Ngôi Nhà Của Những Hồn Ma

Lượt đọc: 2297 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
rosa, người đẹp

Tặng mẹ, bà và những nhân vật phụ nữ đặc biệt trong câu chuyện này.

Nghĩ cho cùng, con người sống được bao lâu?

Sống nghìn năm hay chỉ có một năm?

Một tuần lễ; hay sống nhiều thế kỷ?

Đến bao lâu thì con người chết nhỉ?

Cắt nghĩa ra sao khi nói “cho đến suốt đời”?

Pablo Neruda

Barrabás đến với gia đình theo đường biển, cô bé Clara ghi như vậy bằng nét chữ mảnh dẻ của mình. Ngay từ lúc bấy giờ cô đã có thói quen ghi chép những sự việc cô cho là quan trọng - đến khi cô bị câm, cô lại ghi chép cả những chuyện thường ngày, - mà không ngờ rằng năm mươi năm sau, những cuốn vở ghi chép của cô đã giúp cho tôi dùng vào việc thu nhặt tái hiện lại những kỷ niệm của thời xưa, làm cho nó sống lại trước con mắt kinh hoàng của chính tôi. Ngày mà Barrabás tới đó là ngày Thứ Năm Thần Thánh. Con vật nằm trong chiếc chuồng không xứng đáng, bên trong ngập đầy phân và nước tiểu của chính nó, đôi mắt nó đờ đẫn, lạc lõng như mắt một tên tử tù đáng thương không có gì bảo vệ; nhưng ngay từ lúc đó người ta cũng đã đoán được cái cỡ khổng lồ thần thoại của nó sau này bởi khuôn khổ thực tế của đầu nó và cỡ lớn của bộ xương nó. Ngày hôm đó là một ngày mùa thu chán ngấy, không có chút gì ra vẻ điềm báo trước về những sự việc quan trọng xảy ra như việc đã xảy ra trong buổi lễ misa lúc mười hai giờ, tại nhà thờ San Sebastián, nơi cô cùng toàn thể gia đình tham dự ngày hôm đó. Để tỏ dấu hiệu tang tóc, những tượng thánh đều được phủ kín bằng những mảnh vải màu tím, mà những nữ tín đồ ngoan đạo hàng năm lôi ra từ trong tủ quần áo thánh để rũ bụi; và dưới những tấm khăn phủ như vậy cả một triều đình trên thiên giới giống như một đám đồ gỗ lộn xộn đang nằm chờ thuyên chuyển mà những ngọn nến, những bó hương và tiếng than van của cây đàn ống cũng không thể làm cho nó mất đi cái dáng vẻ tồi tệ thực tế đáng buồn. Những tượng thánh toàn thân với những khuôn mặt lạnh lùng giống nhau như đúc, với những bộ tóc giả làm bằng tóc người chết, với những viên hồng ngọc, ngọc trai, và thanh ngọc giả bằng thủy tinh vẽ mầu, với những bộ quần áo kiểu những nhà quý phái xứ Florentine, bây giờ đây trở thành những khối tròn đen xẫm mọc sừng sững, dáng vẻ dọa nạt. Chỉ có một bức tượng duy nhất phù hợp với lễ tang là tượng thánh chủ của ngôi nhà thờ San Sebastián, bởi vì trong tuần lễ thánh, thần đã tránh cho những tín đồ khỏi phải trông thấy cái cảnh thân mình thánh quằn quại trong một dáng dấp tục tằn, có hàng nửa tá mũi tên xuyên qua thân mình thánh, máu và nước mắt phun lai láng, trông như thể một anh chàng mắc bệnh đồng tính luyến ái đang trong cơn đau khổ; những vết thương trên mình thánh luôn luôn tươi máu vì cha Restrepo luôn lấy bút lông tô lại, những vết thương đã làm cho Clara rùng mình, kinh tởm.

Đó là một tuần lễ sám hối và kiêng khem dài đằng đẵng, một tuần kiêng ăn, không chơi bời, không nổi nhạc khêu gợi tình dục và lãng quên, và tín đồ phải giữ mình tuân theo, trong khuôn khổ có thể, một sự buồn rầu nhất và thanh sạch nhất, mặc dù chính trong những ngày đó, cái vòi độc của quỷ dữ lại rủ rê thúc giục đến hết mức cái xác thịt yếu ớt của con người cơ đốc. Bữa ăn kiêng chỉ có loại bánh đa ngọt, món xúp rau ngon lành, nem bột rán phôm phốp và phó mát thô mang từ quê ra, đó là tất cả món ăn mà gia đình Clara dùng trong tuần lễ nhớ tưởng đến niềm Say Mê của Đức Chúa, và cố giữ gìn không động đến một miếng nhỏ cá hoặc thịt, đúng như lời dặn của đức cha Restrepo thường nhắc đi nhắc lại. Không một ai dám không vâng lời cha. Đức cha Restrepo có một ngón tay buộc tội dài, ngài thường dùng để trỏ vào những người mắc tội ngay trước mặt công chúng, và cha có một cái lưỡi đã điêu luyện để làm xáo động tình cảm của tín đồ.

– Con, tên ăn trộm đã đánh cắp tiền lễ nhà Thờ - từ bục giảng cha Restrepo kêu thét và đưa tay trỏ vào một ngài đang giả vờ vuốt vuốt một nếp áo khoác ngoài để khỏi phải trườn mặt ra nhìn đức cha. - Còn con, không biết hổ thẹn, đã trụy lạc tại bến cảng! - và cha đưa ngón tay trỏ vào mặt bà Ester Trueba để kết tội, một người phụ nữ bại liệt do bệnh viêm khớp, nữ tín đồ của Đức Mẹ Đồng Trinh Carmen, trong lúc bà trợn tròn mắt kinh ngạc, không hiểu nghĩa của lời cha vừa buông ra kết tội, cũng như không biết bến cảng nó ở chỗ nào. - Hãy sám hối, những con chiên tội lỗi, đám thịt hôi thối không xứng với đức hi sinh của Đức Chúa chúng ta! Hãy ăn chay! Hãy sám hối!

Bị kích thích bởi sự say mê nghề nghiệp, đức cha phải cố kìm hãm mình lại để khỏi rơi vào chỗ quá lộ liễu, trái lời dạy bảo của những đấng bề trên trong nhà thờ, những vị đã bị cơn gió của chủ nghĩa hiện đại làm lung lay chao đảo, những vị đã từng chống lại sự trừng phạt xác thịt đối với những con chiên tội lỗi. Đức cha Restrepo thuộc phái chủ trương quất roi vào xác thịt từng trận kịch liệt để chiến thắng những mềm yếu của linh hồn. Ngài nổi tiếng bởi những bài giảng vô cương tỏa. Tín đồ đi theo ngài từ nhà thờ này đến tu viện nọ, đều toát mồ hôi nghe đức cha diễn tả những nỗi quằn quại của kẻ tội lỗi dưới địa ngục, thịt da bị rứt xé bởi những máy móc tra tấn tân kỳ, những ngọn lửa vĩnh cửu, những xiên móc xuyên qua bộ phận sinh dục nam giới, những con rắn kinh tởm chui vào trong chỗ kín nữ giới, và bao nhiêu nhục hình khác cứ hiện lên sau mỗi một đoạn cầu kinh để truyền bá những phương pháp khủng bố ghê sợ của Đức Chúa. Tên quỷ Satan cũng được đức cha kể kỹ đến tận những kỳ hình, dị tính kín đáo nhất của hắn bằng cái giọng miền Galicia của ngài, người có sứ mệnh trên cõi đời này là lay động lương tri của những đứa con lai đau khổ.

Severo del Valle, người vô thần và theo phái Tam Điểm, nhưng có nhiều tham vọng chính trị nên không thể vắng mặt trong những buổi lễ misa ngày Chủ nhật mà rất nhiều người tới dự cốt để cho tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy mình tại nhà thờ. Bà vợ ông, Nívea, thích tự tìm hiểu Chúa chứ không cần đến kẻ trung gian, nên bà rất không tin những vị mặc áo choàng đen và rất chán nghe những lời diễn tả trên trời, trong nhà sám hối và dưới địa ngục, nhưng bà luôn theo sát ông chồng trong những tham vọng vào nghị trường, với niềm hy vọng nếu chồng chiếm được một ghế trong Quốc Hội, bà sẽ có thể có được một lá phiếu phụ nữ, cho nên bà đã tham gia đấu tranh từ mười năm nay, mặc dù nhiều lần thai nghén bà vẫn không nản chí. Ngày Thứ Năm Thần Thánh đó đức cha Restrepo đã đưa những tín đồ thính giả của ngài tới chỗ tận cùng của giới hạn chịu đựng bằng những cảnh về ngày tận thế, và lúc đó bà Nívea bắt đầu cảm thấy váng vất buồn nôn. Bà tự hỏi hay lại có thai. Mặc dù đã rửa ráy bằng dấm và dùng bọt bể tẩm mật đắng để kỳ cọ, bà cũng đã cho ra đời mười lăm đứa con, trong số đó mười một người còn sống, và cô gái út của bà, Clara, năm nay đã lên mười tuổi, nên bà cũng có lý khi nghĩ rằng mình đã ở vào độ tuổi chững lại rồi. Có lẽ đã chấm dứt rồi sự sung sức mắn đẻ đáng ngạc nhiên của bà rồi chứ. Bà liền đổ tội cho việc cha Restrepo sau một đoạn giảng kinh đã chỉ vào bà để nói đến tên đạo đức giả muốn hợp pháp hóa những đứa con đẻ hoang và những cuộc hôn nhân tự do, tách biệt gia đình, tổ quốc, tư hữu với Nhà Thờ, muốn cho phụ nữ được bình đẳng với nam giới, công khai bất chấp luật lệ của Chúa, đó chính là nguyên nhân của sự váng vất khó ở của bà. Nívea và Severo cùng các con chiếm tất cả dãy ghế dài ở hàng thứ ba. Clara ngồi bên cạnh mẹ và bà mẹ nắm chặt bàn tay cô bé một cách nôn nóng khi thấy bài diễn văn của đức cha kéo quá dài về những tội lỗi xác thịt, bởi bà cho rằng những chuyện đó có thể dẫn dắt cô gái bé tới chỗ nhìn nhận rất sai lầm về thực tại, điều đó đã được chứng minh rõ ràng bằng những câu hỏi của cô bé mà chẳng một ai biết đường nào mà trả lời. Clara là một cô bé chín rất sớm trước tuổi và có một sức tưởng tượng tràn trề mà tất cả những người phụ nữ trong gia đình đều được thừa hưởng theo dòng máu mẹ. Không khí của Nhà Thờ đã làm tăng thêm mùi ngát của nến, hương và đám đông chen vai thích cánh, và cái mùi quá hắc ấy đã khiến cho Nívea thấy mệt. Bà muốn cuộc lễ kết thúc ngay cho xong để có thể trở về ngôi nhà mát mẻ của mình, ngồi trong hàng hiên đầy cây dương sỉ và nhấp nháp cốc nước hạnh nhân mà Vú Em thường pha chế trong những ngày lễ hội. Bà đưa mắt nhìn các con, những đứa nhỏ thấy đã mệt, cứng nhắc trong bộ quần áo diện ngày Chủ Nhật, của những đứa lớn đã có vẻ bắt đầu lơ đãng. Bà để mắt nhìn Rosa, cô gái lớn trong số những con gái còn sống, và cũng như mọi khi, bà thấy ngạc nhiên. Sắc đẹp lạ lùng của cô có đặc tính gây rối loạn mà cả cô cũng không thoát khỏi, nó làm cho cô tựa như được tạc nên bởi một chất liệu khác với chất của nòi giống con người. Nívea biết con gái mình có lẽ không phải người của cuộc đời này ngay từ trước khi sinh ra cô, bởi vì bà đã trông thấy cô trong nhiều giấc mộng, vì thế nên bà chẳng lấy làm ngạc nhiên khi bà đỡ phải kêu thất thanh khi cô vừa lọt lòng. Khi lọt lòng mẹ ra đời Rosa đã trắng trẻo, nhẵn nhụi, không nhăn nhúm, trông cô giống như một con búp bê bằng sứ, với bộ tóc xanh mướt, đôi mắt màu vàng, rõ ràng là một đứa trẻ đẹp nhất được sinh ra trên trái đất kể từ thời kỳ có tội tổ tông truyền, như lời của bà đỡ vừa làm dấu thánh vừa thốt lên như vậy. Ngay từ lần tắm đầu tiên Vú Em đã tắm rửa cho cô bé bằng nước sắc của hoa cúc liên chi, thứ nước tắm có công dụng làm dịu mầu da, làm cho da cô có cái cung sắc của mầu đồng tươi, Vú bế cô trần truồng phơi nắng để cho da cô được mịn chắc hơn, làn da như trong suốt ở dưới bụng, kẽ nách, qua đó có thể đoán thấy được những mạch máu và cái cơ cấu bí mật của cơ bắp bên trong. Những phương thuốc truyền thống của cô gái Digan đó cũng chẳng đủ để tránh lan truyền đi rất nhanh chóng cái tin đồn rằng nhà họ Valle đã sinh đẻ ra một cô tiên. Nívea lo sợ đến những năm trưởng thành đầy bất trắc sẽ đem đến cho cô con gái của bà một vài khuyết tật trong cơ thể, nhưng cái đó đã không xảy ra, mà trái lại, đến năm mười tám tuổi Rosa cũng không béo ra và cũng không có trứng cá, mà chỉ thấy cái duyên dáng mặn mà của cô càng đậm nét. Màu da cô với những bóng xanh xanh dìu dịu, màu tóc xanh mướt của cô, sự chậm chạp trong chuyển động và tính cách lặng lẽ của cô gợi cho ta nghĩ tới một cư dân ở dưới nước. Cô mang trong người chút gì như thể loài cá, và nếu như mọc ra được một cái đuôi có vảy thì rõ ràng cô là một nàng tiên cá nhưng đôi chân của cô lại đặt cô vào vị trí giới hạn không rõ ràng giữa một con người và một con vật thần thoại. Nhưng dù có mang trong người tất cả những tính cách đó, cô gái trẻ Rosa sống một cuộc sống hầu như bình thường, cô có một người yêu và một ngày kia sẽ cưới nhau, và khi đó, lễ cưới ấy sẽ đặt trách nhiệm bảo vệ sắc đẹp của cô vào những bàn tay khác. Rosa nghiêng đầu và một tia nắng lọt qua khuông cửa kính kiểu Gothic của nhà thờ, dọi một vầng hào quang trên khuôn mặt cô. Một vài người quay đầu để nhìn cô và thì thầm với nhau, như vẫn thường như vậy mỗi khi cô đi ngang qua trước mặt mọi người, nhưng Rosa dường như chẳng để ý đến bất cứ cái gì, cũng chẳng có đến một sợi tóc kiêu kỳ hợm hĩnh, ngày hôm đó lại càng lơ đãng hơn thường lệ vì cô đang tưởng tượng trong óc những con vật mới để thêu trên tấm khăn bàn của cô, những con thú nửa loài chim nửa loài có vú, người phủ đầy lông đủ mầu sắc cầu vồng, trên đầu có những cặp sừng và dưới chân có vuốt, thân hình to béo, hai bên nách có cánh thật ngắn, những hình ảnh bất chấp những quy luật của sinh vật học và khí thể động lực học. Rất ít khi cô nghĩ tới người yêu, Esteban Trueba, không phải vì cô thiếu tình yêu đối với anh ta, mà bởi tại cái tính nết hay quên của cô, và bởi tại hai năm xa cách, hai năm vắng mặt nhau thật quả là nhiều xa cách quá! Anh ta đang làm việc tìm vàng tại những khu mỏ miền Bắc. Anh viết thư cho cô theo đúng khuôn phép, và Rosa đôi khi gửi thư trả lời anh, có kèm những câu thơ sao chép trong sách và những tranh vẽ hoa bằng mực Tàu trên giấy da mỏng. Qua những bức thư trao đổi mà Nívea thường thường vi phạm bằng cách kiểm duyệt, bà biết được tất cả những biến động của nghề thợ mỏ, một nghề luôn luôn bị đe dọa đổ vỡ, xụt lở, trong khi đuổi theo dò tìm những vỉa cứ trôi trượt đi, trong khi vay nợ để mở những tài khoản của rủi may số phận, phó thác vào lòng tin sẽ xuất hiện một vỉa đầy vàng kỳ diệu nó cho phép người khai mỏ nhanh chóng tạo nên một gia sản lớn để quay trở về khoác tay Rosa đến trước bệ thờ làm lễ cưới, để trở thành người đàn ông hạnh phúc nhất trên thế giới, như thể bao giờ Esteban Trueba cũng viết vậy trong phần cuối của bức thư. Tuy vậy, Rosa không thấy cần phải lấy chồng một cách vội vàng, và hầu như cô đã quên cái hôn duy nhất mà họ đã trao nhau khi chia tay, và cô cũng chẳng nhớ được chắc chắn mầu mắt của anh người yêu kiên trì đó. Do ảnh hưởng của những cuốn tiểu thuyết lãng mạn, những thứ duy nhất mà cô đọc, nên cô thích tưởng tượng thấy anh đi ủng da cao gót, da cháy sạm bởi nắng gió trên hoang mạc, đang đào bới đất để tìm những kho báu của những tên tướng cướp chôn dấu bí mật, những kho tiền vàng cổ Tây Ban Nha và những đồ trang sức bằng vàng của người Inca; và bà Nívea thật tốn công vô ích trong việc cố làm cho cô hiểu, cố thuyết phục để cô tin rằng những của quý của mỏ là bụi vàng nằm lẫn trong đất đá, bởi vì đối với Rosa, cô không thể tin được rằng Esteban Trueba lại có thể thu nhặt hàng tấn đất đá vụn với cái hi vọng đưa nó vào nung trong lò lửa để bắt nó phun ra một gam vàng. Trong khi đó cô chờ đợi một cách chẳng buồn phiền, không mảy may lo lắng, lặng lẽ bình tĩnh làm một nhiệm vụ khổng lồ mà cô tự đặt cho mình: thêu một tấm khăn bàn to nhất trên thế giới này. Cô bắt đầu bằng những mẫu thêu chó, mèo và bướm, nhưng ngay lập tức óc tưởng tượng lạ kỳ dẫn dắt công việc của cô, và dưới đường kim thêu của Rosa cả một thiên đường của những thú vật không thể có được hiện lên trước đôi mắt lo lắng của cha cô. Severo del Valle cho rằng đã đến lúc con gái ông phải thoát ra khỏi cơn mơ mộng nặng nề và đặt mình trong thực tế, phải học lấy một nghề gì thuộc phạm vi nội trợ để chuẩn bị cho cuộc sống hôn nhân, nhưng, Nívea không lo lắng như ông về chuyện đó. Bà không thích làm đau khổ con gái bằng những đòi hỏi trên cuộc đời trần tục, vì bà đã cảm thấy trước có lẽ Rosa là một con người trên thiên giới, cô không sinh ra để dai dẳng sống lâu năm trong cái thế giới thô tục này, cho nên bà để con gái được thảnh thơi yên tĩnh với những sợi chỉ cùng những hình thêu của cô, và không phản đối cái vườn bách thú kỳ lạ, sản phẩm của những cơn ác mộng của con bà.

Một sợi giây đeo coóc-sê của Nívea bị đứt, đầu đứt cứng nhắc cắm vào giữa hai hàng xương sườn. Bà cảm thấy như bị ngạt trong bộ áo váy bằng nhung mầu xanh da trời, cổ viền đăng ten hơi quá cao, đôi tay áo quá chật, lưng áo thật quá chét, khiến cho mỗi khi cởi áo váy bụng bà bị cuộn dấy lên đau đến nửa tiếng đồng hồ, cho đến khi ruột non ruột già ở bên trong lại đâu đấy trở về đúng vị trí bình thường. Bà và một số bà bạn thuộc phái đòi quyền bầu cử cho phụ nữ đã nhiều lần thảo luận về vấn đề mặc coóc-sê kiểu đó và cuối cùng chỉ đi đến kết luận là trong khi phụ nữ chưa cắt ngắn váy và bộ tóc, và chưa từ bỏ những chuyện tiếu lâm, thì dù cho có thể đi học nghề thuốc hoặc được quyền bầu cử thì cũng thế thôi, bởi vì chả ai làm gì có tinh thần dám bỏ chiếc áo quỷ đó, và chính bà cũng không có cái dũng khí làm một người đầu tiên vứt bỏ cái mốt đương thời. Nívea nhận thấy giọng nói miền Galicia đã thôi không chát chúa đập vào đầu óc; thấy mình đang ở trong phút giây ngừng lại khá lâu của bài thuyết giáo mà đức cha, con người hiểu rất rõ tác động của một phút lặng yên trái nghịch, nên cha thường hay sử dụng. Đôi mắt nảy lửa của ngài lợi dụng những giây phút đó để lướt trên mặt của từng tín đồ trong địa phận. Nívea buông tay Clara, tìm một chiếc khăn trong tay áo để lau mấy giọt mồ hôi trên cổ. Sự yên lặng thật sâu lắng, đặc quánh và thời gian như ngưng lại trong nhà thờ, và không một ai dám ho hoặc thay đổi tư thế ngồi cho thoải mái, để khỏi bị đôi mắt của đức cha Restrepo chú ý. Nhưng lời nói cuối cùng của đức cha còn ngân vang giữa những hàng cột.

Ngay trong lúc đó, mà nhiều năm sau này Nívea vẫn nhớ, trong cơn bứt rứt và im ắng đó, giọng nói của cô bé Clara nổi lên thật rõ mồn một.

– Sịịịịt! Thưa cha Restrepo! Nếu câu chuyện về địa ngục chỉ là điều nói dối, thì tất cả chúng mình đều mắc cái tội lầm to!

Ngón tay trỏ của nhà truyền giáo cơ đốc đang lơ lửng trong không khí chuẩn bị chỉ mặt những người có tội nữa, rơi thõng ngay xuống như thể một tiếng sét rơi xuống chính đầu của ngài. Mọi người đều nín thở và những người đang ngủ gật chợt tỉnh táo hẳn lên. Hai vợ chồng Valle là người đầu tiên có phản ứng khi cảm nhận thấy một nỗi kinh hoàng xâm chiếm họ và thấy những đứa con của họ bắt đầu nhốn nháo mất bình tĩnh. Severo hiểu cần phải hành động nhanh gấp trước khi tiếng cười của mọi người nổ ra, hoặc một tai họa trời giáng nào đó chợt xập xuống. Ông vội nắm lấy cánh tay bà vợ và tóm lấy cô Clara, kéo cả hai người líu ríu theo sau những bước chân soải rộng của ông, và theo sau nữa là cả lũ con nhốn nháo lộn xộn chạy ra phía cửa. Toàn bộ gia đình Valle chạy thoát ra khỏi cửa nhà thờ trước khi đức cha Restrepo có thể cầu được một tia sét giáng xuống để biến cả gia đình nhà họ thành những bức tượng cứng quèo bất động, nhưng khi đến được bực cửa ra vào họ vẫn nghe rõ giọng nói dữ tợn của vị cha đạo vừa bị xúc phạm.

– Đồ ma quỷ ám! Đồ ma quỷ ám điên dại!

Những lời rủa đó của đức cha Restrepo đọng lại mãi mãi trong ký ức của gia đình Valle với cái vẻ trầm trọng của một lời tiên đoán mà trong nhiều năm liên tiếp sau đó họ thường hay có dịp để nhớ lại. Người duy nhất không chú ý và nhớ đến điều đó chính là cô bé Clara, cô chỉ ghi gọn nó trong cuốn nhật ký, rồi sau cũng quên bẵng đi. Cha mẹ cô, trái lại, không thể quên được những lời rủa đó, mặc dầu cả hai đều thống nhất với nhau là bệnh ma ám và bệnh điên loạn ma làm hai tội quá nặng đối với một đứa con gái còn quá nhỏ. Hai vợ chồng Valle sợ những lời dị nghị xấu của mọi người và lòng cuồng tín của đức cha Restrepo. Những tính cách khác thường kỳ quặc của con gái họ cho tới ngày hôm đó, họ vẫn chưa hề đặt tên gọi nó là gì, và cũng không hề cho rằng nó có liên quan đến những ảnh hưởng của quỷ Satan. Họ vẫn cho rằng những đặc tính đó của cô gái út chẳng qua cũng như thể cái tật thọt chân của thằng Luis anh nó, hoặc như thể nhan sắc của Rosa chị nó. Cái mãnh lực tinh thần của Clara cũng không hề làm cho bất kỳ một ai khó chịu và cũng chẳng gây ra một sự lộn xộn lớn nào cả, mà hầu như bao giờ nó cũng chỉ thể hiện trong những việc chẳng có gì quan trọng, và cũng chỉ trong phạm vi thân mật, bó hẹp trong khuôn khổ gia đình. Đôi ba lần, vào giờ ăn, khi tất cả mọi người trong gia đình đã tụ họp xung quanh chiếc bàn ăn lớn, ngồi theo trật tự nghiêm ngặt của ngôi thứ quyền hạn trong nhà, thì lọ muối nhỏ bắt đầu rung rung rồi bất chợt chuyển động trên mặt bàn, di chuyển len lỏi giữa những cốc, đĩa, mà chả thấy có một luồng điện năng, hay trò ma thuật nào can thiệp vào. Nívea kéo nhẹ bím tóc của Clara và bằng cách đó bà đã kéo được cô gái út của bà ra khỏi cơn đãng trí mơ màng, để cho lọ muối nhỏ trở lại trạng thái bình thường, bất động. Mấy anh chị lớn của bé Clara đã tổ chức sắp đặt để những khi có khách đến nhà, ai ngồi gần nhất thấy có cái gì động đậy trên bàn thì phải đưa tay ra nắm ngay lập tức trước khi vị khách trông thấy được để vị đó khỏi giật mình kinh ngạc. Còn tất cả mọi người trong gia đình cứ tiếp tục ăn không bình luận gì. Và mọi người cũng đã quen với những lời đoán trước mà cô bé út thường đưa ra. Cô bé báo trước những cuộc động đất; trên cái đất nước có nhiều thảm họa kiểu này, điều đó cũng rất tiện vì nó làm cho người ta có đủ thì giờ để cất giữ bát đĩa cốc chén vào nơi an toàn, và đặt giày dép ở ngay tầm tay để có thể chạy ngay ra ngoài trong lúc có động đêm hôm. Năm lên sáu tuổi Clara đã tiên đoán con ngựa sẽ quật ngã Luis, nhưng anh chàng không tin lời cô bé, sau đó quả nhiên bị ngã ngựa và một bên hông bị thương teo lại. Cùng với thời gian trôi đi, chân trái anh chàng bị ngắn lại và phải tự tạo cho mình một chiếc giầy đặc biệt có một chiếc đế thật cao. Sau lần đoán đó bà Nívea rất lo lắng, nhưng Vú Em làm cho bà yên tâm với lý lẽ nói có rất nhiều đứa trẻ có thể bay lên như ruồi, hoặc có thể đoán được những điềm trong cơn mộng và nói chuyện được với những linh hồn người chết, nhưng tất cả những cái đó đều sẽ biến đi khi thời kỳ ngây thơ vô tội của chúng đã qua đi.

Không có đứa trẻ nào lớn lên mà vẫn giữ trạng thái ấy đâu - Vú giải thích. - Hãy chờ mà xem con bé, nó sẽ không còn cái tài làm chuyển dịch đồ vật và báo trước những điều lành dữ xảy ra đâu.

Clara là đứa bé được Vú Em yêu quý nhất. Vú đã giúp nó lọt lòng mẹ và Vú là người duy nhất hiểu được thực sự bản chất kỳ cục của đứa bé gái. Khi Clara lọt lòng mẹ, Vú đã ôm ấp nó, tắm rửa cho nó, và kể từ lúc đó trở đi Vú yêu đến tuyệt vọng đứa con gái yếu ớt; với hai lá phổi đầy những đờm rãi, luôn luôn ở trong nguy cơ bị ngạt thở và tím ngắt lại, đứa bé mà nhiều lần Vú đã phải cấp cứu hồi sinh bằng hơi nóng của đôi vú thật lớn của mình khi nó ngạt, bởi vì Vú biết phương pháp đó là phương pháp duy nhất công hiệu đối với hen suyễn, còn công hiệu nhiều hơn những môn thuốc sắc có pha rượu của bác sĩ Cuevas.

Ngày Thứ Năm Thần Thánh đó Severo đi đi lại lại trong phòng khách, băn khoăn lo lắng vì việc gây rối ren mà đứa con gái út đã phạm phải trong buổi lễ misa. Ông đưa ra những luận cứ nói chỉ có một người cuồng tín như đức cha Restrepo mới có thể tin vào ma quỷ ở giữa thế kỷ hai mươi này, thế kỷ ánh sáng, thế kỷ của khoa học kỹ thuật, trong đó ma quỷ đã vĩnh viễn không còn ai sợ ai tin. Nívea ngắt lời ông, nói cái đó không phải điểm chính. Điều nghiêm trọng, theo bà, nằm ở chỗ nếu những chiến công kiểu ấy của cô con gái họ lọt ra khỏi bốn bức tường của ngôi nhà và ông cố đạo bắt đầu đi dò xét thì rồi tất cả thủ đô này người ta sẽ biết hết.

– Rồi người ta bắt đầu tới tấp đến nhà để ngắm nhìn hiện tượng lạ - Nívea nói.

– Và thế là Đảng Tự Do đi tiêu - Severo tiếp thêm, vì ông đã nhìn thấy sự tác hại mà nó có thể gây ra cho sự nghiệp chính trị của ông nếu người ta nói có một con bé phù thủy trong gia đình.

Họ đang chuyện trò với nhau như vậy thì Vú Em, kéo lê chiếc hài sảo, với tiếng sột soạt của chiếc váy lót hồ cứng bước vào báo tin có mấy người khiêng một người chết hiện đang có mặt ở trong sân nhà. Đúng thế. Mấy người đó đi trên một chiếc xe có bốn ngựa kéo đi vào, chiếm cả một khoảng sân đằng trước, séo nát cả mấy khóm trà mi, gót ủng làm hoen bẩn cả nền đá nhẵn sáng bóng, kéo theo sau một trận cuồng phong bụi mù, mấy tràng ngựa hí, và lời chửi rủa mấy người mê tín đang đưa tay làm những giáng điệu như bùa phép để chống cái nhặm của bụi bay vào mắt. Bọn người này mang thi thể của ông cậu Marcos cùng tất cả hành trang của ông tới. Một người nhỏ bé, mũm mĩm chỉ huy cả bọn ầm ĩ đó, ông ta mặc áo đen, vạt đuôi tôm dài, đội một chiếc mũ quá rộng vành, vào đến nơi liền bắt đầu một bài diễn văn trang trọng để giải thích về trường hợp của vụ này, nhưng ông ta bị Nívea ngắt lời một cách tàn nhẫn, vì bà đã lao mình gieo người trên nắp quan tài phủ đầy bụi bẩn, trong đó có thi hài của người em trai yêu quý nhất của bà. Nívea kêu gào đòi mở nắp quan tài để được chính mắt trông thấy đứa em trai. Trước đây có lần bà đã phải chôn em trai rồi, và chính vì vậy giờ đây bà cũng vẫn thấy nghi ngờ rằng lần này cũng chưa hẳn cậu em đã thật chết rõ ràng! Những tiếng kêu gào của bà làm cho bầy gia nhân trong nhà kéo tới, và tất cả các con bà đều chạy đến khi nghe thấy tiếng kêu khóc gọi tên người cậu của chúng một cách thảm hại, tang tốc.

Đã hai năm nay Clara không được gặp cậu Marcos, nhưng cô bé vẫn nhớ kỹ cậu. Đó là hình ảnh duy nhất rõ ràng, hoàn hảo mà cô nhớ được trong thời kỳ thơ ấu và để gợi lại hình ảnh đó cô chẳng cần tra cứu lại bộ ảnh gia tộc treo trong phòng khách, ở đó cậu hiện ra trong bộ quần áo nhà thám hiểm, tựa tay vào ngọn một khẩu súng săn hai nòng kiểu cổ xưa, chân phải dận trên gáy một con hổ Malaysia, trong tư thế thắng lợi giống y như thể hình Đức Bà Đồng Trinh trên bàn thờ lớn, đứng dẫm chân trên người con quỷ đã bị đánh bại, giữa những đám mây trắng thạch cao, và một quần tiên á thánh mầu xanh tái mà cô thường chú ý ngắm nhìn. Clara chỉ cần nhắm mắt lại là trông ngay thấy cậu bằng xương bằng thịt hẳn hoi, da cháy nắng bởi khí hậu khắc nghiệt của tất cả mọi miền trên trái đất, người gày, có bộ ria kiểu cướp biển, và ở bộ ria đó nở ra nụ cười lạ lùng của cậu, với những chiếc răng như răng cá mập. Dường như cô không thể nào tin được cậu lại nằm trong chiếc quan tài đen đặt ở giữa vườn kia.

Mỗi lần Marcos về thăm gia đình của bà chị Nívea, ông ta đều ở lại chơi một vài tháng, gây cho lũ cháu một niềm vui nhộn nhạo, đặc biệt đối với Clara, và tạo nên cả một cơn phong ba lộn xộn, trong đó trật tự ngăn nắp ở trong nhà bị tiêu tan hết. Căn nhà trở nên bừa bãi, đầy những hòm xiểng, thú vật ướp khô, lao giáo của người India, phao bơi của lính thủy. Tại khắp mọi góc, người trong nhà đều vấp phải những đồ vật kỳ lạ của ông, trong đó có đủ cả những loại vật chưa bao giờ ai từng trông thấy, những con vật đã làm cuộc hành trình từ những miền đất xa lăng lắc, để cuối cùng nằm bẹp dưới nhát chổi không thương tiếc của Vú Em vun gọn vào trong một xó nhà. Cung cách sống của cậu Marcos là kiểu sống của một loài ăn thịt sống, theo như cách nói của Severo. Cậu suốt đêm làm những động tác khó hiểu trong phòng khách, mà mãi về sau này Severo mới hiểu, đó là những cuộc tập luyện nhằm hoàn thiện năng lực điều khiển và kiểm tra của ý chí tinh thần đối với cơ thể vật chất và làm cho sự tiêu hóa được hoàn hảo. Cậu làm những thí nghiệm về thuật luyện kim ở trong bếp, hun khói bốc lên từng đám đen kịt cả căn nhà, mùi khét lẹt hôi mù, và tiêu hủy trong việc đó biết bao nhiêu nồi soong để đun những chất rắn chắc mà bếp lò không làm sao nung chảy. Trong khi mọi người trong nhà cố gắng ngủ, cậu kéo lê những chiếc va-li chạy suốt dãy hàng hiên, thử nghiệm những âm thanh lanh lảnh bằng những dụng cụ man rợ, và cậu dạy nói tiếng Tây Ban Nha cho một con vẹt, mà tiếng mẹ đẻ của nó nguồn gốc ở vùng sông Amazon. Ban ngày cậu ngủ trên một chiếc võng chăng giữa hai cây cột của hành lang, không có gì che đậy thân hình ngoài chiếc khố, làm cho Severo hết sức khốn khổ và cáu giận, nhưng Nívea lại tha thứ cho cậu em, bởi lẽ Marcos đã thuyết phục được bà tin rằng đức Nazareth cũng đã truyền bá lối đó. Clara bấy giờ tuy còn rất nhỏ vẫn nhớ rõ ràng lần thứ nhất cậu Marcos đến với gia đình sau một chuyến viễn du trở về. Cậu đến mang theo đủ thứ như thế để ở lại suốt đời cùng gia đình cô. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, chán ngấy cái chuyện phải trường mặt ra dự những buổi trao đổi văn nghệ của những cô con gái, trong cuộc đó bà chủ nhà đánh đàn dương cầm, và chán cả việc đánh bài và ám chỉ đến những khó khăn của tất cả mọi người anh em họ hàng để tự sửa chữa mình, chán cả việc làm phụ tá trong văn phòng luật sư của Severo del Valle, cậu liền mua một chiếc máy hát và đẩy nó đi khắp các phố phường với mưu đồ quyến rũ cô em họ Antonieta, và dọc trên đường đi cũng làm vui công chúng bằng những bản nhạc in đĩa, chạy bằng giây cót quay tay. Chiếc máy hát đó chỉ là một chiếc hộp cổ lỗ, có bốn bánh, nhưng được cậu sơn lại và thêm những hoa văn thủy thủ, rồi đặt thêm vào giữa một chiếc ống khói giả, của một con tàu. Thành ra trông nó tựa như một cái bếp lò than dài ngoẵng. Hộp đàn máy đó nẩy một khúc nhạc nhà binh và một điệu waltz sen kẽ, và giữa những giây phút phải quay giây cót để máy tiếp tục chạy, con vẹt đã học nói tiếng Tây Ban Nha dù vẫn giữ nguyên giọng ngoại quốc, vẫn thu hút được thật lắm người đến nghe và làm cho họ phải thốt lên những tiếng reo thất thanh. Đồng thời con vẹt cũng dùng mỏ cặp những mảnh giấy gấp sẵn từ trong một chiếc hộp ra để bán những điềm báo về số phận rủi may cho những người tò mò muốn biết. Những tờ giấy gấp mầu hồng, mầu xanh thẫm, màu da trời thật rất chi tuyệt diệu, nó luôn luôn nhằm vào những điều ham muốn kín đáo nhất của khách hàng. Ngoài những tấm giấy báo về những điềm may rủi của số phận đó, cậu còn bán cả những quả bóng tí xíu làm bằng mùn cưa cho trẻ con vui chơi, lại bán cả bột thuốc chống bệnh bất lực, loại hàng cậu bán một cách thầm thì, bí mật với những khách qua đường nào mắc căn bệnh đó. Ý nghĩ dùng đến chiếc máy hát này nẩy sinh như một phương pháp cuối cùng và tuyệt vọng của cậu Marcos mong thu hút sự chú ý của cô Antonieta, em họ, sau khi cậu đã nhiều lần thất bại trong những phương pháp tán tỉnh thông thường. Cậu nghĩ chẳng có một người phụ nữ tâm thần lành mạnh nào lại có thể thản nhiên không cảm động khi nghe một khúc ca ban chiều phát ra từ cái máy đàn tuyệt diệu đó. Vì thế nên cậu mới mua hộp đàn máy đó và giở trò như vậy. Một buổi chiều cậu đẩy hộp đàn máy đến đứng dưới cửa sổ nhà cô em họ, vặn giây cót cho nổi lên bản hành khúc nhà binh và điệu waltz, trong lúc cô em họ đang uống trà cùng một nhóm bạn gái. Antonieta không biết mình là người được ám chỉ tặng nghe bản nhạc, mãi đến khi con vẹt lên tiếng gọi tên cô, lúc đó cô mới ló đầu ra cửa sổ. Phản ứng của cô không phải thứ phản ứng mà người yêu cô mong đợi. Mấy cô bạn gái cô làm nhiệm vụ loan tin đó tới khắp mọi khách thính trong thành phố và, ngày hôm sau mọi người bắt đầu đi dạo các phố xá trung tâm với hi vọng được trông tận mắt người em vợ ông Severo del Valle vặn giây cót chiếc máy hát, bán những quả bóng tí xíu bằng mạt cưa, kèm theo một con vẹt quái quỷ, với cái thú rất đơn giản được chứng thực rằng ngay trong những gia đình sang trọng nhất cũng có những lý do chính đáng để phải hổ thẹn. Bị gia đình giận dữ phản đối, Marcos đành phải từ bỏ chiếc máy hát và chọn những phương kế ít tiếng tăm hơn để mong chinh phục được cô em họ Antonieta, nhất quyết không thôi bao vây cô. Dùng đủ mọi cách, cuối cùng cậu cũng không giành được thắng lợi, bởi vì cô gái trẻ vụt một cái cưới ngay một nhà ngoại giao già hơn cô hai mươi tuổi, và ông ta đã mang cô đi theo sang một nước nhiệt đới mà tên của nó chẳng một ai có thể nhớ, nhưng chỉ biết ở đó có người da đen, có chuối, có rừng cây panma, tại đó cô có thể tự kiêu hãnh với cái kỷ niệm về anh chàng theo đuổi mình đã hủy hoại mười bảy năm tuổi xuân trong bản hành khúc nhà binh và điệu waltz phát ra từ chiếc máy cổ lỗ của anh ta. Marcos bị chìm trong buồn nản mất hai ba ngày, sau đó cậu tuyên bố sẽ không bao giờ lấy vợ và sẽ đi chu du vòng quanh thế giới. Cậu bán chiếc máy hát cho một người mù, và để con vẹt lại cho Clara thừa kế, nhưng Vú Em đã bí mật đầu độc nó bằng một liều cao cực độ dầu gan cá thu, bởi Vú không chịu đựng được cái nhìn dâm đãng của nó, cũng như rận bọ trong người nó và những tiếng kêu chí choé chẳng đâu vào đâu của nó để rao bán những tấm giấy báo điều may rủi, những quả bóng tí xíu bằng mùn cưa và thuốc bột chữa bệnh bất lực.

Đó là cuộc du ngoạn lâu dài nhất của Marcos. Cậu trở về với một trọng tải đồ sộ những hòm, hộp to đùng, xếp hàng đống tại sân sau nhà, giữa chuồng gà vịt và kho chứa củi, ở giữa trời như vậy suốt mùa đông. Khi mùa xuân chớm nở, cậu cho chuyển những hòm hộp đó tới Quảng Trường Diễu Hành, một vùng ít nhà cửa, vô cùng rộng, tại đó nhân dân thường tập hợp để xem binh lính diễu hành trong những ngày Quốc Lễ, bước đi theo những bước chân ngỗng bắt chước hệt như của bọn lính người Phổ. Khi mở những hòm hộp đó ra, thấy bên trong có các bộ phận phụ tùng đủ loại, bằng gỗ, bằng kim loại hoặc bằng vải sơn. Marcos mất hai tuần lễ lắp ráp những bộ phận đó lại với nhau theo như chỉ dẫn ghi trong một cuốn sách giáo khoa bằng tiếng Anh mà cậu phải tìm giải bằng sức tưởng tượng vô địch của mình và tra cứu bằng một cuốn tự điển nhỏ. Khi công việc đã kết thúc, thì ra cậu đã lắp một con chim có tầm cỡ đồ sộ của loại chim tiền sử, có khuôn mặt như chim ưng dữ tợn, ở bộ phận đằng trước sơn mầu, có cánh tháo lắp rời, cử động được, và trên lưng có một chiếc cánh quạt. Tác phẩm đó làm chấn động dư luận. Những gia đình chóp bu đã quên câu chuyện chiếc máy hát, và Marcos chợt trở thành một nhân vật tân kỳ của thời đại. Mọi người đều tiến hành dạo chơi ngày chủ nhật để tới quảng trường xem con chim khổng lồ, và những người bán tạp hóa, kẹo bánh và những chàng phó nháy lưu động đâm ra có việc, phát tài. Tuy vậy, sau đó ít lâu sự thú vị và chú ý của công chúng đối với con chim cũng nhạt dần. Lúc bấy giờ Marcos mới thông báo rằng ngay sau khi thời tiết bắt đầu quang đãng, cậu sẽ cưỡi con chim bay lên và sẽ vượt qua dãy núi dài Andes. Tin đó chỉ trong mấy tiếng đồng hồ đã lan khắp thành phố, và trở thành một sự kiện được bình luận đến nhiều nhất trong năm đó. Con chim máy đó nằm sáp bụng trên nền đất rắn, nặng nề và đần độn, dáng vẻ giống một con vịt bị thương hơn là một chiếc máy bay tân thời bắt đầu được chế tạo lúc đó tại Bắc Mỹ. Cái bộ dạng bên ngoài của nó tỏ ra chẳng có vẻ gì cử động được, càng không thể bốc lên cao mà bay xuyên dãy núi quanh năm phủ tuyết trắng. Phóng viên nhà báo và những người tò mò kéo đến hàng đàn hàng lũ. Marcos giữ nguyên nụ cười bất di bất dịch trước những câu hỏi đổ xuống như mưa lũ, và lặng thinh đứng cho những tay chụp ảnh tha hồ mà bấm máy, không hề đưa ra một câu trả lời khoa-học-kỹ-thuật về cách thức mà cậu dự định tiến hành công tích của mình. Có cả những người đi xuyên qua hàng mấy tỉnh tới để xem cảnh lạ đó. Bốn mươi năm sau, người chắt của cậu là Nicolás, mà Marcos không hề được biết, lại bới từ dưới đất lên cái sáng kiến bay lên không trung nó luôn luôn tồn tại trong những con người thuộc dòng dõi cậu. Nicolás có ý định bay lên với mục đích buôn bán, bay lên trong một chiếc dồi bay khổng lồ bơm đầy khí nóng, có mang nhãn hiệu quảng cáo về mấy món giải khát có hơi. Còn trong thời kỳ mà Marcos thông báo về hành trình của cậu trên máy chim bay, không một ai ngờ rằng cái sáng kiến đó sẽ có thể dùng được vào việc gì ích lợi; cậu làm việc đó chỉ do tinh thần phiêu lưu của mình. Đúng ngày mà cuộc bay được thực hiện theo như đã báo, buổi sáng hôm đó trời đầy mây, nhưng bao nhiêu khích lệ đã khiến cho Marcos không muốn hoãn vào ngày khác. Cậu đến địa điểm thật đúng giờ và không hề ngước mắt nhìn bầu trời đầy mây sám ngoét. Đông đảo dân chúng kinh hoàng, tụ họp đầy các đường phố gần cận, leo cả lên nóc nhà, chen chúc ở mọi ban công của những nhà gần đấy, và chen lấn nhau kín cả công viên. Từ trước đến bấy giờ chưa bao giờ có một cuộc tập trung nào có thể tập hợp được đông người đến thế, mà phải năm mươi năm sau mới có thể có được cuộc tập trung chính trị đông đúc bằng, để hoan nghênh người ứng cử viên Marxist đầu tiên, bằng những phương pháp hoàn toàn dân chủ đã chiếm được ghế Tổng Thống nước Cộng Hòa. Clara nhớ suốt đời về ngày hôm đó. Mọi người đều vận quần áo mùa xuân, tới quảng trường trước thời gian đã ấn định mở đầu cuộc bay một chút: các ông áo lanh trắng, còn các bà đội mũ rơm kiểu Ý năm đó đang độ thịnh hành. Từng đoàn học sinh do thầy giáo dẫn đường mang hoa đến diễu hành và tặng người anh hùng. Marcos nhận hoa và nói đùa rằng hãy đứng chờ, có thể máy bay sẽ nổ tung, lúc đó sẽ lấy lại hoa để đưa ma cho mình. Đức cha đạo cũng đích thân tới không cần ai mời. Ông đi cùng hai tu sĩ cầm cây hương để làm lễ ban phúc lành cho con chim, và ban nhạc của bảo an binh tấu nhạc vui, không cần ai yêu cầu, để cho dân chúng thưởng thức. Cảnh binh, cưỡi ngựa mang giáo, phải vất vả mới giữ được đám đông đứng cách xa trung tâm công viên, nơi Marcos mặc một chiếc áo yếm của công nhân, đeo kính to sụ của những tuyển thủ đua môtô và cái dáng vẻ kỳ lạ của nhà thám hiểm. Cậu mang theo để dùng trong chuyến bay nào kim chỉ Nam, một ống viễn kính và vô số bản đồ hàng không kỳ lạ mà chính cậu đã vẽ lấy, dựa trên những lý thuyết của Leonardo da Vinci và trên cơ sở những hiểu biết thiên văn của người Inca. Trái ngược với tất cả mọi logic, đến lần mở máy chuyển động thứ hai, con chim bay lên không vướng mắc gì và lại còn có vẻ hào hoa lộng lẫy, từ trong bộ xương của nó vang ra tiếng cót két và tiếng rú ầm ầm của chiếc động cơ. Nó bay vút lên, đôi cánh vẫy vẫy rồi mất hút vào trong mây, giữa những tràng vỗ tay rầm rĩ tiễn biệt, những tiếng huýt sáo, những chiếc khăn vung vẩy, những lá cờ tung bay, và những hồi kèn trống của ban nhạc, và những giọt nước phép vẩy tung để đem đến phúc lành. Trên mặt đất lúc đó những người có học vấn nhất đứng lại bình luận về sự kiện tuyệt diệu vừa xẩy ra, mong muốn lý giải được điều huyền diệu ấy. Clara tiếp tục đăm đắm nhìn trời sau khi cậu Marcos đã khuất trong mây không còn trông thấy. Cô bé cho rằng mình đã nhìn thấy cậu mười phút sau đó, nhưng đấy chỉ là một con chim sẻ bay qua. Ba ngày sau, chuyện huyên náo gây ra bởi chuyến bay thứ nhất trong nước tiêu tan dần, rồi không còn ai nhớ đến việc đó nữa, trừ có Clara, cô vẫn luôn luôn nhìn ngắm theo dõi không mệt mỏi những điểm cao và cả bầu trời.

Sau một tuần không có tin tức gì về ông cậu phi hành gia, người ta cho rằng cậu đã bay lên cao độ mất hút trong vũ trụ, và những kẻ ngu dốt nhất còn nghĩ ra rằng có thể cậu đã bay lên đến mặt trăng. Severo del Valle thì nửa buồn nửa nhẹ nhõm quả quyết cho rằng ông em vợ đã cùng chiếc máy quái gở rơi xuống một khe núi nào đó trong dãy Andes trùng điệp, nơi mà không bao giờ có thể đến mà tìm thấy được, Nívea khóc lóc thảm thiết và đi thắp nến tại nhà thờ San Antonio, thánh chủ của những cuộc phân ly, mất mát. Severo phản đối ý định đi làm lễ cầu hồn cho cậu, bởi ông cho rằng cái đó không phải là phương pháp để làm cho cậu bay tới được mặt trời và càng không thể khiến cho cậu quay về với trái đất, rồi ông bảo vệ quan niệm tất cả những buổi lễ misa, những buổi lễ dâng vật phẩm, cũng như tất cả những cuộc rửa tội hoặc buôn bán tượng thánh kia, tuốt tuột chỉ độc một trò kinh doanh giả dối. Nívea và Vú Em phải bí mật dắt lũ con đi cầu nguyện và lần tràng hạt trong chín ngày liền. Trong khi đó những đội thám hiểm tình nguyện dãy núi Andes đi sục tìm Marcos trên các triền núi và dưới những vực sâu suốt dải núi dài, tìm đến từng ngóc ngách hẻo lánh có thể đi tới được, và đến cuối cùng quay trở về, thắng lợi trao cho gia đình hài cốt của ông cậu nằm trong một chiếc quan tài loại gỗ xuềnh soàng, sơn đen, gắn kín. Nhà phi hành can đảm được chôn cất trong một đám ma vĩ đại. Cái chết của cậu đã làm cho cậu trở thành anh hùng và tên tuổi của cậu được xuất hiện trong mấy ngày liền trên những dòng tít của mọi tờ báo ở thủ đô. Dân chúng đã từng tập hợp để tiễn đưa cậu ngày cậu bay bổng lên không trên cánh con chim máy, bây giờ lại diễu hành trước chiếc quan tài gắn kín. Toàn thể gia đình khóc cậu thật thảm thương, trừ Clara, cô bé vẫn tiếp tục kiên nhẫn đưa mắt theo dõi trên trời, cái kiên nhẫn theo dõi của một nhà thiên văn. Một tuần lễ sau ngày đám ma tưng bừng đó, bỗng xuất hiện trên bực cửa ngôi nhà của Nívea và Severo del Valle, đích thân Marcos, bằng xương bằng thịt hẳn hoi, với một nụ cười vui vẻ nở giữa đám râu ria kiểu cướp biển. Có lẽ nhờ vào những buổi cầu nguyện và lần tràng hạt bí mật của mấy người đàn bà và tụi con cái, chính cậu cũng công nhận có lẽ thế, mà cậu đã sống nguyên lành với tất cả những khả năng mà cậu có, kể cả cái khả năng rất tươi vui. Dù cho đã có những tấm bản đồ hàng không mà nguồn gốc của nó thật cao sang quý phái, chuyến bay của cậu cũng đã thất bại, cậu mất tiêu con chim máy và phải cuốc bộ quay về, may mà không gãy một chiếc xương nào, và tinh thần phiêu lưu vẫn còn y nguyên chưa bị suy suyển. Sự hồi sinh này đã làm cho gia đình càng thêm tin tưởng đến suốt đời vào nhà thờ San Antonio, chứ không được dùng làm một bài học kinh nghiệm khôn ngoan cho những thế hệ tương lai của dòng họ khi cũng muốn thử bay lên trên không bằng nhiều cách khác nhau. Nhưng, dầu sao về mặt pháp luật, chính thức Marcos hiện chỉ là một thây ma. Severo del Valle lại phải vận dụng tất cả mọi kiến thức của ông về luật pháp để tìm cách trao lại cuộc sống và điều kiện công dân cho cậu em vợ. Khi mở nắp quan tài đã mang chôn, trước mặt các vị chức trách có thẩm quyền về việc đó, mọi người trông thấy bên trong chỉ có một túi cát. Sự việc đó đã làm hoen ố uy tín rất trong sạch không một vết nhơ của những nhà thám hiểm và thăm dò tình nguyện miền núi Andes từ trước đến nay; và từ ngày đó trở đi các vị đó đều bị coi chẳng kém gì những tên lừa đảo.

Cuộc hồi sinh anh hùng của Marcos đã làm cho tất cả mọi người quên hết câu chuyện về chiếc máy hát trước kia. Người ta lại mời mọc cậu đến các thính phòng của thành phố và, chỉ sau một thời gian ngắn tên tuổi của cậu lại được lừng lên. Marcos sống ở nhà chị gái trong mấy tháng. Rồi một đêm cậu bỏ ra đi không từ biệt một ai, để lại tất cả hòm, sách vở, vũ khí, giày ủng, và mọi thứ đồ đạc vặt vãnh hàng lô hàng lốc. Severo, và cả chính Nívea nữa, đều thở dài nhẹ nhõm. Cuộc ở thăm cuối cùng này của cậu em đã kéo quá dài. Nhưng Clara cảm thấy rất đau lòng, cô bé mất một tuần lễ liền cứ thẩn tha đi lại như kẻ mộng du, đưa ngón tay lên miệng ngậm. Lúc đó cô bé lên bảy tuổi, đã biết đọc những cuốn sách truyện của cậu, và cô đã gần với cậu nhất trong thời kỳ cậu ở với gia đình, vì những tài năng đoán trước của cô. Marcos cho rằng cái khả năng hiếm có của cô cháu gái bé đó có thể trở nên một nguồn thu nhập và một thời cơ thuận lợi để phát triển thêm sức sáng suốt của cô bé. Ông đưa ra lý luận rằng cái khả năng đó hầu như trong tất cả mọi con người đều có, đặc biệt là những thành viên trong họ hàng, gia tộc ông, và nếu như nó không hoạt động được một cách có hiệu quả, chẳng qua tại thiếu tập luyện. Ông có mua tại Chợ Thổ Nhĩ Kỳ một viên thủy tinh, mà theo ông nói, có những thuộc tính kỳ quái, và nguồn gốc của nó từ phương Đông (mãi sau đây người ta mới biết rằng nó chỉ một bộ phận trong cái phao của thuyền đánh cá), ông bọc nó trong túi nhung đen và tuyên bố nhờ có nó, ông có thể trông thấy được số phận, tương lai, chữa được đau mắt, đọc được những việc trong quá khứ và làm cho những giấc mơ có phẩm chất tốt đẹp hơn, tất cả cứ năm xu một quả. Khách hàng đầu tiên của ông là những cô sen, chị bếp, người hầu ở những gia đình xung quanh đó. Một trong số những người làm hầu mướn đó bị kết tội ăn trộm, bởi vì bà chủ đã để rơi đâu mất một chiếc nhẫn. Viên ngọc thủy tinh của Marcos đã chỉ ra chỗ ẩn náu và tìm thấy món đồ nữ trang đó: nó đã lăn vào khe tủ quần áo. Ngay ngày hôm sau người ta xếp hàng dài ở trước cửa nhà. Nào là sà ích xe ngựa, người buôn bán vặt, người đi giao sữa và nước ăn, rồi sau đấy có cả một số công chức trong thành phố, rồi những phu nhân quyền quý cũng bí mật men theo mép tường lẻn vào để khỏi lộ mặt cho mọi người trông thấy. Tất cả bậu sậu khách hàng đó đều do Vú Em tiếp nhận, xếp đặt ngồi chờ tại gian phòng chờ và thu tiền lệ phí. Công việc đó đã chiếm hết giờ lao động trong ngày lao động của Vú, rồi tiến tới Vú bị thu hút quá mức vào đó đến nỗi trễ nải cả công việc bếp núc, và gia đình bắt đầu phải rên la, bực bội khi ăn tối bây giờ chỉ toàn có mấy món đỗ cũ bung và mứt phật thủ.

Marcos sửa sang lại chiếc xe ngựa bằng cách che mấy mảnh rèm cũ đã gần hỏng, xưa là rèm phòng khách, nhưng do quên lãng và tháng năm đã khiến nó bây giờ chỉ còn như mấy miếng giẻ rách, bụi bậm. Ông tiếp nhận khách hàng tại đó cùng với Clara. Hai nhà bói toán mặc áo dài kiểu “người tiên giới”, theo lối nói của Marcos khi ám chỉ đến mầu vàng của nó. Vú Em đã nhuộm những chiếc áo dài đó bằng bột nghệ, mà Vú sắc trong một chiếc soong dùng chuyên vào việc nấu những món ăn mầu trắng. Marcos, ngoài áo dài còn cuốn thêm một chiếc khăn chùm tóc và đeo một chiếc bùa Ai-Cập lủng lẳng dưới cổ. Ông để râu, tóc mọc lởm chởm, và người gầy hơn bao giờ hết. Marcos và Clara được tin hoàn toàn, nhất là cô gái nhỏ, cô không cần phải nhìn vào viên ngọc thủy tinh cũng đoán được điều khách hàng cần tìm hiểu. Cô thì thầm nhắc bên tay cậu Marcos, và ông này sẽ chuyển lời đoán đó tới khách hàng cùng với những lời khuyên ứng khẩu mà ông cho là thích hợp. Cứ như thế, tiếng tăm của họ vang lừng, bởi vì những khách hàng đến hỏi xin bói nét mặt đều buồn thiu, nhưng khi trở ra mặt ai nấy đều đầy tràn hi vọng; những người đang đau khổ vì yêu nhưng không được người yêu lại, sẽ nhận được những sự chỉ dẫn để chinh phục trái tim đã vô tình với mình; những kẻ nghèo khổ bần cùng sẽ ra về với cách chơi chắc chắn để thắng trong trường đua chó. Công việc trở nên rất phát đạt khiến cho gian phòng chờ lúc nào cũng ầm ĩ đầy người và Vú Em bị người ta bắt đầu la ó tại sao mà phải chờ lâu thế. Lần này Severo không cần phải can thiệp để chấm dứt cái sáng kiến kinh doanh của cậu em vợ, bởi lẽ hai vị thầy bói đó khi nhận ra rằng những lời đoán rất đúng đó của họ có thể làm thay đổi cả số phận của đám khách hàng luôn luôn tuân theo từng lời từng chữ mà họ chỉ bảo, thì họ bắt đầu hoảng sợ nghĩ rằng việc làm của họ là một công việc của những kẻ lừa đảo. Họ bèn rời bỏ chiếc xe “tiệm bói”, chia đều cho nhau lời lãi kiếm được, dù rằng trên thực tế người duy nhất quan tâm đến mặt vật chất này chỉ có Vú Em thôi.

Trong số mấy anh chị em nhà Valle, Clara là cô bé thích thú, chăm chỉ, chú ý nghe những câu chuyện của cậu nhất. Cô bé có thể nhắc lại từng chuyện, học thuộc lòng rất nhiều ngôn từ thổ âm của người India ngoại quốc, biết được những phong tục của họ và có thể diễn tả cách thức người ta xuyên những miếng gỗ qua môi hoặc qua dái tai, cũng như nói về những nghi lễ hỏa táng và tên những loài rắn độc nhất và những thứ chống độc. Cậu của Clara rất hùng biện, kể chuyện rất hấp dẫn, nên khi nghe cô bé có thể cảm thấy như trong da thịt mình cháy bỏng những vết cắn của lũ rắn độc, và như trông thấy những con vật bò sát đó luồn trên mặt tấm thảm, len lỏi giữa những chân chống của chiếc bình phong gỗ vàng tâm, và như nghe thấy tiếng kêu quoéc quoéc của những con vẹt khổng lồ nổi lên giữa những tấm rèm của gian phòng khách. Clara nhớ một cách không ngập ngừng chút nào về con đường mà Lope de Aguirre đã đi qua trong cuộc tìm kiếm miền Núi Vàng, thuộc làu những tên rất khó đọc, khó phát âm của thực vật và động vật ở những vùng mà ông cậu tuyệt vời của cô đã tới thăm hoặc bịa ra, cô biết cả những vị lạt-ma uống chè pha muối với mỡ trâu, và có thể diễn tả với đầy đủ chi tiết về những của cải thiên nhiên giầu có của vùng Polynesia, những đồng lúa nước của nước Trung Hoa, hoặc những bình nguyên trắng tuyết của những đất nước trên miền Bắc, nơi mà băng giá vĩnh cửu giết cả súc vật và những người lơ đãng chỉ trong một phút. Marcos có một số cuốn vở nhật ký hành trình, trong đó ông ghi lại những con đường ông đã trải qua và cảm tưởng của ông; thêm nữa ông có một bộ sưu tập bản đồ và tiểu thuyết, những truyện phiêu lưu, cả những truyện thần tiên, tất cả ông cất giữ trong những chiếc hòm và những chiếc lọ để ở một góc cuối mảnh vườn thứ ba của ngôi nhà. Từ những cuốn sách đó những câu chuyện bay ra dệt nên những cơn mơ mộng của những con cháu dòng dõi của ông, cho tới khi tất cả đều bị đốt nhầm trên một dàn hỏa thiêu hèn mạt năm mươi năm sau đó.

Chuyến viễn du cuối cùng này Marcos trở về trong một chiếc quan tài. Ông bị chết vì một bệnh dịch sốt bí mật châu Phi, toàn thân ông nhăn nhúm và vàng sọm như thể một củ nghệ. Khi mới cảm thấy mình mắc bệnh ông liền bắt đầu ngay cuộc hành trình trở về với hi vọng rằng sự chăm sóc của bà chị và hiểu biết uyên thâm của bác sĩ Cuevas có thể đem lại cho ông sức khỏe của thời trai tráng, nhưng ông không chịu đựng nổi sáu mươi ngày vượt biển trên con tàu vượt đại dương và khi tới vùng Guayaquil, bệnh sốt đã cướp cuộc đời ông trong lúc ông mê man lảm nhảm nói về những người phụ nữ thơm mùi xạ hương và những kho tàng bí mật vẫn còn chôn dấu. Viên thuyền trưởng người Anh thuộc dòng họ Longfellow đã bọc xác ông trong một lá cờ sắp quẳng xuống biển, nhưng vì Marcos đã làm thân được với nhiều người trên tầu và được rất nhiều hành khách phụ nữ yêu quý, cho nên tất cả hành khách đã ngăn không cho viên thuyền trưởng làm việc đó, Longfellow đành giữ thi thể Marcos trong kho lạnh, nằm ngay bên cạnh đống rau xanh của ông bếp người Tàu để chống nóng và tránh muỗi truyền nhiễm, cho tới khi người thợ mộc trên con tàu hoàn thành được một chiếc quan tài để tạm. Đến El Callao người ta mới mua được chiếc quan tài đủ tiêu chuẩn và sau đấy vài ngày, vị thuyền trưởng, điên tiết bởi những phiền phức mà người hành khách quí đó gây nên lắm chuyện cho Công ty Hàng Hải và cho bản thân ông, liền vứt bỏ quan tài và thi thể vị khách đó lên bến cảng, không nhìn nhận đến nữa, và ông ta cũng lấy làm lạ sao không thấy một ai đứng ra để hỏi về người chết, cũng như trả những món tiền phí tổn đặc biệt của việc này. Mãi sau này ông ta mới biết bưu chính ở những vùng này không có được sự tin tưởng như ở bên đất nước Anh Cát Lợi xa xôi kia của ông, và những bức điện tín của ông đánh đi đã bốc hơi bay mất trên đường đi của nó. Cũng may mắn cho Longfellow, lúc đó chợt xuất hiện một luật sư của hải quan có quen biết họ hàng gia đình Valle, và ông ta đã đảm nhiệm công việc đặt xác Marcos với tất cả hành lý bậu sậu phức tạp vào trong một chiếc xe chở thuê, chỉ dẫn đưa đến thủ đô, mang tới ngôi nhà duy nhất mà ông quen biết: ngôi nhà của chị gái ông.

Đối với Clara, cái chết đó đã trở thành một nỗi đau khổ nhất trong cuộc đời, nếu như không có Barrabás lẫn lộn trong đống đồ đạc lộn xộn và phức tạp của cậu cô. Không chú ý gì đến những tiếng ồn ào xáo động om sòm trong mảnh sân trước nhà, bản năng của cô dẫn cô đi thẳng đến góc vườn mà người ta quẳng cái chuồng vào đó. Trong chuồng nằm gọn Barrabás. Nó như một đống xương nhỏ xíu bao bọc bởi một bộ da màu sắc không rõ rệt, lông đầy những vết nham nhở, một bên mắt nhắm nghiền và một bên toét rử lèm nhèm, nằm không động đậy như một thây ma trong chính cái chuồng bẩn thỉu của nó. Mặc dầu hình thức đáng tởm chẳng ra một con vật gì rõ ràng, cô bé cũng nhận ra được ngay con vật không một chút khó khăn.

– Một con chó con! - cô bé reo lên.

Cô tự đảm nhiệm luôn việc trông nom con vật. Cô lôi nó từ trong chuồng ra, ẵm nó trên ngực và với một dáng điệu chăm nom săn sóc của một nhà truyền giáo, cô bé đã cho được con vật uống nước bằng cái mõm sưng vù, khô khốc của nó. Không một ai chú ý cho nó ăn uống kể từ lúc viên thuyền trưởng Longfellow, con người hệt như tất cả mọi người Anh khác, thường đối xử với những loài vật tốt hơn nhiều so với việc ông đối xử với con người, quẳng nó vào đống hành lý của Marcos trên bến cảng. Khi con vật còn ở trên tàu bên cạnh ông chủ đang hấp hối của nó, Longfellow lấy tay bón thức ăn cho nó và cho nó được lên khoang thượng, được hưởng tất cả những sự chăm sóc, chú ý mà ông không giành cho Marcos, nhưng một khi tầu cập bờ, con vật lại bị đối xử như một bộ phận của đống hành lý vô tri. Clara trở thành bà mẹ đối với con vật, và cô đã làm cho nó hồi sức. Một số ngày sau đó, khi cơn giông bão gây ra bởi thây ma của Marcos và đám tang của cậu em vợ đã yên dịu, Severo chợt để ý đến con vật sù lông mà cô gái út của ông ôm trong đôi tay.

– Cái gì thế kia? - ông hỏi.

– Barrabás đấy - Clara nói.

– Đưa ngay nó cho anh làm vườn, để anh ta muốn làm gì nó tùy ý. Con vật có thể lây sang cho chúng ta một căn bệnh đó - Severo ra lệnh.

Nhưng Clara đã nhận nuôi nó.

– Đó là của con, ba ạ. Nếu ba vứt của con đi, con thề với ba con sẽ ngừng thở và chết.

Con vật được ở lại trong nhà. Chỉ một thời gian ngắn sau đó nó đã chạy khắp nơi, nhai gặm những mép rèm cửa, thảm và chân bàn ghế. Sức khỏe nó được phục hồi sau cơn hấp hối thật nhanh chóng và bắt đầu lớn. Khi tắm rửa sạch cho nó rồi, mới biết lông nó mầu đen, đầu vuông vắn, chân rất cao dài và lông ngắn. Vú Em đề nghị cắt đuôi nó đi, để cho nó giống như một con chó giống quý, nhưng Clara nổi cáu lên cãi lại và cơn cáu giận của cô biến ngay thành một cơn hen suyễn nổi lên, khiến cho không một ai vẫn còn dám nhắc lại vấn đề đó nữa. Barrabás nhờ thế mà còn nguyên đuôi, và cái đuôi đó cùng với thời gian nẩy nở dài mãi, tiến tới bằng một chiếc gậy đánh golf, không kiềm chế được tất cả mọi cử động, nên quét rơi cả tách chén từ mặt bàn rớt xuống, làm đổ vỡ cả những chiếc đèn cây. Con vật thuộc một loại nào đó mà không ai rõ nó thuộc giống chó gì. Nó không có vẻ gì giống như những con chó bình thường chạy lang thang trên hè phố, càng không giống những con chó thuần chủng mà một số gia đình trưởng giả vẫn nuôi làm cảnh. Ông bác sĩ thú y cũng chịu không biết nó thuộc dòng giống gì, còn Clara đoán rằng nó từ Trung Quốc tới, bởi vì đại bộ phận đồ đạc trong đống hành lý của cậu cô đều là những kỷ vật của đất nước xa xôi đó. Con vật có một khả năng lớn nhanh và không có gì hạn chế. Sáu tháng sau nó có tầm cỡ của một con cừu, và đến một năm sau thân hình nó đã to bằng một con ngựa non. Gia đình Severo chán ngán, tự hỏi nhau rằng không biết nó còn lớn đến đâu nữa, và họ bắt đầu nghi ngờ có lẽ đây không phải là một con chó, mà có lẽ nó là một con vật quái lạ mà cậu em vợ, nhà thám hiểm, đã săn bắt được tại một vùng xa thẳm nào trên trái đất, nó có thể rất dữ tợn trong trạng thái nguyên thủy của nó. Nívea ngắm nhìn những móng vuốt như móng cá sấu cùng những chiếc răng nhọn sắc của nó mà trái tim người mẹ của bà run bắn lên, khi nghĩ đến chuyện con vật dữ tợn có thể rứt đứt đầu một người lớn chỉ bằng một miếng ngoạm, và nạn nhân biết đâu lại chẳng là một đứa con nào đó của bà. Nhưng Barrabás không tỏ ra một dấu hiệu nào gọi là hung dữ, mà ngược lại. Nó có dáng dấp của một con mèo con. Nó nằm ngủ trong vòng tay của Clara, trên giường của cô bé, đầu đặt trên chiếc gối lông chim và đắp chăn đến tận cổ khi trời rét; sau đó, khi nó lớn không nằm vừa trong chiếc giường nữa, nó nằm soài trên sàn, ngay bên cạnh giường cô bé, cái mõm to như mõm ngựa đặt trên bàn tay của cô gái bé. Không bao giờ thấy nó sủa hoặc gầm gừ. Nó đen sì và lặng lẽ như một con báo cái, thích ăn dăm bông và mứt hoa quả, và mỗi lần có khách đến mà quên không nhốt nó, nó liền lặng lẽ bí mật lẻn vào phòng ăn, đi một vòng quanh bàn, ngoạm một cách tinh tế những miếng thức ăn ngon mà nó thích, mà không một vị khách ăn nào dám ngăn cản nó. Mặc dù Barrabás bản tính hiền lành như cô gái con nhà gia giáo, con vật vẫn gây cho mọi người phải sợ hãi nó. Những người đem thức ăn đến hấp tấp bỏ trốn khi thấy nó ló mặt ra đường phố, và đã có trường hợp sự xuất hiện của nó làm cho những bà đang đứng sắp hàng bên chiếc xe phân phối sữa phải la thét cuống cuồng chạy trốn, chai lọ đổ vỡ tung tóe, sữa lai láng đổ ra đường. Severo phải trả tiền đền vào tất cả những đổ vỡ đó và ông ra lệnh phải xích chặt con chó trong vườn, nhưng Clara lại giở một trò lăn khóc ăn vạ nữa, khiến cho quyết định đó của Severo lại phải hoãn cho đến vô thời hạn. Bởi không hiểu lai lịch dòng giống của con vật cho nên sức tưởng tượng dân gian đã gán cho Barrabás những đặc tính của con vật thần thoại. Người ta kể với nhau rằng nó vẫn tiếp tục lớn, và nếu một anh đồ tể tàn nhẫn nào đó chưa kết thúc đời nó bằng một lưỡi dao thì nó sẽ có thể đạt được tầm cỡ lớn bằng một con lạc đà. Người ta cho rằng nó là con lai tạo của lừa và chó, và còn giả định rằng nó có thể mọc cánh, nẩy sừng và hơi thở bốc khói diêm sinh như một con rồng, y như những con thú mà Rosa thêu trong những tấm khăn bàn to rộng vô tận của cô. Vú Em, chán ngấy công việc phải nhặt đồ sứ đổ vỡ và phải nghe những câu chuyện châm biếm nói con vật này có thể biến thành con chó sói trong những đêm trăng tròn, nên đã dùng đến phương pháp đầu độc nó như đã từng áp dụng với con vẹt, nhưng liều thuốc dầu gan cá thu gấp đôi, gấp ba kia không giết nổi nó, mà chỉ gây ra cho nó một trận tháo tỏng bốn ngày liền, phân tiểu đầy nhà, từ nhà trên xuống nhà dưới, tội cho Vú phải đích thân lau rửa.

Đó là một thời kỳ khó khăn. Lúc ấy mới khoảng hai mươi lăm tuổi, nhưng dường như đối với tôi cuộc đời không còn nhiều nữa để có thể đủ tạo dựng cho mình một tương lai và một địa vị hằng mong muốn. Tôi làm việc như một con vật, và đôi lần hãn hữu buộc phải nghỉ một ngày Chủ nhật, tôi đều cảm thấy như để mất đi những giây phút quý báu trong những giờ nhàn rỗi, và mỗi phút nhàn rỗi có thể là một thế kỷ xa Rosa nữa. Tôi sống ở mỏ, trong một túp lều tường ván gỗ, mái lợp tôn mà tôi tự xây dựng lấy với sự giúp đỡ của mấy người phu mỏ. Nó chỉ là một căn buồng vuông vắn, trong đó tôi bầy tất cả tư trang tài sản của mình; ở mỗi bức tường có một khuôn cửa sổ rất lớn để cho không khí ngột ngạt ban ngày được lưu thông, ban đêm đóng kín bằng những chiếc cánh cửa có thể tháo lắp rời, để chống gió lạnh buốt thổi vào. Tất cả đồ đạc của tôi gồm một chiếc ghế, một chiếc giường xếp của nhà binh, một chiếc bàn thô sù sì, một chiếc máy chữ và một két sắt nặng nề phải chở trên lưng lừa đi qua sa mạc tới, trong đó tôi để tiền lương công nhật của thợ mỏ, một số tài liệu và một túi vải bạt bên trong lấp lánh những vụn vàng, kết quả của biết bao nhiêu công lao cố gắng. Thật chẳng có một chút tiện nghi thoải mái nào, nhưng tôi đã quen với sự thiếu thốn tiện nghi. Chưa bao giờ tôi tắm nước nóng, và những kỷ niệm của tôi về thời thơ ấu cũng là những buổi tắm nước lạnh, sự cô đơn và nỗi trống trải triền miên vô tận trong dạ dầy. Trong căn lều đó tôi ăn, ngủ, viết, sống suốt hai năm ròng không có gì giải trí khác ngoài mấy cuốn sách đã đọc đi đọc lại nhiều lần, một đống báo chí đến thật chậm trễ so với thời sự, và mấy bài tiếng Anh tôi dùng để học trong bước nhập môn, mong biết được cái thứ ngôn ngữ tuyệt vời đó; cộng thêm nữa tôi có một cái hộp có khóa trong đó tôi cất giữ tất cả thư từ trao đổi với Rosa. Tôi có thói quen viết cho cô bằng máy chữ, để có được một bản lưu cho mình, những bản đó tôi sắp xếp theo trật tự ngày tháng, đặt bên cạnh một số rất ít ỏi thư của cô mà tôi nhận được. Tôi ăn ngay trong lán trại dùng để nấu nướng cho thợ mỏ, tại đó tôi cấm không cho mua, bán rượu trong khu mỏ của mình. Trong túp lều của tôi cũng không có rượu, bởi vì bao giờ tôi cũng cho rằng sự cô đơn và nỗi buồn bực sẽ kết thúc bằng cách biến con người thành những kẻ say sưa. Có thể những kỷ niệm về cha tôi, với cổ áo sơ mi không cài khuy, chiếc cà vạt nhầu nát và hoen bẩn, đôi mắt đục lờ đờ và hơi thở nặng nề, tay cầm một chiếc cốc, đã làm cho tôi trở nên một con người không nghiện rượu. Tửu lượng của tôi rất kém, nên tôi dễ bị say. Tôi khám phá ra điều đó năm mười bảy tuổi, và kỷ niệm ấy, tôi không bao giờ quên được. Có lần cháu gái tôi hỏi tại sao tôi có thể sống một mình nhiều năm và xa cách với văn minh đến thế. Tôi không biết. Nhưng rõ ràng điều đó tôi dễ thực hiện hơn những người khác, bởi tôi không phải một kẻ quảng giao, không có nhiều bạn bè, cũng chẳng thích thú hội hè, nhậu nhẹt, mà trái lại, tôi cảm thấy dễ chịu khoan khoái hơn khi đơn độc, một mình. Tôi phải gắng sức lắm mới có thể thân mật được với mọi người. Thời kỳ đó tôi chưa hề chung đụng với một người phụ nữ, và như vậy tôi cũng chẳng có gì để mà nhớ nhung mơ mộng. Tôi không phải loại người thích trai gái, dễ phải lòng phải bề; chưa bao giờ như vậy, bản tính tôi chung thủy, cho dù chỉ cần thấy bóng dáng một cánh tay, một đường thắt lưng cong mềm mại, làn da mịn sau đầu gối của phụ nữ đủ gây nên trong đầu óc tôi nhiều ý nghĩ ngay cả cho đến bây giờ, khi tôi đã già, trông vào gương không còn nhận ra chính mình nữa. Tôi giống như một thân cây cong queo. Nói thế tôi không hề có định bào chữa cho những tội lỗi của mình trong thời thanh niên viện cớ lúc đó đã không thể kiềm chế được sức thúc đẩy của ham muốn. Không, tôi không hề bào chữa. Vào độ tuổi thanh niên tôi cũng có những quan hệ lăng nhăng thoáng qua với những phụ nữ ăn chơi, chỉ thế thôi, vì tôi không có khả năng và điều kiện để quan hệ với những người phụ nữ chín chắn khác. Thế hệ của tôi, chúng tôi đã chia ra ranh giới rõ rệt giữa những người phụ nữ trong sạch và những người phụ nữ khác không như thế, và chúng tôi cũng lại chia loại phụ nữ trong sạch ra làm loại của mình và loại của người. Tôi chưa hề nghĩ đến tình yêu trước khi quen biết Rosa, và chủ nghĩa lãng mạn đối với tôi là nguy hiểm và vô tích sự, nếu có lần nào đó tôi ưa thích một cô gái trẻ, thì tôi cũng không dám đến gần cô bởi sợ sẽ bị từ chối và trở nên lố bịch. Tôi rất kiêu ngạo và vì kiêu ngạo tôi lo sẽ bị đau đớn nhiều hơn so với những người khác bị phụ nữ chối từ.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng vẫn còn khắc đậm trong ký ức của tôi chính cái lúc mà Rosa, người đẹp, bước vào cuộc đời tôi, như một cô tiên đãng trí khi đi ngang qua đã ăn trộm của tôi tất cả tâm hồn. Cô đi cùng Vú Em và một cô bé, có lẽ là em gái cô. Cô mặc một bộ váy áo màu hoa violet, nhưng thực tôi cũng không dám chắc chắn như vậy, bởi lẽ tôi không chú ý vào bộ quần áo của người con gái, vì người đó đẹp lạ lùng, nên dù có mặc một chiếc áo bằng da chồn đổi sắc đi nữa, tôi cũng chỉ có thể nhìn chằm chặp vào khuôn mặt cô mà thôi. Tôi thường không có thói quen đi lẽo đẽo theo phụ nữ, nhưng quả thật lúc đó tôi đã phải buộc mình làm như vậy trước sự xuất hiện của con người chỉ đi qua đã gây nên một sự náo động và làm tắc nghẽn cả giao thông trên đường phố, với bộ tóc mầu xanh không thể tưởng tượng được đóng khung khuôn mặt như thể một chiếc mũ thật tân kỳ, với dáng điệu tiên nữ và cái cách đi đứng chuyển động như đang bay. Cô đi qua bên cạnh mà không hề trông tôi, rồi cô bước như trôi vào hiệu bánh kẹo ở Quảng Trường Vũ Khí. Tôi đứng sững ở ngoài đường, sửng sốt kinh hoàng, trong khi cô mua kẹo bạc hà, chọn từng chiếc một, vừa chọn vừa cười, tiếng cười như tiếng nhạc, vừa cho từng viên kẹo vào miệng vừa đưa mấy chiếc cho em gái. Tôi không phải kẻ duy nhất bị thôi miên, mà chỉ trong mấy phút thôi, đã thấy cánh đàn ông tụ tập một đàn một lũ đứng thập thò nhìn qua khung tủ kính. Tức thì tôi có phản ứng. Lúc đó tôi cũng chẳng cần nghĩ tới việc còn xơi tôi mới có thể là người cầu hôn lý tưởng của cô tiểu thư nhà trời kia, bởi vì tôi đâu có tài sản, cũng chẳng đẹp trai gì, và tương lai trước mắt cũng chẳng có gì chắc chắn. Lại chẳng quen biết gì với cô nữa chứ! Nhưng tôi bị choáng ngợp và ngay tức khắc tôi quyết định cô là người phụ nữ duy nhất xứng đáng là vợ mình, và nếu không lấy được cô, tôi thà sống độc thân đến suốt đời. Tôi lẽo đẽo theo cô trên đường cô quay về nhà. Tôi bước lên chiếc xe mà cô đi, ngồi ngay đằng sau cô, mắt không rời lấy một giây chiếc gáy hoàn hảo của cô, cái cổ tròn, đôi vai mềm được những món tóc xanh loăn xoăn mềm mại tuột khỏi những chiếc kẹp tỏa xuống vuốt ve. Tôi không thấy chiếc xe chuyển động, bởi vì nó chạy như trong mơ. Đột nhiên cô đứng lên đi trên lối giữa hai hàng ghế, và khi đi ngang qua chỗ tôi, đôi đồng tử mầu vàng lạ lùng dừng lại trên mắt tôi một giây. Tôi thật sự chết đi một ít trong người. Tôi không thở được và mạch máu như ngừng lại. Khi lấy lại được dáng điệu bình thường, tôi vội nhẩy đại xuống vỉa hè, chút xíu nữa thì gẫy một chiếc xương, và chạy theo hướng phố mà cô đã rẽ vào trước đấy. Tôi đoán được chỗ ở của cô khi thấy một mảng áo màu hoa violet thấp thoáng sau một khuôn cửa lớn. Từ hôm đó trở đi, tôi đứng canh trước cửa nhà cô, đi đi lại lại trong dãy phố đó như một con chó giữ nhà, rình mò, đút lót người làm vườn, gạ chuyện với những cô hầu gái, cho tới khi đạt được một lần nói chuyện với Vú Em, và Vú, một phụ nữ tuyệt vời, đã động lòng thương cảm nên đã nhận đưa giúp cho cô những bức thư tình, những bông hoa và biết bao nhiêu hộp kẹo bạc hà không đếm xuể mà tôi gởi tặng để mong chiếm được trái tim người đẹp. Tôi cũng gửi cả những bài thơ cho cô. Vốn không biết gieo vần, nhưng lúc đó có một ông bán sách người Tây Ban Nha có thiên tài về gieo vần, nên tôi đã đặt thuê ông làm thơ, sáng tác bài hát hoặc bất cứ loại hàng nào mà nguyên vật liệu là mực và giấy. Férula, chị ruột tôi đã giúp cho tôi tiếp cận với gia đình nhà Valle bằng cách tìm được một chút hơi hướng họ hàng xa tít tắp giữa tên họ chúng tôi và tìm được dịp để chào hỏi nhau ở tại nhà thờ sau buổi lễ misa. Ấy thế là tôi đã có đủ điều kiện đến thăm nhà Rosa. Nhưng tôi bước vào nhà cô và có được cô trước mặt để nghe tôi nói thì trong đầu óc tôi lại chẳng nảy ra ý nghĩ gì để nói cả. Tôi cứ đứng câm như hến, chiếc mũ cầm trong tay và miệng thì há hốc, đến độ cha mẹ cô, vốn hiểu rõ những triệu chứng loại đó, phải giúp tôi thoát khỏi tình trạng ấy. Tôi cũng chẳng biết Rosa nhìn thấy mình như thế nào, cũng chẳng rõ tại sao sau một thời gian cô đã nhận lời lấy tôi làm chồng. Tôi trở thành vị hôn phu chính thức của cô mà không cần phải thực hiện được một chiến công siêu phàm gì, bởi lẽ mặc dầu nhan sắc của cô thoát tục và vô vàn những đức tính tốt đẹp của cô, Rosa vẫn chưa có người đến cầu hôn. Bà mẹ cô giảng giải cho tôi biết rõ căn nguyên: bà nói không có người con trai nào, có đầy đủ uy lực để suốt đời bảo vệ Rosa chống lại mọi sự tham lam thèm khát của những người đàn ông khác. Nhiều người đã lượn lờ quanh cô, điên dại vì cô, nhưng cho tới lúc tôi xuất hiện trên địa hạt này vẫn chưa có một ai quyết định hỏi cô làm vợ cả. Nhan sắc của cô đã làm cho họ sợ, vì vậy, họ trầm trò ngắm nghía cô từ xa, chứ không dám lại gần. Tôi quả thực không bao giờ nghĩ đến điều ấy. Vấn đề của tôi lúc đó là trong túi không có lấy một đồng peso [1], nhưng tôi lại cảm thấy mình có khả năng, nhờ sức mạnh của tình yêu, làm cho mình trở nên giàu có. Tôi suy nghĩ, nhìn quanh tìm một con đường làm giàu nhanh chóng, trong khuôn khổ những việc làm ăn lương thiện mà tôi đã được giáo dục từ bé, và thấy rằng muốn giành được thắng lợi cần phải có người đỡ đầu, có hiểu biết đặc biệt và một số vốn. Chỉ có một tên họ quý phái đáng kính trọng không thôi thì không đủ. Tôi giả định nếu có một ít tiền để bắt đầu sự nghiệp, tôi có thể đi tìm may mắn ở quân bài hoặc ở những cuộc đánh cá ngựa, nhưng cái đó tôi không làm được, vậy tôi phải nghĩ đến một công việc để mà làm, dù có phải chịu mọi thử thách hiểm nghèo đi nữa, để có thể có được một gia tài. Mỏ vàng, mỏ bạc từ xưa vẫn là mơ ước của những kẻ phiêu lưu: những mỏ đó có thể nhấn chìm họ trong nghèo khổ, giết chết họ vì ho lao, nhưng cũng có thể làm cho họ trở thành những con người hùng mạnh. Đó chỉ là vấn đề may rủi, số phận. Tôi có được nhượng quyền một hầm mỏ tại phương Bắc nhờ uy tín của họ mẹ tôi, Ngân Hàng đã cho tôi vay một số tiền ký cược. Tôi nhất quyết sẽ rút tới gam vàng cuối cùng của mỏ đó, dầu cho tôi có phải vắt kiệt cả một quả núi bằng đôi bàn tay của mình, và nghiền nát những hòn đá tảng dưới chân mình. Vì Rosa tôi sẵn sàng làm như vậy, và có thể còn hơn thế nữa.

Vào cuối thu, khi gia đình Valle đã làm êm dịu được những dự định trừng phạt của đức cha Restrepo, đức cha đã phải giảm bớt cái khuynh hướng làm quan tòa của nhà thờ sau khi đức hồng y giáo chủ đích thân đến nhắc nhủ cha phải để yên cho cô bé Clara del Valle, và khi tất cả mọi người đều đã chịu tin rằng cậu Marcos đã chết thật rồi, người ta mới bắt đầu cụ thể hóa những kế hoạch chính trị của Severo. Ông đã chuẩn bị từ nhiều năm nay cho mục đích đó. Đối với ông quả là một thắng lợi khi người ta mời ông đứng ra ứng cử nhân danh Đảng Tự Do trong cuộc bầu cử Quốc Hội, đại biểu cho một tỉnh miền Nam, nơi ông chưa từng đặt chân tới bao giờ, và cũng không dễ dàng tìm thấy nó trên bản đồ. Đảng rất cần có quần chúng, và Severo thì rất ao ước được một ghế trong Quốc Hội, cho nên cũng không khó khăn gì trong việc thuyết phục những cử tri nghèo của miền Nam, bầu cử Severo làm đại biểu của họ. Cuộc đề cử được hậu thuẫn bằng một con lợn quay đỏ hồng, to sụ mà cử tri gửi tới nhà của gia đình Valle. Con lợn được đặt trên một chiếc mâm gỗ to, thơm tho và bóng nhoáng, nơi miệng lớn cắm một nhánh mùi tây, và một củ cà-rốt cắm vào hậu môn, toàn thân nằm trên một thảm cà chua tươi đã thái thành từng lát mỏng. Con lợn có một chiếc thắt lưng to bản quấn ngang bụng, trong bụng nhồi đầy nhân gà gô cả con, và ở trong bụng gà gô lại nhồi đầy quả mận. Con lợn quay được gửi đến cùng với một bình đựng nửa ga-lông rượu mạnh, loại ngon nhất của đất nước. Mong muốn trở thành nghị sĩ, hoặc hơn nữa thành thượng nghị sĩ càng tốt, là một mơ ước mà Severo del Valle vuốt ve hi vọng từ bao lâu nay. Ông đã tiến hành công việc chuẩn bị thật tỉ mỉ, từ sử dụng quan hệ bạn bè, móc ngoặc, đến dùng tiền bạc và ơn huệ ban phát cho những người đáng được, thật đúng lúc, để tiến tới thực hiện được mục đích này. Cái tỉnh miền Nam xa xôi kia, dù hẻo lánh và ít người biết tới, chính là nơi mà ông chờ đợi.

Con lợn quay đến vào ngày thứ Ba. Ngày thứ Sáu, khi con lợn chỉ còn lại có bộ da và những miếng xương mà Barrabás nằm gặm trong sân, Clara lại báo rằng sẽ có một vụ chết người nữa ở trong nhà.

– Nhưng sẽ là một cái chết vì nhầm lẫn - cô nói.

Qua một đêm tồi tệ, sáng thứ bảy khi tỉnh dậy Clara kêu thét lên. Vú Em cho cô bé uống một chén nước sắc lá bồ đề và rồi cũng không ai chú ý tới cô, bởi vì mọi người đang bận chuẩn bị mọi thứ cho chuyến công du của ông Severo tới tỉnh miền Nam, và bởi vì Rosa, người đẹp, buổi sáng hôm đó thức dậy lại lên cơn sốt. Nívea ra lệnh để yên cho Rosa nằm nghỉ và ông bác sĩ Cuevas nói rằng không có gì quan trọng, hãy cho cô uống một cốc nước chanh âm ấm pha thật nhiều đường, với một chút xíu rượu mùi để cho ra mồ hôi. Severo đến thăm con gái, thấy cô mặt đỏ bừng và đôi mắt sáng long lanh, toàn thân ngập trong những mảnh đăng-ten mầu bơ viền tấm chăn trải giường. Ông mang đến tặng con gái một tấm thẻ khiêu vũ và cho phép Vú Em mở nắp bình rượu nặng mà người ta gửi biếu cùng con lợn quay, và lấy một chút nhỏ vào cốc nước chanh. Rosa uống cốc nước chanh, chùm chiếc chăn len mỏng kín người và ngủ liền, ngay bên cạnh giường của Clara, cô em út ở chung căn phòng với cô.

Buổi sáng ngày Chủ nhật thê thảm đó, Vú Em dậy sớm như mọi khi. Trước khi đi lễ misa, Vú vào trong bếp sửa soạn bữa điểm tâm của cả gia đình. Bếp than củi đã nhóm từ đêm trước, Vú thổi cho lửa cháy bùng lên. Trong khi chờ nước sôi và nóng sữa, Vú lau đĩa tách để mang vào phòng ăn. Rồi bắt đầu nấu kê, lọc cà phê, nướng bánh. Vú chuẩn bị xếp vào hai khay, một cho Nívea, bà bao giờ cũng ăn điểm tâm ngay trên giường nằm, còn khay kia cho Rosa, vì cô đang ốm cũng được quyền như vậy. Vú đậy khăn trên khay thức ăn cho Rosa cho khỏi nguội cà phê và tránh ruồi bâu; bằng một tấm khăn mặt bằng gai thêu, viền do bàn tay các nữ tu sĩ; sau đó Vú ló mặt ra mé sân sau xem Barrabás có ở gần đó không. Nó có cái tính hay tấn công khi Vú mang thức ăn đi ngang qua. Vú nhìn thấy nó đang lơ đãng đùa rỡn với một con gà mái, lợi dụng lúc đó Vú liền đi xuyên qua mảnh sân dài và suốt dãy hành lang, từ bếp cho tới tận cuối dãy nhà bên kia, đến tận buồng của mấy cô gái. Đứng trước cửa buồng của Rosa Vú lưỡng lự, như có một linh tính báo trước. Vú bước vào không cần gõ cửa như thường lệ, và ngay lập tức ngửi thấy mùi hoa hồng, mặc dù lúc đó không phải mùa hoa hồng nở. Tức thì Vú Em biết ngay đã xảy ra một điều chẳng lành không thể nào cứu chữa được. Vú cẩn thận đặt chiếc khay thức ăn điểm tâm lên mặt bàn đầu giường và từ từ bước đến bên cửa sổ. Vú kéo tấm rèm nặng nề lên và ánh mặt trời nhợt nhạt lọt vào căn phòng. Vú buồn bã quay mình và không một chút giật mình khi nhìn thấy Rosa nằm chết trên giường, đẹp hơn bao giờ hết, với món tóc xanh đến suốt đời, da dẻ như mầu ngà mới, và đôi mắt vàng trong như mầu mật vẫn mở. Ở mé dưới chân giường, bé Clara đang ngắm nhìn chị. Vú Em quỳ xuống cạnh giường, cầm lấy bàn tay Rosa và bắt đầu cầu nguyện. Vú tiếp tục cầu nguyện như thế cho tới khi nghe thấy trong ngôi nhà nổi lên một tiếng kêu khóc kinh khủng như thể tiếng khóc khi đắm tàu. Đó cũng là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng mà Barrabás mở miệng. Nó gầm gào gọi người chết trong suốt cả ngày hôm đó, đến nỗi làm gần đứt giây thần kinh của những người còn sống trong nhà và những người hàng xóm kéo đến khi nghe thấy tiếng kêu khóc như thể đắm tầu.

Bác sĩ Cuevas chỉ cần nhìn qua cũng biết được ngay rằng cái chết này do một cái gì nặng nề hơn cơn sốt thường nhiều lắm gây ra. Ông liền lần mò đi dò tìm, hít ngửi tất cả mọi phía, kiểm tra bếp núc, lấy ngón tay quệt vào từng cái soong cái nồi, mở tất cả những túi bột, túi đường, những hộp quả khô, lục tung tất cả, để lại sau từng bước dò tìm, những dấu vết phá hoại như có một cơn giông tố mới đi qua. Ông lục lọi những chiếc hộp của Rosa, tra xét những chị hầu từng người một, dồn Vú Em bằng những câu hỏi đến độ Vú mất hết tinh thần, và cuối cùng việc dò xét của ông đã dẫn ông tới cái bình đựng rượu mạnh mà ông trưng thu ngay lập tức không cần nể nang. Không nói cho ai biết những nghi ngờ của mình, ông mang ngay cái lọ đó về phòng thí nghiệm của mình. Ba tiếng đồng hồ sau ông quay trở lại với một vẻ kinh hoàng làm khuôn mặt vốn đỏ ửng một cách rừng rú của ông trở thành một cái mặt nạ tái xám không rời khỏi ông trong suốt thời gian phải hoạt động trong vụ chết này. Ông đến bên Severo nắm lấy cánh tay kéo ra một chỗ.

– Trong cái hũ rượu đó có đủ chất độc để làm nổ tung tất cả lòng ruột của một con bò tót, - ông ghé sát vào tai ông Severo mà nói - Nhưng để chắc chắn rằng cái đó đã giết chết cô bé, tôi phải làm một cuộc phẫu thuật pháp y.

– Có nghĩa là ông định phanh thây con gái tôi? - Severo rên rỉ.

– Không mổ hoàn toàn. Tôi sẽ không động chạm đến đầu, chỉ cần mổ xem bộ phận tiêu hóa - bác sĩ Cuevas giải thích.

Severo mệt mỏi, đau khổ.

Vào lúc đó Nívea đã khóc đến kiệt sức, nhưng khi biết người ta định đưa con gái bà đến nhà xác, nghị lực của bà hồi phục ngay tức khắc. Bà chỉ chịu yên khi người ta thề sẽ mang Rosa thẳng đến nhà Đám Ma Thiên chúa giáo. Và bà chịu uống liều thuốc an thần mà ông bác sĩ Cuevas đưa cho, rồi sau đó ngủ một mạch hai mươi tiếng đồng hồ liền.

Buổi tối, Severo sẵn sàng mọi công việc chuẩn bị. Ông ra lệnh cho các con đi ngủ và cho phép những người giúp việc được về nhà sớm. Còn Clara, quá xúc động vì sự việc mới xảy ra, ông cho phép cô bé ngủ đêm hôm đó tại phòng của một cô chị khác. Sau khi tất cả đèn đuốc đã tắt, ngôi nhà như đi vào giấc ngủ, thì người phụ tá của Bác sĩ Cuevas tới, một anh chàng trai trẻ gầy ngẳng và cận thị nói lắp ba lắp bắp. Họ giúp Severo khiêng Rosa vào bếp và nhẹ nhàng đặt thi thể cô nằm trên mặt bàn đá mà Vú Em vẫn hàng ngày ngào bột bánh và thái rau, quả. Tuy là con người cứng rắn, khỏe mạnh, Severo cũng không chịu đựng nổi khi hai người thầy thuốc cởi áo ngủ của con gái ông và thấy nhan sắc rực rỡ của nàng tiên cá lồ lộ hiện lên trước mắt. Ông quay ra, lảo đảo như người say vì đau đớn, và ông ngã vật xuống chiếc ghế bành trong phòng khách, khóc rống như một đứa trẻ con. Kể cả ông bác sĩ Cuevas, người đã từng trông thấy Rosa khi ra đời và biết rõ cô như thuộc lòng bàn tay mình, cũng phải sửng sốt khi thấy Rosa trong trạng thái không quần áo. Anh chàng phụ tá thì bắt đầu thở hồng hộc vì xúc động và tiếp tục thở hồng hộc như vậy những năm sau đó mỗi khi nhớ đến cô Rosa không thể tưởng tượng được đó nằm trần truồng trên mặt bàn trong bếp, với bộ tóc dài chảy sõa xuống đến mặt đất như một dòng suối thực vật xanh rờn.

Trong khi họ làm cái công việc kinh khủng đó, Vú Em, đã chán vì khóc và cầu nguyện, và linh cảm thấy có cái gì lạ lùng đang xẩy ra trong địa hạt của Vú tại mảnh sân sau, liền đứng dậy, quấn thêm vào người một chiếc khăn san và bước ra, đi dạo khắp nhà. Vú trông thấy có ánh sáng trong bếp, nhưng cửa lại đóng và những cánh cửa sổ cũng khép kín. Vú tiếp tục đi trên dãy hành lang lặng lẽ và lạnh ngắt, xuyên qua ba dãy nhà, cho đến tận phòng khách. Qua cánh cửa nửa khép nửa hở, Vú trông thấy ông chủ đang đi đi lại lại trong phòng, dáng vẻ buồn chán. Lửa trong lò sưởi đã tắt. Vú Em liền bước vào.

– Cô Rosa đâu rồi? - Vú hỏi.

– Bác sĩ Cuevas đang ở với nó, Vú ạ. Ngồi đây và uống một hớp rượu với ta - Severo nài.

Vú Em vẫn đứng, hai cánh tay khoanh lại để giữ tấm khăn san phủ kín ngực. Severo trỏ cho Vú chiếc sôpha và Vú lại gần một cách rụt rè. Rồi Vú ngồi xuống cạnh ông chủ. Đó là lần đầu tiên Vú ngồi gần ông chủ đến thế kể từ khi Vú sống và làm việc trong nhà này. Severo rót cho mỗi người một cốc rượu vang nặng, và ông uống cốc của mình một hơi cạn sạch. Rồi ông vùi đầu trong lòng hai bàn tay, vuốt vuốt mớ tóc và lẩm bẩm trong miệng những lời kể lể than van khó hiểu và buồn bã. Vú Em ngồi cứng nhắc trong một góc của chiếc ghế sôpha, mềm lòng trông thấy ông chủ khóc. Vú đưa bàn tay thô ráp và bằng một động tác tự nhiên, máy móc Vú vuốt ve bộ tóc ông bằng cái vuốt ve mà trong hai mươi năm trời Vú đã dùng để an ủi cho lũ con cái ông. Severo ngẩng đầu nhìn khuôn mặt không thể hiện tuổi tác, đôi lưỡng quyền của người India búi tóc đen nhánh, bộ ngực to bè đã ấp ủ, dỗ dành và ru ngủ tất cả lũ con của ông và cảm thấy rằng người phụ nữ nồng nàn và rộng lượng như thể chất đất này có thể mang tới cho ông những điều an ủi. Ông gục vầng trán của mình trên tấm váy của Vú, thở hít cái hương dìu dịu của tấm tạp-dề hồ cứng của Vú và khóc nức lên như một đứa trẻ con, để trào ra thật hết những dòng nước mắt mà ông đã nén giữ trong suốt cả cuộc đời mình. Vú Em gãi gãi lưng ông, nhè nhẹ vỗ vỗ để an ủi và nói với ông những lời kiểu trẻ con mà Vú vẫn dùng để ru những đứa con ông, và thầm thì hát ru ông bằng những điệu ca thôn dã, cho tới khi tâm hồn ông được yên tĩnh lại. Cả hai chủ, tớ ngồi thật sát nhau, uống rượu mạnh, thỉnh thoảng lại có lúc than khóc và nhắc lại với nhau về những thời gian hạnh phúc khi Rosa còn chạy lon ton trong vườn để vồ bắt bướm với cái nhan sắc đẹp như màu nước biển.

Ở trong bếp bác sĩ Cuevas và người phụ tá sửa soạn những dụng cụ độc ác và những lọ thuốc hăng sặc, hôi mù, rồi khoác tạp dề bằng vải sơn, vén tay áo lên và bắt đầu cuộc dò tìm trong tận nơi kín đáo nhất của cô gái đẹp Rosa, cho tới khi khẳng định được không còn chút nghi ngờ rằng cô gái đã uống phải một liều lượng quá cao thuốc giết chuột.

– Cái món này nhằm tặng cho Severo đây - bác sĩ Cuevas vừa rửa tay trong chậu vừa kết luận.

Người phụ tá, quá cảm động vì sắc đẹp của cô gái chết, không thể chịu đựng được việc khâu lại cô như một cái túi, nên anh đề nghị phải sửa sang cho cô đôi chút. Tức thì cả hai người đi vào công việc làm sao giữ gìn được cơ thể cô lâu bằng thuốc ướp, và nhét vào trong bụng cô những chất bột băng bó có tẩm thuốc thơm. Họ làm việc đó cho tới bốn giờ sáng, tới lúc bác sĩ Cuevas phải tuyên bố đã quá mệt mỏi và đau buồn, nên ông bỏ đi ra. Trong bếp chỉ còn lại Rosa trong tay anh chàng phụ tá, anh ta rửa cho cô bằng một miếng bọt bể, lau sạch những vết máu, mặc cho cô chiếc áo ngủ có thêu ren để che kín vết khâu từ cổ họng xuống tận bẹn, và quấn lại tóc cho cô. Sau đó anh ta lau rửa hết những vết tích của công việc đã làm.

Bác sĩ Cuevas gặp Severo đang ngồi cạnh Vú Em, say khướt vì khóc than và vì rượu mạnh.

– Đã xong rồi đấy - ông nói - Chúng ta đi sửa sang lại cho cô bé một chút trước khi mẹ cô trông thấy cô.

Ông giải thích cho Severo rõ là những nghi ngờ của ông đã có căn cứ và, trong bụng con gái của Severo đã tìm thấy một chất độc y như chất giết người trong bình rượu người ta gửi tặng. Tức thì Severo nhớ đến lời tiên đoán của Clara và thế là bao nhiêu tinh thần còn lại của ông sụp hẳn, không còn có thể chịu đựng nổi cái ý nghĩ là con gái ông đã chết thay cho ông. Ông xỉu xuống, rên rỉ nói chính ông là tên tội phạm, bởi tham vọng và hợm hĩnh huênh hoang, rên rỉ nói đâu có ai sai khiến ông đâm đầu vào chính trị làm gì, rên rỉ nói khi ông chỉ là một luật sư bình thường và cha của một lũ con trong gia đình thật tốt đẹp biết bao, ông rên rỉ nói ngay từ giờ phút này ông từ bỏ cho đến hết đời cái việc ứng cử khốn nạn đó, cái Đảng Tự Do đó, và tất cả những kèn trống cổ động rùm beng đó, và ông mong rằng không một người con, người cháu nào của ông sau này lại còn dính líu vào nghề làm chính trị, cái nghề của lũ giết người, nghề của đồ tể, trộm cướp, đến độ bác sĩ Cuevas phải mủi lòng thương cảm, cuối cùng phải làm cho ông say mềm. Rượu có sức mạnh còn hơn cả đau buồn và tội lỗi. Vú Em và bác sĩ khiêng Severo vào phòng ngủ, cởi quần áo ngoài cho ông và đặt ông vào giường. Sau đó hai người đi xuống bếp, nơi anh thanh niên phụ tá của bác sĩ đã sửa sang xong cho thi thể Rosa.

Nívea và Severo del Valle sáng hôm sau dậy muộn. Thân nhân, họ hàng đã bày biện cho ngôi nhà theo đúng nghi lễ thông tục của tang ma, những chiếc rèm buông rủ và đính giải tang đen, dọc theo những bức tường đặt hàng dãy vòng hoa tang, mùi hương thơm ngát lừng trong không khí. Người ta đã đặt một bàn thờ cầu nguyện cho người chết trong phòng ăn, đèn nến sáng trưng. Trên mặt chiếc bàn to, phủ khăn đen có diềm vàng, là chiếc quan tài của Rosa màu trắng, có đanh đai bằng bạc. Mười hai ngọn nến nghi ngút sáng trên cây giá nến bằng đồng, chiếu sáng cho cô gái nằm trong quan tài bằng một ánh sáng mờ mờ ảo ảo. Người ta mặc cho cô gái bộ quần áo cô dâu và chiếc vòng miện bằng sáp để dành cho cô dùng trong lễ cưới.

Vào buổi trưa bắt đầu cuộc diễu quanh quan tài của họ hàng, bạn hữu, đến chia buồn và sẽ ngồi cùng mọi người trong gia đình del Valle suốt đêm trực tang đó. Cả những địch thủ chính trị gay gắt nhất của Severo cũng tới chia buồn với gia đình, và Severo trân trân nhìn những người đó, muốn nhân đó khám phá ra trong đôi mắt của từng người, cái bí mật của cuộc ám sát, nhưng nhìn ngắm tất cả, ngay cả đôi mắt của ông chủ tịch Đảng Bảo Thủ, ông cũng chỉ trông thấy một vẻ chia buồn vô tội giống nhau.

Trong đêm trực tang, những vị khách nam giới đi đi lại lại trong phòng khách và dọc theo hành lang, nói chuyện khe khẽ với nhau về những việc làm ăn. Khi có người nào đó trong gia đình tới gần thì các vị lại giữ ngay vẻ im lặng kính cẩn của tang lễ. Trong lúc bước vào phòng ăn và đi tới sát chiếc quan tài để nhìn Rosa lần cuối cùng, tất cả mọi người đều kinh ngạc sửng sốt, bởi vì nhan sắc kiều diễm của cô trong giờ phút đó lại tăng lên gấp bội. Những vị khách phụ nữ vào trong phòng khách, tại đó ghế ngồi xếp theo một hình tròn. Tại đây đầy đủ tiện nghi cho các bà tha hồ than khóc tùy thích, làm cho nhẹ những nỗi buồn của chính mình với cái lý do chính đáng là khóc than cái chết của người khác. Nước mắt thật thảm thê lã chã, nhưng cũng có những giọt nước mắt thật cao thượng và lặng lẽ. Một vài phu nhân rầm rì cầu nguyện rất khẽ. Những chị hầu gái trong nhà len lỏi trong phòng khách, đi suốt dãy hành lang mời khách những chén trà, hoặc những cốc rượu cô-nhắc, đưa những chiếc khăn tay sạch cho các bà, những loại mứt kẹo nhà làm và cả những mảnh khăn có tẩm nước đái quỷ để cho các bà bị ngất xỉu hay váng vất vì bức bối thiếu không khí, vì sặc mùi hương nến và vì đau đớn. Tất cả lũ con gái nhà Valle, trừ Clara, lúc đó còn nhỏ quá, đều mặc áo màu tang đen, và ngồi quanh bà mẹ như thể một đàn quạ. Nívea đã khóc hết nước mắt, ngồi cứng nhắc trên ghế, không một tiếng thở dài, không nói nửa lời và cũng không cần cả cái mùi nước đái quỷ làm nhẹ người kia, vì hơi amoniac làm cho bà bị dị ứng. Khách đến đều tới chỗ bà để chia buồn. Một số người hôn lên hai má bà, một số khác ôm chặt lấy người bà một vài giây, nhưng bà có vẻ như không nhận ra ngay cả những người thân tín nhất. Bà đã từng trông thấy những đứa con khác chết trong thời kỳ còn bé của chúng, hoặc khi chúng mới đẻ, nhưng không một cái chết nào trong số đó gây cho bà cái cảm xúc mất mát to lớn như bà đang chịu trong lúc này.

Mỗi đứa em vĩnh biệt Rosa bằng một cái hôn lên trán lạnh ngắt của chị, trừ Clara, vì cô bé không muốn lại gần phòng ăn. Không ai ép cô bé bởi vì mọi người đều biết rõ sự nhậy cảm quá đáng và khuynh hướng mắc lại chứng mộng du khi ở trong cô nẩy ra điều gì kỳ lạ mà cô tưởng tượng thấy. Cô ngồi ở ngoài vườn, lom khom, bên cạnh con Barrabás, từ chối không ăn một chút gì và không dự lễ tang. Duy chỉ có Vú Em chú ý đến cô bé và gắng an ủi cô, nhưng Clara đuổi Vú đi.

Dù cho Severo đã cố hết sức gìn giữ để chặn đứng những lời xì xào bàn tán, cái chết của Rosa vẫn trở thành một đầu đề gây náo động trong dư luận quần chúng. Bác sĩ Cuevas sẵn sàng đưa ra lời giải thích rất xác đáng về cái chết của cô gái cho những ai muốn nghe ông; theo như ông nói cái chết đó do bệnh sưng phổi cấp tính gây ra. Những lời giải thích của ông cũng không làm dẹp được tin đồn đại lan ra rằng cô bé bị đầu độc nhầm, thay cho ông bố. Cần phải nói rõ là lúc đó hầu như không thấy có những cuộc ám sát chính trị trong nước, và dùng chất độc, trong bất kỳ trường hợp nào, đều vẫn bị coi như phương pháp của những mụ phù thủy, một thứ đáng khinh khi, và người ta không dùng đến từ thời kỳ thuộc địa, bởi vì ngay cả những tội lỗi gây ra bởi ghen tức vì tình người ta cũng giải quyết với nhau một cách công khai, mặt đối mặt. Một sự xôn xao phản đối vụ đầu độc nhen lên và trước khi Severo có thể gạt nó đi, một mẩu tin đăng trên một tờ báo của phe đối lập kết tội một cách mập mờ giới chóp bu cầm quyền và nói thêm rằng những người trong Đảng Bảo Thủ đã dám làm đến cả việc đê tiện đó, bởi vì họ không thể tha thứ cho Severo del Valle đã chuyển sang hàng ngũ của Đảng Tự Do bất chấp cả bản chất giai cấp xã hội của mình. Cảnh sát cố lần theo dấu vết, từ cái bình rượu, nhưng điều duy nhất mà họ có thể nói là bình rượu đó không phải từ cùng một nguồn những người gửi con lợn nhồi đầy gà gô đến, và những cử tri của miền Nam không dính líu gì vào vụ này. Chiếc bình rượu bí hiểm đó tình cờ thấy đặt ở cửa ngôi nhà của gia đình Severo del Valle cùng ngày và cùng giờ với con lợn quay được gửi đến. Chị nấu bếp đã đoán rằng đó là một phần chung với món quà tặng kia. Tất cả công cuộc dò xét của Cảnh sát cũng như cuộc điều tra mà Severo bỏ tiền túi ra thuê một tay thám tử tư tiến hành đều không khám phá ra được những tên giết người, và bóng dáng của mối tử thù đó còn lơ lửng cho đến mấy thế hệ sau. Đó chính là hành động đầu tiên trong những hành động bạo lực đã đánh dấu số phận của gia đình dòng họ này.

Tôi nhớ thật rõ ràng. Hôm đó là một ngày rất hạnh phúc đối với tôi, bởi vì vừa mới tìm thấy một vỉa quặng mới, một vỉa quặng béo bở tuyệt vời mà tôi đã lần mò suốt một thời kỳ đầy hi sinh, xa vắng và đợi chờ, vỉa quặng có thể mang đến cả một gia sản giầu có mà tôi hằng mong muốn. Tôi nhẩm tính rằng chỉ trong sáu tháng chắc chắc tôi sẽ có đủ tiền để cưới Rosa, và sau một năm, tôi bắt đầu có thể nhận thấy mình là một người giầu có. Thật quả tôi đã có nhiều may mắn, bởi vì trong công việc đào mỏ này, những kẻ thất cơ lỡ vận nhiều hơn là những kẻ có thể có thành công, như tôi đang nói, đang viết báo tin cho Rosa chiều hôm đó; tôi thấy trong người bừng bừng nôn nóng khiến những ngón tay tôi vấp liền liền trên chiếc máy chữ già nua, và chữ đánh cứ dính vào nhau vì nhầm lẫn. Đương trong tình trạng đó bỗng tôi nghe thấy tiếng gõ cửa làm tôi mất hẳn hứng thú. Đó là người đánh xe chở thuê cùng với đôi ngựa kéo, mang đến một bức điện gửi từ thị trấn về, do chị Férula của tôi viết báo tin cho tôi biết Rosa đã chết.

Tôi phải đọc mẩu điện báo đến lần thứ ba mới hiểu được cái nặng nề to lớn của nỗi đau khổ của mình. Điều duy nhứt mà từ xưa tôi chưa hề nghĩ đến là Rosa cũng chết như tất cả mọi người trên trần thế. Tôi đã đau khổ rất nhiều với ý nghĩ rằng cô, buồn chán vì chờ đợi, đã quyết định lấy người khác, hoặc không bao giờ có thể tìm thấy vỉa quặng quý để có thể nắm trong tay một gia tài giầu có, hoặc cả khu mỏ bị đổ sập đè bẹp tôi dưới núi đất đá như một con dán. Tôi đã nghĩ suy, tưởng tượng đến tất cả những khả năng ấy, và nhiều khả năng tồi tệ khác nữa, nhưng thật chưa bao giờ nghĩ đến cái chết của Rosa, mặc dù tính bi quan có tật của tôi vẫn khiến cho tôi bao giờ cũng chờ đợi những những điều tồi tệ nhất đến với mình. Tôi cảm thấy không có Rosa cuộc đời sẽ không còn nghĩa lý gì đối với tôi cả. Người tôi như một quả bóng bị xì xẹp xuống, bao nhiêu hào hứng vừa có thẩy đều tan đi. Tôi ngồi lặng trên ghế nhìn hoang mạc qua khung cửa sổ, nào ai biết bao nhiêu lâu, cho tới khi trong con người tôi tinh thần dần dần tỉnh lại. Phản ứng đầu tiên là một phản ứng điên cuồng, căm giận. Tôi đấm thùm thụp vào tường ván của căn nhà cho đến khi đôi bàn tay vãi máu, tôi xé tan thành nghìn mảnh những bức thư, những bức vẽ của Rosa và những bản sao thư từ của tôi đã giữ lại, rồi vội vàng nhét tất cả quần áo, giấy tờ, chiếc túi vải bạt nhỏ đựng vàng vào va li, sau đấy đi tìm người cai giao lại cho anh ta tiền công chi cho thợ và chìa khóa cửa kho hàng. Anh lái xe chở thuê nhận chở tôi ra đến tận ga xe lửa. Hai chúng tôi phải vượt một đoạn đường trên lưng ngựa, mặc măng-tô may tại Castida là thứ áo ấm duy nhất có thể chống được mưa tuyết dầy đặc, đi rất chậm chạp qua dải đất cô đơn bất tận, nơi mà chỉ có bản năng của người dẫn đường mới có thể đảm bảo cho chúng tôi đi tới được nơi đã định, bởi vì ở đây chẳng có lấy một điểm gì làm dấu cho những con đường. Đêm sáng và đầy sao, tôi cảm thấy rét lọt vào đến tận xương, làm tê cứng bàn tay, thấm vào đến tận linh hồn trong tận cùng thân thể. Tôi nghĩ đến Rosa, và có cái mong muốn rất vô lý rằng tin đó là tin không có thật; tôi cầu trời một cách vô vọng rằng đó là một tin láo toét, sai lầm, bởi vì được sức mạnh tình yêu của tôi kích thích, cô đã hồi phục, đã sống trở lại, như thánh Lazarus. Tôi khóc trong lòng, ngập trong buồn đau và băng giá của đêm khuya, càu nhàu chửi rủa con ngựa đi sao quá chậm, rủa cả chị Férula, người đưa đến cho tôi cái tin chẳng lành, rủa cả Rosa đã chết đi mất, rủa cả Chúa đã cho phép sự bất hạnh này xảy ra, cho tới khi chân trời bắt đầu ửng sáng, và tôi thấy những vì sao biến mất, rồi những màu sắc đầu tiên của bình minh nổi dần lên, nhuộm đỏ và vàng cam cho cảnh sắc thiên nhiên vùng Bắc; và nhờ có ánh sáng, trong con người tôi đã thấy có chút khôn ngoan sáng suốt trở về. Tôi bắt đầu chịu đựng nỗi bất hạnh của mình và cầu xin, bây giờ không phải là làm cho Rosa sống lại nữa, mà chỉ cầu xin cho mình tới kịp để được nhìn thấy cô trước khi chôn cất. Chúng tôi đi gấp đoạn đường còn lại và một tiếng đồng hồ sau, người phu xe thuê từ biệt tôi tại nhà ga nhỏ bé, nơi con tầu chạy qua, nối liền thế giới văn minh với nơi hoang mạc mà suốt hai năm tôi đã sống.

Suốt cuộc hành trình dài ba mươi tiếng đồng hồ tôi không nghỉ, không ăn, quên cả khát, và tôi kịp về đến gia đình del Valle trước đám ma. Người ta kể rằng tôi tới nhà, người đầy bụi, không mũ nón, bẩn thỉu, râu ria lởm chởm, khô khan và giận dữ, kêu thét gọi tên người yêu của tôi. Cô em bé Clara lúc đó hãy còn là một cô bé gày gò, xấu xí, ra gặp tôi khi tôi bước vào sân, cô nắm lấy tay tôi, lặng lẽ dẫn tới phòng ăn. Tại đấy Rosa nằm giữa những nếp voan trắng trong cỗ quan tài trắng, đã ba ngày sau khi tắt thở mà vẫn còn giữ nguyên vẹn nhan sắc như xưa, và còn nghìn lần đẹp hơn hình ảnh mà tôi vẫn hình dung trong tưởng nhớ, bởi vì Rosa trong cái chết đã biến thành nàng tiên cá, từ bao đời nay vẫn là bí mật với con người.

– Thật khốn nạn thay! Em đã tuột rơi khỏi tay tôi mất rồi! - người ta kể rằng tôi đã kêu thét như vậy, rồi quỳ phục xuống cạnh cô, làm huyên náo ầm ĩ, khiến toàn thể gia đình họ hàng đều khiếp hãi, bởi vì thật tình không một ai có thể hiểu nổi sự thất bại của tôi trong việc đã bỏ phí bao nhiêu năm đi đào bới đất để làm giầu, với mục đích duy nhất được một ngày nào đó giắt tay cô gái trẻ đến trước bàn thờ, thế mà cái chết đã phũ phàng cướp mất người đẹp của tôi.

Một lát sau xe tang tới, một cỗ xe lớn, sơn đen bóng loáng, sáu con ngựa bờm rũ rượi kéo, đúng theo thói tục thời đó, và hai người phu đánh ngựa mặc quần áo chế phục cũng mầu đen. Cỗ xe tang rời nhà vào nửa chiều, dưới một làn mưa phùn lay nhay dai dẳng, đi theo sau xe tang là cả một đoàn xe chở thân nhân, bạn bè, và những vòng hoa phúng viếng. Theo tục lệ, đàn bà trẻ em không tham dự vào việc chôn cất, cái đó giành cho cánh đàn ông, nhưng Clara cuối cùng vẫn lọt được vào trong đám đông đi theo linh cữu chị Rosa. Tôi thấy bàn tay bé nhỏ có đeo găng của cô bé bám chặt lấy bàn tay tôi và suốt đoạn đường đưa ma tôi có cô bé bên cạnh, một cái bóng bé nhỏ, lặng lẽ làm dậy lên một cảm giác dịu dàng, ấm ấp chưa từng thấy trong tâm hồn tôi. Lúc đó tôi vẫn chưa nhận biết được rằng Clara đã hai ngày rồi không nói lấy một lời, phải qua ba ngày nữa người trong gia đình mới hoảng hốt nhận thấy sự im lặng đó.

Severo del Valle và mấy anh con trai lớn khiêng chiếc quan tài trắng đóng một hàng đinh bạc của Rosa, và chính tay họ đặt quan tài xuống cái ổ vẫn mở ở trong lăng mộ. Họ bước đi theo lối tang lễ, lặng lẽ không nước mắt, theo đúng những tiêu chuẩn buồn rầu trong một đất nước có thói quen giữ danh dự trong đau thương. Sau khi những chiếc song sắt của ngôi mộ đã đóng và những người đưa đám đã ra về, tôi còn ở lại đó, đứng lặng giữa những vòng hoa còn nguyên vẹn, thoát khỏi cái miệng tham ăn của con Barrabás và đã theo được Rosa đến nghĩa địa. Có lẽ trông tôi giống như một con chim đen sẫm mùa đông, trong bộ áo có đuôi tôm dài phe phẩy trước ngọn gió Bắc, cao và gầy như thể trạng của tôi vẫn thế, trước khi nó tuân theo lời nguyền rủa của Férula mà bắt đầu teo nhỏ dần đi. Trời mầu xám xịt và đe dọa đổ mưa xuống; có lẽ lúc đó trời rất lạnh, nhưng tôi không cảm thấy lạnh bởi vì con người tôi đang bị cơn điên giận chiếm lĩnh hoàn toàn. Tôi không thể đảo mắt rời khỏi cái khuôn đá hoa cương hình chữ nhật, nơi có ghi bằng nét chữ Gothic tên của Rosa, người đẹp, và ngày tháng giới hạn của cuộc qua chơi ngắn ngủi trên cõi đời này. Tôi nghĩ mình đã để mất hai năm mơ mộng cùng Rosa và cuối cùng không có được cái an ủi chết chôn cạnh cô. Ngẫm nghĩ về những năm còn lại của mình, tôi đi đến kết luận rằng không còn cô, những năm đó không còn giá trị, bởi vì không bao giờ tôi còn tìm được một người phụ nữ nào khác có được món tóc xanh và đẹp như sắc biển ấy trên khắp thế giới này. Nếu như người ta bảo rằng tôi sẽ sống hơn chín mươi năm nữa, có lẽ lúc đó tôi sẽ tự bắn vào mình một phát đạn để chết ngay.

Không nghe thấy tiếng bước chân của người gác nghĩa địa tiến đến gần ở mé sau, tôi giật mình ngạc nhiên khi anh ta đặt tay lên vai tôi.

– Tại sao anh dám chạm vào người ta? - tôi gầm lên.

Con người khốn khổ đó lùi lại, sợ hãi. Một vài giọt mưa buồn rầu đẫm ướt những bông hoa của những người đã chết.

– Xin lỗi ngài, đã sáu giờ, và tôi phải đóng cửa nghĩa trang - tôi nhớ rằng anh ta nói với tôi như vậy.

Anh ta cố gắng giải thích cho tôi biết luật lệ cấm những người không thuộc nhân sự của nghĩa trang không được phép ở lại nơi này sau khi mặt trời lặn, nhưng không để cho anh nói hết, tôi ấn vào tay anh ta mấy tờ giấy bạc và tôi đẩy anh ta đi, để cho tôi yên. Tôi trông thấy anh ta bước ra xa, liếc nhìn tôi qua vai áo. Chắc hẳn anh ta nghĩ rằng tôi là một thằng điên, một trong số những con ma bệnh hiếp người chết thỉnh thoảng lại lượn lờ quanh những nơi nghĩa địa.

Đó là một đêm dài, có lẽ đêm dài nhất trong cuộc đời tôi. Suốt đêm tôi ngồi cạnh mộ Rosa, nói với cô, đi cặp kè bên cô trên đoạn đường thứ nhất trong cuộc hành trình của cô về NƠI XA TÍT TẮP KIA, trong khi thật tôi còn khó khăn mới dứt được mình ra khỏi mặt đất, và còn cần biết bao nhiêu tình yêu của những người sống, để có thể ra đi thanh thản vì ít nhất cũng được an ủi là đã gieo được một chút gì vào trái tim của người nào khác. Tôi nhớ lại khuôn mặt tuyệt đẹp của cô và chửi rủa số phận của chính mình. Tôi trách cả Rosa, vì cô tôi đã phải sống những năm trong hầm mỏ, để mơ mộng sống mãi cùng cô. Tôi không nói cho cô biết tôi đã không nhìn những người phụ nữ khác trong suốt thời đó, ngoài một số cô gái làng chơi khốn khổ, già yếu, mòn mỏi, đáng thương. Nhưng đúng tôi đã nói để cô biết tôi đã sống giữa những con người gai ngạnh, coi thường luật pháp, ăn quả sung, uống nước đục, xa cách với văn minh, ngày đêm nghĩ đến cô, mang trong tâm trí hình ảnh của cô như thể một lá cờ, nó tạo cho tôi sức mạnh để tiếp tục công việc đào bới trong ruột núi, dù đã lạc mất vỉa quặng, dù đau dạ dày phần lớn ngày tháng trong năm, dù lạnh cóng trong đêm và điên loạn bởi cái nóng ban ngày, tất cả như vậy cũng chỉ nhằm mục đích duy nhất lấy được cô làm vợ; nhưng bây giờ cô đã phản bội, chết đi mất trước khi có thể thực hiện được những mơ mộng mà tôi đã nâng niu, để lại cho tôi một nỗi đau buồn không thể nào khuây khỏa. Tôi nói với cô rằng cô đã chọc ghẹo đùa cợt tôi, tôi kể với cô rằng chưa bao giờ hai đứa được ở cạnh nhau hoàn toàn chỉ có hai đứa, rằng tôi chỉ được hôn cô một lần duy nhất. Tôi phải thêu dệt tình yêu bằng những kỷ niệm và những ước muốn gấp vội, nhưng không thể nào thỏa mãn, và những bức thư chậm đến và đã phai mờ cả chữ không thể phản ánh được niềm say mê của tình cảm cũng như nỗi đau về sự vắng mặt, xa cách của cô, bởi chưng viết theo thể anh hùng ca thì tôi có thể làm được dễ dàng, còn diễn tả những xúc động tình cảm của mình thì đối với tôi lại rất khó khăn, không làm nổi. Tôi nói với cô rằng những năm sống trong hầm mỏ là những năm mất mát không thể đền bù, và nếu như tôi biết được cô chỉ sống rất ít như thế trong cuộc đời này, có thể tôi đã đi ăn trộm tiền bạc cần thiết để cưới cô và xây dựng một lâu đài lộng lẫy bằng tất cả những của quý dưới đáy biển: san hô, ngọc trai, sà cừ, tại đó tôi sẽ canh giữ, bảo vệ cô và nơi ấy chỉ có mình tôi có thể ra vào. Tôi sẽ yêu cô không dứt trong suốt thời gian hầu như vô tận, bởi vì tôi chắc chắn rằng nếu cô sống cùng tôi, cô sẽ không uống phải liều thuốc độc người ta dành cho cha cô, và cô sẽ sống được nghìn năm. Tôi nói với cô về những cử chỉ vuốt ve vẫn dành cho cô, những món quà tặng làm cô phải ngạc nhiên, cách thức tôi say mê yêu đương cô và làm cho cô sung sướng. Tôi nói với cô, tất cả những điều điên dại mà chưa bao giờ tôi hề thổ lộ với cô và cũng không bao giờ tôi lại thổ lộ ra với bất cứ người phụ nữ nào khác.

Đêm đó tôi tưởng rằng tôi đã mất hoàn toàn cái khả năng yêu mê, tôi sẽ không bao giờ còn có thể cười cợt hoặc rõi theo một ảo vọng. Nhưng “không bao giờ nữa” quả là một thời gian rất dài. Như vậy tôi có thể chứng nghiệm nó trong cuộc đời dài này.

Tôi thấy nỗi căm giận điên cuồng nẩy nở trong tôi như thể một u bướu độc hại, làm bẩn thỉu những giờ phút tốt đẹp của cuộc sống, làm tôi không còn khả năng để tỏ ra dịu dàng, rộng lượng. Nhưng trên tất cả mớ hỗn độn và căm giận đó, tình cảm mãnh liệt mà tôi nhớ mình đã có trong đêm đó là cái cảm xúc thấy mong ước bị đổ nhào tan rã, bởi vì không bao giờ tôi còn có thể thực hiện khao khát được đưa bàn tay vuốt ve khắp thân thể Rosa, được đi vào những nơi thân yêu kín đáo, được buông sổ mớ tóc như nguồn nước xanh của cô và đầm mình trong dòng nước sâu thẫm nhất của cô. Tôi gợi một cách tuyệt vọng hình ảnh cuối cùng của cô mà tôi còn giữ được, nó nổi giữa những nếp voan trắng trong cỗ quan tài trinh bạch, với chiếc mũ cành hoa chanh trong trắng của cô dâu trên đầu, và một vòng tràng hạt giữa những ngón tay. Tôi không ngờ rằng cứ như thế, cái hình ảnh cô với chiếc mũ cành hoa chanh và vòng tràng hạt, tôi lại trông thấy cô trong một giây chớp nhoáng nhiều năm sau đó.

Người gác nghĩa trang trở lại cùng với những tia sáng đầu tiên của buổi sớm mai. Chắc hẳn anh ta cảm thấy thương hại cái chàng điên chết cóng đến nửa người, qua một đêm ngồi cùng những hồn ma xám ngắt trong nghĩa địa. Anh ta chìa cho tôi chiếc bình toong:

– Trà nóng. Uống đi một chút, thưa ông - anh ta mời tôi.

Nhưng tôi từ chối bằng một cái gạt tay và, càu nhàu, chửi rủa, tôi bước những bước dài và giận dữ, giữa dãy mộ và hàng cây trắc bách diệp.

Cái đêm mà bác sĩ Cuevas và anh chàng phụ tá của ông mổ xác Rosa trong bếp để tìm nguyên nhân của cái chết, Clara nằm trên giường hai mắt mở thao láo, run sợ trong bóng tối. Có cái gì ngờ ngợ ghê gớm rằng sở dĩ chị cô chết chính là do cô đã báo trước điều đó. Cô nghĩ có lẽ cái mãnh lực tinh thần của cô đã làm cho lọ muối chuyển động trên bàn, có thể cũng là nguyên nhân gây nên cái chết, gây nên những cuộc động đất và nhiều tai họa khác lớn hơn nữa. Bà Nívea phải giải thích mãi để cô biết cô không thể gây ra những sự kiện đó được mà chỉ có thể là đã nhìn thấy nó sớm trước một chút mà thôi, nhưng sự giải thích của bà mẹ cũng vô ích. Cô vẫn cảm thấy buồn rầu, tội lỗi và nẩy ra ý nghĩ nếu có thể đến nằm một chỗ cùng chị Rosa cô sẽ thấy dễ chịu hơn. Cô nhỏm dậy, mặc áo ngủ, để chân trần cô đi tới phòng ngủ mà cô cùng ở chung với cô chị cả, nhưng không thấy chị còn nằm đấy như lúc cô trông thấy chị lần cuối cùng. Cô bước ra ngoài nhà để tìm chị. Khắp ngôi nhà đều tối mò và lặng lẽ. Mẹ cô say ngủ bởi liều thuốc của bác sĩ Cuevas, còn các anh chị cô và những người làm đều về phòng ngủ của họ từ rất sớm. Cô đi qua mọi gian phòng, men sát theo những bức tường, sợ hãi và lạnh cóng. Bàn ghế nặng nề, những bức rèm dạ che cửa dày cộp, tranh ảnh treo trên tường, giấy vẽ hoa phủ tường trên nền sẫm, những ngọn đèn đã tắt lủng lẳng, và bốn cây dương sỉ trên bốn đầu cột lát gạch men, tất cả đối với cô đều có vẻ dọa nạt, đáng sợ. Cô thấy trong phòng khách có ánh sáng lọt qua khe hở dưới cánh cửa và cô định bước vào, nhưng sợ gặp cha cô, sợ ông lại ra lệnh cho cô quay về giường ngủ, cô bèn đi về phía bếp, định bụng đến úp mặt vào ngực Vú Em cô sẽ tìm được an ủi. Cô bước qua sân chính, đi giữa những cây trà và cây cam thấp lùn, xuyên qua những gian phòng của căn thứ hai của ngôi nhà, qua dãy hành lang u tối, có ánh lửa le lói của những cây đèn đất để cháy suốt đêm. Rồi cô bước đi ra, run rẩy và làm cho những con dơi và mọi loài côn trùng ban đêm phải im bặt, cô đi tới sân thứ ba, nơi có những dãy nhà phụ và căn bếp. Tại đó, ngôi nhà không còn cái dáng vẻ lãnh chúa oai nghiêm và bắt đầu phô bầy lộn xộn nào chuồng chó, chuồng gà và những gian buồng nhỏ của những người hầu. Ở mãi phía sau là chuồng ngựa, tại đó có mấy con ngựa già mà Nívea vẫn còn dùng đến, mặc dầu Severo del Valle là một trong những người đầu tiên ở đây đã mua xe hơi. Cánh cửa ra vào và cửa sổ của căn bếp đều đóng. Linh tính báo cho Clara biết có việc gì đó bất thường đang xẩy ra ở bên trong, nên cô ló đầu nhìn, nhưng mũi cô chưa tới được bực dưới của khuôn cửa sổ, cô phải lôi một chiếc hòm gỗ áp sát vào tường, trèo lên và nhìn vào trong qua một kẽ hở giữa cánh cửa và nẹp cửa mà thời gian và ẩm ướt đã làm cho vênh lên không kín nữa. Và đến lúc đó cô bé trông thấy rõ ở bên trong.

Ông bác sĩ Cuevas, to béo, tốt bụng và hiền dịu có bộ râu sồm soàm, có cái bụng thật to, con người đã giúp cho cô ra đời và đã chăm nom cho cô trong suốt thời kỳ thơ ấu ốm yếu bệnh tật, chữa cho cô những cơn hen suyễn, lúc đó đã biến thành một con quỷ dơi hút máu béo múp và đen ngòm y như là một loại dơi hút máu minh họa trong những cuốn sách của cậu Marcos. Ông đang cúi xuống cái bàn to, nơi Vú Em vẫn sửa soạn làm cơm. Ở bên cạnh ông có một người trai trẻ lạ mặt, xanh tái như ánh trăng, áo sơ mi thấm máu và đôi mắt ngây dại vì tình yêu. Cô trông thấy đôi chân trắng nõn nà và đôi bàn chân trần của chị Rosa. Clara run lên. Đúng lúc đó bác sĩ Cuevas đứng lui ra một chút, cô bé trông thấy một quang cảnh kinh khủng: Rosa nằm trên mặt đá của chiếc bàn to rộng, bụng vỡ toang theo một đường rạch thật sâu, lòng ruột đặt một bên, bên trong cái liễn đựng rau sà lách đầu Rosa ngoẹo sang phía cửa sổ, nơi Clara đang đứng nhìn trộm, bộ tóc dài xanh mướt của chị từ mặt bàn thả xuống sát những viên gạch nền nhà loang lổ máu. Đôi mắt Rosa đã nhắm nghiền, nhưng do tác động của bóng tối, do khoảng cách hoặc do tưởng tượng, cô bé như thấy nó mang một vẻ cầu khẩn, nhục nhằn.

Clara bất động trên chiếc hộp gỗ, không thể rời mắt khỏi quang cảnh đó cho tới khi kết thúc. Cô đứng nhìn chằm chằm qua khe hở một lúc lâu, người lạnh giá mà cũng không hề chú ý, cho tới khi hai người đàn ông moi sạch bụng Rosa, tiêm vào mạch máu chị một chất nước và rửa sạch trong bụng cũng như ngoài da chị cô bằng một loại dấm thơm và dầu hương cam tùng. Cô đứng lặng cho đến khi hai người nhồi đầy những bột thạch cao, ướp hương thơm vào trong bụng Rosa và khâu kín lại bằng một mũi kim cong như của người khâu nệm. Cô đứng lặng cho đến khi ông bác sĩ Cuevas đi rửa tay trong chậu rửa bát và chùi nước mắt, trong khi anh con trai lạ mặt hôn lên môi Rosa, hôn lên cổ, hôn lên đôi vú, hôn giữa bẹn Rosa, rồi lau cho chị bằng một miếng bọt bể, mặc cho chị tấm áo thêu ren và sửa sang lại bộ tóc cho chị cô, vừa làm vừa thở hồng hộc. Cô đứng lặng tới khi Vú Em và ông bác sĩ Cuevas quay lại, tới khi họ mặc cho chị cô bộ quần áo trắng và đội lên đầu chị cô chiếc vòng hoa chanh, vẫn gói giữ trong hộp giấy sáp để giành cho ngày lễ cưới. Cô đứng lặng tới khi người phụ tá của bác sĩ Cuevas lại bế chị cô trong đôi tay một cách dịu dàng cảm động giống như thể được bế chị cô như vậy để bước qua ngưỡng cửa nhà anh lần đầu, như thể chị là người vợ yêu mới cưới của anh ta. Và cô đứng lặng im không cử động như vậy cho tới khi những tia sáng đầu tiên xuất hiện. Lúc đó cô mới luồn về giường nằm, cảm thấy mang trong người tất cả cái im ắng, lặng lẽ của cuộc đời. Cái lặng lẽ đó hoàn toàn chiếm cứ cô khiến cô không nói lên một lời nào nữa từ đó đến chín năm sau, cho đến tận khi cô chợt lại cất lên tiếng nói để báo cho mọi người biết tin cô sắp lấy chồng.

Chú thích:

[1] Đơn vị tiền tệ của Chilê.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của isabel allende