối với tiện nhân là luận điểm lôi cuốn đặc biệt, bây giờ cũng như mai sau; khi nghe nhắc tới luận điểm tiện nhân sực nhớ chính tiện nhân trước đây đã quan niệm như thế. Bây giờ cái tiện nhân thực sự cần, ngay từ đầu, là luận điểm khác để thuyết phục tiện nhân tin khi con người chết linh hồn không chết theo. Vậy, trời ơi, cho tiện nhân hay, Socrates đề cập luận điểm thế nào? Tiên sinh có tỏ dấu hiệu bực bội như đa số quý hữu không, hay lẳng lặng ra sức cứu vớt luận điểm? [e] Tiên sinh có thực sự cứu vớt được không? Nói cho ngô bối hay đầy đủ, chính xác và chi tiết.
Phaedo. Tin bỉ nhân đi, Echecrates, trước đây tiên sinh vẫn thường khiến bỉ nhân ngạc nhiên. Bỉ nhân phục tài, song chưa bao giờ như lần này. Bỉ nhân thầm nghĩ chắc hẳn tiên sinh đã có sẵn câu trả lời, sự thật là vậy, không có gì lạ lùng cả; [89a] nhưng cái đặc biệt gây ấn tượng với bỉ nhân trước hết là cung cách vui vẻ, hòa nhã, kính cẩn tiên sinh tiếp nhận phản bác của hai thanh niên, tiếp đến nhanh nhảu nhận ra hậu quả cuộc đàm luận ảnh hưởng ngô bối thế nào, và cuối cùng khéo léo xoa dịu nỗi buồn, kêu gọi làm như ngô bối là đoàn quân bại trận đang chạy trốn, đang tan tác hãy quay trở lại, tập trung nghị lực, khuyến khích ngô bối tham gia cùng tiên sinh theo đuổi cuộc tìm hiểu.
E. Ông làm thế nào?
P. Bỉ nhân sẽ nói quý hữu hay. Chẳng định mà nên bất đồ bỉ nhân ở bên phải, ngồi trên ghế thấp, tiên sinh ngồi trên giường cao. Vì thế ông đưa tay xoa đầu vuốt ngược tóc gáy [b] như thường làm nhiều lần. Nhìn lọn tóc quăn quăn liên tục trêu chọc ông nói: Phaedo, bản nhân nghĩ có lẽ ngày mai quý hữu nên cắt mái tóc óng ả này đi.
Vâng, tiên sinh, bỉ nhân định vậy.
Ấy chớ nếu tin bản nhân.
Thưa, tại sao thôi?
Là thế này, ông nói. Vì hôm nay bản nhân sẽ cắt tóc bản nhân, quý hữu cắt tóc quý hữu, nghĩa là, nếu ngô bối để lập luận chết theo ngô bối, ngô bối không đủ khả năng làm lập luận sống lại. Hơn thế, nếu bản nhân là quý hữu, nếu để sự thật tuột thoát tầm tay, bản nhân sẽ phải tuyên thệ như quân lính Argive [c] không để tóc mọc nữa chừng nào quay lại chiến trường chiến đấu đánh bại lập luận của Simmias và Cebes mới thôi.
Nhưng, bỉ nhân phản đối, người ta nói ngay Heracles cũng chẳng thể đánh lại cả hai.
Vậy quý hữu nên gọi bản nhân là Iolaus, chừng nào trời còn sáng.
Thưa, vâng, bỉ nhân sẽ gọi tiên sinh, nhưng trong trường hợp này như Iolaus gọi Heracles, không phải Heracles gọi Iolaus.
Kết quả chẳng khác tí nào, tiên sinh tiếp lời. Song trước hết ngô bối phải cẩn thận canh chừng, tránh xa nguy hiểm số một.
Thưa, thế là thế nào? Bỉ nhân hỏi.
Thế này. [d] Trở thành kẻ ghét lý luận, tiên sinh nói, như người ta hóa ra đứa ghét con người. Không có bất hạnh nào thế nhân phải gánh chịu khủng khiếp cho bằng bất hạnh ghét lý luận. Ghét lý luận và ghét con người phát triển theo đường tương tự. Ghét con người len lách xuất hiện do nhắm mắt tin tưởng người khác, không nhận xét, không phê phán. Quý hữu tin tưởng người này hoàn toàn thành thật, đàng hoàng, khả tín. Thời gian ngắn sau đó quý hữu thấy người này giả dối, lươn lẹo, bất tín. Sự thể tương tự xảy ra thường xuyên. Bất mãn liên tiếp với người [e] quý hữu tin tưởng là bạn thân thiết, gần gũi nhất đời, thế rồi cuối cùng sau nhiều cọ xát, bực tức liên miên, quý hữu đi tới chỗ ghét bỏ mọi người và tin tưởng không có ai trên trần gian tử tế, thành thực, thân tình cả. Quý hữu chưa chứng kiến sự thể như thế ư?
Thưa, bỉ nhân chứng kiến rồi.
Quý hữu hẳn cảm thấy tình trạng sự việc như vậy đáng trách, tiên sinh tiếp lời, và hiển nhiên bắt nguồn từ cố gắng muốn có giao tế nhân sinh mà không có khả năng nhận thức cần thiết sinh hoạt nhân sinh thế nào, vì khả năng như thế sẽ dẫn con người tới chỗ tin tưởng, cái trong thực tế là thực, [90a] số người hết sức tốt và số người vô cùng xấu đều rất hiếm, số người ở giữa hai cực điểm đông đảo.
Tiên sinh muốn nói thế nào? Bỉ nhân hỏi.
Tương tự người rất cao và người rất thấp, ông đáp. Quý hữu có nghĩ tìm một người cực kỳ cao hoặc một người cực kỳ thấp là cực kỳ hiếm thấy không? Hoặc con chó hay bất kể cái gì? Hay cái cực kỳ nhanh, cái cực kỳ chậm, cái cực kỳ xấu, cái cực kỳ đẹp, cái cực kỳ trắng, cái cực kỳ đen? Quý hữu có hay trong trường hợp như thế cái cực kỳ nhất ở hai cực thì hiếm và ít, nhưng cái ở giữa thì thừa và nhiều không?
Dạ, có, bỉ nhân nói.
Bởi thế, [b] tiên sinh nhấn mạnh, nếu tổ chức cuộc thi xấu xa, thể nào số người thắng, quý hữu biết chứ, cũng sẽ rất ít.
Thưa, chắc vậy.
Chứ gì nữa, ông nói, song lý luận thực ra không như con người về phương diện đó. Bản nhân chỉ vừa cất bước theo quý hữu dẫn đường chỉ lối. Không. Nét tương đồng dường như nằm ở chỗ này. Khi bắt đầu người thiếu khả năng trong lý luận đặt niềm tin vào lý luận coi như đúng, thế rồi ngay sau đó lại nghĩ lý luận sai (vì có khi lý luận đúng, có khi lý luận sai); cứ như thế với lý luận khác, rồi lý luận khác nữa. Quý hữu thừa biết, nhất là người bỏ thì giờ nghiên cứu mâu thuẫn cuối cùng tin tưởng chính họ đã trở nên hết sức thông thái, [c] và khác hẳn mọi người, chỉ họ biết không hề có thành thật hay khả tín trong bất kỳ sự kiện hay lý luận nào. Mọi thứ ở đời chỉ chuyển hướng này, quay hướng nọ, nhấp nhô lên xuống như luồng nước trong eo biển Euripos, không lúc nào đứng im ở nguyên tại chỗ.
Tiên sinh nói đúng ơi là đúng, bỉ nhân nhận định.
Ờ, giả dụ, Phaedo ơi, ông tiếp lời, nếu có lý luận chân thực, khả tín, có thể tìm hiểu, nếu có người, song vì qua kinh nghiệm lý luận như thế, lý luận khi đúng, khi sai, [d] không trách cứ bản thân, không nghĩ bản thân thiếu khả năng chuyên môn, thay vì thế bằng lòng, do ngán ngẩm, sau đó vui vẻ chuyển đổi trách cứ bản thân sang trách cứ lý luận, cuối cùng suốt đời chán ghét, chê bai lý luận, bởi thế không còn cơ may biết sự thật về thực tại; sự thể như vậy có đáng thương không hở?
Thưa, trời ơi, quá đi chứ lị, bỉ nhân phụ họa.
A, đúng rồi, ông nói, đó là điều đầu tiên ngô bối phải canh chừng; ngô bối không nên để điều đó lẻn vào tâm trí khiến lý luận trở thành vớ vẩn, viễn vông; [e] trái lại ngô bối phải công nhận về mặt kiến thức ngô bối vẫn còn bệnh hoạn, què quặt; ngô bối phải chuẩn bị tinh thần, cố gắng hết sức trở thành khỏe mạnh, cường tráng, Phaedo và thân hữu hiện diện ở đây phần nào vì cả cuộc đời sắp tới, bản nhân trực tiếp do cái chết lơ lửng trước mặt. [91a] Bởi lúc này nhìn điều đó bản nhân không nhìn với thái độ triết lý mà với tác phong hoàn toàn vô học. Bản nhân hăm hở tìm cách qua mặt quý hữu trong lý luận. Quý hữu biết trong lý luận người không có giáo dục chân thực không quan tâm tới sự kiện bàn luận mà chỉ bận tâm làm thế nào mọi người chấp nhận quan điểm của mình. Ừ, lúc này bản nhân cảm thấy bản nhân ở tình trạng tồi tệ như họ, chỉ khác là lo lắng của bản nhân không phải thuyết phục người nghe (trừ phi ngẫu nhiên) mà làm nảy nở trong lòng niềm tin mãnh liệt. Vì thế bản nhân cân nhắc hoàn cảnh, quý hữu thân thiết thấy không bản nhân vụ lợi, ích kỷ nhường nào! Bản nhân nghĩ nếu luận điểm của bản nhân mà đúng, tin theo là phải; nếu trái lại, chết là hết, [b] bất luận thế nào trong thời gian ngắn ngủi trước khi chết bản nhân sẽ không rên rỉ, than vãn khiên thân hữu khó chịu; sướt mướt vớ vẩn như thế sẽ không tiếp tục tồn tại với bản nhân (như vậy là bất hạnh) mà sẽ tàn lụi ngay sau đó. Simmias và Cebes quý mến, đó là tinh thần qua đó bản nhân sửa soạn đi vào tranh luận với quý hữu. Phần mình nếu chấp nhận ý kiến bản nhân, quý hữu nên nghĩ rất ít tới Socrates, [c] trái lại rất nhiều tới sự thật. Nếu nghĩ điều bản nhân nói là thật, quý hữu nên đồng ý chấp nhận; nếu không, chống đối, bác bỏ bằng mọi lý luận quý hữu sở đắc. Quý hữu không nên để bản nhân trong lúc hăng hái, say sưa đánh lừa cả bản nhân lẫn quý hữu, rồi như con ong để lại nọc độc khi cất cánh bay đi.
Ừ phải, ngô bối phải tiến hành, tiên sinh tiếp tục. Nhớ nhắc cho bản nhân nhớ quý hữu nói gì, nếu thấy trí nhớ bản nhân có vẻ mù mờ, chuệnh choạng. Bản nhân nghĩ Simmias đây nghi ngờ khôn xiết; Simmias lo sợ mặc dù siêu hình, vi diệu hơn thể xác, nhưng linh hồn sẽ bị hủy diệt trước thể xác, [d] vì thuộc loại như hòa điệu. Cebes trái lại có vẻ đồng ý với bản nhân linh hồn bền bỉ hơn thể xác, song lại nghĩ không ai biết, sau khi nhập vào rất nhiều thể xác, thể xác mai một, rời bỏ thể xác cuối cùng ra đi, linh hồn có tàn lụi hay không. Cebes nghĩ chết có lẽ đúng vậy, linh hồn tiêu vong, vì thể xác không bao giờ ngừng tàn lụi. Bản nhân nghĩ có đúng không hở Simmias và Cebes, đây là vấn đề ngô bối phải tìm hiểu chứ gì?
Hai người đồng ý vấn đề là vậy. [e]
Thế, tiên sinh hỏi, hai quý hữu có bác bỏ tất cả lý luận ngô bối đưa ra trước đó không, hay chỉ phần nào?
Chỉ phần nào, hai người cùng đáp.
Vậy, ông nói, ý kiến quý hữu ra sao về phát biểu ngô bối đưa ra nhận thức là hồi tưởng, nếu sự thật là vậy, chắc hẳn linh hồn phải tồn tại đâu đó [92a] trước khi nhập vào thể xác?
Phần riêng, Cebes đáp, tiện phu thấy lúc đó luận điểm hoàn toàn thuyết phục, bây giờ tiện phu cũng tin như thế hơn bất kỳ luận điểm nào.
Đúng rồi, Simmias phụ họa, ý kiến tương tự ý kiến hạ nhân; hạ nhân sẽ hết sức ngạc nhiên nếu thay đổi quan niệm về vấn đề đó.
Nhưng sẽ phải thay đổi, quý hữu thành quốc Thebes ơi, Socrates nói, nếu vẫn tin hòa điệu là vật thể hợp chất, và linh hồn là hòa điệu phối hợp yếu tố vật chất ở tình trạng giằng co. Bản nhân tưởng tượng tự mình quý hữu cũng sẽ không chấp nhận quan niệm khẳng định hòa điệu hợp chất [b] tồn tại trước yếu tố cấu thành hòa điệu. Hay là quý hữu?
Nhất định không, tiên sinh.
Quý hữu không thấy đó thực ra chỉ là cái ngô bối nói khi quý hữu bảo linh hồn tồn tại trước khi nhập vào thể xác con người, và đó cũng chỉ là cái bao gồm yếu tố chưa tồn tại? Đương nhiên hòa điệu không hề giống cái quý hữu so sánh. Cây đàn, dây đàn, âm thanh trần trụi tồn tại trước; hòa điệu xuất hiện sau, [c] cấu tạo sau cùng và hủy diệt trước tiên. Phát biểu này có sẽ hòa hợp với phát biểu trước không?
Chẳng tí nào, Simmias đáp.
Nhưng, Socrates nói, nếu phát biểu nào cũng bắt buộc phải hòa hợp, phát biểu đó sẽ là phát biểu về hòa điệu.
Vâng, đúng thế, Simmias đồng ý.
Nghĩa là, Socrates nhấn mạnh, giải thích này không hòa hợp với giải thích của quý hữu. Vậy quyết định quý hữu ưa thích luận điểm nào: nhận thức là hồi tưởng hay linh hồn là hòa điệu?
Hạ nhân hoan hỉ chấp nhận luận điểm trên, chẳng chút ngần ngại, tiên sinh, vì đã được chứng minh, còn luận điểm dưới [d] chưa được chứng minh, hạ nhân chỉ chấp nhận vì tình trạng có thể thật và có lẽ thật, đó là lý do tại sao đa số người đời tin tưởng. Nhưng hạ nhân biết luận điểm mà chứng cớ chỉ căn cứ vào tình trạng có lẽ đúng là hão huyền. Nếu không để ý cẩn thận thế nào tiên sinh cũng bị luận điểm đánh lừa, như trong hình học và bất kể cái gì. Trái lại, luận điểm về hồi tưởng và nhận thức khác hẳn, đề bạt căn cứ trên giả thiết xứng đáng được công nhận; khẳng định linh hồn hiện hữu trước khi nhập vào thể xác, luận điểm hiển nhiên tương ứng hoặc thích hợp với mức độ linh hồn sở đắc bản chất tối hậu của thực thể; luận điểm hạ nhân tin tưởng hạ nhân hoàn toàn có lý công nhận. Bởi thế, hạ nhân không thể do tự mình hay do người khác công nhận [e] luận điểm linh hồn là hòa điệu.
Thế vấn đề này thì sao, Simmias? Quý hữu có nghĩ hòa điệu hoặc bất kể hợp chất nào ở trạng thái khác trạng thái yếu tố cấu thành hòa điệu là tự nhiên không? [93a]
Thưa, không, Simmias đáp.
Theo chỗ bản nhân nghĩ hòa điệu cũng không thể ảnh hưởng hay bị ảnh hưởng khác với yếu tố cấu thành hòa điệu.
Simmias đồng ý.
Bởi thế phải giả định hòa điệu không điều khiển yếu tố cấu thành hòa điệu, mà yếu tố cấu thành hòa điệu điều khiển hòa điệu.
Simmias tán thành.
Bởi thế hòa điệu không hề gây chuyển động, tạo âm thanh hay làm bất kể cái gì, cung cách trái ngược cung cách yếu tố cấu thành hòa điệu.
Quả thật không hề, Simmias nói.
Bản chất mỗi hòa điệu có phụ thuộc cung cách hòa điệu đã được hòa hợp không?
Hạ nhân không hiểu, Simmias đáp.
Nếu hòa hợp đầy đủ hơn, nghĩa là, ở mức độ lớn hơn (giả thử việc này khả dĩ), hòa điệu đương nhiên đầy đủ hơn, ngược lại nếu hòa hợp kém đầy đủ, [b] nghĩa là, ở mức độ nhỏ hơn, hòa điệu tất nhiên kém đầy đủ.
Chắc chắn.
Sự thể có đúng với linh hồn không? Linh hồn này đầy đủ hơn linh hồn kia, hoặc không đầy đủ bằng linh hồn kia, ngay cả ở giới hạn, mức độ nhỏ nhất?
Nhất định không thể thế được.
Thế thì, trời ơi, xin lắng nghe cẩn thận, tiên sinh nói. Người ta bảo có linh hồn sáng suốt, đạo đức, tử tế, có linh hồn ngu muội, xấu xa, độc ác. [c] Nói thế có đúng không hở?
Thưa, đúng quá.
Vậy người chủ trương luận điểm linh hồn là hòa điệu sẽ giải thích thế nào về chuyện tử tế và độc ác hiện diện trong linh hồn? Liệu người đó có sẽ miêu tả hai thứ là hòa điệu khác và không có hòa điệu không? Người đó có sẽ nói linh hồn tốt được hòa hợp, không những chính nó là hòa điệu, mà còn chứa trong nó hòa điệu khác, trong khi linh hồn xấu không hòa hợp nên không chứa hòa điệu khác trong chính nó, phải không?
Hạ nhân thực tình không biết nói thế nào, Simmias đáp, song hiển nhiên người chủ trương luận điểm phải nói đôi điều tương tự.
Nhưng ngô bối [d] đã đồng ý, ông nói, dù thế nào linh hồn này cũng không hơn, không kém linh hồn kia, nghĩa là, hòa điệu này cũng không đầy đủ hơn, hoặc không đầy đủ bằng hòa điệu kia, phải không?
Thưa, phải.
Dù thế nào cái không hơn, không kém là hòa điệu cũng không kém, không hơn là hòa hợp, đúng không?
Thưa, đúng.
Cái hòa hợp không hơn, không kém có thể tham dự không kém, không hơn với hòa điệu, hay có thể tham dự ngang bằng?
Ngang bằng.
Nếu [e] linh hồn này không hơn, không kém linh hồn kia, linh hồn này có hòa hợp tới mức độ hay giới hạn tương tự không?
Thưa, tới.
Nếu tới, linh hồn này sẽ không tham dự nhiều hơn với không hòa điệu hoặc hòa điệu?
Chắc chắn không.
Đó là sự thật, nếu độc ác không phải là hòa điệu, đạo đức là hòa điệu, liệu linh hồn này có độc ác hay đạo đức hơn linh hồn kia không?
Không thể.
Nhưng trái lại,[94a] Simmias ơi, theo bản nhân, do lý luận xác đáng, nếu là hòa điệu, không có linh hồn nào sẽ tham dự với độc ác, vì hòa điệu đương nhiên, hoàn toàn là hòa điệu, không là cái gì khác, và sẽ không bao giờ tham dự với không hòa điệu.
Chắc chắn sẽ không.
Vì hoàn toàn, tuyệt đối là linh hồn, linh hồn sẽ không tham dự với độc ác?
Làm sao có thể, căn cứ vào những gì đã nói?
Vậy theo lý luận này linh hồn tất cả sinh vật đều hiền từ ngang bằng, nếu do bản chất linh hồn đều ngang bằng là linh hồn, không là cái gì khác.
Hạ nhân nghĩ vậy, thưa tiên sinh.
Lý luận của ngô bối có đúng, ông nói tiếp, và có dẫn tới kết luận này không, nếu giả thiết cho rằng linh hồn là hòa điệu là đúng? [b]
Thưa, nhất định không.
Xin hỏi thêm. Trong các phần cấu thành thể xác, quý hữu có thể kể phần nào ngự trị con người ngoài linh hồn, đặc biệt nếu là linh hồn khôn ngoan?
Thưa, không, hạ nhân không thể.
Theo quý hữu, linh hồn chiều chuộng hay chống lại cảm xúc của thể xác? Bản nhân muốn nói chẳng hạn bị nóng bức khát nước thể xác thèm uống, linh hồn bắt làm khác, không được uống; đói bụng, không cho ăn, bắt nhịn, và ngô bối thấy hàng ngàn cách linh hồn ngăn cản bản năng sinh tồn của thể xác. Có phải thế không? [c]
Thưa, đúng thế.
Ban nẫy ngô bối cũng đã đồng ý nếu là hòa điệu linh hồn sẽ không bao giờ lạc điệu, mâu thuẫn với độ tăng, độ giãn, độ rung hoặc bất kỳ tình trạng nào của hàng dây hay bộ phận cấu thành, trái lại luôn luôn đi theo, không bao giờ hướng dẫn bộ phận?
Vâng, ngô bối đã đồng ý như thế, dĩ nhiên.
Nhưng bây giờ ngô bối thấy rõ ràng linh hồn hoạt động theo cách đối nghịch; linh hồn hướng dẫn mọi yếu tố cấu thành linh hồn, chống đối hầu như mọi yếu tố [d] trong mọi việc suốt cuộc đời, hướng dẫn mọi cung cách, sử dụng mọi hình thức kiểm soát, trừng trị, có lúc bằng phương pháp khe khắt, thô bạo như phương pháp áp dụng trong huấn luyện thể dục, đào luyện y khoa, có lúc nhẹ nhàng đe dọa, mắng mỏ, có lúc dịu dàng khuyến khích, có lúc chuyện trò với thèm muốn, đam mê, sợ hãi như thể linh hồn toàn toàn tách biệt, khác hẳn mấy thứ, như thể linh hồn là vật thể này nói chuyện với vât thể kia khác hẳn. Y hệt Homer miêu tả trong Odyssêy chỗ Odysseus đấm ngực bảo tim bình tĩnh lắng nghe: Kiên nhẫn, tim ơi! Mi đã im lặng đón nhận nhục nhã gấp bội thế này. Quý hữu có nghĩ khi viết câu thơ đó thi sĩ nghĩ [e] linh hồn là hòa điệu, cái có thể ngả nghiêng vì cảm xúc của thể xác không? Thi sĩ có coi linh hồn có thể chế ngự và kiểm soát cảm xúc, tự nó là cái quá ư siêu linh hơn hòa điệu không?
Thưa, trời ơi, tiện phu thấy sự thể dường như vậy, tiên sinh.
Vậy, quý hữu trai trẻ ơi, trong trường hợp đó ngô bối hoàn toàn sai lầm khi nói linh hồn là hòa điệu. [95a] Nếu nói thế ngô bối sẽ không đồng ý với Homer thi sĩ siêu linh và mâu thuẫn với chính ngô bối.
Chắc vậy.
Không sao, Socrates tiếp tục. Bản nhân nghĩ làm Harmonia thành quốc Thebes vừa lòng đẹp ý ngô bối đã đạt thành công đáng kể. Thế còn Cadmus thì sao, Cebes quý mến? Ngô bối sẽ xử sự thế nào và lập luận ra sao để ông vui lòng ưng ý?
Tiện phu nghĩ, Cebes nói, tiên sinh sẽ tìm ra cung cách. Lý luận tiên sinh trưng nêu về luận điểm hòa điệu vượt xa mọi hiểu biết đối với tiện phu. Lúc Simmias kể khó khăn đương sự bắt gặp, ngạc nhiên hết sức, tiện phu tự hỏi [b] ai có thể bàn luận với lý luận của đương sự, tiện phu hoàn toàn ngỡ ngàng khi thấy tức thì đương sự không thể cưỡng lại lý luận của tiên sinh tấn công phủ đầu tới tấp. Bởi thế tiện phu không lấy làm lạ nếu lý luận của Cadmus sẽ chịu chung số phận.
Quý hữu quý hóa, Socrates tiếp tục, đừng quá lời kẻo ảnh hưởng tai hại tác động bất xứng lý luận ngô bối sắp đưa ra. Chuyện đó ngô bối để thần linh quyết định, song ngô bối sẽ nắm chặt, bám sát theo cung cách Homer xem trong điều quý hữu nói có gì đặc biệt. Toàn bộ vấn đề quý hữu đòi hỏi là thế này: Quý hữu chủ trương phải chứng minh linh hồn bất tử, bất diệt [c] nếu không niềm tin của triết gia sắp chết tin rằng sau khi chết triết gia sẽ vui sướng ở dưới cõi âm vì đã sống, đã chết theo triết học hơn sống theo cách khác sẽ là ngu muội, ngớ ngẩn, đần độn. Chứng minh linh hồn mãnh liệt, nghĩa là siêu linh, linh hồn hiện hữu trước khi con người ra đời, tất cả chuyện này, quý hữu nói, không chứng tỏ linh hồn bất tử mà chỉ chứng tỏ linh hồn sống lâu. Nói linh hồn tồn tại rất lâu từ trước, linh hồn biết nhiều, sống nhiều [d] không có nghĩa vì thế linh hồn bất tử; thực ra khi nhập vào thể xác con người là linh hồn bắt đầu tình trạng hủy diệt như căn bệnh phát sinh; sau đó linh hồn sẽ sống cuộc đời trong tình trạng cực nhọc gia tăng, lần đường nhọc nhằn, cuối cùng sẽ tới tình trạng hủy diệt ngô bối gọi là chết. Quý hữu cũng nói không hề có khác biệt đối với lo sợ mỗi người ngô bối hằng mang nếu linh hồn đi vào thể xác một lần hay nhiều lần, vì theo lẽ tự nhiên trừ kẻ mất trí còn ai cũng sợ chết nếu không biết và không thể chứng minh linh hồn bất tử. Bản nhân nghĩ, Cebes, đó là bản chất lý luận, thực chất chống đối quý hữu chủ trương. Bản nhân nhắc lại, nhắc lại rõ ràng, không phải một lần mà hơn một lần, phòng trường hợp ngô bối bỏ sót điểm nào, [e] và phòng trường hợp quý hữu muốn thêm hay bớt cái gì tùy ý.
Thưa, Cebes đáp, tiện phu không muốn thêm hay bớt cái gì lúc này; quan điểm rõ ràng như tiên sinh nói.
Đến đây im lặng một lúc khá lâu, trầm tư suy nghĩ, sau đó tiên sinh từ tốn tiếp lời: Cebes, vấn đề quý hữu đề cập không phải tầm thường, vì đòi hỏi tìm hiểu xâu xa, đầy đủ nguyên nhân đằng sau sinh và diệt, nguyên nhân thúc đẩy trở thành hiện hữu và tàn lụi tất nhiên. [96a] Nếu quý hữu muốn bản nhân sẽ kể kinh nghiệm bản thân về liên hệ này; tiếp theo, nếu thấy có cái gì có vẻ hữu dụng trong chuyện bản nhân kể, quý hữu có thể sử dụng làm phản biện để thuyết phục ngô bôi.
Vâng, tiện phu chắc chắn muốn vậy.
Thế thì lắng nghe, Cebes, bản nhân sẽ kể. Lúc còn trẻ bản nhân ham mê kiến thức đó lạ kỳ, người ta gọi là tìm hiểu thiên nhiên, vì bản nhân nghĩ đó là kiến thức tuyệt vời để hiểu nguồn gốc mọi vật, tại sao mọi vật sinh ra, tại sao mọi vật biến đi và tại sao mọi vật tồn tại. Trong khi tìm hiểu bản nhân thường băn khoăn tới lui thứ nhất với câu hỏi về vấn đề chẳng hạn thế này. [b] Có phải khi nóng và lạnh tác động gây nên tình trạng lên men hay hư thối, như có người nói, sinh vật nảy nở, phát triển không? Ngô bối có suy nghĩ bằng máu, lửa, hoặc không khí không? Hay không bằng mấy thứ này, trái lại do óc nuôi dưỡng cảm xúc thính giác, thị giác, khứu giác, từ đó ngô bối có ký ức và ý niệm, từ ký ức và ý niệm khi ở trạng thái tĩnh lặng ngô bối có hiểu biết? Rồi trong khi tìm hiểu cung cách số vật thể này tàn lụi thế nào, cái gì xảy ra trên trời, cái gì diễn ra dưới đất, cuối cùng bản nhân đi đến kết luận bản nhân không có tí nào năng khiếu tự nhiên [c] về hình thức tìm hiểu này. Bản nhân sẽ kể quý hữu hay chứng cớ đầy đủ. Tìm hiểu như thế khiến bản nhân đui mù hoàn toàn ngay cả với vật thể bản nhân và người khác nghĩ bản nhân đã biết rõ ràng, nên bản nhân không biết cái bản nhân nghĩ bản nhân biết trước đây, biết bao sự vật khác, và đặc biệt con người phát triển ra sao. Trước đó bản nhân nghĩ hiển nhiên ai cũng biết con người phát triển qua ăn, uống vì thực phẩm làm thịt nảy nở, [d] xương gia tăng, và theo cung cách tương tự phần thích hợp tăng bồi mọi phần cơ thể, nên con người phát triển từ khối nhỏ ban đầu thành khối lớn về sau, người nhỏ bé trở thành người to lớn. Lúc đó bản nhân nghĩ như vậy. Quý hữu có nghĩ như vậy hợp lý không?
Thưa, có, Cebes đáp.
Vậy để ý điểm này nữa. Bản nhân nghĩ ý kiến của bản nhân thỏa đáng, khi người cao lớn đứng cạnh người nhỏ bé người cao lớn cao hơn cái đầu, tương tự như trường hợp hai con ngựa. Thế này càng rõ hơn, [e] bản nhân nghĩ mười lớn hơn tám vì thêm hai, hai sải dài hơn một sải vì vượt nửa chiều dài.
Ý kiến tiên sinh thế nào về sự kiện đó? Cebes hỏi.
Trời đất ơi, bản nhân không tin bản nhân biết nguyên nhân bất kỳ sự vật nào trong số vừa kể. Khi quý hữu cộng một với một bản nhân không biết một thứ nhất hay một thứ hai trở thành hai, hay cả hai trở thành hai [97a] do cộng một này với một kia. Bản nhân không hiểu làm thế nào, khi sáp lại gần nhau, hoặc để một này bên một kia, hợp nhất như thế lại là nguyên nhân để hai một trở thành hai, trong khi tách ra mỗi một là một, hai một không là hai. Và bản nhân cũng không tin khi một vật bị chia, sự chia là nguyên nhân khiến vật đó trở thành hai, [b] bởi bây giờ nguyên nhân trở thành hai là tình trạng đối nghịch, vì hai vật để gần và cộng với nhau, nhưng bây giờ tình trạng là vật này bị lấy đi và tách khỏi vật kia. Bản nhân cũng không thể thuyết phục bản thân hiểu vật thể hoặc bất kể cái gì hình thành như thế nào để trở thành một; tóm lại, hiểu tại sao sự vật xuất hiện, tàn lụi hoặc tiếp tục hiện hữu theo phương pháp tìm hiểu này. Vì thế cuối cùng bác bỏ, bản nhân mày mò tìm ra phương pháp của mình.
Một hôm bản nhân nghe người đọc cuốn sách bảo là của Anaxagoras [c] khẳng định Trí Tuệ điều khiển và là nguyên nhân của mọi vật thể. Bản nhân hoan hỉ chấp nhận luận thuyết; bản nhân thấy xem ra hợp lý Trí Tuệ là nguyên nhân của vạn vật; bản nhân tự nhủ nếu sự thật là vậy, Trí Tuệ sẽ đặt để, sắp xếp mỗi vật thể theo cung cách tuyệt hảo hơn hết. Nếu muốn khám phá nguyên nhân của mỗi vật thể cá biệt, tại sao sinh ra, tại sao tàn lụi hoặc tại sao tồn tại, ngô bối phải khám phá [d] cung cách tuyệt hảo để vật thể tồn tại, tác động, chịu tác động theo bất cứ cung cách nào. Căn cứ vào chuỗi suy tư, tiền đề này, con người chỉ cần tìm hiểu cái gì tốt đẹp và thích hợp hơn hết đối với vật thể này hoặc vật thể khác. Sau đó đương nhiên con người cũng sẽ biết cái gì tồi tệ hơn hết, vì đó là phần của hiểu biết tương tự. Nghĩ đến đề tài bản nhân vui sướng khôn xiết. Bản nhân thầm nghĩ bản nhân đã tìm thấy trong Anaxagoras vị thầy uy tín giảng giải nguyên nhân sự vật đúng như lòng mong ước, [e] bản nhân hy vọng trước hết ông sẽ nói cho hay trái đất dẹt hay tròn, sau đó ông sẽ tiếp tục giải thích chi tiết cho biết tại sao tất yếu lại như thế, nói cho tường cái gì tuyệt vời, và tuyệt vời hơn hết là trái đất mang hình thù đó. Nếu ông nói trái đất là trung tâm vũ trụ bản nhân nghĩ ông sẽ cắt nghĩa tỉ mỉ trái đất ở vị trí đó là tuyệt vời; nếu ông trình bày điểm này rõ rệt, bản nhân sẵn lòng không bao giờ muốn biết nguyên nhân nào khác. [98a] Bản nhân cũng sẵn sàng theo cách tương tự tìm hiểu mặt trời, mặt trăng và thiên thể khác, tốc độ tương đối, quỹ đạo cùng mọi hiện tượng liên hệ tới vật thể vừa kể, đồng thời lắng nghe ở mức độ tuyệt hảo mỗi vật thể tác động và chịu tác động thế nào. Bản nhân không hề nghĩ, từng nói Trí Tuệ điều hành mọi vật thể, Anaxagoras sẽ đưa ra bất kể nguyên nhân nào để giải thích vật thể hiện hữu như thực tại, trừ như thế là tuyệt vời. Bản nhân nghĩ một khi đã giải thích cái tuyệt vời đối với mỗi vật thể như nguyên nhân [b] đối với mỗi vật thể và nguyên nhân tổng quát cho mọi vật thể trong vũ trụ, ông sẽ tiếp tục giải thích cái tốt đẹp đặc biệt cho mỗi vật thể, cái tốt đẹp tổng quát cho mọi vật thể. Bản nhân sẽ không bán rẻ hy vọng lấy món tiền thật lớn lao. Bản nhân nôn nóng, hăm hở có cuốn sách của ông, bản nhân sẽ đọc ngấu nghiến, mải miết nhằm biết càng sớm càng quý cái gì tuyệt vời và cái gì tồi tệ hơn hết.
Quý hữu ơi, hy vọng chứa chan nào ngờ tan thành mây khói, vì trong khi lần giở trang sách tiếp tục tìm hiểu bản nhân khám phá thấy tác giả không sử dụng Trí Tuệ, không trưng nêu nguyên nhân đối với trật tự điều hành vật thể mà chỉ kể nguyên nhân là nước, không khí, ê-the và nhiều thứ kỳ lạ khác. [c] Bản nhân có cảm tưởng tác giả thật chẳng khác gì người kể chuyện, bắt đầu nói những gì Socrates làm đều do trí tuệ; tiếp theo khi tìm cách trưng nêu lý do cắt nghĩa mỗi động tác bản nhân làm lại bảo bản nhân ngồi đây lúc này là vì thân thể gồm xương, cơ, gân, xương đều dắn, ngăn cách bởi khớp, trong khi cơ có thể co, giãn, thịt và da nối cơ với nhau, [d] đồng thời che xương; vì thế khi xương giơ lên trong khớp, cơ co giãn nên bản nhân có thể khuỵu, gấp chân tay, đó là nguyên nhân bản nhân ngồi đây hai chân co lại. Theo cung cách tương tự người đó sẽ tiếp tục giải thích tại sao bản nhân nói chuyện với quý hữu, người đó sẽ viện dẫn giọng nói, không khí, thính giác, hàng ngàn sự việc khác là nguyên nhân; nhưng người đó sẽ hoàn toàn quên không nhắc tới nguyên nhân thực sự, ấy là do người thành quốc Athens nghĩ kết án bản nhân là phải,[e] vì thế bản nhân nghĩ ngồi đây là phải, là đúng để chấp nhận bât kể hình phạt nào họ nghĩ áp đặt lên đầu lên cổ bản nhân là thích hợp. Bởi nhân danh linh khuyển Ai-cập xin thề cùng quý hữu. Gân này, xương này đáng lẽ đã ở Megara hay Boeotia từ lâu[99a] mang theo những gì chúng cho là tuyệt hảo, nếu bản nhân không nghĩ chấp nhận bất kể hình phạt nào thành quốc quyết định thay vì chạy trốn, đào thoát là phải lẽ và hợp lý. Nhưng gọi sự việc vừa kể là nguyên nhân nghe quá ư phi lý! Nếu bảo không có xương, không có gân, không có cơ, không có bộ phận khác làm nên cơ thể, bản nhân không thể làm những gì bản nhân quyết định, nói thế có lẽ đúng. Trái lại, nếu bảo sự việc đó là nguyên nhân những gì bản nhân làm, bản nhân chưa lựa chọn chiều hướng tuyệt hảo, mặc dù hành động theo trí tuệ, là nói theo cách hết sức mơ hồ, vu khoát. [b] Cách nói đó chỉ hàm ý con người không thể phân biệt nguyên nhân thực sự với cái không có cái đó nguyên nhân sẽ không thể là nguyên nhân. Đó là lý do đa số người đời làm, lần mò trong bóng tối mà bảo đó là nguyên nhân, đặt tên cho nguyên nhân không thuộc về nguyên nhân. Bởi thế người này bảo trái đất cuốn xoáy, đứng im do bầu trời nâng đỡ; người kia bảo trái đất như chiếc nắp lớn, phẳng không khí ở dưới đỡ nâng. [c] Nhưng cả hai chưa hề nghĩ tìm kiếm sức mạnh liên hệ tới sự việc này, sẵn sàng là tuyệt hảo để sự vật là tuyệt hảo, và cả hai cũng không nghĩ sức mạnh như thế có sức mạnh siêu phàm. Cả hai hy vọng rồi ra sẽ tìm thấy người khổng lồ mạnh khỏe, sống lâu, bất tử có khả năng nắm giữ thế giới với nhau, cả hai không lúc nào tin tưởng có cái thực sự tốt lành có khả năng gắn bó, ràng buộc mọi vật với nhau. Phần riêng bản nhân sẽ vui hết sức nếu trở thành đệ tử của bất kể người nào giảng giải cho biết hoạt động của loại nguyên nhân đó. Nhưng bản nhân hoàn toàn thất bại vì không tự mình tìm thấy hay học hỏi từ người khác. [d] Dẫu thế bản nhân chưa đến nỗi tuyệt vọng hoàn toàn, Cebes ơi, quý hữu có muốn bản nhân miêu tả cho hay phương thức thứ hai bản nhân tiến hành tìm kiếm nguyên nhân ra sao không?
Thưa, tiện phu quả thật rất muốn nghe, Cebes đáp.
Ơ, sau đó, ông tiếp lời, khi đã mệt mỏi vì tìm hiểu sự vật, bản nhân thầm nhủ phải cẩn thận tránh né kinh nghiệm của người quan sát trực tiếp mặt trời khi nhật thực, vì trong số có người hỏng mắt nếu không quan sát mặt trời phản chiếu trên mặt nước hoặc vật thể như thế. Ý nghĩ tương tự lướt qua tâm trí, [e] bản nhân run sợ linh hồn sẽ hoàn toàn đui mù nếu bản nhân nhìn sự vật bằng mắt, tìm cách nắm bắt từng sự vật bằng giác quan. Vì thế bản nhân nghĩ bản nhân phải lẩn vào ý niệm, tìm hiểu sự thật về sự vật trên trần gian bằng ý niệm. Dẫu thế, có lẽ, loại suy vừa kể chưa đủ, vì rõ ràng bản nhân không thừa nhận [100a] tìm hiểu sự vật qua ngôn từ chỉ là bàn tới hình ảnh phản chiếu, chứ không phải nhìn thẳng vào sự kiện khách quan. Tuy nhiên, dù sao, bản nhân khởi sự thế này: chấp nhận như giả thiết trong mỗi trường hợp luận điểm bản nhân cho là cụ thể hơn hết, tiếp theo coi là thực bất kể cái gì hợp với luận điểm, về nguyên nhân hay về cái gì, và coi là không thực bất kể cái gì không hợp với luận điểm. Bản nhân muốn giải thích nghĩa rõ hơn vì nghĩ hiện tại quý hữu không hiểu.
Không, trời ơi, quả thật không, Cebes nói, không rõ lắm.
Bản nhân [b] muốn nói thế này, ông tiếp tục. Không có gì mới mẻ, trừ những gì bản nhân nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhất là phần đầu, trong đàm luận hôm nay và nhiều lần trước kia. Bản nhân sẽ cố gắng giải thích quý hữu hay luận điểm về nguyên nhân bản nhân từng quan tâm, bản nhân sẽ quay lại nguyên tắc ngô bối nhắc tới nhiều lần trước đây và căn cứ vào đó tiến hành tìm hiểu. Bản nhân công nhận có cái đẹp tuyệt đối, cái tốt tuyệt đối, cái lớn tuyệt đối hiện hữu, do chính nó, trong chính nó. Nếu quý hữu chấp nhận và đồng ý những cái đó tồn tại, bản nhân hy vọng chứng tỏ cho quý hữu thấy nguyên nhân của bản nhân là gì, và chứng minh linh hồn bất tử.
Yên chí, tiện phu đồng ý, Cebes nói, tiên sinh kết luận mau lên. [c]
Vậy để ý, ông tiếp tục, quý hữu có tán thành với bản nhân điều tiếp theo không. Vì bản nhân nghĩ nếu có cái gì đẹp ngoài cái đẹp tuyệt đối, cái đẹp tự nó và chính nó, cái đó đẹp không vì lý do nào khác mà chỉ vì chia sẻ, dự phần trong cái đẹp tuyệt đối, bản nhân nói thế với mọi cái. Quý hữu có chấp nhận loại quan hệ nhân quả này không?
Thưa, có.
Bản nhân không công nhận và cũng không tìm hiểu nguyên nhân phức tạp khác nữa. Nếu có ai nói cho hay cái gì đó đẹp [d] vì màu sắc phong phú, hình dạng ngoạn mục, vân vân, bản nhân không để ý, bản nhân coi thường lý do, vì ngôn từ như thế chỉ khiến bản nhân lẫn lộn. Trái lại, cung cách đơn giản, mộc mạc và có lẽ vớ vẩn, bản nhân công nhận luận thuyết, mọi vật chỉ trở nên đẹp vì hiện diện, chia sẻ, liên hệ hoặc bất kể cái gì quý hữu mệnh danh tùy ý, với cái đẹp tuyệt đối; bản nhân không muốn nhấn mạnh vào bản chất liên hệ, song điều bản nhân biết chắc ấy là mọi vật đẹp là do cái đẹp tuyệt đối. Bản nhân nghĩ đó là câu trả lời ổn thỏa hơn hết bản nhân có thể trả lời bản thân và tha nhân. [e] Bản nhân tin tưởng nếu bám chặt luận thuyết, bản nhân sẽ không bao giờ sai lầm. Đó là câu trả lời an toàn trả lời bản thân và tha nhân là mọi vật đẹp là do cái đẹp tuyệt đối. Quý hữu có cũng nghĩ như thế không?
Thưa, có.
Do khổ lớn mà vật dụng lớn, vật dụng lớn hơn lớn hơn, do cỡ nhỏ mà vật dụng nhỏ, vật dụng nhỏ hơn nhỏ hơn?
Vâng.
Nếu có người nói cho hay người này cao hơn người kia cái đầu, người kia thấp hơn người này cái đầu, cũng như bản nhân quý hữu không chấp nhận ý kiến đó. [101a] Quý hữu phản đối, quý hữu chỉ nói lớn hơn là lớn hơn về khổ, khổ là nguyên nhân tạo nên lớn hơn; và nhỏ hơn chỉ là do cỡ nhỏ, cỡ nhỏ là nguyên nhân tạo ra nhỏ hơn. Quý hữu sẽ ngại nếu phải khẳng định người này lớn hơn hay nhỏ hơn bởi cái đầu, vì sợ bị phản đối, trước hết, lớn hơn là lớn hơn, nhỏ hơn là nhỏ hơn, bởi cùng vật dụng, [b] tiếp đến, lớn hơn là lớn hơn bởi cái đầu, là vật nhỏ, và sự thể xem ra kỳ lạ hết sức, nhất là vật dụng nhỏ làm con người lớn. Quý hữu có sợ điều đó hay không?
Dạ, có, Cebes vừa cười vừa đáp.
Và quý hữu sẽ ngại nói mười hơn tám là hai, hai là nguyên nhân của sự hơn; quý hữu sẽ nói mười hơn tám bằng số, số đó là nguyên nhân của sự hơn? Cũng như quý hữu sẽ sợ nói vật dụng hai sải dài hơn vật dụng một sải dài bằng nửa chiều dài, thay vì nói lớn hơn vì khổ lớn hơn, phải không?
Thưa, đúng thế.
Hơn nữa, quý hữu sẽ tránh không khẳng định, nếu một cộng một, việc cộng là nguyên nhân của hai, [c] hoặc nếu một chia ra, việc chia là nguyên nhân của hai. Quý hữu cũng sẽ lớn tiếng phản đối quý hữu không biết làm thế nào mỗi vật có thể phát sinh, trừ chia sẻ với thực tại đặc biệt vật đó dự phần. Và trường hợp bản nhân vừa đề cập, quý hữu sẽ nói quý hữu không biết nguyên nhân nào để trở thành hai trừ dự phần vào thực tại hai, vật sẽ là hai phải chia sẻ với thực tại này, cũng như vật sẽ thành một phải dự phần vào thực tại một. Quý hữu sẽ khước từ việc cộng, việc chia và việc ly kỳ như thế để người thông thái gấp bội giải thích. Nhưng như họ nói, vì sợ bóng mình, [d] do thiếu kinh nghiệm đối với vấn đề, để bảo đảm an toàn, quý hữu bám chặt giả thiết và trả lời tùy tiện. Nếu có người phản bác giả thiết, quý hữu không thèm để ý, quý hữu không buồn trả lời chừng nào xem xét hậu quả đi theo giả thiết có tương hợp hay mâu thuẫn với nhau không. Khi phải giải thích giả thiết một cách hợp lý quý hữu sẽ tiến hành theo đường lối tương tự, nghĩa là, quý hữu sẽ đưa ra giả thiết khác, có vẻ tốt đẹp hơn giả thiết đầu [e] chừng nào đạt điểm khả dĩ chấp nhận đối với mục đích mới thôi. Đúng không? Nhưng quý hữu sẽ không xáo trộn hai giả thiết với nhau như người ưa ý tưởng mâu thuẫn thường làm bằng cách mổ xẻ giả thiết và kết quả của giả thiết cùng lúc, nếu không có khác biệt, nghĩa là nếu quý hữu muốn khám phá phần nào sự thật về bất kể cái gì. Người như thế có lẽ sẽ nhất định không tranh luận một lời và cũng không mảy may quan tâm một tí về chuyện đó, vì họ thừa khôn ngoan khuấy động, trà trộn mọi chuyện với nhau và vẫn cảm thấy bằng lòng với chính mình, mặc dù lý luận của họ là mớ bòng bong. [102a] Trái lại, nếu là triết gia, bản nhân nghĩ, quý hữu sẽ làm như bản nhân miêu tả.
Điều tiên sinh nói đúng vô cùng, Simmias và Cebes cùng phụ họa.
Echecrates. Ô, Phaedo! Khẳng định với quý hữu, tiện nhân không ngạc nhiên. Đúng quá, tiện nhân thấy tiên sinh diễn tả rõ ràng kỳ lạ đối với bất kỳ ai ngay cả người kém thông minh.
Phaedo. Quả vậy, Echecrates, người hiện diện ở đây đều nghĩ tương tự.
E. Ngô bối cũng vậy dù không có mặt, bây giờ mới nghe. Sau đó còn nói gì nữa?
P. Bỉ nhân nhớ khi điều vừa kể được chấp nhận, mọi người đồng ý [b] hình trạng hiện hữu dưới nhiều hình thức, hình trạng là thực tại quyết định, lý do tại sao hiện tượng được gọi theo hình trạng là do chia sẻ, tham dự với hình trạng, tiên sinh hỏi tiếp: Nếu quan niệm như thế, theo bản nhân, khi nói Simmias cao hơn Socrates, và thấp hơn Phaedo, quý hữu có ý nói Simmias sở đắc lúc đó cả thuộc tính cao lẫn thuộc tính thấp không?
Thưa, có.
Nhưng bây giờ quý hữu có thừa nhận, ông tiếp lời, phát biểu Simmias cao hơn Socrates không hoàn toàn diễn tả đúng sự thật? Thực ra Simmias không thực sự cao hơn vì đương sự là Simmias [c] mà vì chiều cao của đương sự. Cũng như đương sự không cao hơn Socrates vì Socrates là Socrates, mà vì Socrates thấp hơn so với chiều cao của đương sự.
Thưa, đúng vậy.
Cũng như Simmias không thấp hơn Phaedo vì Phaedo là Phaedo, mà vì chiều cao của Phaedo so với chiều thấp của Simmias.
Vâng, đúng thế.
Vậy theo cách này có thể nói Simmias vừa cao vừa thấp vì ở giữa hai chiều; vượt chiều thấp của người này bằng chiều cao, [d] thua chiều cao của người kia bằng chiều thấp của đương sự. Đến đây chợt nghe nói thế tiên sinh vừa mỉm cười vừa cất tiếng: Quý hữu sẽ nghĩ bản nhân nói giống hệt sách chỉ dẫn. Dẫu vậy bản nhân nghĩ đó là sự thật như bản nhân trình bày.
Simmias đồng ý.
Sở dĩ nói thế là vì bản nhân muốn quý hữu chia sẻ quan điểm với bản nhân về vấn đề này. Bản nhân thấy không những sự cao tự nó không bao giờ muốn là cao và thấp cùng lúc, song cũng thấy sự cao trong ngô bối sẽ không bao giờ chấp nhận là thấp hoặc bị vượt qua. Trái lại, theo bản nhân, một trong hai điều sẽ xảy ra: một là sự cao sẽ tẩu thoát hoặc rút lui bất kể khi nào đối nghịch, sự thấp, tiến tới, [e] hai là sự cao sẽ bị hủy diệt khi đối nghịch tiến tới. Sự cao sẽ không sẵn lòng cam chịu, chấp nhận sự thấp, vì là cái không phải nó. Lấy trường hợp bản nhân làm tỉ dụ. Bản nhân đứng tại chỗ, chấp nhận, cam chịu cái thấp và vẫn là người như trước, vẫn người đó, chỉ có điều là thấp. Nhưng sự cao vì là cao không thể trở thành thấp. Cũng như sự thấp trong ngô bối sẽ không bao giờ trở thành cao hay là cao; [103a] đối nghịch cũng vậy, trong khi vẫn như trước sẽ không cùng lúc trở thành hoặc là đối nghịch của đối nghịch; trong tình trạng như thế một là đối nghịch biến dạng, hai là bị hủy diệt khi thay đổi diễn ra.
Tiện phu hoàn toàn đồng ý, Cebes nói.
Tới đây có người trong đám bản nhân không nhớ rõ là ai thảng thốt chen lời: Khoan! Trời đất ơi, trong thảo luận phần trước ngô bối đã chẳng đồng ý cái đối nghịch đích xác của cái đang bàn bây giờ ư, nghĩa là, cái lớn hơn đến từ cái nhỏ hơn, cái nhỏ hơn đến từ cái lớn hơn, và chính xác là cái đối nghịch đến từ cái đối nghịch? Nhưng bây giờ kẻ ngu này thấy ngô bối đang nói cái đó sẽ không bao giờ xảy ra.
Vừa nghe Socrates ngả ngay đầu sang phía người nói, từ tốn, nhỏ nhẹ đáp lại: Quý nhân đã dũng cảm lưu ý ngô bối nhớ khỏi quên, song quý nhân không nhận ra khác biệt giữa [b] những gì nói bây giờ và những gì bàn lúc đó. Cái ngô bối nói lúc đó là cái đối nghịch đến từ cái đối nghịch của nó, còn bây giờ ngô bối bảo cái đối nghịch tự nó không bao giờ có thể trở thành cái đối nghịch chính nó, dù đó là đối nghịch trong ngô bối hay đối nghịch trong thiên nhiên. Nói khác đi, quý nhân ơi, ngô bối nói tới sự vật sở đắc phẩm chất đối nghịch, gọi sự vật theo tên phẩm chất, nhưng bây giờ ngô bối nói về chính phẩm chất, do hiện diện của phẩm chất trong sự vật mà sự vật mang tên gọi. Ngô bối nhận định đối nghịch tự chúng sẽ nhất định cự tuyệt không bao giờ chịu chấp nhận trở thành lẫn nhau. [c] Đồng thời nhìn Cebes tiên sinh kết luận: Có điều nào quý nhân này vừa phát biểu khiến quý hữu bận tâm không?
Thưa, bây giờ thì không, Cebes đáp, song tiện phu không phủ nhận nhiều điều khiến thắc mắc.
Vậy là ngô bối đã đồng ý, không nếu, không nhưng, như nguyên lý tổng quát, ông nói, cái đối nghịch sẽ không bao giờ là cái đối nghịch của chính nó.
Hoàn toàn đồng ý.
Vậy để ý xem quý hữu có sẽ đồng ý điểm này nữa không. Có cái quý hữu gọi là nóng, có cái quý hữu gọi là lạnh.
Vâng.
Hai cái [d] có giống cái quý hữu gọi là tuyết và lửa không?
Trời đất ơi, không!
Vậy cái nóng là cái khác lửa, và cái lạnh là cái khác tuyết?
Vâng.
Theo bản nhân quý hữu nghĩ vì là tuyết cái đó sẽ không chấp nhận cái nóng, như ngô bối nói, mà vẫn là tuyết, giữ nguyên tình trạng như trước, chỉ có thêm nóng, nhưng khi cái nóng lại gần cái đó sẽ một là rút lui, hai là bị hủy diệt.
Chắc vậy.
Cũng như khi cái lạnh lại gần, lửa sẽ lánh xa hoặc ngừng tồn tại; lửa sẽ không bao giờ liều lĩnh chấp nhận cái lạnh, mà vẫn là lửa, giữ nguyên tình trạng như trước, chỉ có thêm lạnh. [e]
Thưa, đúng thế.
Bởi thế ngô bối thấy nhiều trường hợp giống trường hợp này, có những cái không những hình trạng tự nó xứng đáng mang tên mãi mãi, mà có những cái không phải hình trạng, song có đặc tính của hình trạng cũng mang tên bất kể hình trạng hiện hữu nơi nào. Có lẽ bản nhân cần lấy ví dụ cho nghĩa rõ hơn. Số lẻ phải luôn luôn mang tên lẻ, đúng không?
Thưa, đúng quá.
Ơ, bản nhân muốn hỏi thế này. Có phải số lẻ là cái duy nhất mang tên này, [104a] hay có cái khác không như số lẻ, song phải luôn luôn mang tên này, cùng với tên của nó, vì bản chất của nó là như thế nên không bao giờ tách khỏi số lẻ? Bản nhân muốn nói chẳng hạn số ba265 cùng nhiều số khác. Để ý số ba. Quý hữu có nghĩ ngô bối phải luôn luôn gọi cả tên của nó lẫn tên số lẻ, dù số lẻ không giống số ba? Bản chất số ba, số năm và nửa tổng số các số lần lượt, mỗi số đều lẻ, dù không số nào giống số lẻ. Cũng như số hai, số bốn, [b] và tổng số các số luân phiên, mỗi số luôn luôn chẵn, dù các số không giống số chẵn. Quý hữu có đồng ý hay không?
Thưa, dĩ nhiên.
Bây giờ để ý, bản nhân muốn nói rõ hơn, điểm định nói thế này. Xem ra không những đối nghịch tự chúng không chấp nhận đối nghịch, mà cũng có những cái không phải đối nghịch, song luôn luôn chứa đựng đối nghịch, làm ra vẻ như thể không chấp nhận hình trạng đối nghịch với hình trạng chúng chứa đựng, những cái này sẽ tàn lụi hoặc rút lui khi hình trạng lại gần. Ngô bối có sẽ nói số ba sẽ tàn lụi [c] hay chấp nhận bất kể số phận thế nào không trước khi trở thành chăn trong khi vẫn là số ba?
Thưa, chắc chắn, Cebes đáp.
Cũng như hai và ba không phải đối nghịch.
Không phải.
Như vậy không phải chỉ hình trạng đối nghịch không chấp nhận đối nghịch tiến tới, song cũng có cái khác không chấp nhận đối nghịch tiến tới.
Đúng quá.
Quý hữu có muốn ngô bối định nghĩa, nếu có thể, những cái này không?
Tiện phu muốn lắm chứ.
Ờ, Cebes, có phải những cái đó là cái bị bất kể cái gì chiếm cứ ép buộc [d] phải không những chứa đựng hình trạng của chúng mà còn luôn luôn phải chứa đựng hình trạng của cái đối nghịch?
Tiên sinh muốn nói thế nào?
Như ngô bối vừa nói lúc nãy, quý hữu thừa hiểu cái hình trạng của số ba chiếm cứ không những chỉ là số ba mà cả số lẻ.
Đương nhiên.
Và ngô bối bảo hình trạng đối nghịch hình trạng sản sinh kết quả này sẽ không bao giờ tiến tới cái đó.
Không thể.
Nhưng hình trạng của số lẻ sản sinh ra cái đó?
Đúng.
Hình trạng của số chẵn là đối nghịch hình trạng của số lẻ?
Đúng.
Hình trạng của số chẵn sẽ không bao giờ tiến tới số ba?
Không bao giờ. [e]
Nói khác đi, số ba không dự phần trong số chẵn?
Nhất định không.
Vậy số ba không chẵn?
Đúng.
Cái bản nhân đề cập ngô bối cần định nghĩa, nghĩa là, thuộc loại nào, trong khi không thực sự là đối nghịch của cái gì, song không thừa nhân đối nghịch, chẳng hạn ngô bối thấy số ba không thừa nhận số chẵn, dù không phải đối nghịch của số chẵn, vì luôn luôn mang theo đối nghịch của số chẵn; cũng như số hai không thừa nhận số lẻ, lửa không thừa nhận lạnh và rất nhiều thứ nữa. [105a] Quý hữu có đồng ý với bản nhân khẳng định thế này không. Không những đối nghịch không thừa nhận đối nghịch, mà đối nghịch còn không thừa nhận hình trạng mang theo đối nghịch, nghĩa là hình trạng mang theo đối nghịch chính nó sẽ không bao giờ chấp nhận đối nghịch của đối nghịch nó mang theo? Xin nhắc lại để quý hữu nhớ; nhắc lại không tổn hại gì đâu. Số năm không chấp nhận ý niệm là số chẵn, hai lần năm, số mười cũng không chấp nhận ý niệm là số lẻ. Số đó tự nó không là đối nghịch, song không chấp nhận ý niệm là số lẻ. Cũng như một rưỡi, hoặc phân số như một nửa, ba phần tư, vân vân sẽ không chấp nhận ý niệm là số nguyên. [b] Quý hữu theo sát và đồng ý chứ?
Thưa, tiện phu theo sát và hoàn toàn đồng ý với tiên sinh.
Bây giờ bắt đầu trở lại, trả lời bản nhân, ông nói. Làm như bản nhân, đừng trả lời bản nhân lời như lời câu hỏi bản nhân đưa ra. Bản nhân muốn nói, đừng đưa ra câu trả lời an toàn bản nhân đã sử dụng, vì bản nhân nhìn an toàn theo hướng khác, đó là kết quả của những gì ngô bối nói từ nãy đến giờ. Chẳng hạn, nếu quý hữu hỏi, cái gì ở trong cơ thể làm cho cơ thể nóng, bản nhân sẽ không đưa ra câu trả lời an toàn, song dớ dẩn [c] và nói đó là nhiệt; bản nhân sẽ đưa ra câu trả lời ly kỳ rút ra từ kết quả ngô bối bàn luận từ nãy đến giờ và đáp đó là lửa. Nếu quý hữu hỏi, cái gì ở trong cơ thể làm cho cơ thể ốm, bản nhân sẽ không trả lời bệnh, mà nói sốt. Cũng như với câu hỏi số gì ở trong số đó làm cho số đó lẻ, bản nhân sẽ không trả lời tình trạng lẻ, mà nói tình trạng một, vân vân. Quý hữu hiểu rõ ý bản nhân muốn nói chứ?
Vâng, rất rõ.
Vậy, ông tiếp tục, cho bản nhân hay cái gì ở trong cơ thể làm cho cơ thể sống?
Thưa, linh hồn, Cebes đáp.
Sự thật luôn luôn như vậy hả? [d]
Vâng, dĩ nhiên.
Vậy linh hồn luôn luôn đem cái sống cho bất kể cái gì chứa đựng linh hồn?
Rõ ràng, không chút nghi ngờ.
Có cái đối nghịch với cái sống hay không?
Thưa, có một.
Cái gì vậy?
Thưa, cái chết.
Ngô bối đã đồng ý trước đây linh hồn không bao giờ chấp nhận đối nghịch của đối nghịch linh hồn mang theo?
Vâng, ngô bối đã đồng ý rành rọt như thế.
Ờ, thế ngô bối dùng tên nào để gọi cái không chấp nhận hình trạng của số chẵn?
Số không chẵn, Cebes đáp.
Ngô bối gọi là gì cái không chấp nhận công bình chính trực hoặc văn hóa?
Không văn hóa, cái kia là bất công bất chính. [e]
Chí lý, ngô bối gọi là gì cái không thừa nhận cái chết?
Cái không chết, Cebes đáp.
Linh hồn không thừa nhận cái chết?
Không.
Vậy linh hồn không chết, linh hồn bất tử?
Vâng, bất tử.
Xác đáng, ông nói. Ngô bối có nên nói điều này hiển nhiên không? Ý kiến quý hữu thế nào?
Thưa, tiên sinh, hết sức hiển nhiên.
Câu hỏi tiếp theo thì sao, Cebes? Ông tiếp lời. Nếu số không chẵn bất diệt, số ba có bất diệt không?
Thưa, dĩ nhiên. [106a]
Nếu cái không nóng bất diệt, vậy khi có người mang nhiệt tới, tuyết có sẽ rút lui cho an toàn, không tan không? Hay tuyết không bị hủy diệt, trái lại đứng im tại chỗ và thừa nhận nhiệt?
Tiên sinh nói đúng quá.
Cũng như nếu cái không lạnh bất diệt, vậy khi cái lạnh tấn công, lửa sẽ không bị dập tắt hay hủy diệt, mà rút lui an toàn.
Đương nhiên.
Có thể nói điều tương tự về cái không chết không? [b] Nếu cái không chết cũng bất diệt, vậy khi bị chết tấn công, linh hồn không thể nào tàn lụi. Vì căn cứ vào điều đã nói, linh hồn sẽ không thừa nhận cái chết hoặc bị chết, như ngô bối đã nói, số ba hoặc số lẻ sẽ không thừa nhận là số chẵn; lửa hoặc nhiệt trong lửa không thừa nhận sẽ là lạnh. Nhưng có người sẽ phản bác, khi số chẵn lại gần, số lẻ không trở thành số chẵn, như đã đồng ý, tại sao số lẻ tự nó không tàn lụi, [c] cái gì ngăn cản số chẵn xuất hiện thay thế? Ngô bối không thể trả lời người nói câu này số lẻ không bị hủy diệt, vì số lẻ bất diệt. Nếu đã đồng ý số lẻ bất diệt, ngô bối có thể trả lời dễ dàng khi số chẵn tới gần, số lẻ và số ba lẩn tránh, bỏ đi. Ngô bối có thể nhấn mạnh sự thể tương tự với lửa, nhiệt và thứ khác. Đúng không?
Thưa, đúng vậy.
Bởi thế nếu ngô bối đã đồng ý cái không chết là bất diệt cũng bất tử, vậy linh hồn ngoài việc vì bất tử cũng bất diệt. [d] Nếu không đồng ý như thế, ngô bối cần lập luận khác.
Chẳng cần lập luận cầu kỳ, Cebes đáp, bởi nếu cái không chết, cái tồn tại mãi mãi, chấp nhận hủy diệt, xem ra chẳng có cái gì có thể chống lại hủy diệt.
Bản nhân hình dung tất cả sẽ đồng ý, tiên sinh nói, thần linh, hình trạng cuộc sống, chính nó, cùng bất kể cái gì không chết không bao giờ ngừng tồn tại.
Mọi người đồng ý, trời ơi, điểm đó và tiện phu tưởng tượng thần linh còn đồng ý hơn nhiều.
Nếu cái không chết bất diệt, vậy linh hồn, [e] nếu không chết, cũng bất diệt?
Hẳn thế, nhất định.
Vậy khi chết đến với con người, phần tất chết của con người chết, song phần không chết lánh xa toàn vẹn, bất diệt, nhường chỗ cho chết.
Dường như thế.
Vậy, rõ như ban ngày, Cebes ơi, tiên sinh tiếp tục, linh hồn con người chắc chắn bất tử và bất diệt, [107a] linh hồn ngô bối thực sự và thế nào cũng tồn tại ở thế giới bên kia.
Thưa, tiện phu chẳng còn gì để nói về chuyện đó nữa, Cebes khẳng định, kể cả nghi ngờ lập luận của tiên sinh. Tuy nhiên, nếu Simmias ngồi đây hoặc ai đó có ý kiến muốn nêu, chẳng nên giữ im lặng, bởi tiện phu không biết còn dịp may nào khác ngoài dịp may hiện tại đương sự có thể đưa ra nếu muốn nói hoặc nghe đôi điều về đề tài đang bàn.
Hiển nhiên, Simmias đỡ lời, phần riêng không còn lý do để nghi ngờ sau khi nghe phát biểu, song vì nhận ra tầm quan trọng của đề tài và quan niệm hạn hẹp của bản thân về bản chất yếu kém của con người, hạ nhân [b] vẫn còn đôi chút hồ nghi riêng tư về những gì ngô bối đã nói.
Nói thế quý hữu không sai chút nào, Simmias, tiên sinh tiếp lời, hơn nữa, dù quý hữu thấy thuyết phục, song giả thiết đầu tiên của ngô bối vẫn đòi hỏi xem xét rõ ràng hơn nữa. Nếu quý hữu và thân hữu phân tích giả thiết đầy đủ, khít khao, bản nhân tin tưởng quý hữu sẽ đạt sự thật của vấn đề đến mức tối đa tâm trí con người có thể vươn tới. Và nếu chắc chắn đã làm như thế, quý hữu sẽ không cần tìm hiểu hơn nữa.
Thưa, đúng thế.
Vậy, các quý hữu khả ái ơi, [c] dù thế nào cũng nên suy nghĩ thật kỹ điểm này. Nếu thực sự bất tử, linh hồn đòi hỏi ngô bối chăm lo, săn sóc không những chỉ thời gian ngô bối gọi là cuộc đời mà cả săn sóc, chăm lo mọi thời gian; nếu chểnh mảng không làm vậy con người sẽ trở nên cực kỳ nguy hiểm. Nếu chết là dứt bỏ mọi ràng buộc, chết sẽ là mối lợi lớn lao đối với người xấu xa, vì qua chết họ không những thanh toán thể xác, thủ tiêu tội lỗi, mà còn dứt bỏ linh hồn. Nhưng sự thể cho thấy ngô bối nhận ra linh hồn hiển nhiên bất tử, không có cách nào [d] lẩn trốn bất hạnh hoặc cứu rỗi linh hồn trừ cố gắng tối đa trở thành đức hạnh, khôn ngoan. Vì đi xuống âm phủ linh hồn không mang theo cái gì trừ giáo dục và cung cách đã sống, hai phạm trù cực kỳ quan trọng ngô bối nghe người ta nói đem lại lợi ích lớn lao hoặc tai ương ghê gớm cho người vừa chết ngay khi bắt đầu hành trình đi xuống dưới đó. Người ta kể khi một người chết thần hộ mệnh ban cho trong cuộc đời sẽ cố gắng dẫn đến nơi tụ tập mọi người phải tới trình bày trường hợp bản thân để xét xử, phán định xong xuôi, [e] tất cả đi xuống âm phủ theo người dẫn đường đưa họ suốt hành trình từ thế giới này đến thế giới đó. Tới nơi sau khi chịu đựng đủ thứ, phải gặp số phận thế nào, phải ở lại bao lâu, người dẫn đường khác dẫn họ trở lại thế giới này sau nhiều chu kỳ thời gian khá dài. Hành trình không như Telephus của Aeschylus miêu tả. [108a] Nhân vật này nói chỉ có một đường duy nhất dẫn xuống âm phủ, song bản nhân nghĩ không phải một đường duy nhất, vì nếu thế chẳng cần người dẫn đường; nếu chỉ có một đường ai đi cũng được, không ai nhầm lẫn, lầm lạc bất kỳ chỗ nào; chắc hẳn đường có nhiều nhánh rẽ, ngã ba, ngã tư; đưa ra nhận xét này bản nhân căn cứ vào lễ nghi và giới luật thể hiện ở thế giới này. Đúng thế, linh hồn khôn ngoan, trật tự đi theo người hướng dẫn không thể không nhận ra những gì xảy ra xung quanh; trái lại linh hồn ở trạng thái thèm muốn, say mê gắn bó với thể xác, như bản nhân nói trước đây, sẽ thấy bản thân rập rờn lượn vòng quanh thể xác [b]và thế giới hữu hình thời gian khá dài, tới lúc thần hộ mệnh bắt phải bay đi; dáng vẻ đau đớn, khổ sở sau nhiều dằn vặt, giãy giụa linh hồn miễn cưỡng làm theo. Khi tới chỗ mọi linh hồn tụ tập, nếu linh hồn ô uế, vướng mắc tội lỗi như giết người phi lý, thực hiện hành động thực ra tương tự hành động này, hành động thuộc linh hồn thân thích, mọi người tránh mặt quay đi, không ai muốn là bạn đồng hành hay người dẫn đường trong chuyến phiêu du, [c] linh hồn đó lang thang một mình, hoàn toàn cô độc, suốt thời gian chỉ định, tới khi đến và buộc phải sống ở nơi riêng biệt. Trái lại, linh hồn đã sống cuộc đời trong sạch, tiết độ sẽ gặp đồng hành và thần linh dẫn đường, linh hồn nào cũng sống ở nơi thích hợp với mình. Trái đất có nhiều nơi kỳ lạ, Trái Đất chính nó về bản chất và kích thước không như số người tin tưởng miêu tả, hoặc như có người trình bày để thuyết phục bản nhân.
Socrates, tiên sinh nói thế nghĩa là thế nào? [d] Simmias chặn ngang. Phần riêng hạ nhân đã nghe nói nhiều về Trái Đất, song chắc chắn không phải điều thuyết phục tiên sinh. Hạ nhân hân hạnh muốn nghe điều đó.
Ờ, đúng thế, Simmias, bản nhân không nghĩ sự thể đòi hỏi tài năng Glaucus sở đắc để giải thích cho quý hữu hay điều đó thế nào, ngược lại chứng minh điều đó là thực đòi hỏi tài năng gấp bội. Trước hết xem ra bản nhân không có khả năng như thế. Tiếp đến, cho dù có biết, quý hữu ơi, bản nhân thấy thời gian còn lại trong đời không đủ để kể câu chuyện. Dẫu thế không có gì ngăn cản bản nhân miêu tả cho quý hữu hay [e] bản nhân tin tưởng bản chất trái đất và các vùng trên trái đất thế nào.
Thưa, thế thôi cũng đủ lắm rồi, Simmias đáp.
A, đúng thế, ông nói, điều bản nhân tin thế này. Thứ nhất, nếu là hình cầu giữa bầu trời, [109a] Trái Đất không cần không khí hay lực nào nâng đỡ khỏi rơi. Bản chất đồng chất của bầu trời ở mọi phía và tình trạng đối trọng của Trái Đất đủ giữ trái đất cân bằng. Vật thể ở tình trạng cân bằng nếu đặt ở giữa trung điểm đồng chất sẽ không có khuynh hướng nhô lên, tụt xuống, không ngả phía này hơn phía kia mà có lực đẩy ngang bằng và sẽ ở vị trí bất động. Đây là điều thứ nhất, ông nói, bản nhân tin.
Đúng thế, Simmias đáp.
Thứ hai, ông tiếp lời, về kích thước, ô, Trái Đất lớn lắm, ngô bối sống trong phần nhỏ [b] rải rác quanh biển nằm giữa sông Phasis và cột Hercule, như kiến và ếch dưới ao; người khác sống ở nhiều nơi như thế. Khắp nơi quanh trái đất xuất hiện vô vàn vũng sâu đủ loại, đủ hình thù, đủ khổ dạng, nước, sương mù, không khí tràn ngập. Trái Đất trong sạch nằm trong bầu trời tinh khiết, nơi sao trời cư ngụ, đa số người ham giải thích đề tài gọi là ê-the. [c] Nước, sương mù, không khí là trầm tích của ê-the, tất cả liên tục đổ vào vũng sâu của Trái Đất. Sống trong vũng sâu không ý thức sự thể ngô bối tưởng ngô bối sống ở trên mặt trái đất. Sự thể chẳng khác người sống ở dưới đáy nghĩ đang sống ở trên mặt đại dương. Nhìn mặt trời và thiên thể khác qua nước [d] người đó nghĩ đại dương là bầu trời; vì chậm chạp và yếu đuối, người đó chưa bao giờ ngoi lên mặt đại dương, nhô đầu khỏi mặt nước hoặc ra khỏi đại dương tới vùng đất của ngô bối; người đó cũng chưa một lần nhìn đại dương trong sạch, ngoạn mục gấp bội vùng đất ngô bối đang ở và cũng chẳng hề nghe ai kể đã từng mục kích như vậy.
Ngô bối ở trạng huống tương tự. Sống trong vũng sâu ngô bối tin ngô bối sống trên mặt Trái Đất; không khí ngô bối gọi là bầu trời và nghĩ không khí là nơi qua đó sao trời di chuyển. Nhưng sự thật là vì quá yếu đuối và quá chậm chạp ngô bối không thể lên tới giới hạn thượng tầng không khí. [e] Nếu người nào lên tới giới hạn này hoặc tung cánh bay lên cao nhô đầu khỏi không khí, người đó sẽ nhìn lên và nom thấy thế giới ở trên, như cá từ đại dương ngoi đầu ngước nhìn nom thấy thế giới ngô bối. Nếu bản chất có thể chịu đựng để quan sát quang cảnh, người đó sẽ nhận ra đó là bầu trời thực, ánh sáng thực, trái đất thực. [110a] Vì trái đất, đá trên trái đất và các vùng ngô bối sống đã hư hại và xói mòn, như các thứ dưới biển vì nước mặn. Không có gì mọc ở dưới biển là đáng kể, tóm lại, có thể nói, thực ra không có gì phát triển đầy đủ, đúng cách; trái lại chỗ nào có đất, chỗ nấy có vũng, cát, bùn, nhớt trải dài vô tận, không đáng sánh với cảnh đẹp trong thế giới của ngô bối. Bởi thế sự vật vùng trên so ra vượt xa sự vật vùng ngô bối tới mức độ lớn lao. Nếu quả thực đây là lúc thuận tiện đáng thuật chuyện và [b] chuyện đáng nghe, Simmias, bản nhân sẽ kể sự vật trên mặt trái đất dưới bầu trời thực sự thế nào.
Cứ tự tiện, tiên sinh, Simmias đáp, ngô bối nôn nóng muốn nghe.
Ô, quý hữu tuổi đời như hoa nở, ông tiếp lời, chuyện thế này. Trước hết xin kể trái đất. Nếu từ trên nhìn xuống trái đất trông như quả cầu hình tròn làm bằng mười hai miếng da; màu thay đổi, khác biệt, màu ngô bối biết, người ta bảo, trông chẳng khác màu mẫu, tựa màu họa sĩ sử dụng. Ở trên đó toàn thể trái đất gồm màu như thế, song tươi sáng, thanh khiết hơn màu dưới này. [c] Phần màu tím đẹp lạ lùng, phần màu vàng, phần màu trắng, trắng hơn phấn hoặc tuyết; trái đất còn mang màu khác nữa, về số lượng cũng nhiều hơn, đẹp hơn màu ngô bối đã nhìn. Ngay cả vũng sâu của trái đất, đầy nước và không khí, cũng có màu, óng ánh giữa vẻ khác biệt, nên hình dạng [d] trông như bề mặt phẳng phiu đa sắc trập trùng. Phát triển với vẻ đẹp tương xứng, màu sắc óng ả như bản nhân đã miêu tả, cây, hoa, trái ở đây trông đẹp hơn những gì mọc với ngô bối ở mức độ tương tự; đồi núi cũng ngoạn mục gấp bội về màu sắc, vẻ nhẵn, độ trong. Đá quý của ngô bối ở đây chỉ là mảnh rời, đá màu mã não, đá màu vân thạch, đá màu ngọc bích, vân vân. Đá ở đó tất cả thuộc loại ngoạn mục hơn nhiều. [e] Lý do là đá ở đó ở trạng thái tự nhiên, tinh khiết, không bị muối mặn xói mòn, hủy hoại, như đá của ngô bối, không bị nước biển, không khí đổ vào vũng sâu ở đây ăn lủng, đục rữa mang theo xấu xa, bệnh tật cho đất, đá, súc vật và cây cối. Trái đất ở đó được tô điểm không những bằng vẻ đẹp của các đá này, mà còn điểm tô bằng cả vàng, bạc và kim loại rực rỡ khác nữa. [111a] Vì đường vân xuất hiện lồ lộ, lớn lao và nhan nhản, nên trái đất là biệt cảnh cho người diễm phúc ngắm nhìn! Có nhiều sinh vật sống trên trái đất, cả con người, có sinh vật sống trong nội địa, có sinh vật sống ven biển không khí, như ngô bối sống theo ven biển, cũng có sinh vật sống trên đảo gần nội địa không khí bao bọc xung quanh. Tóm lại, nước và biển quan trọng với ngô bối làm sao, không khí quan trọng với họ làm vậy; [b] ê-the cần thiết với họ làm sao, không khí cần thiết với ngô bối làm vậy. Khí hậu các mùa ôn hòa đến độ họ không có bệnh tật, họ sống lâu hơn người ở đây, mắt nhìn, tai nghe, trí nhớ, và giác quan khác thảy đều tốt hơn ngô bối như không khí tốt hơn nước và ê-the tốt hơn không khí về tinh khiết, trong sạch. Họ cũng có điện thờ, đền thờ để tế tự, thần linh sống thực sự trong đó, họ nghe tiếng nói, lời truyền của thần linh, họ nhìn thần linh trong ảnh tượng và liên hệ, trò chuyện trực tiếp với thần linh; [c] họ nhìn mặt trời, mặt trăng, tinh tú hiển hiện trước mắt; trong sinh hoạt khác họ cũng tìm thấy nguồn vui tương tự sinh hoạt này.
Bản chất Trái Đất tổng quát là vậy, toàn thể, xung quanh và vật thể trên đó. Bên trong trên mặt nghe nói có nhiều vùng, có vùng sâu, có vùng rộng hơn vùng ngô bối sống; có vùng sâu và hẹp hơn, có vùng không sâu hay rộng bằng vùng ngô bối ở. [d] Vùng nối vùng tại nhiều chỗ bởi mạch ngầm, có mạch nhỏ, có mạch lớn; lạch nước chảy từ lạch này qua lạch kia, dung lượng lớn lao cứ thế tuôn vào vực; sông lớn rộng, chảy xiết, nước nóng, nước lạnh dồn liên miên; lửa cuồn cuộn, sông ngụt lửa, sông đầy bùn, bùn lỏng, có bùn trong,[e] có bùn đục như sông đầy bùn chảy trước dòng phún thạch và cả dòng phún thạch ở Sicile. Sông lần lượt xối vào từng vũng khi dòng nước chạy vòng tới nơi. Vùng nhấp nhô lên tụt xuống theo chuyển động lắc lư từ lòng Trái Đất, chuyển động là do nguyên nhân tự nhiên như sau: lòng Trái Đất có vực lớn khác thường xuyên qua từ phía này sang phía kia. [112a] Khi nói tới chỗ này Homer miêu tả: Tận đáy âm phủ xa tít mù tắp như bầu trời cách xa mặt đất. Chỗ khác thi hào cùng thi sĩ nhiều vô kể gọi là đáy địa ngục. Sông đều đổ vào vịnh này rồi lại chảy ra; mỗi sông mang theo bản chất trái đất đúng chỗ lúc chảy qua. [b] Lý do vì sao sông đổ vào rồi lại chảy ra khỏi đáy địa ngục ấy là khối lượng chất lỏng không có đáy vững hoặc nền đặc để ngưng tụ; vì thế chất lỏng lắc lư, nhô lên tụt xuống như sóng nước, do lắc lư đó không khí hoặc hơi thở dao động tương tự, vì tất cả đi theo chất lỏng qua lối thoát sang phía bên kia trái đất, rồi quay trở lại chỗ này. Y như khi con người thở, không khí vào ra, hơi thở ở tiến trình thở ra, hít vào liên tục, bởi thế trong trường hợp này cũng vậy, hơi thở lắc lư với chất lỏng tạo thành luồng gió mãnh liệt và khủng khiếp khi đi vào rồi đi ra. [c] Vì thế lúc hối hả rút tới chỗ ngô bối gọi là vùng thấp, suối trong lòng trái đất dồn đổ vào phần này và đổ đầy ắp. Thế rồi lúc từ vùng đó đổ lại đây, nước lại tràn ngập các suối, suối chảy qua mạch ngầm, len lách tìm đường tới nhiều vùng khác nhau, tạo thành biển, hồ, sông và suối. Từ đó nước lại chảy ngầm dưới đất,[d] có dòng lượn quanh nhiều vùng vừa rộng vừa sâu, có dòng uốn khúc ít vùng đã hẹp lại nông, rồi chảy ngược lại đổ hết vào đáy địa ngục, có dòng ở chỗ đổ xuống thấp hơn rất nhiều ở chỗ tuôn ra, có dòng chỉ cách nhau chút xíu, song tất cả đều ở mức thấp. Có dòng trái phía, có dòng cùng phía, có dòng uốn éo thành vòng tròn như con rắn một hoặc nhiều lần quanh trái đất, đổ xuống càng lúc càng thấp, cuối cùng vòng lại đáy địa ngục. Từ mỗi phía dòng nước có thể đổ xuống trung tâm, [e] nhưng không qua phía bên kia, vì phần này đối diện dòng sông chảy từ hai phía đều dốc.
Còn nhiều sông nữa lớn rộng đủ loại, trong số có bốn sông đáng kể; sông lớn nhất chảy phía ngoài trái đất thành vòng tròn mệnh danh sông Đại Dương; đối diện và chảy ngược chiều là sông Đau Buồn, không những chảy qua nhiều vùng tiêu điều, ảm đạm mà còn len lách sau khi vào lòng đất [113a] lần đường tới hồ Bến Mê, nơi đa số linh hồn người chết tụ tập, sau khi ở đó theo thời gian chỉ định, có người dài, có người ngắn, linh hồn gửi trở lại làm sinh vật trần gian. Đổ ra giữa hai sông vừa kể, gần chỗ phát xuất, sông thứ ba chảy vào vùng rộng lớn lửa bốc ngùn ngụt, tạo thành hồ lớn hơn biển của ngô bối, làm nước và bùn sôi sùng sục. Từ đó chảy thành vòng, [b] dơ bẩn, đục ngầu, lượn khúc ngoằn ngoèo qua nhiều chỗ cuối cùng tới ven bờ hồ Bến Mê, song không vào hòa nước, uốn éo dưới lòng đất nhiều lần chảy xuống càng lúc càng thấp đáy địa ngục, sông này mang tên sông Rực Lửa, dòng cuồn cuộn tuôn chảy, phun phún thạch bay tới nhiều vùng Trái Đất. Đối diện sông này là sông thứ tư; như người ta kể thoạt tiên đổ vào vùng hoang dã, ghê rợn, khắp nơi xám đen màu chì gọi là vùng Phiền Muộn, [c] vừa đổ vào sông này tạo thành hồ nước gọi là hồ Căm Hờn. Bị đẩy ra, nước chảy vào hồ nhiễm khả năng ghê rợn, đặc tính nghi ngờ, sông này chảy dưới lòng đất, uốn éo theo đường soắn ốc ngược chiều sông Rực Lửa, tiếp tục chảy tới bờ hồ Bến Mê đối diện. Cũng không vào hòa nước với sông khác, lượn thành vòng tròn đổ vào đáy địa ngục đối diện sông Rực Lửa, sông này thi nhân, thi sĩ dặn ngô bối gọi là sông Than Khóc.
Đó là hình thế mặt đất và sông ngòi. [d] Khi người mới chết tới nơi, mỗi người do thần hộ mệnh dẫn đường, trước tiên người chết chịu phán xét xem có phải đã sống cuộc đời lương thiện, đức hạnh hay không. Người sống cuộc đời bình thường, không nhân từ mà cũng không bạc ác, sẽ đi tới sông Đau Buồn, lên thuyền chờ sẵn ở đó để đưa tới hồ. Đến nơi họ ở lại, chờ thanh tẩy, xá tội, trừng phạt vì tội lỗi vi phạm, [e] hoặc tưởng thưởng thích hợp do việc làm đức độ xứng đáng đón nhận. Người xem ra không thể cải huấn vì tội ác khủng khiếp, vì vi phạm nhiều lỗi lầm lớn lao, báng đạo ngỗ nghịch, giết người xấu xa, bất chính cùng sai trái khác tương tự, số phận thích hợp là ném xuống đáy địa ngục không bao giờ cho ngoi lên nữa. Người xét thấy đã phạm tội lỗi, tuy lớn lao, song có thể cải tạo, như sử dụng bạo lực với cha mẹ trong cơn nóng giận, điên khùng, nhưng cảm thấy ân hận suốt đời, [114a] hoặc giết người theo cung cách tương tự, người này tất nhiên cũng phải quăng xuống đáy địa ngục, sau một năm ở đó sóng sẽ đẩy họ lên, người can tội sát nhân xuống sông Than Khóc, người đối xử tàn tệ với cha mẹ xuống sông Rực Lửa. Khi bị cuốn đẩy mang đi ngang qua hồ Bến Mê, họ lớn tiếng khóc lóc, họ kêu gọi người họ đã giết, họ năn nỉ người họ đã đối xử tàn tệ, [b] họ van lơn cho phép qua sông vào hồ, họ cầu xin đón nhận như bạn bè. Nếu thuyết phục được, họ sẽ bước ra, trừng phạt chấm dứt, đau khổ kết liễu; nếu không thuyết phục được, họ sẽ bị mang trở lại đáy địa ngục, rồi từ đó lại ném vào các sông, trừng phạt chỉ ngừng chừng nào họ thuyết phục được người họ đã gây tội, vì đây là bản án pháp quan tuyên xử họ phải gánh chịu. Người xem ra đã sống cực kỳ đức độ [c] không bị giam giữ trong các vùng này mà được tự do rời khỏi trái đất; họ lần đường đi lên nơi ở tinh khiết và sống trên mặt trái đất. Người thanh tẩy bản thân đầy đủ bằng triết học trong tương lai sống hoàn toàn không thể xác; họ kéo tới nơi cư ngụ ngoạn mục gấp bội khó lòng tô vẽ rõ ràng, vả chăng ngô bối cũng không có thời gian làm vậy lúc này. Tuy nhiên, vì những điều ngô bối vừa miêu tả, quý hữu thấy, Simmias ơi, sống trên cõi đời con người phải cố gắng hết sức sao cho đức độ, phải lẽ, vì phần thưởng ngoạn mục, hy vọng lớn lao vô cùng.
Người hiểu biết [d] không khi nào đòi hỏi sự kiện chính xác những điều bản nhân vừa miêu tả, song bản nhân nghĩ người đó sẽ chẳng ngại tin tưởng, bởi chẳng ngại này là chẳng ngại cao cả, sự thể hoặc cái như thế là thực đối với linh hồn và nơi cư ngụ của linh hồn, vì nhận ra linh hồn hiển nhiên bất tử, nhắc lại với mình như thể đó là câu thần chú; đó là lý do vì sao bản nhân kéo dài câu chuyện từ nãy đến giờ. Đó cũng là lý do vì sao con người phải vui vẻ tin tưởng đối với linh hồn mình, nếu trong cuộc đời [e] đã không màng thú vui thể xác, lánh xa trang điểm bề ngoài, làm như không liên hệ mà xa lạ với mục đích, làm hại hơn làm lợi, trái lại quan tâm tới thú vui học hỏi, tô thắm linh hồn không bằng vẻ đẹp vay mượn mà bằng vẻ đẹp tự thân, nghĩa là, tiết độ, chính trực, can đảm, độ lượng, sự thật, [115a] và trang bị như thế chờ đợi, sẵn sàng bước vào hành trình đi xuống cõi âm bất kể khi nào số phận triệu gọi.
Ơ, Simmias, Cebes, tất cả thân hữu hiện diện ở đây, tiên sinh tiếp lời, ngày nào đó trong tương lai quý hữu cũng sẽ ra đi, lên đường theo thời gian của mình, mỗi người bước vào hành trình riêng biệt. Bản nhân trái lại đã sẵn sàng, như nhân vật bi kịch nói, thời gian đã điểm, định mệnh đang réo gọi. Bây giờ là lúc bản nhân đi tắm. Bản nhân nghĩ nên tắm gội trước khi uống thuốc độc để mấy bà khỏi mất công lau rửa thi thể.
Socrates [b] vừa dứt lời, Crito cất tiếng. Thế, Socrates, cho biết bác muốn ta và thân hữu làm gì với các con hoặc bất kể việc gì? Bọn ta phải làm thế nào để bác hài lòng hơn hết?
Không có gì mới mẻ cả, Crito, tiên sinh đáp, chỉ làm như ta thường bảo. Làm vậy bác sẽ làm ta vui lòng, con ta vui lòng, cả bác cũng vui lòng, cho dù lúc này bác không đồng ý với ta về việc đó. Tuy nhiên, nếu bác không chăm lo mà bỏ mặc bản thân, nếu bác không sống theo đường trong đàm đạo hai ta đã luận giải, cả bây giờ lẫn trước kia, [c] mọi hứa hẹn của bác lúc này dù đậm đà, hăng say đến đâu cũng sẽ vô ích.
Ngô bối sẽ cố gắng hết sức làm theo tôn ý, Crito đáp, nhưng ngô bối sẽ mai táng bác thế nào?
Làm như bác muốn, tiên sinh đáp, điều cần làm ấy là bác phải nắm bắt ta trước, đừng để ta tuột thoát tầm tay. Dứt lời tiên sinh đưa mắt từ từ nhìn ngô bối, mỉm cười nhẹ nhàng, đoạn ôn tồn tiếp tục: Các quý hữu ơi, bản nhân bất lực không thể thuyết phục Crito tin tưởng bản nhân là Socrates thực, vẫn Socrates đó, đang trò chuyện với các quý hữu và đang liên tục hướng dẫn cuộc đàm đạo. Lão nhân nghĩ bản nhân là Socrates khác chẳng lâu nữa lão nhân sẽ thấy như xác chết, [d] lão nhân hỏi lão nhân sẽ chôn cất bản nhân thế nào! Ý kiến đưa ra, lý luận sử dụng từ đó đến nay giải thích dài dòng, kỹ lưỡng bản nhân đều cho thấy sau khi uống thuốc độc bản nhân sẽ không ở lại với quý hữu, trái lại bản nhân sẽ ra đi, đi xa, tới nơi sung sướng dành cho người diễm phúc, lời như thế, ý như vậy bản nhân cố gắng an ủi quý hữu và bản thân, song bản nhân nhận thấy không có tác dụng tí nào với lão nhân. Bởi thế bản nhân muốn quý hữu cam kết với lão nhân nhân danh bản nhân bây giờ, như lão nhân cam kết với phiên tòa hôm xử, song cung cách khác hẳn. Lão nhân cam kết với bồi thẩm đoàn bản nhân sẽ ở lại nhà tù, quý hữu cam kết với lão nhân khi chết bản nhân sẽ không ở lại, trái lại ra đi, đi thẳng, đi xa. [e] Như vậy lão nhân sẽ bớt đau khổ vì bản nhân chết, và sẽ không buồn phiền khi thấy thân xác bản nhân hỏa thiêu hay địa táng. Bản nhân không muốn lão nhân âu sầu vì số phận hẩm hiu, đau khổ ghê rợn bản nhân gánh chịu, hoặc tại đám tang lão nhân sẽ không nói lão nhân đặt Socrates nằm đó, đưa tới cửa huyệt và mai táng tiên sinh. Bởi, Crito quý mến nhất đời, tin ta đi, bác thừa biết, lời giả dối không những tự nó xấu xa mà còn đem xấu xa thẩm nhập linh hồn. Vậy, vui lên, Crito chí thiết của ta, và nói bác chỉ mai táng thân xác ta, [116a] bác thực hiện như bác muốn, bất kể cách nào bác nghĩ tốt đẹp hơn hết.
Nói xong tiên sinh đứng dậy đi sang phòng khác, sửa soạn tắm rửa. Lão nhân Crito đi theo và bảo ngô bối chờ. Ngô bối ngồi vừa nói chuyện vừa ôn lại đã nói những gì, và lại kể về bất hạnh lớn lao bao phủ mọi người. Ngô bối đều cảm thấy như thể đã mất người cha và sẽ mồ côi suốt đời. Lúc tiên sinh tắm xong, có người đưa con vào gặp, [b] hai con trai còn nhỏ, một con trai đã lớn, mấy phụ nữ trong nhà cũng tới gặp mặt. Tiên sinh nói chuyện với họ trước mặt lão nhân Crito, đồng thời chỉ bảo, dặn dò điều tiên sinh mong muốn. Sau đó bảo mấy phụ nữ và mấy đứa con ra về, tiên sinh quay lại với ngô bối. Lúc này gần hoàng hôn, vì tiên sinh ở trong đó khá lâu. Tắm xong đi ra tiên sinh ngồi xuống chuyện vãn với ngô bối một lát. Đúng lúc đó cai tù nô lệ hầu hạ nhóm Mười Một Ông bước vào đứng trước mặt [c] cất tiếng: Socrates, bản chức không trách mắng lão nhân như người khác. Họ giận dữ, chửi rủa khi tuân lệnh pháp quan bản chức bảo họ uống thuốc độc. Suốt thời gian lão nhân ở đây, bản chức dần dà nhận ra lão nhân khác hẳn, con người cao cả, hòa nhã, lịch duyệt hết sức đã tới chốn này. Bởi thế đặc biệt bây giờ cũng vậy bản chức biết lão nhân sẽ không hề cáu giận hay gây khó khăn cho bản chức; lão nhân thừa biết ai chịu trách nhiệm, lão nhân sẽ hướng phẫn nộ vào họ. Lão nhân hiểu tại sao bản chức tới đây và mang theo mệnh lệnh thế nào. Vĩnh biệt lão nhân, cố gắng gánh chịu trong khả năng có thể càng thoải mái càng quý cái tất yếu ở đời! [d] Nói xong cai tù bật khóc, quay mặt, bước đi. Tiên sinh nhìn theo, đáp lời: Hồi âm lời cầu chúc tốt đẹp, cũng vĩnh biệt quý nhân, lão hủ sẽ làm như quý nhân dặn! Cùng lúc quay lại ngô bối tiên sinh nhỏ nhẹ: Người nhã nhặn làm sao! Suốt thời gian bản nhân ở đây thường vào phòng, thỉnh thoảng chuyện trò lịch thiệp, khả ái; bây giờ chân tình tỏ ý buồn, nhỏ lệ khóc như thế! Vậy, Crito, ngô bối làm như cai tù nói; bảo mang thuốc độc vào đây nếu đã nghiền xong; nếu chưa sẵn sàng, bảo người lo việc đó sửa soạn.
Nhưng, [e] Socrates ơi, Crito đáp, ta nghĩ mặt trời chưa lặn mà vẫn le lói trên dãy đồi. Ta biết sau khi nhận lệnh, chờ khá lâu, ăn uống chút đỉnh, nhiều người mới uống thuốc độc, có người còn trò chuyện thân mật với thân nhân. Chớ vội; vẫn còn thời gian.
Crito ơi, với họ làm vậy là tự nhiên, tiên sinh nói, vì họ nghĩ trì hoãn như thế là có lợi đôi chút, với ta cũng là tự nhiên, song lý do làm vậy không thích hợp tí nào. [117a] Bởi, bác ơi, ta không mong đợi đạt được cái gì từ việc uống thuốc độc chậm hơn một chút, trừ điều đó là trò cười dưới chính mắt ta, cố bám víu, cố ghì níu, cố ôm chặt khi cuộc đời chẳng còn gì trao lại. Vậy làm như ta hỏi, đừng bày vẽ trở ngại, khó khăn.
Nghe thấy thế lão nhân Crito gật đầu ra hiệu cho nô lệ đứng gần; nô lệ đi ra, sau một lát trở lại với người nghiền thuốc độc sẵn sàng trong chiếc cốc mang vào. Vừa nom thấy người này tiên sinh thốt lời: A, quý nhân, chuyên gia nghiền thuốc, tử tù phải làm thế nào?
Cứ uống tự nhiên, uống xong đi bộ loanh quanh, khi thấy chân nặng, [b] vào giường nằm, thuốc sẽ âm thầm tác dụng. Nói rồi người này đưa cốc thuốc, tiên sinh giơ tay cầm, dáng dấp hoàn toàn thanh thản, Echecrates ơi, không run rẩy, không đổi màu da, không thay sắc mặt, song nhìn chằm chằm dưới cặp lông mày rậm như thường làm rồi gạn hỏi: Thưa, cai tù, rảy chút thuốc xuống đất làm lễ thần linh chẳng hay có được hay không?
Ngô bối chỉ pha đúng dung lượng ngô bối tin là đủ, người này đáp.
Tử tội hiểu,[c] tiên sinh đáp, song dù sao con người cũng được phép, thực ra con người bắt buộc, thốt lời cầu nguyện thần linh phù hộ hành trình từ thế giới bên này tới thế giới bên kia xuôi chèo mát mái. Bản nhân muốn cầu nguyện như thế và rất mong được phép cầu nguyện như vậy!
Trong khi nói tiên sinh cầm cốc thuốc, lát sau đưa lên môi lặng lẽ, thoải mái uống cạn, không nhăn mặt, không rùng mình, không khó chịu, hoàn toàn bình thản và tự nhiên. Phần lớn ngô bối đến lúc đó vẫn cầm nước mắt, nhưng khi nhìn tiên sinh uống, nhất là sau khi tiên sinh uống xong, chiếc cốc trống trơn, ngô bối không tài nào kìm nổi hàng lệ nữa. Thôi thế là vô phương cứu chữa! Bỉ nhân cũng thế, mặc dù cố gắng, chẳng muốn tí nào, nước mắt cứ tuôn trào như suối. Bởi vậy bỉ nhân phải che mặt. Bỉ nhân khóc tức tưởi, khóc vì mình, không khóc vì tiên sinh, khóc vì số phận hẩm hiu, do bất hạnh mất thân hữu như thế. Ngay phía trước, [d] còn hơn bỉ nhân, lão nhân Crito cũng không cầm được nước mắt, đành đứng dậy đi ra. Từ nãy đến giờ không hề nín nhịn, dáng vẻ tự nhiên, đúng lúc đó Apollodorus vừa gào vừa khóc vì đau đớn, vừa hú vừa rít vì giận dữ khiến mọi người hiện diện đều tan nát cõi lòng, trừ tiên sinh, nghe rõ mồn một, cất tiếng: Thế là thế nào, các quý hữu kỳ lạ quá! Sở dĩ đuổi mấy phụ nữ ra về thực ra chỉ vì bản nhân muốn tránh cảnh rùm beng như thế. Vì bản nhân nghe nói khi chết phải chết bình thản, im lặng với lời truyền gửi tin lành. [e] Bởi thế các quý hữu cần trấn tĩnh và tỏ ra can đảm.
Nghe tiên sinh nói thế ngô bối đỏ mặt, cố nhịn không để nước mắt ứa tuôn. Tiên sinh đi lại quanh phòng, chỉ một lúc thấy chân bắt đầu nặng, lẳng lặng lên giường nằm như đã nghe dặn. Người đem thuốc độc cho tiên sinh đưa tay sờ nắn thân thể, xem bàn chân, ống chân, chốc chốc lại xem, lại sờ nắn. Sau một lúc người đó lấy tay bóp mạnh bàn chân hỏi tiên sinh cảm thấy đau không, tiên sinh trả lời không. Tiếp theo người đó bóp mạnh hơn nữa khoeo chân, ống chân lần dần lên tận bụng, [118a] nán lại cho ngô bối thấy chỗ đó đã lạnh và cứng dần dần. Người đó tiếp tục nắn sờ, rồi nói khi lạnh lên tới tim là tiên sinh đi đó. Lúc bụng dưới bắt đầu lạnh tiên sinh gỡ khăn chùm mặt, trước đó tiên sinh phủ kín, thảng thốt nói, đây là lời cuối cùng: Crito ơi, ngô bối còn nợ Asclepius con gà trống đấy, nhớ trả, đừng quên. Crito đáp: Không, bác yên chí, ta sẽ làm, nhưng cho ngô bối hay còn gì nữa cần dặn? Câu hỏi đưa ra không nghe tiếng đáp trả lời. Lát ngắn ngủi trôi qua; tiên sinh cựa quậy; người đem thuốc lại mở khăn chùm mặt, mắt tiên sinh bất động. Vừa nom thấy Crito đưa tay khép miệng và vuốt mắt.
Echecrates ơi, thân hữu của ngô bối chấm dứt cuộc đời như thế đó, người ngô bối từng quen biết, từng khẳng định suy tư chín chắn, hiểu biết uyên thâm, cư xử chính trực hơn hết ở đời.