Clara và Blanca về đến thủ đô với cái vẻ thảm hại của hai người bị nạn. Cả hai mặt mũi sưng vù, mắt đỏ vì khóc và quần áo nhàu nát sau cuộc hành trình dài trên con tàu. Blanca yếu ớt hơn cả mẹ mặc dầu cô gái cao hơn, trẻ và nặng hơn, cô chỉ thở dài khi thức và sụt sịt khóc trong cơn mơ, cái khóc than không rứt kéo dài từ ngày bị trận đòn roi. Nhưng Clara không có cái kiên nhẫn để nghĩ ngẫm về những điều bất hạnh, cho nên khi về tới ngôi nhà lớn ở góc phố, ngôi nhà đang vắng ngắt và buồn như một sinh phần, bà quyết định ngay: khóc than thế đủ rồi, bây giờ đã đến lúc làm vui vẻ cuộc đời. Clara buộc con gái giúp đỡ mình trong việc thuê mướn những người hầu hạ mới, mở tất cả những khóa, những then, lột bỏ hết những tấm chăn phủ trên bàn ghế, hòm tủ, cất hết những chụp đậy đèn, những chiếc khóa treo cửa, phủi bụi lau chùi và mở tung cửa để cho ánh sáng và khí trời ồ ạt lọt vào. Mọi người đang làm những công việc đó thì thấy bay đến một mùi hương hoa tím dại không thể lẫn lộn được, lập tức hai mẹ con biết ngay ba chị em nhà Mora, có lẽ được thần giao cách cảm báo cho biết hoặc đơn giản chỉ do lòng yêu, đã đến thăm. Những câu thăm hỏi vui sướng, những lá cao và những lời an ủi tinh thần của họ và cái tính quyến rũ tự nhiên của họ đã làm cho bà mẹ và cô con gái chủ nhà thấy đã được phục hồi khỏi những vết bầm trên cơ thể và những đau đớn trong tâm hồn.
– Cần phải mua ngay đàn chim khác - Clara vừa nói vừa nhìn những chuồng chim trống rỗng và cả khoảnh vườn cỏ hoang rậm rạp, trong đó những tượng thần của núi Olympia trần truồng sừng sững, trên làn da đá phủ đầy phân của những chị bồ câu.
– Con không hiểu sao mẹ có thể nghĩ đến việc mua chim trước khi mẹ thấy cần phải có răng giả đã, mẹ - Blanca nhắc vì cô chưa quen được với khuôn mặt mới, không có răng cửa, của mẹ cô.
Clara thu xếp thời gian đủ cho mọi việc. Trong vòng hai tuần lễ bà đã có được đàn chim mới đầy chuồng và làm được cho mình hàm răng giả bằng sứ, nằm đúng trên chỗ những chiếc răng gẫy nhờ một cơ cấu đanh móc bám chắc vào hàm răng còn lại, nhưng cái cơ chế máy móc đó làm cho bà khó chịu, nên bà thích đeo hàm răng giả trước ngực bằng một sợi dây quanh cổ như thể một chiếc vòng, và bà chỉ lắp nó vào miệng khi ăn, và đôi khi để tiếp khách trong những cuộc hội họp ngoài xã hội. Clara đã làm cho ngôi nhà sống lại. Bà ra lệnh cho nhà bếp phải giữ bếp lò luôn luôn đỏ lửa và cần phải chuẩn bị thức ăn nuôi một số thực khách trong nhà, con số sẽ thay đổi nhiều ít tùy lúc chứ không nhất định. Bà biết trước tại sao bà lại ra lệnh như vậy. Chỉ ít ngày sau đó, bạn bè hội Rosicrucian, hội thày đồng thày bói, hội Tin Thần Thánh, hội châm cứu, hội thần giao cách cảm, hội cầu đảo làm mưa, hội thuyết tiêu du, hội chờ Chúa Jesus tái xuất hiện ngày thứ bẩy, hội những nghệ sĩ kiết xác hoặc bất hạnh và, tóm lại, tất cả những vị thực khách vẫn thường lui tới hợp thành triều đình của Clara. Clara trị vị đám người này như thể một bà hoàng nhỏ nhắn, vui vẻ và gẫy răng. Trong thời kỳ đó bọn người đã bắt đầu những thử nghiệm nghiêm chỉnh để mong có thể liên lạc được với những con người ngoài trái đất và, theo như Clara đã nhận xét, bà đã có những hoài nghi đầu tiên đối với nguồn gốc của những bức thông điệp tinh thần mà bà đã nhận được qua chiếc đồng hồ quả lắc hoặc nhờ chiếc bàn trái tim gọi hồn. Mọi người thường nghe bà nói những thứ đó có thể chẳng phải là linh hồn của những người đã chết đi lang thang khắp hướng, mà đơn giản chỉ là những con người sống của những hành tinh khác đang định thiết lập một quan hệ với những người quả đất, nhưng vì họ được tạo nên bằng một chất liệu không sờ thấy được, nên người ta dễ dàng nhầm lẫn với những hồn ma. Nicolás rất thú lời giải thích khoa học đó, nhưng mấy chị em nhà Mora rất bảo thủ nhất định không chấp nhận như vậy.
Blanca sống xa với tất cả những thứ hoài nghi đó. Những con người của những hành tinh khác, đối với cô, cũng nhập vào cùng ruộc với những linh hồn ma quái và vì thế cô chẳng thể hiểu được sự say mê của mẹ và những người bạn của bà trong việc đi tìm nhận danh, dạng họ. Cô rất bận bịu vì công việc trong ngôi nhà, bởi vì Clara không chú ý gì về những công việc nội trợ với cái cớ là chưa bao giờ bà thấy có tài cán gì về môn này. Ngôi nhà lớn ở góc phố cần có đến một đội quân hầu hạ để giữ cho nó được sạch sẽ, ngăn nắp, và đám người tùy tòng trong triều đình của Clara phải thay phiên nhau trông coi bếp nước giúp bà. Nhà bếp phải nấu đậu và rau cho một số người, rau xanh và cá sống cho một số khác, phải cung cấp sữa chua và quả tươi cho ba chị em nhà Mora, làm những đĩa thịt và bánh kẹo ngon lành, và mấy món thuộc cay độc khác nữa cho Jaime và Nicolás, hai thanh niên có cái tính háu ăn không bao giờ chán và chưa bao giờ thấy đủ những thứ mới mẻ theo như họ tưởng tượng. Theo thời gian, cả hai tiến tới cùng bị đói: Jaime đói vì để dành ủng hộ những người nghèo, còn Nicolás đói vì để cho thanh sạch linh hồn. Nhưng dầu vậy trong thời kỳ đó họ vẫn là hai thanh niên to khỏe, đang náo nức hưởng thụ những thú vui của cuộc đời.
Jaime đã vào trường đại học, còn Nicolás đang lang thang tìm kiếm số phận của mình. Cả hai có một chiếc xe ôtô loại tiền sử, mua bằng số tiền bán những chiếc khay bằng bạc mà họ ăn cắp trong nhà bố mẹ. Họ đặt tên cho chiếc xe bằng cái tên cũ Covadonga, để kỷ niệm ông bà del Valle. Chiếc Covadonga bị tháo ra, lắp vào rất nhiều lần, phụ tùng tất cả đều thay đổi, và cũng rất ít khi chạy được. Khi chạy được, chiếc động cơ cũ kỹ của nó phát ra một tiếng động điếc sai, khói phun ra phì phì, như muốn vặn quẹo cả ống sả. Hai anh em chung nhau dùng nó theo kiểu Salomon: những ngày chẵn Jaime dùng, còn những ngày lẻ thuộc về Nicolás.
Clara sung sướng được sống cùng hai đứa con giai và cố sức nhen nhúm một quan hệ bạn bè với chúng. Từ trước bà ít khi gặp gỡ trực tiếp giáo dục con trai trong thời kỳ chúng còn thơ ấu, với cái mong muốn để chúng “học tập để làm người đàn ông”, bà đã để mất đi cả thời gian tốt đẹp nhất không được ở với con trai, và đã phải kìm giữ lại tất cả những yêu chiều dịu dàng của mình đối với chúng. Bây giờ chúng đã lớn, có tầm vóc người lớn cả rồi, bà mới thấy cái thú chiều chuộng chúng như đáng lẽ phải làm từ khi chúng còn nhỏ, nhưng bây giờ đã muộn bởi hai anh em sinh đôi ấy đã được nuôi dưỡng lớn lên không có sự chiều chuộng đó nên cuối cùng chúng cũng không cần thiết những sự chiều chuộng của bà. Clara nhận thấy hai đứa đã không còn thuộc về mình. Nhưng bà không đau đầu và mất vui vì việc đó. Bà chấp nhận để hai anh em chúng trước sao sau vậy, và sẵn sàng hưởng cái vui về sự có mặt của chúng mà không đòi hỏi một chút thay đổi gì.
Blanca la rầy hai đứa em vì chúng đã biến ngôi nhà thành một cái xác khác bẩn. Đi đến đâu y như chúng để lại cả một dòng lộn xộn, mất trật tự, đổ vỡ và ầm ĩ. Blanca to ra trông thấy và như thể buồn bực cáu kỉnh hơn trước, Jaime chú ý đến bụng của chị, liền đến chỗ mẹ.
– Con thấy Blanca có vẻ có mang mẹ ạ - anh nói không rào đón.
– Mẹ cũng đã nghĩ như vậy, con ạ - Clara thở dài.
Blanca không chối cãi, và khi cái tin đó đã khẳng định, bằng nét chữ tròn trặn Clara đã ghi vào trong cuốn vở ghi chép cuộc đời của mình. Nicolás ngước mắt, ngừng buổi tập dượt thử cái khoa bói Trung Hoa và gợi ý cần phải báo việc đó cho bố biết, bởi vì chỉ mấy tuần lễ nữa vấn đề sẽ không còn dấu kín được và tất cả mọi người đều biết.
– Không bao giờ tôi nói ai là bố đâu! - Blanca kiên quyết nói.
– Em không nói đến cha đứa bé đâu, mà là nói bố chúng ta - em giai cô nói. - Bố có quyền biết việc này do chúng ta báo cáo hơn là do một người nào khác kể lại.
– Hãy gửi một bức điện về đồn điền - Clara buồn rầu gợi ý. Bà biết khi Esteban được tin này, đứa con của Blanca sẽ trở thành một tấn thảm kịch.
Nicolás viết bức điện đó với cái tinh thần mật mã mà anh vẫn dùng viết những vần thơ gửi cho Amanda, với dụng ý để cho điện tín viên ở thị trấn vùng đồn điền không thể hiểu được nội dung bức điện để khỏi xì xào lan truyền đi cái tin đó như một chuyện tiếu lâm; bức điện đó như sau: “Envie instruclores en cluta blanca. Punto”*. Cũng như cô điện tín viên. Esteban Trueba không thể nào phát hiện ra khóa mã của bức điện đành phải gọi giây nói về ngôi nhà lớn ở góc phố tại thủ đô để tìm hiểu vấn đề. Đến lượt Jaime nghe điện thoại phải giải thích việc đó cho ông rõ và nói thêm cái thai đã phát triển lắm, không thể nào nghĩ đến một chuyện phá bỏ được. Ở đầu giây bên kia có một sự im lặng dài ghê gớm, sau đó thấy tiếng cha anh đặt ống nghe vào máy. Tại đồn điền Ba Cô Maria, mặt tái xanh vì sửng sốt và giận dữ, Esteban cầm chiếc ba-toong đập vỡ tan chiếc máy điện thoại một lần nữa. Chưa bao giờ trong đầu ông lảng vảng cái ý nghĩ đứa con gái của ông có thể mắc một tội rồ dại ghê tởm đến như thế. Biết rõ kẻ nào là cha đứa bé rồi, ông vụt lại ân hận sao đã không nổ vào gáy nó một viên đạn hôm đó nhỉ. Ông tin chắc rằng lời đồn đại rùm beng sẽ loan đi, dù cho nó đẻ ra một đứa con hoang hay nó lấy con giai một người nông dân tá điền thì cũng vậy thôi: xã hội sẽ kết tội như vậy là kỳ thị chủng tộc!
Tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là: Gửi chỉ thị trong băng trắng chấm (Đáng lẽ phải viết đúng như sau: Envie instrucciones encinta Blance punto: xin cho chỉ thị Blanca có mang chấm.)
Esteban đi vòng quanh nhà mấy tiếng đồng hồ liền, bước những bước dài, vừa bước vừa vung ba-toong đập bừa vào bàn ghế, giường tủ, đập cả vào tường, vừa đập vừa lầm bầm trong kẻ răng những lời chửi bới tục tằn, vừa ngẫm nghĩ kế hoạch lộn xộn, không đầu không cuối, từ việc gửi Blanca vào một tu viện tại Extremadura, đến việc đánh cho nó đến chết. Cuối cùng, khi đã bình tĩnh một chút, một ý cứu vãn chợt nẩy trong đầu. Ông sai đóng yên ngựa và nhẩy lên phóng nước đại tới thị trấn.
Ông gặp Jean de Satigny, con người đã đánh thức ông dậy để kể cho nghe những chuyện tình tự của Blanca, người mà từ sau đêm bất hạnh đó ông không hề trông thấy, người ấy đang nhấm nháp nước dưa hấu không pha đường trong hiệu bánh kẹo duy nhất của thị trấn, cùng với con trai của Indalecio Aguirrazábal, một con rối dỏm dáng nói năng bằng một giọng lanh lảnh, hay ngâm thơ Rubén Dario. Không một chút lịch sự tối thiểu nào, Esteban nắm vạt áo chiếc áo xứ Scottish cắt may thật tuyệt không chê vào đâu được để lôi vị bá tước Pháp đứng dậy và kéo ra ngoài cửa hiệu bánh kẹo, trước những cặp mắt hoảng hốt của mọi khách hàng, rồi giữ ngài bá tước đứng giữa hè phố.
– Ông đã gây ra cho tôi nhiều vấn đề rắc rối, ngài khách trẻ ạ. Đầu tiên là những con chồn chuột, sau đến việc con gái tôi. Tôi mệt lắm rồi. Hãy đi thu dọn hành lý, vì ông sẽ đi với tôi về thủ đô. Ông sẽ cưới Blanca.
Esteban không cho vị Bá tước có thời giờ để hoàn hồn. Ông theo liền vị bá tước đến khách sạn, rồi ông đứng đợi lại đó, cây roi da trong một tay và chiếc ba-toong trong bàn tay khác, trong lúc Jean de Satigny sắp xếp va-li. Sau đó ông dẫn vị bá tước đến thẳng nhà ga và chẳng ý tứ gì cả, đẩy lên toa xe lửa. Trong cuộc hành trình, vị bá tước gắng sức giải thích cho Esteban biết ông ta không dính líu gì trong chuyện này, ông chưa hề đặt một ngón tay vào người Blanca Trueba, người có trách nhiệm về việc đã xẩy ra là ông thày tu rậm râu mà người ta đã bắt gặp cùng Blanca những đêm bên bờ sông. Esteban trừng đôi mắt, dữ tợn nhìn chằm chằm vị bá tước.
– Ta không hiểu những lời anh nói đâu, anh bạn ạ. Có lẽ anh nằm mơ đó - ông bảo vị bá tước.
Esteban đi luôn vào việc giải thích những điều khoản của cuộc hôn nhân, điều đó đã làm cho vị bá tước Pháp khá yên tâm. Của hồi môn của Blanca, tiền thu nhập hàng tháng và những viễn cảnh được thừa kế một gia tài lớn, tất cả lại biến thành một hiệp ước rất tốt.
– Anh trông đấy, chả phải còn tốt hơn công việc chăn nuôi chồn chuột hay sao - ông bố vợ tương lai kết luận, không chú ý gì đến tiếng khóc sụt sùi cảm động của người buộc phải làm con rể mình.
Thế rồi đúng ngày thứ bẩy Esteban về đến ngôi nhà lớn ở góc phố, kéo theo một người chồng cho cô con gái đã mất trinh tiết và một người cha cho đứa con hoang trong bụng mẹ. Ông vừa đi vừa biểu lộ những cử chỉ bật ra từ lửa giận. Bằng một cái gạt tay, ông hất đổ chậu hoa cúc bầy bên cửa ra vào, cho Nicolás một cái tát nên thân khi anh bước ra định giải thích tình hình, và thét lên để báo cho biết ông không muốn trông thấy Blanca, nó phải nằm kín ở trong buồng cho tới ngày đám cưới. Clara không ra đón ông, bà ở lì trong buồng, và không cả mở cửa cho ông khi ông đập đến gẫy cả chiếc ba-toong bằng bạc vào cánh cửa.
Ngôi nhà bắt đầu sôi sục ầm ĩ vì những hoạt động chuẩn bị và cãi cọ. Không khí như khó thở, đến nỗi chim chóc trong chuồng cũng câm bặt không kêu, hót. Những người hầu chạy cuống cuồng theo mệnh lệnh của một ông chủ nôn nóng cục cằn, không cho phép thực hiện chậm chạp những điều ông muốn. Clara tiếp tục cuộc sống như trước, không biết đến chồng và nhất quyết không nói với ông một nửa lời. Thực sự bị cầm tù bởi ông bố vợ tương lai, chàng rể sống trong một gian phòng dành cho thực khách, tại đó suốt ngày chỉ có việc đi đi lại lại, không được gặp Blanca và cũng chẳng hiểu rồi câu chuyện tiểu thuyết này sẽ dừng lại ở chỗ nào. Ông ta không biết nên than phiền đã là nạn nhân của những tên thổ dân man rợ này hay nên vui mừng vì sẽ có thể thực hiện được cái mơ ước cưới cô con gái Nam Mỹ trẻ đẹp và thừa kế một gia tài đồ sộ. Do tính tình lạc quan và thừa hưởng được đầu óc thực tế chính tông của nòi giống, ngài bá tước thiên về điều thứ hai và cùng với giờ giấc trôi qua chỉ trong một tuần lễ ông đã thấy tâm hồn thật là thư thái.
Esteban định mười lăm ngày sau đó sẽ tổ chức lễ cưới. Ông đinh ninh rằng cách tốt nhất để tránh khỏi mọi tai tiếng rùm beng là tổ chức một lễ cưới thật trọng thể. Ông muốn thấy con gái được hồng y giáo chủ làm lễ cưới, mặc áo váy trắng có giải đuôi dài sáu mét, nâng lên bởi một tá người hầu nam nữ, được chụp ảnh in trên mục thời sự xã hội của báo chí; ông muốn một bữa tiệc thật thịnh soạn và rộn rịp kèn trống phô trương, tốn kém để cho mọi người không một ai chú ý đến cái bụng của cô dâu. Người duy nhất phụ giúp cố vấn cho ông trong chương trình kế hoạch này là Jean de Satigny.
Hôm Esteban gọi con gái ra để đưa cô đến hiệu thợ may thử bộ áo cưới là hôm đầu tiên ông trông thấy Blanca kể từ sau đêm có trận đòn roi. Ông kinh hoàng khi trông thấy cô to tướng và mặt mũi còn vết sưng tím.
– Con sẽ không lấy chồng, cha ạ - cô nói.
– Câm ngay! - Ông gầm lên - Mày phải lấy chồng, bởi vì ta không muốn có con hoang trong nhà ta, hiểu không?
– Con nghĩ, trong nhà chúng ta đã có nhiều con hoang đó - Blanca trả lời.
– Đừng đối đáp với ta! Tao cho mày biết thằng Pedro García Con đã chết. Chính tay tao đã giết nó, như vậy hãy quên nó đi, và cố để mà làm một người vợ xứng đáng với người đàn ông đã mang mày đến làm lễ cưới tại nhà thờ.
Blanca khóc nức lên và tiếp tục khóc không mệt mỏi những ngày liên tiếp sau đấy.
Lễ cưới mà Blanca không muốn đó được tổ chức tại nhà thờ, hồng y giáo chủ làm phép cưới, cô dâu trong bộ quần áo hoàng hậu may bởi tay thợ may giỏi nhất trong nước, đã có phép huyền diệu để dấu được cái bụng đã lớn phềnh của cô dâu bằng những tràng hoa và những nếp gấp kiểu Hy-La. Lễ cưới kết thúc bằng một tiệc hội thật trọng thể, với năm trăm khách mời, ăn vận lễ phục rầm rập tràn vào đầy ấp ngôi nhà lớn ở góc phố, có một ban nhạc gồm toàn nhạc sĩ đánh thuê giúp vui, có những đĩa thịt bò dầu dấm chộn với đủ loại rau thơm, sò huyết tươi nướng còn nửa sống, trứng cá miền bể Baltic, cá chiên Hòa Lan, chim hầm với nấm, một kho rượu mùi ngoại quốc bất tận như dòng suối, một nguồn bọt rượu champagne sủi tăm mãi mãi không cạn, kẹo bánh mặc sức thỏa thuê, hàng nghìn vạn pháo hoa, phấn sáp, rồi những cốc pha lê loe miệng đựng đầy quả ướp lạnh, nào dâu Argentine, dừa Brazil, đu đủ Chilê, dứa Cuba và rất nhiều của ngon vật lạ khác không thể nào nhớ hết được, tất cả bầy trên một chiếc bàn dài chạy quanh mấy vòng cả khu vườn, rồi kết thúc bằng một chiếc bánh cưới đồ sộ ít thấy, cao ba tầng, làm bởi bàn tay của một nghệ sĩ làm bánh người Ý, gốc ở vùng Naples, bạn của Jean de Satigny, nhà nghệ sĩ đã biến những chất liệu bình thường như trứng, bột và đường, thành cả một bản sao của ngôi đền Acropolis, bên trên phủ một vòng mây bằng kem, trên đó nổi bật lên hai nhân vật thần thoại tượng trưng cho tình yêu, Venus và Adonis, làm bằng bột hạnh nhân nhuộm bắt chước mầu hồng hồng của da thịt, mầu hung của tóc, màu xanh cobalt của mắt, cặp kè bên cạnh một thần Cupid mũm mĩm, cũng bằng thức ăn được, tất cả cái bánh đồ sộ ấy được chú rể vinh hạnh và cô dâu buồn rầu dùng một con dao chuôi bằng bạc cắt ra làm đôi.
Từ đầu vẫn phản đối ý định bắt Blanca phải lấy người chồng trái với ý thích của nó, Clara quyết định không dự tiệc cưới. Bà ở lại nhà người thợ may để báo hiệu những tiên đoán buồn rầu cho đôi vợ chồng mới, những điều mà sau này tất cả mọi người có thể chiêm nghiệm thật đúng, cho tới khi Esteban phải đến khẩn khoản xin bà thay quần áo và ra mắt trong vườn dù chỉ trong mười phút thôi, để dập tắt những lời xì xào của khách khứa. Clara đành miễn cưỡng làm theo, do lòng yêu con gái chứ không phải vì chồng, bà đeo hàm răng giả vào và mỉm cười với tất cả những khách có mặt.
Jaime về tới nhà vào lúc cuối bữa tiệc bởi anh còn phải làm việc tại bệnh viện người nghèo nơi anh bắt đầu tiến hành những thực tập đầu tiên của người sinh viên trường thuốc. Nicolás đến cùng với cô bé xinh đẹp Amanda, con người vừa mới phát hiện ra Sartre và đã chuốc lấy vẻ bất hạnh tiền định của những người theo chủ nghĩa hiện sinh Châu Âu, toàn thân vận một mầu đen, da xanh tái, đôi mắt bôi quầng tím bằng chì khôn, tóc đen sẫm buông lơi đến ngang lưng một vòng những chiếc nhạc nhỏ đeo trên cổ cùng với vòng tay tạo nên cả một tiếng rung kỳ lạ nhịp theo từng bước chân đi. Còn Nicolás lại vận toàn một mầu trắng, như thể một anh cứu thương, cổ đeo lủng liểng những chiếc bùa. Esteban bước ra nắm lấy một tay anh, đẩy mạnh vào trong phòng tắm, trong đó ông dùng sức mạnh rứt không thương tiếc những tấm bùa ra khỏi cổ con trai.
– Vào ngay phòng ngủ của mày để thắt một chiếc cà-vạt đứng đắn! Rồi quay vào tiệc cưới như một nhà quý phái, hiểu không! Đừng có ý nghĩ điên rồ định truyền bá cái tôn giáo phù thủy của mày trong đám khách khứa của tao, và bảo cái con mụ phù thủy đi theo mày kia, hãy cài cho kín ngực áo lại! - Esteban ra lệnh cho con trai.
Nicolás vô cùng bực dọc phải vâng lời. Về nguyên tắc cậu vẫn kiêng rượu không uống, nhưng vì cáu tiết bèn nốc luôn mấy cốc rượu, rồi đầu óc choáng váng, cứ để nguyên quần áo nhẩy bổ vào bể phun nước ở giữa vườn, khiến người hầu phải đến lôi cậu lên với cái danh dự ướt đẫm như quần áo.
Blanca suốt buổi tối ngồi trên chiếc ghế bành khóc rấm rứt, vẻ mặt ngơ ngác, trong khi đó chú rể tươi cười rực rỡ lượn quanh những vị khách đang ăn để giải thích về sự vắng mặt của bà mẹ vợ do một cơn suyễn, và sự khóc lóc của cô dâu do cảm động quá vì lễ cưới. Chẳng có ai tin vào ông ta. Jean de Satigny hôn nhè nhẹ lên cổ Blanca, cầm tay cô định an ủi cô bằng những hớp rượu champagne, nhắm vào những miếng tôm hùm mà ông ta âu yếm chọn và xúc vào tận miệng cô, nhưng tất cả đều vô ích, cô vẫn tiếp tục khóc. Dầu sao tiệc cưới cũng rõ ràng là một sự kiện đáng chú ý, đúng như ý định tổ chức của Esteban Trueba. Khách khứa ăn uống thỏa thuê thừa mứa và nhẩy theo điệu nhạc của ban nhạc sống cho đến tận sáng, trong khi đó tại trung tâm thành phố những người thất nghiệp ngồi sưởi bên những chiếc lò nhỏ đốt bằng giấy báo, những đội trai tráng mặc quần áo nâu diễu hành, đưa cao tay lên trước mặt để chào như thể đã từng trông thấy trong phim ảnh về nước Đức, và trong nhà của những chính khách thuộc các đảng phái người ta chuẩn bị những công việc cuối cùng cho cuộc vận động bầu cử.
– Những người Đảng Xã Hội sẽ thắng - Jaime đã từng chung sống nhiều ngày với những người vô sản trong bệnh viện những người nghèo nên anh mơ mộng, chủ quan nói.
– Không con ạ, vẫn bọn người trước thắng như trước thôi - nhìn một lá bài, Clara trả lời, và sau đó người ta đã xác nhận đúng như cảm giác chung của mọi người.
Sau tiệc cưới, Esteban Trueba dẫn ông con rể vào phòng thư viện, chìa ra cho một tấm ngân phiếu. Đó là quà tặng của ông trong ngày cưới. Ông đã thu xếp mọi việc để đôi vợ chồng mới đi lên miền Bắc, tại đó Jean de Satigny có thể nghĩ đến chuyện xây dựng một cuộc sống dư dật bằng nguồn thu nhập của vợ, xa hẳn những lời bàn tán của bọn quan sát viên hay dòm ngó không phải đã bỏ không để mắt nhắm vào cái bụng to hơi sớm của cô dâu. Jean de Satigny đã phác họa trong đầu một công việc kinh doanh những bình, lọ cổ và xác ướp của người India xưa kia.
Trước khi đôi vợ chồng mới cưới rời khỏi tiệc mừng, họ vào từ biệt mẹ. Clara dẫn Blanca ra một chỗ, kín đáo nói với con gái lúc đó vẫn chưa thôi khóc.
– Đừng khóc nữa con ạ. Nước mắt nhiều như vậy chỉ làm thương tổn đến cái thai trong bụng và đó cũng chẳng phải một phép lạ để làm cho mình sung sướng được - Clara nói.
Blanca trả lời mẹ bằng một tiếng nức nở.
– Pedro García Con hãy còn sống, con ạ - Clara nói thêm.
Blanca nuốt một tiếng nấc và hắt hơi.
– Làm sao mà mẹ biết được như vậy hở mẹ? - Cô hỏi.
– Vì mẹ mới nằm mơ thấy nó - Clara trả lời.
Chỉ cần thế thôi đã đủ để cho Blanca yên tâm hoàn toàn. Cô lau nước mắt ngửng cao đầu và từ lúc đó cho đến ngày mẹ cô chết, bẩy năm sau đó, trong cả thời gian dài ấy không bao giờ cô khóc mặc dù cô chịu không ít đau thương, cô độc và có rất nhiều lý do đau khổ khác.
Phải xa cách cô con gái từ xưa vẫn quấn quít bên mình, Clara bước vào một thời kỳ ngơ ngác và đau buồn mới. Cuộc sống vẫn tiếp diễn y như trước, ngôi nhà vẫn mở rộng cửa và bao giờ cũng đầy thực khách, với những cuộc hội họp của những nhà tinh thần học và những đêm bình luận văn thơ, nhưng Clara đã mất cái khả năng phá lên cười thật dễ dàng, và bây giờ thường ngồi lặng nhìn chăm chăm về phía trước mặt, đắm mình trong suy nghĩ. Bà định bụng thiết lập một hệ thống thông tin trực tiếp với Blanca để tránh những sự chậm trễ của đường giao thông bưu điện, nhưng phương pháp truyền giao cách cảm không phải lúc nào cũng hoạt động được và cũng chẳng có gì đảm bảo là nội dung thông tin được Blanca tiếp nhận tốt đẹp. Bà có thể xác nhận những bức thông điệp của mình bị nhiễu loạn bởi những luồng ánh sáng giao thoa không thể kiểm soát được khiến cho người tiếp nhận có thể hiểu khác với điều mà bà định thông tin. Hơn nữa, Blanca không có cái tà khuynh về những thực nghiệm tâm thần, và dù cho từ bé vẫn luôn luôn gần bên mẹ, cô vẫn chưa bao giờ tỏ ra có chút xíu tò mò muốn tìm hiểu những hiện tượng tinh thần kiểu đó. Cô gái con bà là một người phụ nữ thực tế, trần tục và hoài nghi, và chính bản tính tân tiến và thực dụng của cô là một trở ngại lớn đối với phép truyền giao cách cảm. Clara đành phải chịu xử dụng phương pháp thông thường. Hai mẹ con viết thư cho nhau hầu như hàng ngày, và khối lượng thư tín nhiều như vậy, trong nhiều tháng đã thay thế việc ghi chép vào những cuốn vở ghi chép cuộc đời. Nhờ vậy Blanca biết rõ được tất cả những việc xẩy ra tại ngôi nhà lớn ở góc phố, và có thể sung sướng trong cái ảo tưởng mình vẫn còn ở cùng với gia đình và cuộc hôn nhân của cô chỉ là một giấc mộng.
Năm đó con đường đi của Jaime và Nicolás đã rõ ràng tỏ ra khác hẳn nhau, vì những khác biệt giữa hai anh em không có gì dung hòa với nhau được. Những ngày đó Nicolás đi theo cái tân kỳ của những điệu nhẩy flamenco, mà anh nói đã học được của những người Digan tại các hang động ở Granada, dù trên thực tế anh chưa bao giờ từng đi ra khỏi đất nước, nhưng sự khẳng định của anh thật quá vững chắc khiến cho ngay cả trong nội bộ gia đình, mọi người cũng bắt đầu ngờ ngợ có lẽ thực. Chỉ cần một sự khêu gợi cỏn con, anh sẵn sàng hiến ngay một bài biểu diễn, nhẩy ngay lên chiếc bàn lớn trong phòng ăn, chiếc bàn bằng gỗ sến đã dùng đặt quan tài Rosa trong đêm trực tang nhiều năm trước đó mà bây giờ Clara thừa kế, và bắt đầu vỗ tay như một tên điên, đập đập gót giầy dậm dựt, vừa nhẩy bốc lên vừa phát ra những tiếng la thét lanh lảnh cho tới khi thu hút được tất cả mọi người ở trong nhà cũng như một số hàng xóm láng giềng, và đôi lần kéo đến cả những tay cảnh binh tay cầm dùi cui đã kéo ra khỏi bao da, xổ vào dẫm ủng lấm lên tấm thảm, và rồi cuối cùng đều vỗ tay và kêu thét ôlê, ôlê như tất cả mọi người. Cái bàn đồ sộ chịu đựng những bước nhẩy một cách anh dũng, dù rằng chỉ sau một tuần lễ nó đã trở thành một cái bàn hàng thịt dùng để pha thịt bò non. Lối nhẩy flamenco lúc đó chưa được chú ý gì trong cái xã hội thành thị còn khép kín của thủ đô, nhưng Nicolás đưa ra một tin trong mục rao vặt trong báo chí, báo cho biết anh sẽ phục vụ cho mọi người như một giáo sư về môn nhẩy cuồng nhiệt đó. Ngày hôm sau anh có một cô học trò, và chỉ sau một tuần lễ, cái vẻ hấp dẫn của anh đã được loan truyền rộng rãi. Các cô thiếu nữ kéo đến hàng đàn, mới đầu thẹn thùng bẽn lẽn, nhưng anh giáo bắt đầu quay quay các cô như xay gạo, ôm lưng các cô và gõ gót giầy, rồi cười với các cô theo cái kiểu quyến rũ, và chỉ ít phút sau, anh giáo đã làm cho các cô nhẩy thật phấn khởi. Lớp học thu được thắng lợi lớn. Chiếc bàn của phòng ăn sắp sửa biến thành những mảnh vụn, Clara bắt đầu phàn nàn về những cơn đau đầu, còn Jaime thì phải giam mình trong buồng, cửa đóng kín mít, hai lỗ tai bịt hai viên sáp cố gắng không nghe tiếng ầm ĩ để học bài. Khi Esteban Trueba biết được những gì đã xẩy ra trong ngôi nhà khi ông vắng, ông nổi giận một cách kinh khủng và cấm cậu con trai không được dùng ngôi nhà làm một trường dạy cái môn nhẩy flamenco hoặc bất kỳ một môn gì khác. Nicolás phải từ bỏ môn nhẩy quay cuồng của mình, nhưng kinh nghiệm đã giúp cho anh trở thành một thanh niên có tính quần chúng nhất trong thời kỳ đó, ông vua của các tiệc hội và những trái tim phụ nữ, vì trong khi những chàng thanh niên khác học tập, mặc quần áo mầu sám cài khuy chéo, và nuôi bộ ria, nhẩy theo nhịp điệu bolero, thì Nicolás chủ trương tình yêu tự do, dẫn những đoạn trích của Freud, uống rượu Pernod và nhẩy điệu flamenco. Nhưng thắng lợi xã hội của anh cũng không làm giảm sút lòng say mê cái tài năng tinh thần của mẹ mà anh rất chú ý. Anh cố gắng để thi đua với mẹ về mặt đó một cách vô ích, dù cho anh nghiên cứu rất say mê, thực tập đến độ sức khỏe sút kém nguy hiểm, và tham dự tất cả những cuộc họp ngày thứ Sáu cùng ba chị em nhà Mora, bất chấp sự cấm đoán của cha, người vẫn kiên trì giữ ý kiến rằng những trò chơi đó không phải của nam giới. Clara định cố an ủi anh về những thất bại trong địa hạt này.
– Cái này không phải do học tập hay thừa kế mà có được đâu con ạ - bà nói khi trông thấy anh tập trung tư tưởng đến độ hai mắt trở nên lác sệch, với một sức cố gắng hiếm thấy để mong chuyển động được lọ muối trên bàn ăn bằng sức mạnh tinh thần.
Ba chị em nhà Mora rất yêu quý anh. Họ cho anh mượn những cuốn sách về khoa học bí hiểm và giúp anh giải những khoa mã về những ngôi sao mệnh và những quân bài bói toán. Họ ngồi xung quanh, cầm lấy tay anh để truyền những luồng khí nhiệm mầu, nhưng cái đó cũng chẳng làm cho Nicolás có được cái mãnh lực tinh thần như mong muốn. Mấy chị em nhà Mora che chở cho mối tình của anh với Amanda. Mới đầu cô gái trẻ đó có vẻ bị quyến rũ bởi chiếc bàn gọi hồn và những nghệ sĩ tóc dài, thực khách trong nhà Nicolás, nhưng chỉ sau ít lâu cô đã chán chuyện gọi hồn ma và ngâm ngợi những vần thơ đã được truyền miệng từ người này sang người khác của Nhà Thơ, cô bỏ đi làm phóng viên cho một tờ báo.
– Nghề đó là một nghề bịp bợm - Esteban Trueba đưa ra ý kiến khi ông biết tin đó.
Esteban Trueba không có cảm tình với cô gái. Ông không thích nhìn thấy cô trong nhà mình, vì ông cho rằng cô làm ảnh hưởng xấu đến con trai, và món tóc để dài, đôi mắt tô phấn và những món trang sức của cô là những dấu hiệu của một tật xấu bí mật vào đó, và cái kiểu cởi giầy ra rồi ngồi bệt trên sàn, đôi chân khoanh tròn lại như kiểu người thổ dân, đều là những cung cách của kẻ ái nam ái nữ.
Amanda có cái nhìn thế giới rất bi quan, và trong cuộc sống chịu đựng buồn nản của mình cô đi vào hút ma túy. Nicolás cũng theo cô. Clara nhận thấy con trai đang đi vào một thời kỳ xấu, nhưng ngay cả cái trực giác kỳ lạ của bà cũng không làm cho bà hiểu nổi những cơn mê sảng thất thần, những cơn buồn ngủ rũ rượi và những thoáng vui vô cớ của con trai lại có liên quan đến những điếu thuốc phương Đông mà Nicolás hút, vì chưa bao giờ bà từng nghe nói đến cái chất ma túy đó hoặc bất cứ một loại ma túy nào khác. “Đó chỉ là những hiện tượng do cái tuổi của nó phát sinh ra rồi nó sẽ qua đi thôi”, bà nói khi trông thấy Nicolás hành động như một tên ngớ ngẩn, mà không nhớ rằng Jaime cũng sinh ra cùng một ngày với Nicolás mà không hề có tí chút gì những dấu hiệu ngơ ngác mất thần như thể cậu em.
Những sự điên rồ của Jaime lại mang một phong thái thật khác biệt. Anh thanh niên nay có khuynh hướng về đức hi sinh và nếp sống khắc khổ. Trong tủ áo của anh chỉ có ba chiếc sơ-mi và hai cái quần. Clara để cả mùa đông đan gấp rút cho con trai có áo ấm áp, nhưng Jaime chỉ dùng nó đến khi có người nào đó thiếu thốn hơn là cho ngay. Tất cả tiền nong mà cha cho đều lọt vào túi của những bệnh nhân mà anh chăm sóc cho tại bệnh viện. Khi thấy có con chó gầy trơ xương lẽo đẽo theo đằng sau trên đường phố, Jaime liền mang nó về nhà nuôi, và khi biết có đứa trẻ bị bỏ rơi, một người con gái chửa hoang, hoặc một bà già yếu đuối đang cần sự cứu giúp của mình, anh liền đến với họ, rồi nói cho mẹ biết để nhờ mẹ giải quyết giúp cho. Clara trở thành một chuyên gia giỏi về cứu trợ xã hội, biết được tất cả mọi công sở của Nhà Nước và Nhà Thờ, những nơi mà người ta có thể đưa những người bất hạnh vào nuôi dưỡng, và khi mọi nơi đó đều không nhận thì bà liền nhận họ vào ở trong nhà mình. Những bà bạn của Clara dần dà rất sợ bà, vì cứ mỗi lần thấy bà xuất hiện y như rằng bà lại hỏi xin cứu giúp người thiếu thốn một cái gì. Cứ như vậy màng lưới của những người được Clara và Jaime giúp đỡ, che chở cứ mở rộng thêm, đi đến chỗ hai người cũng chẳng nhớ hết được con số những người được họ giúp đỡ, và đôi khi họ ngạc nhiên bất chợt thấy có người đến cám ơn họ vì một ân huệ nào đó mà họ đã quên không nhớ được việc đã làm. Jaime coi việc học tập nghề thuốc của mình như một ham mê tôn giáo. Dường như bất kỳ một sự giải trí nào khiến anh xa rời sách vở hoặc phí mất thì giờ đều là một sự phản bội nhân loại mà anh đã thề phục vụ. “Thằng bé này có lẽ phải để cho làm cố đạo”, Clara nói. Đối với Jaime, con người mà những lời thề khiêm tốn, nghèo khổ và trong sạch của những ông cố đạo không làm cho mắc lừa, anh vẫn coi tôn giáo là nguyên nhân của một nửa số điều bất hạnh trên thế giới, cho nên khi mẹ có ý kiểu như vậy, anh rất bực. Anh nói cơ đốc giáo, cũng như hầu hết những sự mê tín khác, chỉ làm cho con người thêm yếu đuối và chịu đựng, và con người đâu cần chờ mong một sự đền bù nào ở trên trời, mà phải chiến đấu dành lấy những quyền được có của mình ngay trên trái đất. Anh tranh luận tay đôi với mẹ về những điều đó, vì không thể tranh cãi điều đó với Esteban Trueba, ông bao giờ cũng nhanh chóng mất kiên nhẫn và cuối cùng là thét lên và hoa tay múa chân, và như ông nói, ông đã chán ngán không muốn sống giữa những tên điên loạn thần kinh, hiện nay điều duy nhất mà ông muốn là có được đôi chút bình thường trong ngôi nhà này, nhưng số không may ông đã lấy phải một con người quái gở, lại sinh đẻ ra ba đứa con điên dại chẳng ích lợi chút xíu nào cho bất cứ cái gì, để làm cho cuộc đời ông thêm cay đắng. Jaime không tranh cãi với cha. Trong ngôi nhà lớn này anh ra vào như một cái bóng, lơ đãng hôn mẹ khi gặp bà, rồi đi thẳng ngay vào bếp, đứng ăn luôn những thức ăn còn thừa của mấy người trong gia đình, sau đó khép kín cửa giam mình trong buồng để đọc sách nghiên cứu. Phòng ngủ của anh là một đường hầm đầy sách, từ các ngăn tường, từ mặt đất lên đến mái, đầy những ngăn, những giá bầy ăm ắp những cuốn sách dầy cộm không một ai lau chùi, vì anh giữ chìa khóa cửa buồng. Thật là cái tổ lý tưởng cho lũ nhện và chuột bọ. Giường của anh kê ở giữa phòng, một chiếc giường cá nhân to xấu, một ngọn đèn không có tán treo từ nóc rủ xuống đầu giường. Trong một cuộc rung động địa chấn nhỏ mà Clara quên không đoán trước, mọi người nghe thấy một tiếng động như xe lửa trật bánh đổ rầm và khi mở được cánh cửa phòng ra, mọi người thấy chiếc giường bị vùi kín dưới một núi sách. Giá và ngăn sách bị đổ và Jaime bị sách vở đè bẹp. Khi cứu được anh ra khỏi đống sách, người anh không bị xây sát chút nào. Trong lúc Clara khuân sách vở ra, bà nhớ tới cuộc động đất lớn và nghĩ mình đã từng sống những giây phút đó rồi. Nhân dịp đó gian phòng được lau chùi bụi bậm và xua đuổi mọi loài sâu bọ, và đầu mẩu thuốc bằng những nhát chổi.
Jaime chỉ để mắt chú ý nhìn nhận sự thực của ngôi nhà của gia đình mình những lần anh trông thấy Amanda tay nắm tay Nicolás. Rất ít khi anh nói một lời với cô, và sẽ đỏ dừ mặt nếu như cô ta lên tiếng nói với anh. Anh rất hoài nghi cái vẻ ngoài kỳ lạ của cô và tin rằng nếu như cô chải tóc, cắt tóc như thể mọi người và không bôi son phấn quanh đôi mắt, cô sẽ như một con chuột gầy và xanh xanh. Nhưng anh cũng không sao mà không ngắm nhìn cô được. Tiếng lanh canh của mấy vòng trang sức đeo ở tay vang lên cùng với bước của cô đi đã làm cho anh quên lãng cả việc học hành và anh phải hết sức cố gắng để khỏi đi theo cô quanh quanh trong ngôi nhà như con gà mái bị thôi miên. Một mình trên giường nằm không thể nào tập trung để đọc được nữa, anh tưởng tượng ra Amanda trần truồng, món tóc đen dài bao phủ quanh mình, với tất cả những món nữ trang kêu lanh canh, như thần tượng của mình. Jaime là một con người cô độc, một đứa trẻ nhút nhát khi bé và lớn lên là một người bẽn lẽn. Anh không tự yêu mình cho nên có thể vì thế anh nghĩ mình chẳng xứng đáng với tình yêu của người khác. Một biểu hiện nhỏ nhất về sự ân cần chăm sóc hay cám ơn đối với anh đều làm cho anh thấy hổ thẹn và đau đớn. Đối với anh, Amanda đại diện cho cái tinh chất của phụ nữ, và vì cô là người bạn của Nicolás, em giai anh, cho nên cô cũng là đại biểu cho tất cả mọi điều cấm đoán. Cái tính cách tự do, đáng yêu và phiêu lưu của người phụ nữ trẻ đó đã mê hoặc anh, còn cái hình dạng con chuột nhắt cải trang của cô gây nên trong anh một ao ước mãnh liệt được bảo vệ, che chở cho cô. Anh yêu thích cô một cách đau đớn, nhưng không bao giờ dám công nhận như vậy, ngay cả trong tận cùng suy nghĩ thầm kín nhất của mình.
Vào thời kỳ đó Amanda hay đến nhà gia đình Esteban Trueba. Tại tòa báo cô làm việc theo một thời khóa biểu linh hoạt, và cứ mỗi khi có thể, cô lại tới ngôi nhà lớn ở góc phố, dắt theo cậu em trai Miguel, và sự có mặt của họ cũng không lôi kéo sự chú ý nào trong ngôi nhà lớn lúc nào cũng đầy người và hoạt động nhộn nhịp. Lúc đó Miguel khoảng năm tuổi, ít nói và sạch sẽ, không đùa nghịch ồn ào, đi lại mà không ai thấy vì cậu bé lẫn cùng những hình ảnh của giấy hoa dán tường và đồ đạc, bàn ghế, thẩn tha chơi một mình ở trong vườn, hoặc đi theo Clara đi tới khắp các ngóc ngách trong ngôi nhà và gọi bà bằng mẹ. Vì thế và vì nó gọi Jaime là bố, nên mọi người đoán rằng Amanda và Miguel mồ côi. Amanda bao giờ cũng có cậu em đi theo, cô dắt em theo vào nơi làm việc, tập cho cậu quen với tất cả mọi thức ăn và vào bất cứ giờ nào, và ở những nơi soàng sĩnh tồi tàn nhất cũng có thể soài xuống ngủ được. Cô yêu em một cách thật hiền dịu và thật mãnh liệt, cô giữ gìn nó như giữ gìn một con chó con, cô thét lên với nó khi giận dữ, rồi lại chạy đến ôm chầm lấy nó mà hôn. Cô không để cho bất cứ một ai được quyền sửa sang, sai phái gì em trai cô cả, cô không chấp nhận những lời bàn tán về cuộc sống kỳ lạ mà cô bắt cậu em sống, và cô bảo vệ nó như một con sư tử cái giữ gìn con, mặc dù chả ai có ý định tấn công nó cả. Người duy nhất cô cho phép có ý kiến về sự giáo dục Miguel là Clara, người đã thuyết phục được Amanda phải gửi em trai vào trường học, đã cho nó khỏi trở thành một ẩn sĩ mù chữ sau này. Clara không thuộc phái chủ trương giáo dục phổ thông bắt buộc, nhưng bà nghĩ rằng trong trường hợp của Miguel, cần phải cho nó hàng ngày một vài giờ kỷ luật và chung sống với những đứa trẻ cùng lứa tuổi. Chính bà đã đảm nhiệm việc ghi tên theo học cho nó, mua cho nó những đồ dùng cần thiết và bộ đồng phục, rồi cùng Amanda dẫn nó đi đến trường ngày đầu tiên vào lớp. Tại cửa trường học, Amanda và Miguel ôm nhau khóc, khiến cho cô giáo không thể nào gỡ được thằng bé ra khỏi nếp váy của chị nó mà nó bám giữ bằng cả nanh vuốt, kêu gào, dẫy đạp tất cả những ai đến gần. Sau cùng nhờ có Clara giúp, cô giáo mới có thể lôi được thằng bé vào trong và khóa cửa trường học lại. Amanda ngồi trên vỉa hè ngoài cửa trường suốt cả buổi sáng. Clara cũng ngồi chia sẻ nỗi đau cùng Amanda, vì bà thấy mình có lỗi đã gây ra nỗi đau đớn ấy, và bắt đầu nghi ngờ về sự khôn ngoan của cái sáng kiến mà mình đề ra. Đến trưa, chuông réo và cánh cửa lớn của trường học mở rộng. Hai người đàn bà trông thấy một đoàn học sinh ùa ra, trong đó, trật tự, im lặng và không có vết nước mắt, chỉ có một vết chì ở bên cánh mũi, và chiếc tất bị giầy nghiến rách, thằng bé Miguel, chỉ trong mấy giờ ít ỏi đó thôi, đã học được cách bước đi trong cuộc đời mà không phải nhờ chị dắt tay. Amanda ôm chặt nó vào ngực và trong cơn cao hứng lúc đó bật nói với em: “Chị sẽ chết thay em, Miguel bé nhỏ của chị”. Cô đâu biết rằng một ngày kia mình sẽ phải làm thật đúng y như vậy.
Trong thời gian đó Esteban Trueba càng ngày càng cảm thấy cô đơn và càng thêm cáu bẳn. Ông chịu đựng việc vợ mình sẽ không bao giờ còn nói với mình một lời và, đã chán ngấy cái lối theo vợ khắp mọi góc nhà để đưa mắt cầu khẩn bà, hoặc đục thủng lỗ trên tường buồng tắm, ông liền quyết định lao mình vào hoạt động chính trị. Đúng như Clara đã báo trước, vẫn những nhà chính trị đắc cử từ xưa lại thắng cử, nhưng lần này với số phiếu thắng thật ít ỏi khiến cho tất cả mọi người đều sửng sốt. Esteban Trueba cho rằng đã đến lúc mình phải nhẩy ra để bảo vệ cho quyền lợi của tổ quốc và quyền lợi của Đảng Bảo Thủ, vì không còn ai xứng đáng hơn ông làm hiện thân của người chính khách thật thà, không hiểm độc như chính ông vẫn tự nhận và nói thêm rằng mình vươn lên bằng cố gắng của chính bản thân, đem công việc làm ăn và điều kiện sống tốt đẹp cho những người làm thuê, và là ông chủ điền duy nhất đã xây dựng những nếp nhà gạch xinh xắn cho tá điền. Ông tôn trọng pháp luật, tổ quốc và truyền thống, và không một ai có thể trách cứ ông về một tội phạm nào lớn hơn cái tội trốn thuế. Ông hợp đồng thuê một người quản lý thay vào chỗ của Pedro García rồi giao cho người đó nhiệm vụ quản lý trại gà đẻ và những bò nái nhập nội, còn ông dứt khoát rút về thành thị. Ông dành một số tháng vào việc vận động tranh cử, dùng cả cái gia sản lớn làm hậu thuẫn, cộng với sự ủng hộ của Đảng Bảo Thủ lúc đó đang cần người để giới thiệu ra ứng cử trong cuộc bầu tổng thống sắp tới. Ngôi nhà của ông luôn tấp nập những nhà tuyên truyền chính trị và đảng viên Đảng Bảo Thủ, họ đã thực tế nhẩy vào chiếm lĩnh ngôi nhà, và giờ đây trong dẫy hành lang họ luôn luôn lẫn lộn trong đám khách của Clara, những hội viên Tam Điểm, và ba chị em nhà Mora. Dần dần cái triều đình của Clara bị chuyển hẳn vào những gian phòng mé sau của ngôi nhà. Có một biên giới vô hình được thiết lập giữa khu nhà mà Esteban Trueba chiếm giữ và khu nhà thuộc quyền sử dụng của vợ ông. Theo cảm hứng và sáng kiến của Clara và cũng phù hợp với sự cần thiết của thời kỳ đó, trong phạm vi ngôi nhà có kiểu kiến trúc cao sang quý tộc đó, bắt đầu nẩy nở thêm những buồng phụ nho nhỏ, những vòng cầu thang, những chòi tháp, và sân thượng. Cứ mỗi khi phải nuôi thêm một vị khách mới, lại những người thợ nề trước được gọi đến để xây thêm một phòng ở. Cứ như thế, ngôi nhà lớn ở góc phố dần dần trở nên giống hệt một mê cung.
– Một ngày nào đó, ngôi nhà này sẽ dùng để thiết lập một khách sạn - Nicolás nói.
– Hoặc một bệnh viện nhỏ - Jaime đã bắt đầu nuôi hy vọng đưa những bệnh nhân nghèo của mình đến ở khu Phố Trên Cao, nói tiếp.
Bề mặt tiền của ngôi nhà vẫn được giữ nguyên như cũ không có gì thay đổi. Mé trước mặt, vẫn sừng sững mấy cây cột anh hùng và khu vườn kiểu Versailles, nhưng về mé sau nhà, cái phong cách xưa đã mất. Khu vườn sau giờ đây trở thành một khu rừng rậm giây leo, tràn ngập nhiều loài cây cỏ, lá hoa, và ầm ĩ chim chóc của Clara, cùng tiếng kêu của rất nhiều thế hệ mèo và chó. Giữa cái bầy sinh vật nuôi trong nhà đó, con vật duy nhất có tí chút nổi bật lên trong kỷ niệm của gia đình là một con thỏ mà Miguel mang đến, một con thỏ thường, đáng thương, mà lũ chó luôn luôn liếm láp đến nỗi nó bị trụi hết lông đầu, biến thành con vật hói độc nhất của loài thỏ, và toàn thân nó phủ một lớp lông soăn tít khiến cho nó có hình dáng của một con rắn thằn lằn có đôi tai cực kỳ to.
Ngày bầu cử càng tới gần, Esteban Trueba càng thấy bồn chồn thêm. Ông đánh liều tất cả những gì ông có trong cuộc phiêu lưu chính trị này. Một buổi tối không thể chịu đựng nổi nữa, ông đến gõ cửa phòng ngủ của Clara. Trong bộ quần áo ngủ và có lắp hàm răng giả, vì bà thích nhấm nhấp những chiếc bánh bích quy trong khi viết vào những cuốn vở ghi chép cuộc đời của mình, bà ra mở cửa. Esteban Trueba thấy vợ vẫn trẻ, đẹp như ngày thứ nhất ông bế bà trên tay bước vào căn phòng ngủ trải toàn một loại thảm lụa xanh này và đặt bà đứng trên tấm da của con Barrabás. Ông mỉm cười với kỷ niệm.
– Xin lỗi, Clara - mặt đỏ như một cậu học trò ông lên tiếng - Tôi thấy cô độc và buồn. Tôi muốn ở đây một lát, nếu không làm em phiền.
Clara cũng mỉm cười, nhưng không nói một lời. Bà chỉ cho ông một chiếc ghế bành và Esteban ngồi xuống đó. Hai người ngồi lặng im một lát, cùng ăn đĩa bánh bích quy và nhìn nhau bỡ ngỡ, vì đã lâu lắm rồi, cùng sống với nhau dưới một mái nhà nhưng họ không hề gặp mặt nhau.
– Tôi đoán rằng bà đã biết điều đang làm cho tôi bồn chồn lo lắng - cuối cùng Esteban Trueba nói.
Clara gật đầu đồng ý.
– Bà có tin rằng tôi thắng cử không?
Clara lại gật đầu, tức thì Esteban Trueba cảm thấy toàn thân hoàn hoàn thanh thản như thể vợ mình vừa đưa cho mình một tờ giấy bảo đảm viết tay. Ông vui vẻ cười lớn, đứng lên, đưa hai bàn tay nắm hai vai bà và hôn lên trán.
– Bà thật ghê gớm, Clara ạ! Bà đã nói như vậy, tôi sẽ là thượng nghị sĩ - ông reo lên.
Từ hôm đó sự hằn học giữa hai người đã giảm. Clara vẫn tiếp tục không nói với ông một lời, nhưng ông không để ý đến sự im lặng đó, vẫn nói với bà bình thường, vì diễn giải những động tác nhỏ nhẹ nhất của bà như những lời đáp lại. Trong những trường hợp thật cần thiết, Clara dùng những người hầu hoặc các con để nhắn ông những lời muốn nói. Bà lo lắng trông coi cho đời sống của chồng được dễ chịu, giúp ông trong công việc quản lý và đi cùng ông khi ông yêu cầu. Đôi lần bà mỉm cười với ông.
Mười ngày sau đó, Esteban Trueba được bầu làm thượng nghị sĩ của nước Cộng Hòa đúng như Clara đã tiên đoán. Để mừng sự kiện đó, ông tổ chức một tiệc hội cho tất cả bạn bè và những bạn đồng tôn giáo của Clara, cho những người hầu hạ và tá điền ở trang viên Ba Cô Maria một món tiền thưởng, và tặng Clara một chuỗi ngọc bích mà ông tự tay đặt trên giường của bà kèm một cành hoa tím. Clara bắt đầu đi dự những buổi chiêu đãi và những cuộc mít tinh chính trị, tại đó sự có mặt của bà thật cần thiết để cho ông chồng tỏa ra hình ảnh của một người đàn ông giản dị và thân mật mà công chúng và Đảng Bảo Thủ đều rất thích. Trong những dịp đó, Clara đều lắp hàm răng giả vào miệng và đeo một vài món nữ trang mà Esteban Trueba đã tặng. Bà trở nên một vị phu nhân lịch sự, kín đáo và tuyệt diệu nhất trong giới xã hội của bà, và không một ai có thể đi đến chỗ ngờ rằng đôi vợ chồng đặc biệt sang trọng đó không bao giờ còn nói một lời với nhau.
Địa vị xã hội mới của Esteban Trueba đã làm tăng thêm con số người phải cung phụng trong ngôi nhà lớn ở góc phố. Clara không phải mở một tài khoản riêng cho những miệng ăn mà bà nuôi, cũng như mọi thứ chi tiêu khác trong nhà. Tất cả những biên lai mua hàng đều đi thẳng tới văn phòng ông Thượng Nghị sĩ Trueba tại Quốc Hội: ông sẽ trả tiền ngay không cần một câu hỏi, vì ông đã phát hiện ra rằng ông càng tiêu nhiều, gia tài của ông dường như càng tăng thêm, và đi đến kết luận là Clara, cùng với tính hiếu khách không phân biệt sang hèn và những hoạt động từ thiện của bà, bà không phải là một người vợ làm cho ông khánh kiệt, mà trái lại. Thoạt đầu, ông nắm quyền chính trị như thể một trò chơi mới. Vào độ tuổi chín chắn ông đã trở thành một người giầu có, được kính trọng y như thể ông đã thề phải tiến tới khi còn là một anh chàng nghèo khổ, không có người đỡ đầu, và chẳng có vốn liếng gì khác ngoài cái tính kiêu ngạo và một tham vọng khác thường. Nhưng chỉ ít lâu sau, ông biết rằng bây giờ ông thật cô độc hơn bất cứ lúc nào khác. Hai con trai lẩn tránh ông, còn Blanca thì ông không bao giờ còn có được mối liên hệ trực tiếp với nó. Ông chỉ biết về nó qua lời kể của mấy đứa em trai nó, và ông chỉ còn hạn chế mình trong việc tháng tháng gửi cho nó một tấm ngân phiếu, giữ đúng lời hứa mà ông đã hứa với Jean de Satigny. Ông thật quá xa cách với các con, đến nỗi chẳng có khả năng giữ cho một cuộc đối thoại với con khỏi kết thúc bằng những lời gào thét lên với chúng. Esteban Trueba biết được những sự việc rồ dại của Nicolás đều đã quá muộn, nghĩa là, khi tất cả mọi người đều đã bàn tán về những việc đó. Ông cũng chẳng hay biết tí gì về cuộc sống của Jaime. Nếu như ông có thể biết được cậu con này đã đứng về phía Pedro García Con, và có một tình yêu như anh em đối với Pedro Con, chắc ông đã lên một cơn phong giật cấp tính, nhưng Jaime rất thận trọng không bao giờ nói đến những điều đó với cha.
Pedro García Con đã rời bỏ nông thôn. Sau cuộc đụng độ kinh khủng với ông chủ, cha José Dulce María đã đón anh vào trong địa phận nhà thờ và chữa vết thương cho anh. Chàng trai chìm ngập trong đau buồn, thất vọng, nhắc đi nhắc lại không chán rằng cuộc đời không còn ý nghĩa gì nữa, vì đã mất Blanca, và cũng chẳng còn có thể đánh đàn guitar, niềm an ủi duy nhất của anh. Đức cha José Dulce María chờ cho những ngón tay đứt của anh hàn gắn và thành sẹo, rồi đặt anh lên một chiếc xe nhỏ, đưa anh đến nơi dành riêng cho người thổ dân, giới thiệu anh với một bà già một trăm tuổi bị mù và đôi tay bị cứng đơ do chứng bệnh thấp khớp, nhưng bà cụ vẫn còn quyết tâm và tinh thần để đan lát rổ rá bằng hai chân. “Nếu như bà cụ có thể đan rổ rá bằng hai chân, con cũng có thể đánh đàn guitar không cần ngón tay cũng được”, ông nói với anh. Sau đó ông cố đạo kể cho anh nghe câu chuyện của mình.
– Vào độ tuổi của con, cha cũng đã yêu, con ạ. Người yêu của cha là cô gái đẹp nhất làng. Chúng mình sắp cưới nhau và cô ấy đã bắt đầu thêu bộ quần áo cưới, còn cha thì dành dụm để xây dựng một ngôi nhà xinh xinh, thì đùng một cái họ bắt cha vào lính. Khi cha trở về, cô ấy đã lấy anh hàng thịt và đã trở thành một bà to béo. Suýt nữa cha đã buộc đá vào chân đâm đầu xuống sông, nhưng sau suy nghĩ lại, cha quyết định đi tu để trở thành cố đạo. Vào đúng năm cha bắt đầu đi làm lễ, cô gái bị góa chồng, đến nhà thờ nhìn cha bằng con mắt buồn rầu. - Tiếng cười thẳng thắn của ông cố đạo khổng lồ đã nâng tinh thần Pedro García Con lên và làm cho anh mỉm cười, phải, nụ cười đầu tiên sau ba tuần lễ buồn thê thảm. - Để cho con thấy - ông cố đạo kết luận - việc gì mà phải thất vọng. Con sẽ gặp lại Blanca vào một ngày ít ngờ tới nhất.
Thể xác và tinh thần đều đã được chữa lành mạnh, Pedro García Con bỏ đi thủ đô với một gói nhỏ quần áo và một ít tiền mà ông cố đã rút ra trong số tiền làm phúc ngày Chủ nhật. Ông cũng cho anh biết địa chỉ của một nhà lãnh đạo xã hội ở thủ đô, người đó đã đón anh về ở trong những ngày đầu mới đến thành phố, sau đó tìm được cho anh một công việc: làm ca sĩ tại một tiệm ăn của những người lang thang vô định. Anh thanh niên đến ở tại một xóm công nhân, trong một căn lều bằng gỗ ván mà anh coi như một lâu đài, đồ đạc không có gì ngoài một chiếc phản có chân, một tấm nệm, một chiếc ghế và hai cái hòm gỗ dùng làm bàn. Tại đó anh đã làm việc để tuyên truyền vận động xã hội chủ nghĩa và nghiền ngẫm đến chán chường cái nỗi Blanca đã đi lấy người khác, và anh đã không chấp nhận cả lời giải thích và an ủi của Jaime. Ít lâu sau anh đã làm chủ được bàn tay phải, nhận được vai trò sử dụng của những ngón tay còn lại, và tiếp tục sáng tác những bài hát về bầy gà mái chống lại con cáo và đuổi cho cáo chạy. Một hôm người ta mời anh đến hát trong một chương trình của đài phát thanh, và việc đó đã mở đầu dẫn anh tới chỗ có được một tính quần chúng choáng ngời mà chính anh cũng chưa hề mong đợi. Giọng hát của anh từ đó luôn luôn vang lên trong những buổi phát thanh và tên anh trở thành quen thuộc. Đương nhiên ông Thượng Nghị sĩ Esteban Trueba không bao giờ nghe thấy tên anh, vì trong nhà ông, ông không cho phép đặt một chiếc máy thu thanh nào. Ông nói đó là những thứ máy móc cho bọn người vô học, nó chỉ mang tới những ảnh hưởng xấu xa và những tư tưởng thông tục. Không có một ai xa cách với âm nhạc dân gian bằng ông, con người mà giai điệu duy nhất có thể chịu đựng được là kịch hát trữ tình và loại ca kịch ngâm thơ của đoàn zarzuela mùa đông nào cũng từ Tây Ban Nha sang biểu diễn.
Hôm mà Jaime mang về nhà cái tin mới mẻ là muốn đổi họ khác, vì từ khi cha anh trở thành Thượng Nghị sĩ của Đảng Bảo Thủ, bạn bè của anh tại trường đại học ghét anh ra mặt và tại Khu Nhà Từ Thiện cũng chẳng ai còn tin anh, Esteban Trueba mất kiên nhẫn sắp sửa cho anh một cái tát, nhưng ông kịp kìm giữ được mình, vì ông thấy đôi mắt của con trai có cái vẻ như trong trường hợp này mà ông làm như vậy nó sẽ không bao giờ thứ lỗi cho ông.
– Tao lấy vợ để có những đứa con chính thống mang tên họ của tao, chứ không phải những đứa con hoang mang tên họ của mẹ nó! - ông thét lên, mặt tái xanh vì giận dữ.
Hai tuần sao ông nghe thấy người ta bàn tán trong hành lang của Quốc Hội rằng Jaime, con trai ông, đã cởi quần ngay trước Quảng trường Brasil để cho một người nghèo thiếu, và mặc quần lót đi bộ qua mười lăm dãy nhà để trở về nhà, kéo theo sau một đoàn trẻ con và kẻ tò mò vừa đi vừa reo hò, tán tụng nó. Quá mệt về việc bảo vệ danh dự của mình thoát khỏi những sự lố lăng và mọi chuyện hài hước tương tự, ông cho phép Jaime lấy bất cứ tên họ nào mà nó thích, chỉ cần một điều là không phải họ tên ông. Ngày hôm đó ông đóng cửa, giam mình trong văn phòng khóc rống vì buồn chán và điên giận. Ông cố gắng tự nhủ là những tính nết kỳ cục đó rồi sau sẽ qua đi khi nó đến độ tuổi chín chắn, và sớm muộn rồi nó cũng sẽ trở thành con người thăng bằng có thể phụ tá cho ông trong việc kinh doanh, và chỗ nương tựa của ông khi già yếu. Còn về thằng em nó kia, ông đã mất hẳn hy vọng. Nicolás đi từ chuyện kỳ quái này đến chuyện quái đản khác. Những ngày đó anh chàng đi lang thang với cái ảo mộng xuyên qua dãy Núi Dài y như ông cậu Marcos nhiều năm trước đã từng thử nghiệm trên một phương tiện vận tải ít thông dụng. Anh đã chọn cách bay lên trong một quả cầu, với lòng tin tưởng chắc chắn rằng cái cảnh một quả cầu khổng lồ treo lơ lửng trên không sẽ là một sự quảng cáo có chất mê không thể cưỡng được mà bất kỳ một hãng nước giải khát nào cũng đều muốn được đứng ra đỡ đầu. Anh sao lại mẫu của một kiểu khí cầu Đức từ trước chiến tranh, bay lên được nhờ một hệ thống hơi nóng, có thể mang theo trong lòng nó một hoặc vài người có tinh thần thật can đảm. Sự say mê trang bị cho cái khúc dồi bay khổng lồ đó, và việc nghiên cứu những cơ cấu bí mật của nó cùng một loạt vấn đề khác, như luồng gió, điểm báo của những quân bài và những quy luật của khí thể động lực học đã thu hút anh trong một thời gian dài. Anh đã quên những cuộc họp ngày thứ Sáu về tinh thần học cùng với mẹ và ba chị em nhà Mora, trong nhiều tuần lễ và cũng chẳng chú ý đến việc Amanda không hiểu sao không thấy tới nhà mình nữa. Đến khi hoàn thành công trình xây dựng con tàu hàng không của mình anh liền vấp ngay phải một trở ngại không lường tới: ông giám đốc hãng nước giải khát, một người Mỹ vùng Arkansas, từ chối không bảo trợ tài chính cho kế hoạch, viện cớ là nếu Nicolás bị chết trong chiếc máy bay lên không đó thì việc bán nước ngọt của ông dễ bị giảm sút ngay. Nicolás cố gắng tìm những nhà đỡ đầu khác, nhưng không một ai chịu bỏ vốn. Những sự việc đó thật đã quá đủ để anh hủy bỏ những dự án của mình và quyết định sẽ độc lực bay lên, dù cho không có tiền bảo trợ của ai. Đến ngày đã định, Clara vẫn thản nhiên tiếp tục ngồi đan, không chú ý gì đến mọi sự chuẩn bị của cậu con trai, dù cho tất cả mọi người trong nhà cũng như hàng xóm và bạn hữu của gia đình đều lộ vẻ kinh hãi đối với cái kế hoạch điên cuồng định bay qua dãy Núi Dài trong cái máy quái quỷ đó.
– Tôi tin rằng nó sẽ chẳng bay lên đâu - Clara tay vẫn không rời chiếc kim đan lên tiếng nói.
Đúng như vậy. Đến giây phút cuối cùng, một chiếc xe ca-mi-ông trên đầy cảnh sát xuất hiện tại công viên nhân dân, nơi Nicolás đã chọn để bay lên. Họ đòi cho xem giấy phép của thành phố mà hiển nhiên Nicolás không có, và sau đó cũng chẳng thể nào mà có được. Anh mất bốn ngày chạy từ cơ quan này đến công sở khác, với tất cả mọi thủ tục vô vọng, và kế hoạch của anh vỡ tan tành, khi va phải bức tường quan liêu ngu dốt không hiểu được mình. Chẳng bao giờ anh có thể biết được rằng, đằng sau chiếc xe ca-mi-ông chở đầy cảnh sát, và những thủ tục giấy tờ bất tận đó là sức mạnh ảnh hưởng của cha anh đã đặt vào, vì ông không sẵn sàng cho phép tiến hành một cuộc phiêu lưu như vậy. Mệt và chán trong việc đấu tranh với sự rụt rè của hãng nước ngọt và tệ quan liêu giấy tờ của ngành hàng không, anh tự thuyết phục mình như vậy là không thể bay lên được nếu không bay một cách bí mật, và cái khả năng bí mật đó lại cũng không thể có được vì kích thước to lớn của con tầu. Nicolás bước vào một cơn khủng hoảng lo buồn, và Clara đã lôi anh ra bằng cách gợi ý hãy sử dụng những vật liệu của quả cầu đó vào một mục đích nào thiết thực để khỏi phí mất số vốn liếng đã đầu tư vào đấy. Nicolás mới nẩy sinh ý nghĩ mở một xưởng làm bánh mì kẹp thịt. Kế hoạch của anh là làm bánh mì kẹp thịt gà, gói bằng vải sơn của quả cầu cắt ra thành từng miếng nhỏ, và món hàng này sẽ đem bán cho những nhân viên của các công sở. Căn bếp rộng rãi của ngôi nhà thật là lý tưởng để dùng cho cái kỹ nghệ đó của anh. Thế là khu vườn sau bắt đầu đầy gà buộc chặt hai chân, nằm chờ đến lượt hai vị đồ tể theo hợp đồng đặc biệt đến cắt tiết hàng loạt. Mấy mảnh sân trở nên đầy lông gà, và máu tiết loang lổ lên cả những bức tượng thiên thần trên núi Olympia, mùi nước lông gà làm cho mọi người lộn mửa, và lòng ruột gà bắt đầu kéo lũ ruồi nhặng đến đen nghịt cả khu phố, cho tới khi Clara kết thúc được cuộc thảm sát đó bằng một cơn đau thần kinh dữ dội suýt nữa lại đẩy bà rơi vào trạng thái câm lặng như xưa. Sự thất bại trong việc kinh doanh mới này không có gì quan trọng lắm đối với Nicolás vì dạ dày của anh cũng như lương tâm của anh cũng đang bị rộn lên bởi cái món cắt tiết và mổ thịt hàng loạt này. Anh đành chịu mất toi số vốn đã đầu tư trong việc kinh doanh đó và đóng cửa nằm trong phòng phác ra những kế hoạch mới để kiếm tiền và giải trí.
– Đã lâu mình không trông thấy Amanda đến đây - Jaime đã nói khi anh không còn có thể cưỡng lại được nỗi nôn nóng của trái tim.
Lúc đó Nicolás mới chợt nhớ đến Amanda và tính nhẩm đã từ ba tuần lễ nay anh không trông thấy cô đi lại trong ngôi nhà, không tham dự vào cái dự án thất bại bay lên không của anh, cũng chẳng có mặt trong buổi khai trương cái kỹ nghệ nội trợ sản xuất bánh mì kẹp thịt gà. Anh đến hỏi Clara nhưng mẹ anh cũng chẳng biết tí gì về cô gái và đã bắt đầu quên cô, vì bà phải luôn sắp xếp ý nghĩ và trí nhớ cho phù hợp với cái thực tế không thể chối cãi rằng nhà của bà là cái quán trọ của mọi người, như bà thường nói, nên bà không có đủ tinh thần để có thể phàn nàn về việc người ta vắng mặt. Nicolás quyết định đi tìm cô, vì anh nhận thấy rằng sự có mặt như một cánh bướm của Amanda rất cần thiết cho mọi người ở trong nhà, và những cái ôm hôn như lửa và lặng lẽ của cô trong những căn phòng trống tại ngôi nhà lớn ở góc phố này, tại đó hai người quần nhau lăn lộn như hai con chó con mỗi khi Clara lơi lỏng việc canh phòng và Miguel lơ đãng đùa nghịch một mình hoặc ngủ khoèo trong một góc.
Nơi trú ngụ của Amanda cùng đứa em nhỏ đúng là một ngôi nhà thật già nua mà nửa thế kỷ trước có thể có được một chút huy hoàng lộng lẫy, nhưng cái đó đã mất đi cùng với việc mở rộng của thành phố về phía những triền cao của dãy Núi Dài. Đầu tiên những ngôi nhà đó do những nhà buôn Ả-rập chiếm cứ, họ đắp vào nhà những bức tranh hoành tráng bằng thạch cao sơn mầu hồng, sau đó, khi những người Ả-rập thiết lập những hiệu buôn bán của họ tại khu Nhà Thờ Thổ Nhĩ kỳ, thì chủ ngôi nhà biến nó thành nhà kho cho thuê và nhà trọ, chia nó ra thành những phòng nho nhỏ, thiếu ánh sáng, nghèo nàn, chẳng có tiện nghi dành cho những người có thu nhập ít. Nó có một địa dư không tưởng được của những lối vào nhỏ hẹp và ẩm ướt, lúc nào cũng lừng lên mùi súp súp-lơ và mùi bắp cải ninh. Bà chủ ngôi nhà trọ đích thân ra mở cửa, một người phụ nữ xấu xí, to đùng, có một bộ lòng ruột hùng hậu đẫy đà và đôi mắt phương Đông ti hí lóe sáng dưới những nếp nhăn như mỡ đã hóa thạch, và tất cả các ngón tay đều đeo nhẫn, và những dáng dấp giống như của một nữ tu sĩ trong thời thử thách ban đầu.
– Ở đây không cho tiếp khách thuộc giới tính khác - người phụ nữ đó nói với Nicolás.
Nhưng Nicolás nở ngay một nụ cười quyến rũ khó cưỡng được của anh, và cầm luôn lấy bàn tay bà ta hôn một cách chẳng ngại ngùng trên cái mầu sơn đỏ khé đã bong của những móng tay bẩn thỉu, bên cạnh những chiếc nhẫn, và tự giới thiệu mình là anh họ Amanda, cuối cùng bà ta bị thua, quặn mình cười ngặt nghẽo vẻ làm đỏm, rồi dẫn Nicolás đi qua những bậc thang phủ đầy bụi đất lên đến tầng ba và chỉ cho thấy cửa buồng của Amanda. Nicolás gặp cô gái nằm trên giường, quấn một chiếc khăn đen đã phai mầu, đang đánh cờ Đam với cậu em nhỏ Miguel. Cô gái thật xanh xao và gầy nhỏ, khó khăn mới nhận ra. Amanda nhìn anh không mỉm cười và cũng chẳng tỏ một cử chỉ đón tiếp niềm nở nào. Ngược lại, Miguel bước đến đứng trước mặt Nicolás, hai tay chống nạnh.
– Anh cũng đến đấy à - thằng bé nói.
Nicolás đến cạnh giường và cố gắng nhớ lại cô gái tóc đen rực rỡ Amanda, cô Amanda ngọt ngào và uốn lượn quanh co của những cuộc gặp gỡ trong bóng tối của những căn phòng bỏ vắng, nhưng chỉ thấy giữa lần len mỏng của tấm khăn san và tấm chăn trải giường mầu sám, một cô bé không quen, có đôi mắt ngơ ngác bỡ ngỡ đang ngắm nhìn anh với một vẻ nặng nề khó hiểu, và những chiếc vòng bằng bạc trông thật tang thương đeo trên bàn chân của một con chim hấp hối. Amanda gọi cậu em nhỏ. Miguel lại gần giường và cô chị thì thào một câu gì đó sát tai em. Cậu bé lẳng lặng chầm chậm bước ra phía cửa, và từ bực cửa, liếc mắt căm giận nhìn Nicolás rồi bước ra và khép cửa không một tiếng động.
– Tha lỗi cho anh, Amanda - Nicolás lắp bắp - Anh bận quá. Tại sao không báo cho anh biết em ốm?
– Em không ốm - cô trả lời - Em có mang.
Lời nói đó như một cái tát đau điếng đập vào mặt Nicolás. Anh ta lùi lại cho tới khi lưng chạm vào khuôn kính cửa sổ. Từ lần đầu tiên anh cởi quần áo Amanda, sờ mó trong bóng tối, lúng túng trong những tấm giẻ cách của bộ quần áo cải trang giả một nhà hiện sinh, run rẩy từ trước khi biết được rõ ràng những khe kẽ mà nhiều lần anh đã xốn xang chạm đến mà không tới được chỗ hiểu biết nó trong trạng thái trần truồng huy hoàng nhất của nó, anh cho rằng cô đã có kinh nghiệm khả dĩ có thể tránh cho anh trở thành người bố của gia đình trong lúc hai mươi mốt tuổi, và cô trở thành cô gái chửa hoang vào độ tuổi hai mươi nhăm. Amanda trước đã từng yêu và chính cô là người đầu tiên nói đến tình yêu tự do. Cô kiên trì giữ cái quyết định không thể đảo ngược là chỉ sống chung với nhau khi mà hai bên còn có cảm tình với nhau, không có ràng buộc gì và chẳng có hứa hẹn gì về tương lai, như thể Sartre và Beauvoir. Cái hiệp ước mà mới đầu Nicolás cho như một biểu hiện của sự lạnh lùng và vô cùng thành kiến đó có vẻ hơi chương chướng nhưng sau rồi lại thấy rất hay. Thoải mái và vui tươi, như thể tất cả mọi sự vật trên đời, anh lao vào những cuộc liên hệ giao hoan không tính toán đo lường hậu quả.
– Chúng mình làm thế nào bây giờ? - anh la lên.
– Phá thai, tất nhiên thôi. - cô gái trả lời.
Một cơn sóng nhẹ nhàng làm dịu hẳn người dâng trong lòng Nicolás. Anh lại gặp may một lần nữa, thoát khỏi bờ vực thẳm. Bao giờ cũng vậy, cứ khi nào anh tới bên một bờ vực thẳm, y như lại có người khỏe hơn hiện ra bên cạnh để đảm nhiệm giúp cho mọi việc, chẳng khác chi trong thời còn học tại trường trung học, khi anh trêu ghẹo bạn bè trong giờ nghỉ đến chỗ họ phát cáu nhẩy xổ vào nện, thì đúng ngay phút đó, khi anh sợ đến tê dại người đi, thì Jaime lại xuất hiện, bước lên biến sự kinh hoàng của anh thành nỗi mừng vui, khiến anh có thể ẩn ở đằng sau những chiếc cột trong hành lang để mà khích lệ anh và kêu réo chửi bới bạn, trong khi Jaime đổ cả máu mũi, bền bỉ như một cái máy lặng lẽ vung tay đánh đấm tất cả một bọn địch thủ. Giờ đây đến lượt Amanda nhẩy ra gánh vác trách nhiệm cho anh.
– Chúng mình có thể lấy nhau, Amanda, nếu em muốn - anh lắp bắp cho đỡ bẽ mặt.
– Không! - cô gái đáp lại ngay không chút lưỡng lự. - Em không yêu anh đến độ lấy nhau được đâu, Nicolás.
Tình cảm của Nicolás vụt chuyển sang một chiều khác vì khả năng đó đã không xẩy đến với anh. Từ trước cho đến lúc bấy giờ chưa bao giờ anh từng thấy mình bị từ chối, bị bỏ rơi, và trong từng cuộc tình còm anh đã phải dùng đến mọi thủ đoạn để lỉnh biến đi mà không gây quá nhiều thương tổn cho người con gái bị bỏ rơi. Anh nghĩ đến hoàn cảnh khó khăn hiện nay của Amanda, nghèo túng, cô đơn, với một đứa con mang trong bụng. Anh vẫn tưởng chỉ cần cô nói một lời thôi có thể làm thay đổi số phận của cô, khiến cho cô trở thành vị phu nhân đáng trọng của một người trong họ Trueba. Những tính toán vụt nẩy trong óc anh trong một phần giây, nhưng ngay lập tức anh cảm thấy nhục nhã và đỏ bừng mặt, chợt thấy mình chịu chìm trong những tình cảm đó. Vụt một cái trước mặt anh Amanda dường như một con người tuyệt diệu. Anh nhớ ngay đến tất cả những giờ phút đẹp đẽ mà hai người đã cùng chia sẻ, những lần cả hai nằm kềnh trên sàn nhà cùng hút chung một píp thuốc để rồi cùng choáng váng nôn oẹ một chút bên cạnh nhau, mỉm cười với nhau về cái thứ cỏ có vị như cứt ngựa khô và rất ít tác động gây mê mẩn, nhưng đã tăng cường hoạt động của năng lực mơ mộng thôi miên; anh nhớ đến những bài tập yôga và những giờ cả hai thiền định, ngồi trước mặt nhau hoàn toàn thư duỗi tinh thần, nhìn vào mặt nhau mà lẩm bẩm những lời theo chữ phạn tưởng như có thể đưa đến cõi Nát Bàn, nhưng thông thường chỉ có độc một tác động ngược lại, và kết thúc bằng sự lẩn trốn những con mắt nhìn của kẻ khác, họ chui rúc sau những bụi rậm trong vườn, quằn quại yêu nhau như hai người tuyệt vọng; anh nhớ đến những cuốn sách đọc dưới ánh sáng của những ngọn nến, ngập mình trong khói và trong say đắm; anh nhớ đến những đêm văn nghệ bất tận để thảo luận về những nhà triết học bi quan sau chiến tranh, hoặc tập trung ý chí vào việc tập luyện để chuyển động chiếc bàn gọi hồn, hai tiếng gõ là có, ba tiếng gõ là không, trong khi Clara nhìn hai người vẻ trêu đùa chế riễu. Anh lăn vào giường, cầu xin Amanda đừng bỏ rơi anh, tha thứ cho anh, hai người tiếp tục ở bên nhau như thể chẳng có gì xảy ra, cái đó chẳng qua chỉ là một tai nạn rủi ro không thể làm thay đổi được cái tính chất không thể xâm phạm được của mối liên hệ giữa hai người. Nhưng cô gái dường như chẳng nghe anh nói, lặng lẽ vuốt ve đầu anh bằng cử chỉ của một người mẹ xa xôi cách biệt.
– Vô ích, Nicolás ạ. Anh không thấy tâm hồn tôi đã già, còn anh vẫn còn là một đứa trẻ con đó sao? Anh sẽ mãi mãi vẫn là trẻ con - Amanda bảo anh.
Họ tiếp tục vuốt ve nhau, dửng dưng và làm tội nhau bằng những lời van xin, cầu khẩn và những kỷ niệm xưa. Họ nhấm nháp nếm cái vị cay đắng của một cuộc chia tay mà họ đã tiên cảm, nhưng vẫn còn có thể nhầm lẫn như thể một cuộc làm lành. Cô gái đứng dậy, bước ra pha một tách trà cho cả hai, và Nicolás nhìn thấy cô mặc chiếc váy lót cũ, kiểu như áo ngủ. Cô gầy đi nhiều và đôi bụng chân của cô trông thật thảm hại. Cô để chân trần đi trong phòng, chiếc khăn len khoác trên vai, tóc buông rũ rối, lúi húi bên chiếc đèn cồn đặt trên một chiếc bàn vừa dùng làm bàn viết, bàn ăn và bếp. Nhìn thấy sự lộn xộn trong gian phòng mà Amanda sống, Nicolás chợt nhận ra rằng cho tới lúc bấy giờ hầu như anh vẫn chưa hiểu biết gì về cô gái. Trước kia anh nghĩ có lẽ cô không còn bà con thân thuộc ngoài đứa em nhỏ, và sống bằng đồng lương rất ít ỏi, nhưng không có khả năng tưởng tượng nổi hoàn cảnh sống thực sự của cô thế này. Sự nghèo khổ đối với anh chỉ như một khái niệm trừu tượng và xa xôi, có thể liên tưởng tới những tá điền của trang viên Ba Cô Maria hoặc những người bệnh mà anh Jaime cứu trợ, những người mà chưa bao giờ anh có liên hệ trực tiếp. Amanda, cô Amanda thật gần cận và quen biết của anh, bỗng nhiên trở nên một người xa lạ. Nhìn những chiếc váy áo mà khi cô mặc vào như thể hóa trang thành một bà hoàng hậu đang treo trên đầu những chiếc đinh đóng trên tường, thật nghèo khổ như quần áo của một người ăn xin. Anh nhìn chiếc bàn chải răng cắm trong chiếc cốc đặt trên một chậu rửa mặt đã han gỉ, đôi giầy học sinh của Miguel bao nhiêu lần quét si rồi lại đánh si lại, đã méo mó mất cái hình dáng ban đầu, rồi đến chiếc máy chữ cũ kỹ bên cạnh chiếc bếp cồn, những cuốn sách đặt giữa những chiếc tách, và những khung kính cửa sổ bị vỡ phải dán bằng mảnh bìa tạp chí cắt ra. Thật là một thế giới khác, một thế giới mà chưa bao giờ anh ngờ có sự tồn tại của nó. Cho tới lúc bấy giờ, bên cạnh con đường phân chia một bên là những người nghèo thực thụ và ở mé bên kia là những người như anh, có một lớp người như Amanda ở giữa. Anh không hề biết tí gì về giai cấp trung gian lặng lẽ đang đánh vật để mà sống giữa sự nghèo túng nhưng vẫn mặc áo cổ cồn đeo cà-vạt và cái mong muốn vô vọng chạy đua với bè lũ sống huy hoàng thuộc giai cấp của anh. Anh cảm thấy lúng túng và hổ thẹn nghĩ đến rất nhiều trường hợp đã qua có lẽ Amanda đã phải thôi miên lừa dối họ để có thể khiến cho mọi người không thấy được cái nghèo khổ của cô trong ngôi nhà của dòng họ Trueba, và anh thì hoàn toàn vô ý thức không hề giúp đỡ chút gì cho cô cả. Anh nhớ đến những câu chuyện cô kể về cha cô, khi cô nói về thời thơ ấu nghèo khổ của mình, và khi ở vào độ tuổi của anh cô đã phải làm việc để nuôi mẹ và em, và cho đến bây giờ anh mới có thể khớp những chuyện về giáo dục xưa kia đó vào với thực tế hiện nay. Anh nghĩ, đấy cuộc đời Amanda như thế đó.
Hai người ngồi trên giường chia xẻ với nhau tách nước trà, vì chỉ có một chiếc ghế. Amanda kể cho anh nghe về quá khứ của mình, về gia cảnh mình, về một người cha nghiện rượu trước kia là giáo học tại một tỉnh miền Bắc, về một bà mẹ kiệt sức và buồn khổ vì làm lụng để nuôi sáu đứa con, và về bản thân cô, hầu như chưa tự chủ được mình đã phải rời khỏi nhà. Cô đã đến thủ đô năm mười lăm tuổi, ở nhà một người mẹ nuôi thật tốt bụng đã giúp cô một thời gian. Khi mẹ cô chết, cô về chôn cất bà và tìm Miguel, lúc đó còn là một đứa bé nằm trong tã. Từ đó trở đi cô đã làm lụng nuôi em như một người mẹ nuôi con. Về cha và những người còn lại trong gia đình, về sau cô cũng không còn được tin tức nữa. Nicolás cảm thấy trong tận cùng con người mình nổi lên cái mong muốn được bảo vệ cô, săn sóc trông nom cô, đền bù cho cô tất cả những sự thiếu thốn từ trước. Chưa bao giờ anh thấy yêu cô như thế.
Buổi tối hai người thấy Miguel trở về hai má đỏ bừng, lom khom cẩn thận và vui vẻ dấu món quà mà nó mang ở sau lưng. Đó là một túi bánh cho chị. Nó đặt túi bánh trên giường, âu yếm hôn chị, rồi đưa bàn tay nhỏ tí lên vuốt tóc chị, xếp lại mấy chiếc gối cho chị. Nicolás run lên, vì nhận thấy trong cử chỉ của thằng bé còn có nhiều dịu dàng, âu yếm, thương mến hơn tất cả những vuốt ve của anh từ trước đến nay đối với bất cứ người phụ nữ nào trong cuộc đời mình. Lúc đó anh mới hiểu điều mà Amanda đã muốn nói với mình. “Mình còn phải học nhiều lắm”, anh lẩm bẩm tự nhủ. Tì trán trên khuôn kính cửa sổ nhờn bẩn, anh tự hỏi mình, tới ngày nào đó có thể có khả năng cho đi y như thể mình mong nhận.
– Chúng mình làm thế nào đây? - anh hỏi mà không dám nói lên chữ kinh khủng đó.
– Hãy nhờ anh Jaime giúp cho - Amanda gợi ý.
Ngồi tựa trên chiếc giường cá nhân Jaime tiếp chú em trai trong hầm sách của mình, dưới ánh sáng của chiếc bóng đèn duy nhất treo từ mái nhà lòng thòng xuống. Anh đang đọc những bài thơ tình mười bốn câu của Nhà Thơ, lúc đó tên tuổi đã vang lừng trên thế giới, đúng như Clara đã đoán trước, ngay từ khi bà nghe ông ngâm ngợi bằng cái giọng địa phương của ông trong đêm văn nghệ tại ngôi nhà. Jaime cho rằng những bài thơ tình ngắn này có thể được gợi hứng bởi sự hiện diện của Amanda trong khu vườn của ngôi nhà lớn của dòng họ Trueba, nơi mà Nhà Thơ thường ngồi đọc những bài tình ca thất vọng vào giờ uống trà, trong thời kỳ ông còn là khách mời kiên trì trong ngôi nhà lớn ở góc phố. Anh rất ngạc nhiên về cuộc đến thăm của chú em vì, từ khi hai anh em ra khỏi trường trung học, càng ngày họ càng xa nhau hơn. Trong thời gian gần đây họ cũng chẳng còn mấy chuyện để nói với nhau, chỉ nghiêng đầu chào nhau trong những lần hãn hữu gặp nhau tại bực cửa của ngôi nhà. Jaime đã từ bỏ ý định lôi kéo Nicolás về với những công việc có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống.
Vẫn cảm thấy những cuộc giải trí phù phiếm của mình là một sự xúc phạm cá nhân, nên anh không chấp nhận việc Nicolás tiêu phí thì giờ và nghị lực vào những mơ mộng du hành trên quả cầu bay hoặc công cuộc thảm sát bầy gà, trong khi có bao nhiêu việc cần phải làm tại khu Nhà Từ Thiện. Nhưng Jaime đã thôi không còn hi vọng lôi kéo chú em tới bệnh viện cho nó tận mắt thấy nỗi đau đớn, để sự khổ cực của người khác có thể làm xúc động trái tim của con chim lữ hành, đồng thời cũng thôi không rủ nó đến những cuộc họp với đảng viên Đảng Xã Hội tại nhà Pedro García Con, ở khu phố cuối cùng của xóm thợ, nơi mà tất cả những cuộc hội họp ngày thứ Năm đều bị cảnh sát theo dõi. Nicolás riễu cợt những lo toan xã hội của anh, biện luận rằng chỉ có một chàng điên ngốc có khuynh hướng làm thày mở đường mới có thể chạy tìm những nỗi bất hạnh và sự xấu xa ở khắp nơi trên thế giới bằng một mẩu nến. Bây giờ, Jaime thấy chú em đứng trước mặt, nhìn mình với cái vẻ tội lỗi và cầu khẩn mà nó đã bao lần sử dụng để mong làm dấy lên tình yêu thương của mình.
– Amanda có thai - Nicolás nói không rào đón.
Anh chàng phải nhắc lại lần nữa vì Jaime vẫn bất động trong cái tư thế khó gần gụi muôn thuở của anh, không tỏ ra một chút vẻ đã nghe thấy lời chú em nói. Nhưng bên trong, một sự thất bại tan rã đang nhấn chìm con người anh xuống. Anh thầm gọi tên Amanda, bám lấy cái âm vang ngọt ngào của từ ngữ đó để tự khống chế mình. Anh rất cần thiết giữ nguyên được cái ảo vọng sống động nó cho phép anh tin rằng Amanda chỉ giữ một tình yêu trẻ con đối với Nicolás, mối tình giới hạn trong những cuộc dạo chơi vô tội, tay nắm trong tay, hoặc trong cuộc thảo luận xung quanh một chai rượu gừng, hoặc trong những cái hôn vụng trộm mà anh đã từng bắt gặp.
Anh không thể tin được sự thực đau lòng mà giờ đây anh đang chịu đựng.
– Đừng nói với tao chuyện đó. Tao không có dính gì đến chuyện đó cả - hầu như khó cất lên tiếng nói, anh trả lời.
Nicolás buông mình ngồi xuống chân giường, vùi mặt trong bai bàn tay.
– Anh phải giúp cô ấy, đề nghị anh! - Nicolás cầu khẩn.
Jaime nhắm mắt và thở gấp, có gắng để kìm giữ cái ý nghĩ điên cuồng nó đang thúc anh nhẩy xổ vào giết chết ngay đứa em, rồi chạy đến cưới luôn Amanda, và khỏi khóc òa vì sự bất lực của mình. Anh vẫn giữ trong óc hình ảnh của cô gái trẻ y như cô vẫn hiện ra trước mặt anh mỗi lần mà tình yêu buồn thảm hủy hoại anh. Anh trông thấy cô ra vào ngôi nhà như thể một luồng không khí trong sạch, tay dắt tay đứa em trai nhỏ, và anh nghe thấy tiếng cười của cô trên sân cảnh, ngửi thấy mùi hương thoang thoảng và dìu dịu từ làn da cô và tóc cô tỏa ra khi cô đi ngang bên cạnh dưới ánh nắng giữa trưa. Anh trông thấy cô y như anh vẫn tưởng tượng ra trong những giây phút rỗi rảnh mà anh mơ mộng. Và nhất là, anh nhớ đến cô trong cái giây lát duy nhất mà cô bước vào gian phòng ngủ của anh, và hai người, chỉ có hai thôi, trong sự thân mật kín đáo của thánh đường đó của mình. Đúng lúc đó, khi anh đang nằm dài đọc sách thì cô bước vào, không gõ cửa, mớ tóc dài buông xõa bay lung tung như tràn đầy cả căn hầm, và đôi cánh tay uốn lượn của Amanda chạm vào những cuốn sách chẳng cần một lời hỏi nào, đến độ cô dám lôi chúng ra khỏi những chiếc giá thiêng liêng, thổi bụi phủ trên chúng không có một li tôn trọng, rồi sau đó vất nó xuống giường, vừa đọc vừa nói lung tung không biết mệt, trong khi anh run lên vì mong muốn và ngạc nhiên, không còn tìm thấy trong tất cả vốn liếng từ vựng hàn lâm mênh mông của mình, chỉ một lời thôi để giữ cô lại, đến độ sau cùng cô từ biệt đi ra bằng một cái hôn lướt trên má anh, cái hôn đối với anh nóng như một vết bỏng, cái hôn duy nhất và ghê gớm, mà anh dùng để xây dựng một mê sung đầy mộng mị, trong đó hai người sống như hai ông bà hoàng thật yêu nhau.
– Anh biết chút ít về thuốc, Jaime. Cần anh giúp cho một chút. - Nicolás đề nghị.
– Tao là sinh viên, còn sơi mới trở thành thày thuốc. Tao không biết tí gì về cái đó cả. Nhưng tao đã trông thấy rất nhiều phụ nữ chết vì một tên ngu dốt đã liều lĩnh dính líu vào việc mổ xẻ này. - Jaime nói.
– Cô ấy tin vào anh. Nói rằng chỉ có anh mới giúp được cô - Nicolás nói.
Jaime nắm lấy cổ áo cậu em nhấc bổng lên, lay lay nó như thể một con rối và thét lên tất cả mọi lời sỉ vả chợt nẩy ra trong óc, cho tới khi chính những tiếng sụt sùi của anh buộc anh phải buông chú em ra. Nicolás nhẹ người, mếu máo. Anh hiểu Jaime và đã linh cảm thấy bao giờ cũng vậy, anh sẽ nhận vai trò người bảo trợ cho mình.
– Cám ơn anh!
Jaime cho chú em một cái tát, rồi đuổi ra khỏi buồng. Anh đóng trái cửa và nằm úp mặt trên giường run rẩy vì chính cái tiếng khóc khàn khàn và ghê sợ của những người đàn ông dùng để khóc cho những nỗi đau khổ vì tình.
Jaime hẹn hai người chờ anh đêm Chủ nhật tại phòng khám bệnh của khu Nhà Từ Thiện, nơi anh thực tập công việc của sinh viên. Anh có chìa khóa, vì bao giờ cũng là người ra về cuối cùng, cho nên có thể ra vào không khó khăn gì, nhưng anh cảm thấy như một tên ăn trộm, vì không giải thích được sự có mặt của mình tại đấy vào cái giờ thật khuya này. Từ ba hôm trước, anh đã nghiên cứu thật kỹ mỗi bước phải làm trong việc mổ xẻ mà anh sắp sửa phải làm. Anh đã có thể nhắc lại từng chữ trong sách theo trật tự thật chính xác, nhưng điều đó vẫn chưa làm cho anh thấy thật yên tâm. Anh run run. Cố không nghĩ đến những người phụ nữ mà anh trông thấy tới phòng cấp cứu của bệnh viện trong cơn hấp hối, đến những người phụ nữ mà anh đã chữa giúp cho khỏi bệnh tại chính căn phòng khám bệnh này, và những người phụ nữ khác, đã tái ngắt chết đi trên những chiếc giường này, với một dòng máu tuôn ra từ giữa bẹn, mà khoa học cũng chẳng làm thế nào tránh cho cuộc sống của họ khỏi chảy mất đi qua chiếc vòi mở toang kia. Anh đã hiểu biết bi kịch quá gần quá rõ, nhưng anh chưa từng phải đặt ra cho mình một cuộc đấu tranh tư tưởng trong việc cứu giúp một người phụ nữ tuyệt vọng. Với Amanda lại càng chẳng có bao giờ. Anh bật đèn, mặc vào người chiếc áo quàng trắng nghề nghiệp, sửa soạn dụng cụ, vừa làm vừa cao giọng kiểm tra từng chi tiết mà anh đã thuộc lòng. Anh có cái ao ước bất thình lình xẩy ra một sự đại bất hạnh, một thảm họa làm sụt hết tầng nền của bề mặt hành tinh này, để anh khỏi phải làm cái công việc mà anh sắp phải làm. Nhưng cho đến giờ đã định, chả có một sự kiện bất hạnh nào xảy ra cả.
Trong lúc đó Nicolás đi đón Amanda trong chiếc xe ô-tô cổ tích Covadonga hầu như khó khăn mới chạy chồm chồm lên được giữa một đám khói dầu cháy khét mù, nhưng vẫn còn dùng được trong những đoạn trường khẩn cấp. Cô gái ngồi đợi Nicolás trên chiếc ghế duy nhất ở trong buồng, tay cầm tay Miguel, cả hai chìm ngập trong một mưu đồ thỏa thuận chung, mà bao giờ Nicolás cũng cảm thấy mình bị gạt ra ngoài. Cô gái trông xanh tái và gầy nhom, do thần kinh bị căng thẳng vì mấy tuần qua chịu đựng những cơn khó ở và lo lắng, nghi ngờ, sợ sệt, nhưng cô bình tĩnh hơn Miguel, thằng bé nói vấp váp, không giữ được khỏi nôn nóng nhưng vẫn cố động viên chị bằng một vẻ vui mừng giả tạo và những câu đùa vô tích sự. Nicolás đưa tặng Amanda một chiếc nhẫn kim cương và hồng ngọc mà anh lấy trong phòng của mẹ, chắc rằng mẹ không bao giờ nhớ đến nó, và dù cho bà có nhìn thấy nó trên ngón tay của Amanda, bà cũng chẳng thể nào nhận ra nó, bởi có bao giờ Clara chú ý đến những vật trang sức đó. Amanda nhẹ nhàng đưa trả lại.
– Thấy không, Nicolás, anh thật trẻ con - không mỉm cười cô nói.
Đến lúc đi ra, thằng bé Miguel khoác lên người một tấm chăn khoác và bám lấy bàn tay của chị. Nicolás trước tiên phải dùng đến tài mê hoặc của anh, sau đến sức mạnh tàn ác để đặt được nó vào bàn tay của bà chủ nhà, người mà trong thời gian gần đây đã bị cái anh chàng gọi là anh họ của cô gái thuê nhà hoàn toàn mê hoặc, nên trái cả với những luật lệ của chính bà đặt ra, đêm hôm đó đã nhận coi giữ hộ thằng bé.
Trên suốt dọc đường đi hai người không nói, mỗi người chìm sâu trong nỗi lo sợ của chính mình. Nicolás nhận thấy sự hằn học của Amanda như thể một thứ xú uế nó đã dâng lên ngăn cách hai người. Mấy ngày gần đây, trong cô gái đã chín dần cái ý nghĩ về sự chết và cô ít sợ nó hơn là sợ nỗi đau đớn và nhục nhã mà đêm nay cô phải chịu. Anh lái chiếc Covadonga đi vào một khu không quen thuộc của thành phố, những đường phố nhỏ chật hẹp và tối tăm, đầy những đống rác bên cạnh những bức tường cao của những nhà máy, có cả một rừng ống khói khép kín cả lối đi, che kín cả mầu trời. Những con chó hoang đánh hơi tìm thịt thối, và những người ăn xin quấn những tờ báo nằm co quắp trên những bậc cửa ra vào. Nicolás ngạc nhiên khi thấy đó là cái sân khấu của những hoạt động hàng ngày của anh mình.
Jaime đứng đợi họ trước cửa phòng khám bệnh. Tấm áo choàng trắng và nỗi lo âu của chính anh làm cho anh có vẻ già hơn tuổi khá nhiều. Anh đưa hai người đi qua một dãy hành lang ngoằn ngoèo như ma trận lạnh buốt, cho tới tận gian phòng mà anh đã chuẩn bị, cố làm cho Amanda khỏi chú ý tới vẻ xấu xí tồi tàn của nơi đó, để cô không trông thấy những tấm khăn vàng khè xếp trong những chiếc bình chờ giặt vào ngày thứ Hai, những chữ tục tĩu nguệch ngoạc trên các bức tường, những viên gạch lát bị bong và những vòi và ống nước bị han gỉ từ đó nước luôn luôn nhỏ giọt ngày đêm không mệt. Đến trước cửa của khu này, Amanda đứng dừng lại với một vẻ sợ hãi: cô đã trông thấy bộ dụng cụ và chiếc bàn đẻ và những thứ mà từ trước đến nay chỉ là một ý nghĩ trừu tượng, và lởn vởn đến cái khả năng của sự chết, trong lúc này đã hiện thành hình dáng rõ ràng. Nicolás tái xanh mặt, nhưng Jaime cầm lấy tay anh và buộc cả hai bước vào.
– Đừng nhìn, Amanda! Tôi sẽ để cô ngủ, cô sẽ không cảm thấy gì cả - anh bảo cô gái.
Chưa bao giờ anh đánh thuốc mê cũng như tham dự vào một cuộc mổ sẻ. Là sinh viên anh chỉ hạn chế trong những công việc hành chính, làm thống kê, viết những tấm phiếu và giúp phụ trong việc chữa bệnh, chữa vết thương và những nhiệm vụ nho nhỏ khác. Anh cảm thấy còn sợ hãi hơn cả Amanda, nhưng cố giữ thái độ đàng hoàng, thoải mái mà anh thường thấy trong các vị thày thuốc, để cho người ta tin rằng mọi công việc như thế này chẳng qua chỉ là công việc thường ngày. Anh muốn tránh cho cô khỏi cái khổ phải tự cởi quần áo và tránh cho mình khỏi cái bồn chồn ngắm nghía cô, nên anh giúp cô nằm lên giường đẻ, để nguyên cả quần áo. Trong khi anh rửa tay và chỉ cho Nicolás cách thức cũng làm như anh, anh cố làm cho Amanda khỏi chú ý bằng câu chuyện vui về con ma Tây Ban Nha đã hiện vào người Clara trong một cuộc họp ngày thứ Sáu, rồi đến câu chuyện về cái kho báu ẩn kín trong nền nhà, và một số chuyện về gia đình mình: một lũ những người điên kỳ lạ trong nhiều thế hệ, và những con người mà cho đến ma quỷ họ cũng trêu ghẹo không tha. Nhưng Amanda không nghe anh nói, cô tái xanh như người toát dương, răng đánh vào nhau lập cập.
– Những sợi dây kia dùng làm gì? Em không muốn anh trói đâu! - cô run lên.
– Không, tôi không trói cô đâu. Nicolás sẽ đắp thuốc mê cho cô. Cứ bình tĩnh thở, đừng sợ hãi, và khi tỉnh dậy là chúng mình đã xong việc - đôi mắt của Jaime mỉm cười qua khe hở của chiếc mặt nạ.
Nicolás áp chiếc mặt nạ có thuốc mê vào cô gái, và vật cuối cùng mà cô trông thấy trước khi chìm vào trong đen tối hoàn toàn, là cái nhìn đầy yêu thương của Jaime mà cô tưởng rằng mình đang mơ thấy thế. Nicolás cởi quần áo của cô và buộc cô vào bàn đẻ, bụng nghĩ thế này còn tệ hơn cả một vụ cưỡng hiếp, trong khi anh Jaime đứng chờ với đôi tay đã đeo găng, cố gắng không trông thấy trong cô gái hình ảnh người phụ nữ vẫn chiếm lĩnh mọi tơ tưởng của mình, mà chỉ trông thấy ở cô một cơ thể như bao cơ thể phụ nữ đã bày qua trước mắt anh hàng ngày trên chính cái bàn đẻ này, với những tiếng kêu đau đớn. Anh bắt đầu công việc từ từ và cẩn thận, vừa làm vừa nhắc lại những việc mình phải làm, lẩm bẩm đọc lại toàn bài trong sách mà anh đã học thuộc lòng, mồ hôi chảy xuống mắt, anh chăm chú theo dõi nhịp thở của cô gái, sắc da của cô, để chỉ dẫn cho chú em phải đặt thêm ête mỗi lần cô lên tiếng rên, vừa làm anh vừa cầu mong sao cho đừng xảy ra một chuyện phiền toái nào, và trong khi lần dò vào tận nơi sâu kín nhất của cô gái, anh không rứt nguyền rủa thầm thằng em trong ý nghĩ, vì nếu đứa con này là của anh chứ không phải của Nicolás, nó sẽ được ra đời khỏe mạnh và lành lặn, chứ đâu phải tan nát thành từng mảng nhỏ để trôi xuống cống rãnh của phòng khám bệnh nghèo khổ này, và anh sẽ nuôi nấng và che chở cho nó, chứ đâu phải lôi nó từ trong tổ ra bằng những nhát dao mổ. Hai mươi lăm phút sau anh đã kết thúc công việc và ra lệnh cho Nicolás giúp anh mặc quần áo tử tế lại cho cô gái trong khi cô còn chưa tỉnh khỏi cơn mê, nhưng trông thấy cậu em run rẩy úp mặt vào tường, đang muốn mửa thốc tháo.
– Đồ khốn! - Jaime gầm lên - Vào ngay phòng tắm mà mửa hết tội lỗi của mày đi, rồi hãy ngồi chờ ở phòng đợi, vì còn phải chờ lâu đấy.
Nicolás loạng choạng đi ra và Jaime tháo găng tay và chiếc mặt nạ, cởi những sợi dây buộc Amanda, mặc áo tử tế cho cô, che kín những dấu vết máu của tác phẩm mình mới hoàn thành, và cất những dụng cụ tra tấn vừa rồi để cô khỏi lại trông thấy chúng. Sau đó anh bế cô gái lên, nếm náp cái thú vị lúc đó được thiết chặt người cô vào ngực mình, đem cô đặt vào một chiếc giường mà anh đã thay chăn trải sạch sẽ, thứ sạch nhất mà những người phụ nữ tìm đến phòng khám này để xin cứu chữa có thể có. Anh đắp kín chăn cho cô và ngồi xuống bên cạnh. Lần thứ nhất trong đời anh có thể thỏa thích ngắm cô. Cô gái bé nhỏ và dịu dàng hơn anh tưởng khi nhìn thấy cô đi lăng xăng khắp mọi nơi trong bộ đồ hóa trang của nhà nữ tiên tri và tiếng lanh canh của mấy món vòng trang sức, và đúng như điều anh thường ngờ tới, trong cái cơ thể gầy nhỏ của cô, những gióng xương hầu như không thể thấy giữa những khu gò nho nhỏ hoặc những lũng sâu thoai thoải trơn nhẵn thuộc những gì là phụ nữ của cô. Nếu không vì bộ tóc dài kỳ lạ để sõa tung và đôi mắt của loại nhân sư thì trông cô chỉ như khoảng mười lăm tuổi. Sự yếu đuối đáng thương của cô Jaime thấy thích thú hơn tất cả những tính cách trong con người cô từ trước đã từng làm cho anh mê mẩn. Anh thấy mình to gấp đôi cô và nghìn lần khỏe mạnh hơn cô, nhưng anh biết chắc ngay từ trước rằng anh sẽ thất bại, bị khuất phục ngay bởi cái mong muốn được âu yếm và che chở cho cô. Anh thầm rủa cái chủ nghĩa tình cảm vô địch của mình và cố sức để nhìn cô chỉ như nhìn người yêu của em trai mình, người con gái mà anh vừa giúp cho cái việc phá thai, nhưng ngay lập tức anh thấy cố gắng đó thật cũng vô ích, lại phải buông mình trong cái thú đau đớn, mong muốn được yêu cô. Anh vuốt ve đôi bàn tay xanh trong những ngón tay nhỏ nhắn, đôi dái tai cô, rồi vuốt ve cổ cô và ghé nghe tiếng rì rào khó nhận thấy của cuộc sống trong mạch máu của cô. Anh áp miệng vào gần đôi môi cô và hít hít mùi thuốc mê một cách thèm muốn, nhưng không dám đặt một cái hôn trên đôi môi đó.
Amanda dần dần tỉnh khỏi giấc mê. Thoạt đầu cô thấy rét, sau đó những cơn đau bụng như muốn nôn làm cho cô quằn quại. Jaime an ủi cô bằng cái tiếng nói bí hiểm mà anh vẫn dành nói với những con vật và với bọn trẻ nhỏ của ngôi bệnh viện nghèo này, cho đến khi cô bình tĩnh lại. Amanda bắt đầu khóc và anh tiếp tục vuốt ve để an ủi cô. Hai người im lặng, cô gái cảm thấy trong trạng thái vừa buồn ngủ ghê gớm vừa muốn nôn ọe, vừa buồn lo và cơn đau dữ dội dày vò trong bụng, còn anh thì muốn cho thời gian của đêm đó không bao giờ kết thúc.
– Anh tin rằng em còn có thể có con không? - cuối cùng cô hỏi.
– Tôi tin rằng có - anh trả lời - Nhưng hãy tìm cho chúng một người cha có trách nhiệm.
Cả hai cười nhẹ nhõm. Ngước nhìn anh, Amanda tìm trên khuôn mặt da nâu của anh có chút nào giống người em trai Nicolás, nhưng cô không thấy. Lần đầu tiên trong cuộc sống lang thang của mình Amanda cảm thấy mình được che chở và đảm bảo, cô thở dài dễ chịu và quên cả sự im ắng xung quanh, những bức tường vôi loang lổ, những chiếc tủ bằng kim loại lạnh ngắt, những dụng cụ đáng kinh hoàng, mùi thuốc tẩy uế và cả cái đau gay gắt đã nằm trong ruột gan cô.
– Anh làm ơn nằm xuống đây và ôm lấy em - cô đề nghị. Jaime rụt rè, bẽn lẽn ngả người trên chiếc giường hẹp, đưa đôi tay choàng lấy người cô gái. Anh cố giữ lặng yên và bình thản để không làm cho cô khó chịu và mình khỏi ngã. Anh có cái dịu dàng ngớ ngẩn của con người chưa bao giờ được yêu mà lúc đó phải sáng tạo ứng biến. Amanda nhắm mắt, khẽ mỉm cười. Hai người nằm như vậy, cùng nhau thở thật bình tĩnh, như thể hai anh em, cho đến khi bắt đầu rạng sáng, rồi ánh sáng trên khung cửa sổ dần dần rực rỡ mạnh hơn cả ánh sáng đèn. Lúc đó Jaime giúp cô gái đứng dậy, khoác chiếc áo ấm vào cho cô và dắt tay cô đến tận phòng đợi, tại đó Nicolás vẫn còn say ngủ trên một chiếc ghế.
– Dậy đi! Chúng ta đưa cô ấy về nhà để mẹ săn sóc cho. Tốt nhất là không để cho cô ấy ở một mình trong vài ngày - Jaime nói.
– Anh đã biết đấy, chúng tôi có thể tin cậy vào anh - Nicolás cảm động, cảm ơn.
– Tao không làm cái đó vì mày, mà vì cô ấy, thằng khốn ạ - Jaime quay lưng lầu bầu.
Tại ngôi nhà lớn ở gốc phố, Clara đón tiếp họ tự nhiên, không một câu hỏi, hoặc có thể bà đã hỏi và biết qua những quân bài hay chiếc bàn gọi hồn ma. Mấy người phải gọi cửa và đánh thức mẹ dậy vì lúc đó mới vừa sáng, chưa ai dậy.
– Mẹ ơi, mẹ hãy giúp cho Amanda - Jaime hỏi mẹ với cái chắc chắn mẹ sẽ đồng tình giúp đỡ trong vấn đề đó của họ - Cô ấy ốm và sẽ ở lại nhà ta một vài ngày.
– Còn Miguel thì sao? - Amanda hỏi.
– Tôi sẽ đi đón nó về đây - Nicolás nói rồi đi ra.
Mọi người sửa soạn một trong những phòng dành cho khách để Amanda ở. Jaime lấy nhiệt độ cho cô và bảo cô phải nằm nghỉ. Anh làm như định rút lui, nhưng vẫn đứng trên bực cửa, lưỡng lự. Vừa quay mình anh thấy Clara hai tay bưng một khay cà-phê cho ba người.
– Có lẽ chúng con có nhiệm vụ phải giải thích để mẹ rõ, mẹ ạ - Jaime thì thầm.
– Không, con ạ - Clara vui vẻ trả lời - Nếu đó là một tội, mẹ muốn con đừng kể ra với mẹ thì hơn. Chúng ta phải lợi dụng hoàn cảnh này để bồi dưỡng cho Amanda, hiện đang cần như vậy.
Bà bước ra, và Jaime đi theo sau. Anh nhìn thấy mẹ bước đi trong dãy hành lang, chân để trần, tóc buông sõa sau lưng, người quấn trong tấm áo trắng mặc trong nhà, anh nhận thấy mẹ mình không cao và khỏe như đã từng trông thấy khi anh còn thơ ấu. Anh đưa tay nắm vai mẹ giữ lại. Bà quay đầu lại mỉm cười, và Jaime ôm chầm lấy bà, rồi ép sát vào ngực mình, rồi dụi dụi chiếc cằm râu ria đang đòi phải cạo vào trán mẹ. Đó là lần đầu tiên anh vuốt ve âu yếm mẹ một cách bất thần, kể từ khi anh còn là một đứa con nít rúc đầu vào ngực mẹ đòi bú, và Clara cũng ngạc nhiên nhận thấy sức vóc vạm vỡ của con trai mình, với bộ ngực của lực sĩ cử tạ và hai cánh tay như hai chiếc búa ép chặt lấy bà trong một cái ôm đáng sợ. Cảm động và sung sướng, bà tự hỏi thầm tại sao có thể nào mà người đàn ông to lớn râu ria lởm chởm với sức khỏe như con gấu kia, và ngây thơ như con chim non kia, lại có lần đã từng nằm trong bụng mình, cùng với một đứa bé khác nữa.
Mấy ngày sau đó Amanda lên cơn sốt. Jaime sợ hãi, trông cô từng giờ và cho cô uống sulfa. Clara săn sóc cô. Bà không quên rằng Nicolás vẫn hỏi thăm cô một cách kín đáo, nhưng không có một dấu hiệu nào muốn vào thăm cô, ngược lại Jaime đóng cửa phòng quanh quẩn với Amanda, cho cô mượn những cuốn sách yêu thích nhất, và đi lởn vởn như kẻ dở người, nói những câu nói chẳng đâu vào đâu, và lang thang quanh ngôi nhà như chưa từng bao giờ làm thế, đến độ quên cả cuộc họp của những người xã hội vào ngày thứ Năm.
Amanda như vậy đã trở thành một người trong gia đình trong một thời gian, và cậu bé Miguel, trong một trường hợp đặc biệt, nấp kín trong tủ áo, đã được trông thấy Alba ra đời tại ngôi nhà của họ nhà Trueba, và cậu không bao giờ có thể quên được cái cảnh trọng đại và ghê gớm mà cô bé xuất hiện trên đời, quấn tròn trong đám lầy nhầy vẩn máu, trong tiếng kêu thét của mẹ cô và sự náo động của những người phụ nữ xúm quanh người đẻ.
Trong khi đó Esteban Trueba đã làm một cuộc du hành sang Bắc Mỹ. Mệt mỏi vì bệnh đau xương và căn bệnh bí mật mà chỉ riêng ông nhận thấy, ông quyết định đi tìm những người bác sĩ ngoại quốc khám chữa cho mình, vì ông đã sớm kết luận rằng những ông bác sĩ Mỹ La-tinh tất cả chỉ là một lũ lang băm gần gũi với bọn phù thủy địa phương hơn là với những người khoa học. Bệnh teo bé lại của ông rất tế nhị, rất chậm chạp và kín đáo, khiến cho ngoài ông ra không ai có thể thấy được. Ông phải mua những đôi giầy nhỏ hơn một số, phải cắt ngắn ống quần và xén bớt cánh tay áo sơ mi của mình. Một hôm ông đội chiếc mũ rộng vành mà ông thường dùng trong suốt mùa hè, thì thấy nó chùm kín cả hai tai, và từ đó ông kinh hãi suy luận rằng nếu bộ óc ông cũng đã teo lại, thì có thể cả tư tưởng của ông cũng co nhỏ đi theo. Mấy ông bác sĩ người Mỹ đo người ông, cân ông từng li từng tí, hỏi ông bằng tiếng Anh, tiêm vào người ông những chất lỏng bằng một mũi kim và rút những chất lỏng trong người ông ra bằng một mũi kim khác, chụp ảnh ông, lộn cả người ông như lộn một chiếc găng tay, đến độ nhét cả vào hậu môn ông một chiếc bóng đèn nữa. Sau hết họ kết luận rằng đó chỉ là căn bệnh thuần túy do ông nghĩ và tưởng tượng ra thôi, rằng ông đừng nghĩ đến việc mình đang teo bé lại, rằng ông vẫn có cái tầm cỡ như cũ, và chắc hẳn có lần ông đã nằm mơ thấy mình cao một mét tám mươi và đi giầy số bốn mươi hai. Cuối cùng Esteban Trueba mất kiên nhẫn, trở về tổ quốc và sẵn sàng không chú ý gì đến vấn đề thân hình nữa, vì tất cả những chính khách vĩ đại của lịch sử đều có thân hình bé nhỏ, từ Napoleon cho đến Hitler. Khi về tới nhà, ông trông thấy Miguel đang đùa nghịch trong vườn và Amanda gầy hơn và tai to hơn, không đeo vòng cổ và vòng tay, ngồi cùng Jaime trên sân cảnh. Ông không hỏi, vì đã quen nhìn thấy những người xa lạ đối với gia đình vẫn sống dưới mái nhà mình.