Alba ra ngược chiều khỏi lòng mẹ, dấu hiệu may mắn. Bà ngoại Clara tìm ở mé sau lưng cháu gái thấy một vết bớt hình ngôi sao, dấu hiệu đặc biệt của những người sinh ra có thể gặp được hạnh phúc. “Không có gì phải lo ngại cho con bé này. Nó có số tốt lành và sẽ sung tướng. Thêm nữa nó sẽ có làn da đẹp, cái đó nó được thừa kế, và đến độ tuổi của bà, da cũng sẽ chẳng có một nếp nhăn và không bao giờ có trứng cá”, Clara có ý kiến như vậy vào ngày sau hôm cô bé ra đời. Mọi người không phải lo lắng gì cho cô trong cuộc sống, vì lẽ những ngôi sao số mệnh đã kết hợp trong con người cô bao nhiêu thiên tư tốt đẹp. Mệnh của cô thuộc cung Sư trong mười hai cung Hoàng Đạo. Bà ngoại Clara tính sao tử vi của cháu và ghi chép về số phận của cô bé bằng mực trắng viết trên nền giấy đen của một cuốn album, có dán kèm mấy búp tóc xanh xanh của mớ tóc đầu tiên, những mảnh móng tay móng chân cắt ra ít lâu sau ngày sinh, và mấy tấm ảnh cho phép thấy rõ cô bé lúc cô mới đẻ: một con người bé nhỏ lạ lùng, hầu như hói, nhăn nheo và xanh tái, không có dấu hiệu nào của sự thông minh ngoài đôi mắt đen sáng lóng lánh, với cái vẻ thông tuệ của tuổi già ngay từ lúc còn ở trong nôi. Cha đẻ thực sự của cô bé cũng có đôi mắt y như vậy. Mẹ cô bé muốn đặt tên con là Clara, nhưng bà ngoại cô không tán thành việc đặt trùng tên trong gia đình, vì như vậy có thể gây ra lầm lẫn trong những cuốn sổ ghi chép cuộc đời. Hai mẹ con tìm một tên gọi trong cuốn tự điển đồng nghĩa và thấy một từ cuối cùng trong chuỗi những từ ngữ sáng rực đồng nghĩa với nhau. Nhiều năm sau đó Alba sẽ thấy băn khoăn, bực dọc không tìm được từ nào cũng có nghĩa tương tự để đặt tên cho đứa con gái có thể có của mình, nhưng Blanca gợi ý nên dùng những từ của tiếng nước ngoài, nó có khả năng cho sử dụng rộng rãi nhiều từ khác nhau.
Suýt nữa thì Alba chào đời trên con tầu đường bánh rộng, vào lúc ba giờ chiều, ở giữa vùng hoang mạc. Nếu việc xảy ra như thế thì ngôi sao mệnh của cô bé thật bất hạnh. May thay, cô bé đã cố nán lại được ở trong bụng mẹ mấy tiếng đồng hồ nữa để có thể ra chào đời tại nhà ông bà ngoại, vào ngày, giờ hoàn toàn phù hợp với ngôi sao mệnh của cô. Blanca về tới ngôi nhà lớn ở góc phố không có thông báo trước, người phờ phạc, đầy bụi bậm, mắt thâm quầng, gập người xuống vì cơn đau do đứa con trong bụng dẫy đạp đòi ra, chị gõ cửa như tuyệt vọng, và khi cửa mở liền chạy xô vào như thể cơn lốc, đến tận gian phòng khâu may, tại đó Clara đang may cho xong chiếc áo đẹp cuối cùng cho đứa cháu gái tương lai. Blanca ngất xỉu ở giữa phòng sau cuộc hành trình dài, không kịp giải thích một lời nào, vì đã vỡ đầu ối và cảm thấy như tất cả nước trên thế gian này đổ ra từ giữa hai chân đang dòng dòng chảy xuống với tiếng sôi réo điên cuồng. Nghe tiếng kêu thét của Clara những người hầu và Jaime chạy đến, Jaime những ngày đó lúc nào cũng ở tại nhà, lượn lờ quanh Amanda. Mọi người dìu Blanca vào phòng của Clara và trong khi đặt chị lên giường và xé bỏ tất cả quần áo đang mặc thì cái thân hình bé tí xíu của Alba đã bắt đầu ló ra. Cậu Jaime của cô bé đã từng tham dự một vài ca đẻ trong bệnh viện, giúp cho cô cháu gái ra đời, tay phải anh nắm chắc lấy mông đứa bé, luồn những ngón tay trái lần tìm trong bóng tối bí mật cái cổ của đứa bé để gỡ đoạn nhau đang làm nó nghẹt. Trong khi đó Amanda, thấy tiếng ồn ào chạy tới, áp chặt lấy bụng Blanca với sức nặng của toàn thân, và Clara, cúi mình nhìn khuôn mặt đau khổ của con gái, đặt sát mũi cô chiếc bình lọc trà phủ một miếng vải, trong đó có nước xông pha mấy giọt ête. Alba ra khỏi bụng mẹ một cách nhanh chóng. Jaime gỡ đoạn nhau quấn cổ, nắm hai chân dốc ngược cháu bé và phát vào hai má cho hai cái rõ kêu để cho cô bé bắt đầu bước vào cuộc đời đau khổ, và biết dùng đến bộ máy hô hấp, nhưng Amanda, đã đọc về những phong tục của một vài bộ lạc châu Phi, và chủ trương quay trở về với thiên nhiên, cô giơ tay giằng lấy đứa bé mới sinh, âu yếm đặt nó nằm trên cái bụng ấm áp của mẹ nó, để cho nó tìm thấy một chút an ủi cho nỗi buồn rầu đã phải ra đời. Cả hai mẹ con đều mệt nhọc, trần truồng nằm ôm nhau, trong khi những người khác lau rửa những dấu vết của cuộc sinh nở và tất bật tìm trải những tấm chăn phủ giường mới và những tã lót sơ sinh. Trong giây lát xúc động đó, không một ai để ý đến cánh cửa tủ áo hé mở, trong tủ thằng bé Miguel đứng sững sờ quan sát cảnh tượng đó một cách sợ hãi, và ghi sâu vào tâm trí cho đến suốt đời hình ảnh của cái quả bóng khổng lồ chằng chịt đầy mạch máu, trên đỉnh một cái rốn lồi lên, và từ trong quả cầu đó đã chui ra con người bé nhỏ tím ngắt, được quấn trong một vòng ruột đáng sợ mầu xanh da trời.
Alba được khai sinh trong hộ tịch và trong sổ sách của nhà thờ với cái họ người Pháp chồng mẹ cô, nhưng cô không dùng đến nó, bởi vì họ của mẹ cô đọc dễ hơn. Ông ngoại Esteban Trueba của cô không bao giờ đồng ý với thói quen xấu đó, vì, theo như ông nói mỗi lần có dịp, ông đã chịu biết bao nhiêu phiền toái mới kiếm được cho cô cháu gái có được một người cha rõ ràng và một cái họ đáng kính trọng, khỏi phải mang họ mẹ như thể một đứa con của tội lỗi và hổ thẹn. Ông cũng không cho phép được nghi ngờ về quyền làm bố chính thức của bá tước và chống lại tất cả căn cứ hợp lý, ông vẫn chờ đợi sớm muộn rồi sẽ trông thấy cái tính chất hào hoa phong nhã và những kiểu cách cũng như cái sức mê hoặc tinh tế của vị bá tước Pháp bộc lộ trong người đứa cháu gái lặng lẽ và vụng dại vẫn đi tha thẩn khắp ngôi nhà. Clara cũng không nói gì đến việc đó, mãi về sau trong một dịp bà trông thấy cháu gái đang chơi bên những bức tượng đã hư hỏng trong vườn, bà mới nhận thấy nó không giống bất cứ một ai trong gia đình, và càng không giống Jean de Satigny.
– Cặp mắt ông già của con bé giống ai thế? - bà Clara hỏi.
– Giống mắt của bố cháu - Blanca lơ đãng trả lời.
– Pedro García Con, mẹ đoán thế phải không - Clara nói.
– À hà - Blanca thỏa thuận.
Đó là lần duy nhất mà họ nói với nhau về nguồn gốc của Alba trong nội bộ gia đình, vì theo như Clara đã ghi nhận, điều đó chẳng có gì là quan trọng vì dầu sao Jean de Satigny cũng đã biến tích khỏi cuộc đời của họ. Họ không còn biết gì về ông ta, và cũng chẳng ai gánh lấy phiền toái để thăm dò xem chỗ ở của ông ta, cũng như để hợp pháp hóa tình thế của Blanca hiện chẳng còn những quyền tự do của một cô gái chưa chồng và chịu tất cả những hạn chế của một người phụ nữ đã thành hôn, nhưng không có chồng. Alba không bao giờ trông thấy một tấm ảnh của bá tước, vì mẹ cô bé đã lục soát khắp mọi chốn trong ngôi nhà để xé bỏ tất cả những hình ảnh đó, kể cả những bức ảnh ông ta khoác tay cô trong ngày cưới. Blanca đã quyết định quên hẳn con người mà mình đã cưới và kể như không có sự tồn tại của ông ta. Không bao giờ cô còn nói đến ông ta và cũng không hề đưa ra một lời giải thích về việc mình trốn chạy khỏi ngôi nhà mà hai vợ chồng chung sống. Clara đã từng qua chín năm câm lặng, biết rất rõ những cái lợi của sự lặng im, cho nên bà không hỏi con gái về những chuyện đó, và hợp tác với con gái trong công việc xóa hẳn Jean de Satigny trong mọi kỷ niệm của họ. Họ nói với Alba rằng cha của cô là một người dòng dõi quý tộc, thông minh và xuất sắc, chẳng may đã chết vì bệnh sốt rét trên hoang mạc tại miền Bắc. Đó là một trong một số ít những chuyện không có căn cứ chắc chắn mà cô bé phải chịu đựng trong thời thơ ấu, vì trong tất cả mọi điều khác cô bé đều có liên hệ trực tiếp chặt chẽ với những sự thật trần trụi của cuộc sống. Cậu Jaime của cô bé đảm nhiệm việc phá tan cái huyền thoại nói trẻ con từ trong những chiếc bắp cải chui ra, hoặc do những con cò con sếu quắp từ Paris sang, và cậu Nicolás thì xóa bỏ cho cháu gái cái huyền thoại về những Ông Vua Ảo Thuật, những bà tiên và lũ ma khỉ. Alba có những cơn ác mộng trong đó cô bé mơ thấy cái chết của cha cô. Cô mơ thấy một người đàn ông trẻ, đẹp, quần áo hoàn toàn một mầu trắng, giầy da dê đồng màu, và đội một cái mũ nan, đi bộ trên hoang mạc dưới ánh mặt trời. Trong cơn mơ của cô bé, người bộ hành đó bước những bước ngắn, lảo đảo, càng đi càng chậm hơn, vấp và ngã, gượng dậy rồi lại ngã, nóng cháy vì mặt trời, vì sốt và khát nước. Người đó cố bò lê bằng hai đầu gối được một đoạn ngắn trên mặt cát nóng bỏng, nhưng cuối cùng đành nằm dài trên những cồn cát tím ngắt, mênh mông, và những con diều, con quạ lượn vòng mé trên cái thân hình bất động đó. Cô bé đã mơ thấy người cha như vậy, cho nên thật rất ngạc nhiên đối với cô nhiều năm sau đó khi cô phải đến Nhà Xác Thành Phố để nhận xác người mà cô tưởng là cha cô. Lúc bấy giờ Alba đã là một thanh nữ đẹp đẽ, tính tình mạnh bạo và quen với những tai ương, nên cô đã đi một mình. Một người thực tập sinh mặc áo choàng trắng tiếp và dẫn cô đi theo một lối hiên dài của tòa nhà cổ đó tới một gian phòng to lớn, lạnh lẽo, tường đều quét sơn mầu ghi. Người mặc áo choàng trắng mở một ngăn buồng lạnh khổng lồ, lôi từ trong đó ra một chiếc khay lớn trên đó nằm cứng quèo một xác chết sưng phồng, già nua, mầu tái xanh. Alba nhìn xác chết một cách kỹ lưỡng, không thấy một chút dấu vết nào giống như hình ảnh mà cô đã bao lần mơ thấy. Người này cô thấy có vẻ một con người bình thường, soàng sĩnh, giống như hình dáng của một nhân viên bưu điện; cô nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay của ông ta thì thấy không phải tay của một nhà quý tộc tế nhị và thông minh, mà là đôi bàn tay của một người chẳng có gì đáng kể. Nhưng những giấy tờ của ông ta lại là những chứng cứ không thể chối cãi được rằng cái xác chết xanh tái và buồn thảm này đích thị là Jean de Satigny, ông ta không chết vì bệnh sốt rét ở giữa hoang mạc trên những làn cát của cồn cát nóng bỏng như trong những cơn ác mộng của cô thời thơ ấu, mà đơn giản là chết vì một cơn động kinh khi đi qua đường phố lúc tuổi già. Nhưng những việc đó là chuyện mãi về sau này. Trong thời kỳ Clara còn sống, và Alba còn là một đứa bé con, ngôi nhà lớn ở góc phố là một thế giới khép kín, trong đó cô bé lớn lên được che chở ngay cả trong những cơn ác mộng của mình.
Khi Alba gần được hai tuần tuổi thì Amanda rời khỏi ngôi nhà lớn ở góc phố. Cô đã phục hồi sức khỏe và đoán ra, không một chút khó khăn nào, điều mong muốn trong trái tim của Jaime. Cô dắt tay cậu em trai và y như khi đến, cô ra đi lặng lẽ và không hứa hẹn gì. Mọi người không còn trông thấy bóng đáng cô ở đâu, và người duy nhất có thể tìm thấy cô lại không muốn đi tìm để khỏi làm thương tổn đến anh mình. Chỉ mãi nhiều năm sau Jaime mới tình cờ gặp lại cô, nhưng lúc đó đã quá muộn đối với cả hai người. Sau khi Amanda ra đi, Jaime cố dìm sự thất vọng của mình trong học tập và công việc. Anh trở lại với thói quen ẩn dật cũ và hầu như không bao giờ thấy xuất hiện ở nhà ngoài. Anh không còn nhắc đến tên cô gái, và xa cách chú em cho đến suốt đời.
Sự có mặt của đứa cháu gái trong ngôi nhà làm dịu bớt tính tình của Esteban Trueba. Sự thay đổi đó khó thấy, nhưng Clara đã nhận ra. Nhiều triệu chứng nho nhỏ đã tố giác điều đó: mắt ông sáng lên khi trông thấy cháu gái, những món quà đắt tiền mà ông mang về cho cháu, sự lo buồn khi ông nghe thấy đứa cháu khóc. Tuy vậy, cái đó vẫn không làm cho ông gần gũi với Blanca. Quan hệ của ông với con gái chưa bao giờ tốt đẹp và từ sau cái đám cưới thảm hại của con, quan hệ đó càng tồi tệ, chỉ còn nhờ có sự lịch sự bắt buộc mà Clara áp đặt mới cho phép hai bố con sống chung dưới một mái nhà.
Trong thời kỳ đó ngôi nhà lớn ở góc phố của dòng họ Trueba hầu như tất cả các buồng đều có người ở, và hàng ngày bên bàn ăn của gia đình lúc nào cũng tấp nập khách khứa và phải có thức ăn dôi ra để cho những vị khách đến mà không báo trước. Cửa chính thường xuyên mở rộng, để cho những người đến ở đó và khách đến thăm tự nhiên ra vào. Trong khi Thượng nghị sĩ Esteban Trueba ra sức để tu chỉnh cho vận mệnh của đất nước, thì bà vợ ông khôn khéo chèo lái trên sóng gió đời sống xã hội, và, thật là kỳ lạ, cả trong những hoạt động tinh thần. Tuổi tác và sự thực hành đã phát triển khả năng đoán trước những điều bí ẩn và làm chuyển động những đồ vật ở cách xa của Clara. Trong những lúc trạng thái tâm thần bị kích động bà có thể ngồi trên chiếc ghế tự động chuyển khắp phòng, như thể dưới bốn chân ghế có một động cơ ẩn dấu làm cho chuyển động. Trong những ngày đó, một nhà nghệ sĩ trẻ đói khổ được tiếp nhận ở trong nhà, do lòng từ thiện, đã trả món nợ ăn ở đó bằng cách vẽ cho Clara bức chân dung độc nhất mà bà có. Rất nhiều năm sau đó, nhà nghệ sĩ đói kia trở nên một nghệ sĩ bậc thày, và giờ đây bức tranh nằm tại bảo tàng ở London, như bao nhiêu tác phẩm nghệ thuật khác đã ra khỏi đất nước trong thời kỳ mà Alba phải bán đồ đạc trong nhà để nuôi những người bị truy lùng. Trong bức tranh có thể thấy một phụ nữ đã có tuổi, mặc váy áo trắng, có mái tóc ngả mầu bạc và vẻ mặt của một nghệ sĩ đu giây, đang ngồi nghỉ trên một chiếc ghế xích đu treo lơ lửng trên mặt đất, đang đung đưa giữa những tấm rèm hoa, cạnh một chiếc bình lộn ngược và một con mèo đen béo múp như thể một nhà lãnh chúa ngồi ngắm nhìn. “Chịu ảnh hưởng của Chagall”, trong bản danh mục của bảo tàng viết thế, nhưng thật không đúng như vậy. Bức tranh hoàn toàn tương ứng với thực tế khi nhà nghệ sĩ sống ở nhà Clara. Đó là thời đại mà những năng lực bí ẩn của bản chất con người và cái khí vị thần tiên tha hồ hoạt động không ai ngăn cấm, và đã tạo ra một trạng thái cấp cứu và chao đảo cho những định luật của vật lý, và logic học. Những cuộc thông tin của Clara với những linh hồn lang thang và với những con người ở ngoài trái đất, phát sinh từ môn thần giao cách cảm, từ những cơn mộng mị và từ một chiếc đồng hồ quả lắc mà bà dùng riêng vào việc đó, bằng cách treo nó lủng lẳng trên một bảng chữ cái sắp đặt thật thứ tự trên mặt bàn. Sự tự chuyển động của quả lắc đồng hồ chỉ ra những chữ tạo thành những thông điệp bằng tiếng Tây Ban Nha và quốc tế ngữ, việc đó nói lên rằng chỉ có hai thứ ngôn ngữ đó những con người của những thế giới khác mới biết đến, chứ không phải tiếng Anh như thể Clara đã nhiều lần viết thư báo cho các vị đại sứ của những nước nói tiếng Anh để họ biết, nhưng cũng chẳng bao giờ thấy họ trả lời, y như thể những ông bộ trưởng Bộ Giáo Dục nối tiếp nhau không trả lời những bức thư trong đó bà trình bầy lý luận của mình yêu cầu phải thay việc dạy tiếng Anh trong trường học, thứ tiếng của bọn lính thủy, của nhà buôn và chủ cho vay nặng lãi, bằng việc bắt buộc học tiếng Esperanto.
Cả thời kỳ thơ ấu của Alba trôi đi trong một cuộc sống ăn rau quả, tập võ thuật Nhật Bản, nhẩy múa kiểu Tây Tạng, thở kiểu Yôga, thư dãn và tập trung theo giáo sư Hausser và nhiều kỹ thuật rất hay khác, chưa kể đến những đóng góp vào việc giáo dục cô bé của hai cậu Jaime và Nicolás, và của ba chị em nhà Mora. Bà Clara của cô bé lo liệu mọi việc để cho chiếc xe khổng lồ đầy những nhà tâm thần, ảo giác, tạo nên cái tổ gia đình riêng của bà, được chạy đều, mặc dù bà chẳng có lấy một chút tài năng nội trợ và khinh rẻ cả bốn phép tính đến độ quên cả cách thức cộng, cho nên tất cả mọi việc tổ chức trong nhà và việc tiền nong mua bán tự nhiên đều dồn vào tay của Blanca; con gái bà phải phân chia thời gian của mình ra làm hai phần, một phần cho những công việc làm quản gia của cái vương quốc thu nhỏ này, và một phần cho việc làm trong xưởng gốm dựng ở sau vườn, nơi ẩn náu cuối cùng để tránh những nỗi đau buồn của mình, nơi mà cô mở lớp dạy những trẻ mắc bệnh si ngốc và những cô thiếu nữ, và tạo ra những con giống cho lễ Nôen kỳ quái không thể tưởng được mà, trái lại mọi logic, bán chạy như bánh mới ra lò.
Ngay từ bé Alba đã có trách nhiệm cắm hoa tươi vào các bình hoa. Cô bé mở cửa sổ để ánh sáng và không khí tràn vào phòng, nhưng những bông hoa cũng không thọ được tới đêm, vì tiếng quát thét ầm ĩ và những cú ba-toong của Esteban Trueba có sức mạnh làm cho những sản vật thiên nhiên cũng khiếp hãi. Ông đi tới đâu gia súc chạy tới đó và cây cối cũng phải ủ dột héo hon. Blanca có trồng một chậu cây cao su mang từ Brazil sang, một búi cây gầy guộc và thấp lè tè mà cái quý nhất của nó nằm ở giá tiền của nó: người ta mua từng chiếc lá của nó. Khi mọi người nghe thấy tiếng ông Esteban đi tới, lập tức người nào ở gần nhất liền nhanh nhẹn ôm chậu cây đặt ra ngoài sân cảnh, vì ông già hầu như chưa bước hẳn vào phòng, những chiếc lá cây cao su đã cụp xuống và từ thân cây bắt đầu tiết ra một dòng nước trăng trắng như nước mắt mầu sữa loãng. Alba không đến trường học vì bà ngoại cô bé nói một người có sao mệnh tốt như cháu gái bà, chỉ cần học biết đọc biết viết và như vậy có thể học ở nhà. Bà nhanh chóng dạy chữ cho cháu gái, và năm lên năm cô bé đã đọc được báo vào giờ điểm tâm để bình luận về tin tức với ông ngoại, năm lên sáu đã khám phá ra những cuốn sách huyền bí nằm trong những chiếc hòm đầy hấp dẫn của ông cụ Marcos thần kỳ, và đã bước thẳng vào cuộc đời không quay trở lại những sự hiếu kỳ ngông tưởng. Mọi người cũng chẳng phải lo cho sức khỏe của cô bé, vì không ai tin vào những cái lợi của các thứ vitamin và nói rằng tiêm chủng phòng ngừa chẳng qua là những thứ dành cho đàn gà mái. Thêm nữa, bà ngoại cô bé nghiên cứu những đường nét bàn tay cô, nói cô có sức khỏe như sắt thép và sống lâu. Duy nhất chỉ có một điều phải chú ý chăm nom là chải tóc cho cô bằng dầu Bayrum để làm dịu bớt mầu xanh thẫm của món tóc mà cô bé có ngay từ lúc sơ sinh, mặc dù Thượng nghị sĩ Trueba nói cần cứ để như thế cho cô bé, vì cô là người duy nhất thừa kế được một chú gì đó của Rosa người đẹp, nhưng thật chẳng may cái đó chỉ là mầu tóc xanh như nước biển. Để làm vui lòng ông ngoại Alba từ khi còn là thiếu nữ đã bỏ không dùng đến loại dầu Bayrum, và cô gội đầu bằng nước sắc hoa mùi, để có thể làm cho tóc cô trở lại màu xanh đen mượt. Và khác với phần lớn những người phụ nữ trong gia đình cô, hầu chẳng ngoại trừ ai, đều có nhan sắc lộng lẫy, Alba là một con người bé nhỏ và cũng chẳng có duyên.
Trong những thời gian rất ít ỏi được thảnh thơi suy nghĩ về mình và về con gái của mình. Blanca than phiền thấy nó là một cô gái cô đơn và âm thầm lặng lẽ, không có bạn cùng tuổi để chơi đùa. Nhưng thực ra Alba không cảm thấy cô đơn, mà trái lại, đôi khi thấy thật sung sướng đã có thể tránh khỏi được sự sáng suốt của bà ngoại, lẩn được khỏi cái trực giác của mẹ, và cái ồn ào nhốn nháo của những con người kỳ cục thường xuyên ẩn ẩn, hiện hiện trong ngôi nhà lớn ở góc phố. Blanca cũng lo lắng thấy con gái không chơi búp bê, nhưng Clara lại bênh vực cháu gái với lập luận rằng những cái thây ma bằng sứ nho nhỏ đó, với đôi mắt mở, nhắm và cái miệng nhìn độc ác, trông thật tởm. Chính bà tự tay làm ra một số nhân vật hình thù chẳng rõ ràng bằng những vụn len thừa trong số len bà dùng đan áo cho những người nghèo. Đó là những con vật bé nhỏ, chẳng giống người tí nào, và cũng chính vì thế mà dễ ru chúng ngủ, dễ tắm cho chúng và sau đó dễ dàng ném chúng vào sọt rác. Thứ đồ chơi ham thích nhất của cô bé là tầng hầm. Vì nạn chuột, Esteban Trueba đã ra lệnh đặt một then ngang đóng chặt cửa xuống tầng hầm, nhưng Alba vẫn chui được vào qua chiếc cửa mắt cáo và thả chân xuống đất không một tiếng động trên cái thiên đường của những đồ vật đã bị lãng quên. Nơi đó bao giờ cũng ở trong tình trạng tối mờ tối mịt, tránh được sự mòn mỏi của thời gian, như thể một cổ tháp gắn si kín mít. Trong đó đồ đạc không dùng đến chất hàng đống, những dụng cụ chả biết dùng để làm gì, những máy móc hết thời hạn sử dụng, những bộ phận rời của chiếc Covadonga, chiếc xe tiền sử mà bây giờ đã trở thành đống sắt vụn. Tất cả những thứ đó đều phục vụ cho Alba để xây dựng những căn nhà bé xíu trong mọi góc. Có những chiếc hòm và va-li trong đựng quần áo cổ, mà Alba mặc vào người để diễn những vở kịch một mình, và có một bộ da có lông đen mối gặm, với cái đầu chó, nằm trên nền sàn giống như một con vật khốn khổ bị mổ bụng nằm duỗi thẳng bốn chân. Đó là di ích nhục nhã cuối cùng còn lại của con Barrabás trung thành.
Vào một đêm lễ Chúa giáng sinh, Clara tặng cho cháu gái một món quà tuyệt diệu, mà nhiều khi đã thay thế được sự hấp dẫn của căn tầng hầm: một hộp thuốc vẽ đủ mọi mầu, rất nhiều bút lông, một chiếc thang con, và bà cho phép cháu thỏa thích sử dụng khoảng tường to nhất của phòng cô để vẽ.
– Cái đó sẽ giúp cho nó giải phiền - Clara nói khi bà trông thấy cháu gái đang đứng giữ thăng bằng trên chiếc thang để vẽ một còn tầu chở đầy súc vật trên đỉnh tường, sát mái nhà.
Theo năm tháng trôi qua, dần dẫn Alba đã vẽ đầy bức tường đó, và kín cả những bức tường khác trong căn phòng của cô, một bức hoành tráng khổng lồ, trong đó, giữa một hệ thực vật của vùng Venusia, và một hệ động vật không thể có được với những con thú sáng tạo ra, y như những con thú tưởng tượng mà Rosa thêu trên chiếc khăn bàn, và những con giống bằng gốm mà Blanca nung trong lò gốm, hiển hiện những ước mong, những kỷ niệm, những nỗi buồn, vui trong thời thơ ấu của Alba.
Hai người cậu của cô bé sống rất gần cận với cháu gái. Cháu gái yêu quý nhất cậu Jaime. Cậu là một người to lớn rậm tóc rậm râu, phải cạo mặt hai lần trong một ngày, và mặc dầu vậy bao giờ râu của cậu cũng như đã cạo từ hai ba ngày, trước đó, đôi lông mày của cậu thật rậm và dữ tợn mà cậu chải dựng ngược lên để cho cô cháu gái tin rằng cậu họ hàng với ma quỉ, còn tóc cậu lại lởm chởm như một cái chổi sể, luôn luôn chải sáp và thấm nước cũng vô ích không chịu nằm gọn ghẽ. Cậu đi vào và đi ra khỏi nhà với một chồng sách cắp nách và một chiếc va-li con kiểu của thợ hàn ống nước sách trong tay. Cậu nói với Alba rằng cậu làm nghề ăn trộm đồ nữ trang và trong cái va-li đáng sợ này đựng đầy những chìa khóa vạn năng và nắm đấm. Cô cháu gái giả vờ kinh hãi, nhưng biết thừa rằng cậu là thày thuốc và chiếc va-li con đựng những dụng cụ đồ nghề của cậu thôi. Hai cậu cháu đã sáng tạo ra những trò chơi tưởng tượng để cho vui những buổi chiều mưa.
– Dắt con voi ra đây - cậu Jaime ra lệnh.
Alba đi ra và khi quay vào kéo theo một chiếc thừng vô hình buộc một con voi tưởng tượng. Hai cậu cháu có thể hàng giờ cho voi ăn cỏ cũng vô hình, tắm cho voi bằng đất cát để giữ cho da nó khỏi những khắc nghiệt của thời gian và lau cho ngà voi bóng lọng, vừa làm vừa tranh luận sôi nổi về những cái tiện và bất tiện của cuộc sống ở trong rừng.
– Con bé này cuối cùng rồi đến điên không chữa được đây! - Thượng nghị Esteban Trueba nói khi trông thấy cháu bé Alba ngồi ở hành lang đọc những tác phẩm về y học mà cậu Jaime cho mượn.
Cô bé là người duy nhất trong gia đình có được chìa khóa để vào trong gian hầm sách của cậu Jaime và được phép lấy sách ra đọc. Blanca cho rằng cần phải lựa chọn có chừng mực cho cô bé đọc, nhưng cậu Jaime lại có ý kiến nói người ta không đọc những gì mà người ta không thích, và nếu như cháu đã thích đọc, tức là cháu đã có đủ sự chính chắn để làm việc đó. Đối với việc tắm rửa và ăn uống Jaime cũng có những lý luận tương tự. Cậu nói nếu cháu bé không muốn tắm, vì nó thấy việc đó không cần thiết, và cần phải cho cháu ăn cái gì nó thích vào những giờ phút mà nó đói, vì cơ thể nó biết rõ hơn bất kỳ ai những sự đòi hỏi cấp thiết của nó. Về điểm này Blanca không chịu nhân nhượng và buộc con gái phải tuân thủ chặt chẽ thời khắc biểu và những quy tắc vệ sinh. Kết cục là ngoài những bữa ăn và những buổi tắm rửa bình thường. Alba được ngốn những kẹo bánh mà cậu Jaime làm quà, và tự động tắm dưới vòi tưới khi nào cô bé thấy nóng, và những thứ đó cũng chẳng làm suy xuyển chút nào cái thể chất khỏe khoắn tự nhiên của Alba. Bé Alba rất thích để cậu Jaime cưới mẹ cô làm vợ, vì như vậy cô sẽ có cha đảm bảo hơn là cậu, nhưng mọi người giải thích cho cô bé hiểu những sự loạn luân như thế sẽ sinh ra những đứa trẻ mang bệnh si ngốc. Thế là cô bé cứ đinh ninh rằng những em học sinh đần độn đến học trong xưởng gốm của mẹ mình những ngày thứ năm đều là con của hai cậu sinh ra.
Nicolás cũng được cô cháu gái yêu quý, nhưng cậu có chút gì đó mang vẻ thoáng qua, ngắn ngủi, vội vàng, bao giờ cũng hời hợt, như thể nhẩy từ ý này sang ý khác làm cho Alba rất ngạc nhiên. Khi Alba lên năm tuổi thì cậu Nicolás từ Ấn Độ trở về. Một chán về việc kêu gọi Thượng đế bên chiếc bàn trái tim gọi hồn và trong làn khói của món ma túy, Nicolás đã quyết định đi tìm Thượng đế tại một miền ít thô bạo hơn đất nước quê hương. Anh quấy nhiễu Clara ba tháng liền, lẽo đẽo theo sau bà khắp mọi nơi và thì thầm vào tai bà cả khi bà ngủ, cho tới khi thuyết phục được bà bán một chiếc nhẫn đá quý, lấy cho anh một vé khứ hồi sang đất nước của Thánh Gandhi. Lần này Esteban Trueba không phản đối, vì ông nghĩ một cuộc du lịch sang đất nước xa xôi của những con người đói và những con bò cái chuyển động thiêng liêng sẽ rất bổ ích đối với con trai ông.
– Nếu con không bị rắn đeo kính cắn chết hoặc không chết vì một bệnh dịch ngoại quốc nào đó, thì mong khi trở về con sẽ nên người, bởi tôi đã chán ngấy những cung cách kỳ quặc không thể tưởng được của anh rồi - ông nói với anh như vậy khi từ biệt con trai ở bến cảng.
Nicolás qua một năm làm hành khất, cuốc bộ trên những con đường của những võ sĩ Yôga, cuốc bộ đến chân núi Himalaya, cuốc bộ đến tận Katmandu, cuốc bộ dọc bờ sông Hằng đến tận thành phố đạo Benares. Đến đoạn chót của cuộc hành hương đó anh có được lòng tin chắc chắn về sự tồn tại của Đức Chúa, và đã học được cách xuyên những mũi châm qua hai má và cắm vào da ngực, và cách sống hầu như không cần ăn. Mọi người một ngày kia thấy anh về tới nhà, không báo trước, với một cái tã trẻ con che kín bộ phận nhục nhã, da bọc xương và cái dáng vẻ ngơ ngác mà người ta thấy có ở những con người nuôi sống mình chỉ bằng rau quả. Anh về nhà kèm với hai người lính cảnh vệ không theo đạo, đang sẵn sàng tống anh vào nhà tù nếu không chứng minh được thật sự là con trai của Thượng nghị sĩ Trueba, và một lũ trẻ con đi theo sau vừa ném rác rưởi vào người anh vừa chế riễu. Clara là người duy nhất nhận ra anh ngay. Cha anh trấn an những người lính cảnh vệ và ra lệnh cho Nicolás đi tắm và mặc quần áo đúng như một người cơ đốc nếu như còn muốn sống trong nhà ông, nhưng Nicolás nhìn trân trân như không trông thấy ông và chẳng trả lời. Anh đã trở thành người chỉ ăn rau quả. Anh không đụng đến thịt, sữa và trứng, món ăn kiêng của anh là thức ăn của một con thỏ, và dần dần khuôn mặt băn khoăn của anh đi tới chỗ giống như mặt thỏ. Anh nhai mỗi miếng thức ăn ít ỏi kia năm mươi lần. Những bữa ăn của anh trở thành một nghi lễ bất tận, trong lúc Alba gục đầu ngủ trên đĩa thức ăn đã hết và những người hầu đã mang khay đĩa vào bếp, thì anh vẫn nhai đi nhai lại thật nghiêm chỉnh, vì vậy Esteban Trueba thôi không vào phòng ăn ở ngôi nhà mà toàn ăn ở Câu lạc bộ. Nicolás đảm bảo rằng anh có thể đi chân trần trên than hồng, nhưng mỗi lần anh chuẩn bị để chứng minh điều đó, Clara lại nổi một cơn hen dữ dội khiến anh phải bỏ ý định. Anh nói theo ngụ ngôn châu Á thường thường không ai hiểu được, và chỉ quan tâm duy nhất đến những vấn đề thuộc lĩnh vực tinh thần. Những vấn đề vật chất của cuộc sống trong nhà làm cho anh khó chịu, giống như sự khó chịu của anh đối với sự săn sóc quá đáng của chị và mẹ, luôn nhắc đến việc ăn uống và quần áo của anh, cũng như sự theo đuổi mê mệt của Alba, lẵng nhẵng theo anh khắp mọi nơi trong ngôi nhà như thể một con chó con theo sau chủ, cầu khẩn anh dạy cho cách giồng cây chuối và xuyên những chiếc châm vào người. Anh ở trần truồng được ngay cả trong những ngày mùa đông lạnh nhất. Anh có thể ngừng thở đến ba phút, và sẵn sàng thực hiện chiến tích đó mỗi khi có người yêu cầu làm, và việc đó xẩy ra luôn. Jaime cho rằng thật đáng tiếc vì không khí không mất tiền mua, và anh đã tính ra Nicolás thở hít chỉ bằng nửa số không khí của một người bình thường, mặc dù việc đó tuyệt đối chẳng gây tác hại gì cho chú em anh. Suốt mùa đông Nicolás chỉ ăn cà-rốt, không than van gì về giá lạnh, đóng cửa ngồi lì trong buồng viết đầy từng trang sách bằng mực đen thứ chữ nhỏ li ti của anh. Khi những dấu hiệu đầu tiên của mùa xuân nẩy nở, anh thông báo là cuốn sách anh viết đã hoàn thành. Sách gồm một ngàn năm trăm trang và Nicolás đã có thể thuyết phục cha anh và anh Jaime giúp đỡ về tài chính để xuất bản và sẽ được hưởng lãi sau khi bán sách. Sau khi sửa chữa và in, một ngàn năm trăm trang bản thảo rút lại còn sáu trăm trang sách, in thành một cuốn dầy cộp, nội dung là các bài nghiên cứu về chín mươi chín tên Thần Thánh và cách thức để tiến tới cõi Nát Bàn theo phương pháp khí công. Nó không đạt được ý định chờ mong của tác giả và những tập sách đã in không bán được đó cuối cùng nằm chất đống trong tầng hầm, tại đó Alba sử dụng chúng như thể gạch để xây dựng hầm hào chiến lũy, và đến những năm sau đó chúng được dùng để tiếp thêm lửa cho một dàn hỏa thiêu hèn hạ.
Ngay sau khi cuốn sách ra khỏi nhà in, Nicolás âu yếm nâng niu nó trên tay, lấy lại được nụ cười giống như nụ cười của con linh cẩu xưa kia, ăn mặc tề chỉnh và tuyên bố đã đến lúc đem Chân Lý tới trao cho những bạn đương thời đang chìm đắm trong mây mù dốt nát. Esteban Trueba nhắc cho anh nhớ lệnh cấm không được dùng ngôi nhà như một trường nhẩy múa như trước, và cảnh cáo anh không được nhồi nhét vào đầu cháu gái Alba những tư tưởng đa thần, và càng không được dạy cháu những tà thuật của những nhà tu khổ bạnh. Nicolás đi giảng đạo tại quán cà phê của trường đại học, tại đó anh lôi cuốn được khá nhiều tín đồ tới theo những lớp tập luyện tâm công và khí công. Trong những giờ rảnh việc anh đi dạo bằng mô tô và dạy cho cháu gái biết cách chế ngự những khổ đau thể xác và những mặt yếu kém khác nữa của xác thịt. Phương pháp của anh bao gồm việc xác định được tên những sự vật gây ra sợ hãi. Cô bé có chút thiên hướng về tang tóc, tập trung học đúng như sự hướng dẫn của cậu và đạt được kiến quan huyền diệu, như thể đang nhìn thấy thật, cái chết của mẹ cô. Cô bé trông thấy mẹ xanh tái, lạnh ngắt, đôi mắt đen tuyệt đẹp nhắm nghiền, nằm trong một chiếc quan tài. Cô như nghe thấy mọi người trong gia đình than khóc. Cô trông thấy từng đoàn bạn hữu của mẹ lặng lẽ bước vào nhà, đặt những chiếc danh thiếp của họ vào một cái khay và cúi đầu đi ra. Cô như ngửi thấy mùi thơm của hoa, nghe thấy tiếng hí của cỗ xe ngựa kéo chiếc xe tang. Cô chịu cái đau vì chân bó chặt trong đôi giầy để tang mới cứng. Cô tưởng tượng đến nỗi cô đơn, đến nông nỗi bị bỏ rơi và sự côi cút của mình. Cậu cô bé giúp cô nghĩ đến tất cả những cái đó mà không khóc, tâm hồn thư dãn và không dùng sức chống lại nỗi đau, để cho nó đi xuyên qua người cô mà không nằm lại trong cơ thể. Nhiều lần khác Alba tập để ngón tay bị kẹp sau cánh cửa, học chịu đựng cái đau như lửa đốt mà không kêu ca phàn nàn. Nếu cô đạt được việc chịu đựng tất cả những thử thách mà Nicolás đặt ra mà không khóc trong một tuần lễ thì cô được một giải thưởng, hầu như bao giờ cũng là một cuộc dạo chơi cùng cậu trên chiếc xe môtô phóng với hết tốc độ, mà cô bé không bao giờ quên. Một lần trong một cuộc thưởng hai cậu cháu phóng xe đi giữa một đàn bò cái đang thủng thẳng về chuồng, trên con đường ở ngoại ô thành phố Alba nhớ đến suốt đời những thân hình nặng nề của lũ súc vật, vẻ ngu ngốc của chúng, những cái đuôi đầy bùn quất cả vào mặt cô, mùi phân, những chiếc sừng cọ vào người cô và cái cảm giác trống rỗng trong bao tử, cảm giác choáng váng lạ lùng, cảm giác kích thích khó tưởng tượng, lẫn lộn cả sự tò mò say xưa và nỗi sợ hãi, mà trong cuộc đời cô chỉ lại cảm thấy trong những giây phút thoảng qua.
Esteban Trueba bao giờ cũng thấy khó khăn trong việc bày tỏ những nhu cầu tình cảm của mình, và kể từ khi quan hệ vợ chồng giữa ông và Clara bị tổn thương, không còn lối để tìm thấy sự âu yếm, dịu dàng, ông trút cả những tình cảm tốt đẹp nhất của mình cho cháu gái Alba. Đối với ông, đứa cháu gái còn đáng quan tâm hơn cả những sự quan tâm mà ông chưa từng có đối với chính những đứa con ông. Sáng sáng, Alba mặc quần áo ngủ đi tới buồng ông ngoại, bước vào không gõ cửa, rồi luồn vào chỗ ông nằm. Mặc dầu thực tế ông đang chờ cháu gái, ông giả vờ giật mình tỉnh giấc và càu nhàu cháu quấy rầy ông quá, đi về buồng của cháu đi để cho ông ngủ. Alba cừ vào nách ông cho tới khi ông làm ra vẻ đã thua, và ông cho phép cháu đi tìm kẹo sô-cô-la mà ông đã dấu kín cho cháu. Alba biết tất cả mọi ngõ ngách bí mật mà ông ngoại luôn luôn dùng để cất dấu, nhưng để ông đỡ bị thất bại nhanh chóng, cháu ra vẻ háo hức tìm kiếm một lúc lâu và vui sướng reo lên khi tìm thấy kẹo. Nhưng ông Esteban cũng chẳng bao giờ biết được rằng cháu gái mình rất ghét kẹo sô-cô-la, và cháu ăn kẹo đó chỉ vì yêu quý ông mà thôi. Với những trò chơi buổi sáng như thế Thượng nghị sĩ Esteban Trueba được thỏa mãn nhu cầu tiếp xúc với con người của ông. Bao nhiêu thì giờ còn lại trong ngày ông bận rộn với công việc trong Nghị viện, trong Câu lạc bộ, trong trò chơi golf, trong công việc kinh doanh buôn bán và những mưu đồ chính trị. Mỗi năm hai lần ông cùng cháu gái Alba về đồn điền Ba Cô Maria nghỉ hai hoặc ba tuần. Khi trở về thành phố cả hai đều dám nắng, béo tốt và vui sướng hơn. Tại đồn điền họ đã cất một loại rượu mạnh kiểu dùng để uống, để nhóm bếp, để tẩy uế những vết thương và trừ diệt gián, mà họ trịnh trọng gọi là rượu “vodka”. Đến cuối cuộc đời, khi mà chín mươi năm tuổi đã biến ông thành một thân hình cổ thụ cong queo và dễ gẫy, Esteban Trueba sẽ hồi tưởng lại những thời gian sống cùng cô cháu gái đó như những thời gian đẹp đẽ nhất của cuộc đời ông; và Alba cũng vậy, ghi đến suốt đời trong tâm khảm cuộc sống chung của hai ông cháu trong những cuộc hành trình về vùng quê đó, tay nắm tay ông, những cuộc dạo chơi trên lưng ngựa cùng ông ngoại, những buổi chiều tối trên những cánh đồng cỏ chăn ngựa rộng mênh mông, những đêm dài bên cạnh lò sưởi phòng khách kể chuyện ma quỷ và tập vẽ.
Nhưng những mối quan hệ giữa Thượng nghị sĩ Trueba với những người khác trong gia đình thì chỉ càng ngày càng tồi tệ hơn theo thời gian. Mỗi tuần lễ một lần, vào ngày thứ bẩy, mọi người trong gia đình quây quần ăn bữa tối xung quanh chiếc bàn lớn bằng gỗ sến đã có từ xưa, trước kia thuộc họ nhà del Valle, nghĩa là đã cổ xưa lắm rồi, và đã từng là chiếc bàn đặt quan tài Rosa đêm trực tang, chiếc bàn dùng để nhẩy những điệu flamenco, và dùng cho nhiều việc bất ngờ khác nữa. Cháu Alba được ngồi giữa mẹ và bà ngoại, ghế có kê thêm một chiếc gối cao để mặt cháu nhô cao hơn đĩa thức ăn. Cô bé say mê ngắm nghía, quan sát những người lớn, bà ngoại tươi vui, đã lắp mấy chiếc răng giả vào miệng, chỉ nói với ông ngoại qua lời con cái và người hầu chuyển; Jaime thì có những cử chỉ không được lịch sự, ợ lên sau khi ăn xong đĩa thức ăn và lấy ngón tay út cậy cậy xỉa răng để làm cho ông bố khó chịu; Nicolás đôi mắt lim dim nhai mỗi miếng thức ăn đúng năm mươi lần, còn Blanca thì nói huyên thiên bất cứ chuyện gì để tạo nên cái không khí giả tạo của một bữa ăn tối bình thường. Esteban Trueba giữ tương đối yên lặng cho tới khi cái tính nết cáu bẳn nó phản thùng ông, thế là ông bắt đầu cãi nhau với Jaime về vấn đề người nghèo, vấn đề bầu phiếu, vấn đề những người Đảng Xã Hội, và vấn đề về nguyên tắc; hoặc lên tiếng mắng nhiếc Nicolás về sáng kiến bay lên bằng khinh khí cầu và thực hành châm cứu vào người cháu Alba, hoặc ông trừng phạt Blanca bằng những câu đáp tàn nhẫn, bằng sự thờ ơ lạnh nhạt, và những lời cảnh cáo vô ích của ông rằng cô đã tàn phá cuộc đời ông, và cô đừng hòng được thừa kế đến một peso của ông. Người duy nhất mà ông không gây sự là bà Clara, nhưng hầu như ông không nói gì với bà. Đôi lần Alba ngạc nhiên bắt gặp đôi mắt của ông nhìn chằm chặp vào bà Clara, ông lặng người ngắm nhìn bà, mặt ông dần dần trắng tái và dịu dàng đến đỗi giống như một ông già xa lạ. Nhưng cảnh đó không diễn ra thường xuyên, mà thông thường thì hai ông bà như chẳng quen biết nhau. Đôi lần Thượng nghị sĩ Trueba không kiềm chế được mình, mặt mũi đỏ gay, kêu thét tướng lên đến đỗi phải hắt cả một bình nước lạnh vào mặt để cho cơn giận dữ qua đi và phục hồi được nhịp thở.
Vào thời kỳ đó, sắc đẹp của Blanca đã đi tới chỗ lộng lẫy nhất. Chị có dáng người thanh thản, gày mảnh, nhuần mắn nó khích lệ một sự vỗ về và những điều tâm sự. Là một thiếu phụ thân hình cao, đẹp rực rỡ, tính tình rầu rĩ, hay than van, chị đã khơi dậy trong những con người đàn ông đứng trước mình cái bản năng di truyền từ tổ phụ là phải ra tay bảo hộ. Cha của Blanca không có thiện cảm với con gái. Không tha thứ cho cái tội đã yêu Pedro García Con, ông cố sức làm cho Blanca đừng quên rằng chị vẫn sống nhờ lòng từ thiện của ông. Esteban Trueba không thể tự giải thích cho mình hiểu được tại sao con gái ông lại có nhiều kẻ yêu đến thế, vì nó chẳng có lấy một chút cái tính vui vẻ, trẻ trung đáng lo ngại của những người phụ nữ đã lôi kéo sự chú ý của ông, và hơn nữa ông nghĩ chẳng thể có một người đàn ông bình thường tỉnh táo nào lại mong muốn cưới về làm vợ một người phụ nữ kém sức khỏe, bộ tịch không rõ ràng, và lại có một đứa con gái. Về phần mình, Blanca không ngạc nhiên trước sự dòm ngó của những chàng trai. Chị có ý thức về nhan sắc của mình. Nhưng, trước mặt các vị trượng phu đến thăm, chị đều giữ một thái độ thật trái khuấy; khích lệ họ bằng những cái nháy cặp mắt đen lánh, nhưng giữ họ ở một khoảng cách khôn ngoan. Một khi chị vừa thấy được rõ ràng những ý định của ai đó là nghiêm chỉnh, liền cắt đứt ngay quan hệ bằng một sự từ chối không thương xót. Một vài ngài, có địa vị kinh tế khá giả, có ý đồ chiếm trái tim của Blanca bằng cách cám dỗ con gái của chị. Họ dồn cho Alba rất nhiều tặng phẩm đắt tiền, những con búp bê có máy bên trong có thể tự động đi lại, khóc mếu, ăn và làm nhiều cử chỉ khéo léo khác y hệt như người; họ cho cô bé ăn nhiều bánh kem và dẫn cô đi dạo chơi vườn bách thú, tại đó cô bé khóc lóc thương hại những con vật khốn khổ bị giam cầm, đặc biệt là con hải cẩu, con vật này đã khơi động trong tâm hồn Alba những điềm tang tóc. Những cuộc đi thăm vườn bách thú, trong tay dắt của một người đến cầu hôn hợm hĩnh và hoang toàng đó, đã để lại suốt cuộc đời cô bé một ấn tượng kinh khủng của sự giam cầm, của những bức tường, của những chấn song sắt, và sự cô lập. Trong số những người mê mẩn đến cầu hôn, người tiến xa hơn cả trên con đường chinh phục Blanca chính là Vua Nồi Áp Xuất. Mặc dù có gia sản đồ sộ và tính nết ôn hòa và chín chắn, ông vẫn bị Esteban Trueba ghét bỏ bởi đã thụ lễ cắt da quy đầu theo Do Thái Giáo, bởi có cái mũi Do Thái gốc Tây Ban Nha và bộ tóc uốn soăn tít. Bằng thái độ riễu cợt và thù địch, Esteban Trueba đã tống khứ được khỏi nhà con người sống sót trong một trại tập trung, đã chiến thắng sự khổ cực lưu vong và đã thắng lợi trong cuộc buôn bán cạnh tranh tàn nhẫn. Trong thời kỳ còn đang diễn biến bản tình ca, Vua Nồi Áp Xuất lái xe đến đón Blanca rồi đưa chị đi ăn bữa tối tại những nơi mà ông ta có đặc quyền, một chiếc ô-tô bé tí xíu, chỉ có hai chỗ ngồi, với bánh xe kiểu máy kéo và một tiếng rú như tiếng động cơ phản lực, có một không hai trong loại kiểu của nó, tiếng động cơ gây ra lộn xộn vì tò mò khi nó đi qua và sự đón tiếp khinh bỉ của gia đình Trueba. Chẳng để ý gì đến vẻ khó chịu của cha cô, cũng như những lời xì xào riễu cợt của những người láng giềng, Blanca bước lên xe oai vệ như một ngài thủ tướng, mặc bộ váy áo diện độc nhất màu đen và tấm áo ngoài bằng lụa trắng dùng trong mọi trường hợp đặc biệt. Alba từ biệt mẹ bằng một cái hôn và đứng sững trên bực cửa, với mùi hương nhài tế nhị của mẹ phảng phất trong mũi và một nỗi bứt rứt chặn trong lồng ngực. Chỉ có sự huấn luyện của Nicolás mới cho phép cô chịu đựng được những cuộc đi chơi như thế của mẹ cô mà không bật khóc, nhưng cô vẫn sợ rằng một ngày nào đó con người hào hoa thích hợp với mẹ cô đó có thể thuyết phục được Blanca đi về với ông ta và thế là cô suốt đời không có mẹ. Từ lâu cô đã từng quyết định không cần thiết phải có cha, càng không cần có một người bố dượng, nhưng nếu đi đến chỗ thiếu mẹ thì cô sẽ dìm đầu vào một chậu đầy nước cho đến khi chết ngạt, giống như bà nấu bếp đã làm thế đối với những con mèo con mà con mèo mẹ đẻ bốn tháng trước đấy.
Alba không còn lo sợ rằng mẹ sẽ bỏ mình nữa khi cô quen biết Pedro García Con, vì trực giác của cô đã báo cho biết rằng khi mà con người đó còn ở trên đời thì không có ai có khả năng chiếm được tình yêu của Blanca. Đó là một ngày chủ nhật mùa hè. Blanca chải tóc cho Alba quăn lên như cái vặn nút chai, bằng một thanh sắt nóng làm bỏng cả tai cô, rồi đi găng trắng cho cô, đi giầy đen da dê vào chân và đội lên đầu cô một chiếc mũ rơm có đính những quả dâu nhân tạo. Trông thấy cô, bà Clara phá lên cười sằng sặc, nhưng mẹ cô an ủi cô bằng cách nhỏ hai giọt nước hoa của mẹ lên cổ cô.
– Con sẽ làm quen với một người nổi tiếng - Blanca bí hiểm nói khi ra đi.
Dẫn con ra đến công viên Nhật Bản, tại đó Blanca mua kẹo so nhọn đầu và một túi nhỏ đầy ngô cho Alba. Hai mẹ con ngồi trên một tấm ghế dài dưới bóng cây, tay nắm tay nhau, trong lúc lũ bồ câu lách chách mổ nhặt những hạt ngô vãi rải rác xung quanh.
Alba trông thấy người đó đi đến gần trước khi mẹ cô chỉ cho thấy. Người đó mặc một bộ áo liền quần kiểu công nhân, bộ râu đen dài rậm rủ xuống đến giữa ngực, tóc rối tung, chân đi đôi dép đạo dòng San Francisco không có tất, và một nụ cười đầy đặn, rực rỡ, huyền diệu nó đặt người đó ngay lập tức vào loại những con người xứng đáng được vẽ trong bức hoành tráng khổng lồ trong căn phòng của cô.
Người đó và cô bé nhìn nhau và cả hai nhận ra nhau trong đôi mắt mà mình đang ngắm.
– Đây là Pedro Con, ca sĩ. Con đã nghe ca sĩ hát trong radio đấy - mẹ cô nói.
Alba đưa tay và người đó nắm bàn tay của cô bằng tay trái. Cô bé nhận thấy bàn tay phải của người đó thiếu mấy ngón, nhưng Pedro García Con đã giải thích để cô rõ rằng mặc dù thế anh vẫn đánh được đàn guitar và người ta bao giờ cũng có cách để làm một việc mà người ta thích. Ba người đi dạo qua công viên Nhật Bản. Đến khoảng nửa chiều họ đi tới một đoạn đường xe điện cuối cùng còn sót lại trong thành phố, vào ăn cá rán trong một hiệu bán các món rán ở chợ, và đến khi bóng đêm đổ xuống Pedro Con dẫn hai mẹ con Alba về đến tận phố gần nhà. Khi chia tay, Blanca và Pedro Con hôn môi nhau. Đó là lần đầu tiên trong đời Alba nhìn thấy cảnh đó, vì xung quanh cô chẳng thấy có những người yêu nhau.
Từ hôm đó trở đi, ngày cuối tuần nào Blanca cũng ra đi một mình. Chị nói đi thăm một vài người chị em họ xa. Esteban Trueba nổi cơn thịnh nộ và dọa đuổi chị ra khỏi nhà, nhưng Blanca kiên quyết không thay đổi quyết định của mình. Chị để con gái ở nhà với bà Clara, lên xe buýt ra đi, tay sách chiếc va-li nhỏ của anh hề, có vẽ hoa.
– Mẹ hứa với con mẹ sẽ không đi lấy chồng, và tối mai mẹ sẽ về - chị nói khi từ biệt con gái.
Vào giờ nghỉ trưa Alba thích ngồi với bà nấu bếp để nghe những bài dân ca qua máy thu thanh, đặc biệt những bài của người mà cô quen biết tại công viên Nhật Bản. Một hôm Thượng nghị sĩ Trueba bước vào tìm người làm bánh ngọt chợt nghe có tiếng của máy thu thanh, ông liền xông đến vung ba-toong đập cho đến khi chiếc máy trở thành một đống giây rợ và bóng vỡ ngỗn ngang trước đôi mắt kinh hãi của cô cháu gái, cô không thể tự cắt nghĩa cho mình hiểu được cơn điên cuồng đột ngột của ông ngoại. Ngày hôm sau, Clara mua một chiếc máy thu thanh khác để cho cháu Alba được thỏa thích nghe Pedro Con hát, và ông già Trueba giả vờ như không biết việc này.
Đó là thời kỳ chèo kéo của Vua Nồi Áp Xuất. Pedro Con được biết tin đó và anh đã nổi một cơn ghen vô lý, nếu cứ đem ảnh hưởng tinh thần trội hẳn của anh đối với Blanca so sánh với vòng vây chèo kéo rụt rè của người lái buôn Do Thái. Cũng như nhiều lần khác, lúc đó anh đã khẩn khoản xin Blanca rời bỏ ngôi nhà của gia đình Trueba, rứt khỏi sự giám hộ tàn bạo của cha chị, và nỗi cô đơn của cái xưởng gốm đầy những trẻ con si ngốc và các cô thiếu nữ vô công rồi nghề, và đi hẳn với anh một lần cho dứt khoát, để sống cùng nhau mối tình không có gì kìm hãm được mà hai người phải dấu diếm từ thời thơ ấu. Nhưng Blanca vẫn chưa dám quyết định. Chị biết nếu đi cùng Pedro Con chị sẽ bị tách ra khỏi môi trường xã hội và cái địa vị từ xưa đến nay của chị, và nhận thấy thêm rằng chính mình, không có mảy may hoàn cảnh thích hợp với những quan hệ bạn bè của Pedro Con, cũng chẳng có thể khuôn mình nổi trong mức sống thấp kém tại một xóm thợ thuyền. Nhiều năm sau, khi Alba đến tuổi có thể phân tích được về mặt đó của cuộc đời Blanca, đã đi đến kết luận là mẹ cô không đi với Pedro Con lúc đó đơn giản chỉ vì không có đủ tình yêu tới mức đó, vì ở trong gia đình nhà ông Trueba, mẹ có rất ít cái thứ mà ông không thể có để cho mẹ. Blanca trong thực tế rất nghèo, chỉ có được một ít tiền khi Clara cho, hoặc bán được một số con giống. Đồng lương nghèo khổ của chị dùng để chi hầu trọn vẹn vào tiền thầy thuốc, vì cái tài ốm những bệnh tưởng tượng ra của Blanca không giảm bớt bởi công việc và sự túng thiếu, mà trái lại, nó cứ mỗi năm một tăng thêm. Blanca chủ trương không xin cha bất cứ cái gì, để ông không có dịp mà làm nhục mình. Thỉnh thoảng Clara và Jaime mua quần áo cho Blanca, hoặc cho một cái gì đó mà chị cần thiết, còn bình thường thì Blanca không có đủ để mua một đôi tất. Sự nghèo túng của chị trái ngược hẳn với những bộ quần áo thêu ren và những đôi giầy đo chân để đóng mà Thượng nghị sĩ Trueba mua sắm cho cháu gái Alba. Cuộc sống của Blanca thật vất vả. Mùa hè cũng như mùa đông, chị dậy từ sáu giờ sáng. Rồi nhóm luôn lò của xưởng gốm, khoác vào người chiếc tạp dề bằng vải sơn, chân đi guốc, chuẩn bị những bàn làm việc và ngào đất sét cho lớp học, đôi cánh tay ngập đến khuỷu trong bồn đất nhớp nhúa và lạnh buốt. Do đó móng tay chị luôn bị xước, da bị sây sít và những ngón tay cứ méo mó biến dạng dần. Vào giờ đó chị cảm thấy hứng thú và chẳng có ai làm gián đoạn cảm hứng đó, nên chị có thể bắt đầu ngày lao động của mình để sản xuất ra những con giống kỳ quái cho lễ Nôen. Sau đó Blanca phải lo liệu những việc gia đình, trông coi sai bảo người giúp việc và đi mua sắm, cho đến tận giờ lớp học bắt đầu. Học sinh của chị là những cô gái con nhà gia thế, nhưng chẳng có việc gì làm, nên các cô chọn học nghề thủ công theo mốt lúc bấy giờ, có vẻ thanh tao hơn là việc đan áo cho những người nghèo như bà của các cô làm ngày trước.
Ý định mở lớp dạy cho những đứa trẻ bị bệnh si ngốc nẩy ra thật ngẫu nhiên. Một hôm, một bà bạn của Clara dắt theo đứa cháu trai tới thăm nhà Thượng nghị sĩ Trueba. Thằng cháu đó là một thiếu niên phốp pháp, mềm yếu, có khuôn mặt hiền lành tròn như mặt trăng, và một vẻ dịu dịu ngay đơ trong đôi mắt phương Đông ti hí. Nó lên mười lăm, nhưng Alba thấy nó như một đứa bé con. Clara bảo cháu gái dắt thằng bé ra chơi ở ngoài vườn và trông cho nó khỏi nghịch bẩn, khỏi chết chìm trong bể nước, khỏi bốc đất ăn và không được sờ mó vào cửa quần. Alba nhanh chóng chán ngấy việc trông coi thằng bé, và chẳng thể trao đổi được với nó bằng bất kỳ một thứ ngôn ngữ giao tiếp thông thường nào, cô dẫn nó đến xưởng gốm, tại đó Blanca đang làm việc; để giữ cho nó ngồi yên lặng, Blanca khoác cho nó một chiếc tạp dề để tránh bẩn và nước, và đặt vào hai bàn tay nó một nắm đất sét. Thằng bé suốt ba tiếng đồng hồ ngồi, không giỏ dớt dãi, không đái dầm, không gà gật đập đầu vào tường, lặng lẽ nặn mấy hình dáng thô kệch bằng đất sét, sau đó mang tới làm quà tặng cho bà. Bà thằng bé, đã quên cả thằng nhỏ đi cùng, thấy ngạc nhiên sung sướng, và do đấy mới nẩy sinh ý nghĩ rằng nghề gốm thật rất tốt đối với những đứa trẻ si ngốc. Cuối cùng Blanca mở lớp dạy một toán trẻ con đến học tại xưởng gốm của chị mỗi buổi chiều thứ năm. Một chiếc xe ca-mi-ông nhỏ chở chúng tới, có hai bà tu sĩ mặc áo choàng hồ cứng trông nom; tại giữa vườn hoa, hai bà ngồi ăn kẹo sô-cô-la cùng Clara và bàn về công dụng tốt của những mũi thêu hoa thị và về thứ tự của những tội lỗi, trong khi Blanca và con gái dạy cho bọn trẻ si ngốc cách nặn những con sâu bọ, những hòn bi, những con chó cụt đầu, cộc đuôi và những chiếc lọ méo mó. Đến cuối năm, những bà tu sĩ tổ chức một cuộc triển lãm và một dạ hội mừng thánh San Antonio, tại đó những tác phẩm nghệ thuật quỷ quái đáng sợ đó được mua làm phúc. Blanca và Alba sớm nhận ra rằng bọn trẻ con làm việc được tốt hơn cả khi chúng cảm thấy được yêu mến, và cách thức duy nhất để trao đổi mà chúng thông cảm được là lòng yêu thương. Hai mẹ con bắt đầu tập hôn chúng, ôm chúng và nói nựng chúng, và cuối cùng cả hai đi tới chỗ yêu thương chúng thực sự. Cả tuần Alba chờ chiếc xe ca-mi-ông con tới cùng lũ trẻ và nhẩy lên vì vui mừng khi lũ trẻ chạy đến ôm lấy cô. Nhưng những ngày thứ năm mệt đến kiệt sức. Alba nằm mệt phờ, trong óc lại hiện ra những khuôn mặt châu Á dịu dàng của những đứa trẻ trong xưởng gốm, và Blanca bao giờ cũng vậy lại thấy đau đầu. Sau khi mấy bà tu sĩ với những mảnh khăn trắng và lũ trẻ con tay dắt tay nhau đã ra về, Blanca ôm chặt lấy con gái, nồng nhiệt hôn con chầm bập và nói với con rằng cần phải cám ơn Thượng Đế đã sinh ra lành lặn bình thường. Vì vậy Alba lớn lên với ý nghĩ đinh ninh rằng sự lành lặn bình thường là một thứ của trời cho. Cô thảo luận với bà ngoại về điều ấy.
– Trong hầu hết các gia đình đều có một người ngớ ngẩn hoặc điên rồ, cháu gái ạ - bà Clara khẳng định như vậy trong khi vẫn cắm cúi vào mảnh len đang đan, vì trong những năm đó bà chưa học được cách đan mà không cần nhìn - Nhiều khi không trông thấy những người điên dại ấy, vì gia đình họ dấu diếm họ đi, như thể họ là điều hổ thẹn. Người ta nhốt họ trong những gian phòng hẻo lánh nhất, để những khách khứa đến thăm không trông thấy. Nhưng thực ra, chẳng có gì mà phải hổ thẹn, những người điên dại đó, cũng là những tác phẩm của Thượng Đế sinh ra.
– Nhưng trong gia đình nhà ta không có một ai thế, bà nhỉ. - Alba trả lời.
– Không. Ở nhà ta đây, sự điên rồ chia sẻ cho tất cả, và chẳng còn gì thừa nữa để tạo thành một người điên rõ ràng của chúng ta.
Những cuộc thảo luận của Alba và bà ngoại cô là như vậy. Vì thế, đối với Alba người quan trọng nhất trong ngôi nhà và ấn tượng mạnh mẽ nhất trong cuộc đời cô là bà ngoại Clara. Bà là chiếc động cơ làm chuyển động và chạy đều cả cái thế giới huyền ảo ở mé sau của ngôi nhà lớn ở góc phố, trong đó cô đã sống hoàn toàn tự do bẩy năm đầu tiên của cuộc đời mình. Cô đã quen với những cung cách lạ kỳ của bà ngoại. Cô không ngạc nhiên khi trông thấy bà trong trạng thái đồng bóng mê mẩn, ngồi co hai chân trên chiếc ghế bành, kéo lê khắp gian phòng khách bởi một sức mạnh vô hình. Cô theo bà trong khắp các cuộc viếng thăm các bệnh viện, các nhà từ thiện, tại đó cô định cố tìm theo dấu chân của đoàn người nghèo khổ cần giúp đỡ và đến độ học được cách đan len se bốn sợi bằng những que đan to gộ những chiếc áo khoác ấm mà cậu Jaime đem cho ngay sau khi chỉ mặc một lần, cốt để nhìn thấy nụ cười không có răng của bà ngoại khi thấy cô lác cả mắt theo dõi những mũi đan. Clara thường hay sai cô bé mang những mẩu thư đến cho Esteban Trueba, vì thế bà đặt cho cháu gái cái tên hiệu là Con Bồ Câu Đưa Thư. Cô bé tham dự vào các cuộc họp ngày thứ sáu, trong đó chiếc bàn trái tim gọi hồn di chuyển bằng những bước nhẩy giữa ban ngày, chẳng cần thiết đến một trò ảo thuật nào như luồng điện hay đòn bẩy ngầm bí mật, và trong những dạ hội văn thơ, tại đó cô ngồi xen kẽ với những bậc thầy đã được công nhận và một số không nhất định những nghệ sĩ dụt dè, chưa được biết mà bà Clara bảo trợ. Trong thời kỳ đó trong ngôi nhà lớn ở góc phố sống rất nhiều thực khách. Họ luân phiên đến sống tại đấy, hoặc ít nhất đến để dự những buổi họp về tinh thần, nói chuyện về văn hóa và những dạ đàm xã hội, hầu như tất cả những người quan trọng của đất nước đều đến, kể cả Nhà Thơ, mà ít năm sau đó được coi như nhà thơ xuất sắc nhất thế kỷ và được dịch ra tất cả các thứ tiếng quen biết trên trái đất; Alba đã từng ngồi trên đầu gối của ông nhiều lần, mà không ngờ được rằng một ngày kia cô sẽ bước theo sau linh cửu của ông, trên tay cầm một cành hoa loa kèn đỏ như máu, giữa hai hàng súng liên thanh.
Bà Clara lúc đó hãy còn trẻ, nhưng cháu gái thấy bà rất già, vì không thấy có răng. Bà cũng không có nếp nhăn, nên khi bà ngậm miệng, lại tạo ra một ảo tưởng vô cùng trẻ nhờ cái vẻ ngây thơ của khuôn mặt. Bà mặc áo dài bằng lanh thô giống như áo khoác của người điên, và về mùa đông bà đi tất len thật dài và đeo găng tay không có ngón. Những câu chuyện ít khôi hài làm cho bà thấy vui vui nhưng trái lại, bà không có khả năng hiểu ngay được một câu đùa, thường cười một cách lạc lõng khi mọi người đã thôi không cười nữa, và cảm thấy rất buồn khi trông thấy người khác làm trò lố bịch. Đôi lần bà nổi cơn hen suyễn. Tức thì bà rung một chiếc chuông nhỏ bằng bạc luôn đeo trong mình để gọi Alba, và cháu gái bà chạy đến, ôm lấy bà và chữa cho bà bằng những lời thì thầm an ủi bên tai, và cả hai bà cháu đều hiểu biết qua kinh nghiệm bản thân rằng, thứ thuốc duy nhất có thể làm dứt được cơn hen suyễn là cái ôm hôn dài của một người thân yêu của mình. Bà có đôi mắt vui tươi mầu hạt dẻ, mái tóc bạc lóng lánh được búi vào thành một búi hơi rối, nên những búp tóc bướng bỉnh lòa xòa bay ra ngoài, đôi bàn tay bà nhỏ thanh và trắng trẻo, móng tay mầu hạnh nhân, ngón tay dài và không đeo nhẫn, những ngón tay chỉ dùng để vuốt ve âu yếm, sắp xếp những quân bài bói toán và lắp hàm răng giả vào miệng trong giờ ăn. Alba suốt ngày lẽo đẽo theo bà ngoại, dán mình trong nếp váy của bà, khêu gợi để bà kể chuyện hoặc làm chuyển động những chiếc bình nhỏ bằng mãnh lực tinh thần của bà. Cô tìm được ở trong bà nơi ẩn náu chắc chắn khi cô bị những cơn ác mộng bao vây hoặc lúc không chịu nổi nữa những buổi tập luyện mà cậu Nicolás huấn luyện. Bà Clara dạy cô biết cách chăm sóc lũ chim trong lồng và nói với chúng bằng thứ tiếng của từng loài một, dạy cô biết những dấu hiệu dự giác của thiên nhiên, và cách đan khăn len mũi chạy cho những người nghèo.
Alba biết bà ngoại Clara là linh hồn của ngôi nhà lớn ở góc phố. Những người khác mãi sau mới biết như vậy, khi mà Clara đã chết và ngôi nhà mất hết cả hoa, hết cả những người bạn thực khách cùng những hồn ma lảng vảng, và đi hẳn vào thời kỳ tan rã.
Lần đầu tiên gặp Esteban García, bé Alba mới lên sáu tuổi, nhưng không bao giờ cô quên được hắn. Có lẽ cô bé đã từng gặp hắn từ trước nữa, tại trang viên Ba Cô Maria, trong một dịp nghỉ đông nào đó cùng ông ngoại, khi ông dẫn cô dạo quanh khu đồn điền, và bằng một cử chỉ khoáng đạt, ông ngoại chỉ cho cô thấy tất cả những gì cô nhìn thấy, từ những hàng cây thùy dương đến tận chân núi lửa, cả những ngôi nhà gạch nho nhỏ, và nói với cô hãy học tập mà yêu đất đai, vì một ngày kia tất cả đây sẽ là của cô.
– Những đứa con giai ông là một lũ tóc dài ăn hại. Nếu chúng thừa kế đồn điền Ba Cô Maria, chỉ không đến một năm nơi này sẽ lại trở thành một đống điêu tàn như thể thời kỳ cha ông cai quản - ông nói với cháu gái như vậy.
– Tất cả đây là của ông ư?
– Tất cả, từ chỗ đường cái xuyên Mỹ kia cho đến tận mũi đất có những quả đồi kia. Cháu nhìn thấy không?
– Tại sao lại của ông?
– Sao lại tại sao! Tại vì ông là chủ, rõ không!
– Vâng, nhưng tại sao ông lại là chủ?
– Tại vì đó là của gia đình nhà ông.
– Tại sao thế?
– Vì các cụ mua nó của những người India.
– Thế còn những người tá điền, những người cũng vẫn sống tại đây, sao họ lại không là chủ chỗ này?
– Cậu Jaime đã nhồi nhét vào đầu cháu những tư tưởng Bolshevik rồi - ức máu vì giận, Thượng nghị sĩ Trueba gào lên - Cháu có biết nếu không có một ông chủ thì chỗ này sẽ ra sao không?
– Không.
– Thì tất cả sẽ đi tiêu! Vì sẽ không có ai ra lệnh, không ai bán sản phẩm thu gặt được, không ai chịu trách nhiệm về mọi công việc, cháu có biết không? Sẽ không có ai trông coi người làm nữa. Nếu có ai ốm đau, hoặc chết, chẳng hạn để lại một vợ góa và rất nhiều con, thì cả lũ đó sẽ chết đói. Mỗi một người có một miếng đất khốn khổ, không đủ để ăn trong gia đình. Cho nên cần phải có người để nghĩ suy cho họ, quyết định cho họ và giúp đỡ họ. Ông là ông chủ tốt nhất trong cả vùng này, cháu Alba ạ. Tính ông hay cáu, nhưng ông công bằng, đúng đắn. Những tá điền của ông sống sung sướng hơn nhiều người ở thành thị, họ không thiếu cái gì và, dù có gặp năm hạn hán, lụt lội hoặc bị động đất nữa, ông là người lo liệu cho tất cả ở đây và không một ai phải khổ cực cả. Đó là việc cháu sẽ phải làm khi cháu tới tuổi cần thiết, vì vậy ông luôn đem cháu về đồn điền Ba Cô Maria này, để cháu quen biết đến từng hòn đá và từng con vật, và nhất là, tên họ từng người. Cháu có hiểu ông nói không?
Nhưng thực tế cô bé rất ít trực tiếp tiếp xúc với những người nông dân, và càng không biết được từng người với cả tên cả họ. Vì lẽ đó cô đã không nhận ra anh chàng thiếu niên da nâu, vụng về, thô bạo, với đôi mắt tàn ác của loài gặm nhấm, vào buổi chiều một hôm nào đó đã gõ cửa ngôi nhà lớn ở góc phố. Hắn mặc một bộ quần áo mầu thẫm quá chật đối với khổ người. Đầu gối, khuỷu tay và đít quần vải đã sờn chỉ còn như một màng phim bóng loáng. Hắn nói muốn được nói với Thượng nghị sĩ Trueba và tự giới thiệu là con trai của một tá điền của ông trong đồn điền Ba Cô Maria. Dù rằng thông thường thì những người như thân phận của hắn được vào theo cửa ra vào của người làm và ngồi chờ ở giữa vườn, nhưng người ta dẫn hắn vào phòng thư viện, vì hôm đó có một tiệc hội trong ngôi nhà và tất cả những quan chức của Đảng Bảo Thủ đều đến dự. Gian bếp có đến cả một đội đầu bếp và phụ bếp mà ông Trueba đã lôi từ Câu lạc bộ tới, trong nhà đang nhốn nháo và khẩn trương, nếu đưa một người khách vào thì thật chỉ thêm phiền phức. Đó là một buổi chiều mùa đông và phòng thư viện đang tối lặng, chỉ có ánh sáng duy nhất của ánh lửa nổ lép bép trong lò sưởi. Có mùi thuốc đánh bóng gỗ và da.
– Ngồi chờ ở đây, nhưng đừng đụng chạm vào cái gì cả. Thượng nghị sĩ sẽ tới ngay - người phụ nữ hầu phòng nói một cách khó chịu rồi để hắn ở đó một mình.
Hắn đưa mắt ngắm nghía gian phòng, ngẫm nghĩ một cách căm hờn rằng tất cả những thứ ở đây có thể là của hắn, nếu như hắn được sinh ra với cái nguồn gốc chính thức, như thể đã bao lần bà hắn, Pancha García, đã giải thích cho hắn biết, trước khi chết vì bệnh sốt co quắp và để cho hắn vĩnh viễn côi cút giữa một đàn anh em ruột và họ, mà hắn không là một ai trong đó cả. Duy chỉ có bà hắn phân biệt được hắn trong cái đống đó và không cho phép hắn, quên rằng hắn khác những người kia, vì trong mạch máu của hắn có lưu thông dòng máu của Esteban Trueba. Ngắm nhìn gian phòng thư viện hắn cảm thấy ngột ngạt. Mảnh tường nào cũng đầy những giá sách bằng gỗ đào hoa tâm nhẵn bóng, chỉ trừ có hai bên cạnh lò sưởi, tại đó bầy hai tủ kính trong đựng đầy những đồ ngà voi và đá quý phương Đông. Gian phòng có chiều cao gấp đôi những phòng thường, cái phóng tác khác thường duy nhất của người kiến trúc sư được ông chấp thuận. Có một chiếc ban công đi vào bởi một cầu thang soắn ốc bằng sắt, có lần đã trở thành từng thứ hai của những giá sách. Những bức tranh đẹp nhất của ngôi nhà đều được bầy tại đây, vì Esteban Trueba đã biến gian phòng này thành thánh đường, văn phòng, nơi ẩn náu của riêng ông, nên ông muốn trang hoàng xung quanh những đồ vật mà ông ưa thích nhất. Những khoang tường đều đầy sách và những sản phẩm nghệ thuật, xếp từ nền sàn đến tận mái nhà. Có một chiếc bàn viết to nặng kiểu Tây Ban Nha, những chiếc ghế bành lớn bọc da bầy quay lưng ra cửa sổ, bốn tấm thảm Ba Tư phủ kín sàn gỗ sến, và nhiều ngọn đèn có chụp phủ bằng giấy da dê bố trí thật tài giỏi khiến cho ngồi ở góc nào cũng đều có ánh sáng tốt để đọc. Tại đây Thượng nghị sĩ Trueba tổ chức mừng các bạn đồng hội, nghiền ngẫm mưu kế, củng cố công việc kinh doanh và, trong những giờ cô đơn nhất, đóng kín cửa giam mình để xua tan cơn giận, xoa dịu nỗi ước mơ thất bại hoặc một nỗi buồn. Nhưng anh chàng nông dân trẻ đứng trên tấm thảm không biết chút gì về những điều đó, và không biết đặt tay vào chỗ nào, mồ hôi đổ ra vì rụt rè, bẽn lẽn. Căn phòng thư viện kiểu lãnh chúa nặng nề và rậm rịt thật xứng với hình ảnh của ông chủ. Hắn thấy run lên vì căm giận và sợ hãi. Chưa bao giờ hắn vào một nơi như thế này, vì từ trước cho đến lúc đó hắn vẫn cho rằng rạp chiếu bóng San Lucas là nơi sang trọng nhất ở trên thế giới này rồi, nơi mà có một lần cô giáo của trường học đã kéo cả lớp học đến xem phim Tarzan. Hắn đã tốn bao nhiêu sức lực mới tới được quyết định thuyết phục gia đình hắn để được một mình, không tiền bạc, đi lên tận thủ đô để nói với ông chủ. Hắn không thể đợi đến mùa hè mới nói được với ông điều mà hắn phải giữ như một cái nút trong lồng ngực. Bỗng nhiên hắn cảm thấy như có ai nhìn mình. Hắn quay mình và thấy trước mặt một cô bé có hai bím tóc, đi tất thêu đứng ở phía cửa đang nhìn hắn.
– Tên cậu là gì? - cô bé hỏi.
– Esteban García - hắn nói.
– Mình tên là Alba Trueba. Hãy nhớ tên mình thế.
– Tôi sẽ nhớ.
Hai người nhìn nhau một lúc lâu, cho tới khi cô bé yên tâm bước vào và mạnh dạn đến gần. Cô nói cho hắn biết cần phải chờ, vì ông ngoại ở tại trụ sở Quốc Hội chưa về, rồi kể cho hắn biết ở trong bếp hiện như trong một cơn dông, vì người ta bận bịu cho cuộc lễ hội, và hứa sau đấy cô sẽ có được mấy chiếc bánh ngọt mang cho hắn. Esteban García cảm thấy dễ chịu hơn. Rồi ngồi xuống một trong mấy chiếc ghế bành bọc da, và dần dà hắn kéo cô bé lại gần và đặt cô ngồi trên đùi. Người Alba có mùi dầu Bayrum, một thứ hương thơm tươi mát và dìu dịu lẫn lộn với mùi tự nhiên của cơ thể của một đứa bé gái đương ra mồ hôi. Hắn áp mũi vào gần cổ cô bé và hít cái hương thơm sạch sẽ và sung sướng chưa hề được biết đó và, chẳng hiểu vì sao, mắt hắn ứa đầy nước. Hắn cảm thấy căm giận đứa bé gái cũng như căm giận ông già Trueba. Cô bé là hiện thân của mọi thứ mà không bao giờ hắn có, không bao giờ hắn tới được. Hắn muốn làm cho cô bé đau, tiêu diệt cô, nhưng đồng thời hắn cũng muốn hít ngửi cái hương thơm của cô, lắng nghe cái giọng trẻ con của cô và xoa làn da thịt mềm mại của cô ở trong tầm tay hắn. Hắn vuốt ve đôi đầu gối cô bé, đúng chỗ thêu viền của mép tất, đôi đầu gối âm ấm có những lúm đồng tiền. Alba vẫn tiếp tục nói huyên thiên về bà nấu bếp nhồi hạt dẻ vào đít gà để chuẩn bị cho bữa tiệc đêm. Hắn run run nhắm mắt. Bằng một bàn tay hắn ướm quanh cổ của cô bé, cảm thấy đôi bím tóc của cô buồn buồn trên cổ tay và hắn bóp nhè nhẹ, nhận thức rõ cô bé thật bé nhỏ, chỉ cần một chút cố gắng cỏn con hắn có thể bớp nghẹt cô. Hắn muốn làm như vậy, muốn cảm thấy cô rẫy rụa đạp lung tung trên đùi hắn, vùng vẫy tìm không khí để thở. Hắn muốn nghe cô rên rỉ và chết trong tay hắn, hắn muốn lột trần truồng cô ra và thấy mình bị kích thích mãnh liệt. Bàn tay kia của hắn luồn vào trong váy áo hồ bột, vuốt vuốt khắp đôi chân trẻ con, nhận thấy nếp đăng ten của chiếc quần lót bằng lanh nõn, và nếp váy phồng có nịt chặt bằng giây chun. Hắn thở hồng hộc, một chút minh mẫn còn lại trong óc làm cho hắn biết được rằng hắn đang đứng bên bờ của một vực thẫm. Cô gái bé đã thôi câu chuyện huyên thiên, yên lặng nhìn hắn bằng đôi mắt to đen lánh. Esteban García cầm tay cô bé và đặt lên chỗ của hắn đang cương lên.
– Mày biết cái gì đó không? - hắn lên giọng khàn khàn hỏi.
– Con chim của mày - cô bé trả lời vì đã từng trông thấy cái đó trong những tờ ảnh của sách về y học của cậu Jaime, và ở cậu Nicolás khi cậu trần truồng tập thể dục theo kiểu châu Á.
Hắn giật nẩy mình, đứng phắt dậy và cô bé ngã rơi trên tấm thảm. Hắn ngạc nhiên và sợ hãi, đôi bàn tay run run, đôi chân như mềm xỉu và hai tai nóng bừng. Ngay lúc đó hắn nghe thấy tiếng bước chân của Thượng nghị sĩ ngoài hành lang và một thoáng sau, trước khi hắn lấy lại được nhịp thở bình thường, ông già bước vào phòng thư viện.
– Sao lại tối như thế này - ông gắt bằng cái giọng ầm như chuyển đất.
Ông Thượng nghị sĩ bật đèn và không nhận ra người con trai đang nhìn ông bằng đôi mắt hoảng hốt. Ông già đưa hai tay đón cháu gái và cô bé ẩn mình trong tay ông một lát, như thể một con chó bị dồn đánh, sau đó lập tức rời khỏi tay ông và chạy ra ngoài và sập cửa lại.
– Mày là ai thế, chàng trai? - ông ngỡ ngàng và khó chịu hỏi anh con trai cũng là cháu của ông.
– Esteban García. Ông chủ không nhớ được cháu ư? - hắn lúng búng trả lời.
Tới lúc đó Esteban Trueba mới nhận ra đứa bé độc ác đã tố giác Pedro García Con những năm xưa và đã nhặt những ngón tay đứt từ dưới đất lên. Ông già biết rằng không dễ dàng đuổi được nó ra mà không nghe nó nói, dù cho ông đã có lệ quy định những việc của tá điền đều được giải quyết bởi người quản lý tại trang viên Ba Cô Maria.
– Thế mày muốn việc gì đấy? - ông hỏi.
Esteban García lưỡng lự, không tìm thấy những lời mà hắn đã chuẩn bị kỹ lưỡng hàng tháng nay, trước khi dám đến gõ cửa nhà của ông chủ.
– Nói nhanh lên, ta không có nhiều thì giờ - Trueba giục.
Esteban García lắp bắp đưa ra đề nghị của mình: hắn đã kết thúc trung học tại San Lucas và muốn được một giấy giới thiệu vào học tại Trường Cảnh Vệ Quân và được một học bổng của nhà nước để đủ tiền theo học.
– Tại sao mày không ở lại đồn điền, như thể cha mày và ông mày? - ông chủ hỏi.
– Xin ông chủ tha lỗi cho, nhưng cháu muốn được trở thành cảnh vệ quân - Esteban García van xin.
Trueba nhớ lại mình vẫn còn nợ hắn món thưởng vì đã tố giác chỗ ở của Pedro García Con, ông nghĩ đây là dịp tốt để trả món nợ đó, và tiện thể, có được một tên đầy tớ trong hàng ngũ cảnh sát. “Biết đâu đấy, bất chợt mình có thể cần đến hắn”, ông ngẫm nghĩ. Rồi ngồi trước bàn viết, lấy ra một mảnh giấy có in huy trưng của Thượng Viện, ông viết bức thư ủy thác theo thủ tục thông thường rồi đưa cho anh con trai vẫn đứng đợi.
– Cầm lấy, cháu. Ta mừng rằng mày đã chọn cái nghề này. Vì mày thích là người mang vũ khí, thì giữa một bên là phạm nhân còn bên kia là cảnh sát, thì làm cảnh sát vẫn tốt hơn, bởi vì mày không bị hình phạt. Ta sẽ gọi giây nói tới đại tá Hurtado, bạn tao, để xin ông cho mày một học bổng. Nếu mày cần thiết điều gì, hãy báo cho tao.
– Rất cảm ơn ông chủ.
– Không cần cảm ơn, cháu ạ. Ta thích giúp cho những người ăn người làm của tao.
Ông từ biệt hắn bằng cái vỗ vai thân mật.
– Tại sao người ta lại đặt tên cho mày là Esteban? - ông hỏi hắn khi ra tới cửa.
– Bởi ông chủ đấy ạ - hắn đỏ mặt trả lời.
Ông Trueba chẳng phải suy nghĩ gì về vấn đề đó cả. Thường thường tá điền vẫn lấy tên của ông chủ của họ để đặt tên cho con họ, như thể một dấu hiệu tôn kính.
Clara chết đúng vào ngày Alba tròn bẩy tuổi. Chỉ có bà nhận thấy sự báo hiệu đầu tiên của cái chết. Thế là bà bắt đầu bí mật sửa soạn để sẵn sàng ra đi. Thật kín đáo, bà phân phát quần áo của bà cho những người hầu hạ và cho cả đội những người được bà bảo trợ hầu như thường xuyên có mặt, tất cả những gì cần thiết. Bà sắp xếp lại thứ tự mọi giấy tờ, lôi từ trong mọi ngóc ngách ra những cuốn vở ghi chép cuộc đời, buộc chúng lại bằng băng mầu, từng gói theo từng sự việc chứ không theo trật tự thời gian, vì điều duy nhất mà bà quên không ghi trong đó là ngày tháng, và trong thời gian vội gấp của những giờ còn lại bà quyết định không nên mất thời giờ truy tìm những ngày tháng đó làm gì. Khi lục tìm những cuốn vở bà lại gặp những món đồ nữ trang trong những hộp đựng giầy, trong những túi đựng tất và trong tận cùng tủ áo mà bà đã quẳng chúng vào từ thời kỳ mà chồng bà tặng vợ với ý nghĩ bằng cái đó có thể đạt được tình yêu của bà. Bà cho tất cả vào trong một chiếc tất len, gói kín lại bằng một chiếc ghim băng và trao cho Blanca.
– Con giữ lấy cái này. Một ngày kia những thứ trong đây có thể có ích cho con hơn là một thứ đồ trang sức - bà nói.
Blanca bàn về chuyện đó với Jaime, và anh con trai bắt đầu trông coi theo dõi mẹ. Anh nhận thấy bà mẹ sống với một vẻ bên ngoài rất bình thường, nhưng hầu như không chịu ăn. Bà chỉ nuôi thân bằng sữa và một vài thìa mật. Đêm đêm bà cũng không ngủ mấy, mà thức để viết hoặc đi quanh quẩn trong nhà. Tựa như bà đang đi thoát ra khỏi cuộc đời, mỗi ngày một thêm nhẹ nhàng, trong suốt, và như có cánh.
– Một hôm nào đó trong những ngày này mẹ sẽ ra đi bay trên đôi cánh - Jaime lo lắng nói.
Bỗng nhiên bà bước vào chỗ thấy ngạt. Bà cảm thấy trong ngực như có con ngựa phi điên dại và cái của một người cưỡi ngựa phóng rất nhanh ngược chiều gió. Bà nói đó là cơn hen suyễn đã nổi lên, nhưng Alba thấy bà ngoại không rung quả chuông con bằng bạc để gọi cô vào cứu chữa cho bà bằng những cái ôm hôn dài dẵng. Một buổi sáng cô bé trông thấy bà ngoại mở hết các chuồng chim một cách vui vẻ không thể hiểu được.
Clara viết những tấm thiếp nhỏ cho tất cả những người thân yêu của mình, một con số rất nhiều, và lặng lẽ kín đáo đặt vào trong một chiếc hộp để dưới gầm giường. Sáng hôm sau bà không dậy nữa và khi người hầu phòng mang thức ăn điểm tâm đến, bà không cho phép mở những tấm rèm. Bà đã bắt đầu từ biệt cả ánh sáng, để chầm chậm đi vào bóng tối.
Được báo cho biết thế, Jaime đến thăm bà và cứ ở đó không ra nếu bà chưa chịu để cho anh khám bệnh. Anh không tìm thấy dấu hiệu gì khác thường trong dáng dấp của bà, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, anh biết mẹ mình sắp chết. Anh bước ra khỏi phòng với nụ cười rộng mở và giả dối trên đôi môi, nhưng khi đã đi ra khỏi tầm mắt của mẹ rồi, anh phải tựa người vào tường, vì đôi chân đã mềm oặt không còn sức nữa. Anh không nói điều đó với ai trong gia đình. Anh cầu gọi đến một chuyên gia trước là giáo sư dạy anh tại Khoa Y của trường đại học và ngay ngày hôm đó ông ta đã có mặt tại nhà của gia đình Trueba. Sau khi khám cho Clara, ông công nhận sự chẩn đoán của Jaime là đúng. Hai người tập họp cả gia đình tại phòng khách và không rào đón gì nhiều, báo cho mọi người biết bà không thể sống thêm được quá hai, ba tuần, và điều duy nhất có thể làm được là ở liền bên cạnh bà, để bà được vui lòng trong lúc chết.
– Tôi nghĩ rằng mẹ đã quyết định chết, và khoa học không có phương thuốc gì để cứu chữa được căn bệnh đó. - Jaime nói.
Esteban Trueba nắm chặt lấy cổ áo con trai đến như sắp bóp ngạt anh, du đẩy cả vị chuyên gia, sau đó vung ba-toong đập vỡ hết chụp đèn và những đồ bằng sứ bầy tại phòng khách. Cuối cùng ông ngã quỳ xuống sàn, rên rỉ như đứa trẻ. Alba lúc đó chạy vào trông thấy ông ngoại chỉ cao bằng tầm của mình, cô bé lại gần, ngạc nhiên khi nhìn thấy nước mắt ông chẩy ra, bèn ôm lấy ông. Người duy nhất trong gia đình vẫn giữ được bình tĩnh là cô bé Alba, nhờ có luyện tập để chịu đựng đau khổ và nhờ bà ngoại đã từng nhiều lần cắt nghĩa cho nghe những trường hợp và nỗi chờ mong của cái chết.
– Cũng y như lọt lòng ra đời, lúc chết chúng ta đều sợ những thứ mà mình chưa quen biết. Nhưng cái sợ là một chút gì thuộc bên trong, nó chẳng có dính gì đến sự thật. Chết cũng như là sinh ra thôi: chỉ là một sự thay đổi - Clara đã nói như thế.
Bà ngoại nói thêm rằng nếu như cháu có thể thông tin một cách không khó khăn với những linh hồn ở nơi Quá Xa Xôi kia, thì chắc chắn cũng có thể làm được như vậy với những linh hồn của nơi Quá Gần Gũi này, cho nên khi mà giây phút đó xẩy đến, thay vào chỗ khóc lóc than van, bà muốn cháu giữ được bình tĩnh, vì trong trường hợp của bà, cái chết không phải là một sự ngăn cách, mà lại là một hình thức càng gần cận nhau hơn. Alba hiểu bà thật rõ.
Ít bữa sau đó, Clara bước vào một giấc mơ dịu ngọt và chỉ có sự cố gắng nhận thấy được để hít không khí vào trong lồng ngực mới chỉ ra cho biết bà vẫn còn sống. Nhưng, sự ngạt thở hình như không làm cho bà buồn bã, bởi vì bà đâu có định đấu tranh để giữ cuộc đời mình. Cô cháu gái lúc nào cũng ở bên cạnh bà. Người ta phải làm tạm một cái giường ngay trên nền sàn cho cô bé vì cô nhất định không chịu ra khỏi buồng, và khi định lôi cô ra thì cô đạp vung hai chân không chịu. Cô nhắc đi nhắc lại rằng bà ngoại biết được tất cả đấy và bà cần có cô. Thực tế như vậy. Trước lúc ngừng thở một chút, Clara trở lại tỉnh táo và có thể nói một cách bình tĩnh. Điều trước tiên mà bà nhận thấy là bàn tay của Alba trong hai bàn tay bà.
– Bà sắp chết, phải không cháu gái? - bà hỏi.
– Vâng, bà ạ, nhưng không can gì, vì cháu ở cùng bà - cô cháu bé trả lời.
– Tốt làm. Cháu lấy cái hộp đựng những tấm thiếp để dưới gầm giường và mang đi phân phối cho bà, vì bà không còn có thể đi từ biệt được tất cả.
Clara nhắm mắt, thở dài mãn nguyện và đi về bên kia thế giới không quay đầu nhìn lại. Tất cả gia đình quây quần xung quanh bà, Jaime và Blanca gầy róc qua những đêm thức săn sóc, Nicolás lầm rầm cầu nguyện bằng tiếng Phạn, Esteban mím miệng, nắm tay, vô cùng điên giận và buồn thảm, và cô bé Alba, người duy nhất giữ được bình thản. Những người hầu cũng vậy, mấy chị em nhà Mora cũng vậy, và một vài nhà nghệ sĩ nghèo khổ đã sống nhờ trong ngôi nhà một số tháng gần đây và một ông cố đạo đến theo lời gọi của bà nấu bếp, nhưng không có việc gì mà làm cả, vì Trueba không cho phép làm phiền người hấp hối bằng những lời thú tội giờ cuối cùng, hoặc những giọt nước phép rửa tội.
Jaime cúi sát thân hình mẹ tìm xem có còn nghe tiếng đập của trái tim bà, nhưng không thấy.
– Mẹ đã đi rồi - anh mếu máo nói.