Ngôi nhà của Người Hà Lan

Lượt đọc: 1316 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

Luật sư Gooch - chúng tôi thường gọi ông như vậy - trạc tuổi cha và là bạn của cha. Với tư cách một người bạn, ông đồng ý gặp Maeve vào giờ ăn trưa ngày hôm sau. Chị không đồng ý cho tôi nghỉ học để đi cùng chị. “Chị chỉ đi lấy lại phần đất nhà mình,” chị nói bên bát ngũ cốc chị chuẩn bị sẵn vào buổi sáng trên chiếc bàn nhỏ xíu trong phòng bếp. “Chúng ta đi với nhau lúc nào mà chẳng được.”

Maeve thả tôi ở trường trên đường đi làm. Mọi người biết cha tôi qua đời và đều tỏ ra rất tử tế với tôi. Các giáo viên và huấn luyện viên kéo tôi qua một bên và nói rằng họ luôn sẵn sàng lắng nghe và tôi sẽ có thêm thời gian để hoàn thành bài vở của mình. Còn đám bạn, như Robert, người chơi bóng rổ giỏi hơn tôi một chút, T. J., người chơi kém hơn tôi nhiều, và Matthew, người không thích gì hơn việc đến cổng trường cùng tôi thì thể hiện khác đi một chút: họ không thoải mái trước tình cảnh của tôi và thể hiện nó một cách vụng về, cố gắng nhịn cười trước những điều buồn cười khi có mặt tôi, một sự tôn trọng mà chúng dành cho nỗi buồn của tôi. Chúng không tỏ ra thương hại vì chúng thấy tội cho tôi, kiểu vậy. Tôi không muốn giả bộ như cha chưa mất, nhưng tôi không muốn ai biết chuyện về ngôi nhà. Sự mất mát đó quá riêng tư, khiến tôi thấy xấu hổ một cách khó hiểu. Tôi vẫn tin rằng Maeve và luật sư Gooch sẽ giải quyết mọi chuyện và chúng tôi sẽ trở về nhà trước khi mọi người biết chuyện chúng tôi bị tống cổ ra đường.

Nhưng chính xác “trở về nhà” có nghĩa là ở đó mà không có Andrea và lũ trẻ ư? Vậy điều gì sẽ xảy ra với họ? Bộ não của tôi vẫn chưa giải được bài toán đó.

Tôi có buối tập muộn nên Maeve tan làm và về căn hộ trước tôi. Chị nói chị định làm món trứng bác và bánh mì nướng cho bữa tối. Cả hai đứa đều không biết nấu ăn.

Tôi thả cặp sách ở phòng khách. “Mọi chuyện ổn chứ?”

“Tệ hơn chị nghĩ rất nhiều.” Chị nói nhẹ tênh cứ như thể đang đùa. “Em uống bia không?”

Tôi gật đầu. Lần đầu tiên chị mời vậy. “Em sẽ đi lấy một chai bia.”

“Hai đi.” Chị nghiêng người để châm điếu thuốc trên ngọn lửa bếp ga.

“Em ước chị đừng làm thế.” Ý tôi là: Chị là chị em, người thân duy nhất của em. Đừng có mà gí mặt vào ngọn lửa chết tiệt đó chứ.

Chị đứng thẳng dậy, nhả một bụm khói dài khắp căn bếp. “Chị tắt đây. Chị từng tự đốt trụi lông mi mình ở một bữa tiệc tại Village vài năm trước. Người ta chỉ bị thế một lần trong đời.”

“Kinh khủng.” Tôi cầm hai chai bia, tìm đồ khui rồi đưa cho chị một chai.

Chị tợp một ngụm, rồi hắng giọng để bắt đầu kể: “Theo sự hiểu biết của chị thì những gì chúng ta sở hữu chính là những thứ xung quanh em.”

“Nghĩa là không có gì.”

“Chính xác.”

Tôi chưa từng tính đến việc này và câu nói đó như bắn thẳng một luồng adrenaline vào trong cơ thể tôi, chuẩn bị tinh thần cho một cuộc chiến hoặc biến đi. “Sao lại thế?”

“Luật sư Gooch, ông ấy rất dễ mến và không thể nào tử tế hơn, đã nói về luật thừa kế ba thế hệ, nhưng chúng ta đã biến nó thành hai, hoặc chị đoán là một.”

“Nghĩa là sao?”

“Nghĩa là theo truyền thống, thế hệ thứ nhất kiếm tiền, thế hệ thứ hai tiêu tiền và thế hệ thứ ba phải đi làm trở lại. Nhưng trong trường hợp của chúng ta, cha đã tạo ra một khối tài sản khổng lồ sau đó lại thổi bay chúng. Ông ấy đã hoàn thành chu trình cả ba đời trong một đời. Ông ấy nghèo, rồi phất lên, và giờ chúng ta trở về vị trí ban đầu của ông.”

“Cha không có tiền sao?”

Chị lắc đầu, giải thích tỉ mỉ: “Ông có cả núi tiền, nhưng lại không có sự nhạy bén. Người vợ trẻ của ông nói với ông rằng bà ta tin rằng hôn nhân là một mối quan hệ hợp tắc. Hãy nhớ những lời đó, Danny: Hôn nhân là một mối quan hệ hợp tác. Bà ta bắt ông để bà ta sở hữu mọi thứ.”

“Ông cho dì ta sở hữu tất cả các tòa nhà ư?” Điều đó dường như là không thể. Có rất nhiều tòa nhà và ông mua bán liên tục.

Chị lắc đầu và tợp thêm ngụm bia. “Chỉ những tay mơ mới làm vậy thôi. Bất động sản và Xây dựng Conroy là công ty trách nhiệm hữu hạn, điều đó có nghĩa là mọi thứ trong công ty đều được quy thành một mối. Khi ông bán một tòa nhà, tiền vẫn nằm trong công ty và ông sẽ dùng tiền đó để mua một tòa nhà khác. Andrea buộc ông cho bà ta đồng sở hữu công ty, có nghĩa là bà ta có quyền sở hữu chung, cùng với đó là quyền ưu tiên thừa kế.”

“Điều đó là hợp pháp sao?”

“Tất cả tài sản đều được chuyển cho vợ theo quy định của pháp luật do họ đồng sở hữu. Em có theo kịp không? Chị cũng mất cả phút mới hiểu kịp.”

“Em hiểu.” Tôi chỉ không chắc đó là sự thật.

“Em đúng là một cậu bé thông minh. Đối với ngôi nhà cũng vậy. Ngôi nhà và tất cả tài sản bên trong ngôi nhà.”

“Và luật sư Gooch đã làm vậy sao?” Tôi biết luật sư Gooch. Thỉnh thoảng ông vẫn đến dự mấy trận bóng rổ của tôi và ngồi trên băng ghế với cha tôi. Hai đứa con trai của ông đang theo học tại trường Bishop McDevitt.

“Không, không.” Chị lắc đầu. Chị quý luật sư Gooch. “Andrea làm việc đó với luật sư riêng của bà ta. Ai đó ở Philadelphia. Một công ty luật lớn. Luật sư Gooch kể rằng ông đã nói với cha rất nhiều lần về việc đó, và em biết cha nói gì không? Ông nói: ‘Andrea là một người mẹ tốt. Cô ấy sẽ chăm sóc lũ trẻ.’ Như thể ông cưới bà ta vì ông nghĩ rằng bà ta sẽ tốt với những đứa con riêng của chồng vậy.”

“Thế còn di chúc thì sao?” Có lẽ Maeve đã đúng về thế hệ thứ hai vì ngay cả tôi cũng biết hỏi về di chúc.

Chị lắc đầu: “Không có di chúc.”

Tôi ngồi xuống ghế trong bếp và tợp một hơi dài, rồi ngước nhìn chị gái. “Sao chúng ta không hét lên nhỉ?”

“Chúng ta vẫn còn đang sốc.”

“Phải có cách giải quyết việc này.”

Maeve gật đầu: “Chị cũng nghĩ thế. Chị biết mình sẽ cố gắng nhưng luật sư Gooch nói với chị rằng đừng quá hy vọng. Cha biết ông đang làm gì. Ông làm điều đó khi đang rất tỉnh táo. Bà ta không ép cha ký bất kỳ giấy tờ gì.”

“Tất nhiên là bà ta ép cha rồi!”

“Ý chị là bà ta không gí súng vào đầu ông và ép ông làm điều đó. Hãy nghĩ mà xem: mẹ bỏ cha, sau đó con sóc chuột nhỏ nhắn đó đến và nói với cha rằng bà ta sẽ không bao giờ rời bỏ ông. Bà ta muốn tham gia vào mọi việc ông làm, những gì của anh là của em. Bà ta sẽ chăm lo mọi việc, ông không phải lo nghĩ gì sất.”

“Chà, đến đó thì đúng. Cha không phải lo lắng gì.”

“Người vợ bốn năm có được tất cả. Thậm chí bà ta còn đứng tên sở hữu chiếc xe của chị. Luật sư Gooch đã nói với chị như vậy. Bà ta sở hữu chiếc xe của chị nhưng nói với ông ấy rằng chị có thể giữ nó. Chắc chắn chị sẽ bán nó trước khi bà ta đổi ý. Chị tính mua một con Volkswagen. Em thấy sao?”

“Sao không chứ?”

Maeve gật gù. “Em thông minh lắm,” chị nói, “và chị cũng khá thông minh. Chị từng nghĩ cha cũng thông minh, nhưng ba người chúng ta không lường trước được Andrea Smith Conroy. Luật sư Gooch muốn chị em mình phải hợp lực lại. Ông nói vẫn còn một vài việc chưa giải quyết xong xuôi. Ông hứa sẽ làm mọi việc cho chúng ta, miễn phí.”

“Sẽ tốt hơn nếu ông ấy thay mặt chúng ta làm điều đó khi cha còn sống.”

“Rõ ràng là ông ấy đã cố. Ông ấy nói rằng cha nghĩ cha chưa già đến mức phải lập di chúc.” Maeve nghĩ điều này trong cả phút. “Chị nghĩ Andrea có di chúc đấy.”

Tôi tu cạn chai bia trong khi Maeve dựa vào bếp và hút thuốc. Chúng tôi phạm pháp một chút theo cách riêng của mình. “Hai người chồng đều chết,” tôi nói, mặc dù đúng như vậy, nhưng rồi sao? Vào tuổi ba mươi tư? Ba mươi lăm? Quá già theo tiêu chuẩn của một cậu bé vị thành niên. “Chị có bao giờ tự hỏi điều gì đã xảy ra với ông Smith không?” Tôi hỏi.

“Chưa một lần nào.”

Tôi lắc đầu. “Em cũng thế. Kỳ lạ mà, đúng không? Chúng ta chưa từng nghĩ đến chuyện ông Smith, sao ông ấy chết?”

“Sao em lại nghĩ rằng ông ấy đã chết? Chị luôn nghĩ ông ấy đã tống bà ta và bọn trẻ ra đường, chắc hẳn cha đã đi ngang qua không đúng lúc và đề nghị cho họ đi nhờ.”

“Em thấy tội nghiệp thay cho Norma và Bright khi phải ở đó.”

“Cầu cho chúng chết rữa ở địa ngục.” Maeve gi điếu thuốc vào một cái đĩa nhỏ. “Tất cả bọn chúng.”

“Không phải tất cả chứ. Ngoại trừ lũ trẻ,” tôi chữa.

Chị gái tôi quay lại với vẻ hung dữ đến nỗi trong giây lát tôi nghĩ rằng chị định đánh tôi. “Bà ta lấy mọi thứ của chúng ta. Em không hiểu sao? Bọn chúng ngủ trên giường của chúng ta, ăn trên đĩa của chúng ta và chúng ta không lấy lại được bất kỳ... bất kỳ thứ gì.”

Tôi gục gặc. Điều tôi muốn nói nhưng không mở lời là tôi cũng nghĩ thế về cha tôi. Chúng tôi không thể đem ông ấy về được nữa.

Maeve và tôi cùng nhau sắp xếp căn hộ. Chúng tôi mua một chiếc tủ cũ ở Goodwill và đặt nó ở góc phòng để tôi cất quần áo của mình. Tôi vẫn không muốn dùng phòng ngủ nhưng mỗi tối, Maeve đều cầm chăn gối ra nằm ở ghế dài. Tôi muốn bảo chị thuê chỗ khác rộng hơn, nhưng tôi biết chị phải lo hết chuyện tiền nong, từ tiền nhà đến tiền ăn.

Mọi thứ xong xuôi, chúng tôi gọi Sandy và Jocelyn đến để xem chúng tôi đã làm được những gì. Maeve ghé tiệm bánh mua một hộp bánh quy. Chị xếp những chiếc bánh vào đĩa và vứt chiếc hộp màu trắng đi, như thể muốn lừa họ. Tôi dựng đệm trên ghế sao cho thẳng thớm, chị cất cặp kính vào trong ngăn tủ. Chuông reo, chúng tôi mở toang cửa và bốn người chúng tôi gặp nhau, ngập tràn hạnh phúc. Quả là một buổi đoàn viên! Cứ như thể chúng tôi đã không gặp nhau nhiều năm trời.

Thế mà mới chỉ hai tuần trôi qua.

“Nhìn cậu này,” Sandy nói, vươn tay ôm lấy vai tôi. Tóc cô có vẻ đã bạc đi nhiều. Những giọt nước mắt long lanh trên khóe mi.

Sandy và Jocelyn ôm hôn chúng tôi theo cách chưa từng có khi ở nhà. Jocelyn thì mặc quần yếm trong khi Sandy mặc chiếc váy cotton, đi đôi giày tennis rẻ tiền. Giờ họ là những người bình thường, không còn là người hầu nhà chúng tôi nữa. Tuy vậy, họ vẫn mang đến một hũ lớn xúp rau kiểu Ý (món khoái khẩu của Maeve) và một hũ bò hầm (món yêu thích của tôi).

“Cô không thể nấu ăn cho chúng cháu được,” Maeve nói.

“Tôi luôn làm đồ ăn cho cô cậu,” Jocelyn gạt đi.

Sandy nhìn quanh phòng khách vẻ hoài nghi. “Giờ tôi có thể ghé qua lau dọn nhà cửa giúp cô cậu.”

Maeve bật cười. “Sao cháu lại không thể tự lau dọn nhà cửa chứ ạ?”

“Cô còn bận đi làm,” Sandy nói, nhìn xuống và di mũi giày xuống sàn. “Cô không cần quá lo chuyện dọn dẹp nhà cửa nữa. Dù sao thì căn hộ này tôi dọn có bao lâu đâu, chắc chỉ một tiếng.”

“Cháu làm được mà,” tôi nói khiến cả ba nhìn tôi như thể tôi vừa xung phong tự may quần áo. “Maeve không cho cháu đi làm ở đâu cả.”

“Cậu tập trung vào bóng rổ đi,” Sandy nói.

“Và cố gắng đạt điểm cao,” Jocelyn bồi thêm.

Maeve gật đầu. “Cứ để một thời gian nữa xem chúng cháu làm ăn thế nào đã.”

“Chúng cháu lo được thật mà,” tôi nói chắc nịch.

Sandy biến mất trong phòng ngủ và quay lại sau năm giây, nhìn tôi. “Cậu ngủ ở đâu?”

“Cậu ấy có biết chăm sóc cô không?” Jocelyn hỏi chị gái tôi.

Maeve xua tay. “Cháu ổn mà.”

“Maeve.” Jocelyn quắc mắt. Nói ra thì buồn cười nhưng cô đang tỏ ra nghiêm khắc. Sandy và Jocelyn chưa bao giờ nghiêm khắc nổi với Maeve.

“Cháu lo được mọi thứ mà!”

Jocelyn quay sang tôi. “Đã hơn một lần tôi tìm thấy chị gái cậu trong tình trạng bất tỉnh. Đôi khi cô ấy quên ăn hoặc cơ thể không đủ lượng insulin. Nhiều lúc chẳng vì gì cả nhưng lượng đường của cô ấy lại xuống thấp đến mức báo động. Cậu phải để mắt đến cô ấy đấy, nhất là lúc cô ấy căng thẳng. Cô ấy sẽ bảo cậu là căng thẳng chẳng liên quan gì nhưng mà có đấy.”

“Thôi nào,” Maeve xua đi.

“Cô ấy có những viên đường. Cậu phải bảo cô ấy chỉ cho chỗ cất chúng, chắc chắn trong ví của cô ấy có đấy. Nếu có vấn đề gì, cậu phải cho cô ấy uống một viên rồi gọi cấp cứu ngay.”

Tôi cố gắng nghĩ về việc Maeve nằm sõng soài trên sàn. “Cháu biết rồi,” tôi nói, giữ cho giọng ổn định. Tôi biết về chuyện insulin nhưng không biết về chuyện đường. “Chị đã chỉ cho cháu xem rồi.”

Maeve ngồi xuống, mỉm cười: “Chính miệng cháu kể mà.”

Jocelyn nhìn chúng tôi cả phút rồi lắc đầu: “Cô nói dối tệ lắm, cả hai cô cậu, nhưng cũng chẳng sao. Giờ Danny đã biết chuyện thuốc men và cậu ấy sẽ bắt cô lôi ra cho cậu ấy xem. Cậu sẽ làm vậy sau khi chúng tôi rời đi, phải không Danny?”

Mặc dù rất nhạy cảm với sự dao động lượng đường trong máu Maeve, tôi vẫn nhận ra rằng mình không hiểu rõ việc đó. Tôi biết cách đứng cạnh nhìn chị chăm sóc bản thân nhưng việc tự mình chăm sóc chị không giống vậy. Tuy nhiên, Jocelyn đã đúng. Tôi sẽ yêu cầu Maeve giải thích mọi thứ cho tôi sau khi họ ra về. “Cháu sẽ làm vậy.”

“Cô biết là cháu sống một mình trong căn hộ này suốt thời gian qua phải không ạ?” Maeve nói. “Danny đâu có đạp xe qua đây mỗi đêm để tiêm cho cháu đâu.”

“Hoặc cậu có thể gọi cho tôi,” Jocelyn hoàn toàn phớt lờ chị. “Tôi sẽ chỉ cho cậu mọi thứ cần biết.”

Sandy đã tìm được công việc quản gia ở Elkins Park. “Họ tử tế nhưng lương không cao,” cô kể, “và cũng không có nhiều việc như trước.” Jocelyn tìm được công việc nấu nướng cho một gia đình ở Jenkintown nhưng cô buộc phải phụ trông hai đứa trẻ và dắt chó đi dạo. Không nhiều tiền bằng nhưng lại nhiều việc hơn. Hai chị em họ bật cười. Vẫn tốt hơn là bị đuổi, họ nói vậy. Điều đó như một huy hiệu danh dự với họ. Không đời nào họ ở lại căn nhà đó khi không có tôi.

“Khi đã ổn định, tôi sẽ cố nói chuyện với gia chủ về việc thuê Jocelyn. Họ cần một đầu bếp. Bằng cách đó, chúng tôi lại được làm việc cùng nhau,” Sandy nói.

Giá mà tôi đã xử lý tình huống tốt hơn để mọi chuyện không trở nên nghiêm trọng - không chỉ trong những ngày cuối mà là trong suốt những năm Andrea xuất hiện trong cuộc sống của chúng tôi - Sandy và Jocelyn vẫn sẽ được ngồi cùng nhau bên chiếc bàn bếp màu xanh, tách vỏ đậu và nghe đài.

Sandy nhìn lên trần nhà, rồi nhìn ra cửa sổ, như thể cô đang ngầm đánh giá nơi này. “Tại sao cô cậu không chuyển đến một trong những tòa nhà của cha cô?” Cô hỏi chị.

“Cháu cũng chẳng biết nữa,” Maeve trả lời. Chị vẫn còn đang bối rối về chuyện insulin.

Joelyn ngồi cạnh Sandy trên chiếc ghế dài. Maeve ngồi trên ghế, còn tôi ngồi dưới sàn. Sandy lầm bầm: “Trước đây tôi chưa từng nghĩ đến điều đó. Giờ nghĩ lại mới thấy vô lý thật! Tìm được căn hộ không phải do cha cô làm chủ ở thị trấn này khó lắm chứ.”

Tôi cũng tự hỏi về điều đó và lý do duy nhất tôi có thể nghĩ ra là chị đã thử hỏi cha nhưng ông từ chối.

Maeve nhìn chúng tôi, ba người chúng tôi chính là gia đình với chị. “Cháu đã mong sẽ gây được ấn tượng với ông ấy.”

“Bằng nơi này ư?” Sandy cúi người rồi xếp ngay ngắn chồng sách của tôi trên chiếc bàn cà phê trước mặt cô.

Maeve lại cười. “Cháu đã lên ngân sách và đây là nơi mà cháu có thể chi trả được. Cháu cứ nghĩ là rồi đến một ngày ông sẽ nhận ra cháu không đòi hỏi ông bất kỳ điều gì, rằng cháu đã tiết kiệm tiền từ năm học cuối. Cháu đủ tiền thuê nhà cho tháng đầu tiên và cũng là tháng cuối cùng. Rồi cháu tìm được việc. Cháu mua giường và tháng sau cháu mua ghế dài rồi mua ghế đẩu ở Goodwill. Cô biết cha cháu đấy, ông thích kiểu vươn lên từ nghèo đói, tự lực cánh sinh để học mọi thứ. Cháu nghĩ cháu đã cho ông thấy cháu không giống những đứa con gái nhà giàu khác trong trường mà cháu biết. Cháu không ngồi và đợi ông mua tặng cháu một con ngựa.”

Sandy bật cười. “Tôi chưa bao giờ nghĩ sẽ có ai mua tặng tôi một con ngựa.”

“Chà, vậy là tốt rồi.” Jocelyn mỉm cười. “Tôi biết là ông ấy tự hào về cô, về cách cô tự lực làm mọi việc.”

“Ông ấy chẳng nhận ra đâu,” Maeve cay đắng nói.

Sandy lắc đầu. “Tất nhiên là ông ấy nhận ra rồi.”

Nhưng Maeve đã đúng. Ông chưa bao giờ để ý những gì chị muốn ông thấy. Ông không có ý niệm gì về tính tự lập của chị. Điều duy nhất mà ông từng thấy ở chị chính là phong thái.

Maeve pha cà phê rồi cùng Jocelyn hút thuốc trong khi tôi và Sandy quan sát họ. Chúng tôi ăn bánh quy và nhớ lại mọi ký ức tồi tệ về Andrea. Chúng tôi trao đổi chuyện về dì ta như trao đổi những tấm thẻ bóng chày, cảm thán về mọi thông tin mà một trong số chúng tôi chưa từng nghe qua. Chúng tôi nói về việc dì ta ngủ muộn như thế nào, dì ta từng mặc những chiếc váy xấu ra sao, hay cái cách mà dì ta dành cả tiếng đồng hồ để nói chuyện với mẹ qua điện thoại nhưng chẳng bao giờ thèm mời bà đến nhà. Dì ta bỏ mứa thức ăn, bật đèn suốt đêm và chẳng ai trong số chúng tôi thấy dì ta từng cầm một cuốn sách. Dì ta dành hàng giờ ngồi bên hồ bơi để nhìn chằm chằm vào móng tay của mình và đợi Jocelyn phục vụ bữa trưa tận miệng. Dì ta chẳng bao giờ nghe lời cha chúng tôi. Dì ta đã cho chuyển phòng ngủ của Maeve. Dì ta đuổi bọn tôi ra khỏi nhà. Chúng tôi đang đào hố để chôn sống dì ta.

“Có ai giải thích cho cháu tại sao cha cưới bà ta không ạ?” Maeve hỏi.

“Được rồi.” Jocelyn nói mà không cần nghĩ. “Andrea yêu ngôi nhà kinh khủng. Cha cô cho rằng ngôi nhà là thứ đẹp nhất trần đời và tìm được một người phụ nữ đồng tình với quan điểm đó.”

Maeve giơ phắt tay lên. “Ai chả nghĩ thế! Không khó để tìm được một người phụ nữ tử tế thích ngôi nhà đó.”

Jocelyn nhún vai. “Ừ thì mẹ cô chán ghét nó, còn Andrea thì mê nó. Ông ấy nghĩ thế là giải quyết được mọi việc. Nhưng tôi đã chạm nọc cô ả phải không? Khi nói về mẹ cô cậu.”

Sandy lấy tay che mặt cười khùng khục. “Tôi nghĩ lúc đó cô ả chết đứng ấy chứ.”

Tôi nhìn Sandy và Jocelyn. Họ đang cười như nắc nẻ. “Cô không có ý đó, đúng không ạ?”

“Ý gì cơ?” Sandy hỏi lại, chấm nước mắt.

“Về việc mẹ chúng cháu, cháu không biết nữa, như một vị thánh ấy ạ?”

Không khí trong căn phòng bỗng chốc thay đổi, chúng tôi bỗng ý thức được mình đang ngồi như thế nào rồi để tay ra sao. “Mẹ cậu,” Jocelyn nói rồi im bặt và nhìn về phía chị gái.

“Tất nhiên là chúng tôi quý mẹ cậu,” Sandy nói đỡ.

“Chúng ta đều yêu quý bà,” Maeve tiếp lời.

“Bà thường xuyên phải ra ngoài,” Jocelyn nói, cố chọn từ ngữ phù hợp.

“Bà đã làm nhiều việc.” Maeve cũng căng thẳng nhưng biểu hiện khác Sandy và Jocelyn.

Tôi không hiểu họ nói về điều gì cũng như không biết mẹ tôi từng có việc làm. “Bà từng làm gì ạ?”

“Bà giúp đỡ người nghèo,” Maeve đáp.

“Ở Elkins Park sao?” Chẳng có người nghèo nào ở Elkins Park, hoặc tôi chẳng thấy ai như vậy cả.

“Bà giúp người nghèo ở khắp mọi nơi,” Sandy nói, dù tôi có thể thấy cô đang cố gắng hết sức để giải thích tình hình bằng lời lẽ dễ nghe. “Bà thấy những người gặp khó khăn, cần giúp đỡ ở khắp mọi nơi.”

“Bà ra ngoài và tìm đến những người nghèo ạ?” Tôi hỏi.

“Từ sáng sớm đến tối mịt,” Jocelyn đáp.

Maeve châm một điếu thuốc. “Được rồi, không nói chuyện này nữa. Em hỏi như thể mẹ chưa từng xuất hiện vậy.”

Jocelyn nhún vai, còn Sandy với lấy một chiếc bánh quy nhân mứt mơ.

“Cả nhà luôn vui vẻ khi thấy mẹ về,” Maeve nói.

Sandy mỉm cười, gật đầu. “Lúc nào cũng vậy,” cô nói.

Sáng sớm Chủ nhật, Maeve vào phòng và kéo toang rèm ra. “Dậy thôi! Ăn mặc chỉnh tề vào, rồi bọn mình cùng đến nhà thờ.”

Tôi vớ lấy gối che mắt, mong có thể quay lại giấc mơ đã mất, một giấc mơ mà tôi cũng chẳng nhớ rõ. “Không đâu!”

Maeve nghiêng người rồi kéo chiếc gối ra khỏi đầu tôi. “Chị nói rồi đấy. Dậy đi! Dậy đi!”

Tôi nhìn chị, mắt nhắm mắt mở. Chị mặc chiếc chân váy, mái tóc còn đang ướt do vừa tắm gội được tết gọn. “Em đang ngủ mà!”

“Chị đã quá tử tế khi cho em ngủ qua buổi lễ tám giờ rồi đấy. Chúng ta sẽ đến lúc mười rưỡi.”

Tôi gục mặt xuống gối. Tôi đã hơi tỉnh ngủ nhưng không muốn dậy. “Chẳng ai để ý cả. Không ai bắt em đến nhà thờ được nữa.”

“Chị bắt đấy.”

Tôi lắc đầu. “Chị đi một mình đi. Em ngủ tiếp đây.”

Chị thả người xuống giường làm người tôi nảy lên. “Chúng ta đến nhà thờ. Như thường lệ.”

Tôi trở mình, mở mắt một cách miễn cưỡng. “Chị không đi mà.”

“Dậy đi! Nhanh lên!”

“Em không muốn bất kỳ ai đến ôm em hoặc nói với em rằng họ rất lấy làm tiếc. Em chỉ muốn ngủ tiếp thôi.”

“Họ sẽ ôm em vào Chủ nhật này và đến Chủ nhật kế, họ sẽ vẫy tay chào em như chưa từng có gì xảy ra.”

“Chủ nhật tới em cũng không đi đâu.”

“Sao em lại trở nên thế này hả? Trước giờ em có phàn nàn gì về việc đi lễ đâu.”

“Em sẽ phàn nàn với ai chứ? Với cha ư?” Tôi nhìn chị. “Cha mẹ luôn đúng. Chị hiểu điều đó mà, đúng không? Khi chị có con, chị có thể bắt chúng đi nhà thờ vào mỗi buổi sáng và đọc kinh Mân Côi trước khi đi học. Nhưng em không cần phải đi, chị cũng vậy. Chúng ta đâu còn cha mẹ. Chúng ta có thể ra ngoài ăn bánh kếp.”

Chị nhún vai. “Em đi mà ăn bánh kếp một mình. Chị sẽ đi lễ.”

“Chị đâu cần phải làm thế vì em.” Tôi vươn tay qua đầu. Tôi không ngờ chị giữ vững lập trường đến mức này. “Em đâu cần chị làm gương để noi theo.”

“Chị không làm điều đó vì em. Chúa ơi, Danny à! Chị thích đi lễ, chị chọn tin vào Chúa. Cộng đồng, lòng tốt, tất cả chị đều tin. Em đã làm cái quái gì trong nhà thờ suốt những năm qua vậy?”

“Hầu hết là để nhớ số liệu thống kê trong bóng rổ.”

“Thế thôi, ngủ tiếp đi.”

“Chị đang nói với em rằng chị đến nhà thờ khi lên đại học sao? Tất cả các buổi sáng Chủ nhật ở New York chị đều dậy khi không có ai quản lý sao?”

“Tất nhiên là chị làm vậy rồi. Em không nhớ là em đã đến thăm chị khi nào sao? Chúng ta đã cùng nhau dự lễ thứ Sáu Tuần Thánh.”

“Em tưởng chị làm vậy để cho em noi theo.” Thật là thế. Thậm chí lúc đó, tôi cứ nghĩ rằng vì chị đã hứa với cha sẽ đưa tôi đến dự lễ thứ Sáu Tuần Thánh khi tôi ở lại cùng chị.

Chị định nói gì đó xong lại thôi. Chị vỗ nhẹ vào chân tôi qua lớp chăn và nói: “Ngủ thêm chút đi,” rồi rời đi.

Thật khó để nói lý do chính xác chúng tôi đến nhà thờ, nhưng mọi người ở đây đều làm vậy. Cha gặp đồng nghiệp và những người thuê nhà của ông ở đó. Maeve gặp giáo viên và bạn bè của chúng tôi. Có thể cha tới cầu nguyện cho linh hồn cha mẹ người Ireland đã khuất của mình, hoặc đó là biểu hiện tôn trọng cuối cùng cha dành cho mẹ. Như mọi người kể lại, bà không chỉ kính mến nhà thờ và cộng đồng giáo xứ mà còn quý mến các linh mục và nữ tu. Maeve nói rằng khi các sơ trong nhà thờ đứng hát Thánh ca, mẹ cảm thấy như được về nhà. Từ những thông tin ít ỏi tôi biết về mẹ, tôi chắc chắn rằng bà sẽ không bao giờ cưới cha nếu như ông không chịu đi lễ và đến khi bà không còn có mặt, ông vẫn kéo chúng tôi đến thánh đường để giữ gìn nghi thức đó. Có thể ông nghĩ chẳng còn cách nào khác, hoặc cũng có thể vì con gái ông chăm chú khi nghe bài giảng, cuốn kinh cầm ngay ngắn trên tay, trong khi con trai ông tính toán cơ hội của Sixers[1] trong vòng loại trực tiếp và ông thì mải mê tính toán về một tòa nhà được rao bán ở rìa thị trấn Chelteham, dù tôi có được nghe về chuyện ông nghe lời linh mục và nghe được lời của Chúa. Chúng tôi chưa bao giờ nói về chuyện này. Trong trí nhớ của tôi, Maeve mới luôn là người chạy lăng xăng vào sáng Chủ nhật, đảm bảo chúng tôi đã sẵn sàng từ quần áo, ăn uống, cho đến chuẩn bị tâm lý cho một khoảng thời gian dài trên xe. Sau khi Maeve vào đại học, tôi và cha đã có một khoảng thời gian dễ dàng hơn rất nhiều khi có thể ngủ tiếp thay vì thực hiện cả đồng việc khó khăn đó. Nhưng rồi Andrea soi mói chúng tôi. Dì ta coi thường Công giáo, cho rằng đó là giáo phái của những kẻ sùng tín đến mất trí và là những kẻ ăn thịt. Điều đó khiến cha đến văn phòng từ tờ mờ sáng thứ Hai đến thứ Sáu và viện đủ lý do để ra ngoài ăn tối. Ông có thể ăn bữa tối thứ Bảy trên xe trong lúc thu tiền nhà hoặc đi thăm các dự án đang thi công. Nhưng Chủ nhật thì thật khó nghĩ ra lý do để ra khỏi nhà. Nhà thờ là nơi duy nhất ông có thể đến đế trốn người vợ trẻ. Cha đã nói chuyện với cha Brewer để cho tôi làm lễ sinh và đăng ký luôn mà không cần hỏi ý kiến tôi. Các lễ sinh phải có mặt ở nhà thờ trước nửa tiếng để chuẩn bị cho lễ ban phước và giúp cha Brewer mặc lễ phục. Tôi là lễ sinh chuẩn bị cho Thánh lễ lúc tám giờ nhưng có rất nhiều lần tôi phải làm cả Thánh lễ lúc mười rưỡi. Có người nào đó gọi điện báo ốm hoặc đang đi nghỉ, hay chỉ đơn giản là không bò nổi khỏi giường, những thứ xa xỉ mà tôi chưa từng có. Vì tôi là một lễ sinh nên cha luôn nghĩ rằng việc cho tôi đi học vào ngày Chủ nhật, theo như lời ông ấy là để làm gương, mặc dù học vào ngày Chủ nhật chỉ dành cho những đứa trẻ học trường công, chúng chẳng phải học buổi giáo lý hay tôn giáo nào vào các ngày trong tuần. Ngặt nỗi tôi chẳng tìm được cơ hội nào để nói với ông rằng việc đó thật buồn cười. Sau Thánh lễ, ông ngồi trong xe hơi, hút thuốc, đọc báo đợi tôi, và khi việc cầu kinh và dọn dẹp xong xuôi, ông sẽ đưa tôi đi ăn trưa. Chúng tôi chưa bao giờ đi ăn trưa khi Maeve ở nhà. Vậy nên một giờ Thánh lễ kéo dài đến nửa ngày Chủ nhật cho phép chúng tôi thoát khỏi nghĩa vụ gia đình trong chốc lát và cho hai cha con khoảng thời gian bên nhau giữa những nghi thức trong buổi lễ. Tôi rất biết ơn vì điều đó, nhưng nó không đủ giúp tôi có động lực để bò khỏi giường vào sáng Chủ nhật.

Nhưng vào sáng thứ Hai, huấn luyện viên Martin đã gọi tôi tới văn phòng của ông, chia buồn một lần nữa về hoàn cảnh của tôi. Rồi ông nhắc nhở tôi cần có mặt trong buổi Thánh lễ để cầu nguyện cho linh hồn cha tôi. “Thành viên đội bóng của trường Bishop McDevitt đều đến dự Thánh lễ,” ông nhấn mạnh. “Tất cả các thành viên.”

Tôi còn được tính là thành viên trong một thời gian nữa.

Một tuần sau, văn phòng luật sư gọi điện để sắp xếp cuộc hẹn. Ông hẹn chúng tôi lúc ba giờ chiều, sau giờ tan học, mặc dù điều đó có nghĩa là tôi sẽ phải nghỉ buổi tập và Maeve sẽ phải nghỉ nửa buổi chiều. Ba chúng tôi bên chiếc bàn trong phòng họp nhỏ, ở đó ông đã nói với chúng tôi rằng cha để lại cho chúng tôi một quỹ ủy thác cho giáo dục.

“Cho cả hai bọn cháu ạ?” Tôi hỏi. Chị tôi ngồi cạnh trong chiếc váy màu xanh nước biển mà chị đã mặc trong đám tang. Tôi thì đeo cà vạt.

“Quỹ này dành cho cậu và con của Andrea.”

“Norma và Bright ư?” Maeve gần như chồm qua bàn. “Chúng được nhận tất cả mọi thứ và chúng cháu phải trả tiền cho việc học của chúng sao?”

“Cô không phải trả bất kỳ thứ gì. Quỹ ủy thác này sẽ trả hết.”

“Nhưng không dành cho Maeve sao?” Tôi hỏi. Đấy là một trò cười, phần mà ông không buồn nhắc đến.

Luật sư Gooch giải thích: “Vì Maeve đã học xong đại học nên cha cậu cảm thấy việc học của cô ấy đã hoàn tất.”

Ngoài bữa trưa duy nhất ở nhà hàng Ý tại New York, cha chưa bao giờ nói chuyện với Maeve về chuyện học của chị, cũng chẳng buồn nghe chị kể về việc đó. Ông nghĩ việc học cao học là không cần thiết vì chẳng chóng thì chày chị sẽ bỏ giữa chừng để kết hôn.

“Quỹ ủy thác sẽ chi trả cho việc học đại học sao?” Maeve hỏi. Cách chị hỏi khiến tôi nhận ra đấy là nỗi lo của chị, rằng chị sẽ trả học phí cho tôi ra sao.

“Quỹ sẽ chi trả cho chuyện giáo dục,” Luật Gooch nhấn mạnh từ giáo dục.

Maeve rướn người về phía trước. “Mọi thứ liên quan đến giáo dục sao?” Họ trao đổi như thể chỉ có hai người ở trong phòng.

“Tất cả.”

“Cả ba.”

“Đúng, nhưng Danny sẽ được ưu tiên trước hết vì cậu lớn tuổi nhất. Tôi nghĩ việc quỹ cạn kiệt rất khó xảy ra. Norma và Bernice vẫn có thể thoải mái đến trường.”

Bright, tôi muốn nói nhưng không nói gì cả. Chẳng ai gọi con bé là Bernice.

“Số tiền còn lại thì sao, nếu còn?”

“Số tiền còn lại trong quỹ ủy thác sau khi cả ba người hoàn thành việc học sẽ được chia đều cho cả bốn người.”

Điều đấy cũng có nghĩa là nửa số tiền nằm trong túi của Andrea.

“Ông quản lý quỹ ủy thác chứ ạ?”

“Luật sư của Andrea đã lập ra nó. Bà ấy nói với cha cô cậu rằng bà muốn đảm bảo việc học hành cho bọn trẻ, từ đó quỹ ủy thác ra đời.” Ông lắc đầu.

“Thế có nghĩa là giờ chúng ta sẽ phân chia rõ ràng những gì thuộc về bọn cháu?” Maeve đưa ra quan điểm.

“Đại khái là vậy.”

“Vậy Danny sẽ cần suy nghĩ việc học cao học,” Maeve nói.

Luật sư Gooch trầm ngâm gõ bút lên tập giấy ghi chép màu vàng. “Đó là một chặng đường dài, nhưng đúng, nếu Danny học cao học thì sẽ được chi trả toàn bộ học phí. Quỹ ủy thác quy định rằng cậu phải duy trì điểm trung bình môn tối thiểu là 3.0/4.0 và việc học phải không gián đoạn. Cha cô cậu có quan điểm rõ ràng về việc trường học không phải là nơi muốn đến thì đến muốn nghỉ thì nghỉ.”

“Cha cháu chưa bao giờ phải lo lắng về điểm số của Danny.”

Tôi muốn nói điều gì đó vì chính mình vào lúc này nhưng tôi nghĩ chắc không ai muốn nghe. Cha không quan tâm đến điểm số của tôi, mặc dù chắc chắn là ông sẽ quan tâm nếu nó có vấn đề. Ông không quan tâm đến cú ném ba điểm của tôi trừ khi tôi ném trượt. Điều ông quan tâm là tôi có thể đóng một chiếc đinh nhanh và thẳng đến mức nào và căn được thời gian đổ xi măng. Chúng tôi quan tâm đến những điều giống nhau.

“Cô biết là tôi từng học ở Choate chứ?” Luật sư hỏi, như thể những năm trung học của ông bỗng dưng xuất hiện trong cuộc trò chuyện vậy.

Maeve ngồi lặng đi một phút, sau đó nói với ông là chị không biết điều đó. Giọng chị dịu dàng đến mức kỳ lạ, như thể ý nghĩ về việc luật sư Gooch bị chuyển đến trường nội trú khiến chị lặng đi đôi chút. “Học phí đắt không ạ?”

“Như các trường đại học khác thôi.”

Chị gật đầu rồi nhìn xuống tay.

“Tôi có thể gọi điện cho họ. Họ thường không nhận học sinh vào giữa năm học nhưng tôi nghĩ rằng họ muốn sở hữu một cầu thủ bóng rổ có điểm số xuất sắc.”

Hai người họ quyết định sẽ cho tôi chuyển sang trường Choate vào tháng Giêng.

“Chị biết những đứa trẻ nào sẽ bị đưa vào trường nội trú không?” Tôi nói với Maeve lúc ở trong xe sau khi rời văn phòng. Giọng tôi đầy ắp sự buộc tội trong khi thực tế tôi chẳng quen ai học trường nội trú cả. Tôi chỉ biết những đứa trẻ bị cha mẹ dọa sau khi bắt gặp chúng đang hút cần hoặc thi trượt môn Đại số II. Khi Andrea phàn nàn với cha, rằng tôi không vứt quần áo bẩn của mình vào giỏ, rằng tôi nghĩ Sandy sẽ nhặt quần áo tôi bỏ trên sàn, cho vào giặt rồi gập lại để vào tủ, ông sẽ nói: “Chà, anh nghĩ rằng chúng ta phải gửi thằng bé vào trường nội trú thôi.” Đó là những gì tôi biết về trường nội trú - một lời đe dọa hoặc một câu nửa đùa nửa dọa.

Nhưng Maeve lại nghĩ khác. “Những đứa trẻ thông minh, giàu có học ở trường nội trú, sau đó chúng đến Columbia.”

Tôi ngồi sụp xuống ghế, cảm thấy buồn cho chính mình. Tôi không đáng phải rời xa bạn bè, mái trường và nhất là chị gái mình. “Sao chị không gửi quách em vào trại trẻ mồ côi đi cho rồi?”

“Em không đủ tiêu chuẩn,” chị nói.

“Em không có cha mẹ.” Đó không phải là chủ đề mà bọn tôi thảo luận. “Nhưng em có chị,” chị nói. “Không đủ tiêu chuẩn.”

*

“Giờ em đang học gì rồi?” Maeve hỏi. “Lẽ ra chị phải biết điều này mà chị không nhớ nổi. Chị thấy trường bắt em học hành quá nhiều.”

“Giờ em đang học về hô hấp.”

“Nghiên cứu về chuỗi hít vào thở ra á?”

Tôi cười. Trời lại vào xuân. Thực ra lúc đó là Lễ Phục sinh và tôi được về Elkins Park hai đêm liền. Những cây anh đào dọc đường nhà Buchsbaum ửng hồng, rung rinh, kiệt sức trước sức nặng của những cánh hoa. Chúng chuyển sang màu hồng nhạt và vàng. Những ngày mà những cây anh đào nở rộ đấy đã khiến tôi, một người chẳng để tâm điều gì ngoài công việc đã phải chú ý đến nó. “Khóa học về chuỗi hít vào thở ra sắp xong rồi. Tuần tới là đến khóa học về chỉnh hình.”

“Khỏe như trâu và khôn hơn đôi chút.” Maeve với cánh tay ra ngoài cửa sổ xe, những ngón tay chị khiến tôi nhớ lại ký ức về những điếu thuốc đã hút trước đây.

“Sao cơ?”

“Em chưa nghe câu đó bao giờ sao? Chị đoán đấy không phải trò đùa mà các bác sĩ chỉnh hình nghĩ ra. Cha nói vậy suốt.”

“Cha nói điều gì chống lại bác sĩ chỉnh hình sao?”

“Không, cha chống lại việc phải ăn súp lơ xanh. Ông ghét bác sĩ chỉnh hình lắm.”

“Sao vậy?”

“Họ lắp ngược đầu gối cho cha. Em nhớ mà.”

“Ai đó lắp ngược đầu gối cho cha ư?” Tôi lắc đầu. “Chắc điều đó xảy ra trước khi em được sinh ra rồi.”

Maeve nghĩ một lúc. Tôi có thể nhìn thấy những năm tháng ấu thơ của bọn tôi lướt qua tâm trí chị. “Có lẽ vậy. Chắc ông chỉ muốn khiến mọi chuyện vui vẻ hơn nhưng khi còn bé chị đã nghĩ điều đó là sự thật. Đầu gối của cha bị bẻ quặt. Ông phải thường xuyên đến gặp bác sĩ chỉnh hình, cố gắng để nó quay lại đúng vị trí, chị đoán vậy. Giờ nghĩ lại mới thấy ghê.”

Sẽ không bao giờ có hồi kết cho những điều tôi ước mình đã từng hỏi ông. Sau nhiều năm, tôi chẳng còn trách móc ông khi không bận tâm chia sẻ cuộc sống trước đó của mình với các con. Tôi chỉ trách mình đã không quan tâm đến ông sớm hơn. “Ngay cả khi các bác sĩ phẫu thuật đã đặt đầu gối vào đúng vị trí, tất nhiên là không thể, chúng ta nên cảm thấy may mắn vì ông ấy không cắt cụt chân. Điều đó thường xảy ra trong chiến tranh, chị biết đấy. Cần nhiều thời gian để cứu thứ gì đó hơn là cắt bỏ nó.”

Maeve nhăn mặt. “Không phải thời Nội chiến,” chị nói cứ như thể việc cắt cụt chân đã bị loại bỏ sau chiến dịch Appomattox[2] vậy. “Chị không nghĩ rằng họ đã phẫu thuật đầu gối cho ông. Ông kể, ở Pháp, các bác sĩ làm việc rất vội và không phải lúc nào cũng để ý. Mọi thứ cứ xoay vòng vòng cả. Chị cảm thấy nhói lòng khi ông nói đùa về điều đó.”

“Chắc chắn cha phải phẫu thuật ngay khi bị thương. Nếu bị bắn vào đầu gối thì phải phẫu thuật ngay.”

Maeve nhìn tôi như thể tôi là một người hoàn toàn xa lạ vừa mở cửa xe và ngồi cạnh chị. “Cha không bị bắn.”

“Có mà.”

“Ông bị gãy vai trong một lần nhảy dù, đầu gối bị rách toạc hay bị kẹt vào đâu đó. Ông tiếp đất bằng chân trái, sau đó ông bị ngã và gãy vai trái.”

Ngôi nhà của Người Hà Lan nằm ngay đó, đồng hành với mọi câu chuyện của chúng tôi như mọi khi. Tôi luôn tự hỏi liệu tôi và chị có lớn lên trong cùng một ngôi nhà hay không. “Sao em lại luôn nhớ rằng ông bị bắn trong chiến tranh nhỉ?”

“Chị không rõ nữa.”

“Nhưng ông ấy từng ở trong một bệnh viện của Pháp sao?”

“Để chữa cái vai. Lúc tai nạn xảy ra có ai để ý đến đầu gối của ông đâu. Chị đoán vai của ông là một mớ tuầy huầy. Sau đó, đầu gối của cha bị chứng chân cong về phía sau[3] một thời gian. Ông đeo nẹp chân trong nhiều năm rồi chân ông cứng dần lại. Họ gọi là xơ...” Chị dừng lại để nhớ xem nó gọi là gì.

“Xơ khớp.”

“Chính xác.”

Tôi vẫn nhớ cái nẹp là nguyên nhân gây ra đau đớn cho ông: nặng nề và tồi tệ. Cha thường phàn nàn về cái nẹp chứ không phải đầu gối. “Còn vai của ông thì sao?”

Chị nhún vai. “Chị đoán hóa ra nó lại chẳng bị làm sao. Chị chẳng biết, cha chẳng bao giờ nhắc đến cái vai.”

Trong suốt thời gian học trường y, và ít nhất một thập kỷ sau đó, tôi luôn gặp những giấc mơ về việc tôi trình bày giữa hội đồng về một bệnh nhân mà tôi chưa bao giờ khám, đó là cảm giác của tôi vào một buổi sáng Lễ Phục sinh. Cyril Conroy là một lính nhảy dù người Mỹ, ba muơi ba tuổi, không bị bắn...

“Chị sẽ kể em nghe một chuyện,” Maeve thủ thỉ. “Khi biết cha lên cơn đau tim, chị luôn nghĩ nguyên nhân là do phải leo cầu thang. Chị không thể tưởng tượng nổi ông định lên tầng sáu ở bất cứ đâu. Hẳn ông đã rất tức giận khi phải bước lên cầu thang trong cái nóng như vậy để kiểm tra cửa rả. Như chị biết thì cha chỉ lên tầng ba của Ngôi nhà của Người Hà Lan đúng hai lần trong đời: ngày ông lần đầu đưa mẹ với chị đến nơi này và ngày đầu tiên chị về nhà vào Lễ Tạ ơn khi Andrea thông báo chị phải chuyển lên lầu. Nhớ không? Cha xách đồ của chị lên và sau khi lên đến nơi, ông đã phải nằm vật xuống giường. Đầu gối như muốn giết chết ông. Chị đặt chiếc va li của mình dưới chân cha để giúp ông nâng nó lên. Đáng lẽ chị phải gào thét điên cuồng vì Andrea nhưng tất cả những gì chị nghĩ đến là chị sẽ không bao giờ bắt ông xuống cầu thang nữa. Chị và cha sẽ ở trong hai phòng ngủ nhỏ gần phòng khiêu vũ. Đó thực sự là một suy nghĩ ngọt ngào. Chị ước điều đó xảy ra. Ông nói: ‘Đây là một ngôi nhà đẹp nhưng nó cao quá.’ Chị đáp rằng ông nên bán nó đi và mua một ngôi nhà một tầng rộng rãi mà ở. Chị bảo điều đó giải quyết được mọi vấn đề của ông, cả hai đã phá lên cười. Quả là một khoảnh khắc đẹp,” chị kể, đôi mắt nhìn xa xăm vào hàng cây anh đào của nhà Buchsbaum, “khiến cha cười vào những ngày đó.”

*

Ai trong đời cũng có những thời điểm mà quá khứ tốt đẹp thì đã lùi xa còn tương lai mình mong muốn thì chưa tới khiến ta cảm thấy mông lung vô định, chẳng biết gì, chẳng là ai, thậm chí chẳng là chính mình. Đó là sự thật phũ phàng khiến tôi như sụp đổ vào mùa đông năm đó, khi Maeve chở tôi đến Connecticut trên con xe Oldsmobile. Chị vẫn luôn muốn bán nó đi nhưng lại chẳng làm vì nó là một trong số ít thứ nhắc chúng tôi nhớ về những kỷ niệm xa xưa. Hôm đó, bầu trời xanh ngắt. Mặt trời lấp ló trên nền tuyết trắng xóa khiến chúng tôi lóa cả mắt. Cho dù đã mất tất cả, chị em tôi vẫn sống hạnh phúc bên nhau trong căn hộ nhỏ của chị vào mùa thu đó. Andrea đã bán mọi thứ của công ty. Các tòa nhà mà cha sở hữu giờ không còn nữa. Thậm chí tôi không thể tưởng tượng nổi chúng đáng giá bao nhiêu. Tôi muốn nói với Maeve rằng cần thay đổi dự định vắt kiệt quỹ ủy thác dự phòng cho tương lai của Norma và Bright vì tôi nhận thấy mình thực sự không đủ khả năng ở lại trường lâu đến mức đó, mà điều đó cũng không đáng để ngăn cách chị em tôi. Tất nhiên là tôi sẽ học đại học, nhưng hiện tại, tôi vẫn muốn chơi bóng rổ với bạn bè, ngồi cùng chị bên bàn bếp, thưởng thức món bánh mì trứng và kể cho nhau nghe những chuyện trong ngày. Thế giới không ngừng quay và ta chẳng thể làm gì để chống lại nó. Maeve quyết định sẽ cho tôi đến Choate học. Chị cũng đã quyết định để tôi học trường y. Chị thêm một vài lĩnh vực chuyên sâu vào chương trình học của tôi, biến nó thành chương trình học dài nhất và tốn kém nhất mà chị có thể tạo ra.

“Không biết chị có quan tâm đến việc em chẳng muốn làm bác sĩ không?” Tôi hỏi. “Liệu em muốn làm gì với cuộc đời mình có quan trọng với chị không?”

“Vậy em muốn làm gì?”

Tôi muốn làm việc với cha, mua và bán những tòa nhà. Tôi muốn tự mình đặt nền móng đầu tiên cho chúng nhưng mọi thứ chẳng thể quay lại như trước. “Em không biết nữa. Có lẽ em muốn chơi bóng rổ,” tôi nói, khó chịu với chính bản thân mình. Maeve rất muốn biết về vấn đề của tôi để xem chị có thể kéo dài việc học của tôi đến mức nào.

“Tan làm ở bệnh viện thì em thích chơi gì thì chơi,” chị nói và vòng theo biển chỉ dẫn tới Connecticut.

Chú thích:

[1]Sixers (hay Philadelphia 76ers): tên đội bóng rổ chuyên nghiệp của Mỹ, có trụ sở ở Philadelphia.

[2]Chiến dịch Appomattox diễn ra từ ngày 29 tháng 3 đến ngày 9 tháng 4 năm 1865, mốc chấm dứt của cuộc Nội chiền Hoa Kỳ.

[3]Trong nguyên tác là “hyperextented knee”.

« Lùi
Tiến »