Ngôi Nhà Của Những Hồn Ma

Lượt đọc: 2309 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13
khủng bố

Ngày nổ ra cuộc đảo chính quân sự, ông mặt trời rực rỡ ló ra từ lúc mới rạng sáng, thật ít thấy trong thời kỳ mùa xuân bẽn lẽn mới bắt đầu để lộ những dấu hiệu đầu tiên. Jaime làm việc hầu như suốt đêm và vào lúc bẩy giờ sáng anh chỉ còn có thể ngủ được có hai tiếng đồng hồ. Một hồi chuông điện thoại đánh thức anh dậy và cô thư ký, với giọng hơi biến đổi, đã làm anh hết cơn ngái ngủ. Từ dinh tổng thống gọi đến báo cho anh biết phải đến ngay văn phòng của đồng chí Tổng Thống một cách nhanh nhất, không, đồng chí Tổng Thống không ốm, không, không biết rõ điều gì đã xẩy ra, cô chỉ nhận được lệnh gọi tất cả những thầy thuốc của dinh tổng thống. Jaime mặc quần áo, và như thể một người mộng du bước lên chiếc xe hơi của mình, thầm cảm ơn nghề nghiệp đã cho phép mình có quyền được một xuất ét-săng hàng tuần, vì nếu không có nó, anh sẽ phải đi xe đạp tới trung tâm thành phố. Anh tới dinh tổng thống lúc tám giờ và ngạc nhiên thấy quảng trường vắng vẻ và một đội lính rất đông đứng trấn tại những cửa lớn của trụ sở chính phủ, tất cả đều ăn mặc quần áo chiến đấu, đội mũ sắt, mang vũ khí. Jaime cho xe của mình đỗ trên quảng trường trống vắng, không để ý đến những cử chỉ của bọn lính như báo cho biết không được đỗ xe. Anh xuống xe, và lập tức những tên lính vây quanh, chĩa súng vào người anh.

– Có việc gì đấy, các đồng chí? Chúng mình đang chiến tranh với bọn Trung Quốc hay sao? - Jaime mỉm cười.

– Hãy đi đi, không được dừng lại đây! Giao thông đã bị cắt! - một viên sĩ quan ra lệnh.

– Rất tiếc, nhưng ở dinh tổng thống người ta gọi tôi tới - Jaime vừa cãi vừa đưa ra tấm thẻ căn cước. - Tôi là bác sĩ.

Bọn họ đi theo anh đến tận những cánh cửa gỗ nặng nề của tòa lâu đài, tại đó một toán cảnh sát đang đứng gác. Họ để cho anh vào. Trong nội thất của tòa lâu đài một sự náo động như đắm tàu đang diễn ra, nhân viên chạy trên thang gác như thể chuột say sóng, và đội cận vệ riêng của Tổng Thống đang thu gom những đồ gỗ áp vào các khuôn cửa sổ và phân phối những khẩu súng ngắn cho những người đứng gần nhất. Tổng Thống bước ra gặp anh. Ông đội một chiếc mũ sắt chiến đấu, trông thật trái ngược với bộ quần áo thể thao đẹp và đôi giầy kiểu Ý của ông. Lúc đó Jaime biết đã có cái gì đó thật nghiêm trọng đang diễn ra.

– Hải quân đã nổi dậy, bác sĩ ạ - ông giải thích ngắn gọn - Đã đến lúc phải chiến đấu.

Jaime cầm ống nói gọi cho Alba báo cho cô biết không được ra khỏi nhà, và đề nghị cô báo cho Amanda biết thế. Anh không bao giờ còn được nói chuyện với cô cháu gái nữa, vì những sự kiện diễn biến rất găng. Trong khoảng một tiếng đồng hồ sau đó, một vài ông bộ trưởng và nhà lãnh đạo chính trị của chính phủ tới, và bắt đầu một cuộc thương thuyết bằng giây nói với những đội quân nổi loạn để ước lượng tầm quan trọng của cuộc nổi dậy và tìm một giải pháp hòa bình. Nhưng vào lúc 9 giờ 30 sáng, tất cả những đơn vị vũ trang của đất nước đã thuộc quyền điều khiển của những nhà quân sự làm cuộc đảo chính. Trong những sở chỉ huy, bắt đầu một cuộc thanh trừng những người còn tiếp tục trung thành với Hiến Pháp. Viên tướng chỉ huy Cảnh Vệ Binh hạ lệnh cho đội bảo vệ Lâu đài phải đi ra, vì cảnh sát cũng vừa sát nhập vào phe đảo chính.

– Các đồng chí có thể đi ra, nhưng hãy để vũ khí lại - Tổng Thống nói.

Những người lính cận vệ lúng túng, hổ thẹn, nhưng mệnh lệnh của viên tướng chỉ huy thật dứt khoát. Nhưng không một ai dám cưỡng lại cái nhìn của vị nguyên thủ quốc gia, họ đặt vũ khí xuống sân và sắp hàng một bước ra, đầu cúi gục. Ra đến cửa một người quay lại.

– Tôi ở lại với đồng chí Tổng Thống - người ấy nói.

Đến trưa, rõ ràng tình hình không thể dàn xếp được bằng cuộc đối thoại, và hầu như tất cả đã rút về. Chỉ còn lại những bạn bè thân cận nhất và đội cận vệ riêng của Tổng Thống. Mấy cô con gái của Tổng Thống bị cha buộc phải đi ra. Người ta phải dùng sức để lôi các cô ra, và bên trong vẫn có thể nghe thấy tiếng các cô gọi tên cha từ phía ngoài đường. Trong lâu đài còn lại khoảng ba mươi người cố thủ trong mấy phòng khách ở tầng hai, trong số người đó có Jaime. Anh ngỡ như mình đang trong một cơn ác mộng. Ngồi trên một chiếc ghế lớn bọc nhung đỏ, trong tay lăm lăm một khẩu súng ngắn, anh nhìn món vũ khí một cách ngây thộn. Anh không biết sử dụng nó. Anh thấy thời gian trôi đi rất chậm, trên chiếc đồng hồ đeo tay mới chỉ có ba tiếng đồng hồ trôi qua. Qua đài phát thanh anh nghe thấy tiếng Tổng Thống nói cho cả nước. Đó là những lời vĩnh biệt của ông.

“Tôi nói với những người sẽ bị theo dõi, để báo cho các bạn biết tôi sẽ không bao giờ chịu rút lui: tôi sẽ mang cuộc đời ra trả cái nghĩa thủy chung của nhân dân. Tôi sẽ luôn ở bên cạnh các bạn. Tôi tin vào tổ quốc và vận mệnh quốc gia. Những người khác sẽ khắc phục tình trạng này và rất sớm thôi sẽ mở ra những đại lộ thênh thang cho con người tự do bước tới, để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Nhân dân muôn năm! Những người lao động muôn năm! Đây là những lời nói cuối cùng của tôi. Tin chắc rằng sự hy sinh của tôi sẽ không vô ích”.

Trời bắt đầu mây mù vần vụ. Nghe có một vài tiếng súng nổ lẻ tẻ ở xa xa. Trong lúc đó Tổng Thống đang nói qua điện thoại với viên thủ lĩnh của bọn phiến loạn, người đó hứa mang một máy bay quân sự đưa ông cùng toàn thể gia đình đi ra khỏi đất nước. Nhưng ông không sẵn sàng đi sống lưu vong tại một nơi nào đó xa xôi, để sống hết cuộc đời còn lại một cách tủi nhục cùng một số nhà lãnh đạo bị đánh đổ khác đã rời khỏi tổ quốc lúc quá nửa đêm.

– Các người đã nhằm đối với ta rồi, quân phản bội! Nhân dân đã đặt ta vào đây, chỉ có chết ta mới ra khỏi nơi này - ông bình thản đáp.

Tức thì nghe có tiếng máy bay gầm rít và cuộc oanh tạc bắt đầu. Jaime cùng tất cả soài người trên sàn, không thể ngờ đến việc đang xẩy ra, vì cho đến ngày hôm qua anh vẫn tin chắc rằng trong đất nước mình không bao giờ có thể xẩy ra chuyện gì và binh lính vẫn sẽ tôn trọng luật pháp. Duy chỉ có Tổng Thống vẫn đứng, trong tay cầm khẩu bazooka, ông bước tới gần một khuôn cửa sổ và bắn vào chiếc xe tăng đỗ ở ngoài đường. Jaime bò trườn đến chỗ ông, nắm lấy đôi bụng chân để buộc ông phải nằm soài xuống, nhưng ông văng tục nhìn anh và vẫn đứng nguyên. Mười lăm phút sau cả tòa lâu đài bốc cháy và ở bên trong mọi người không thể thở hít được bởi khói bom. Jaime bò như mèo len lỏi giữa những chiếc bàn ghế gãy hỏng và những mảng trời để lọt ánh nắng xuống xung quanh anh như thể một trận mưa chết chóc, định cứu chữa cho những người bị thương, nhưng cuối cùng chỉ có thể mang đến cho họ lời an ủi và vuốt mắt cho những người bị chết. Trong một khoảng ngừng tiếng súng đột ngột, Tổng Thống hội họp với những người còn sống sót và bảo họ hãy đi ra, ông không muốn có những chết chóc hi sinh vô ích, mỗi người đều có một gia đình và tất cả đều phải thực hiện những nhiệm vụ quan trọng sau này. “Tôi sẽ yêu cầu một thời gian ngừng bắn để các đồng chí có thể đi ra”, ông nói thêm. Nhưng không một ai rút ra. Một vài người run run, nhưng tất cả đều giữ nguyên vẻ tự trọng danh dự của mình. Trận ném bom rất ngắn nhưng đã biến lâu đài tổng thống thành một đống hoang tàn. Đến hai giờ chiều, đám cháy đã thiêu hủy những phòng khách cổ vẫn dùng từ những thời thuộc địa, và chỉ còn sót lại một nhóm người xung quanh Tổng Thống. Bọn lính xô vào trong lâu đài, chiếm cứ tất cả những phòng còn lại của tầng nền. Mọi người bên trong nghe rõ nổi lên trên tiếng nổ ầm ầm giọng gắt gỏng của một viên sĩ quan ra lệnh cho họ phải đầu hàng, và sắp hàng một đi xuống, hai tay giơ lên cao. Tổng Thống bắt tay từng người. “Tôi sẽ xuống sau cùng”, ông nói. Nhưng mọi người không bao giờ còn gặp lại ông trong cuộc đời.

Jaime xuống cùng những người khác. Trên từng bậc thang gác đều có lính đứng canh. Hình như chúng đều lộ vẻ điên giận. Chúng đá và thúc quy lát súng vào bọn người từ trên bước xuống với một vẻ căm thù mới được tạo ra và đã nở rộ trong con người họ chỉ trong vòng mấy tiếng đồng hồ. Một vài tên nổ súng cho đạn rít trên đầu những người đã đầu hàng. Jaime bị một đòn đánh vào bụng làm cho anh phải gập đôi người xuống, và khi đã có thể đứng thẳng lên, đôi mắt anh đẫm nước mắt và quần anh nóng đẫm cứt. Bọn lính tiếp tục đánh đập mọi người ra đến tận đường phố, và tại đó chúng ra lệnh cho tất cả phải nằm úp mặt xuống đất, rồi chúng dẫm lên người, vừa dẫm vừa chửi bới cho tới khi hết nhẵn không còn chữ thô tục Tây Ban Nha nào nữa, lúc đó chúng mới ra hiệu cho một chiếc xe tăng. Những người đầu hàng nghe thấy tiếng xe tăng tới gần, làm rung chuyển cả mặt đường nhựa dưới sức nặng của lũ quái vật vô địch đó.

– Tiến lên, chúng ta sẽ cho xe tăng nghiền nát những tên to hòn dái này! - một viên đại tá gào lên.

Jaime từ mặt đất liền nhìn và tưởng chừng có quen biết hắn, vì anh nhớ đến một đứa bé đã cùng chơi đùa ở đồn điền Ba Cô Maria khi anh còn nhỏ. Chiếc xe tăng ầm ầm đi qua, cách đầu những người tù mười xentimét, giữa tiếng cười sằng sặc của bọn lính và tiếng còi rú inh ỏi của những chiếc xe chữa cháy. Xa xa nghe có tiếng vang của những chiếc máy bay chiến đấu gầm rú. Một lúc lâu sau đó, chúng để riêng những người tù thành từng nhóm cách xa nhau, theo từng loại tội phạm, còn Jaime chúng đưa đến Bộ quốc phòng, lúc đó đã biến thành một trại lính. Chúng buộc anh phải đi lom khom như thể đi trong một giao thông hào, sau đó dẫn anh qua một gian phòng lớn, đẩy những người trần truồng, bị trói từng hàng mười người một, hai tay quặt ra sau lưng, đã bị đánh đập hết mức, đến nỗi có mấy người không còn có thể đứng nổi, và máu chảy thành từng dòng nhỏ trên nền đá hoa cương. Chúng dẫn Jaime đến căn buồng đun hơi sưởi, tại đó đã có một số người đứng úp mặt vào tường, canh giữ bởi một người lính xanh xao, đi đi lại lại, khẩu súng tiểu liên chĩa vào cả bọn. Jaime bị đứng bất động tại đó một lúc lâu, như thể một người mơ ngủ, không hiểu rõ nữa điều gì đang diễn ra, kinh sợ nghe những tiếng kêu thét từ mé bên kia bức tường nổi lên. Anh nhận thấy tên lính đang ngắm nhìn mình. Đột nhiên hắn hạ súng và lại gần anh.

– Hãy ngồi xuống mà nghỉ bác sĩ ạ, nhưng nếu tôi báo hiệu, ông phải lập tức đứng nghiêm - hắn nói thầm thì và đưa cho anh một điếu thuốc lá đã châm lửa - Ông đã mổ cho mẹ tôi và cứu bà sống.

Jaime không nghiện thuốc, nhưng cũng thưởng thức điếu thuốc bằng cách từ từ hít một hơi. Chiếc đồng hồ của anh vỡ tan, nhưng anh cũng tính qua cái đói khát của mình, lúc đó có lẽ trời đã tối. Anh thật mệt mỏi và khó chịu với chiếc quần giây đầy bẩn, đến độ không còn muốn tự hỏi mình cái gì sẽ xẩy đến sau đây. Vừa bắt đầu ngủ gà ngủ gật thì người lính đến gần.

– Đứng nghiêm đi, bác sĩ - hắn thì thào - Chúng đến tìm ông đấy. Chúc may mắn.

Một lát sau thấy hai người bước vào, còng tay anh và dẫn anh đến trước một viên sĩ quan làm nhiệm vụ hỏi cung tù nhân. Jaime đã từng thấy hắn một đôi lần đi theo Tổng Thống.

– Chúng tôi biết rằng ông không dính líu gì đến chuyện này, thưa bác sĩ - hắn nói - Chúng tôi chỉ muốn ông xuất hiện trên vô tuyến truyền hình và nói rằng Tổng Thống bị say rượu và đã tự sát. Sau đó tôi sẽ để cho ông về nhà.

– Ông hãy tuyên bố như vậy bằng chính miệng ông. Đừng hòng tôi làm việc ấy, đồ khốn nạn - Jaime đáp lại.

Chúng giữ chặt hai cánh tay anh. Đòn thứ nhất đánh vào dạ dày. Sau đó chúng lôi anh dậy, dằn anh nằm ép trên một chiếc bàn và cởi quần áo anh. Rất lâu sau đó, chúng lôi anh bất anh bất tỉnh ra khỏi Bộ quốc phòng. Trời bắt đầu mưa và cái lạnh của nước và khí trời làm cho anh tỉnh lại . Anh tỉnh hẳn khi chúng đưa anh lên một chiếc xe ô tô-buýt của quân đội, đặt anh nằm ở thùng sau. Qua khuôn kính của xe anh ngắm nhìn trời đêm, và khi xe chạy anh có thể nhìn thấy phố sá vắng lặng và mọi dinh thự đều có treo cờ. Anh hiểu bọn phát xít đã thắng và có lẽ anh nghĩ đến Miguel. Chiếc xe buýt dừng lại trước sân của một binh đoàn, chúng đưa anh xuống đó. Có nhiều tù nhân khác cũng trong tình trạng thảm hại như anh. Chúng trói chân tay tất cả bằng dây thép và thẳng cánh quẳng tất cả vào chuồng ngựa. Tại đó Jaime và mọi người qua hai ngày không nước, không cơm, thối hoắc trên cứt đái của chính họ, máu mủ của chính họ, sau cùng chúng dồn tất cả lên một chiếc ca-mi-ông chở đến tận vùng lân cận của sân bay. Trên một bãi hoang chúng bắn tất cả những người tù không còn đứng nổi trên đôi chân, và sau đó nổ mìn cho tan xác hết thẩy. Sự ghê gớm của tiếng nổ và mùi hôi thối của những mảnh thịt chết lơ lửng bay trong không khí suốt một thời gian khá dài.

Trong ngôi nhà lớn ở góc phố Thượng nghị sĩ Trueba mở một chai rượu champagne Pháp để ăn mừng cuộc đánh sụp chế độ mà ông đã từng dữ tợn chống lại, mà không ngờ tới chính trong lúc đó, anh con trai Jaime của ông bị bọn cảnh sát đốt hai hòn dái bằng mấy điều thuốc lá ngoại quốc vừa nhập cảng. Ông già treo lá cờ trên cửa ngôi nhà, và vì chân thọt và vì lệnh giới nghiêm không thể ra đường để nhẩy nhót, nhưng thâm tâm ông thật muốn như vậy, và ông đã sung sướng báo tin đó với con gái và cháu mình. Trong khi đó Alba ngồi như dính vào chiếc máy điện thoại, cố mong có được tin tức về những người thân yêu mà cô lo lắng nghĩ tới: Miguel, Pedro García Con, cậu Jaime, Amanda, Sebastián Gómez và bao nhiêu người khác nữa.

– Bây giờ, bọn chúng sẽ phải trả nợ! - Thượng nghị sĩ Trueba nâng cốc reo lên.

Alba giật chiếc cốc khỏi tay ông ngoại và quẳng nó vào tường vỡ tan tành. Blanca, người không bao giờ có can đảm chống trả với cha, mỉm cười không che đậy.

– Chúng ta không ăn mừng cái chết của tổng Thống, cũng như cái chết của bao người khác, ông ơi! - Alba nói.

Trong những dinh thự sang trọng của khu Phố Trên Cao, người ta mở nút những chai rượu đã chờ đợi từ ba năm nay và chạm cốc mừng cho trật tự mới. Trên bầu trời tại những khu phố thợ thuyền máy bay trực thăng lượn suốt đêm, ầm ì như ruồi nhặng của những thế giới nào khác vang động tới.

Rất khuya, hầu như gần tảng sáng, chuông điện thoại réo và Alba, vẫn chưa đi nằm, chạy ra nghe. Cô nhẹ người khi nghe tiếng nói của Miguel.

– Đã đến giờ hành động, em yêu ơi. Đừng tìm anh và đừng chờ anh. Yêu em - anh nói.

– Miguel! Em muốn đi cùng anh! - Alba sụt sùi.

– Đừng nói với ai về anh, Alba. Đừng gặp bạn bè nữa. Xé hết những sổ tay, giấy tờ, tất cả những gì có thể nói tới quan hệ giữa em với anh. Anh yêu em mãi mãi, hãy nhớ điều đó, em yêu - Miguel nói và đặt ống nghe.

Lệnh giới nghiêm kéo dài hai ngày. Đối với Alba đó là một thời gian vô tận. Đài phát thanh phát đi liên miên những bài hát chiến đấu và trên vô tuyến truyền hình chỉ trình bày những phong cảnh của toàn bộ đất nước và những phim hoạt hình. Trong ngày, nhiều lần xuất hiện trên màn ảnh nhỏ bốn ông tướng của Hội Đồng Quân Sự, ngồi giữa quốc trưng và quốc kỳ, để tuyên truyền phe cánh của họ: họ là những vị anh hùng mới của tổ quốc. Bất chấp cái lệnh bắn vào bất cứ ai ló mặt ra ngoài ngôi nhà của mình. Thượng nghị sĩ Trueba vẫn đi ngang qua đường đến ăn mừng tại nhà một bạn láng giềng. Cái nhộn nhạo của tiệc hội này không lôi kéo sự chú ý của bọn tuần tra qua lại trên đường phố, bởi vì đây là một khu phố chúng không phải lo gặp sự chống đối. Blanca cho biết cô thấy đau đầu kinh khủng nhất như chưa bao giờ thấy trong đời và vào buồng khóa cửa nằm trong đó. Đến đêm Alba nghe thấy tiếng mẹ đi lần xuống bếp và cô biết rằng cái đói đã mạnh hơn cả cơn đau đầu. Cô đi đi lại lại quanh nhà suốt hai ngày trong trạng thái thất vọng, xem lại những cuốn sách trong gian hầm của Jaime và cả bàn giấy của cậu để phá hủy hết những gì mà cô cho là có thể nguy hiểm. Cô cho rằng việc làm như vậy là xấu, và chắc khi cậu cô trở về sẽ nổi giận và không tin tưởng vào cô nữa. Nhưng cô cũng hủy cả những cuốn sổ ghi những số điện thoại của bạn bè, cả những bức thư tình quý báu nhất và cả những tấm hình của Miguel. Những người hầu ở trong nhà, lơ đãng và buồn chán, dùng suốt thời gian giới nghiêm để làm bánh nhân thịt, trừ có bà bếp không dứt khóc ròng, và nóng ruột chờ mong cái lúc có thể đi để tìm thồng, mà bà đã không liên lạc được.

Khi được lệnh ngừng giới nghiêm mấy tiếng để cho nhân dân có dịp đi mua thức ăn, Blanca ngạc nhiên thấy tất cả mọi cửa hiệu đều đầy ú những sản phẩm suốt ba năm nay khan hiếm, như thể mới nẩy sinh ra do một trò ma thuật, sau mọi tủ kính, quầy hàng. Chị thấy hàng đống gà đông lạnh, và có thể mua tất cả những thứ thích mua, chỉ có điều giá của chúng đắt gấp ba lần, vì đã ban bố lệnh tự do kinh doanh, tự do trong giá cả. Chị nhận thấy nhiều người nhìn ngắm những con gà một cách tò mò như thể chưa bao giờ từng nhìn thấy cái món ấy, nhưng rất ít người mua, bởi không đủ tiền trả cái giá quá cao của chúng. Ba ngày sau, mùi thịt ôi bốc lên thối mù các cửa hiệu trong thành phố.

Binh lính đi tuần tra loạn xạ trên mọi đường phố, được nhiều người mong muốn chính phủ đổ sụp vỗ tay hoan nghênh. Một vài tên, kiêu hãnh bởi sự tàn bạo của những ngày đó, bắt giữ tất cả những anh chàng để tóc hoặc râu dài, những dấu hiệu không nhầm lẫn của tinh thần phản kháng của họ, và ngăn giữa đường phố những người phụ nữ mặc quần, dùng kéo cắt quần của họ, vì chúng cảm thấy có trách nhiệm trong việc áp đặt trật tự, luân lý và lề thói đứng đắn cho mọi người. Những vị trong chính quyền mới nói họ không có dính líu gì đến những hành động đó, không bao giờ họ ra lệnh cắt râu tóc hoặc quần phụ nữ, cái đó là hành động của bọn cộng sản mặc giả làm binh lính để làm mất uy tín của Lực Lượng Vũ Trang, làm cho họ bị căm ghét bởi công chúng; họ nói không ai cấm để râu và mặc quần, nhưng hiển nhiên họ cũng thích rằng khi đi ra ngoài đường phố, đàn ông nên cạo râu nhẵn nhụi và tóc cắt ngắn, còn đàn bà thì nên mặc váy.

Tin đồn lan đi nói Tổng Thống đã chết, nhưng không một ai tin cái thông báo chính thức là Tổng Thống đã tự sát.

Tôi đợi cho tình hình đã bình thường yên ổn một chút. Ba ngày sau Tuyên cáo của Hội Đồng Quân Sự, tôi dùng chiếc xe ôtô của Quốc Hội tới Bộ quốc phòng, hơi ngạc nhiên về việc không thấy người ta tìm tôi để mời tham gia vào chính phủ mới. Ai cũng đều biết rằng tôi là kẻ thù chính của bọn Marxist, người đầu tiên chống đối với nền chuyên chính cộng sản và dám nói trước công chúng rằng chỉ có quân đội mới có thể ngăn cản không cho đất nước rơi vào trong nanh vuốt của phe tả. Thêm nữa, tôi là người đã trực tiếp gặp gỡ người chỉ huy quân sự tối cao, người đã làm nhiệm vụ liên lạc với bọn người ngoại quốc, và tôi đã đem tên tôi, của cải của tôi để mua vũ khí. Cuối cùng, tôi đã hoạt động hơn bất cứ ai. Vào độ tuổi của tôi bây giờ tôi không chú ý chút nào đến quyền lực chính trị. Nhưng tôi là một trong số ít người có thể cố vấn cho họ, vì tôi đã có nhiều thời gian giữ những chức vụ nó cho phép tôi biết hơn ai hết những gì thích hợp với đất nước này. Không có những cố vấn trung thành, thật thà và tài giỏi, thì một số tên đại tá lâm thời kia có thể làm được cái gì? Chỉ là một lũ điên cuồng, chẳng biết gì cả. Hoặc họ bị lừa gạt bởi những tên khôn khéo lợi dụng hoàn cảnh để làm giàu như thể thực tế đang diễn ra. Trong lúc này không ai biết được rồi sự thể sẽ xẩy ra như thế nào. Nghĩ rằng sự can thiệp quân sự là một bước tất yếu để vãn hồi nền dân chủ lành mạnh, cho nên tôi thấy thật cần thiết và quan trọng việc hợp tác với những nhà chức trách.

Khi tới Bộ quốc phòng tôi ngạc nhiên thấy tòa dinh thự đã biến thành một cái chuồng lợn. Những người lao công đang lau rửa sàn nhà bằng những nắm giẻ, một vài bức tường bị đạn bắn lỗ chỗ và binh sĩ chạy lung tung khắp ngả, như thể họ đang ở giữa một chiến trường thực sự hoặc đang chờ đợi kẻ thù sắp rơi từ trên mái nhà đổ xuống đầu họ. Tôi phải đợi gần ba tiếng đồng hồ mới được một sĩ quan cho gặp. Mới đầu tôi tưởng rằng trong sự hỗn loạn lung tung người ta không nhận ra tôi, vì vậy họ đối xử một cách thiếu lễ độ, nhưng sau đó tôi đã nhận ra mọi sự việc ra sao rồi. Với đôi ủng gác trên bàn giấy viên sĩ quan tiếp tôi, miệng vẫn nhóp nhép nhai một miếng bánh kẹp thịt béo ngậy, râu ria không cạo, áo khoác cởi phanh cúc. Hắn không cho tôi có thì giờ kịp hỏi về Jaime con trai tôi, cũng không cả đủ để chúc mừng về hành động dũng cảm của binh lính, nhờ đó đã cứu nạn cho Tổ quốc, mà hắn đòi tôi đưa chìa khóa của chiếc xe ôtô với lý lẽ rằng đã kết thúc Quốc Hội và vì vậy, các món bổng lộc của nghị sĩ cũng đã hết. Tôi giật nẩy mình. Rõ ràng bây giờ người ta không có ý định nối lại công việc của Quốc Hội như chúng tôi vẫn chờ đợi. Anh ta yêu cầu, không, anh ta ra lệnh cho tôi ngày hôm sau phải có mặt tại nhà thờ vào lúc mười một giờ trưa để tham dự Lễ Tạ Ân mà tổ quốc tổ chức để cám ơn Chúa Trời đã cho thắng lợi chống chủ nghĩa cộng sản.

– Có đúng ông Tổng Thống tự sát không? - tôi hỏi.

– Ông ấy đi! - hắn đáp lời tôi.

– Ông ấy đi ư? Đi đâu?

– Ông ấy đi ra máu - hắn cười.

Tôi bước ra đường phố, hoài nghi, phải đưa tay vịn vai người tài xế của mình. Chúng tôi không có phương tiện để trở về nhà, vì chưa có xe tắcxi cũng như không có xe buýt chạy mà tôi thì không còn ở trong độ tuổi có thể đi bộ về được. May sao có một chiếc xe jeep của lính cảnh sát chạy qua và họ nhận ra tôi. Người ta rất dễ dàng nhận ra tôi, như cháu gái Alba thường nói, vì tôi có một hình dáng không thể lẫn được của một ông già còng lưng, cáu giận, và vì bao giờ tôi cũng mặc quần áo tang và chống chiếc ba-toong bằng bạc.

– Lên đi, Thượng nghị sĩ - một viên trung úy nói.

Họ giúp chúng tôi lên xe. Những người cảnh sát trông có vẻ mệt mỏi và rõ ràng đã không được ngủ. Họ khẳng định với tôi là đã ba ngày nay họ đi tuần tra khắp thành phố, phải dùng cà-phê đen và viên chống ngủ để giữ cho tinh thần tỉnh táo.

– Các ông có gặp sức kháng cự tại các khu xóm thợ hoặc vành đai công nghiệp không? - tôi hỏi.

– Rất ít. Mọi người đều rất bình tĩnh - viên trung úy nói - Mong rằng tình hình sớm trở lại bình thường. Thượng nghị sĩ ạ. Tôi không thích thế này, đó là việc bẩn thỉu.

– Đừng nói như thế, người ạ. Nếu các ông không ra mặt, bọn cộng sản sẽ tiến hành cuộc đảo chính và đến lúc đó, ông, tôi và năm mươi nghìn người khác nữa sẽ chết. Ông không biết rằng chúng đã có kế hoạch để áp đặt nền độc tài của chúng hay sao.

– Cái đó người ta đã nói với chúng tôi. Nhưng trong xóm mà tôi ở có nhiều người bị giam giữ. Bọn trai trẻ ở đây cũng vậy. Vì chúng tôi phải hoàn thành mệnh lệnh. Tổ quốc trên hết, phải không.

– Chính thế đó. Tôi cũng vậy, rất buồn vì việc đã xẩy ra, trung úy ạ. Nhưng không có giải pháp nào khác nữa. Chế độ thật thối nát. Đất nước này sẽ ra sao, nếu như các ông không dùng đến vũ khí?

Tuy vậy trong thâm tâm tôi không tin chắc như thế. Tôi linh cảm thấy mọi sự việc không diễn ra như chúng tôi đã phác họa kế hoạch và tình hình như vậy đã lọt qua tay chúng tôi, nhưng trong lúc này tôi phải dằn nỗi xao xuyến của mình với cái lập luận rằng mới có ba ngày, thời gian còn quá ít để có thể lập lại trật tự một đất nước, và có thể cái tên sĩ quan thô bạo đã tiếp tôi trong Bộ quốc phòng chỉ đại diện cho một thiểu số không đáng kể trong Lực Lượng Vũ Trang. Còn đại đa số họ đều như viên trung úy chín chắn đã đưa tôi về tận nhà. Tôi giả định chỉ ít lâu thôi là trật tự sẽ tái lập và khi đã nhẹ bớt sự căng thẳng của những ngày đầu, tôi sẽ đi gặp một nhân vật cao hơn trong bộ chỉ huy quân sự. Tiếc rằng tôi đã không đến gặp tướng Hurtado, không đến vì kính nể cũng có, và vì kiêu ngạo, tôi công nhận thế, vì lẽ ra ông ấy phải đến tìm tôi chứ đâu tôi phải tìm đến ông.

Chỉ hai tuần sau nữa tôi mới được tin về cái chết của Jaime, con trai tôi, khi niềm vui sướng vì chiến thắng đã qua đi và đã trông thấy nhiều người đi tìm người chết và người mất tích. Một ngày Chủ nhật, có một người lính lẻn đến kể cho Blanca trong gian bếp những gì mà anh ta đã trông thấy ở Bộ quốc phòng và những điều anh ta biết về những xác chết bị đánh mìn cho tan nát.

– Bác sĩ del Valle đã cứu sống mẹ tôi - người lính nhìn xuống đất, chiếc mũ sắt cầm trong tay, nói - Vì vậy tôi đến nói cho các vị biết chúng giết ông ta ra sao.

Blanca gọi tôi đến để nghe chuyện mà người lính đó kể, nhưng tôi nhất quyết không tin. Tôi nói người đó đã lầm lẫn, đó không phải là Jaime, mà là một người nào khác mà anh ta đã trông thấy gian nhà đun hơi nước lò sưởi, vì Jaime có việc gì phải làm trong lâu đài Tổng Thống ngày Tuyên Cáo của Hội Đồng Quân Sự. Tôi tin chắc rằng con trai tôi đã thoát ra nước ngoài qua một lối đi nào đó trên biên giới, hoặc đang cư trú chính trị trong một sứ quán nước ngoài nào đó, vì hẳn là bọn lính đang lùng tìm anh. Mặt khác tên tuổi của nó không thấy xuất hiện trên bất kỳ bản danh sách những người mà nhà đương quyền gọi đến, vì vậy tôi suy luận rằng Jaime chẳng có gì đáng lo ngại cả.

Phải rất lâu sau, thật thế, nhiều tháng đã trôi qua, tôi mới tin được lời người lính là sự thật. Trong cảnh cô đơn buồn thảm tôi ngồi trong chiếc ghế bành của phòng thư viện chờ đợi con trai, đôi mắt chăm chăm nhìn về bực cửa ra vào, gọi tên nó trong tư tưởng, y như thường gọi Clara. Tôi đã gọi nó nhiều lần, nên cuối cùng tôi cũng tới chỗ trông thấy nó, nhưng nó hiện ra trước mặt tôi với thân hình đầy máu khô và quần áo rách mướp, kéo theo những vòng dây thép gai trên nền sàn gỗ sến đánh xi. Thế là tôi tin được con trai tôi đã chết đúng như người lính kể. Chỉ tới lúc đó tôi mới bắt đầu nói đến chế độ tàn bạo. Cháu gái Alba của tôi, ngược lại, đã trông thấy rõ hình ảnh của tên độc tài trước tôi rất nhiều. Nó trông thấy hắn nổi bật giữa những ông tướng và những con người của chiến tranh. Nó nhận ra hắn ngay lập tức, vì nó được thừa kế cái linh tính của bà Clara. Tên đó là một con người thô lỗ, có cái hình thức bên ngoài giản dị, ít lời, như thể một nông dân. Hắn dường như khiêm tốn, và ít người có thể ngờ được rằng có ngày họ sẽ được trông thấy hắn khoác trên người chiếc áo khoác hoàng đế, hai tay giơ lên cao, để làm cho quần chúng đông đảo đi ca-mi-ông kéo đến hoan hô hắn phải ngừng bặt, bộ ria rậm của hắn rung rung hợm hĩnh, hắn khánh thành tượng đài Bốn Thanh Kiếm, trên đỉnh tượng đài có đồ án xây một bó đuốc vĩnh cửu chiếu sáng rực vận mệnh của Tổ Quốc, nhưng do một sai lầm của những nhà kỹ thuật ngoại quốc, không bao giờ thấy bốc lên ngọn lửa nào, mà chỉ thấy có một luồng khói bếp đen kịt bốc lên, lượn lờ trên nền trời như một cơn dông bão của những đất nước nào khác trên thế giới.

Tôi bắt đầu nghĩ có lẽ mình đã nhầm trong xử sự, và mưu kế đó không phải là giải pháp tốt nhất để đánh đổ những tên Marxist. Càng ngày tôi càng thấy mình cô độc, vì bây giờ không ai còn cần đến tôi, tôi chẳng còn con cái, không còn Clara với sự kỳ lạ câm lặng và lơ đãng của bà làm cho bà như thể một bóng ma. Ngay cả Alba cũng mỗi ngày một ngày một xa đi. Hầu như không thấy nó ở trong nhà. Nó đi ngang qua bên tôi như một luồng gió, với cái váy dài kinh khủng bằng lông nhăn nhúm và bộ tóc xanh không tưởng được, như tóc của Rosa, luôn bận bịu vào những công việc bí mật mà nó tiến hành cùng với sự đồng lõa của bà ngoại nó. Cháu gái tôi ra đi lo lắng y như Clara trong thời kỳ có dịch bệnh sốt rét thương hàn, khi bà ấy khoác vào lưng mình cái gánh nặng đau thương của những người xa lạ.

Alba có rất ít thì giờ để than vãn về cái chết của cậu Jaime, và đòi hỏi khẩn cấp của những người cần cứu giúp cuốn hút cô ngay lập tức, khiến cho cô phải tạm dồn nén đau thương cất vào một góc để sau này sẽ than vãn khóc thương. Hai tháng sau cuộc đảo chính quân sự, Alba không được gặp lại Miguel và đã đi đến kết luận cho rằng anh cũng đã chết. Tuy vậy cô cũng không đi tìm anh, vì về mặt đó cô đã có những lời dặn dò rất chính đáng của anh, hơn nữa cô vẫn nghe thấy chúng kêu gọi anh ra đầu thú và tên của anh có trong danh mục của những người phải ra trình diện trước nhà đương cục. Điều đó đã cho cô hi vọng. “Chúng mà tìm anh, nghĩa là anh vẫn sống”, cô diễn giải. Cô lo lắng bởi cái ý nghĩ bọn chúng có thể đã tóm được anh, nên cô kêu cầu đến bà ngoại để xin bà ngăn không cho việc đó xẩy ra. “Cháu nghìn lần mong được thấy anh ấy chết còn hơn để xẩy ra điều đó, bà ạ”, cô cầu khẩn. Cô biết cái gì đang diễn ra trên đất nước, bởi vậy cô ngày đêm mang một nỗi lo buồn, hai bàn tay run run, và khi biết được số phận chẳng may của một người tù nào đó, cô sẽ thấy người như mọc mụn nhọt nổi lên từ chân đến tận đầu, như chính cô là bệnh nhân dịch hạch. Nhưng cô không thể nói điều đó với bất kỳ ai, kể cả với ông ngoại cô, vì bây giờ ai cũng muốn rằng không biết cái đó còn hơn.

Sau ngày thứ ba ghê gớm đó, cuộc đời thay đổi một cách tàn nhẫn đối với Alba. Cô phải chỉnh đốn lại những giác quan của mình để tiếp tục cuộc sống. Cô đành phải tập quen với ý nghĩ không bao giờ còn được gặp lại những người yêu quý nhất của mình: cậu Jaime, Miguel và nhiều người khác nữa. Cô kết tội ông ngoại về những việc đã xẩy ra nhưng sau đó, nhìn thấy ông ngồi còm cõi trên chiếc ghế bành, lẩm bẩm gọi Clara và con trai không lúc nào ngớt, cô lại trút tất cả lòng yêu vào ông già, chạy đến ôm lấy ông, luồn ngón tay vào những bím tóc trắng, an ủi ông. Alba thấy mọi vật đều như thủy tinh, dễ tan vỡ như những tiếng thở dài, và tiếng súng liên thanh và bom đạn của ngày thứ ba không thể nào quên được ấy, đã làm vỡ nát một phần lớn những gì mà cô quen biết, và phần còn lại thì bị rạn thành những mảnh vụn, lấm tấm những máu. Cùng với ngày tháng trôi qua, những gì mới đầu như được giữ gìn khỏi sự phá hoại, cũng đã bắt đầu thấy biểu hiện những dấu hiệu tan rã. Cô nhận thấy bạn bè và họ hàng đều lảng tránh cô, một vài người thấy cô đã bước sang bên kia đường để khỏi phải chào, hoặc quay mặt đi khi tới gần nhau. Cô nghĩ nó đã lan đi tiếng đồn cô đã giúp đỡ những người bị truy nã.

Đúng như vậy. Từ những ngày đầu, việc cấp bách lớn nhất là che chở dấu giếm những người có nguy cơ bị chết. Mới đầu Alba coi cái đó như một công việc làm hầu như thích thú vui vui, nó cho phép đặt tâm trí vào những điều khác để không nghĩ tới Miguel, nhưng rồi cô nhận thấy ngay việc đó không phải một trò chơi. Bọn binh lính cảnh cáo mọi công dân biết phải tố giác những tên Marxist và giao nộp những tên chạy trốn, hoặc sẽ bị coi như phản bội tổ quốc và bị xét xử theo tội ấy. Alba thu lại được chiếc xe ô-tô của Jaime, còn nguyên vẹn không bị bơm đạn làm hư hỏng vẫn đỗ nguyên trên quảng trường nơi cậu đỗ lại, cho tới khi Alba biết được và lái nó về. Cô vẽ hai bông hoa hướng dương lớn lên hai cửa xe bằng sơn màu vàng, khiến cho nó khác hẳn những chiếc xe khác, và như vậy giúp cô dễ dàng hơn trong nhiệm vụ mới của mình. Cô phải nhớ thuộc lòng nơi đặt trụ sở của tất cả mọi sứ quán, chiều cao của những bức tường, chiều rộng của những chiếc cổng. Thông báo có người cần phải xin cư trú đến với cô một cách đột ngột, nhiều khi qua một người không quen biết đến gặp cô ở ngang đường, và cô đoán do Miguel gửi tới. Cô đi tới chỗ hẹn giữa ban ngày và khi thấy có người ra hiệu, do nhận được hai bông hoa vàng sơn trên thành xe của cô, cô liền dừng xe cho người đó bước vội lên. Trên đường đi họ không nói với nhau, vì cô muốn không cả biết tên người đó. Có lần cô phải chở người ta đi suốt ngày, kể cả giấu người ta lẩn trốn một, hai đêm, trước khi tìm được hoàn cảnh thuận lợi để đưa người đó nhẩy qua tường vào một sứ quán có thể vào, ngay sau lưng những tên lính bảo vệ. Phương pháp đó kết quả thực tế nhanh hơn là những thủ tục đáng sợ của những vị đại sứ đáng sợ của những nền dân chủ ngoại quốc. Không bao giờ cô còn được biết về người lưu vong đó nữa, nhưng còn giữ mãi trong lòng cái bắt tay cảm ơn run rẩy của người đó, và khi mọi việc đã xong xuôi, cô thở phào nhẹ nhõm, thế là đã thoát. Nhiều trường hợp cô phải dùng cách đó cho cả những người phụ nữ không muốn dứt khỏi những đứa con, mặc dù Alba đã hứa sẽ mang những đứa nhỏ vào theo đường cửa chính, vì ngay cả những vị đại sứ nhút nhát nhất cũng không dám xua đuổi trẻ con, nhưng các bà vẫn không chịu để các con vào sau, đến độ cuối cùng, cô phải công kênh cho vào qua tường, hoặc treo ngay trong hàng rào sắt. Sau đó một thời gian, tất cả các sứ quán đều giăng hàng rào dây thép gai tua tủa, và có cả súng liên thanh bảo vệ, đến lúc ấy không còn có thể tiếp tục tổ chức nhẩy xổ vào đó nữa, nhưng cô lại bận bịu vào những sự cần thiết khác thúc bách hơn.

Chính Amanda là người đã đưa cô đến tiếp xúc trực tiếp với những ông cố đạo. Hai chị em bạn gái đó tìm gặp nhau để thầm thì trò chuyện về Miguel mà chưa một ai trong hai chị em được gặp lại, và để nhớ đến Jaime một nỗi nhớ nhung không nước mắt, vì chưa có một chứng cớ chính thức về cái chết của anh, và vì lòng mong ước của hai chị em được gặp lại anh mạnh hơn câu chuyện của người lính tìm đến nhà cho biết. Amanda lại hút thuốc lu bù, hai tay chị run run, cái nhìn của chị lại ngơ ngác. Đôi lần trong mắt chị như nở ra và cử động chậm chạp, ngớ ngẩn, nhưng vẫn tiếp tục làm việc trong bệnh viện. Chị kể rằng nhiều lần đã phải săn sóc cho những người lả đi vì đói mà người ta chở đến.

– Thân nhân của những người bị tù, bị mất tích và bị chết không có gì để mà ăn. Những người mất việc thất nghiệp cũng vậy. Hầu như cứ hai ngày mới có được một bữa cháo ngô. Trẻ em ngủ ở trường học, và thiếu dinh dưỡng.

Chị nói thêm là cốc sữa và mấy chiếc bánh xốp trước kia tất cả các em học sinh được lĩnh hàng ngày, đã bị cúp bỏ, và các bà mẹ phải bịt miệng khát sữa của các con mình bằng nước chè.

– Những người duy nhất có thể làm được chút gì để giúp mọi người là những ông cố đạo - Amanda giải thích. - Người ta không muốn biết sự thật. Nhà Thờ đã tổ chức những phòng ăn để mỗi tuần phát cơm ăn ngày một bữa trong sáu ngày, cho những đứa trẻ dưới bẩy tuổi. Rõ ràng như vậy chẳng đủ. Cứ mỗi đứa trẻ được ăn mỗi ngày một đĩa đỗ hoặc khoai tây, lại có năm đứa đứng ngoài nhìn, vì không có đủ cho tất cả.

Alba biết mọi thứ đều lùi lại thời cổ đại, thời mà bà Clara của cô đi tới khu Xóm Từ Thiện để dùng lòng từ thiện thay cho công lý. Nhưng có điều bây giờ sự từ thiện không được tiến hành. Cô chứng nghiệm rằng chạy tới nhà các cô bạn gái để xin một hộp gạo hoặc một lọ sữa bột, lần đầu họ không dám từ chối, nhưng sau đó họ lảng tránh. Mới đầu Blanca giúp cô. Alba không khó khăn gì để có được chìa khóa nhà phụ của mẹ cô, với cái lập luận rằng không cần thiết phải tích trữ loại bột tầm thường, sắp hỏng cho những người nghèo làm gì khi mà mình vẫn có thể được ăn cua bể Baltic và sô-cô-la Thụy Sĩ, loại thức ăn đó có thể tiếp tế cho những nhà ăn của các ông cố đạo trong một thời gian, mà cô thấy như rất ngắn. Một hôm cô dẫn mẹ đến thăm một trong những nhà ăn đó. Khi nhìn thấy chiếc bàn dài bằng gỗ không bào thô ráp, có hai hàng trẻ con mắt cầu khẩn ngồi chờ được chia khẩu phần ăn, Blanca òa khóc và nằm rũ hai ngày vì cơn đau đầu. Chị có thể vẫn tiếp tục than vãn vì đau, nếu như con gái không ép chị phải mặc quần áo, quên đau đi và tìm ra cách giúp đỡ người, dù có phải đi ăn cắp khoản ngân sách mà ông ngoại dành cho mẹ chị tiêu trong gia đình. Thượng nghị sĩ Trueba không muốn nghe nói đến vấn đề đói khổ đó, y như thể những người khác trong giai cấp của ông, ông không công nhận có sự đói khát đó với lòng kiên trì như đã từng không công nhận có nhiều tù nhân và người bị tra tấn đến thế, cho nên Alba không thể trông chờ vào ông giúp đỡ, và mãi sau, khi cũng chẳng thể trông chờ được vào mẹ, cô phải dùng đến những phương pháp liều lĩnh nhất. Nơi xa nhất mà ông ngoại cô thường có thể tới là Câu lạc bộ. Ông không đi chơi ở trung tâm thành phố, và càng không đi đến vùng ngoại vi thành phố hoặc các xóm nhà ngoại ô. Ông chẳng mất gì để luôn kêu lên rằng những chuyện khổ cực mà cháu gái kể cho ông nghe đều là những chuyện bịa đặt của những tên Marxist.

– Cố đạo cộng sản! - ông gào lên - chỉ còn thiếu có loại đó là thứ cuối cùng đến bây giờ mới thấy đó!

Nhưng khi bắt đầu thấy suốt ngày trẻ con và phụ nữ kéo nhau đến các cửa nhà để xin ăn, ông già không ra lệnh đóng cửa sắt và khép cánh cửa sổ để khỏi phải trông thấy cảnh đó như những nhà khác đã làm, mà ông lại chi tăng tiền ăn hàng ngày, hàng tháng cho Blanca, và dặn lúc nào cũng có một món ăn nóng sốt gì đó để cho những người ăn xin đó.

– Tình hình này chỉ là tạm thời - ông đảm bảo. - Một khi những nhà quân sự ổn định được trật tự, hết cái lộn xộn mà chủ nghĩa Marxist đã để lại cho đất nước, vấn đề này sẽ được giải quyết ngay.

Báo chí loan tin bọn ăn xin trên các đường phố mà từ bao nhiêu năm nay không hề thấy, là những tên mà chủ nghĩa cộng sản quốc tế đưa đến để hòng làm mất uy tín của Hội Đồng Quân Sự và phá hoại trật tự và tiến bộ. Chính quyền dựng một bức tường bao quanh các đường ngoại ô để bịt lối vào các xóm nghèo, che giấu những nơi đó không để lộ cho con mắt những người du lịch nước ngoài muốn thấy. Chỉ trong một đêm tự nhiên nẩy nở do một phép tiên nhiều vườn hoa tỉa xén, và những bụi cây hoa trên các đại lộ, những thứ được trồng bởi những người mất việc nhằm tạo nên sự kỳ lạ của một mùa xuân hòa hình. Họ cho quét vôi trắng lên tường xóa sạch những con chim bồ câu cũng như những tấm áp phích chính trị. Bất kỳ một toan tính viết một khẩu hiệu chính trị trên tường nơi công cộng đều bị trừng phạt bằng tràng đạn liên thanh ngay tại chỗ. Đường phố sạch sẽ, trật tự và yên tĩnh; cửa hiệu buôn bán lại mở. Ít lâu sau, những trẻ đi xin ăn đều biến mất, và Alba nhận thấy cũng không còn chó chạy hoang, cũng không còn những ụ rác. Chợ đen kết thúc ngay cùng một lúc với trận ném bom dinh tổng thống, bởi vì bọn đầu cơ sợ hãi luật nhà binh và sợ bị bắn. Trong các cửa hiệu bắt đầu bán những thứ hàng mà người ta chẳng biết đến cả tên nó nữa, và một số hàng khác mà chỉ những nhà giầu bằng buôn lậu mới có thể mua. Chưa bao giờ thành phố lại đẹp đến thế. Chưa bao giờ giai cấp đại tư bản lại sung sướng đến thế: rượu whiskey có thể mua hàng hòm, và ô-tô mua chịu giả tiền hàng tháng.

Trong cơn say sưa yêu nước của những ngày đầu, các bà phụ nữ mang đồ nữ trang của họ tới trại lính để tặng, góp phần vào việc kiến thiết quốc gia, tặng cả đến những chiếc nhẫn cưới và thay vào đấy họ đeo những chiếc nhẫn bằng đồng có huy hiệu quốc trưng. Blanca phải đem giấu chiếc tất len trong đựng những món nữ trang mà Clara đã để lại cho, không để cho Thượng nghị sĩ Trueba đem đến nộp cho các vị chính quyền. Mọi người thấy nẩy sinh ra một giai cấp xã hội mới rất kiêu ngạo. Những vị phu nhân chính cốt nhất, mặc quần áo may ở những phương trời khác, kỳ lạ và lóng lánh như những con đom đóm, ưỡn ẹo lượn trong những trung tâm giải trí, khoác tay những nhà kinh tế kiêu hãnh mới. Nẩy sinh ra một tầng lớp quân nhân nhanh chóng chiếm giữ những chức vụ then chốt. Những gia đình trước kia đã từng cảm thấy bất hạnh đã có một người trong gia đình là quân nhân, bây giờ giành nhau ảnh hưởng để có thể đưa được con cái vào các học viện chiến tranh và gả con gái họ cho quân nhân. Khắp nước đầy những binh sĩ mặc đồng phục, đầy máy móc chiến tranh, đầy cờ sí, hành khúc và diễu hành, vì những nhà quân sự biết rõ sự cần thiết của nhân dân mong muốn có những biểu tượng và lễ nghi riêng của họ. Thượng nghị sĩ Trueba, về nguyên tắc khinh ghét những cái đó, và hiểu biết điều mà bạn bè ông ở Câu lạc bộ muốn nói, khi họ đảm bảo rằng chủ nghĩa Marx không có được một hoàn cảnh nhỏ nhất để nở tại châu Mỹ La-tinh vì nó không nhìn nhận đến mặt huyền ảo của mọi sự vật “Bánh mì, trò xiếc và một chút gì đó để tôn thờ, đó là tất cả những gì mà người ta cần”, Thượng nghị sĩ kết luận, nhưng trong thâm tâm ông phàn nàn là đang thiếu bánh mì.

Người ta dàn đựng cả một chiến dịch nhằm xóa sạch trên mặt đất cái tên gọi đẹp đẽ của cố Tổng Thống, với hi vọng làm cho nhân dân thôi không còn khóc thương ông nữa. Người ta mở cửa ngôi nhà ông ở và mời dân chúng tới tham quan cái mà người ta gọi là “lâu đài của tên độc tài”. Mọi người có thể nhìn thấy bên trong các tủ quần áo của ông, và kinh ngạc nhận thấy số lượng và chất lượng của những tấm áo da dê non của ông, mọi người có thể lục lọi những hòm hộp của ông, lục lọi những gian nhà phụ của ông, để trông thấy rượu rum Cuba và từng bao đường mà ông vẫn cất giữ. Người ta cho lưu hành những tấm ảnh dựng lên một cách kỳ cục, trong đó thấy ông xuất hiện như thần Bacchus, với những chùm nho quấn quít quanh đầu, đang hành lạc với những mụ to béo và những nhà lực sĩ cùng giới tính của ông, trong một tiệc hội truy hoan bất tận mà không một ai, kể cả Thượng nghị sĩ Trueba, tin được rằng có thực. “Cái đó thật quá đáng, họ tự hoại tay mình trong cái trò này”, ông già càu nhàu khi biết việc đó.

Bằng một nhát bút lông bọn quân phiệt đã thay đổi cả lịch sử thế giới, xóa hết mọi thời đại, mọi ý thức hệ và mọi nhân vật mà chế độ của chúng không chấp nhận. Họ chỉnh lý lại bản đồ, bởi nghĩ chả có lý do gì để đặt miền Bắc lên trên, xa xôi biết bao với tổ quốc đáng khen của họ, nếu như đặt nó xuống dưới nó sẽ được nhiều đặc quyền hơn, và tiện thể họ tô luôn mầu xanh nước Phổ cho những biên giải mênh mông của lãnh hải đến tận giới hạn của châu Á và châu Phi, và trong sách địa lý in dạy học sinh họ đã cướp đoạt những đất đai xa xôi, vẽ những giải biên cương của mình một cách không sợ hình phạt, đến độ những nước anh em cũng mất kiên nhẫn, phải kêu lên tại Liên Hợp Quốc và dọa sẽ cho xe tăng và máy bay chiến đấu đến dội bom xuống đầu họ. Việc kiểm duyệt mà lúc đầu chỉ nhằm vào những phương tiện thông tin, nhanh chóng được mở rộng ra cả những bài giảng cho học sinh, lời thơ của những bài hát, chuyện của những phim ảnh và cả đến những cuộc chuyện trò riêng tư nữa. Có những chữ bị nhóm quân sự cấm không được dùng, ví dụ chữ “đồng chí”, và những chữ không được nói để đề phòng tránh lôi thôi, dù cho nó không thuộc nhóm chữ đã bị tước bỏ trong từ điển, như những chữ tự do, công lý và công đoàn. Alba tự hỏi không biết từ đâu mà trong nháy mắt nhẩy xổ ra lắm tên phát xít đến thế, vì trên suốt chặng đường dài của nền dân chủ của đất nước cô, chưa bao giờ người ta trông thấy những thứ đó, chỉ là có một vài tên quá khích trong thời kỳ chiến tranh, đã điên rồ bắt chước mặc sơ-mi đen và đi diễu hành với cách tay giơ cao, giữa những tràng cười và tiếng huýt sáo của những người bộ hành, những tên không có một chức tước gì quan trọng trong đất nước. Cô cũng chẳng thể cắt nghĩa cho hiểu được thái độ của Lực Lượng Vũ Trang, mà đại đa số trong đó thuộc giai cấp trung lưu và giai cấp công nhân, và đứng về mặt lịch sử vẫn ở gần với phe tả hơn là gần phe cực hữu. Cô không hiểu được tình trạng nội chiến, cũng không nhận ra rằng chiến tranh là tác phẩm nghệ thuật của bọn quân sự, là đỉnh cao tận cùng của sự huấn luyện của họ, là chiếc chổi vàng của nghề nghiệp họ. Họ không sinh ra để lóng lánh trong hòa bình. Cuộc đảo chính đã cho họ dịp để áp dụng những gì mà họ đã được huấn luyện trong đồn trại, thực hiện sự phục tùng mù quáng, và sử dụng vũ khí và những nghệ thuật khác mà những người binh sĩ có thể nắm vững khi những sự thận trọng chính đáng của trái tim đã câm lặng không còn thôi thúc.

Alba bỏ học, vì Khoa Triết cũng như rất nhiều khoa khác có mục đích mở cánh cửa tư tưởng con người đều bị đóng cửa. Cô cũng không theo học âm nhạc nữa, cây đàn cello đối với cô tựa như một sự phù phiếm trong hoàn cảnh này. Rất nhiều giáo sư bị đuổi, bị bắt giữ hoặc mất tích tùy theo một bản danh sách mật do cảnh sát chính trị lập ra. Sebastián Gómez bị chúng giết ngay từ cuộc càn ráp đầu tiên, vì bị chính học trò của ông tố giác. Trong trường đại học đầy những tên do thám.

Tầng lớp đại tư bản và kinh tế phái hữu đã tài trợ cho cuộc đảo chính quân sự thật khoan khoái. Mới đầu họ có hơi lo sợ một chút, khi thấy hậu quả của hành động của họ, vì từ xưa chưa bao giờ họ từng sống trong một chế độ độc tài nên cũng không hiểu nó sẽ ra sao. Họ nghĩ sự mất dân chủ sẽ chỉ tạm thời thoáng qua và họ có thể sống một thời gian không có tự do cá nhân cũng như quần thể, nhưng bao giờ chế độ cũng tôn trọng sự tự do kinh doanh. Họ cũng chẳng quan tâm đến việc mất uy tín với quốc tế, người ta đặt họ vào cùng loại với những chế độ bạo chúa trong những khu vực khác, vì họ cho rằng cái giá ấy quá rẻ đối với việc đánh đổ chủ nghĩa Marxist. Khi những món tư bản nước ngoài đầu tư vào, họ nói đó là nhờ chế độ mới đã yên vững, và bỏ qua không nói đến việc cứ mỗi đồng peso đầu tư vào thì sẽ phải trả hai đồng peso tiền lãi. Đến khi hầu như tất cả nền công nghiệp quốc gia, từng xưởng máy một dần dần đóng cửa hết, những nhà buôn bắt đầu vỡ nợ, thất bại tan tác bởi sự nhập cảng tràn lan những hàng hóa tiêu dùng, người ta nói bếp lò Brazil, vải vóc Đài Loan, mô-tô Nhật Bản đều tốt hơn rất nhiều so với tất cả những gì mà trong nước chưa hề sản xuất. Chỉ tới khi người ta trao trả lại nhượng quyền các hầm mỏ sau ba năm quốc hữu hóa, cho các công ty Mỹ, mới có một vài người lên giọng nói rằng cái đó thật cũng như là mang tổ quốc gói trong giấy bóng làm quà tặng. Nhưng khi người ta bắt đầu trao lại cho những chủ đất cũ những đất ruộng mà cải cách ruộng đất đã phân chia, các nhà tư sản bắt đầu yên tâm thấy rằng những thời kỳ đẹp đẽ xưa kia đã quay trở lại. Họ nghĩ rằng chỉ có một nền độc tài mới có thể hành động với hết sức mạnh của mình và không phải báo cáo với ai cả, để có thể đảm bảo cho đặc quyền của họ, thế là họ thôi không nói đến chính trị và chấp nhận việc họ thì nắm quyền lực kinh tế, còn những nhà quân sự sẽ nắm quyền cai trị. Việc duy nhất mà phe hữa phải làm là cố vấn cho những nhà quân sự trong việc soạn thảo những nghị định và luật pháp mới. Sau một số ngày họ thủ tiêu mọi hoạt động công đoàn, thủ tiêu những nhà lãnh đạo công nhân đã bị bắt giữ, tuyên bố các đảng phái chính trị phải ngừng hoạt động vô thời hạn, và tất cả những tổ chức của những người lao động, của sinh viên, đến cả những trường dạy nghề cũng bị cấm hoạt động. Họ ra lệnh cấm không được tụ họp, tổ chức. Nơi duy nhất mà mọi người có thể hội họp được là nhà thờ, vì vậy chỉ sau một thời gian ngắn tôn giáo trở thành cái mốt, và những ông cố đạo và những bà tu sĩ phải hoãn công việc về tinh thần lại sau, để cứu giúp những nhu cầu trần tục cấp thiết cho bầy con chiên lạc lối. Chính phủ và những nhà doanh nghiệp bắt đầu nhìn cố đạo như những kẻ thù có thế lực, và một vài tên phái hữu đã mơ tưởng đến giải quyết vấn đề bằng cách ám sát hồng y giáo chủ, vì Giáo Hoàng từ La Mã từ chối không nghe họ bãi chức ông, hoặc đẩy ông vào một nhà an dưỡng của những giáo sĩ bị bệnh tâm thần.

Một phần lớn trong giai cấp trung lưu vui mừng vì đảo chính quân sự, vì đối với họ cái đó có nghĩa là trở lại trật tư, và những lề thói thanh cao, những chiếc váy trên mình phụ nữ và bộ tóc ngắn trên đầu nam giới, nhưng họ lại rất nhanh chóng phải chịu đựng trận cuồng phong của giá cả tăng vọt và nông nỗi thiếu công ăn việc làm. Người làm việc lương không đủ để ăn. Trong mọi gia đình đều có một người nào đó phải phàn nàn mà không thể nói được như lúc đầu là bị tù, bị chết hoặc bị lưu vong cũng đáng thôi. Và cũng không ai còn chối cãi được là không có dã man tra tấn nữa.

Trong khi việc kinh doanh những thứ hàng sa sỉ, những công việc tài chính kỳ diệu, những hiệu ăn kiểu nước ngoài, những hãng nhập cảng đồ tiêu dùng nước ngoài nở như hoa, thì ở trước cửa mọi xưởng máy, người không có việc làm đứng xếp hàng dài chờ đợi thời cơ được thuê làm việc ít nhất lấy một ngày. Nhân công hạ thấp đến mức của thời kỳ nô lệ, và lần đầu tiên trong rất nhiều thập kỷ gần đây, những ông chủ có thể đuổi người làm tùy thích mà không phải trả tiền bồi thường, và thêm nữa có thể tống họ vào nhà tù vì một tội phản kháng nào nhỏ nhất.

Trong những tháng đầu Thượng nghị sĩ Trueba thuộc loại lạc quan trong hàng ngũ giai cấp ông. Ông tin chắc chắn vào sự cần thiết một thời kỳ độc tài để cho đất nước quay trở lại con đường tốt đẹp mà không bao giờ được chệch ra khỏi nó. Ông là người điền chủ đầu tiên đòi lại được ruộng đất, tài sản. Họ trả lại ông đồn điền Ba Cô Maria hoang tàn, nhưng đầy đủ, đến tận mét vuông cuối cùng. Gần hai năm nay ông đã nghiền ngẫm căm thù, chờ đợi giây phút đó. Không cần suy nghĩ đến lần thứ hai, ông dông luôn về đồn điền cùng nửa tá tên giết người thuê, và có thể thỏa thích trả thù bọn nông dân đã dám chống đối coi khinh ông và cướp đoạt tài sản của ông. Bọn ông về đồn điền vào một buổi sáng Chủ nhật rực rỡ, trước ngày lễ Nôen mấy hôm. Họ xông vào trang trại sát khí bừng bừng như một bọn cướp biển. Mấy tên giết người thuê xông vào khắp mọi nơi, kêu thét, đánh đập, đá đạp tất cả mọi người, dồn tất cả người, gia súc vào trong sân trại, sau đó dội ét-xăng vào những căn nhà gạch nhỏ trước kia là niềm kiêu hãnh của Esteban Trueba rồi nổi lửa đốt cùng mọi thứ bên trong. Chúng bắn chết súc vật, đốt cầy cuốc, chuồng gà, xe đạp, và đến cả những chiếc nôi của trẻ sơ sinh, như trong một cuộc hội vui nhộn nhạo giữa buổi trưa, thiếu chút nữa khiến cho ông già Trueba phải chết vì sung sướng. Ông đuổi hết tá điền kèm theo lời cảnh cáo nếu còn trông thấy họ quanh quẩn trong phạm vi đồn điền, họ sẽ phải chịu chung số phận như lũ súc vật. Trueba nhìn thấy họ lủi thủi kéo nhau ra đi nghèo khổ hơn bất cứ lúc nào khác, một dãy dài như một đám rước buồn thảm, kéo theo đủ cả trẻ con, ông già bà cả, mấy con chó còn sống sót, mấy con gà thoát khỏi địa ngục, lê chân trên con đường bụi mù dẫn họ xa rời mảnh đất mà họ đã sống qua nhiều thế hệ. Trước cổng đồn điền Ba Cô Maria có một toán người nghèo khổ đang đứng chờ với đôi mắt lo âu. Đó là những nông dân không có việc, bị đuổi khỏi những trang trại khác, nghèo khổ không kém ông bà tổ tiên họ từ những thế kỷ trước, tới đây để cầu xin ông chủ thuê mướn họ trong việc cầy cấy mùa sắp tới.

Đêm đó Esteban Trueba ngủ trên chiếc giường sắt của bố mẹ ông để lại, trong ngôi nhà chính của đồn điền từ lâu vắng mặt ông. Ông mệt mỏi và trong mũi còn dính mùi lửa cháy và mùi của súc vật đem đốt cháy để cho bầu không khí khỏi nhuốm mùi hôi thối. Than lửa còn lại của những ngôi nhà gạch nhỏ bị cháy vẫn còn âm ỉ, và xung quanh tất cả đều là tàn phá và chết chóc. Ông thấy rằng ông có thể xây dựng lại đồng đất của mình như thể đã từng làm như vậy một lần, vì những khoang chăn bò ngựa còn nguyên vẹn, và sức khỏe của ông cũng còn tương đối. Cái thú trả thù đã thỏa mãn nhưng ông vẫn không ngủ được. Ông cảm thấy mình như người cha đã trừng phạt con cháu một cách quá đáng. Suốt đêm ông trông thấy những khuôn mặt của những người tá điền mà ông đã từng nhìn thấy họ sinh ra trên đồn điền của ông, họ đi ra trên đường cái. Ông thầm rủa sự cáu giận của mình, và những ngày sau ông cũng không ngủ được, và khi ông có thể chợp mắt lại nằm mơ thấy Rosa. Ông không nói với ai về những việc đã làm và thề với mình rằng đồn điền Ba Cô Maria sẽ lại trở thành đồn điền kiểu mẫu như xưa kia đã từng một lần như vậy. Ông cho lan truyền đi tin đồn rằng ông đang sẵn sàng nhận lại những tá điền nào quay trở về. Nhưng họ đã tản mát đi khắp mọi nơi, trên đồng ruộng, trên rừng núi, một số cuốc bộ đến những vùng mỏ, một số khác đến các đảo ở miền Nam, để tìm bánh ăn hàng ngày cho gia đình họ bằng bất kỳ công việc gì. Không một ai quay trở lại. Chán ngán, ông chủ trở về thành phố với tâm trạng thấy mình già hơn bất cứ bao giờ. Tâm hồn ông nặng trĩu.

Nhà Thơ hấp hối trong ngôi nhà cạnh biển của ông. Ông ốm, và những sự kiện xảy ra những ngày vừa qua đã vắt kiệt của ông cái ước muốn tiếp tục sống trên đời. Bọn lính đã san phẳng nhà ông, vất hết những bộ sưu tập vỏ trai, ốc, bươm bướm, chai lọ và những chiếc mặt nạ mũi tầu thu lượm được từ biết bao miền biển, sách vở, tranh vẽ, những vần thơ chưa kết thúc, để tìm vũ khí lật đổ và cộng sản ẩn dấu, đến độ quả tim nhà thơ già của ông bắt đầu loạn nhịp nhói đau. Người ta đưa ông tới thủ đô. Bốn ngày sau đó ông chết, và những lời cuối cùng của con người đã ca hát cuộc đời là một tiếng kêu: sẽ bắn chúng đi! sẽ bắn chúng đi! Không một người bạn nào có thể tới gần ông vào giờ ông chết, vì họ đều bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, phải chạy trốn, lưu vong, hoặc đã chết. Ngôi nhà mầu thanh thiên bên sườn đồi của ông đã một nửa biến thành đống vụn nát, sàn gỗ bị cháy, cửa kính vỡ tan, không còn biết đó là do hành động của bọn lính, theo như những người lân cận nói, hay là do hành động của những người hàng xóm, theo như binh lính nói. Tại đó một số rất ít người đã dám đến để trực tang ông, và nhà báo của khắp mọi miền trên trái đất đến để đưa tin về đám tang ông. Thượng nghị sĩ Trueba là kẻ thù lý tưởng của ông, nhưng xưa cũng đã từng tiếp nhận Nhà Thơ nhiều lần trong nhà mình và thuộc lòng nhiều câu thơ của Nhà Thơ. Thượng nghị sĩ cũng mặc áo tang đen, cùng cô cháu gái Alba đến trực tang Nhà Thơ. Hai người đứng gác bên cạnh chiếc quan tài bằng gỗ đơn giản và đưa Nhà Thơ đến tận nghĩa trang vào một buổi sáng đáng buồn. Alba cầm một cành hoa loa kèn đầu mùa, đỏ như máu. Đám tang ngắn ngủi đi bộ, chầm chậm, trên đường đến nơi đất thánh ở giữa hai hàng lính canh giữ hai bên lề đường.

Đám tang đi lặng lẽ. Đột nhiên, một người giọng khàn khàn kêu thét lên tên của Nhà Thơ, và tất cả các giọng đồng thanh phát ra từ mọi cuống họng một lời duy nhất để đáp lại: Có mặt! Bây giờ và mãi mãi! Tiếng nói như thể một nắp van mở ra, và tất cả mọi nỗi đau thương, sợ hãi và căm giận của những ngày đó, bật ra khỏi lồng ngực lăn tròn trên đường phố, rồi bay lên thành một tiếng chuông cầu nguyện ghê gớm tới những lớp mây đen trên bầu trời. Một người khác thét lên: Đồng chí Tổng Thống! Và mọi người đáp lại bằng một tiếng than, tiếng khóc của con người: Có mặt! Dần dần đám táng của Nhà Thơ biến thành một cuộc mít tinh tượng trưng sự tống táng nền tự do của đất nước.

Đi gần cạnh Alba và ông ngoại cô, phóng viên hãng truyền hình Thụy Điển mở máy quay phim để gửi về đất nước lạnh buốt của giải Nobel cái quang cảnh dọa nạt đáng sợ của những khẩu đại liên bố trí ở hai bên đường phố, rồi những khuôn mặt của mọi người, rồi chiếc quan tài phủ đầy hoa, và một toán phụ nữ lặng lẽ chen chúc trước cổng của Nhà Xác, cách nghĩa trang hai dãy phố, để đọc những bản danh sách của những người đã chết. Giọng nói của tất cả mọi người bay lên thành một lời ca tràn đầy không trung, và những khẩu hiệu đã bị cấm lại bay lên như tiếng thét câu nhân dân đoàn kết không bao giờ thất bại, ngay trước mũi súng đang run rẩy trong tay bọn lính. Đám ma đi qua một công trường đang xây, và những người thợ buông dụng cụ làm việc, bỏ mũ sắt và tập hợp thành một hàng, cúi đầu đi theo sau. Một người đàn ông, mặc chiếc sơ-mi cổ tay đã sờn, không có véxtông và đôi giầy đã méo mó, vừa đi vừa đọc những câu thơ cách mạng nhất của Nhà Thơ, nước mắt đầm đìa trên mặt. Thượng nghị sĩ Trueba đi bên cạnh, nhìn theo người đó bằng đôi mắt hoảng sợ.

– Đáng tiếc là ông ta lại là cộng sản - Thượng nghị sĩ nói với cháu gái - Đúng là một nhà thơ tài giỏi với những ý tứ thật khuấy động xốn xang! Nếu ông ấy chết trước ngày Tuyên Cáo của Hội đồng Quân Sự, ông ấy có thể được cả nước truy điệu.

– Nhà thơ đã biết cách chết cũng như đã biết sống, ông ạ - Alba đáp.

Cô gái tin chắc rằng Nhà Thơ đã chết đúng lúc, vì không có một lễ truy điệu nào lại có thể lớn hơn cuộc diễu hành khiêm tốn của một số nam, nữ đi đưa và chôn ông trong một ngôi mộ thuê, tất cả thét lên lần cuối cùng những vần thơ về chính nghĩa và tự do của ông. Hai ngày sau trên báo chí xuất hiện một thông báo của Hội Đồng Quân Sự ban bố lễ quốc tang cho Nhà Thơ và cho phép treo cờ rũ tại những nhà tư nhân nào muốn vậy. Lệnh đó có hiệu lực từ lúc nhà thơ chết tới ngày xuất hiện thông báo trên báo chí.

Không thể ngồi mà khóc cái chết của cậu Jaime, Alba cũng không thể mất hết lý trí vào nỗi mong nhớ Miguel hoặc ngồi than thở cho Nhà Thơ. Cô bị cuốn hút vào nhiệm vụ dò tìm những người mất tích và kiếm thức ăn ủng hộ những nhà ăn của các vị cố đạo. Tuy vậy trong cảnh tĩnh mịch của đêm khuya, khi thành phố đã mất đi cái vẻ bình thường thực dụng và hòa bình trong ca kịch của nó rồi, Alba lại cảm thấy bị dằn vặt bởi những tư tưởng dông bão đã dẹp yên được nó ban ngày. Trong đêm khuya chỉ còn tiếng những xe thùng kín chở đầy xác chết và người bị bắt, cùng những chiếc ô-tô của cảnh sát chạy ngoài đường, như thể chó sói lạc bầy lởn vởn trong bóng tối của giờ giới nghiêm. Alba run rẩy trên giường. Cô cảm như có những hồn ma rách nát từ bao nhiêu người chết không hề quen biết hiện ra trước mất, và cô nghe thấy ngôi nhà lớn thở những tiếng hổn hển của một bà già, cô lắng tai và cảm thấy từ trong xương cốt có những tiếng động đáng sợ: tiếng phanh rít xa xa, một tiếng cửa xe đóng sập, những tiếng súng đối đáp, những bước đi của giày ủng, một tiếng thét khô gọn. Sau đấy tất cả yên tĩnh trở lại và kéo dài đến tảng sáng, cho đến lúc thành phố sống động lại và mặt trời như xóa sạch dần những sự khủng bố trong đêm. Cô không phải là người duy nhất không ngủ ở trong nhà. Nhiều lần cô thấy ông ngoại mặc áo ngủ và đi giầy vải, già và buồn hơn lúc ban ngày, đi hâm một chén nước súp và miệng càu nhàu những câu chửi rủa kiểu cướp biển, vì ông thấy đau xương, và đau tinh thần. Cả mẹ cô cũng vậy, thường lục lọi trong bếp hoặc đi qua lại như thể một bóng ma lúc nửa đêm suốt những căn phòng trống trải.

Cứ như thế nhiều tháng trôi qua và tiến tới rõ ràng mọi người đều thấy, kể cả Thượng nghị sĩ Trueba, là bọn quân sự đã cướp chính quyền để mà giữ lấy nó chứ không phải để trao chính phủ lại cho những nhà chính trị phái hữu đã tài trợ cho cuộc đảo chính. Bọn chúng là một nòi giống riêng biệt, anh em giữa chúng với nhau nói một thứ tiếng khác với tiếng nói của những người dân sự, và sự đối thoại đối với chúng chỉ như cuộc thảo luận giữa những thằng điếc, vì một sự trái ý kiến bé nhỏ nhất đều bị coi như một sự phản bội trong những điều lệnh danh dự cứng nhắc của chúng. Trueba thấy trong những kế hoạch chúa cứu thế của bọn chúng không có tên những nhà chính trị. Một hôm ông bàn bạc với Blanca và Alba về tình hình. Ông phàn nàn về hành động của bọn quân sự, dự định chỉ dùng chúng đè bẹp cái nguy hiểm của một nền độc tài Marxist, lại dẫn đất nước đến chỗ phải chịu đựng một nền độc tài khắc nghiệt hơn nhiều, và rõ ràng nó sẽ muốn kéo dài một thế kỷ. Lần thứ nhất trong đời Thượng nghị sĩ Trueba chấp nhận mình đã sai lầm. Ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế bành như thể một ông già đã kiệt quệ, con và cháu trông thấy ông lặng lẽ khóc. Ông không khóc vì đã mất quyền lực. Ông đang khóc cho tổ quốc.

Blanca liền lại gần ông, cầm tay ông và thú thực đã dấu Pedro García Con sống trong nhà như một tên ăn trộm, trong một căn phòng bỏ hoang mà Clara đã xây dựng trước kia, trong thời kỳ của những hồn ma. Sau hôm đảo chính quân sự, những bản danh sách người phải ra trình diện trước nhà đương cục được công bố. Tên tuổi của Pedro García Con có trong danh sách đó. Một vài người vẫn cho rằng trong đất nước này không bao giờ xảy ra việc gì, cuốc bộ đến trình diện tại Bộ quốc phòng, và đã trả giá bằng cuộc đời của họ. Pedro García Con tiên cảm thấy sự man rợ tàn ác của chế độ mới trước tất cả mọi người, có lẽ vì suốt ba năm vừa qua anh đã biết rõ được Lực Lượng Vũ Trang và không tin vào câu chuyện nói trên đất nước này họ không giống bọn quân sự ở những nước khác. Ngay trong đêm đó, trong tình trạng giới nghiêm, anh đã luồn đến tận ngôi nhà lớn ở góc phố và gọi dưới cửa sổ buồng Blanca. Khi chị ló ra, mắt còn mờ phủ bởi cơn đau đầu chưa dứt, không nhận ra anh vì anh đã cạo râu và đeo kính râm.

– Chúng đã giết Tổng Thống - Pedro Con nói.

Blanca dẫn anh vào trong một phòng trống. Rồi chị sửa soạn một nơi ẩn núp khẩn cấp cho anh mà không ngờ phải giữ anh ẩn núp như vậy mấy tháng nay, trong lúc bọn lính càn quét khắp đất nước như cào sới để tìm bắt anh.

Blanca nghĩ không ai có thể ngờ đến việc Pedro García Con lại có thể ở trong nhà Thượng nghị sĩ Trueba ngay trong lúc mà ông già đang đứng nghe thánh ca trong lễ Tạ ân tại nhà thờ. Đối với Blanca đó là thời kỳ hạnh phúc nhất của cuộc đời chị.

Còn đối với Pedro García Con, giờ giấc trôi đi chậm chạp y như những ngày ở trong tù. Anh suốt ngày bị giam trong bốn bức tường, cửa ra vào khóa chặt để cho không một ai có thể vào với ý định lau chùi, và cửa sổ cũng đóng kín và buông rèm che phủ. Ánh sáng ban ngày không lọt được vào buồng nhưng anh đoán được nó qua sự thay đổi sắc điệu của các khe cửa chớp. Ban đêm anh mở tung cửa sổ để căn buồng thoáng gió - khỏi cái mùi của bô vệ sinh tuy đóng kín - và thở hít từng hơi dài cái không khí tự do. Anh để tất cả thì giờ vào việc đọc những cuốn sách của Jaime mà Blanca giấu diếm mang vào, và nghe ngóng những tiếng động ở ngoài đường, tiếng xì xào của chiếc radio mở ở độ nhỏ nhất. Blanca kiếm được cho anh một cây guitar mà chị lấy mấy sợi len đặt dưới giây đàn để không ai có thể thấy tiếng đàn anh soạn một cách âm thầm những bài hát về quả phụ, về trẻ mồ côi, về tù nhân và những người mất tích. Anh cố gắng sắp xếp một thời gian biểu hợp lý cho hết ngày: tập thể dục, đọc sách, học tiếng Anh, ngủ trưa, sáng tác nhạc, rồi lại tập thể dục, nhưng làm xong tất cả những việc đó rồi anh thấy vẫn còn quá nhiều thời giờ rỗi rãi, và cuối cùng đành ngồi chờ tiếng mở khóa cửa để trông thấy Blanca bước vào, đem cho anh báo, bữa ăn, nước sạch để lau rửa. Họ yêu nhau một cách tuyệt vọng, sáng tạo ra nhiều cách thức bị nghiêm cấm mà sự sợ hãi và niềm say mê đã làm cho trở thành những chuyến ngao du ảo tưởng đến tận những vì sao. Blanca đã phải chịu đựng tiết dục, cùng với những vòng kinh chín chắn dần lên, nhưng những cuộc gặp gỡ yêu đương đột ngột của thời kỳ này đã làm cho chị như quay trở lại tuổi thanh niên lần nữa. Da của chị sáng đẹp hơn, bước đi lại của chị nhịp nhàng hơn, giọng nói của chị như thánh thót hơn. Chị vui vẻ tươi tỉnh từ bên trong con người và đi đi lại lại như người đang mơ mộng. Chưa bao giờ trông chị đẹp như thế. Đến cả cha chị cũng nhận thấy thế và gán cái vui tươi đẹp đẽ của chị là nhờ có được yên tĩnh và thừa thãi. “Từ khi không phải xếp hàng, Blanca thật như một con người mới”, thượng nghị sĩ Trueba nói. Alba cũng nhận thấy như thế. Cô theo dõi mẹ. Cái bệnh mộng du của mẹ cô đối với cô có vẻ đáng ngờ, cũng như cái lối mang cơm về phòng để ăn mà mẹ mới sinh ra. Hơn một lần cô đã định rình mẹ trong đêm, nhưng những công việc bận bịu ban ngày đã làm cho cô mệt mỏi và, khi cô không ngủ được, lại sợ không dám làm một cuộc phiêu lưu trong các gian phòng trống rỗng, trong đó xì xào đầy những hồn ma.

Pedro García Con gầy đi và mất cả cái vui tính và sự ngọt ngào là những tính cách đặc biệt của anh từ trước. Anh buồn chán, ca cẩm về sự tù túng tình nguyện của mình và rên la về nỗi lo lắng mong tin tức của bè bạn. Chỉ có sự có mặt của Blanca mới làm cho nỗi buồn bực của anh dịu bớt. Khi chị bước vào phòng, anh nhẩy tới ôm lấy chị như điên cuồng để dẹp yên nỗi khủng khiếp của ngày giờ và cái chán chường của hàng tuần lễ. Bắt đầu anh thấy bị ám ảnh bởi cái ý nghĩ mình thật là phản bội và hèn nhát đã không cùng chia sẻ nỗi đau của số phận cùng bao nhiêu người khác, và điều chân chính nhất phải là đối mặt hoàn toàn với thử thách của số phận. Blanca tìm cách khuyên giải anh hằng những lý lẽ hay nhất của chị, nhưng anh không nghe. Chị cố để giữ anh bằng sức mạnh của tình yêu đã dành lại được, bón thức ăn cho anh đến tận miệng, tắm rửa kỳ cọ cho anh bằng một tấm khăn ướt và xoa phấn cho anh như xoa cho một đứa bé con, cắt tóc và móng chân, móng tay cho anh, cạo râu cho anh. Cuối cùng chị vẫn phải cho anh thuốc an thần vào cơm ăn và thuốc ngủ vào nước uống, để đưa anh vào những giấc ngủ say sưa, mệt mỏi, mà khi thức dậy anh thấy miệng khô và trái tim thêm thắt lại. Chỉ sau mấy tháng Blanca nhận thấy không thể giữ anh làm tù nhân vô định kỳ mãi được, chị từ bỏ những kế hoạch chế ngự tinh thần anh để biến anh thành người yêu vĩnh cửu. Chị hiểu anh đang chết dần trong cuộc sống, vì đối với anh sự tự do còn quan trọng hơn tình yêu, và cũng không có môn thuốc thần kỳ nào có thể làm cho anh thay đổi được thái độ.

– Giúp con đi, cha! - Blanca cầu khẩn Thượng nghị sĩ Trueba - Con cần đưa được anh ấy ra nước ngoài.

Ông già thấy tê liệt toàn thân bởi bất ngờ, và biết mình đã kiệt lực đến mức nào rồi khi ông muốn tìm cơn lôi đình và nỗi căm thù xưa kia mà không thể nào thấy nó. Ông nghĩ đến cái tên nông dân đã chia sẻ một tình yêu hàng nửa thế kỷ nay với con gái ông mà không phát hiện ra một lý lẽ nào để ghét bỏ nó, ngay cả để ghét bỏ cái áo mảnh chăn khoác ngoài, cái bộ râu Đảng Xã Hội, cái kiên trì và những bài hát về những con gà mái đuổi đánh con cáo của nó.

– Ôi chao! Chúng ta phải đưa nó đi cư trú chính trị thôi, bởi lũ chúng tìm thấy nó trong ngôi nhà này, chúng sẽ cho tất cả chúng ta đi tiêu - đó là điều duy nhất mà ông già bật nói.

Blanca vòng tay ôm lấy cổ ông, vừa hôn chùn chụt vào má ông vừa khóc thút thít như một đứa con nít. Đó là một cử chỉ vuốt ve âu yếm bột phát đối với người cha mà kể từ thời kỳ thơ ấu xa xưa đến nay bây giờ mới có.

– Con có thể đưa cha con vào một sứ quán - Alba nói. - Nhưng chúng ta cần phải chờ một thời cơ thuận lợi, và cha con phải nhẩy qua tường.

– Cháu gái ơi, không cần thiết như thế - thượng nghị sĩ Trueba đáp - Ông vẫn còn những người bạn có thế lực trong đất nước này.

Bốn mươi tám tiếng đồng hồ sau, cửa buồng Pedro García Con bật mở, nhưng không phải Blanca mà là thượng nghị sĩ Trueba xuất hiện trên bực cửa. Con người đang chạy trốn nghĩ giờ cuối cùng của đời mình đã điểm và anh thấy có phần nào hơi vui.

– Tôi đến để đưa anh ra khỏi đây - Trueba nói.

– Tại sao? - Pedro García Con hỏi.

– Vì Blanca yêu cầu tôi như thế - ông già trả lời.

– Hãy cút đi với cái lỗ đái ấy - Pedro García Con lắp bắp.

– Đúng, chúng ta sẽ theo lối đó mà đi đấy. Anh đi theo tôi.

Hai người cùng mỉm cười. Tại sân nhà, một chiếc xe li-mu-din màu sáng bạc của ông đại sứ một nước ở phương Bắc đang đợi. Người ta đặt Pedro García Con vào trong gầm sau xe, ngồi co ro như một bó hàng, trên phủ những túi sách đi chợ trong đầy rau tươi. Trên ghế ngồi có Blanca, Alba, Thượng nghị sĩ Trueba và bạn của ông viên đại sứ. Tài xế cho xe chở họ đến Tòa Đặc Sứ của Tòa Thánh, đi qua trước mặt một hàng rào lính cảnh sát đứng chắn hai bên, nhưng không một ai ngăn chặn họ. Tại cửa của Tòa Đặc Sứ có hai vòng gác, nhưng khi nhận ra Thượng nghị sĩ Trueba và trông thấy biển xe ngoại giao, bọn lính giơ tay chào, để họ đi qua. Trong đặc sở của Tòa Thánh, họ lôi Pedro García Con từ dưới đống rau cải và cà chua vỡ dập ra, dẫn vào văn phòng của đặc sứ, người đang đứng đợi trong bộ quần áo giám mục, cùng một hộ chiếu đỏ rực để gửi anh ra nước ngoài cùng với Blanca, người đã quyết định sống trong cảnh lưu vong cùng với mối tình muộn mằn nhen nhúm kể từ ngày thơ ấu. Vị đặc sứ đón chào họ. Ông ta là một người rất hâm mộ Pedro García Con, và đã sưu tập được tất cả những đĩa hát của anh.

Trong khi ông cố đạo và ông đại sứ nước phương Bắc thảo luận về tình hình thế giới, gia đình Trueba từ biệt nhau. Blanca và Alba khóc một cách không thể an ủi được. Chưa bao giờ hai mẹ con sống xa nhau. Esteban Trueba ôm con gái một lúc lâu, không nước mắt, nhưng đôi môi mím chặt, run rẩy cố gắng kìm giữ tiếng khóc.

– Ta đã không phải là một người cha tốt đối với con - ông nói - Con thấy có thể tha lỗi cho cha và quên những việc đã qua?

– Con rất yêu cha! - Blanca vòng tay ôm cổ ông già, ôm chặt ông một cách tuyệt vọng, vừa khóc vừa hôn ông chùn chụt.

Sau đó ông già quay sang phía Pedro García Con và nhìn thẳng vào mắt anh. Ông chìa tay cho anh bắt, nhưng anh không thể nắm tay ông, vì thiếu mấy ngón tay, liền dang hai cánh tay và hai người đàn ông từ biệt nhau bằng một cái ôm hôn thật chặt, rũ sạch mọi điều căm hận đã bao nhiêu năm làm nhơ bẩn cuộc sống của họ.

– Con sẽ chăm nom cẩn thận cho Blanca, và sẽ cố gắng làm cho em con hạnh phúc, thưa ông. - Pedro García Con run giọng nói.

– Ta không nghi ngờ điều đó. Hãy lên đường bình yên, các con - ông già lẩm bẩm.

Ông biết rằng không bao giờ còn được gặp lại hai người.

Thượng nghị sĩ Trueba ở lại ngôi nhà cùng cô cháu gái và mấy người hầu. Ông nghĩ trong nhà ông chỉ còn có từng ấy người sống. Nhưng Alba đã quyết theo ý nghĩ của mẹ và cô đã dùng phần bỏ hoang vắng trong ngôi nhà để dấu những người phải lẩn trốn một hoặc hai đêm, cho tới khi tìm được nơi đảm bảo chắc chắn hơn hoặc đưa họ ra nước ngoài. Cô trợ giúp những người phải sống trong bóng tối, ban ngày họ trà trộn vào đám đông ồn ào của thành phố để trốn tránh, nhưng khi đêm ập xuống họ phải tìm ẩn mỗi lúc ở một chỗ khác nhau. Những giờ nguy hiểm nhất là những giờ giới nghiêm, những người lẩn trốn không thể đi ra ngoài đường được và bọn cảnh sát có thể thỏa thích lùng bắt họ. Alba nghĩ ngôi nhà của ông ngoại nếu có bị san bằng cũng sẽ là nơi cuối cùng chịu số phận đó. Cho nên, dần dần mỗi ngày một ít, cô biến những căn phòng bỏ vắng thành một mê cung, có những góc rất bí mật để dấu giếm những người lẩn trốn mà cô che chở, có khi cả từng gia đình. Thượng nghị sĩ Trueba chỉ giữ phòng thư viện, phòng vệ sinh và phòng ngủ của ông. Tại đó ông sống giữa những đồ gỗ cao ba, tủ kính kiểu Victoria và những tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ. Ngay đến cả một con người rất ít cái khuynh hướng về linh cảm như ông, mà cũng thấy ngôi nhà ở ảm đạm của mình hiện nay đáng lo ngại: hình như có mang trong nó một con quái vật ẩn náu vô hình. Trueba không hiểu nguyên do của sự nghi hoặc của mình, vì ông cho rằng những tiếng động lạ lùng mà những người hầu nói đã nghe thấy là những tiếng động do Clara đi dạo quanh quẩn khắp ngôi nhà cùng những hồn ma bè bạn của bà. Ông đã nhiều lần dường như bắt gặp bà vợ ông đang trôi lượn khắp các căn phòng khách trong bộ áo dài trắng và tiếng cười như con gái của bà. Giả vờ như không trông thấy bà, ông ngồi im lặng và cả ngừng thở nữa để cho bà khỏi sợ hãi. Nếu như ông nhắm mắt giả vờ ngủ, ông sẽ có thể cảm thấy ngay cái vuốt ve nhè nhẹ của những tay bà trên trán mình, cái hơi thở mát mẻ của bà như hơi gió, và tóc bà cọ sát bàn tay mình. Ông không có những lý do nghi ngờ có điều gì bất thường cho nên ông không nghĩ đến việc phiêu lưu sục vào vùng vương quốc kỳ lạ của bà vợ ông, và đến nơi xa nhất và trung lập nhất trong ngôi nhà là căn bếp lớn. Bà bếp cũ của ông đã ra đi, vì trong cuộc bắn giết chúng đã giết nhằm chồng bà, còn đứa con trai duy nhất của bà đang đi chiêu mộ tân binh tại một xóm ở miền Nam bị treo cổ trên một cây cột điện thoại giây, với bộ lòng ruột quấn quanh đầu do nhân dân trả thù hắn trong việc giết người theo lệnh cấp trên. Người đàn bà đau khổ ấy phát điên lên, và sau đó ít lâu Trueba mất kiên nhẫn, chán ngấy cái việc thấy trong đĩa thức ăn có cả lông tóc mà bà bếp mất trí đó rứt ra trong cơn khóc than không lúc nào dứt của bà. Alba đã vào nấu bếp một thời gian, theo một cuốn sách dạy nấu các món ăn, nhưng dù có được sự sẵn sàng phục vụ bếp núc của cô, Trueba cuối cùng cũng đi tới ăn hầu hết các bữa tối ở Câu lạc bộ, để ít nhất cũng có được một bữa ăn đầy đủ trong một ngày. Việc đó càng khiến cho Alba được tự do hoàn toàn trong môn buôn lậu những người trốn lẩn, và có được đảm bảo chắc chắn hơn trong việc đưa họ vào và đưa họ ra khỏi ngôi nhà trước giờ giới nghiêm, mà ông ngoại không hề nghi ngờ tới.

Một hôm Miguel xuất hiện. Cô đương bước vào trong nhà, giữa buổi nghỉ trưa thì thấy anh bước ra gặp. Anh đã ẩn trốn trong mấy búi cây trong vườn để chờ cô. Tóc anh đã nhuộm một mầu vàng tái nhợt, và anh mặc một bộ quần áo kẻ ô vuông xanh. Trông anh giống như một nhân viên nhà băng bình thường, nhưng Alba nhận ra anh ngay và không thể ngăn được một tiếng kêu vui mừng từ trong đáy lòng bật ra. Họ ôm hôn nhau trong vườn, trước mặt những người qua đường và những ai đó muốn nhìn, cho đến khi họ đã trở lại tỉnh táo và nhận thấy như thế rất nguy hiểm. Alba liền dẫn anh vào bên trong ngôi nhà, vào phòng ngủ của cô. Họ ôm nhau như một nút buộc chặt, lăn lóc trên giường, gọi nhau bằng những cái tên bí mật mà họ đã dùng gọi nhau trong thời kỳ ở tầng hầm, yêu nhau đến tuyệt vọng cho tới khi họ cảm thấy cuộc sống của họ vừa được thoát và tâm hồn họ nở căng, và họ phải nằm lặng yên, lắng nghe tiếng đập thình thịch của hai trái tim họ để giữ cho tâm hồn bình tĩnh một chút. Lúc đó Alba mới nhìn kỹ anh và nhận thấy mình vừa vật lộn yêu đương cùng với một anh chàng hoàn toàn khác lạ, không những bởi cái bộ tóc kiểu người Anh mà anh mang hiện nay, mà bộ râu cùng với đôi tròng kính tròn nhỏ của ông thầy giáo dạy tư của Miguel ngày trước đã biến, và anh có vẻ gầy đi rất nhiều. Trông anh đến khiếp, cô thầm thì bên tai anh. Miguel đã trở thành một trong số những người chỉ huy du kích, thực hiện đúng cái vận mệnh mà chính anh đã xây dựng cho mình từ những ngày mới lớn. Để tìm kiếm nơi trú ngụ của anh bọn phát xít đã tra hỏi rất nhiều người, nam cũng như nữ, điều đó như một tảng đá cối xay đè nặng tâm hồn Alba, nhưng đối với anh cái đó chẳng qua chỉ là một phần của toàn bộ sự kinh khủng của chiến tranh, và anh sẵn sàng chịu cùng số phận với những người khác khi phải che dấu họ. Anh tiến hành chiến đấu trong vòng bí mật, trung thành với lý thuyết phải lấy bạo lực của nhân dân để chống bạo lực của bọn nhà giầu. Đã tưởng đến hàng nghìn lần rằng anh đã bị thủ tiêu, Alba giờ đây khóc vì vui sướng, khoan khoái hưởng nếm cái mùi mồ hôi của anh, giọng nói của anh, hơi ấm của anh, sự cọ sát của những bàn tay chai sạn vì sử dụng vũ khí của anh, vì thói quen bò toài của anh, và cô vừa cầu xin vừa trách móc vừa hôn anh vừa ghét anh bởi bao nhiêu đau khổ tích lũy mà cô đã phải chịu và muốn chết ngay bấy giờ để khỏi phải lại đau buồn vì sự xa cách của anh.

– Anh có lý Miguel ạ. Những gì mà anh nói đều đã xảy ra đúng thế - Alba sụt sùi trên vai người yêu công nhận.

Sau đó cô kể cho anh nghe về những vũ khí mà cô ăn cắp của ông ngoại cùng câu chuyện dấu những thứ đó cùng cậu Jaime, và cô tình nguyện đưa anh đi thu lấy chúng. Cô cũng muốn cho anh cả những vũ khí mà cả hai chưa ăn cắp được hãy còn trong gian kho của ngôi nhà, nhưng sau đảo chính quân sự được ít hôm bọn chúng đã ra lệnh cho nhân dân phải nộp tất cả những gì gọi là vũ khí, kể cả dao dựa của hướng đạo sinh và dao gọt bút chì của trẻ con. Mọi người gói những vật đó trong giấy báo rồi đặt trước cửa nhà thờ, vì họ không dám mang những thứ đó tới bốt, đồn lính; nhưng Thượng nghị sĩ Trueba, có những thứ vũ khí chiến tranh trong nhà nhưng ông không cảm thấy một chút sợ hãi gì, vì những thứ đó ông dùng để giết cộng sản như tất cả mọi người đều rõ. Ông gọi điện thoại cho bạn ông, tướng Hurtado, và vị đó lệnh cho một chiếc xe ca-mi-ông quân sự đến lấy mang đi, Trueba dẫn bọn lính đến tận căn phòng chứa giấu vũ khí và tại đó ông đã có thể, lặng đi vì ngạc nhiên, xác nhận thấy một nửa số hòm lại đầy đá và rơm, nhưng ông hiểu ngay rằng nếu nói lên sự mất mát đó, ông sẽ đẩy một người nào đó trong gia đình, hoặc ngay bản thân ông, vào một chuyện rắc rối khó gỡ. Ông liền xin lỗi bằng những câu chẳng ai đòi hỏi cả, vì rõ ràng bọn binh lính không biết số lượng những vũ khí mà ông đã mua. Ông ngờ cho Blanca và Pedro García Con, nhưng đôi má đỏ ửng lên của cô cháu gái cũng làm cho ông ngờ ngợ. Sau khi bọn lính ký nhận và mang số vũ khí đi, ông cầm lấy hai cánh tay Alba lúc lắc như chưa bao giờ ông làm thế, để bắt cô phải thú nhận có dính gì đến những khẩu tiểu liên và súng trường thiếu hụt kia không. “Đừng hỏi cháu điều mà ông không muốn cháu trả lời, ông ạ”, Alba nhìn thẳng vào mắt ông, trả lời. Hai ông cháu không nói về chuyện đó nữa.

– Ông của em thật đáng trách, Alba ạ. Có người sẽ giết ông, ông đáng thế lắm - Miguel nói.

– Ông sẽ chết trên giường của ông, ông đã già lắm rồi - Alba nói.

– Kẻ nào đã giết người, không thể chết bình an đâu. Có thể chính anh sẽ phải giết ông một ngày nào đó.

– Cả Chúa cũng không muốn thế, Miguel ơi, vì như thế anh buộc em phải đổi lại y như vậy với anh - Alba dữ tợn đáp lại.

Miguel giải thích cho cô biết họ sẽ không thể gặp nhau trong một thời gian dài, có thể không bao giờ nữa. Anh cố cắt nghĩa cho cô thấy cái nguy hiểm là bạn của một người du kích, dù cho có được sự che chở bởi cái họ của ông ngoại mà cô mang, nhưng cô khóc ngất và ôm hôn anh thật đau buồn, khiến anh phải hứa sẽ tìm hoàn cảnh để thỉnh thoảng có thể gặp nhau một lần dù cho có phải nguy hiểm đến tính mạng. Miguel cũng nhận cùng cô đi tìm lấy số vũ khí và đạn được chôn dấu trong hẻm núi, bởi cái đó là thứ anh cần thiết nhất trong cuộc chiến đấu đáng sợ của mình.

– Em mong rằng chúng chưa trở thành đống sắt vụn - Alba thì thầm - Và mong rằng sẽ nhớ đúng chỗ, vì việc đó cách đây hơn một năm rồi.

Hai tuần sau Alba tổ chức một cuộc tham quan cho những em bé trong nhà ăn công cộng, đi trên một chiếc xe ca-mi-ông nhỏ mượn của các ông cố đạo ở địa phận. Cô đem theo những làn thức ăn giữa bữa, một túi cam, mấy quả bóng quần và một cây đàn guitar. Bọn trẻ con không một đứa nào chú ý đến chuyện xe ca-mi-ông đã đón ở ngang đường một người đàn ông tóc hung. Alba lái chiếc ca-mi-ông nhỏ đầy trẻ con, theo con đường núi mà trước kia cô đã cùng cậu Jaime đi qua. Hai toán tuần tra chặn xe lại và cô phải mở những làn thức ăn, nhưng sự vui vẻ dễ lây của tụi trẻ con và cái nội dung vô tội của những làn và túi xách đó đã làm tiêu tan mọi nỗi nghi ngờ của bọn lính. Mọi người trên xe đã có thể yên ổn tới được nơi chôn giấu vũ khí. Bọn trẻ con chơi trò ẩn trốn và tìm bắt. Miguel tổ chức một trận đấu bóng đá, cho chúng ngồi vòng tròn và kể những chuyện đủ loại cho chúng nghe, sau đó cả bọn chúng hát cho đến khản đặc cả giọng. Rồi anh vẽ một sơ đồ của nơi đó để sau sẽ quay lại cùng các đồng chí của anh trong đêm khuya. Đó là một ngày cắm trại sung sướng mà trong mấy tiếng đồng hồ họ có thể quên được sự căng thẳng của tình trạng chiến tranh và hưởng ánh mặt trời ấm áp trên dãy núi, nghe những tiếng kêu lóe xóe của trẻ con chạy nhẩy giữa những tảng đá, với cái dạ dầy từ nhiều tháng xẹp lép nay mới được đầy.

– Miguel, em sợ - Alba nói - Có lẽ không bao giờ chúng ta có được một cuộc sống bình thường? Tại sao chúng ta không đi ra nước ngoài? Tại sao chúng ta không thoát đi bây giờ, khi hãy còn thời gian.

Miguel trỏ tay về phía những đứa trẻ và Alba hiểu ngay.

– Vậy hãy để cho em đi theo! - cô cầu khẩn như đã bao lần cầu xin như vậy.

– Trong lúc này các anh không thể đem theo một người chưa được huấn luyện. Lại càng không thể mang theo một người con gái đang yêu - Miguel mỉm cười - Tốt hơn cả là em cứ tiếp tục công việc như thế này. Cần phải giúp đỡ những đứa trẻ đáng thương này cho tới thời kỳ tốt hơn sẽ tới.

– Ít nhất anh nói cho em cách làm sao có thể tìm được anh!

– Nếu bọn cảnh sát bắt được em, em chẳng biết một cái gì cả thì tốt hơn. - Miguel đáp.

Alba rùng mình.

Những tháng sau đó Alba bắt đầu bán những đồ gỗ trong nhà. Thoạt đầu cô chỉ dám lôi đi những đồ đạc trong các phòng bỏ vắng và những thứ chất trong tầng hầm, nhưng khi đã bán hết rồi, cô bắt đầu mang từng chiếc ghế cổ của phòng khách, những bức bình phong kiểu barốc, những chiếc bình phong chạm khắc, những chiếc két thời kỳ thuộc địa, cho đến cả bộ đồ ăn của phòng ăn. Trueba biết những việc đó, nhưng ông không nói một lời. Ông đồ chừng cháu gái ông dùng tiền đó cho mục đích bị cấm, ông nghĩ đến những vũ khí mà cô ăn cắp của ông, nhưng ông muốn thà không biết còn hơn, để có thể giữ cho mình trong sự ổn định mong manh trên một thế giới đương tan vỡ thành từng mảnh. Ông thấy mọi sự kiện đều thoát ra khỏi tầm kiểm soát của ông. Điều duy nhất mà ông thực sự coi trọng bây giờ là không để mất cô cháu gái, vì cô là sợi dây độc nhất còn lại để nối ông vào với cuộc đời. Bởi vậy ông cũng không nói nửa lời khi cô lấy từng bức tranh của ông treo trên tường và những tấm thảm cổ mang đi bán cho những tên nhà giàu mới nổi. Cảm thấy quá già và quá mệt mỏi ông không còn sức để mà đấu tranh. Bây giờ trong ông đã mất những ý nghĩ rõ ràng và những biên giới rõ rệt về cái xấu và cái tốt. Ban đêm, khi giấc ngủ đến ông có những cơn ác mộng, trong đó nhìn thấy đám cháy những ngôi nhà gạch nhỏ. Ông nghĩ nếu như cháu gái ông có quẳng tất cả ngôi nhà này đi nữa, ông cũng không ngăn nó, vì chẳng còn mấy nữa ông đã ở dưới mồ rồi, và khi đi ông chỉ mang theo độc có một tấm vải liệm. Alba muốn nói với ông để mang tới cho ông một lời giải thích nhưng ông từ chối không nghe cái chuyện những đứa trẻ con đói khát được nhận một bữa ăn bố thí do tiền bán của chiếc bát Aubusson của ông, hoặc những người không có việc làm tuần lễ trước sống sót được là nhờ tiền bán con rồng Trung Quốc bằng đá hoa cương của ông. Tất cả những chuyện đó, ông vẫn còn giữ trong đầu óc, coi đều là những lời bầy đặt kinh hãi của chủ nghĩa cộng sản quốc tế, nhưng dù có như thế thật, Alba khoác vào lưng mình cái trách nhiệm đó thật là không thích hợp, mà đó là chuyện của chính phủ, hoặc cùng lắm là của nhà thờ. Tuy vậy, hôm trở về nhà ông không trông thấy bức chân dung của Clara treo ngay bên cửa ra vào nữa thì ông nghĩ vấn đề đã vượt quá giới hạn kiên nhẫn của ông, và ông đến trước mặt cháu gái.

– Bức chân dung của bà cháu để ở chỗ ma quái nào rồi? - ông gào lên.

– Cháu bán cho lãnh sự Anh, ông ạ. Ông ta bảo cháu sẽ đem treo trưng bầy trong bảo tàng tại London.

– Ta cấm cháu không được mang một vật gì ra khỏi nhà này nữa! Từ mai, cháu sẽ có một tài khoản ở ngân hàng, để chi dùng cho những chi tiêu cá nhân của cháu - ông nói.

Esteban Trueba nhanh chóng nhận ra rằng Alba là người phụ nữ quý báu nhất trong cuộc đời mình, và cả một cung cấm đầy cung nữ cũng không đáng giá bằng cô cháu gái có bộ tóc dài xanh mướt. Từ khi hoạt động chính trị bị nghiêm cấm, ông có thừa thì giờ để vào công việc kinh doanh. Ông không quở trách cháu, vì đã quay trở lại thời kỳ may mắn mà càng tiêu sài, ông thấy càng có thêm nhiều tiền, và ông tính, trái với mọi điều dự đoán trước, ông sẽ chết khi còn rất là giàu có. Ông đặt tiền của mình vào những khoản đầu tư mới đáp ứng cho những nhà tư bản nhân bội số tiền lãi của mình lên rất lớn chỉ trong một sớm một chiều. Ông khám phá ra rằng sự giàu có tạo ra cho ông một nỗi ngao ngán lớn, vì kết quả là ông có được nó một cách quá dễ dàng, nhưng lại không thấy có được cái thôi thúc khuyến khích để mà tiêu sài nó, và ngay cả cái tài vung tiền bừa của cô cháu gái trong những công việc thần thoại của nó cũng không làm mòn được số lãi tăng lên. Ông phấn khởi xây dựng lại và cải thiện thêm đồn điền Ba Cô Maria, nhưng sau đó ông không thấy hào hứng trong mọi việc kinh doanh khác nữa, vì nhờ có hệ thống kinh tế mới, ông không cần phải cố sức sản xuất mà làm gì, vì rõ ràng tiền lại thu về được thêm rất nhiều tiền, và chẳng cần cố gắng một chút nào, những tài khoản ngân hàng của ông vẫn mỗi ngày một nẩy nở nhân thêm. Và ông rút tiền, làm một việc mà chưa bao giờ ông tưởng tượng đến trong cuộc đời: gửi hàng tháng một ngân phiếu cho Pedro García Con, cùng Blanca sống lưu vong tại Canada. Tại đó hai người cảm thấy thật hoàn toàn toại nguyện thực hiện cuộc sống với mối tình thỏa mãn trong hòa bình. Pedro García Con viết những bài hát cách mạng cho những người lao động, cho sinh viên và nhất là cho giai cấp tư sản, họ chấp nhận những bài hát đó như một cái mốt, những bài hát được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, thu được thắng lợi lớn, dù cho gà mái và cáo là những con vật chậm tiến không có được cái huy hoàng cầm thú như những con diều hâu và chó sói của đất nước băng giá miền Bắc kia. Blanca vui vẻ và hạnh phúc, và lần thứ nhất trong đời có được một sức khỏe như sắt thép. Chị xây dựng một lò nung lớn trong nhà để nung những con giống kỳ quái bán rất chạy, bởi nó là thứ sản phẩm thủ công của thổ dân, đúng như Jean de Satigny đã từng tiên đoáp hai mươi năm trước, khi mà ông bá tước muốn đem những thứ đó xuất cảng. Bằng những công việc đó và bằng những tấm ngân phiếu của ông già gửi cùng với sự giúp đỡ của những người Canada, hai người khá đầy đủ, và Blanca, để phòng xa, dấu chiếc tất len đựng những đồ nữ trang vô tận của Clara vào một nơi thật kín. Chị đinh ninh sẽ không bao giờ bán chúng, để một ngày kia Alba sẽ đeo chúng rực rỡ trên người.

Mãi tới đêm chúng tới bắt Alba mang đi. Esteban Trueba vẫn không biết rằng cảnh sát chính trị vẫn theo dõi canh phòng quanh nhà ông. Mọi người đang ngủ, và cũng may mắn tình cờ, hôm đó không có một ai ẩn trốn trong cái mê cung phía trong, trong những căn phòng bỏ trống sau ngôi nhà. Những tiếng quy lát súng thúc vào cánh cửa ngôi nhà kéo ông già ra khỏi giấc ngủ với một nỗi tiên cảm rất rõ ràng có một điều gì bất hạnh đã đến. Nhưng Alba đã thức dậy từ trước, khi cô nghe thấy tiếng phanh rít của những chiếc xe, rồi tiếng chân bước, những mệnh lệnh truyền ra bằng nửa giọng, và cô bắt đầu mặc quần áo, vì không còn nghi ngờ gì nữa, giờ số phận của cô đã tới.

Những tháng vừa qua đã làm cho Thượng nghị sĩ Trueba hiểu được rằng ngay cả đoạn đời trong sạch của một kẻ tham gia đảo chính của ông cũng không phải sự đảm bảo để tránh được khủng bố. Cũng chưa bao giờ ông có thể tưởng được rằng, có hàng nửa tá người không mặc đồng phục, nhưng vũ trang đến tận chân răng, xông vào nhà ông trong giờ giới nghiêm, lôi ông ra khỏi giường không chút thương xót, và nắm một tay lôi ông ra phòng khách, không cho phép ông đến cả sỏ dép vào chân và khoác tấm khăn san lên người. Ông trông thấy mấy người khác nữa đạp bung cửa phòng Alba và xông vào, súng tiểu liên lăm lăm trong tay; ông trông thấy cháu gái đã mặc quần áo chỉnh tề, mặt tái xanh nhưng vẻ bình thản, đứng chờ bọn chúng; ông trông thấy chúng đẩy cháu gái ông ra ngoài, dí súng vào lưng đẩy cô ra tận phòng khách, tại đó chúng ra lệnh cho cô đứng cạnh ông già và không được làm bất cứ một cử động nhỏ. Cô làm theo không thốt lên một lời, như xa lạ trước sự căm tức của ông ngoại và sự tàn bạo của bọn người xung quanh đang chạy quanh đập phá lục lọi khắp ngôi nhà, lấy báng súng khua khoắng trong tủ áo, lật đổ bàn ghế, rạch xé giường đệm, hất tung mọi thứ đựng bên trong hòm tủ, đá vào tường và thét lên mệnh lệnh để kiếm du kích ẩn náu, vũ khí giấu giếm và những thứ tang chứng khác. Chúng lôi những người hầu ra khỏi giường và nhốt tất cả vào trong một căn phòng, có một người đeo súng canh giữ. Chúng lật tung trên sàn tất cả những ngăn sách của phòng thư viện, cùng tất cả những vật trang hoàng cùng những tác phẩm nghệ thuật của Thượng nghị sĩ Trueba vất rơi ầm ầm. Những bộ sách dầy cộp của Jaime trong căn hầm sách bị vất tung ra sân, tại đó chúng dồn lại thành một đống, dội ét-săng lên và châm lửa đốt thành một dàn hỏa thiêu hèn hạ, ngọn lửa được nuôi thêm sau đó bởi những cuốn sách quỷ thuật lôi trong những hòm rương kỳ lạ của ông cố Marcos, những tập sách về Thánh Thần của cậu Nicolás, những tác phẩm của Marx đóng bìa da, cho đến cả những bản nhạc ca kịch của ông Trueba cũng trở thành một đám cháy kinh rợn khiến cho cả khu phố phải ngạt khói, và nếu như ở thời kỳ bình thường, đã lôi đến những chiếc xe cứu hỏa.

– Các người hãy nộp tất cả sổ sách, lịch sổ, sổ ghi địa chỉ, sổ ngân phiếu, tất cả những giấy tờ cá nhân của mình! - một tên có vẻ như chỉ huy ra lệnh.

– Tôi là Thượng nghị sĩ Trueba! Lạy Chúa, không nhận ra tôi sao, hở ông? - ông già rít lên một cách tuyệt vọng - Các ông không thể làm như vậy đối với tôi! Đó là một sự xúc phạm thô bạo! Tôi là bạn của tướng Hurtado!

– Câm đi lão già cứt kia! Khi ta chưa cho phép, lão không có quyền mở miệng! - tên đó đáp một cách tàn nhẫn.

Chúng bắt ông già nộp toàn bộ những gì có trong bàn giấy của ông và đút tất cả những gì mà chúng cho là cần thiết vào trong mấy chiếc túi. Trong lúc một toán lục soát khắp nhà, một toán vứt sách qua cửa sổ ra vườn, trong phòng khách chỉ còn bốn tên, cười cợt, chớt nhả, dọa nạt, dẫm chân lên bàn ghế, uống rượu whisky xứ Scotch ngay trong chai, và đập vỡ từng chiếc một toàn bộ đĩa hát cổ điển mà Thượng nghị sĩ Trueba đã sưu tập được. Alba nhẩm tính ít nhất đã hai tiếng đồng hồ trôi qua. Cô run run, không phải vì lạnh mà vì sợ. Cô đã từng giả định trước rằng giây phút này rồi một ngày sẽ tới, nhưng bao giờ cũng lại có cái hy vọng vô lý rằng ảnh hưởng của ông ngoại cô sẽ bảo vệ, che chở cho cô. Nhưng khi trông thấy ông cúi lom khom trên chiếc ghế sôpha, bé nhỏ và khốn khổ như thể một ông già ốm, cô hiểu ngay không thể chờ mong giúp đỡ.

– Ký nhận vào đây! - tên chỉ huy vừa ra lệnh cho Trueba vừa chìa ra trước mặt ông một tờ giấy. - Đó là một tờ khai rằng chúng ta vào với lệnh của tòa án, rằng chúng ta đã đưa cho xem giấy chứng minh, rằng tất cả đều đúng luật, rằng chúng ta thừa hành nhiệm vụ một cách lễ phép và lịch sự, rằng không có gì phải phàn nàn. Ký vào đây!

– Không bao giờ ta ký cái đó - ông già giận dữ kêu lên.

Tên đó quay mình rất nhanh và tát mạnh vào mặt Alba. Cái tát đã hất cô gái ngã lăn xuống sàn. Thượng nghị sĩ Trueba toàn thân như tê liệt bởi bất ngờ và kinh hoàng, hiểu ngay rằng đã tới giờ phút của sự thực, sau gần chín mươi năm sống dưới những luật lệ của chính mình.

– Lão có biết cháu gái lão là một con đĩ của một tên du kích không? - tên đó hỏi.

Rũ rượi Thượng nghị sĩ Trueba ký vào tờ giấy. Sau đó ông khó khăn mệt nhọc bước lại gần cháu gái và ôm lấy cô, vuốt ve mớ tóc xanh bằng một sự âu yếm dịu dàng mà từ trước ông không hề có.

– Đừng lo nghĩ gì cháu ạ. Mọi sự rồi sẽ được dàn xếp, chúng không thể làm gì được cháu, đây chỉ là một sự lầm lẫn, cháu cứ bình tĩnh - ông thì thầm.

Nhưng tên đó tàn nhẫn gạt ông sang bên và thét gọi những tên khác rút ra. Hai tên giết người xốc nách Alba lôi đi, hầu như nhấc cô khỏi mặt đất. Hình ảnh cuối cùng mà cô trông thấy là khuôn mặt đau khổ đáng thương của ông ngoại, tái xanh như sáp, run run, trong chiếc áo ngủ, chân để trần, từ trong bực cửa đứng gọi đảm bảo với cô ngay ngày hôm sau sẽ tới nói trực tiếp với tướng Hurtado để đòi lại cô, ông sẽ đi tới luật sư của ông để tìm cho được cô, bất kỳ ở đâu, để đem cô về nhà.

Bọn chúng đẩy cô lên một chiếc xe ca-mi-ông nhỏ cùng với tên đã tát cô, và một tên nữa ngồi vừa lái vừa thổi sáo. Trước khi bọn chúng đặt mấy miếng vải dán bịt kín mắt cô, Alba nhìn lần cuối cùng đường phố vắng tanh và lặng lẽ, lấy làm lạ thấy cảnh lộn xộn về đám cháy lớn của đống sách vở như thế mà chẳng có một người lân cận nào ló mặt ra nhìn. Cô cho rằng, cũng như nhiều lần chính cô đã từng làm, họ đang đứng rình xem qua những khe hở của cánh cửa chớp hoặc những nếp rèm, hoặc vùi đầu dưới gối để khỏi phải nhìn thấy những điều đang diễn ra ở bên ngoài. Chiếc xe ca-mi-ông con ầm ì chuyển bánh và cô, lần đầu tiên bị mù, mất cả tri giác về không gian và thời gian. Cô thấy một bàn tay ấm ấm và to đặt trên chân cô, sờ nắn, cấu véo, rồi đưa lên cao, dò thám, một hơi thở nặng nề phả vào mặt thì thào ta sẽ sưởi ấm cho mày đĩ ạ, đấy mày xem, và những giọng nói khác và tiếng cười, trong khi chiếc xe lượn vòng này, quặt vòng khác, làm cho cô thấy hành trình có vẻ như vô tận. Cô không biết chúng sẽ dẫn cô tới đâu, cho tới khi nghe có tiếng nước chẩy và thấy bánh xe ca-mi-ông lăn trên một nền gỗ. Lúc đó cô đoán thấy số phận của mình. Cô gọi đến những hồn ma của thời kỳ chiếc bàn trái tim gọi hồn và chiếc bình đựng muối của bà ngoại cô, gọi đến những hồn ma có khả năng vặn queo được con đường phát triển của những sự kiện, nhưng hầu như tất cả bọn họ đều đã bỏ rơi cô, vì chiếc xe ca-mi-ông vẫn tiếp tục chạy trên con đường đó. Cô thấy tiếng phanh hãm, nghe thấy tiếng mở cót két của một cánh cửa nặng nề, mở ra rồi lập tức đóng lại sau khi chiếc xe đã lọt qua. Lúc đó Alba rơi vào trong một cơn ác mộng, trong đó thấy xuất hiện bà ngoại cô cùng những quân bài đoán sao mệnh khi sinh ra, cô và Luisa Mora, trong một cuộc gọi hồn. Bọn chúng xốc cô bước xuống. Chưa bước được hai bước cô liền bị ngay một đòn thứ nhất vào mạng sườn ngã khuỵu xuống, không còn thở được. Hai tên xốc nách cô đứng dậy và lôi cô qua một đoạn đường dài. Cô thấy chân mình chạm xuống đất và sau đó trên một nền ximăng ram ráp. Chúng dừng lại.

– Đây là cháu gái thượng nghị sĩ Trueba, thưa đại tá - cô nghe tiếng nói.

– Ta đã thấy - một giọng nói đáp lại.

Alba nhận ra ngay giọng nói của Esteban García, và cô lập tức hiểu rằng hắn đã chờ cô kể từ cái ngày xa xưa mà hắn đặt cô ngồi trên đầu gối, khi cô còn là một cô gái bé.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của isabel allende