Thời thơ ấu của Blanca trôi đi không có những náo động lớn, trong một cuộc sống xen kẽ mùa hè nóng nực thì ở trang viên Ba Cô Maria, nơi cô bé khám phá ra mãnh lực của một tình cảm cứ lớn dần theo cô, và thông thường thì ở thủ đô, một cuộc sống giống như của nhiều cô bé khác cùng trong lứa tuổi và tầng lớp xã hội như cô, dù cho sự có mặt của Clara có để một nốt kỳ quặc trong cuộc đời cô bé. Sáng sáng Vú Em bước vào cùng với khay thức ăn điểm tâm, lay cô bé ra khỏi cơn ngái ngủ, xem xét bộ đồng phục học sinh, thay tất cho cô, đội mũ lên đầu cô, đi găng tay và quấn khăn cho cô, sắp xếp trật tự sách vở trong cặp sách, vừa làm vừa lầm rầm cầu nguyện cho linh hồn của những người đã chết, cùng những lời dặn dò cao giọng để Blanca đừng để cho các nữ tu sĩ mê hoặc, đánh lừa.
– Những mụ đó tất cả đều là một lũ hư đốn - Vú cảnh cáo - chuyên tìm chọn những cô học trò xinh đẹp nhất, thông minh nhất và dòng dõi gia đình sang trọng, để đưa chúng nó vào nhà tu, gọt trọc đầu thành nữ tu sĩ mới nhập môn, thật tội nghiệp mấy con bé, cứ thế là bỏ cả cuộc đời vào công việc sản xuất bánh bột rán để bán, và trông nôm săn sóc những ông bà già xa lạ không quen.
Anh đánh xe đưa cô bé tới trường, tại đó hoạt động đầu tiên của một ngày là lễ misa và cầu kinh bắt buộc. Quỳ trên ghế của mình Blanca hít hương thơm đậm đặc của nhang nến và hoa huệ lễ bà Maria, chịu đựng một hình phạt hỗn hợp của sự choáng váng buồn nôn, tội lỗi và bực mình khó chịu. Đó là điều duy nhất mà cô không thích ở trong trường học. Cô yêu thích những dãy hành lang bằng đá cao vút, sự sạch sẽ tinh khiết của những sàn đá hoa cương, những bức tượng trắng trần trụi, tượng đức Jesus bằng sắt đứng canh ở lối ra vào. Cô là một đứa bé lãng mạn và tình cảm, có khuynh hướng cô đơn, ít bạn bè, có thể cảm động đến phát khóc khi thấy những bông hồng nở trong vườn, khi ngửi thấy cái hương thơm thoang thoảng của vải cũ và sà phòng toát lên từ các nữ tu sĩ đang cúi mình trên công việc, khi cô ở lại khi tan học để nhận thấy cái im ắng buồn rầu của những phòng học vắng ngắt. Dần dần cô bé trở thành một cô gái rụt rè, ít nói. Chỉ khi ở nông thôn, da đỏ hồng vì nắng, và bụng no kềnh những quả ngon chín ngọt, chạy nhẩy cùng Pedro García Con khắp các khoang chăn ngựa cô bé mới tươi cười vui vẻ. Mẹ cô nói đó mới thực sự là con bé Blanca, còn con bé ở thành thị kia là con Blanca trong giấc ngủ mùa đông.
Trong ngôi nhà lớn ở góc phố, do sự huyên náo thường xuyên cuốn hút nên không một ai, trừ Vú Em, để ý thấy Blanca đã trở thành một người phụ nữ. Đùng một cái, Blanca bước vào thời thanh xuân. Thừa kế dòng máu Tây Ban Nha và Ả Rập của gia đình họ Trueba, với cái dáng dấp đường bệ, cái nhăn mặt kiêu căng, làn da mầu ôliu nhạt, đôi mắt đen sẫm của loại gien miền Địa Trung Hải, nhưng có pha cái hiền dịu, ngọt ngào thừa kế được ở dòng máu mẹ, sự hiền dịu mà không một ai trong dòng họ nhà Trueba có được. Đó là một cô gái lặng lẽ, chơi đùa giải trí một mình, học tập và chơi với búp bê, và không tỏ ra có tí chút khuynh hướng tự nhiên về những môn tâm thần ma quái của mẹ hoặc những tính nết cáu bẳn, hay nổi nóng của cha cô. Cả nhà đều nói với một giọng đùa bỡn rằng cô là người duy nhất có tính nết bình thường trong nhiều thế hệ của gia đình; thực thế, cô như thể một hiện tượng phi thường về thăng bằng và bình thản. Năm mười ba tuổi ngực cô bắt đầu phát triển, thắt lưng thanh gọn lại, thân hình cao dỏng bớt béo đi và ngay thẳng như một thân cây được vun bón tốt. Vú Em cuốn tóc búi lại, và đi theo cô để mua chiếc áo ngủ đầu tiên, đôi tất lụa đầu tiên, bộ váy áo phụ nữ đầu tiên, và một tập khăn mặt nho nhỏ để dùng cho việc mà cô gọi là sự chứng minh. Trong khi đó mẹ cô vẫn tiếp tục làm cho những chiếc ghế tự động di chuyển khắp phòng, làm cho nổi lên những khúc nhạc Chopin trong chiếc dương cầm vẫn đậy nắp, và ngâm nga những câu thơ tuyệt đẹp không vần, không ý thú và phi lý của một nhà thơ trẻ, một thực khách ở trong nhà, nhà thơ đã được khắp nơi bắt đầu nói đến, Clara không biết tí gì về những thay đổi trong người con gái, không nhìn thấy bộ đồng phục trường trung học đã bung hết chỉ, cũng chẳng nhận thấy khuôn mặt tròn như trái cây của con gái đã tinh tế biến thành một khuôn mặt phụ nữ, bởi Clara trong cuộc sống chú ý đến thần sắc nhiều hơn là chú ý đến cân nặng và chiều cao. Một hôm trông thấy con gái bước vào hiệu thợ may trong bộ quần áo đi chơi phố, Clara lấy làm lạ thấy cái cô gái cao cao và tóc đen ấy lại là con bé Blanca của mình. Clara liền ôm hôn con chầm bập và báo cho con gái biết có thể con sắp có kinh.
– Ngồi xuống đây con gái, mẹ sẽ giảng cho con hiểu rõ điều đó - Clara nói.
– Xin mẹ đừng bận tâm, mẹ ạ, đã một năm nay, tháng nào con cũng thấy rồi mà - Blanca mỉm cười.
Sự phát triển lớn lên của con gái không làm cho quan hệ giữa hai mẹ con có thay đổi gì lớn, bởi vì tình yêu thương ấy được đặt trên những nguyên tắc bền vững của sự thông cảm lẫn nhau, chấp nhận cho nhau hết mọi điều, và cái khả năng cùng nhau riễu cợt hầu như tất cả mọi sự trên đời.
Năm đó mùa hè đến sớm bằng những dấu hiệu nóng khô hầm hập phủ trên toàn thành phố một ánh oi bức bất động khó chịu, vì vậy hành trình về đồn điền Ba Cô Maria được tổ chức sớm hơn hai tuần lễ. Cũng như tất cả mọi năm trước, Blanca khắc khoải chờ đợi lúc được gặp Pedro García Con, và cũng như mọi năm, sau khi xuống xe ngựa, việc đầu tiên của cô là đưa mắt tìm anh chàng bao giờ cũng đứng ở cái góc đó. Phát hiện thấy bóng dáng anh ẩn trong khuôn cửa, cô vội chạy đến gặp anh với cái ao ước của bao nhiêu tháng mơ mộng về anh, nhưng ngạc nhiên nhìn thấy anh chàng quay nửa vòng và chạy ra ngoài lẩn trốn.
Blanca chạy khắp nơi suốt buổi chiều, tìm đến những chỗ mà trước hai đứa đã gặp gỡ chơi đùa, hỏi thăm anh, kêu gọi tên anh, tìm anh ở nhà ông già Pedro García, và cuối cùng, lúc chiều tối cô thất vọng đi nằm, bỏ cả ăn. Trên chiếc giường đồng to gộ, đau đớn và lạ lùng, cô gái vùi mặt trong chiếc gối và khóc nức nở. Vú Em mang vào cho cô một cốc sữa pha mật ong, và đoán ra ngay lập tức nguyên nhân của sự buồn bã của cô.
– Thật mừng! - Vú vừa nói vừa cười ngặt nghẽo. - Bây giờ con không còn ở cái tuổi chơi đùa với thằng thò lò mũi đầy rận đó nữa!
Nửa tiếng đồng hồ sau, mẹ cô gái vào hôn con gái, thấy cô đang khóc nốt những tiếng nấc cuối cùng của một trận khóc trong nhạc kịch. Chỉ một loáng Clara đã thôi không còn là cô tiên lơ đãng nữa, mà đặt mình xuống ngang tầm của một người trần tục thông thường đơn giản, vào độ tuổi mười bốn, đang đau khổ về nỗi buồn tình ái đầu tiên. Clara muốn dò hỏi, nhưng Blanca quá ư kiêu ngạo hoặc quá ư phụ nữ, không cho mẹ một lời giải thích, nên Clara chỉ hạn chế mình trong việc ngồi xuống cạnh giường một lát, và vuốt ve con gái cho tới khi cô bình tĩnh lại.
Đêm đó Blanca kém ngủ và rạng sáng đã thức dậy giữa bóng tối của căn nhà rộng rãi bao bọc. Cô nằm lặng lẽ nhìn những hình gốm trang trí trên nóc nhà cho tới khi nghe tiếng con gà trống gáy liền trở dậy, mở rèm cửa cho ánh sáng dịu của buổi bình minh và những tiếng động đầu tiên của cuộc sống lọt vào. Cô lại gần chiếc gương to trên cánh cửa tủ và chăm chú tự ngắm mình. Cô cởi áo và lần đầu tiên quan sát từng li từng tí thân thể mình, và chợt hiểu rằng tất cả những thay đổi đó là nguyên nhân làm cho người bạn trai của mình đã chạy trốn. Cô mỉm cười, một nụ cười mới mẻ và tế nhị của người phụ nữ. Cô mặc chiếc áo cũ của mùa hè năm trước mà hầu như không chui lọt, và khoác thêm một tấm áo ngoài rồi rón rén bước ra khỏi phòng để khỏi đánh thức mọi người trong gia đình. Bên ngoài, cánh đồng cái mơ ngủ của bóng đêm nghiêng ngả và những ánh nắng đầu tiên như những nhát kiếm xiên xuống đầu mỏm núi, sưởi ấm cho mặt đất và làm cho sương đêm bốc hơi lên tạo thành một làn bọt trắng thật mịn màng, xóa mờ những đường viền của mọi vật và biến toàn cảnh thành một bức tranh trong cơn mơ. Blanca đi về phía bờ sông. Mọi vật đều vẫn trong yên tĩnh, bước chân của cô dẫm nát những chiếc lá rụng và những cành khô, gây ra một tiếng nổ lách tách nhè nhẹ, tiếng động duy nhất trong cái không gian rộng mênh mông đang ngủ đó. Cô thấy những cây bạch dương như không có nét rõ ràng, những cánh đồng lúa mì vàng rực và những ngọn đồi tím tím, xa xa mất hút trên nền trời trong suốt buổi sớm mai, và tất cả những thứ đó đều là một kỷ niệm xưa cũ trong ký ức cô, một chút gì mà cô từng trông thấy y như thế, trong giây phút đó, và cô đã từng sống y như thế. Cơn mưa bụi hồi đêm đã làm ẩm ướt nền đất và lá cây, Blanca thấy áo hơi âm ẩm và đôi giày hơi lạnh lạnh. Cô hít hít cái hương của đất ướt, của lá cây ủng, của rêu, cái hương làm dấy lên một niềm khoan khoái mà những giác quan của cô chưa từng biết.
Blanca đi đến tận bờ sông và trông thấy người bạn trai thời thơ ấu của mình đang ngồi tại nơi mà biết bao nhiêu lần hai đứa đã hẹn hò gặp gỡ. Vào năm đó Pedro García Con chưa lớn phổng như cô, vẫn còn là cậu bé gầy gò, bụng ỏng, da nâu, có một vẻ thông thái của người già trong đôi mắt đen nhánh. Khi trông thấy cô, cậu bé đứng dậy, và cô ước tính mình cao hơn người bạn nửa cái đầu. Hai người nhìn nhau ngỡ ngàng, lần đầu tiên cảm thấy hầu như hai người lạ mặt nhau. Trong một khoảng thời gian dường như vô tận hai đứa đứng bất động, cho quen với những thay đổi và sự xa lạ mới, nhưng bỗng nhiên một con chim sẻ lên tiếng kêu chim chíp, và thế là tất cả quay trở lại y như mùa hè năm trước. Hai người lại trở thành hai đứa bé cùng nhau chạy nhẩy, ôm nhau và cười khanh khách, ngã lăn xuống đất, vật nhau, vấp vào những hòn sỏi và lẩm bẩm gọi tên nhau không biết mệt, sung sướng lại được cùng ở bên nhau. Cuối cùng hai đứa bình tĩnh lại. Tóc cô gái đầy những lá khô, và cậu bé nhặt vất đi từng chiếc một.
– Đi, mình muốn chỉ cho ấy xem cái này - Pedro García Con nói.
Rồi đưa tay giắt tay cô gái. Hai người bước đi, thưởng thức buổi sớm trong khung cảnh đó, chúng kéo lê chân trong bùn, hái những thân cây sậy non để hút lấy nhựa ngọt, nhìn nhau và cười, không nói cho tới khi tới một khoang nuôi bò ngựa ở tận xa xa. Mặt trời đã xuất hiện trên đỉnh núi lửa, nhưng ánh sáng ban ngày cũng chưa trải dài hết ở trên mặt đất. Pedro Con ra hiệu cho cô bạn nằm xoài xuống đất và giữ im lặng. Hai đứa bò toài đến gần mấy bụi rậm, rồi bò vòng quanh một nửa vòng, lúc đó Blanca đã trông thấy cái mà Pedro Con muốn chỉ cho xem. Đó là một con ngựa cái khoang rất đẹp đang đẻ, chỉ có một mình nó trên một quả đồi. Hai đứa bé nằm bất động, cố sức để con ngựa không nghe thấy cả tiếng thở của chúng; chúng nhìn thấy con ngựa thở hồng hộc và cố sức cho tới khi xuất hiện cái đầu của con ngựa con, và sau một lúc lâu, ra tất cả thân hình con vật. Con vật bé bỏng rơi xuống đất và mẹ nó bắt đầu liếm người nó, cho đến khi nó sạch sẽ, bóng loáng như thể gỗ đánh si, và mẹ nó lấy mõm thúc thúc để tiếp sức cho nó đứng dậy. Con ngựa con cố gắng đứng lên, nhưng mấy cái chân non yếu đổ khuỵu xuống rồi ngã nghiêng, con vật nhỏ nhìn mẹ nó với cái vẻ như bị bỏ rơi, trong khi đó con ngựa mẹ hí vang chào mặt trời buổi sáng. Blanca thấy sung sướng nở tung lồng ngực rồi tan ra thành nước mắt và lóng lánh nở trên đôi mắt.
– Khi nào mình nhớn, mình sẽ lấy ấy, và chúng mình sẽ về sống trong trang viên Ba Cô Maria - cô thầm thì nói.
Bằng đôi mắt có cái vẻ của một ông già buồn, Pedro Con nhìn cô bạn, lắc lắc đầu. Cậu bé còn bé hơn cô bạn nhiều, nhưng cũng đã biết được vị trí của mình trong cuộc đời. Cậu cũng đã biết mình sẽ yêu cô bé đó trong suốt cuộc đời, và buổi sớm tinh mơ hôm đó sẽ là hình ảnh kéo dài mãi trong trí nhớ của mình, và có thể đó sẽ là hình ảnh cuối cùng mà cậu sẽ trông thấy trước khi chết.
Hai đứa bé đã trải qua mùa hè đó trong trạng thái bập bềnh giữa tuổi thơ ấu mà cả hai còn giữ, và sự thức tỉnh của người đàn ông và người đàn bà. Có lúc chúng chạy như những đứa trẻ nhỏ, giúp những mái gà và quát thét những chị bò nái, uống đến chán chê sữa ấm vừa mới vắt và để lại những vệt bọt như râu ria trên miệng, ăn trộm những tấm bánh vừa mới ra lò, trèo lên cây để dựng những nhà ở bằng cành lá. Có lúc chúng ẩn nấp tại những nơi kín đáo và rậm rạp nhất trong rừng, làm những chiếc giường bằng lá cây và chơi trò vợ chồng, vuốt ve nhau cho đến kiệt sức. Chúng chưa mất cái ngây thơ cởi quần áo chẳng chút e dè và trần truồng tắm trong dòng sông như trước, lặn ngụp trong làn nước lạnh, để cho dòng nước cuốn người chúng trôi trên những tảng đá nhẵn bóng chìm dưới nước. Nhưng cũng có một số trò mà bây giờ chúng không chia sẻ với nhau như trước. Bây giờ chúng biết xấu hổ không dám thi nhau xem ai có khả năng tạo ra được vũng nước đái to hơn, và Blanca cũng không nói cho cậu bạn biết về cái chất mầu đỏ sẫm làm bẩn quần lót của mình hàng tháng. Chẳng ai bảo ai, chúng cũng nhận ra rằng chúng không thể thân mật với nhau trước mặt những người lớn. Khi Blanca mặc bộ quần áo thiếu nữ, chiều chiều ngồi trên sân cảnh uống nước chanh cùng với gia đình, Pedro Con lặng lẽ đứng ở đằng xa ngắm nhìn. Hai đứa bắt đầu chơi đùa một cách trốn tránh. Chúng thôi không còn dắt tay nhau trước mặt người lớn và làm ra vẻ không quen biết nhau để khỏi lôi kéo sự chú ý của mọi người. Vú Em thở dài an tâm, nhưng Clara bắt đầu quan sát chúng cẩn thận hơn.
Kỳ nghỉ hè kết thúc; gia đình Trueba trở về thủ đô, mang theo một xe nặng những lọ mứt, compốt, những hòm quả, phó mát, gà và thỏ ướp muối sấy khô, và những sọt đầy trứng. Trong khi mọi người đã ngồi yên vị trên những chiếc xe ngựa chở ra ga, Blanca và Pedro Con vẫn ẩn kín trong vựa thóc để từ biệt nhau. Trong ba tháng hè đó hai đứa đã đi đến chỗ yêu nhau bằng cái say mê cuồng nhiệt nó sẽ làm cho chúng điên đảo cho đến hết cuộc đời. Theo thời gian tình yêu đó càng ngày càng trở nên bất khả xâm phạm và bền bỉ hơn, nhưng ngay từ lúc đó nó cũng đã có được cái đặc tính sâu nặng và vững chắc của nó sau này. Trên một đống bao đựng đầy ngũ cốc, thở hít cái hương bụi bậm của vựa thóc trong ánh sáng vàng rực và dàn trải của buổi sáng lọt vào qua khe ván gỗ, hai đứa trẻ hôn khắp mọi chỗ trên người nhau, liếm láp cho nhau, gậm nhấm cắn nhau, hôn hít nhau chùn chụt, thổn thức khóc và uống nước mắt của nhau, thề sống với nhau đến vĩnh cửu, và thống nhất với nhau một thứ mật mã dùng để thông tin cho nhau trong những thời kỳ phải sống xa nhau.
Tất cả những người sống giây phút đó trong ngôi nhà lớn ở góc phố đều thống nhất với nhau rằng lúc đó khoảng tám giờ tối, Férula thình lình xuất hiện không hề có điều gì báo trước. Tất cả đều đã trông thấy cô trong bộ áo váy có hồ bột, chùm chìa khóa lủng lẳng ở thắt lưng và cái búi tóc của cô gái già không chồng, y như vẫn thường thấy cô trong ngôi nhà xưa kia. Férula từ cửa phòng ăn bước vào đúng lúc Esteban Trueba bắt đầu thái miếng thịt nướng, và tất cả nhận ra cô ngay lập tức, mặc dầu đã sáu năm liền họ không trông thấy cô; trông cô xanh xao hơn và già hơn rất nhiều. Đó là một ngày thứ bẩy, và hai anh em sinh đôi, Jaime và Nicolás đã rời trường nội trú về sống ngày cuối tuần với gia đình, cho nên cả hai đều có mặt trong lúc đó. Việc làm chứng của hai anh em sinh đôi này rất quan trọng, vì chúng là những thành viên duy nhất trong gia đình đã sống xa lạ hoàn toàn với chiếc bàn gọi hồn, không biết gì đến những ma thuật và những trò đoán bói tinh thần, nhờ những kỷ luật nghiêm khắc của trường học của người Anh. Mới đầu mọi người thấy một cơn lạnh đột ngột nổi lên trong phòng ăn, và Clara sai đóng cửa sổ, bởi cô nghĩ đó là một luồng không khí lạnh. Sau đó tất cả nghe thấy tiếng khóa va chạm lách cách và hầu như liền ngay sau tiếng vang của chìa khóa va nhau, cánh cửa phòng mở ra và Férula lặng lẽ với dáng vẻ xa xôi xuất hiện cùng một lúc với Vú Em cùng bước vào theo con đường cửa bếp, tay bưng liễn rau sà lách. Esteban Trueba hai tay vẫn nắm chuôi dao và chiếc rĩa xẻ thịt, tê liệt bởi sự bất ngờ, còn ba đứa trẻ hầu như đồng thanh kêu thét lên: bá Férula! Blanca đứng dậy định bước ra đón, nhưng Clara ngồi ngay bên con gái, đưa tay nắm lấy một cánh tay Blanca. Thực ra Clara nhờ đã quen thuộc từ lâu với những việc dị thường, là người duy nhất vừa mới thoạt nhìn đã nhận ra ngay điều gì đã xẩy ra, mặc dầu trong dáng điệu của người chị chồng không có chút gì tố cáo cái trạng thái thực sự của chị lúc đó. Férula dừng lại cách bàn ăn một mét, nhìn tất cả mọi người bằng cặp mắt trống rỗng và thản nhiên, sau đó bước về phía Clara lúc đó đã đứng lên, nhưng không có vẻ muốn lại gần, mà lại nhắm nghiền đôi mắt và bắt đầu thở hồng hộc, như thể đang ấp ủ cơn hen suyễn, sau đó bước lại gần em dâu, đặt hai bàn tay lên đôi vai Clara và đặt lên trán cô một cái hôn nhanh gọn. Mọi người chỉ thấy tiếng thở hổn hển của Clara và tiếng lách cách của chìa khóa va vào nhau trên thắt lưng của Férula là tiếng động duy nhất ở trong phòng lúc đó. Sau khi hôn em dâu, Férula đi qua bên cô và bước ra khỏi phòng ăn theo lối cửa mà cô đã xuất hiện, nhẹ nhàng đưa tay ra sau lưng khép cánh cửa. Còn lại trong phòng ăn cả gia đình ngồi bất động như thể trong một cơn ác mộng. Chợt Vú Em run lên dữ dội, khiến cho mấy chiếc cùi dìa lớn trong liễn rau sà lách rơi xuống, và tiếng bạc va vào nền gạch làm cho tất cả giật nảy mình. Clara mở mắt. Cô vẫn tiếp tục thở một cách khó khăn và những giọt nước mắt nở ra, lăn xuống má xuống cổ, vấy xuống cả áo ngoài.
– Férula đã chết - cô báo tin.
Esteban Trueba buông dao, dĩa rơi trên bàn và bước như chạy ra khỏi phòng ăn. Anh chạy ra đến tận ngoài đường, gọi tên người chị, nhưng không thấy một dấu vết nào của chị. Trong lúc đó Clara sai một người hầu đi tìm mấy chiếc áo khoác ngoài, và khi chồng cô quay trở lại, cô đang mặc áo khoác, tay cầm mấy chiếc chìa khóa ô-tô.
– Chúng ta đến chỗ cha Antonio - cô bảo chồng.
Trên đường đi họ im lặng. Esteban Trueba, tim thắt lại, lái xe tìm đến nơi thánh đường cổ của Antonio trong xóm nghèo, nơi mà nhiều năm rồi anh không đặt chân tới. Ông cố đạo đang đính một chiếc khuy vào chiếc áo choàng cũ kỹ, khi hai người đến báo tin rằng Férula đã chết.
– Không có thể thế được! - ông kêu lên - Mới hai hôm rồi tôi còn ở chỗ cô ấy, thấy vẫn khỏe mạnh, tinh thần phấn chấn mà.
– Xin hãy đưa chúng con đến nhà chị ấy, thưa cha, - Clara cầu khẩn - Con biết tại sao con nói với cha như vậy. Chị ấy đã chết.
Trước sự khẩn khoản của Clara, cha Antonio đành phải cùng đi với họ. Ông hướng dẫn Esteban lái xe theo mấy đường phố chật hẹp cho tới nơi ở của Férula. Trong những năm cô đơn đó, người gái già đã sống tại một trong những tu viện nhỏ, nơi mà cô đã từng lần tràng hạt cầu nguyện cho những người chống trả lại sự cầu nguyện của cô, trong thời kỳ cô còn trẻ. Họ phải bỏ xe ở mấy dãy nhà cách đấy, vì đường vào mỗi lúc một hẹp lại và họ hiểu rằng những con đường đó làm ra chỉ để cho người đi bộ hoặc đi xe đạp. Họ theo nhau bước, tránh những vũng nước bẩn mà cống rãnh tràn ra, tránh những đống rác rưởi chồng chất mà lũ mèo đang cào bới như những bóng đen bí mật. Tu viện đó gồm một dãy dài những căn nhà điêu tàn, những căn nhà xi-măng bé nhỏ, nghèo nàn, giống nhau, chỉ có một cửa ra vào và hai cửa sổ, tường sơn mầu nâu sẫm, siêu vẹo, tróc vẩy bởi ẩm ướt, có những sợi giây chăng ngang lối đi để ban ngày phơi quần áo, vào giờ này thẩy đều trống không đang đung đưa rất nhẹ. Ở giữa dãy nhà có một vòi nước duy nhất cung cấp nước dùng cho tất cả mọi gia đình sống trong khu đó, và chỉ có hai chiếc đèn lồng soi sáng cho những dãy hiên giữa những căn nhà. Cha Antonio chào một bà già đang đứng cạnh vò nước chờ cho dòng nước khốn khổ nhỏ bé chảy đầy sô:
– Bà có trông thấy cô Férula không? - ông cố đạo hỏi.
– Có lẽ đang ở trong nhà, thưa cha. Mấy ngày hôm nay con không trông thấy cô ấy - bà già nói.
Ông cố đạo chỉ vào một căn nhà, giống như những căn nhà khác, nghèo nàn, vôi vữa loang lổ, bẩn thỉu, nhưng là căn nhà duy nhất có hai chiếc lọ treo bên cạnh cửa ra vào, trong lọ có trồng mấy cây hoa đỏ, cây hoa của người nghèo. Ông cố đạo gõ cửa.
– Cứ vào thôi - từ chỗ vòi nước bà già kêu lên - Cô ấy không bao giờ khóa cửa đâu. Trong đó không có một cái gì để mà ăn trộm cả!
Esteban Trueba vừa mở cửa vừa gọi tên chị, nhưng không dám bước vào. Clara là người bước qua ngưỡng cửa trước tiên. Bên trong tối mò và cô nhận thấy ngay cái mùi không thể nhầm lẫn được của nước giặt và vỏ chanh. Cha Antonio bật một que diêm. Ngọn lửa yếu ớt tỏa ra một ánh sáng trong đêm tối, nhưng trước khi mọi người có thể bước vào hoặc nhận ra những gì bao bọc xung quanh, ngọn lửa đã tắt.
– Các vị đợi ở đây - ông cố đạo nói - Tôi quen biết căn nhà.
Ông lần mò buớc trong bóng tối, và sau đó một lát bật diêm châm một ngọn nến. Khuôn mặt nổi bật lên một cách thô kệch, và mấy người đi sau trông thấy khuôn mặt đó méo mó do ánh sáng từ dưới hắt lên đến giữa người ông, còn cái bóng người đồ sộ của ông lung lay trên những bức tường. Clara mô tả cái quang cảnh này thật tỉ mỉ trong cuốn vở ghi chép cuộc đời, cô kể từng chi tiết hai gian phòng tối tăm, tường loang lổ do ẩm ướt, một góc đi vệ sinh bẩn thỉu và không có nước, trong bếp chỉ còn có những mẩu thừa bánh cũ và một chiếc cốc vại trong đựng một chút nước trà. Những thứ còn lại trong căn nhà của Férula dường như phù hợp với cơn ác mộng mà cô đã mơ tưởng thấy khi người chị chồng xuất hiện trong phòng ăn của ngôi nhà lớn ở góc phố để từ biệt cô. Cô cảm tưởng như mình đang đứng trước một quầy hàng bán quần áo cũ, hoặc đống phông màn của một gánh hát tồi tàn trên con đường đi biểu diễn rong. Trên đầu mấy chiếc đinh đóng vào tường có treo những quần áo cổ lỗ, mấy chiếc khăn choàng lông chim, những miếng da mỏng, những chuỗi hạt ngọc giả, mấy chiếc mũ đã nửa thế kỷ bỏ không dùng, những chiếc váy lót phai mầu với những đường viền đăng ten cũ kỹ, những bộ váy áo trước kia thật rực rỡ mỹ miều mà cái bóng bẩy bây giờ không còn nữa, mấy chiếc áo của thủy sư đô đốc và của cố đạo không hiểu tại sao lại có được ở đây, tất cả treo lẫn lộn lung tung trong cái vẻ thân mật thô kệch, và bụi thời gian đã phủ đầy. Trên mặt đất có một mớ lộn xộn giầy dép, túi sách, thắt lưng, giây tập kéo, có cả một thanh kiếm của học sinh quân sự sáng loáng. Và những món tóc giả nghèo nàn có trang điểm, những lọ rỗng không và một lô những vật dụng bẩn thỉu rải rác khắp nơi.
Một chiếc cửa hẹp ngăn hai căn phòng duy nhất đó. Bên phòng kia Férula nằm trên giường. Diện như một bà hoàng nước Áo, cô mặc một bộ váy áo nhung đã bị mối thủng, váy lót bằng lụa mầu vàng và trên đầu gọn ghẽ và bóng lộn một bộ tóc loăn soăn của đào hát ca kịch không thể tưởng tượng được. Không có một ai bên cạnh cô, không một ai biết lúc cô hấp hối, và người ta tính cô đã chết mấy tiếng đồng hồ trước đó, vì chuột đã bắt đầu gậm nhấm chân cô, cắn đứt mấy ngón. Trông cô thật lộng lẫy trong nỗi sầu khổ của một bà hoàng, và trên khuôn mặt cô có cái vẻ dịu dàng và bình thản mà trong cuộc sống nghèo nàn cô chưa bao giờ có.
– Cô ấy thích mặc quần áo cũ mua lại hoặc nhặt ở sọt rác, cô ấy phấn son và đội món tóc giả kỳ cục này thật, nhưng chưa bao giờ cô làm một điều ác với bất kỳ ai, mà trái lại, cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời cô vẫn lần tràng hạt cầu nguyện cho mọi người được cứu thoát khỏi tội lỗi - Cha Antonio giải thích.
– Xin để một mình tôi ở đây cùng chị - Clara nói rắn rỏi.
Hai người đàn ông bước ra ngoài đường, tại đó hàng xóm đã bắt đầu kéo đến. Clara cởi chiếc áo len trắng khoác ngoài, sắn tay áo, lại gần chị chồng, nhẹ nhàng gỡ bộ tóc giả và trông thấy chị hầu như hoàn toàn hói, già khụ, cô độc. Cô hôn trán chị đúng như chị vừa mới hôn cô mấy tiếng đồng hồ trước đó trong phòng ăn của ngôi nhà lớn ở góc phố, và ngay sau đó với cung cách thật bình tĩnh cô bắt đầu tiến hành những nghi thức đối với người chết. Cô cởi quần áo chị, lau rửa, sát sà phòng thật tỉ mỉ không bỏ sót chỗ nào, sức nước hoa, đánh phấn, lấy bàn chải chải cả bốn loại lông tóc trên người chị một cách âu yếm, rồi mặc cho chị bộ quần áo cũ đẹp và lịch sự nhất mà cô tìm thấy, đội cho chị món tóc của ca sĩ giọng nữ cao, trả nghĩa lại cho chị khi chết đối với những công việc vô biên mà chị hầu hạ, giúp đỡ cô khi chị còn sống. Vừa làm những việc đó, vừa đấu tranh chống cơn hen suyễn, Clara vừa nói với chị về Blanca, nó bây giờ đã là một cô thiếu nữ, nói về hai đứa con giai sinh đôi, về ngôi nhà lớn ở góc phố, về trang viên Ba Cô Maria, “nếu mà chị biết được chúng em nhớ chị thế nào, vắng chị đã thấy được sự thiếu giúp đỡ trông coi trong nhà ra sao, chị đã biết đấy, em có được việc gì đâu trong mọi nhiệm vụ nội trợ, bọn con trai thật không thể chịu được chúng, còn Blanca là một đứa con gái thật đáng yêu, và những cây hoa thược dược mà chính tay chị trồng ở trang viên Ba Cô Maria đã lớn và đẹp tuyệt, có mấy bông hoa màu xanh da trời, vì em đã trộn tiền đồng vào đất bón cây nên chúng mới đâm những bông hoa mầu như vậy, đó là một bí mật của thiên nhiên, và cứ mỗi lần cắm hoa vào lọ em lại nhớ đến chị, và em cũng nhớ chị ngay cả những khi chẳng có hoa thược dược, bao giờ em cũng nhớ, Férula ạ, vì sự thực là từ khi chị đi ở xa em, không còn ai yêu mến em được bằng tình yêu của chị.
Sửa soạn xong, cô ngồi nói chuyện và vuốt ve cho người chết một lát lâu, sau đó mới gọi chồng và cha Antonio vào để lo việc chôn cất. Trong một chiếc hộp đựng bánh quy mặn, ba người thấy những chiếc phong bì đựng tiền mà Esteban hàng tháng đã gửi tới cho chị suốt mấy năm đó vẫn còn nguyên chưa bóc. Clara đưa tất cả cho ông cố đạo để dùng làm những việc từ thiện, chắc hẳn đó cũng là ý nghĩ của Férula khi còn sống đối với số tiền đó.
Ông cố đạo ở lại cùng người chết để bọn chuột không được vô lễ xâm phạm. Khi Esteban và Clara đi ra đã vào khoảng quá nửa đêm. Ở ngoài cửa hàng xóm tụ tập rất đông trước tu viện đang bàn tán về việc đó. Hai người phải vất vả mới mở được lối đi ra, gạt sang hai bên những kẻ tò mò và đuổi những con chó hít ngửi. Esteban soải dài bước nắm cánh tay Clara kéo theo sau, không để ý đến cả nước bẩn bắn tung lên chiếc quần tít-suy mầu ghi không chê vào đâu được của hiệu thợ may người Anh. Anh giận điên lên vì ngay cả sau khi đã chết, người chị vẫn làm cho anh cảm thấy mình là tội phạm y như khi anh còn bé. Anh nhớ đến thời thơ ấu, khi chị âm thầm săn sóc như người mẹ, phủ quanh người anh một tấm lưới dầy ân huệ thật lớn lao mà có lẽ tất cả ngày tháng của cuộc đời anh cũng không đủ để trả xong những món nợ đó. Anh lại thấy bốc lên nỗi xấu hổ vẫn luôn luôn dày vò anh mỗi khi đứng trước mặt chị, và lại thấy ghét cay ghét đắng cái đức hi sinh, cái tính nghiêm khắc, cái khuynh hướng nghèo hèn và sự trong sạch không thể nào khuấy động của chị, mà anh vẫn cảm thấy như một lời quở trách cái bản tính ích kỷ, ham nhục dục và khát khao quyền lực của anh. “Ma quỷ bắt chị đi, đồ quỷ!”, anh làu bàu, nhất định không chịu nhận từ đáy lòng rằng vợ anh vẫn chẳng thuộc về anh sau khi anh đã đuổi chị Férula ra khỏi nhà.
– Tại sao bà ấy lại sống như vậy, trong khi bà ấy có thừa tiền? - Esteban thét lên.
– Bởi vì chị ấy thiếu tất cả mọi thứ khác - Clara dịu dàng đáp lại.
Trong những tháng cách xa nhau, Blanca và Pedro García thông tin cho nhau bằng những thông điệp rực lửa mà anh ký tên phụ nữ, còn chị thì thư vừa tới liền dấu biến. Vú Em đã từng tóm được một hai bức thư đó, nhưng Vú không biết đọc, và thật may cho Vú vì nếu như đọc được thì thứ mật mã của hai người cũng không cho phép Vú hiểu được nội dung của nó, cái chuyện mà trái tim Vú không thể nào chịu nổi. Cả mùa rét Blanca đan một chiếc áo khoác bằng len Scottish trong lớp nữ công của trường học, vừa đan vừa nghĩ đến kích thước của người bạn trai. Ban đêm cô ôm chiếc áo len mà ngủ, ngửi hương thơm của chất len và mơ như người con trai ngủ trong giường mình thật. Về phần mình, Pedro García Con để cả mùa đông vào việc sáng tác trên chiếc đàn guitar những bài hát về Blanca và chạm khắc hình ảnh của cô trên tất cả mọi khúc gỗ mà anh có trong tay, không thể nào dứt ra khỏi cái kỷ niệm thần tiên cùng cô gái, cùng những cơn dông tố đã làm sôi sục máu anh, làm mềm nhũn xương anh, làm thay đổi giọng nói của anh, làm cho mặt anh râu ria nẩy nở. Anh hồi hộp vùng vẫy, giữa những đòi hỏi của cơ thể anh giờ đây đã thành một người đàn ông, và cái ngọt ngào của một tình cảm vẫn còn nhuộm mầu sắc những trò chơi ngây thơ vô tội của thời thơ ấu. Cả hai người chờ đợi mùa hè đến, nôn nóng đau khổ, và cuối cùng, khi mùa hè đến và họ lại gặp nhau thì chiếc áo khoác len mà Blanca đan đã không thể lọt đầu Pedro Con, vì mấy tháng đó đã đẩy thời kỳ thơ ấu lại phía sau và anh đã có được khuôn khổ của người con trai lớn, còn những bài hát âu yếm ngọt ngào về hoa và những buổi bình minh mà anh đã sáng tác cho cô bạn gái, bây giờ nghe thật vớ vẩn tức cười, vì giờ đây cô gái đã có tính nết và những đòi hỏi của một người phụ nữ.
Pedro García Con vẫn gầy gò, tóc lởm chởm, đôi mắt buồn buồn, nhưng giọng nói thay đổi của anh có được cái âm sắc khàn trầm, say đắm mà sau này nhờ nó mà anh được nổi danh, khi anh hát ngợi ca cách mạng. Ít nói và vụng về trong đối xử, nhưng hiền dịu và tinh tế, đôi bàn tay có những ngón dài của nghệ sĩ, anh dùng để gọt trạm, để nẩy những lời than khóc trên cây đàn guitar, và vẽ một cách cũng dễ dàng như nắm giây cương một con ngựa, vung một chiếc rìu để chặt củi hoặc đẩy một chiếc cầy. Anh là người duy nhất trong trang viên Ba Cô Maria dám đối mặt với ông chủ. Cha anh, Pedro García, nói với anh hàng nghìn lần rằng đừng có nhìn thẳng vào mắt ông chủ, và không nên đối đáp với ông, không nên dính vào công việc của ông, và vì mong muốn bảo vệ con, viên quản lý đã cho anh những trận đòn roi chí tử để ghìm anh lại. Nhưng người con trai rất quật khởi. Năm lên mười đã có hiểu biết bằng cô giáo trường học tại đồn điền Ba Cô Maria, và năm mười hai tuổi đã nằn nì cho đi học tại trường trung học ở thị xã, và năm giờ sáng ngày nào cũng vậy đã ra khỏi ngôi nhà gạch nhỏ, dù đi ngựa hay cuốc bộ, dù nắng hay mưa. Anh đã đọc đi đọc lại hàng nghìn lần những cuốn sách hoang đường đựng trong những chiếc hòm kỳ thú lạ lùng của ông Marcos, và tiếp tục nuôi dưỡng mình bằng những cuốn sách khác mượn của những công đoàn viên trong Bar và của ông cha đạo José Dulce María, ông cố đạo lại dạy thêm anh cách thức rèn luyện tài năng tự nhiên để làm văn vần và diễn dịch thành lời ca những tư tưởng của mình.
– Con ạ, Nhà Thờ thì ở bên hữu, nhưng Chúa Jesus Christ bao giờ cũng ở bên tả - ông bí hiểm nói với anh, giữa những hớp rượu vang của lễ misa mà ông đem chiêu đãi Pedro García Con trong những lần đến thăm ông.
Một hôm Esteban Trueba, sau khi ăn cơm trưa đang ngồi nghỉ trên sân cảnh, nghe thấy anh hát bài gì đó về mấy mái gà được tổ chức, đoàn kết lại đương đầu với con cáo, và cuối cùng thắng cáo. Esteban liền gọi anh chàng tới.
– Ta muốn nghe mày hát. Hát đi xem nào! - Esteban ra lệnh.
Pedro Con nhấc cây đàn guitar bằng một cử chỉ âu yếm, ngồi thoải mái trên một chiếc ghế, đặt đàn tì trên đôi chân và nẩy giây đàn. Anh nhìn chằm chặp vào ông chủ trong khi giọng hát nhung mượt của anh say sưa bay lên trong không khí mơ màng của giờ ngủ trưa. Esteban không phải ngốc nên biết ngay sự khiêu khích.
– A ha! Giờ đây điều ngớ ngẩn hết sức cũng được người ta nói lên bằng tiếng hát đây - Esteban lầu bầu - Tốt hơn cả là mày hãy học hát những bài tình ca!
– Tôi thích bài đó, thưa ông chủ. Đoàn kết là sức mạnh, đúng như cha José Dulce María đã nói. Nếu như bọn gà mái có thể chống chọi được con cáo, thì đối với người cái đó ra sao?
Nói xong chàng trai cầm cây đàn guitar đi ra, đôi chân kéo lẹ trên mặt sàn, không để cho ông kịp nghĩ ra điều gì để nói, dù cho cơn điên giận đã bốc lên đến miệng, và mạch máu đã bắt đầu căng lên. Từ ngày hôm đó, Esteban Trueba đặt anh con trai của viên quản lý trong tầm theo dõi, quan sát anh, không tin cẩn anh. Esteban định ngăn không cho anh tiếp tục tới trường trung học bằng cách bày ra những công việc của người lớn để bắt anh ta làm, nhưng Pedro Con dậy sớm hơn trước và thức khuya hơn trước để hoàn thành những công việc đó. Chính năm đó, Esteban Trueba đã dùng roi bọc da rắn đánh Pedro Con một trận trước mặt cha anh, vì tội đã mang tới cho bọn tá điền những điều mới lạ mà bọn công đoàn viên ở thị xã đã mang gieo rắc, những ý nghĩ về nghỉ ngày chủ nhật, về lương tối thiểu, về quyền hưu trí, và được y tế chăm nom, về nghỉ phép cho phụ nữ có thai, về bầu cử không bị thúc ép, và điều nghiêm trọng nhất là ý nghĩ về một tổ chức nông dân để có thể chống đối lại các chủ điền.
Mùa hè năm đó, khi Blanca về trang viên Ba Cô Maria để nghỉ hè, cô tưởng như không nhận ra người bạn trai, vì anh cao thêm mười lăm phân, và đã khác hẳn hình ảnh của anh con trai bụng ỏng từng chơi đùa chia xẻ cùng cô trong mọi mùa hè của thời kỳ thơ ấu. Cô xuống xe, vuốt thẳng nếp váy, và lần đầu tiên không chạy đến ôm lấy bạn mà lại cúi đầu chào, nhưng đã nói bằng mắt với anh điều người khác không thể nghe biết mà cô đã viết chẳng thẹn thùng trong bức thư theo mật mã. Vú Em đưa mắt liếc nhìn cảnh đó và mỉm cười trêu cợt. Khi đi ngang qua chỗ Pedro Con, Vú bĩu môi.
– Hãy nhớ tìm bạn trong loại người cùng cảnh với mày chứ đừng dính vào các cô tiểu thư, nghe không hở nhóc - Vú lẩm bẩm.
Bữa tối hôm đó Blanca cùng với cha mẹ ăn món gà hầm mà bao giờ trang viên Ba Cô Maria cũng nấu để thết đãi đón tiếp, và cô cũng chẳng một chút băn khoăn nào vào giờ ăn tráng miệng, trong lúc cha cô vừa uống rượu vang vừa nói chuyện về những nái bò nhập nội và những chuyện ở mỏ vàng. Cô chờ mẹ ra hiệu cho rút lui, bình tĩnh đứng lên, chúc từng người ngon giấc rồi đi về phòng, và lần thứ nhất trong đời, cô khóa trái cửa. Để nguyên quần áo không thay, trong bóng tối lặng lẽ cô ngồi trên giường chờ cho đến khi tiếng ầm ĩ của hai đứa em sinh đôi ở buồng bên cạnh đã im bặt, tiếng đi lại của những người hầu đã hết, tiếng đóng then chốt cửa lạch cạch, rồi cả nhà lặng lẽ yên ngủ. Lúc đó cô mới mở cửa sổ nhẩy ra ngoài, rơi xuống bụi hoa thược dược mà bá Férula đã trồng. Đêm sáng suông, tiếng dế và tiếng ếch nhái râm ran. Cô thở thật sâu và thấy trong không khí cái mùi ngon ngọt của quả bồ đào đang phơi trên sân để dự trữ. Chờ cho mắt quen với bóng đêm cô mới bước đi, nhưng chưa đi được xa thì chợt vang lên tiếng sủa dữ tợn của mấy con chó được thả lỏng ban đêm. Bốn con chó săn suốt ngày bị xích và nhốt mà Blanca chưa bao giờ đến gần nên cô biết chúng chẳng quen cô. Một giây phút kinh hoảng đã khiến cô cuống lên, thiếu chút nữa phải kêu thét, nhưng chợt cô nhớ đến lời ông Pedro García Già có lần nói rằng bọn kẻ trộm thường ở trần để cho chó khỏi cắn. Không chút lưỡng lự cô cởi ngay áo ngoài với cái nhanh nhẹn mà thần kinh cô cho phép, và cầm chiếc áo trong tay, cô bình tĩnh bước đi, miệng lầm rầm cầu nguyện để mấy con vật không đánh hơi thấy mùi sợ hãi của cô. Chúng xô đến sủa vang nhưng cô tiếp tục bước, không để lạc nhịp của bước chân. Mấy con vật sát gần, gầm gừ nghi hoặc, nhưng cô không dừng bước. Một con có vẻ đởm lược hơn cả tiến lại hít hít ngửi. Cô nhận thấy hơi nóng từ miệng nó phả ra ngay ngang lưng, nhưng cô cứ tỉnh khô, ra vẻ không để ý. Mấy con chó tiếp tục gầm gừ và sủa một lát nữa vừa sủa vừa đi theo cô một đoạn rồi sau cùng, chán nản quay trở lại. Blanca thở dài nhẹ nhõm, và nhận thấy người mình đang run bắn và đẫm mồ hôi, phải tựa lưng vào một thân cây đợi đến lúc khỏi cái mệt đã làm cho đầu gối cô như mềm nhũn. Sau đó cô vội vàng mặc áo và rảo bước chạy về hướng bờ sông.
Pedro Con đợi cô vẫn ở chỗ mà hai người đã ở bên nhau mùa hè năm trước, nơi mà rất nhiều năm trước nữa Esteban Trueba đã cướp đi sự trinh bạch tội nghiệp của Pancha García. Blanca đỏ bừng mặt khi trông thấy người bạn trai. Trong những tháng xa nhau, công việc làm ăn để trở thành một người đàn ông đã làm cho da người bạn trai đen sạm, còn cô, trái lại, thu mình giữa bốn bức tường của nhà mình và nhà trường của mấy bà tu sĩ, tránh mọi va chạm của cuộc sống, nuôi dưỡng những mơ mộng lãng mạn cùng đôi que đan và những cuộn len Scottish, nhưng hình ảnh trong mơ của cô về anh chàng không ăn khớp với anh thanh niên cao lớn đang đi lại gần và thầm thì gọi tên cô. Pedro Con đưa tay vuốt cổ cô, bên dái tai. Blanca cảm thấy có cái gì nồng cháy chạy khắp trong xương làm cho đôi chân mềm nhũn, cô nhắm mắt quên mình trong cảm giác đó. Pedro Con nhẹ nhàng kéo cô và ôm gọn trong vòng tay, còn Blanca dìm mặt trong ngực của người đàn ông từ trước chưa hề biết đó, con người thật khác xa với cậu bé gầy gò đã cùng cô vuốt ve nhau cho đến khi kiệt sức mấy tháng trước. Cô hít hít cái mùi mới mẻ của anh, cọ mặt vào lớp da ram ráp của anh, vuốt ve cái cơ thể xương xương và khỏe mạnh đó, với một cảm xúc hoàn toàn yên ấm, khác hẳn với sự hồi hộp đã xâm chiếm trọn vẹn người anh. Họ áp miệng tìm lưỡi nhau như vẫn làm ngày trước nhưng giờ đây lại tựa một sự vuốt ve âu yếm mới được sáng tạo ra, rồi họ ngã lăn xuống hôn nhau đến tuyệt vọng và sau đấy, ôm nhau lăn lộn trên nền đất ẩm mềm. Họ phát hiện thấy nhau lần đầu tiên và chẳng cần phải nói với nhau một lời nào cả. Mặt trăng đã hạ xuống mé chân trời, nhưng hai người chẳng trông thấy nó, vì họ đang bận vào việc thám hiểm đến tận cùng cái thân mật thầm kín nhất của nhau. Người nọ đặt hẳn mình vào bộ da của người kia không chán.
Từ đêm đó trở đi, Blanca và Pedro Con bao giờ cũng hẹn gặp nhau vẫn ở nơi đó và vào giờ đó. Ban ngày Blanca thêu thùa, đọc sách và vẽ những bức tranh thuốc nước nhạt phèo quanh quanh ngôi nhà, trước đôi mắt nhìn sung sướng của Vú Em, bây giờ đã có thể yên tâm khi ngủ. Ngược lại, Clara tiên cảm thấy một điều gì là lạ đang xảy ra, vì nhận thấy có một mầu sắc mới trên thần sắc của con gái, và tưởng chừng đã đoán ra nguyên nhân của nó. Pedro Con thường ngày làm việc trên cánh đồng và không ngừng lên thị xã gặp gỡ bạn bè. Đêm đến anh mệt nhoài như chết, nhưng cái viễn cảnh gặp gỡ Blanca lại cho anh sức khỏe. Mười lăm tuổi của anh không đến nỗi vô tích sự. Hai người cứ như vậy suốt mùa hè, và nhiều năm sau cả hai vẫn nhớ đến những đêm mãnh liệt đó như một thời kỳ tốt đẹp nhất trong cuộc đời của họ.
Trong khi đó, Jaime và Nicolás lợi dụng kỳ nghỉ hè để làm tất cả những điều mà trong trường nội trú người Anh bị cấm: kêu thét đến lạc giọng, đánh nhau bởi bất kỳ duyên cớ nào, để mũi thò lò, quần áo xộc xệch, đầu gối xây sát, đầu tóc đầy chấy, no chán trái cây tươi, ánh nắng và tự do thoải mái. Hai đứa ra khỏi nhà từ sáng sớm và chỉ trở về nhà lúc chạng vạng tối, suốt ngày bận bịu trong những trò ném đá săn thỏ, phi ngựa đến đứt hơi và nhìn trộm phụ nữ sát xà phòng giặt quần áo bên bờ sông.
Cứ như vậy ba năm trôi qua, rồi đến cuộc động đất làm thay đổi tất cả mọi sự vật. Vào cuối kỳ nghỉ hè năm đó, hai anh em sinh đôi cùng Vú Em với những người hầu và một phần lớn hành lý về thủ đô trước mọi người trong gia đình. Jaime và Nicolás về thẳng trường nội trú còn Vú Em và những người hầu thì về ngôi nhà lớn ở góc phố, dọn dẹp sửa soạn đón ông bà chủ.
Blanca ở lại đồn điền cùng cha mẹ một số ngày nữa. Chính trong thời kỳ đó, Clara lại bắt đầu có những cơn ác mộng, lang thang mộng du trên dãy hành lang, và kêu thét lên khi giật mình tỉnh lại. Ban ngày, Clara đi lại một cách ngớ ngẩn, ngắm nghía những dấu hiệu linh giác trong hành vi của những con súc vật: những mái gà không đẻ đều hàng ngày, những nái bò đi đứng vẻ sợ hãi, lũ chó sủa ma, và chuột, nhện, sâu bọ rời hang kín chạy lên mặt đất, chim chóc từng đàn bỏ tổ bay đi xa, để lại lũ chim non kêu chim chíp vì đói trên lùm cây, trong tổ. Clara ngắm nhìn như ma ám cột khói mảnh của ngọn núi lửa, quan sát những thay đổi màu sắc trên nền trời. Blanca sắc những thang thuốc an thần và chuẩn bị nước ấm cho mẹ tắm, còn Esteban lại sử dụng đến chiếc hộp cũ đựng những viên thuốc lấy độc trị độc để vợ uống cho yên tĩnh lại, nhưng những giấc mơ của Clara vẫn tiếp diễn.
– Đất lại sắp có rung chuyển! - vẻ mặt thêm tái và xúc động Clara nói.
– Bao giờ vẫn rung chuyển, Clara, lạy Chúa tôi! - Esteban đáp lại.
– Lần này sẽ khác. Sẽ có tới mười nghìn người chết.
– Làm gì có nhiều người đến thế trên cả cái nước này - Esteban nói trêu.
Cuộc động đất bắt đầu vào lúc bốn giờ sáng. Clara dậy sớm hơn lúc đó một chút, sau cơn ác mộng về ngày tận thế, đầy những con ngựa trương phềnh, những con bò cái trôi lềnh bềnh trên mặt biển, người bẹp dí dưới những tảng đá lớn; hang hốc nứt nẻ xuống tận lòng đất, nhà cửa chìm nghỉm hoàn toàn. Clara thức dậy tái mét vì sợ hãi vội chạy đến phòng ngủ của Blanca. Nhưng Blanca đã khóa trái cửa phòng như mọi đêm khác, và luồn qua cửa sổ đi về phía bờ sông. Những ngày cuối hè, trước khi trở về thành phố, tình yêu say mê của họ đã tới chỗ có những đặc tính bi kịch, vì trước khi rõ ràng sắp phải xa nhau, đôi trẻ tận dụng tất cả những thời gian có thể có để yêu nhau thỏa sức không một chút chi kìm hãm. Họ ở bờ sông hầu như suốt đêm, không biết gì là lạnh giá và mệt nhọc, ôm nhau lăn lộn với cái sức mạnh bồn chồn nôn nóng, và chỉ tới khi những tia sáng đầu ngày lóe lên Blanca mới trở về nhà và leo qua cửa sổ vào buồng, vừa đúng lúc lũ gà lên tiếng gáy. Clara đến cửa phòng con gái, định mở cửa, nhưng cửa khóa trái bên trong. Gõ cửa nhưng không thấy tiếng trả lời. Clara chạy ra ngoài, đi nửa vòng quanh nhà và nhìn thấy cửa sổ phòng con gái mở toang, những cây thược dược mà Férula trồng bị xéo gãy. Trong một giây Clara hiểu ngay nguyên nhân của sự thay mầu trên thần sắc của Blanca, quầng thâm trên mi mắt con gái, sự biếng ăn và lặng lẽ của nó, cơn ngủ gà ngủ gật buổi sáng và những bức vẽ thuốc nước buổi chiều của nó. Vừa đúng lúc đó trận động đất bắt đầu.
Clara cảm thấy mặt đất như lung lay không còn có thể đứng vững được, phải ngã quỳ xuống. Ngói trên mái nhà tung lên rơi như mưa xung quanh, rồi kéo theo một tiếng nổ rức óc. Clara thấy bức tường bằng gỗ sồi vỡ tung như bị một lưỡi rìu chặt thẳng, mặt đất nứt toang hoang y như đã thấy trong cơn ác mộng, rồi một khe nứt khổng lồ hiện ra trước mắt, nứt đến đâu chìm nghỉm đến đấy tất cả mọi thứ, từ chuồng gà, bể nước tắm rửa, đến một phần chuồng ngựa. Cột két nước đổ nghiêng, rồi rơi xuống đất, hắt tung tóe hơn một ngàn lít nước xuống những con gà còn sống sót đang vẫy cánh phành phạch một cách tuyệt vọng. Ở phía xa, miệng núi lửa phun lửa, khói cuồn cuộn như một con rồng trong cơn điên giận. Mấy con chó giật đứt giây xích chạy như điên, bầy ngựa thoát khỏi chỗ thụt, hít hít và sợ hãi hí vang trước khi chạy tóe ra ngoài cánh đồng; hàng cây bạch dương chao đảo lắc lư như những người say rượu, một số cây đổ chốc rễ lên trời đập vỡ nát lũ chim sẻ còn nằm trong tổ. Điều kinh khủng và dữ dội nhất là cái tiếng gầm rú um um từ trong tận lòng quả đất, cái tiếng thở khổng lồ kéo dài khiến cho không khí rung rung khủng khiếp. Clara định bò lê vào trong nhà để gọi Blanca, nhưng tiếng động rung của mặt đất không cho phép. Trước mắt Clara, tá điền kinh hoảng lũ lượt chạy khỏi căn nhà của họ, kêu la rầm trời, người nọ ôm lấy người kia, kéo vội bọn trẻ con, đá tung lũ chó, đẩy những người già, cố sức để cứu chạy chút của cải nghèo nàn của họ trong từng tràng tiếng nổ rền vang, gạch ngói bắn lên tung tóe như từ trong ruột quả đất phọt ra, như một tiếng ầm ầm vô tận của phút tận cùng thế giới.
Ra đến ngưỡng cửa vừa đúng lúc ngôi nhà vỡ tung như vỏ trứng, Esteban Trueba bị lật nhào, chìm trong một làn mây bụi, và vùi dưới một đống gạch ngói vụn khổng lồ. Clara bò toài tới đó réo gọi tên chồng, nhưng không có tiếng trả lời.
Chấn động đầu tiên của cơn động đất đó kéo dài gần một phút và là chấn động dữ dội nhất mà người ta đã ghi lại được từ xưa cho đến lúc đó trên đất nước đầy tai họa này. Nó lật nhào hầu hết tất cả mọi công trình xây dựng, và những gì còn sót lại sau đó cũng tiếp tục đổ hết cùng với một tràng tiếng động ầm ầm rung chuyển cho đến tận sáng. Tại đồn điền Ba Cô Maria người ta chờ mặt trời mọc để đếm xem bao nhiêu người chết, và đào bới những người bị vùi lấp hãy còn sống đang rên rỉ dưới đống vụn đổ nát, trong số đó có Esteban Trueba mà tất cả những người còn lại đều biết rõ hiện nằm ở chỗ nào, nhưng cũng chẳng một ai hi vọng gặp lại ông chủ vẫn còn sống. Bốn người đàn ông lực lưỡng dưới sự chỉ huy của Pedro García phải hoạt động cật lực để di chuyển cái núi bụi và mảnh vỡ của đổ nát, gạch ngói và cây sồi phủ trên. Clara đã mất vẻ lơ đãng thần tiên và cũng lao vào giúp mọi người vất gạch đá khỏe như nam giới.
– Phải lôi mau ông ra! Ông còn sống và nghe thấy tiếng chúng ta đấy - Clara đảm bảo, và lòng tin đó đã khiến mọi người có thêm tinh thần hăng hái tiếp tục việc đào bới.
Blanca và Pedro Con xuất hiện cùng với những tia sáng đầu tiên, cả hai lành lặn không có gì sây sát. Clara xô vào con gái, tát liền cho hai cái tát, nhưng ngay lập tức lại ôm con mà khóc một cách nhẹ mình vì thấy nó lành lặn và ở ngay cạnh mình.
– Cha con ở dưới này đấy - Clara chỉ cho con gái.
Blanca và Pedro Con lao vào làm cùng mọi người, và một tiếng đồng hồ sau khi mặt trời đã xuất hiện trên mảnh đất đau thương này, người ta lôi được ông chủ ra khỏi nấm mồ của ông. Xương ông rập gẫy rất nhiều, không thể đếm xuể, nhưng ông vẫn sống, đôi mắt vẫn mở.
– Cần đưa ngay ông chủ lên thị xã để bác sĩ khám chữa - Pedro García nói.
Mọi người đang bàn xem làm cách nào chở được ông chủ đi mà xương ông không lòi ra khỏi da thịt ông hiện đang như một cái bao rách, thì thấy ông Pedro García Già đi tới, ông lão nhờ đôi mắt mù và tuổi thâm niên đã thoát cuộc động đất không một chút xáo động. Ông lần đến sát bên người bị nạn và hai bàn tay cẩn thận thăm dò nắn bóp khắp người ông chủ, nhìn nhận bằng những ngón tay cũ kỹ nhăn nheo thật tỉ mỉ cho đến khi không còn một chỗ rập gẫy nào mà ông già bỏ sót.
– Nếu mang đi, ông chủ chết mất - ông già có ý kiến.
Esteban Trueba vẫn tỉnh, nghe rõ lời ông và nhớ đến tai họa về kiến năm xưa, nên nghĩ một cách chắc chắn rằng, ông già đúng là niềm hy vọng duy nhất có thể cứu sống mình.
– Để tùy ông già, ông ấy biết cách chữa đấy - Esteban lẩm bẩm.
Pedro García Già gọi đem tới một tấm chăn, đặt ông chủ nằm vào, rồi con trai và cháu trai ông già mỗi người giữ một đầu chăn cẩn thận khiêng đặt vào một cái bàn làm tạm, kê ở chỗ trước kia là sân, nhưng bây giờ chỉ còn là một khoảng trống nho nhỏ giữa đống ngổn ngang mảnh vụn, xác xúc vật và tiếng kêu khóc của trẻ con, tiếng rên rỉ của lũ chó và tiếng cầu nguyện của phụ nữ. Họ tìm thấy còn sót một bình da đầy rượu vang trong đống điêu tàn. Pedro García Già liền xẻ làm ba phần, một phần dùng lau rửa cho người bị thương, một phần cho người bị thương uống, còn một phần ông già dè dặt nhấp nháp trước khi bắt đầu kiên nhẫn và bình tĩnh nắn lại xương cho ông chủ, từng chiếc một, kéo chỗ này, nắn chỗ kia, dồn từng khớp xương vào đúng chỗ của nó, thật chắc chắn, rồi quấn lại để bất động chúng bằng những mảnh vải chăn, vừa làm vừa lẩm bẩm cầu khấn những vị thần chữa bệnh, khấn khứa cầu mong sự may mắn và sự ra ơn đức của Đức Bà Đồng Trinh Maria, chẳng nghe thấy những tiếng kêu thét và những lời rên la chửi bới của Esteban Trueba, cái vẻ thản nhiên sung sướng của khuôn mặt người mù của ông không biểu lộ một mảy may thay đổi. Lần mò như vậy, ông già đã sắp xếp lại cho thật đúng chỗ xương cốt trong thân thể ông chủ, khiến cho sau đó những vị thầy thuốc đến kiểm tra đã không tin rằng ông già lại làm được như vậy.
– Tôi cũng không dám làm như vậy - bác sĩ Cuevas nói khi được biết tin.
Sự tàn phá của trận động đất dìm cả đất nước trong một cơn tang tóc lâu dài. Không chỉ riêng mặt đất bị lay chuyển đến độ tàn phá đổ nhào hết những gì xây trên mặt đất, mà cả nước biển nữa cũng rút ra xa hàng bao nhiêu dặm để xô trở vào bằng một con sóng khổng lồ và độc nhất, hất tung tầu bè lên trên những đỉnh đồi rất xa bờ biển, và kéo đi từng xóm nhà, đường phố, xúc vật và dìm rất nhiều hòn đảo ở miền Nam chìm sâu hơn một mét dưới mực nước. Có những tòa nhà rơi xuống như những con khủng long bị thương, và nhiều dãy nhà khác tan tác như những lâu đài bằng giấy, người chết kể đến hàng nghìn hàng vạn và không còn một gia đình nào không có người phải khóc than. Nước mặn tàn phá mùa màng, lửa cháy thiêu trụi từng vùng với toàn thể thành phố và làng xóm, sau đó phún thạch đỏ rực đổ xuống những xóm làng lân cận của núi lửa như để kết thúc sự trừng phạt. Mọi người không dám ngủ ở trong nhà, lo sợ tai họa có khả năng tái diễn, họ cắm lều trại tạm thời ở những nơi trống trải, ngủ tại quảng trường và trên đường đi. Binh lính phải đảm nhiệm công việc giữ gìn trật tự, và được lệnh bắn không cần thủ tục tất cả những kẻ bị bắt quả tang ăn cắp, vì trong khi những người ngoan đạo đổ vào nhà thờ cầu xin tha tội và cầu Chúa hãy nguôi cơn giận dữ, thì lũ trộm cắp lần mò trên những đống đổ nát thấy chỗ nào thò ra một cái tai có đeo hoa, một ngón tay có đeo nhẫn, chúng liền chặt phăng bằng một nhát dao để lấy cắp luôn, không cần đếm xỉa gì đến kẻ bị nạn đó đã chết hay chỉ bị đống đổ nát đè bị thương chưa ra thoát. Một phong trào trừ diệt những mầm mống gây ra các bệnh dịch được phát động trên khắp nước. Nhiều nước khác trên thế giới đang quá bận vào những trận chiến tranh của họ, hầu như không biết đến những biến động điên loạn của thiên nhiên trên mảnh đất xa xôi của hành tinh này, tuy vậy những chuyến tàu chuyên chở thuốc men, chăn vải, thức ăn và vật liệu xây dựng vẫn tới, và tất cả những thứ hàng đó đều mất hút trong những hang hẻm bí mật của những cơ quan chức trách chính quyền, đến độ nhiều năm sau đó, người ta vẫn còn có thể mua được những hộp thịt kho Bắc Mỹ và sữa bột châu Âu, với cái giá của những món ăn sang trọng khó tìm, trong những cửa hiệu độc quyền.
Esteban Trueba bị băng bó trong bốn tháng liền, nằm cứng trong lớp bột ghép chặt dưới mấy thanh gỗ, mấy cái móc, trong một tình trạng như bị tra tấn vì ngứa ngáy và bất động, và mòn mỏi vì nôn nóng. Tính nết của Esteban trở nên tồi tệ đến nỗi không một ai có thể chịu nổi. Clara ở trang viên để săn sóc chồng, và tới khi giao thông đã trở lại bình thường, liền gửi Blanca vào trường nội trú, vì Clara không thể đảm nhiệm được việc giáo dục cô.
Tại thủ đô, trận động đất nổ ra trong khi Vú Em đang nằm trên giường, và dù rằng ở đây không dữ dội bằng ở miền Nam, nỗi kinh sợ của Vú cũng không thua kém. Ngôi nhà lớn ở góc phố kêu răng rắc như một hạt dẻ vỡ, tường trần nứt rạn và cây đèn giọt lệ bằng pha lê treo trên phòng ăn rơi xuống vỡ tan tành trong tiếng vỡ của hàng nghìn quả chuông một lúc. Ngoài cái đó, sự thiệt hại nghiêm trọng nhất là cái chết của Vú Em. Khi nỗi kinh hoàng do chấn động thứ nhất đã qua, những người hầu không trông thấy người Vú già ấy chạy ra đường phố cùng mọi người. Họ liền vào nhà tìm Vú và thấy Vú nằm trên chiếc giường thô kệch, đôi tròng mắt lồi ra và ít tóc còn sót lại của Vú dựng đứng vì kinh hãi. Trong cơn hỗn loạn của những ngày đó, người ta không thể làm ma cho Vú được xứng đáng như Vú từng mong ước, mà phải chôn cất Vú vội vàng, không diễn từ, không nước mắt. Không một ai trong số những đứa con người mà Vú đã từng nuôi nấng bằng cả tình yêu của mình đến dự đám tang.
Trận động đất đánh dấu một sự thay đổi thật quan trọng trong cuộc sống của họ hàng nhà Trueba, mà sau này những sự kiện xẩy ra ở đây chia ra làm những sự kiện trước và những sự kiện sau ngày tháng đó. Tại đồn điền Ba Cô Maria, Pedro García lại đảm nhiệm chức quản lý, vì ông chủ không thể nào cử động và ra khỏi được giường nằm. Pedro García có nhiệm vụ tổ chức người làm, lập lại yên tĩnh và xây dựng lại cái cơ nghiệp đã biến thành đống đổ nát. Bước đầu họ chôn cất người chết tại nghĩa trang dưới chân núi lửa, vùng đất đã thoát được một cách lạ kỳ dòng sông phún thạch tràn từ trên triền núi ma quái đổ xuống. Những nấm mồ mới hiện lên làm cho khu nghĩa trang nghèo khổ này có được cái vẻ hội hè đông đúc, và người ta trồng thêm những hàng cây bạch dương để chúng đem bóng mát đến cho những người tới thăm người chết. Họ xây dựng lại những căn nhà gạch, từng cái một, đúng hệt như khi trước, rồi đến chuồng ngựa, chuồng bò sữa, kho ngũ cốc, và lại làm đất để chuẩn bị gieo hạt, sung sướng thấy phún thạch và tro, đá đã chảy về phía bên kia núi, khiến cho cả vùng cơ nghiệp bên này được thoát khỏi tai ương. Pedro Con phải từ bỏ những cuộc dạo chơi lên thị xã; vì cha anh cần có sự giúp đỡ của anh bên cạnh. Pedro Con giúp cha một cách khó chịu, và nói cho cha biết họ đã phải làm việc đến sụn lưng để xây dựng lại cơ nghiệp giầu có cho ông chủ, còn họ thì vẫn tiếp tục cuộc đời nghèo khổ như xưa.
– Bao giờ cũng vậy thôi, con ạ. Con không thể thay đổi được luật lệ của Chúa đâu - cha anh đáp lời.
– Có chứ, có thể thay đổi được cha ạ. Đã có những người đang làm việc đó, nhưng ở đây, ngay cả tin tức đó, chúng ta cũng không biết đấy. Trên thế giới nhiều sự việc quan trọng đang diễn ra - Pedro Con lý sự cãi lại, và liền một mạch không một giây để nghỉ, anh tuôn ra cả bài diễn văn học được của nhà giáo cộng sản, hoặc của cha José Dulce María.
Pedro García không trả lời, tiếp tục công việc không chút lưỡng lự. Viên quản lý giả vờ như không trông thấy đứa con trai đang lợi dụng cơn đau bệnh của ông chủ khiến cho sự canh gác của ông lơi lỏng, để phá vỡ hàng rào kiểm soát, tuồn vào trang viên Ba Cô Maria những tập sách bị cấm của những chiến sĩ công đoàn, hoặc báo chí chính trị của ông giáo, và những bài giảng Thánh Kinh lạ lùng của ông cố đạo người Tây Ban Nha.
Theo lệnh của Esteban Trueba, viên quản lý xây dựng lại ngôi nhà chính vẫn trên nền nhà cũ và theo cái kiểu nguyên thủy của nó, không được thay tường vách đất rơm bằng tường gạch hiện đại, hoặc nới rộng thêm những khuôn cửa sổ quá ư nhỏ hẹp. Duy nhất chỉ có một thay đổi tốt hơn là thêm đường ống dẫn nước nóng vào nhà tắm và thay cái bếp cũ đun củi bằng một bếp dầu, sau đấy không một bà bếp nào làm quen được với nó, cuối cùng nó bị kết liễu cuộc đời nằm lăn lóc trong sân để cho các chị gà tùy tiện dùng vào mọi việc. Trong khi xây dựng lại, họ làm tạm một nơi trú ngụ bằng ván gỗ, lợp tôn, tại đó họ đặt Esteban Trueba nằm trên giường bệnh và qua một khuôn cửa sổ, từ chỗ đó ông chủ có thể quan sát được tiến độ của công trình, và thét lên những mệnh lệnh cáu bẳn vì bị buộc nằm im bất động.
Clara thay đổi rất nhiều trong những tháng đó. Phải góp sức cùng Pedro García làm nhiệm vụ cứu chữa những gì có thể sửa sang cứu chữa, lần đầu tiên trong đời Clara phải đảm nhiệm những công việc vật chất mà không có ai giúp đỡ, vì chẳng còn trông cậy được vào Esteban, cũng như vào Férula hoặc Vú Em nữa. Clara tỉnh khỏi một thời kỳ ấu trĩ kéo dài, trong đó bao giờ cũng được săn sóc, bao bọc bởi những tiện ghi đầy đủ và tình âu yếm mà không phải nhận một bổn phận nào. Esteban đã tìm được cái mẹo láu lỉnh nói các món ăn trong nhà, trừ những món do Clara nấu nướng, thẩy đều rất tồi, khiến cho bà vợ phải lao vào trong bếp phần lớn giờ giấc trong ngày, để vặt lông gà nấu súp cho người ốm, và nhồi bột bánh. Clara phải làm nhiệm vụ nữ y tá, lau rửa cho chồng bằng miếng bọt bể, thay bông băng, bưng bô và đổ bỏ. Esteban càng ngày càng trở nên cáu bẳn và độc đoán, đòi hỏi vợ đặt cho cái gối ở đây, không, ở trên nữa kia, đòi mang rượu vang lại đây, không tôi đã nói với mình tôi thích vang trắng, hãy mở cửa sổ ra, đóng cửa sổ lại, tôi đau ở đây, tôi đói, thấy nóng, gãi lưng cho tôi, mé dưới nữa kia. Clara đi đến chỗ sợ chồng hơn khi chồng lành mạnh, khi chồng thâm nhập vào cuộc sống yên tĩnh của mình bằng cái mùi đàn ông đang bứt rứt, bằng cái giọng nói oang oang như dông bão, bằng trận chiến đấu đến chết mất, bằng cái hợm hĩnh của lãnh chúa áp đặt ý muốn và tính thích thú bất thường chống lại sự thăng bằng tế nhị mà Clara vẫn giữ trong việc đối xử với những hồn ma ở nơi Quá Xa Kia và những con người túng thiếu tại nơi Quá Gần Này. Tiến tới chỗ Clara thấy khinh ghét chồng. Hầu như chưa lành hẳn những khớp xương, mới chỉ cử động được đôi chút Esteban đã thấy thèm muốn bão táp được ôm ấp vợ và cứ mỗi lần Clara đi ngang bên cạnh, Esteban lại đưa tay ra nắm, trong cơn tâm loạn của người bệnh lầm lẫn vợ với những cô nông dân khỏe mạnh trong những năm còn trẻ thường hầu hạ trông coi việc bếp núc và dọn giường. Thiên tai đã tinh thần hóa Clara, tuổi tác và sự thiếu tình yêu đối với chồng đã dẫn Clara tới chỗ cho rằng quan hệ nam nữ chỉ là một thứ tiêu khiển hơi tàn nhẫn, làm cho mình đau dừ những khớp xương và bộn bề giường ghế. Chỉ sau một số ít giờ, trận động đất đã lôi Clara xuống mặt đất của bạo lực, chết chóc và thông tục, và đẩy Clara tới chỗ tiếp xúc với những yêu cầu cần thiết cơ bản mà trước kia không hề biết. Chiếc bàn gọi hồn, hoặc khả năng đoán trước tương lai qua những lá trà chẳng dùng được việc gì trước yêu cầu cấp thiết phải giữ cho tá điền khỏi bệnh sốt đỏ mắt, mái gà khỏi bệnh ỉa cứt đỏ, giữ cho quần áo khỏi bị nhậy, cho các con mình khỏi bị bỏ rơi, cho chồng khỏi chết và khỏi được căn bệnh hay điên giận không thể nào kìm được. Clara rất mỏi mệt, và cảm thấy cô đơn và lầm lẫn trong những khi phải quyết định công việc, và người duy nhất có thể tìm đến để giúp đỡ là Pedro García. Người đàn ông trung thực và lặng lẽ đó bao giờ cũng sẵn sàng có mặt trong tầm nhờ cậy, tạo cho cái chòng chành dông bão đã đột nhập vào cuộc đời Clara một chút gì yên ổn. Vào cuối giờ làm việc trong ngày Clara thường tìm người quản lý để mời một tách trà. Hai người ngồi trên hai chiếc ghế mây, dưới hàng hiên, chờ bóng đêm đổ xuống cho nhẹ bớt nỗi căng thẳng lúc ban ngày. Họ nhìn bóng tối trùm xuống nhẹ nhàng và những ngôi sao nhiều hôm bắt đầu sáng lóng lánh trên trời, lắng nghe tiếng ồm ộp của ếch nhái và cả hai đều yên lặng. Họ có nhiều điều để nói với nhau, nhiều vấn đề phải giải quyết, nhiều điều bàn luận còn treo lơ lửng chưa xong, nhưng cả hai đều biết rằng nửa tiếng đồng hồ im lặng ấy là một phần thưởng xứng đáng để nhấp nháp từng ngụm trà nhỏ chẳng chút vội vàng, cho thời gian đó kéo dài, trong khi người nọ nghĩ về cuộc đời của người kia. Họ quen biết nhau đã hơn mười lăm năm nay, được gần nhau hầu tất cả mọi mùa hè, nhưng tổng cộng lại họ trao đổi với nhau chưa được mấy câu. Pedro García nhìn bà chủ như một cô tiên mùa hè rực, xa lạ với những ước vọng tàn nhẫn của cuộc đời, một loại người phụ nữ khác hẳn với những người anh ta đã biết. Ngay cả trong khi đôi bàn tay lem luốc ngập trong khay bột để nhồi bánh, hoặc trên chiếc tạp dề vấy máu mái gà thịt làm bữa cơm trưa bà chủ vẫn giống như một ảo ảnh của ánh phản xạ ban ngày. Chỉ có vào buổi chiều tối, trong sự yên tĩnh của những giây phút mà hai người cùng nhau uống tách trà, viên quản lý mới có thể nhìn thấy bà trong khuôn khổ con người. Anh ta bí mật tự thề sẽ trung thành với bà chủ, và chẳng khác một thanh niên trai trẻ, đôi lần đã có cái ý nghĩ ngông cuồng hi sinh tất cả cho bà chủ. Và anh ta coi trọng bà chủ bao nhiêu thì đối với ông chủ lại thù ghét bấy nhiêu.
Ngôi nhà còn thiếu nhiều thứ phải xây dựng nữa mới có thể ở được thì người ta đến đặt máy điện thoại. Từ bốn năm nay Esteban Trueba cố gắng xoay sở để có thể đặt được máy điện thoại, bây giờ người ta đem máy đến đặt thì lại chẳng có lấy một chiếc mái để che chở cho khỏi nắng mưa. Chiếc máy chẳng thọ được bao lâu, nhưng cũng giúp ích tốt để nói chuyện với hai anh em sinh đôi, để được nghe giọng nói của chúng như từ giải Ngân hà kia vọng đến; giữa một tiếng rè rè inh tai và những quãng cắt ngang của cô điện thoại viên ngoài thị xã cũng tham gia vào trong câu chuyện. Qua điện thoại họ được biết Blanca bị ốm và các bà tu sĩ không muốn đảm nhiệm trông nom cho cô. Cô gái bị một bệnh ho dai dẳng và thường lên cơn sốt. Mối lo về bệnh lao phổi hầu hết có ở mọi gia đình, vì không có gia đình nào không phải ta thán vì có người bị lao phổi, cho nên Clara quyết định về tìm con gái. Chính trong ngày mà Clara lên đường đi, Esteban đập vỡ chiếc máy điện thoại, vì nó réo chuông rồi kêu lên với người nghe rằng Clara đã đi, hãy im đi, nhưng cái máy quái ác cứ tiếp tục réo chuông và Esteban trong cơn thịnh nộ, xô vào hất nhào chiếc máy, nhưng đồng thời bị chẹo xương quai xanh, khiến cho ông Pedro García Già lại phải tốn bao công sức mới nắn bó lành lại.
Đó là lần đầu tiên Clara một mình làm cuộc hành trình. Những năm trước biết bao lần Clara đã đi trên đoạn đường ấy, nhưng lần nào cũng lơ đãng, vì đều được một người nào đó trông nom cho về những việc vặt vãnh thông thường, còn mình thả sức mơ màng ngắm nhìn phong cảnh qua khung cửa sổ, Pedro García đưa Clara ra tận ga và dẫn lên ngồi yên vị trên toa tầu. Khi từ biệt Clara cúi xuống, nhẹ nhàng hôn vào một bên má người quản lý và mỉm cười. Pedro García đưa bàn tay che mặt như muốn giữ gìn chiếc hôn chớp nhoáng khỏi bị làn gió cuốn đi, và không cười, vì thấy một nỗi buồn xâm chiếm.
Được linh cảm dẫn đường hơn là do hiểu biết mọi sự vật và những điều logic, Clara đến được trường trung học nội trú của con gái, không chút trở ngại khó khăn. Bà Tu Nhất tiếp Clara trong văn phòng, gian phòng ngăn nắp, trên tường có treo một bức ảnh chúa Jesus thật lớn, toàn thân đẫm máu, và một cành hoa hồng trái mùa trên mặt bàn.
Bà Tu Nhất rung một chiếc chuông nhỏ và Blanca bước vào. Cô gái trông gầy hơn, xanh hơn, và những quầng tím tím ở dưới con mắt có thể làm cho bà mẹ nào cũng phải thương cảm khi trông thấy, nhưng Clara hiểu ngay lập tức căn bệnh của con gái không phải bệnh của cơ thể mà nó thuộc về tâm bệnh. Bộ đồng phục mầu ghi xám ngoét làm cho cô gái nhỏ hơn nhiều so với cỡ người cô lúc đó, với cái dáng vẻ phụ nữ đã làm căng nứt mọi đường khâu. Blanca ngạc nhiên khi nhìn thấy mẹ, người mà cô vẫn nhớ tới hình ảnh như là một bà tiên áo trắng, vui vẻ lơ đãng, chỉ sau một số tháng hiện đã biến thành một người phụ nữ thực tế, với đôi bàn tay chai sạn và hai vết nhăn thật sâu viền hai bên mép.
Hai mẹ con dẫn nhau đến thăm hai anh em sinh đôi tại trường trung học Anh. Đó là lần đầu tiên mấy mẹ con gặp nhau sau trận động đất, và đều ngạc nhiên nhận thấy ngôi trường trung học cũ này là nơi duy nhất trong toàn bộ lãnh thổ quốc gia không bị tai họa động tới, nơi mà trước kia họ không hề biết đến. Ở miền Nam mười nghìn người chết không kèn không trống, trong khi ở đây bọn học sinh vẫn bình tĩnh hát bằng tiếng Anh và chơi quần vợt cricket, và chỉ xúc động trước những tin tức của nước Anh gửi sang tới nơi sau ba tuần chậm. Hai người phụ nữ lạ lùng nhìn hai đứa con và em mang trong người dòng máu Ả Rập và Tây Ban Nha, sinh đẻ tại một miền tận cùng của châu Mỹ, lại nói tiếng Tây Ban Nha bằng giọng của Oxford và biểu lộ cái tình cảm duy nhất của chúng khi trông thấy mẹ và chị là tỏ vẻ ngạc nhiên bằng cách nheo hàng mi trái lên một chút. Chúng không còn chút gì bóng dáng của hai thằng bé con cởi mở, đầu tóc đầy chấy trong những tháng hè sống ở nông thôn. “Mong rằng cái lối phớt tỉnh Ănglê này không làm cho con tôi thành những tên ngu ngốc”, Clara lẩm bẩm khi từ biệt hai đứa con trai.
Cái chết của Vú Em; người tuy có tuổi nhưng chịu trách nhiệm cai quản ngôi nhà lớn ở góc phố khi ông bà chủ vắng nhà, đã tạo nên sự thất tán của những người hầu. Không có ai trông coi, họ bỏ bê công việc, say sưa suốt ngày việc ngủ trưa và chuyện trò nhảm nhí, trong khi cây hoa khô héo vì không được tưới nước, và nhện giăng tơ lưới khắp mọi góc nhà. Sự phá hoại đó thật rõ ràng khiến Clara quyết định đuổi tất cả bọn họ rồi đóng cửa ngôi nhà. Sau đó cùng Blanca lấy vải trải giường phủ lên mọi thứ đồ đạc, rắc băng phiến vào khắp các ngóc ngách. Rồi hai mẹ con mở cửa từng chuồng chim một, thả những con chim anh võ, họa mi, kim oanh, hoàng thanh tước, tất cả theo nhau vụt bay lượn lờ quanh khu nhà rồi cất cánh bay lên cao đi theo khắp mọi hướng. Trong khi làm những công việc đó, Blanca nhận thấy chẳng có một hồn ma nào xuất hiện sau tấm rèm che cửa, không thấy một hội viên Tam điểm tìm đến nhờ giác quan thứ sáu, cũng chẳng thấy có nhà thơ kiết xác nào được cái đói gọi về. Mẹ cô hình như đã trở thành một vị phu nhân bình thường, dân dã.
– Mẹ đã thay đổi rất nhiều, mẹ ạ - Blanca nhận xét.
– Không phải mẹ đâu con ạ. Đó là thế giới đã thay đổi - Clara trả lời.
Trước khi ra đi, hai mẹ con tới buồng của Vú Em, nằm ở mảnh sân sau, nơi ở của những người hầu hạ. Mở những hộp giấy của Vú, Clara lôi ra chiếc cặp bằng các-tông mà người đàn bà tốt bụng này đã dùng suốt nửa thế kỷ, và xem lại tủ áo của Vú. Chỉ có một vài bộ quần áo, một vài thứ đồ trang sức và mấy cái hộp cũ kỹ, đủ các cỡ to nhỏ khác nhau, tất cả buộc chặt bằng sợi hoặc giây cao su, trong đó Vú đựng những huy hiệu của Lễ ban thánh thể và Lễ rửa tội, những búp tóc, vụn móng tay móng chân, ảnh chân dung đã phai lạt và một vài đôi giầy trẻ sơ sinh đã mòn hỏng. Đó là những kỷ vật của tất cả những đứa con của gia đình del Valle, và sau này của gia đình Trueba, đã từng qua tay bế ẵm và nuôi dưỡng trong lòng Vú. Dưới gầm giường Clara thấy một gói buộc những vật dụng hóa trang mà Vú Em xưa kia đã dùng để dọa đuổi sự câm lặng của mình khi còn bé. Ngồi trên chiếc giường nghèo khổ với những của báu đó trong lòng. Clara khóc một hồi lâu cho người phụ nữ đã để cả cuộc đời vào việc làm cho cuộc đời của những người khác được dễ chịu sung sướng hơn và đến khi chết lại cô đơn.
– Sau bao nhiêu năm Vú dọa cho mình sợ, cuối cùng chính Vú lại chết vì sợ hãi - Clara nghĩ.
Clara cho chuyển thi hài Vú đến sinh phần của những người trong gia đình del Valle, tại nghĩa trang Thiên chúa giáo, vì có lẽ Vú không thích bị chôn chung cạnh những người theo Thanh giáo và Do Thái giáo, và muốn tiếp tục được ở gần cạnh những người mà Vú đã hầu hạ khi còn sống. Clara đặt một vòng hoa bên cạnh tấm bia mộ rồi cùng Blanca đi ra ga, trở về đồn điền Ba Cô Maria.
Trong cuộc hành trình, trên con tầu Clara kể cho con gái biết những thay đổi mới đây trong gia đình và sức khỏe của cha cô, chờ đợi con gái hỏi mình một câu để có thể biết được con gái muốn cái gì khi đưa ra câu hỏi ấy, nhưng Blanca không hề nhắc đến Pedro García Con, và Clara cũng không dám nhắc đến tên người thanh niên đó. Clara nghĩ một khi đã đặt tên cho một vấn đề, tức thì cái đó sẽ cụ thể hóa và thế là sẽ không thể nào không biết đến nó; ngược lại nếu cứ giữ nó trong khoảng giữa những lời chẳng nói ra, vấn đề đó có thể tự mất đi cùng với thời gian trôi qua. Pedro García chờ hai mẹ con bà chủ tại nhà ga, và Blanca ngạc nhiên bắt gặp viên quản lý vẫn nổi tiếng là lầm lì ấy huýt sáo vang suốt cuộc hành trình từ ga về đến đồn điền Ba Cô Maria.
Mẹ con Clara gặp Esteban Trueba ngồi trên một chiếc ghế bọc da mầu xanh da trời, có gắn hai cái bánh xe đạp, trong lúc chờ chiếc ghế có bánh xe lăn đã dặn Clara mua mang về. Ông chủ đang dùng những cú ba-toong nghiêm khắc và những câu chửi tục tĩu để chỉ huy việc xây dựng lại ngôi nhà, mê mải đến độ chỉ đón hai mẹ con bằng một cái hôn phớt qua và quên cả hỏi han về sức khỏe của con gái. Tối hôm đó họ ăn cơm bên một chiếc bàn thô làm bằng mấy mảnh ván, dưới ánh sáng của một ngọn đèn dầu. Blanca thấy mẹ múc thức ăn vào những đĩa đất sét nung thủ công, như thể nung gạch, vì trong trận động đất vừa qua tất cả bát đĩa sứ đều vỡ nát hư hỏng hết. Không còn Vú Em để trông nom việc bếp nước, mọi người trong gia đình đã đơn giản hóa bữa ăn đến chỗ rất thanh đạm, mấy người chỉ có một soong súp biền đậu, bánh mỳ, phó mát và mứt phật thủ, nghèo nàn hơn là bữa ăn trong trường nội trú của Blanca, những ngày thứ sáu phải ăn chay. Esteban nói chỉ cần đứng được thôi, lập tức sẽ đích thân về thủ đô mua mọi thứ đồ đạc thật tinh sảo và đắt tiền nhất để trang hoàng cho ngôi nhà của mình, vì đã chán ngấy cái cách sinh sống như thể một nông phu chỉ vì cái tật điên rồ tồi tệ của đất nước cứt đái này. Điều duy nhất mà Blanca nhớ được trong những câu chuyện Esteban nói trong bữa cơm là việc cha cô đã đuổi Pedro García Con ra khỏi đồn điền, cấm không cho đặt chân đến trang viên này nữa, vì đã bị ông bắt gặp đang truyền bá những tư tưởng cộng sản cho bọn tá điền. Cô gái tái mặt khi nghe thấy thế và đánh đổ thìa súp trên khăn bàn. Chỉ có Clara nhận thấy sự hốt hoảng đó của con gái, vì Esteban đang mải mê trong cuộc độc thoại muôn thuở về những kẻ mất dạy đã cắn cả bàn tay đã từng cho chúng cơm ăn, và tất cả đều do tội của những tên ma quỉ chính trị tồi tệ! Như kiểu cái tên ứng cử viên thuộc Đảng Xã Hội, một tên bù nhìn dám đi xuyên từ Nam lên Bắc trên con tàu hàng hóa của nó để ủng hộ, hậu thuẫn cho bọn hòa bình bằng những lời huênh hoang Bolshevik của nó; nhưng tốt hơn hết cho nó là đừng có lảng vảng đến vùng này, vì nó mà xuống tàu, chúng ta sẽ nghiền cho nó thành tương, chúng ta đã chuẩn bị, không có một chủ điền nào trong khắp vùng này lại chẳng đồng ý làm như vậy; chúng ta không cho phép chúng đến để truyền bá tư tưởng chống lại việc làm chân chính, phần thưởng chính đáng cho những người cố gắng, phần thưởng cho những người tiên tiến trong cuộc đời, nhất định không để cho những kẻ hèn kém, lười nhác có được mọi thứ bằng chúng ta, những người làm việc cật lực ngày đêm, và biết cách đầu tư vốn liếng, bất chấp nguy hiểm, có tinh thần trách nhiệm, vì nói thẳng ra, chuyện ruộng đất thuộc về người cầy lại quay ngược trở lại, vì ở đây, người duy nhất biết cách làm ăn là ta, nếu không có ta trang viên này đã chẳng là một đống đổ nát điêu tàn đó sao, và cứ tiếp tục như thế mãi; cả đến Chúa Jesus cũng không hề nói đến việc phải chia thành quả của những nỗ lực của chúng ta cho những tên lười nhác hèn yếu, và cái tên nhóc con còn thò lò mũi kia, cái thằng cứt đái Pedro García Con, lại dám nói như vậy tại đồn điền của ta; ta chưa cho nó một viên đạn vào đầu vì rất yêu quý cha nó, và một phần nào ta đã chịu ơn ông nội nó cứu sống; nhưng ta đã báo trước cho nó biết, nếu còn trông thấy nó luẩn quẩn ở vùng này, ta sẽ bắn cho nó nát nhừ.
Clara không tham gia vào chuyện, vì còn bận bầy ra và dọn đi những đĩa thức ăn trên bàn ăn, và để ý theo dõi con gái bằng đuôi con mắt; nhưng khi bưng liễn súp còn một chút biền đậu sót lại, đã nghe thấy những lời lải nhải cuối cùng của chồng.
– Mình không thể cấm thế giới thay đổi được đâu, Esteban. Nếu không phải Pedro García Con, thì người khác sẽ đem tư tưởng mới đến đồn điền Ba Cô Maria - Clara nói.
Esteban đập một cú ba-toong vào liễn súp mà vợ đang bưng trên tay làm nó văng ra xa, súp còn lại đổ lênh láng trên nền sàn. Blanca kinh hãi đứng dậy. Đó là lần đầu tiên cô thấy cha cô nổi cáu với Clara, và cô nghĩ có lẽ mẹ sẽ lại bước vào thời kỳ lơ đãng và sẽ bay qua cửa sổ ra đi, nhưng điều đó không hề xảy ra. Clara vẻ bình tĩnh như thường, nhặt những mảnh vỡ của liễn súp, không có một chút dấu hiệu tỏ ra nghe thấy những lời tục tĩu mà Esteban phun ra. Chờ cho chồng kết thúc những tiếng càu nhàu, Clara chúc ngủ ngon bằng một cái hôn ấm áp trên bên má, rồi nắm tay Blanca cùng bước đi ra.
Blanca không mất bình tĩnh vì sự vắng mặt của Pedro García Con. Ngày nào cô cũng ra bờ sông chờ đợi. Cô biết cái tin cô trở về đồn điền sớm muộn rồi sẽ đến tai người bạn trai, và tiếng gọi của tình yêu sẽ đến với anh tại bất cứ nơi nào anh đang ở. Đúng như vậy. Đến ngày thứ năm Blanca trông thấy một người rách rưới, khoác một tấm chăn, đội một chiếc mũ rộng vành, kéo theo một con lừa trên lưng thồ đầy dụng cụ nhà bếp, nồi nhôm, ấm đồng, soong to bằng sắt tráng men, cùi dìa to bé đủ mọi cỡ, với một hồi tiếng mõ rao hàng gõ vào một ống sắt tây vang lên từ năm phút trước khi đi tới. Blanca không nhận ra người đó. Như thể một ông già khốn khổ, một trong số những người đi bán hàng rong từ nhà này sang nhà khác, từ làng nọ sang làng kia, tới khi người đó dừng lại trước mặt cô, bỏ chiếc mũ ra, tức thì cô gái trông thấy ngay đôi mắt đẹp đẽ sáng lóng lánh giữa mái tóc và bộ râu lởm chởm. Con lừa đứng gặm cỏ với đôi thồ đầy soong, nồi lạch cạch, trong lúc Blanca và Pedro García Con thỏa thuê làm dịu cơn đói khát đã tích tụ trong biết bao tháng trời lặng im, xa cách, họ ôm nhau lăn lộn trên sỏi đá và mấy bụi cây, rên rỉ như thể hai kẻ tuyệt vọng. Sau đó họ ôm nhau nằm giữa đám lau sậy ven bờ sông. Trong tiếng um um của những cánh chuồn chuồn và tiếng ồm ộp của loài ếch nhái, cô gái kể cho bạn nghe chuyện cô đã lót vỏ chuối và giấy thấm vào trong giầy để khiến cho mình lên cơn sốt, đã nuốt phấn giã thành bột cho đến khi trở thành ho thật sự, cốt cho các bà tu sĩ tin rằng sự biếng ăn và xanh tái của cô là những triệu chứng chắc chắn của bệnh ho lao.
– Mình muốn được ở gần anh! - Vừa hôn vào cổ anh cô vừa nói.
Pedro García Con nói với cô về những gì đã xảy ra trên thế giới và trong nước, về cuộc chiến tranh nơi xa xôi đã làm cho nửa phần nhân loại chìm trong sự xâu xé ruột gan của những tràng đạn liên thanh, về một cơn hấp hối trong những trại tập trung, một cơn hoảng loạn những người quả phụ và trẻ mồ côi; anh nói với cô về những người lao động tại châu Âu và Bắc Mỹ, mà quyền lợi của họ được tôn trọng, vì bao nhiêu chiến sĩ công đoàn và xã hội hy sinh từ bao nhiêu năm trước đã tạo nên những luật lệ công bằng và cộng hòa hơn, như thể Chúa đã phán, tại đó những kẻ cai trị không dám ăn cắp sữa bột gửi tới ủng hộ những người bị nạn.
– Bao giờ nông dân cũng là những người hiểu biết sau cùng, và chẳng hiểu những gì đã xảy ra ở những nơi khác. Ở đây mọi người căm ghét cha em. Nhưng họ lại rất sợ ông cho nên họ không dám tổ chức nhau để chống lại. Em hiểu chứ, Blanca?.
Cô gái hiểu, nhưng trong lúc này, điều duy nhất được cô chú ý đến là được thở hít cái mùi hạt tươi của anh, gặm nhấm đôi cánh tay anh, dìm ngón tay vào bộ râu rậm rạp để vuốt ve, và nghe những tiếng rên âu yếm của anh. Cô cũng thấy lo sợ cho anh, vì cô biết không riêng chỉ cha cô mới nổ viên đạn đã hứa vào đầu anh, mà bất cứ một điền chủ nào trong vùng này cũng sẵn sàng làm như vậy. Blanca nhắc anh chuyện của người lãnh đạo xã hội, mấy năm trước đây đã đạp xe đi suốt vùng này, đưa sách báo, truyền đơn vào các đồn điền, tổ chức tá điền, cho đến lúc bị anh em nhà Sánchez bắt giữ, dùng gậy đánh đến chết rồi treo xác ông lên một cột giây thép tại ngã tư để mọi người đều trông thấy. Xác ông bị treo lủng lẳng tại đó cho tới khi có hai viên cảnh sát đi ngựa tới hạ xuống. Để lấp liếm câu chuyện nhà chức trách đổ lỗi cho những người India cư trú trong địa phận đất đai dành cho bộ lạc họ là thủ phạm, chẳng kể gì đến chuyện ai cũng thừa biết những người India này đến giết một con gà họ còn không muốn huống chi giết một con người. Nhưng hai anh em nhà Sánchez lại đào xác người đã được chôn lên trưng bầy một lần nữa, và việc làm này thì thật quá đáng không thể gán cho người India là thủ phạm nữa. Nhưng ngay đến lúc đó, công lý cũng không hề dính đến, và cái chết của người chiến sĩ xã hội nhanh chóng bị quên đi.
– Chúng có thể giết anh đấy - Blanca ôm anh khẩn khoản khuyên.
– Anh sẽ giữ gìn cẩn thận - Pedro García Con nói cho cô gái yên lòng. - Anh không ở đâu lâu em ạ. Và vì vậy anh không thể ngày nào cũng gặp em được. Cứ chờ anh tại nơi này. Anh sẽ tới khi nào có thể.
– Em yêu anh - cô gái sụt sùi nói.
– Anh cũng vậy.
Họ lại yêu nhau với cái say sưa không bao giờ thỏa mãn thuộc lứa tuổi của họ, trong khi con lừa vẫn tiếp tục gặm cỏ.
Blanca đã bịa ra đủ mọi thứ bệnh để khỏi phải trở về trường trung học, làm ra bệnh nôn mửa bằng uống nước chấm nóng, tạo ra bệnh ỉa chảy bằng ăn mận xanh, làm cho người mệt mỏi bằng thít chặt lưng bằng giây thắng đai ngựa, đến chỗ cô nổi tiếng là một người kém sức khỏe đúng như ý muốn. Blanca bắt chước thật đúng mọi triệu chứng của những căn bệnh thật khác nhau và đã có thể đánh lừa được cả một hội đồng thầy thuốc, rồi đến chính bản thân cô cũng đi tới chỗ tin rằng mình quá ốm yếu. Sáng nào cũng vậy, khi thức giấc cô cũng làm một cuộc kiểm tra thầm về mọi bộ phận của cơ thể mình, xem có chỗ nào thấy đau và nổi lên một căn bệnh mới nào để mà than van. Cô biết tận dụng bất cứ hoàn cảnh nào để cảm thấy mình ốm bệnh, từ một sự thay đổi thời tiết đến một loạt phấn hoa, và biến một chút khó chịu thoáng qua thành cả một cơn bệnh hấp hối sắp chết. Clara chủ trương con người muốn cho có sức khỏe thì phải có đôi bàn tay bận bịu trong công việc, cho nên để chặn đứng những triệu chứng bệnh tật của con gái, liền giao cho con một số việc làm. Blanca phải dậy sớm, tắm nước lạnh như thể mọi người, rồi dồn tất cả thì giờ vào công việc: việc dạy học ở trường, việc khâu máy tại xưởng may và mọi việc của trạm y tế, từ việc dán cao hút mủ, đến khâu những vết thương bằng kim chỉ thợ may, mặc kệ thói choáng váng của cô khi trông thấy máu, hoặc cái ghê sợ lạnh người khi phải lau rửa những bãi nôn mửa của người bệnh. Ông Pedro García Già lúc đó đã gần chín mươi tuổi, hầu như kéo lê đôi chân không mang nổi bộ xương khô, thống nhất ý kiến với Clara, cho rằng đôi bàn tay sinh ra để sử dụng, vì vậy, một hôm Blanca vừa đi vừa than van bị đau đầu kinh khủng, ông già liền gọi cô lại gần, và chẳng mào đầu rào đón quanh co, ông đặt luôn trước váy cô một hòn đất sét lớn. Ông để suốt cả buổi chiều hôm đó dạy cho cô gái cách nặn đất sét làm ra những lọ, bình và nồi niêu nấu bếp, làm cho cô gái không còn nhớ đến cơn đau đầu nữa. Ông già đâu có biết rằng ông đã dạy cho Blanca biết cái nghề mà sau này sẽ là nghề duy nhất để kiếm sống trong cuộc đời và niềm an ủi trong những giờ buồn đau nhất của cô. Ông già dạy cô đạp cho bàn xoay chạy, trong khi hai tay uốn nắn tảng đất sét mềm để làm ra những hũ, lọ, chum vại. Nhưng Blanca rất nhanh chóng thấy rằng làm những dụng cụ thực dụng đó rất chán, cô thích sáng tạo ra những con vật và hình người hơn. Và cô đã dành hết thời gian của mình để tạo ra cả một thế giới những đồ chơi nhỏ xíu.
– Những của này chẳng dùng được việc gì cả! - Esteban Trueba nói khi trông thấy tác phẩm của con gái.
– Chúng mình hãy tìm cách dùng được việc cho con - Clara đề nghị.
Thế là nẩy ra ý nghĩ sản xuất những con giống cho ngày lễ Nôen. Blanca bắt đầu sản xuất những bức tượng nho nhỏ cho những người nghèo trong ngày lễ Chúa, không chỉ riêng tượng những ông vua huyền diệu và những vị truyền giáo mà cả tượng của đám người dân bình thường, đông đảo, gồm tất cả mọi tầng lớp, đủ mọi con xúc vật nữa, từ lạc đà, ngựa vằn châu Phi, kỳ đà châu Mỹ, đến hổ châu Á, chẳng chú ý chút nào đến những loài xúc vật riêng biệt của vùng quê Bethlehem. Sau đó Blanca sản xuất thêm tượng những con vật do cô sáng tạo ra, những con vật nửa mình voi, nửa mình cá sấu, mà không biết rằng mình đang sáng tạo bằng đất nung tất cả những con vật mà xưa kia bà Rosa mà cô không rõ mặt, đã làm bằng chỉ thêu trên tấm khăn giải bàn khổng lồ; trong lúc đó Clara ngẫm nghĩ lý giải về những tính điên loạn trong gia đình luôn tái diễn, cho rằng có thể có một thứ hồi ức di truyền đã không cho phép những thói điên đó được mất trong quên lãng. Vô vàn những con giống cho ngày lễ Nôen của Blanca sản xuất ra đã trở nên đồ vật lạ kỳ. Cô phải huấn luyện cho hai cô gái nữa để giúp cô, bởi cô không làm đủ cho những đơn đặt hàng, năm đó ai cũng muốn có được một con giống do cô làm cho đêm Nôen, đặc biệt vì cái đó được phát không. Esteban Trueba xác định cái nghề khéo tay nặn đất sét thật rất tốt để các cô gái con nhà giải trí, nhưng nếu biến nó thành một công việc kinh doanh, thì tên tuổi của họ hàng nhà Trueba sẽ được đặt bên cạnh tên của những kẻ bán đinh, sắt vụn, hoặc bán cá rán ở ngoài chợ.
Những cuộc gặp gỡ yêu nhau của Blanca và Pedro García Con không đều và cách xa nhau, nhưng cũng chính vì thế càng thêm thắm thiết. Trong những năm đó cô gái đã quen với những sự giật mình và chờ đợi, đã đành lòng chịu nhận sẽ yêu nhau thầm lén, thôi không còn nuôi mộng được lấy nhau và cùng nhau sống trong một căn nhà gạch của cha cô xây nữa. Nhiều khi mấy tuần liền cô không biết được tin anh, nhưng bất thình lình xuất hiện tại trang viên một người đưa thư đi xe đạp tới, một ông thầy tu đi làm lễ với một cuốn Kinh Thánh trong tay áo choàng, hoặc một người Digan nói một thứ tiếng nửa tà giáo, những con người chẳng có gì nguy hiểm ấy đi qua chẳng gây ra một ý nghĩ nghi ngờ dưới đôi mắt canh chừng của ông chủ. Blanca nhận liền ra anh bởi đôi đồng tử đen sáng rực trong đôi mắt. Không phải cô là người duy nhất chờ đợi, mà tất cả tá điền trong đồn điền Ba Cô Maria và nhiều nơi khác nữa đều chờ đợi anh. Từ khi bị các ngài điền chủ truy tìm theo dõi, anh thanh niên đâm ra nổi tiếng anh hùng. Ai cũng muốn cho anh ẩn nấp một đêm, phụ nữ đan cho anh chăn khoác và tất ấm mùa đông, còn nam giới thì dành cho anh loại rượu mạnh hảo hạng và những quả khô ngon nhất trong mùa. Cha anh, Pedro García, ngờ rằng con trai đã vi phạm điều cấm đoán của Esteban Trueba, và đoán được những dấu vết con mình để lại khi đi qua. Viên quản lý bị giằng xé giữa tình yêu đối với đứa con trai và vai trò gác cửa cho cái cơ nghiệp này của ông chủ. Pedro García còn sợ thêm nữa là Esteban có thể đọc được những điều mình biết trên khuôn mặt của mình. Nhưng đồng thời viên quản lý cũng cảm thấy một niềm vui thầm kín khi gán một số chuyện lạ lùng đang xẩy ra ở nông thôn là do tác động của con mình. Điều duy nhất không hề ló ra trong trí tưởng tượng của viên quản lý là những cuộc thăm viếng của con trai đến vùng này có chút dính líu gì đến những cuộc dạo chơi của Blanca Trueba ra phía bờ sông, vì khả năng đó không phải chuyện thường xẩy ra trong cái trật tự bình thường của xã hội này. Trừ trong nhà mình, còn không bao giờ Pedro García hé một lời về con trai, nhưng thấy một niềm vinh hạnh vì con và muốn nhìn thấy con trở thành một người trốn tránh còn hơn là một người thêm nữa trong đám đông đang gieo trồng khoai tây và gặt hái lấy cái nghèo như thể biết bao người khác. Khi thấy có người nghêu ngao hát một vài bài hát về đàn gà mái hiền lành chống chọi và thắng con cáo ác, Pedro García mỉm cười nghĩ thầm trong bụng con trai mình đã có được nhiều tín đồ do những bản tình ca nổi loạn đó hơn là do những tờ truyền đơn của Đảng Xã Hội mà nó phân phát thường xuyên không biết mệt.