Người Ai Cập, Quyền lực và Tình yêu

Lượt đọc: 604 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sách thứ tư
Nefernefernefer
att

❖ 1 ❖

Từ sáng sớm, tôi đã đến nhà Nefernefernefer nhưng nàng ta còn ngủ và đám gia nhân cũng chưa dậy. Tôi đánh thức chúng, chúng chửi bới và hắt nước bẩn vào đầu tôi. Vì vậy tôi ngồi ở cổng như một kẻ ăn xin cho đến khi nghe thấy tiếng đi lại và tiếng động trong nhà, tôi mới lại thử đi vào.

Nefernefernefer nằm trên giường, khuôn mặt thanh tú và nhợt nhạt, đôi mắt còn đượm màu xanh xám vì rượu.

- Sinuhe, cậu làm tôi phát mệt, - nàng ta nói. - Quả thực tôi rất mệt mỏi với cậu. Cậu muốn gì?

- Tôi muốn ăn uống và ân ái cùng nàng, - tôi nói, tim buồn nặng trĩu, - nàng đã hứa như thế.

- Đấy là hôm qua, còn hôm nay là một ngày mới.

Nàng ta nói khi nô tỳ cởi bộ đồ nhàu nhĩ của nàng ra, xức dầu và xoa bóp chân tay cho nàng. Rồi nàng ta nhìn mình trong gương, vẽ mặt, đội mái tóc giả lên đầu rồi lấy ra một chiếc trâm cài trán có những viên ngọc và đá quý đính chìm vào lớp vàng cũ, cài lên trán.

- Chiếc trâm của tôi tuyệt đẹp, - nàng ta nói. - Chắc chắn là nó xứng với giá của nó, vậy nên tôi đang rất mệt, tay chân rã rời như thể đã lăn lộn suốt đêm.

Nàng ta ngáp ngắn ngáp dài và uống bát rượu để lấy lại sức. Nàng ta cũng mời tôi rượu nhưng rượu không có vị gì khi tôi chằm chặp nhìn nàng.

- Vậy là hôm qua nàng đã dối tôi, - tôi nói. - Nàng không chịu vui thú cùng tôi đâu phải vì nàng có tháng.

Nhưng tôi nói thế chỉ vô ích bởi trong thâm tâm tôi đã biết điều đó từ hôm qua.

- Tôi nhầm, - nàng ta nói, - nhưng theo kỳ kinh thì đáng lẽ tôi phải thấy rồi. Tôi đang rất lo vì có thể cậu đã làm tôi mang bầu, Sinuhe ạ, khi tôi mềm nhũn ra trong vòng tay cậu và cậu đã làm quá mạnh với tôi.

Nhưng nàng ta mỉm cười khi nói và đắc chí nhìn tôi, vì vậy tôi biết nàng ta chỉ nhạo báng tôi.

- Chiếc trâm của nàng chắc được tìm thấy trong mộ của các vị vua ở Syria? - Tôi hỏi. - Tôi nhớ hôm qua nàng đã nói thế với tôi.

- À, - nàng ta mệt mỏi thốt lên, - quả thật chiếc trâm cài trán được tìm thấy dưới gối trên giường của thương gia Syria nhưng cậu không phải lo, bởi ông ta là một tay bụng phệ, to béo như lợn và phả ra mùi hành. Tôi không muốn gặp ông ta nữa sau khi đã có được thứ tôi muốn.

Nàng ta cởi bộ tóc giả và tháo chiếc trâm ra, hờ hững thả chúng xuống sàn cạnh giường rồi lại nằm xuống giường. Đỉnh đầu của nàng ta thật mịn và đẹp khi nàng để lộ ra trước ánh mắt tôi. Rồi nàng ta duỗi thẳng người và đưa hai tay ra sau cổ.

- Tôi yếu đuối và mệt mỏi, Sinuhe ạ, - nàng ta nói. - Cậu đang lợi dụng sự mệt mỏi của tôi để nhìn tôi như thế này khi tôi không đủ sức ngăn cậu. Cậu nên nhớ tôi không phải là loại đàn bà đáng khinh, mặc dù tôi sống một mình và phải giữ phẩm giá của mình.

- Nàng biết tôi không còn món quà nào để tặng nàng vì nàng đã sở hữu tất cả mọi thứ tôi có.

Tôi nói và cúi đầu xuống mép giường, cảm nhận mùi dầu và mùi da của nàng. Nàng đưa tay chạm vào tóc tôi nhưng nhấc tay ra ngay rồi bật cười và ngọ ngoạy đầu khi đang nằm.

- Lũ đàn ông mới dối trá và quỷ quyệt làm sao, - nàng ta nói. - Cả cậu cũng lừa dối tôi nhưng tôi không thể làm gì được với việc tôi thích cậu và tôi quá yếu đuối. Có lần cậu đã nói vòng tay của tôi nóng hơn lửa nhưng điều đó không đúng. Cậu thử xem, nó thật mát mẻ và dịu dàng với cậu. Cậu cũng có thể đưa tay vuốt ve vú tôi vì chúng mệt mỏi và muốn được cậu vuốt ve.

Nhưng khi tôi muốn ân ái cùng nàng thì nàng ta ẩn tôi ra rồi ngồi bật dậy và nói với vẻ bực tức:

- Tôi yếu đuối và đơn độc, song tôi không cho phép một người đàn ông dối trá ăn nằm với mình. Bởi vì cậu đã giấu tôi, cha cậu, Senmut, có một ngôi nhà ở khu phố nghèo gần bến cảng. Ngôi nhà không mấy giá trị, nhưng mảnh đất đó nằm gần cầu cảng và trong nhà hẳn phải có thứ gì đó bán được ngoài chợ. Tôi có thể ăn uống và ân ái cùng cậu hôm nay nếu cậu trao cho tôi tài sản đó, vì không ai biết ngày mai chuyện gì sẽ đến và tôi phải giữ danh giá của mình.

- Tài sản của cha tôi không phải là tài sản của tôi, - tôi giật mình nói. - Nàng không thể đòi hỏi từ tôi thứ không phải của tôi, Nefernefernefer ạ.

Nàng ta nghiêng đầu và nhìn tôi với đôi mắt màu xanh lá cây, khuôn mặt nàng nhợt nhạt và nhỏ bé khi nói:

- Tài sản của cha cậu là tài sản hợp pháp của cậu, Sinuhe ạ, cậu biết rõ điều đó. Vì cha mẹ cậu không có con gái nên quyền thừa kế thuộc cả về con trai và cậu là con trai duy nhất của họ. Cậu cũng giấu tôi cha cậu bị mù, nên ông ấy đã giao con dấu của ông cho cậu và cậu có quyền trông coi, định đoạt tài sản đó như thể nó là của cậu vậy.

Đó là sự thật, vì thị lực kém đi, bố tôi, Senmut, đã trao cho tôi con dấu của ông và yêu cầu tôi coi sóc tài sản và đồ dùng trong nhà giúp ông, bởi ông không còn nhìn thấy và tự viết được tên mình. Kipa và ông cũng thường nói ngôi nhà cần được bán với giá hời để họ có thể mua một trang trại nhỏ ở ngoại ô và sống ở đó cho đến ngày đi xuống mồ và bắt đầu cuộc hành trình vào cõi vĩnh hằng.

Tôi không nói được lời nào, nỗi kinh hoàng khủng khiếp tràn ngập tâm trí khi nghĩ rằng tôi có thể phản bội cha mẹ yêu kính của mình. Nhưng Nefernefernefer nheo mắt lại và nói:

- Hãy ôm lấy đầu tôi và chạm môi cậu vào hai bầu vú vì cậu có gì đó khiến tôi mềm yếu, Sinuhe ạ. Tôi sẽ quên hết lợi lộc của mình vì cậu và chúng ta sẽ mây mưa cả ngày hôm nay nếu cậu trao cho tôi tài sản của cha cậu, mặc dù nó chẳng đáng bao nhiêu.

Tôi ôm đầu nàng ta trong tay, nó thật trơn tru, nhỏ bé trong tay tôi và cơn dục vọng không thể diễn đạt bằng lời bùng lên chế ngự tôi.

- Được, hãy làm như nàng muốn.

Tôi nói và tiếng của tôi khản đục trong tai tôi. Nhưng khi tôi muốn ấn nàng xuống, nàng ta nói:

- Cậu sẽ vào ngay được nhà mình, nơi cậu đã ở, nhưng trước tiên hãy tìm một thư lại am tường luật pháp để viết các giấy tờ cần thiết, bởi tôi không tin lời hứa của đàn ông vì họ luôn dối trá và tôi phải giữ thanh danh của mình.

Tôi đi mời ký lục, và mỗi bước rời xa Nefernefernefer là một lần tôi đau khổ nên tôi giục viên ký lục làm nhanh khế ước, đóng ấn triện của cha tôi rồi viết tên ông vào bản ký lục để viên ký lục có thể gửi ngay khế ước đến văn khố hoàng gia. Nhưng tôi không còn lấy một mẩu bạc hay một đồng để trả công cho viên ký lục, tuy không hài lòng nhưng ông ta cũng đồng ý đợi đến khi tài sản được bán mới lấy tiền công và điều này cũng được ghi vào giấy.

Nhưng khi tôi quay trở lại, đầy tớ nói Nefernefernefer đã ngủ và tôi buộc phải đợi đến khi nàng ta thức dậy vào tối muộn. Cuối cùng nàng ta cũng tỉnh giấc và tiếp tôi. Tôi đưa cho nàng ta giấy của viên ký lục và nàng ta dửng dưng nhét nó vào chiếc hộp gỗ mun của mình.

- Cậu rất bướng bỉnh, Sinuhe ạ, - nàng ta nói, - nhưng tôi là người phụ nữ giàu lòng tự trọng và luôn giữ lời hứa. Vì vậy lấy đi, vì nó cậu đến mà.

Nàng ta nằm xuống giường và dang rộng vòng tay nhưng không ôm ấp, âu yếm tôi mà quay đầu sang một bên, nhìn mình trong gương rồi giơ tay che cái ngáp khiến cho cơn thèm khát khoái lạc của tôi trở nên nguội lạnh. Khi tôi đứng dậy khỏi giường, nàng ta bảo:

- Sinuhe, cậu đã nhận được cái cậu muốn, giờ hãy để tôi yên vì cậu làm tôi chán ngấy. Cậu chẳng đem lại cho tôi tí khoái lạc nào, vừa vụng về vừa mạnh và tay cậu làm tôi đau. Nhưng tôi không muốn kể lể những điều tôi phải chịu vì dù sao cậu cũng không biết làm tốt hơn. Giờ cậu để tôi yên. Hôm khác cậu có thể quay lại, mặc dù có thể cậu cũng đã chán tôi rồi.

Như vỏ trứng rỗng, tôi lảo đảo ra khỏi nhà nàng ta và trở về nhà mình. Tôi muốn vào phòng tối yên tĩnh để có thể lấy tay ôm đầu than khóc cho nỗi đau buồn và thất vọng của mình nhưng một người khách với bộ tóc giả trên đầu và trang phục Syria sặc sỡ đang ngồi trên hiên nhà. Ông ta hống hách chào tôi và xin tôi lời khuyên với tư cách một danh y.

- Tôi không còn tiếp bệnh nhân nữa, - tôi nói, - vì nhà này không phải của tôi.

- Chân tôi có những cục u, - ông ta nói, chen cả những từ Syria vào lời nói của mình. - Lão nô lệ thông thái của anh, Kaptah, đã giới thiệu với tôi anh là người chữa u bướu giỏi. Vì vậy, hãy giải thoát tôi khỏi nỗi khổ của mình và anh sẽ không hối tiếc.

Ông ta bướng bỉnh đến nỗi cuối cùng tôi phải dẫn ông ta vào phòng khám và gọi Kaptah mang nước nóng đến cho tôi rửa ráy. Nhưng Kaptah biến đâu mất và chỉ khi xem xét đôi chân Syria, tôi mới nhận ra đó là đôi chân có những nốt sưng phồng của Kaptah. Kaptah bỏ tóc giả ra, để lộ khuôn mặt mình rồi cười to với tôi.

- Ngươi làm trò quái quỷ gì vậy? - Tôi hỏi và lấy gậy đánh lão khiến tiếng cười của lão đột nhiên biến thành tiếng khóc. Nhưng sau khi tôi ném cây gậy đi, lão nói:

- Bởi vì tôi không còn là nô lệ của ông mà là nô lệ của người khác, tôi có thể nói thẳng là tôi sẽ bỏ trốn, vì thế tôi thử xem ông có nhận ra tôi trong trang phục này không.

Tôi nhắc ông ta về những hình phạt răn đe những nô lệ bỏ trốn và nói chắc chắn ông ta sẽ bị bắt một lúc nào đó, vì ông ta lấy gì nuôi mình chứ. Nhưng ông ta nói:

- Đêm qua, sau khi uống rất nhiều bia tôi đã nằm mơ. Trong giấc mơ, ngài, ông chủ của tôi, nằm trong một lò lửa nhưng khi tôi đến, tôi đã nói với ông những lời cay nghiệt, nắm cổ dúi ông xuống dòng nước chảy xiết và nó cuốn ông đi. Tôi ra chợ và hỏi người giải mộng rằng giấc mộng của tôi ám chỉ điều gì, ông ta nói chủ của tôi đang gặp nguy hiểm và tôi sẽ bị quật mấy gậy vì sự hỗn xược của mình, ông ta còn nói ông chủ của tôi có một hành trình dài phía trước. Giấc mộng đó là thật, bởi vì ông chủ của tôi ơi, chỉ cần nhìn vào khuôn mặt ông là có thể biết rằng ông đang gặp nguy hiểm lớn, những gậy ông đánh tôi chứng tỏ giấc mộng này đúng. Vậy nên tôi sắm cho mình bộ quần áo này để không ai nhận ra, bởi vì chắc chắn tôi sẽ đi theo ông chủ.

- Lòng trung thành của ngươi làm ta xúc động, Kaptah ạ, - tôi nói, cố tỏ ra hài hước. - Có thể phía trước ta là một cuộc hành trình dài nhưng nếu đúng vậy, nó sẽ đưa ta đến Nhà Chết, và ngươi chắc sẽ không muốn theo ta trong hành trình đó.

- Không ai biết trước được ngày mai, - Kaptah táo tợn nói. - Ông vẫn còn thơ dại và tái nhợt như bê con chưa được mẹ liếm sạch, ông chủ của tôi ạ. Vì thế tôi không dám để ông một mình đi trên cuộc hành trình gian khó đến Nhà Chết và miền tây. Có thể tôi đi theo ông chủ, nếu việc xảy ra như thế, để giúp ông với kinh nghiệm của mình, bởi lòng tôi đã gắn bó với ông bất chấp mọi sự điên rồ của ông và cũng bởi vì tôi chưa bao giờ có một đứa con trai, mặc dù tôi có thể là cha của nhiều đứa trẻ. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy chúng, vì thế tôi muốn nghĩ rằng ông là con trai tôi. Tôi nói điều đó không phải để báng bổ ông, mà chỉ cho thấy tôi yêu thương ông đến thế nào.

Sự táo tợn của ông ta đã đi quá đà, nhưng tôi không thèm lấy gậy quất ông nữa vì ông không còn là đầy tớ của tôi. Tôi vào phòng mình, lấy quần áo trùm đầu và ngủ như chết cho đến sáng, bởi vì khi sự xấu hổ và hối hận của người ta đủ lớn, nó như một loại thuốc mê. Nhưng điều trước tiên tôi nhớ đến khi tỉnh dậy vào sáng hôm sau là đôi mắt và thân hình của Nefernefernefer, như thể tôi đang ôm cái đầu nhẵn trơn của nàng ta trong tay và vú của nàng ta dưới ngực mình. Vì sao lại thế, tôi không thể nói và có lẽ đúng là nàng ta đã bỏ bùa tôi theo cách mà tôi không biết, mặc dù tôi không còn tin vào ma thuật nữa. Tôi chỉ biết mình đã tắm rửa, mặc quần áo và xức dầu thơm để đi đến nhà nàng.

❖ 2 ❖

Nefernefernefer đón tôi bên ao sen trong vườn. Đôi mắt nàng ta sáng trong, vui tươi và còn xanh hơn nước sông Nile. Nàng ta reo lên khi nhìn thấy tôi:

- Ôi, Sinuhe! Cậu vẫn quay trở lại với tôi ư? Có lẽ tôi vẫn chưa già và xấu, vì cậu vẫn chưa chán tôi. Cậu muốn gì ở tôi?

Tôi nhìn nàng ta như người sắp chết đói nhìn miếng bánh mì và nàng ta nghiêng đầu, chợt trở nên bực tức và nói:

- Sinuhe, Sinuhe, lẽ nào cậu lại muốn hoan lạc tiếp với tôi? Đúng là tôi sống một mình, nhưng tôi không phải là gái làm tiền và tôi phải giữ thanh danh.

- Hôm qua tôi đã trao cho nàng tất cả tài sản của cha tôi, - tôi nói, - giờ đây cha tôi đã trở thành người đàn ông nghèo mặc dù ông là một lương y đáng kính. Ai biết được, có khi ông phải làm kẻ ăn xin mù lòa vào những ngày cuối đời mình và mẹ tôi trở thành người giặt thuê.

- Hôm qua là hôm qua, còn hôm nay là hôm nay, - Nefernefernefer nói và nhìn tôi, đôi mắt lim dim. - Nhưng tôi có đòi hỏi gì đâu, tôi cho phép cậu ngồi xuống cạnh tôi và được nắm tay tôi nếu cậu muốn. Hôm nay tôi rất vui và muốn chia sẻ chí ít là với cậu niềm vui của mình, song tôi không dám ân ái cùng cậu.

Nàng ta nhìn tôi cười giễu cợt và nhẹ nhàng đưa tay xoa ngực mình.

- Cậu không buồn hỏi tại sao tôi vui, - nàng nói vẻ trách móc, - nhưng tôi vẫn có thể kể điều đó với cậu, rằng có một gã quý phái từ miền Hạ đến thành phố, mang theo bộ bát vàng nặng gần cả trăm deben, trên bát vẽ nhiều hình ảnh đẹp và vui nhộn. Thực ra ông ta già và gầy đến nỗi xương ông ta có thể chọc vào bụng tôi, nhưng tôi vẫn nghĩ chỉ ngày mai thôi, bộ bát đĩa bằng vàng đó sẽ làm đẹp nhà tôi. Vì tôi không phải là người đàn bà đáng khinh bỉ và tôi phải bảo vệ thanh danh của mình.

Thấy tôi không nói gì, nàng ta ra bộ thở dài rồi mơ màng nhìn những đóa sen và hoa trong vườn. Sau đó, nàng từ từ cởi xiêm áo và đầm mình xuống ao để bơi. Đầu nàng nhô lên khỏi mặt nước cạnh khóm sen, nhìn còn đẹp hơn cả hoa. Nàng ta đến gần, đong đưa trước mặt tôi rồi vươn cánh tay ra sau cổ và nói:

- Hôm nay sao cậu ít lời vậy, Sinuhe? Chả lẽ tôi đã vô tình làm cậu buồn? Nếu có thể làm gì để sửa chữa lỗi đó, tôi sẽ sẵn lòng.

Lúc đó tôi không thể im lặng được nữa:

- Nàng biết rõ tôi muốn gì, Nefernefernefer ạ.

- Mặt cậu đỏ bừng và tĩnh mạch phập phồng trên thái dương kìa, Sinuhe! - Nàng ta nói. - Có lẽ tốt hơn nếu cậu cởi quần áo và xuống ao tắm mát với tôi, vì hôm nay thật là một ngày nóng nực. Ở đây không ai nhìn thấy chúng ta nên cậu không phải e ngại.

Tôi cởi quần áo, lội xuống nước và đến bên nàng ta. Dưới làn nước, hông nàng chạm vào hông tôi. Nhưng khi tôi muốn ôm nàng, nàng ta vừa cười vừa tránh ra và hắt nước vào mắt tôi.

- Tôi biết rõ cậu muốn gì, Sinuhe ạ, - nàng ta nói, - mặc dù tôi quá thẹn thùng để nhìn cậu. Nhưng trước tiên cậu phải tặng tôi một món quà, vì cậu quá biết tôi không phải là người đàn bà đáng khinh.

Tôi phát khùng và hét lên:

- Nefernefernefer, nàng thật điên rồ! Nàng biết rõ là nàng đã tước đi mọi thứ của tôi. Tôi thấy hổ thẹn và không bao giờ dám gặp bố mẹ mình. Tuy vậy, tôi vẫn là một danh y và tên tôi được ghi trong sách của Nhà Sống. Có thể thỉnh thoảng tôi vẫn còn kiếm được đôi chút để có thể tặng nàng một món quà xứng đáng nhưng hãy rủ lòng thương tôi, bởi vì tuy ở trong nước mà cơ thể tôi như bị lửa thiêu đốt và tôi cắn tay đến chảy máu khi nhìn nàng.

Nàng ta trườn đi trong nước rồi nhẹ nhàng rập rờn ở đó, đôi vú như hai bông hoa đỏ nhú lên từ mặt nước.

- Thầy thuốc hành nghề bằng tay và mắt, phải không, Sinuhe? - Nàng ta nói. - Không có tay và mắt, cậu khó có thể là danh y ngay cả khi tên cậu được viết trong sách của Nhà Sống. Tôi có thể ăn uống và truy hoan cùng cậu hôm nay nếu cậu để người ta moi mắt và chặt tay để tôi có thể treo chúng lên dầm đỡ của cánh cửa vào phòng tôi như biểu tượng của chiến thắng, cho thấy khách của tôi tôn trọng tôi và tôi không phải là loại đàn bà đáng khinh bỉ.

Nàng ta nhìn tôi từ dưới đôi mí mắt được tô màu xanh lá cây, tiếp tục lạnh lùng:

- Không, tôi chẳng thèm để ý đến những thứ đó vì tôi làm gì với đôi mắt của cậu chứ, còn đôi tay cậu chỉ bốc mùi hôi thối, kéo ruồi vào phòng tôi thôi. Chả lẽ chúng ta không còn nghĩ ra thứ gì để cậu tặng tôi sao? Vì cậu làm tôi mềm rũ đi, Sinuhe ạ, và tôi đang cồn cào khi nhìn cậu trần truồng trong ao. Thực ra cậu vụng về và thiếu kinh nghiệm nhưng tôi nghĩ nội trong hôm nay, tôi có thể dạy cậu nhiều điều cậu chưa biết, bởi vì tôi biết vô số cách để làm đàn ông thỏa mãn và đàn bà cũng có thể đê mê. Hãy nghĩ về việc đó một chút, Sinuhe.

Nhưng khi tôi lại gần, nàng ta bật dậy và rời đi rồi đến đứng giũ nước trong bóng cây.

- Tôi chỉ là một phụ nữ yếu đuối, còn đàn ông thì xảo quyệt và gian dối, - nàng nói. - Cậu cũng vậy, Sinuhe ạ, cậu vẫn nói dối tôi. Tôi rất buồn khi nghĩ về điều đó và nước mắt chỉ chực trào ra, rõ ràng cậu đã chán tôi rồi vì nếu không, cậu sẽ không giấu tôi cha mẹ cậu đã mua cho mình một ngôi mộ đẹp ở nghĩa địa của thành phố và gửi vào đền đầy đủ của cải cần thiết để thi thể họ được chăm nom, vượt qua cái chết và có đủ thứ cần thiết cho cuộc hành trình đến miền tây.

Nghe thế, tôi đưa tay cào xước ngực mình khiến máu rỉ ra và hét lên:

- Đúng thật tên cô là Tabubue, giờ thì tôi tin điều đó!

Nhưng nàng ta tỏ ra buồn bã và nói:

- Cậu không nên trách tôi chỉ vì tôi không muốn thành người đàn bà bị khinh rẻ. Tôi cũng không mời cậu đến đây mà tự cậu đến. Tốt thôi. Bây giờ tôi biết cậu hoàn toàn không yêu gì tôi mà chỉ đến để phỉ báng tôi, vì cái chuyện nhỏ xíu mà thành trở ngại giữa chúng ta.

Những giọt nước mắt bắt đầu lăn dài trên má tôi và tôi nức nở vì buồn tủi, nhưng tôi đến bên nàng ta và nàng ta chạm nhẹ thân thể mình vào người tôi.

- Chỉ nghĩ đến thôi đã thấy tội lỗi và khiếp đảm rồi, - tôi nói. - Lẽ nào tôi lại tước mất cuộc sống vĩnh cửu của bố mẹ tôi, để thân thể họ nát rữa vào hư vô như thân xác của đám nô lệ, của những người nghèo hay những người bị ném xuống sông vì tội lỗi. Nàng không thể đòi hỏi tôi điều đó.

Nhưng nàng ta áp thân thể trần truồng vào người tôi và nói:

- Hãy cho tôi ngôi mộ của cha mẹ cậu, tôi sẽ thì thầm vào tai cậu: “Yêu dấu ơi, cơ thể rực lửa ngọt ngào này dành cho cậu” và tôi sẽ dạy cậu hàng ngàn ngón yêu đương khiến đàn ông đê mê mà cậu chưa biết.

Tôi không còn làm chủ được mình, chỉ khóc và nói:

- Thôi được, hãy làm như nàng muốn và để tên tôi bị nguyền rủa muôn đời chứ tôi không thể cưỡng lại nàng, vì nàng đã dùng ma thuật mạnh như thế để bỏ bùa tôi.

Nhưng nàng ta nói:

- Đừng nặng lời thế với tôi bởi vì điều đó làm tổn thương tôi, vì tôi không phải là loại đàn bà đáng khinh, tôi sống trong nhà của mình và giữ gìn phẩm giá của mình. Nhưng vì cậu đang bực bội và buồn rầu, tôi sẽ sai người hầu đi gọi ký lục và trong lúc đó, chúng ta cùng ăn uống để cậu vui lên thì chúng ta mới có thể mây mưa sau khi giấy tờ được viết xong.

Nàng ta cười rất vui và chạy vào nhà. Tôi mặc quần áo và đi theo nàng ta, người hầu giội nước lên tay tôi, cúi đầu và đặt hai tay lên đầu gối trước mặt tôi. Nhưng sau lưng tôi, họ cười và nói lời chế giễu tôi để tôi có thể nghe thấy, mặc dù tôi đã xem như những lời họ nói chỉ là tiếng ruồi vo ve trong tai mình. Họ im bặt khi Nefernefernefer quay trở xuống và chúng tôi cùng nhau ăn uống, thịt năm loại, bánh ngọt mười hai thứ và chúng tôi uống loại rượu pha bốc ngay lên đầu khi uống vào. Viên ký lục đến, viết tất cả các giấy tờ cần thiết và tôi bàn giao cho Nefernefernefer mộ của cha mẹ tôi trong nghĩa địa thành phố cùng với tất cả các đồ đạc, tiền gửi trong đền của họ. Như thế họ đã bị lấy mất cuộc sống vĩnh hằng cùng với cơ hội bắt đầu cuộc hành trình đến miền tây sau khi chết. Tôi đóng ấn triện của cha tôi, viết tên ông lên các giấy tờ và viên ký lục mang giấy tờ đến văn khố hoàng gia ngay hôm đó để chúng có giá trị pháp lý. Còn Nefernefernefer, viên ký lục đưa cho nàng ta giấy biên nhận cho toàn bộ việc này. Nàng ta hờ hững nhét nó vào chiếc hộp gỗ mun của mình và trả tiền công cho viên ký lục khiến y cúi đầu chào, tay đặt lên đầu gối trước chúng tôi và rời đi.

Sau khi viên ký lục đi khỏi, tôi nói:

- Nefernefernefer, từ lúc này trở đi, trước con người và thần linh, tôi bị nguyền rủa và khinh bỉ. Bây giờ nàng hãy chứng tỏ rằng việc làm của tôi là đáng giá.

Nhưng nàng ta mỉm cười và nói:

- Uống rượu đi em trai, để lòng tôi thỏa mãn.

Khi tôi muốn ôm nàng ta, nàng tránh sang bên và rót tiếp rượu vào bát của tôi. Một lát sau, nàng ta nhìn mặt trời và nói:

- Ôi, ngày đã qua và sắp đến tối rồi. Cậu còn muốn gì nữa, Sinuhe?

- Nàng biết ta muốn gì rồi, - tôi nói.

Nhưng nàng ta bảo:

- Lẽ ra cậu phải biết giếng nào sâu nhất và hố nào không đáy chứ, Sinuhe. Tôi phải nhanh chóng ăn vận và trang điểm, vì một chiếc bát vàng đang chờ tôi ngày mai mang nó về làm vật trang trí trong nhà.

Khi tôi muốn ôm lấy nàng ta, nàng tránh sang bên, cười lên khanh khách rồi hét toáng lên để người hầu xông vào. Nàng ta bảo đám người hầu:

- Đứa ăn xin không chịu nổi này từ đâu đến nhà ta vậy? Mau quẳng hắn ra và đừng bao giờ để hắn bước chân vào cổng nhà ta. Nếu hắn chống cự, hãy nện cho hắn mấy gậy.

Bất lực vì đã say và vì nổi giận điên cuồng, tôi bị mấy tên hầu lôi ra ngoài. Chúng còn quay ra dùng gậy đánh tôi khi tôi lấy đá đập vào cánh cổng đóng kín. Khi tôi vẫn la hét và chửi rủa khiến đám đông bắt đầu kéo đến, chúng nói:

- Gã say rượu này đã xúc phạm bà chủ của chúng tôi, người sống trong ngôi nhà của mình và không phải là loại đàn bà đáng khinh.

Chúng lấy gậy quật tôi đến bất tỉnh và để tôi nằm trên phố, mọi người nhổ nước bọt vào đầu tôi và lũ chó đái lên quần áo của tôi.

Nhưng khi tỉnh lại và nhận ra tình cảnh đau xót của mình, tôi không muốn dậy mà chỉ nằm yên một chỗ cho đến tận sáng. Bóng tối chở che tôi và tôi cảm thấy mình không bao giờ có thể lộ mặt với bất kỳ ai nữa. Thái tử đã đặt cho tôi cái tên “Người Cô Đơn” và quả thật vào đêm hôm đó, tôi là người cô đơn nhất trên thế gian. Nhưng rồi bình minh lên, nhiều người bắt đầu đi lại trên đường phố, những người bán hàng bắt đầu bày đồ ra để bán trước gian hàng của họ và những con bò bắt đầu lọc cọc kéo xe. Tôi đứng dậy đi ra ngoại ô và trốn trong đám sậy ba ngày ba đêm liền, không ăn không uống. Cơ thể và trái tim tôi hòa quyện thành một vết thương duy nhất và lúc đó nếu có ai hỏi chuyện tôi, tôi sợ mình sẽ gào thét lên và phát điên lên mất.

❖ 3 ❖

Sang ngày thứ ba, tôi rửa mặt mũi, chân tay, gột sạch máu khô trên quần áo rồi trở về thành phố và về nhà tôi. Nhưng ngôi nhà không còn là của tôi và biển hiệu khám chữa bệnh trên cổng để tên một thầy thuốc khác. Tôi gọi Kaptah và ông ta chạy ra, khóc òa lên vì mừng khi nhìn thấy tôi và đưa tay ôm vòng quanh đầu gối tôi.

- Ông chủ ơi, - ông ta kêu lên, - vì trong trái tim của kẻ tôi tớ này, ông vẫn là ông chủ của tôi bất kể người đang sai khiến tôi là ai. Một gã trai trẻ vừa chuyển đến đây và nghĩ rằng mình là danh y vĩ đại, anh ta còn ướm thử quần áo của ông và cười vui sướng. Mẹ anh ta vào bếp, hắt nước nóng vào chân tôi và gọi tôi là chuột chù, là ruồi nhặng. Nhưng bệnh nhân của ông nhớ ông, họ nói bàn tay anh ta không nhẹ nhàng như tay ông, cách chữa trị của anh ta làm họ đau đớn và anh ta cũng không biết rõ bệnh của họ như ông.

Ông ta huyên thuyên một lúc lâu và nhìn tôi với con mắt còn lại đỏ hoe đầy kinh hãi, khiến tôi cuối cùng phải lên tiếng:

- Hãy kể cho ta nghe mọi chuyện, Kaptah. Trái tim trong ngực ta đã chai cứng như đá rồi nên không điều gì có thể làm ta đau được nữa.

Lúc đó ông ta đưa tay lên để bày tỏ nỗi buồn sâu thẳm nhất và nói:

- Tôi sẽ hiến con mắt duy nhất này của mình nếu như bằng cách ấy, tôi có thể gánh chịu cho ông chủ nỗi buồn này. Nhưng đây là một ngày tồi tệ và thật may là ông đã về, bởi ông cần phải biết cha mẹ ông đã qua đời.

- Ôi, Senmut bố tôi và Kipa mẹ tôi! - Tôi nói và giơ tay lên theo tập quán, tim tôi thắt lại trong lồng ngực.

- Sáng nay, một toán sai nha phá cửa vào nhà họ sau khi đã đưa trát đuổi họ ra khỏi nhà vào ngày hôm qua, - Kaptah nói, - nhưng cả hai nằm trên giường và không còn thở nữa. Vì thế ông còn ngày hôm nay để khâm liệm thi thể và đưa họ vào Nhà Chết, vì ngày mai nhà sẽ bị dỡ bỏ theo lệnh của người chủ mới.

- Bố mẹ ta có biết vì sao ra nông nỗi này không? - Tôi hỏi mà không thể nhìn vào mắt lão đầy tớ của mình.

- Bố Senmut của ông đã đến tìm ông, - Kaptah nói. - Mẹ ông dắt tay ông ấy vì mắt ông không còn nhìn thấy gì nữa, cả hai người đều già yếu, run rẩy và đi khập khiễng đến đây. Nhưng tôi không biết ông chủ đang ở đâu và bố của ông nói như vậy có lẽ tốt hơn. Ông ấy kể đám sai nha đã đuổi ông ra khỏi nhà, đóng ấn triện lên hộp đồ nghề và tất cả đồ đạc của ông, đến nỗi họ không có gì khác ngoài bộ quần áo rách rưới nhất trên người. Khi ông ấy hỏi vì sao lại như thế, đám sai nha cười và nói rằng con trai Sinuhe của ông đã bán căn nhà, của cải và phần mộ của cha mẹ mình để lấy vàng cho một người đàn bà xấu xa. Ngẫm nghĩ một lúc lâu, bố ông đã hỏi vay tôi một miếng đồng để thuê một viên thư lại viết thư cho ông. Nhưng người chủ mới vừa chuyển đến nhà ông và ngay lúc đó mẹ anh ta ra gọi tôi và lấy gậy đánh tôi vì tôi đã mất thời gian nói chuyện với những người ăn xin. Chắc ông tin tôi khi tôi nói rằng tôi đã đưa cho bố ông một miếng đồng, bởi vì mặc dù tôi chưa kịp lấy trộm từ người chủ mới, song tôi có đồng và cả một số bạc dành dụm được từ những thứ tôi đã trộm của ông và những người chủ trước của mình. Nhưng khi tôi quay lại, bố mẹ ông đã đi rồi. Mẹ người chủ mới đã ngăn không cho tôi chạy theo họ và nhốt tôi một đêm trong xó bếp để tôi khỏi trốn.

- Như vậy nghĩa là bố tôi không để lại cho tôi một lời nào cả? - Tôi hỏi.

Kaptah đáp:

- Bố ông không để lại lời nào cho ông, thưa ông chủ.

Trái tim tôi như đá trong ngực và không còn cử động nữa, nhưng suy nghĩ của tôi vẫn tỉnh táo và bình thản như chim trong tiết trời lạnh giá.

Lát sau, tôi nói với Kaptah:

- Đưa cho ta tất cả đồng và bạc của ngươi. Hãy nhanh đưa chúng cho ta, rồi Amon hay một vị thần nào đó sẽ đền bù cho việc làm của ngươi nếu như ta không thể làm được điều đó, vì ta phải đưa bố mẹ ta vào Nhà Chết và ta không còn gì để trả cho việc tẩm ướp thi thể của họ.

Kaptah bắt đầu khóc lóc, than vãn và nhiều lần đưa tay lên để thể hiện nỗi buồn sâu thẳm nhất của mình. Cuối cùng, ông đi đến góc vườn nhà tôi, vừa đi vừa nhìn lại phía sau như con chó đi lấy lại khúc xương nó đã chôn dưới đất. Ông ta lật hòn đá ở góc vườn lên và lấy từ dưới đó lên đồng và bạc của mình được gói trong miếng giẻ, tất cả chưa đầy hai deben, dù đó là của dành dụm được trong cả một đời nô lệ. Nhưng Kaptah vừa khóc vừa bày tỏ nỗi buồn sâu sắc và đưa hết cả cho tôi. Vì điều này, xin thần linh hãy cho ông ta luôn được phước lành và thi thể ông được lưu giữ mãi mãi.

Thật ra tôi còn có bạn bè và Ptahor hay Horemheb đều có thể cho tôi vay vàng, cả Thotmes cũng có thể giúp tôi, nhưng tôi còn trẻ và tôi tin ai cũng đã biết nỗi ô nhục của tôi nên tôi thà chết chứ không thể nhìn mặt họ. Vì việc làm của mình, tôi đã bị nguyền rủa trước mọi người và thần linh, thậm chí tôi không thể cảm ơn Kaptah vì cũng lúc đó, mẹ tay chủ mới của ông ta bước ra hiên nhà để gọi nô lệ với giọng độc ác, khuôn mặt giống cá sấu và trong tay cầm cây gậy. Vì thế Kaptah lập tức chạy khỏi chỗ tôi và bắt đầu gào khóc ngay ở bậc thang nơi hiên nhà trước khi cây gậy quất vào ông ta. Lần này ông ta đâu cần giả vờ, ông ta khóc vì mất đồng và bạc của mình.

Tôi vội vàng đến nhà bố mẹ tôi. Cửa nhà bị giật mở tung, tất cả đồ đạc bị nha lại niêm phong. Những người hàng xóm đứng trong sân giơ tay làm dấu hiệu đau buồn, không ai nói với tôi lời nào mà tất cả đều khiếp sợ tránh ra xa. Trong phòng trong, Senmut và Kipa nằm trên giường, mặt đỏ hồng như thể họ vẫn còn sống và trên nền nhà, một chậu than vẫn còn âm ỉ cháy; họ ngủ và ngạt thở trong hơi than khi cửa nhà và cửa sổ đều đóng chặt. Tôi quấn thi thể bố mẹ tôi trong chăn có dấu niêm phong của đám sai nha và đi gọi một người lái lừa chịu chở xác chết đến. Tôi cùng với anh ta để xác của bố mẹ tôi lên lưng lừa và đưa đến Nhà Chết. Nhưng họ không được nhận vào Nhà Chết vì tôi không có đủ bạc, ngay cả cho phương thức lưu giữ thi thể rẻ nhất. Tôi nói với những người tắm rửa thi thể:

- Tôi là Sinuhe, con trai của ông bà Senmut và tên của tôi được ghi trong sách của Nhà Sống. Số phận nghiệt ngã đày đọa tôi nên tôi không có đủ bạc để trả cho việc mai táng cha mẹ mình. Vì vậy, tôi cầu xin các người, thề có Amon và tất cả thần linh Ai Cập, hãy tẩm ướp thi thể cha mẹ tôi và tôi sẽ phục vụ các người với tất cả kỹ năng của mình trong suốt thời gian tẩm ướp.

Họ nguyền rủa sự kèo nèo của tôi và mắng nhiếc tôi nhưng cuối cùng, một người ngâm rửa từng mắc bệnh dịch hạch đã chịu nhận từ tôi mẩu đồng và bạc của Kaptah, ngoắc cái móc của hắn vào dưới hàm bố tôi và ném ông vào bể lớn dành cho người nghèo. Rồi hắn ngoắc cái móc vào hàm mẹ tôi và cũng thả bà vào cùng bể đó. Có tất cả ba mươi bể; mỗi ngày một bể được chất đầy, một bể được dọn sạch, và xác người nghèo được ngâm trong muối với nước kiềm trong cả ba mươi ngày đêm để tránh phân rã, ngoài ra không phải làm gì thêm, mặc dù lúc đó tôi vẫn chưa biết điều này.

Tôi còn phải trở về nhà bố mẹ tôi để trả lại tấm chăn có dấu niêm phong của đám sai nha. Người tắm rửa cười chế giễu tôi và nói:

- Hãy quay lại vào buổi sáng, vì nếu sáng ra mi không quay lại phục vụ chúng tao, chúng tao sẽ lấy thi thể của cha mẹ mi ra khỏi bể và ném cho chó ăn.

Tôi đồ rằng hắn ta không tin tôi là một thầy thuốc thực thụ mà nghĩ tôi nói dối.

Tôi trở về nhà bố mẹ tôi, trái tim như đá trong ngực, mặc những viên gạch đất sét trên bức tường thủng lỗ chỗ gào thét lên với tôi, mỗi viên gạch đều gào lên với tôi, cây sung trong sân gào lên với tôi và cái ao thời thơ ấu cũng hét lên với tôi. Vì thế tôi để lại chiếc chăn vào chỗ cũ rồi vội vàng bỏ đi. Nhưng ở cổng, tôi gặp viên thư lại vẫn hành nghề bên cạnh quầy gia vị ở góc phố. Ông ta giơ tay bày tỏ sự đau buồn khi nhìn thấy tôi và nói:

- Sinuhe, con trai của Senmut tốt bụng, có phải anh không?

Tôi đáp:

- Vâng, tôi đây.

Người thư lại nói:

- Đừng tránh tôi, bởi cha anh đã để lại cho tôi những lời ông ấy muốn nói với anh, vì ông ấy không gặp được anh ở nhà anh.

Nghe thế, tôi ngã khuỵu xuống đất và lấy tay ôm đầu. Còn người thư lại lấy tờ giấy ra và đọc cho tôi:

“Senmut, người có tên được viết trong sách của Nhà Sống và vợ là Kipa gửi những lời này đến con trai là Sinuhe, người được đặt tên Ngài, Người Cô Đơn trong hoàng cung của Pharaon. Thần linh đã gửi con đến cho bố mẹ và trong tất cả tháng ngày của cuộc đời mình, con chỉ mang lại cho bố mẹ niềm vui và không bao giờ là nỗi buồn, bố mẹ hết sức tự hào về con. Bây giờ bố mẹ rất buồn cho con, vì con đã gặp nghịch cảnh mà bố mẹ không thể giúp con được như bố mẹ muốn. Bố mẹ tin rằng tất cả những gì con đã làm đều đúng và con không thể không làm. Nên đừng buồn vì bố mẹ, cho dù con phải bán cả phần mộ của bố mẹ, bởi vì chắc chắn con sẽ không làm điều đó nếu con không có lý do. Nhưng các viên nha lại muốn làm việc của họ thật nhanh và bố mẹ không thể chờ đến ngày chết của mình được, mà bố mẹ chờ mong cái chết đến như người mệt mỏi mong giấc ngủ, như người tị nạn muốn có căn lều. Cuộc đời của bố mẹ đã khá dài với rất nhiều niềm vui, nhưng niềm vui lớn nhất là con, Sinuhe, con đã theo dòng sông đến nhà bố mẹ, mặc dù bố mẹ đã già và cô đơn. Vì vậy, bố mẹ cầu nguyện cho con và con không cần phải hối hận mặc dù bố mẹ không có mộ, bởi sự phù phiếm của cuộc đời là vô biên và vì vậy, có lẽ tốt hơn là bố mẹ nên tan vào hư vô, không phải trải qua những lo lắng và hiểm nguy trên hành trình khó khăn đến miền tây. Con hãy luôn nhớ cái chết đến với bố mẹ rất dễ dàng và bố mẹ cầu nguyện cho con trước khi ra đi. Cầu mong tất cả các vị thần của Ai Cập bảo vệ con khỏi những hiểm nguy, cứu trái tim con thoát khỏi nỗi buồn đau và có nhiều niềm vui từ con cái của con như bố mẹ đã có từ con. Đấy là những gì bố của con Senmut và mẹ của con Kipa mong muốn cho con.”

Trái tim tôi không còn như đá nữa, mà khe khẽ cựa quậy, tan chảy và nhỏ lệ xuống bụi đất trước mình. Người thư lại nói:

- Bức thư đây. Tất nhiên, dấu triện của cha anh không có ở đó và ông ấy không nhìn được để viết tên mình, song anh có thể tin tôi khi tôi nói rằng tôi đã viết chính xác từng từ mà ông đọc, và nước mắt mẹ anh làm mờ chữ này và chữ này là chứng cứ bảo đảm.

Ông ta đưa tờ giấy cho tôi xem, nhưng mắt tôi nhòa nước và tôi không nhìn thấy gì. Ông ta cuộn tròn tờ giấy lại rồi đặt nó vào tay tôi và nói:

- Cha Senmut của anh là một người đàn ông chính trực và mẹ Kipa của anh là một phụ nữ nhân hậu, dù đôi khi gắt gỏng theo kiểu đàn bà. Vì thế tôi viết thư này hộ cha anh, mặc dù ông không có đến món quà nhỏ nhất để tặng tôi và tôi cũng đưa cho anh cả tờ giấy, mặc dù đó là giấy tốt và có thể tẩy sạch để dùng lại được.

Tôi nghĩ một lát rồi nói:

- Tôi cũng không có món quà nào để tặng ông cả, ông lão tốt bụng ạ. Xin ông nhận tấm vải choàng này của tôi, nó là một loại vải tốt tuy có hơi bẩn và nhăn.

Tôi cởi tấm vải choàng vai trao cho ông. Ông ta nghi ngại sờ sờ chất vải rồi ngạc nhiên giơ cao tay và nói:

- Lòng tốt của anh thật đáng trọng, Sinuhe, hãy mặc mọi người nói bất cứ điều gì về anh. Cho dù người ta nói rằng anh đã đánh cắp cuộc sống của cha mẹ mình, để họ chết một cách nghèo hèn, tôi vẫn sẽ bảo vệ anh. Nhưng tôi không thể lấy tấm vải choàng của anh, vì nó là loại vải đắt tiền và nếu không có nó, mặt trời sẽ làm lưng anh cháy đỏ như lưng của nô lệ và làm da anh phồng rộp, đau rát lắm.

Nhưng tôi nói:

- Ông hãy cầm lấy và cầu xin tất cả các vị thần Ai Cập phù hộ ông và giữ thi thể ông sống mãi muôn đời, vì ông không biết ông đã làm một việc tốt cho tôi như thế nào đâu.

Lúc đó, ông lão mới cầm lấy tấm vải choàng vai rồi giơ cao trên đầu và cười thích thú. Còn tôi đi đến Nhà Chết chỉ với chiếc khố trên người như nô lệ hay người chăn bò, để phụ giúp những người ngâm ướp thi thể trong ba mươi ngày, ba mươi đêm.

❖ 4 ❖

Là thầy thuốc, tôi từng nghĩ mình đã chứng kiến quá nhiều cái chết và sự đau đớn, đã dạn dày với mùi hôi thối, đã chọc chích ung nhọt và vết thương lở loét nhưng khi bắt đầu giúp việc trong Nhà Chết, tôi mới nhận thấy mình chỉ là đứa trẻ chưa biết gì. Thực ra thi thể người nghèo không đòi hỏi nhiều công sức vì họ lặng lẽ yên nghỉ trong bể chứa đầy mùi chua ngạt của nước kiềm và muối và chẳng mấy chốc tôi đã học được cách dùng móc để dịch chuyển xác người, nhưng thi thể của người giàu cần nhiều kỹ năng và công đoạn hơn, như việc tẩy rửa nội tạng và nhét tất cả vào vò, buộc người làm nó phải có tính chai lì. Amon cướp bóc của con người khi họ chết nhiều hơn khi họ còn sống và việc này đòi hỏi sự chai lì nhiều nhất, bởi mức giá lưu giữ thi thể thay đổi tùy theo mức độ giàu có của gia đình người chết và những người tẩm ướp thi thể dối gạt họ bằng việc liệt kê nhiều loại dầu, thuốc mỡ và chất bảo quản đắt tiền mà họ nói đã dùng, mặc dù tất cả đều chỉ là một loại dầu mè. Chỉ thi thể của giới thượng lưu được tẩm ướp kỹ càng với tất cả các công đoạn, còn thường thì xác được tiêm dầu vào để làm cho nội tạng phân hủy, sau đó được nhồi bằng thân sậy đã ngâm trong nhựa cây. Nhưng thi thể người nghèo không được như thế, mà sau ba mươi ngày ngâm trong bể, người ta vớt ra cho khô rồi trao lại cho người thân.

Mặc dù Nhà Chết được các giáo sĩ giám quản, nhưng những người ngâm tẩm thi thể đã lấy đi những gì họ có thể lấy và coi đó là quyền của họ. Họ lấy cắp các loại thảo mộc và dầu xức, thuốc mỡ và khăn liệm đắt tiền để bán đi rồi lại lấy cắp những thứ đó thêm lần nữa, mà việc này các giáo sĩ không thể ngăn chặn được vì những người này thạo nghề và việc tìm người vào làm trong Nhà Chết không dễ. Chỉ những người bị thần linh nguyền rủa và kẻ phạm tội đang lẩn trốn chính quyền mới làm nghề này vì từ xa đã có thể nhận ra họ bởi mùi muối, mùi kiềm và mùi xác chết bám vào họ trong Nhà Chết, khiến họ bị mọi người tránh xa và không được phép vào quán rượu hay nhà vui.

Vì thấy tôi tự nguyện vào phụ giúp nên những người ngâm ướp thi thể nghĩ tôi cũng giống như họ nên không giấu tôi việc họ làm. Nếu chuyện xảy ra với tôi không tồi tệ như thế, hoặc còn hơn thế, chắc tôi sẽ hoảng sợ và chạy trốn khi thấy họ làm ô uế cả thi thể các quý tộc, cắt nhỏ thi thể rồi bán cho pháp sư những phần nào đó. Và nếu có một miền tây cực lạc như tôi hy vọng cho bố mẹ tôi, tôi tin rằng nhiều người chết sẽ hết sức ngạc nhiên khi nhận ra mình bắt đầu cuộc hành trình khó khăn như thế nào, mặc dù họ đã gửi vàng vào đền cho việc chôn cất mình.

Nhưng niềm vui lớn nhất xuất hiện mỗi khi xác phụ nữ trẻ được mang đến Nhà Chết, bất kể người đó đẹp hay xấu. Khi đó, thi thể không bị thả ngay xuống bể ngâm mà được giữ lại qua đêm như bạn chăn gối của người ngâm ướp và họ cãi nhau rồi rút thăm xem ai được qua đêm với xác ấy trước. Vì những người ngâm ướp bị kinh tởm quá đỗi, đến mức một gái điếm dù thấp hèn nhất cũng không nhận lời làm tình với họ dù được cho vàng; thậm chí ngay cả đàn bà da đen cũng không dám đến với họ vì quá kinh sợ. Trước đây khi nô lệ bị bán rẻ sau các cuộc chiến lớn, những người ngâm ướp xác cũng dành dụm tiền và mua gái nô lệ để tận hưởng lạc thú, nhưng cuộc sống ở Nhà Chết khủng khiếp đến mức bất cứ ai được mua về nơi đó, kể cả nô lệ, cũng bị mất trí, điên loạn và gây náo động khiến các giáo sĩ buộc phải cấm bán nô tỳ cho Nhà Chết. Từ đó, những người ngâm ướp xác tự nấu ăn, tự giặt quần áo và bằng lòng hưởng lạc với các xác chết. Nhưng chính họ đã biện minh rằng trong thời gian trị vì của các quốc vương vĩ đại, thi thoảng xác phụ nữ được đưa vào Nhà Chết đã sống lại trong tay những người ngâm tẩm thi thể, một phép lạ lớn làm tăng thanh danh của Amon và mang lại niềm vui cho bố mẹ và chồng của người phụ nữ. Do đó, nghĩa vụ mà họ tiếp tục làm với lòng thành kính là thực hiện phép lạ, sưởi ấm những người phụ nữ được đưa vào Nhà Chết bằng sức nóng khủng khiếp của mình, trừ khi người phụ nữ quá già khiến việc họ sống lại không còn là niềm vui với bất kỳ ai. Nhưng liệu các giáo sĩ có biết việc xảy ra thế này không? Tôi không thể nói, bởi tất cả những điều này diễn ra bí mật và vào ban đêm khi Nhà Chết đóng cửa.

Ai đã một lần vào Nhà Chết và làm người ngâm ướp thi thể, người ấy hiếm khi rời khỏi đó để tránh sự chế giễu của mọi người; họ sống cả đời mình giữa các xác chết. Trong những ngày đầu, tôi coi tất cả họ là những người bị thần linh nguyền rủa và những lời chế nhạo làm ô uế các thi thể của họ khiến tai tôi kinh sợ. Vào những ngày đầu, tôi chỉ thấy những người hèn hạ nhất và ghê tởm nhất này lấy việc sai khiến tôi làm niềm vui và giao cho tôi những công việc tồi tệ nhất, nhưng sau đó tôi phát hiện ra trong số những người ngâm ướp thi thể có những người thợ lành nghề mà kiến thức của họ là những điều được đúc kết và truyền lại từ những người thợ tốt nhất và họ coi việc mình làm là một nghề có giá trị lớn và quan trọng nhất trong tất cả các nghề. Mỗi người trong số họ đều có chuyên môn và nhiệm vụ riêng như các danh y trong Nhà Sống, ví dụ người thứ nhất phụ trách đầu của người chết, người thứ hai phụ trách dạ dày, người thứ ba tim, người thứ tư phổi… cho đến khi tất cả các phần của cơ thể được lưu giữ trường tồn.

Trong số họ có Ramose, một người đã luống tuổi, làm công việc khó khăn hơn cả. Ông ấy dùng kìm tách và rút não của thi thể ra qua đường mũi, sau đó rửa sạch hộp sọ bằng dầu tẩy rửa. Nhận thấy đôi tay tôi rất khéo léo, ông ấy lấy làm kinh ngạc và bắt đầu chỉ dạy cho tôi và chỉ mới qua một nửa thời gian tôi ở Nhà Chết, ông ấy đã nhận tôi làm phụ tá riêng cho ông, khiến tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Dù trong mắt tôi, tất cả những người ngâm ướp xác đều như bị quỷ ám và có cuộc sống như loài vật, khiến suy nghĩ và lời nói của họ không còn giống như những người sống dưới ánh sáng mặt trời, nhưng Ramose, nếu là động vật thì con vật mà ông ấy giống nhất sẽ là một con rùa sống lặng lẽ trong lớp mai của nó. Cổ ông ấy cũng cong như cổ rùa, mặt và cánh tay cũng nhăn nheo giống rùa. Tôi giúp ông ấy trong công việc của ông, một công việc sạch sẽ và đáng trân trọng nhất trong Nhà Chết, và quyền thế của ông ấy lớn đến mức không ai còn dám dọa tôi và ném nội tạng hay những thứ bẩn của thi thể lên đầu tôi. Nhưng tôi không biết quyền thế của ông ấy đến từ đâu, vì ông ấy không bao giờ lớn tiếng.

Khi nhìn thấy những kẻ ngâm tẩm ăn cắp bộ phận thi thể ra sao và xác của người nghèo được làm sơ sài đến thế nào dù trả chi phí lớn, tôi quyết định giúp bố mẹ tôi hết sức có thể và lấy cắp cuộc sống vĩnh cửu cho họ. Vì tôi nghĩ tội lỗi của tôi đối với bố mẹ mình lớn đến mức việc trộm cắp này cũng không thể làm nó lớn hơn được nữa. Bằng lòng tốt của mình, Ramose đã dạy tôi nên lấy gì và lấy bao nhiêu, từ thi thể người quyền quý nào, vì ông chỉ xử lý thi thể của giới thượng lưu và tôi là người giúp việc của ông. Nhờ đó, tôi có thể lấy móc kéo thi thể của bố mẹ tôi ra khỏi bể chứa xác người nghèo rồi nhồi vào các khoang rỗng trong thi thể họ những thân sậy đầy nhựa thơm và quấn họ vào vải khâm liệm. Tôi không thể làm gì hơn được nữa vì việc trộm cắp cũng có những giới hạn nghiêm ngặt mà Ramose không nên vượt qua.

Ngoài ra, ông ấy đã dạy tôi rất nhiều kiến thức trong thời gian làm công việc thầm lặng và chậm chạp ở các hang sâu của Nhà Chết. Sau một thời gian, tôi bắt đầu mạnh dạn hỏi ông ấy hết điều này đến điều khác và ông không ngại trả lời tôi những câu hỏi “Tại sao?”. Vào thời gian này, mũi tôi cũng không còn khó chịu với mùi hôi thối và chua loét của Nhà Chết bởi con người có thể thích nghi, quen thuộc với mọi thứ, và sự thông thái của Ramose xua tan dần nỗi sợ hãi của tôi nên tôi đã hỏi ông rất nhiều điều khi chúng tôi cùng làm việc trong hang với kìm và các hũ dầu.

Đầu tiên, tôi hỏi ông ấy tại sao những người ngâm tẩm thi thể lại ăn nói báng bổ và ẩu đả nhau chỉ vì một cái xác đàn bà và không thể nghĩ gì khác ngoài ham muốn của mình, mặc dù lẽ ra họ có thể đã bình tâm khi sống bấy nhiêu năm trời với tử thần, từ ngày này qua ngày khác. Ramose nói:

- Họ là những kẻ ít học và ý chí của họ quanh quẩn trong bùn, giống như thân xác con người chỉ là bùn nếu để cho tan rữa. Nhưng trong bùn cũng có ham muốn sống, ham muốn đó sinh ra động vật và con người, và chính ham muốn đó sinh ra cả thần linh, ta tin như vậy. Nhưng kẻ nào cận kề với cái chết hơn, ham muốn bùn đen trong kẻ đó bùng cháy mãnh liệt hơn nếu ý chí của kẻ đó tồn tại trong bùn. Vì vậy, cái chết làm người thông tuệ bình tâm nhưng lại biến kẻ thấp hèn thành như thú vật, mà loài vật thì dù bị mũi tên đâm vẫn gieo hạt giống xuống cát. Cả trái tim của họ cũng bị mũi tên xuyên qua, nếu không họ đã không bao giờ phải đến Nhà Chết. Vậy nên, đừng ngạc nhiên về hành vi của họ mà thay vào đó hãy thương hại họ. Bởi họ không còn gây hại hay ô nhục gì cho thi thể vì thi thể đã lạnh và không còn cảm thấy gì, nhưng mỗi lần trở về bùn đen họ lại gây hại cho chính mình.

Cẩn trọng và chậm rãi, ông dùng một mũi kìm ngắn, xuyên qua mũi, bẻ gãy những lát xương sọ mỏng trong đầu người quyền quý rồi lấy những cái kìm dài và dễ uốn, bắt đầu nhặt não bỏ vào cái bát đựng một loại dầu mạnh.

- Vì sao? - Tôi hỏi. - Vì sao thi thể con người phải được giữ để vượt qua cái chết ngay cả khi nó đã lạnh và không cảm thấy gì?

Ramose liếc nhìn tôi bằng đôi mắt tròn nhỏ như mắt rùa, lau tay vào vạt áo trước và uống bia từ chiếc vò để bên cạnh vò đựng não.

- Xưa đã thế và sau này vẫn thế! - Ông ấy nói. - Ta là ai mà giải thích những cái đã xảy ra từ trước đây chứ, nhưng người ta nói trong mộ có Ka của người, chính là linh hồn của anh ta trở về với thể xác, ăn thức ăn được cúng cho chính mình và vui mừng khi thấy hoa được đặt trước mộ mình. Nhưng Ka ăn ít lắm, ít đến mức không thể nhìn thấy bằng mắt. Do đó, cùng một đồ cúng có thể đem cúng cho nhiều người, nên người ta bê đồ cúng dâng nhà vua rồi từ mộ của ngài đến trước mộ các cận thần của ngài và cuối cùng đồ cúng đó được các giáo sĩ cúng tế ăn khi trời tối. Còn Ka, hơi thở của con người, bay ra từ mũi anh ta ngay lúc chết, nhưng nó bay đi đâu, ta không thể nói. Điều đó là có thật và được nhiều người từng chứng kiến cam đoan từ bao đời nay. Ngoài điều đó ra, không có quá nhiều sự khác biệt giữa Ka và con người, trừ việc Ka không có bóng trong ánh sáng còn con người thì có. Những cái khác thì Ka và con người tương tự nhau, người ta bảo thế.

- Những lời của bác giống như tiếng vo ve của ruồi trong tai cháu, Ramose ạ, - tôi nói. - Cháu không phải là một người đàn ông hoàn toàn ngây thơ và bác không cần phải huyên thiên với cháu những điều cổ lỗ mà cháu đã nghe và đọc từ các cuốn sách đến chán ngấy. Nhưng sự thật là gì?

Ramose uống thêm một ngụm bia nữa và lơ đãng nhìn bộ não, là những mảnh nhỏ nổi trên mặt dầu trong cái vò bên cạnh.

- Cậu hỏi thế vì vẫn còn trẻ và bị kích động, - ông nói, nhăn nhó với chính mình rồi há miệng và cười. - Tim cậu chắc đã bị tiêm nhiễm nên mới hỏi như thế. Tim ta già yếu và đầy sẹo, không còn nhức nhối vì bao nhiêu câu hỏi nữa. Nhưng con người có được lợi hay không nếu thi thể được lưu giữ để chịu đựng cái chết, ta không thể nói và không ai có thể nói, ngay cả các giáo sĩ. Nhưng vì việc này đã được làm và sẽ luôn luôn được làm nên cứ theo tập quán là chắc chắn nhất vì ít nhất sẽ không bị thiệt hại. Ta chỉ biết rằng chưa có ai trở về từ miền tây để nói ở đó như thế nào. Tuy nhiên, một số người nói rằng Ka của người thân của họ sẽ quay trở lại trong giấc mơ và khuyên bảo, dạy dỗ, cảnh báo họ, nhưng giấc mơ chỉ là giấc mơ, dần tan biến vào buổi sáng khi không còn mơ nữa. Tuy nhiên, sự thật là một thiếu phụ đã sống lại trong Nhà Chết, trở về với chồng và cha mẹ và sống đến già trước khi chết lần nữa. Nhưng có thể điều này xảy ra chỉ vì cô ta chưa thực sự chết, theo ta nghĩ, mà ai đó phù phép khiến cô ta giống như đã chết để đánh cắp thi thể của cô ta và điều khiển nó theo ý muốn, vì đó là việc đã từng xảy ra. Người thiếu phụ đó quả thật đã kể rằng trong khi chết, cô ta đã phải đi vào một cái hang tối om có nhiều quái vật kỳ lạ, những con khỉ đầu chó ôm lấy cô ta, những con quái vật đầu cá sấu cắn vào vú cô ta khiến cô hoảng sợ. Những chuyện đó đã được ghi lại và lưu giữ trong đền, ai muốn biết thì trả tiền và sẽ được đọc cho nghe. Nhưng ai mà tin lời đàn bà? Dù sao cái chết cũng tác động tới cô ta, đến mức cô ta trở nên sùng đạo cho đến hết đời, hằng ngày đến đền thờ và tiêu phí của cải của chồng cho đồ cúng tế, khiến con của cô ta trở nên nghèo khó và không còn của cải để giữ cho thi thể cô ta được trường tồn khi cô chết. Thay vào đó, đền thờ đã tặng cho cô ta một ngôi mộ và lưu giữ thi thể cô. Ngôi mộ vẫn còn trong nghĩa địa, việc này có lẽ cậu cũng biết.

Ông ấy càng nói, tôi càng quyết tâm giữ thi thể của bố mẹ tôi, bởi vì tôi mắc nợ họ, mặc dù sau khi sống trong Nhà Chết, tôi không biết liệu điều đó còn có ích cho họ nữa không. Việc bảo quản thi thể để trường tồn luôn khiến bố mẹ tôi vui khi nghĩ đến và là ước muốn duy nhất của họ trong tuổi già, do vậy tôi mong ước muốn đó được thực hiện và tôi có thể làm điều đó với sự giúp đỡ của Ramose. Tôi bọc họ trong vải và vì việc này, tôi đã ở trong Nhà Chết đến bốn mươi ngày đêm vì tôi phải trộm đủ để bảo quản thi thể bố mẹ tôi đúng cách. Nhưng tôi không có mộ cho họ, thậm chí một cái quan tài gỗ cũng không. Vì vậy, tôi khâu cả hai vào một tấm da bò để họ mãi mãi ở bên nhau.

Nhưng khi mọi việc đã xong và có thể rời Nhà Chết, tôi bắt đầu do dự, tim đập run rẩy trong lồng ngực. Nhận ra sự khéo léo của đôi tay tôi, Ramose khuyên tôi ở lại làm phụ tá cho ông. Nếu vậy, tôi có thể kiếm tiền và trộm thêm nhiều, có thể sống trong các hang hốc của Nhà Chết mà không bạn bè nào hay biết mình đang ở đâu, không phải trải qua những đau khổ của đời thường. Tuy nhiên, tôi không ở lại Nhà Chết, nhưng tại sao không thì tôi không thể nói, mặc dù tôi đã quen với cuộc sống trong hang, ở đó tôi thấy tốt và không ham muốn điều gì.

- Các thi thể lạnh cóng và không còn cử động, - Ramose nói. - Vì vậy hãy ở lại đây, bởi vì làm bạn với người chết tốt hơn với người sống. Khi đã chết, con người ta không làm tổn thương ai hay đem lại đau khổ cho ai như khi còn sống. Trái tim cậu cũng đã bị mũi tên xuyên thủng, nếu không cậu đã không ở đây. Vì sao cậu còn muốn quay lại với lũ người, nơi các mũi tên độc bay vun vút và cậu bị họ chọc thủng mắt, cắt tay, làm tổn thương trái tim cho đến khi nó quá già và thành sẹo đến nỗi không còn gì khiến nó rung động nữa.

- Tại sao bác vào Nhà Chết, Ramose? - Tôi hỏi. - Bác là một người thông thái và khéo léo, chắc chắn bác cũng sống được bằng nghề khác. Tại sao bác đến đây?

Nhưng Ramose quầy quậy lắc đầu như một con rùa, rụt cổ và không nhìn tôi.

- Cậu biết là không có ai đến Nhà Chết nếu không bị buộc phải làm thế, - ông nói. – Như thế đã đủ trả lời cậu rồi chứ?

Nhưng sau đó ông ta há miệng và cười hinh hích rồi lại uống bia lạnh từ vò của mình.

- Thật tốt khi được ở đây, - ông nói, - ta không cần gì cả, bởi vì mọi thứ đều phù phiếm. Tuy nhiên, cần biết rằng ai đã một lần ở trong Nhà Chết sẽ gắn bó với Nhà Chết đến cuối đời, đó là điều không thể tránh.

Nhưng khi đó tôi không hiểu ý ông ấy mà chỉ nghĩ ông hài hước. Vậy nên tôi tắm rửa sạch sẽ và rời khỏi Nhà Chết, và những người ngâm tẩm thi thể đã hét lên nguyền rủa và giễu cợt tôi. Tuy nhiên, họ không có ý như thế mà đó chỉ là cách họ nói chuyện với nhau và họ không biết thể hiện cách khác. Họ giúp tôi mang tấm da bò gói thi thể được tẩm ướp của bố mẹ tôi ra ngoài. Nhưng dù tôi đã tắm rửa sạch sẽ, dân chúng vẫn tránh xa tôi, đưa tay bịt mũi và làm những cử chỉ xúc phạm tôi. Mùi của Nhà Chết đã bám chặt vào tôi đến thế nên không ai nhận chèo đưa tôi qua sông. Vì thế tôi chờ đêm đến, trộm một chiếc thuyền sậy mà không thèm để ý đến lính gác và đưa thi thể của bố mẹ tôi qua sông, đến nghĩa địa của thành phố.

❖ 5 ❖

Thành phố của người chết được canh gác nghiêm ngặt cả về đêm, khiến tôi không tìm thấy ngôi mộ nào không được canh giữ để có thể giấu xác của bố mẹ mình, để họ được mãi trường tồn, được hưởng đồ cúng tế mà người ta dâng cúng cho những người giàu sang và quyền thế. Vì thế tôi vác tấm da bò chưa thuộc trên lưng đi vào vùng hoang mạc, mặc cho mặt trời đốt cháy lưng tôi, rút sức lực của đôi chân tôi, khiến tôi thở hồng hộc và nghĩ mình sẽ chết. Tôi vác tấm da bò trên lưng, leo những con dốc, theo những con đường mòn nguy hiểm mà chỉ những kẻ trộm xác mới dám đi để tới thung lũng cấm nơi các pharaon yên nghỉ. Chó hung sa mạc sủa dữ dội trong đêm, rắn độc vùng hoang mạc ngóc đầu phì phì với tôi và những con bọ cạp bò trên những tảng đá nóng, nhưng tôi không sợ vì trái tim tôi đã chai lì với mọi hiểm nguy và dù còn trẻ, tôi cũng sẽ vui vẻ đón nhận cái chết nếu như thần chết bắt tôi đi. Trở lại với ánh sáng ban ngày và nhìn thấy mọi người, tôi cảm thấy nỗi tủi hổ chua xót như nước kiềm và cuộc sống không có gì dành cho tôi.

Lúc đó tôi chưa biết rằng cái chết né tránh những người chờ mong nó và thần chết chỉ tìm đến những người vẫn còn ham sống. Vậy nên loài rắn tránh tôi, bò cạp không làm tôi bị thương và cái nóng ban ngày nơi hoang mạc không làm tôi nghẹt thở. Lính canh thung lũng cấm cũng mù và điếc, họ không nhìn thấy tôi và không nghe tiếng những tảng đá lăn khi tôi trượt xuống thung lũng. Vì nếu nhìn thấy tôi, họ sẽ giết tôi ngay và để xác tôi làm mồi cho chó hung sa mạc. Nhưng tôi đến vào ban đêm và có lẽ lính canh sợ cái thung lũng mà họ bảo vệ, vì các giáo sĩ đã bỏ bùa và yểm lên mộ các vị vua phép thuật mạnh nhất của mình. Nếu nhìn thấy tôi vác tấm da bò trên lưng trong thung lũng dưới ánh trăng hay nghe tiếng đổ ầm ầm trên sườn núi, có thể họ cũng quay mặt đi, kéo áo che đầu và nghĩ rằng những người chết đang lang thang trong thung lũng, bởi vì tôi không né tránh ai, mà cũng không thể né tránh vì không biết những nơi nào có điếm canh và cũng không ngụy trang mình. Thung lũng cấm hiện ra trước mặt tôi chết chóc đến rợn người và trong mắt tôi, với sự câm lặng của nó, thung lũng uy nghi hơn so với thời các pharaon từng ngồi trên ngai vàng trong những ngày họ còn sống.

Tôi đi lòng vòng trong thung lũng suốt đêm để tìm cửa mộ của một pharaon vĩ đại đã được các giáo sĩ dùng dấu niêm phong đóng kín vì tôi nghĩ khi đã đến được đây, chỉ có lăng mộ tốt nhất mới đủ tốt cho bố mẹ tôi. Tôi cũng muốn tìm mộ của Pharaon mới bước xuống thuyền Amon để các vật cúng tế dâng ngài vẫn còn tươi và việc cúng tế trong đền thờ ngài trên bờ sông được làm theo đúng nghi lễ, bởi vì chỉ có điều tốt nhất mới đủ tốt cho bố mẹ tôi khi tôi không thể cho họ ngôi mộ.

Trăng lặn dần, tôi đào xuống cát một cái hố bên cạnh cửa mộ Pharaon Amenhoteb Đệ Tam, chôn xuống đó tấm da bò mà tôi bó xác bố mẹ tôi rồi lấp cát lại. Ở nơi nào đó xa xa trong hoang mạc, chó hung sa mạc sủa oang oang nên tôi biết thần Anubis đang lang thang nơi hoang mạc, chăm sóc bố mẹ tôi và tiễn đưa họ trong chuyến đi cuối cùng. Và trước thần Osiris, tôi biết trái tim bố mẹ tôi sẽ vượt qua được thử thách của vị thần phán xét vĩ đại mà không cần đến Tử thư của các giáo sĩ cũng như những lời dối trá mà những người giàu có thường học thuộc lòng để dựa vào. Vì thế tâm trí tôi hoàn toàn thanh thản khi tay tôi lấp cát lên thi hài bố mẹ mình, vì tôi biết họ sẽ sống mãi muôn đời trong cõi vĩnh hằng bên cạnh Pharaon vĩ đại và khiêm nhường hưởng đồ cúng tế ngon lành người ta dâng cho ngài. Nơi miền tây, họ có thể đi trên thuyền của Pharaon, ăn bánh mì của Pharaon và uống rượu của Pharaon. Tôi đã làm được việc này bằng cách đặt cả thân mình dưới ngọn giáo của lính canh thung lũng cấm, nhưng không thể coi đó là việc làm dũng cảm vì tôi không sợ giáo của họ, mà bởi vì vào đêm đó, tôi xem cái chết dịu êm hơn cả mộc dược với tôi.

Nhưng khi đang hất cát xuống hố, tay tôi chạm phải một vật gì đó, tôi cầm lên một con bọ hung linh thiêng được khắc trên đá đỏ, mắt là những viên đá quý nhỏ và mình được khắc đầy những dấu linh thiêng. Khi ấy cả người tôi run lên và nước mắt tôi trào ra, rơi lã chã, bởi vì giữa thung lũng chết, tôi nghĩ tôi đã nhận được một tín hiệu từ bố mẹ mình, rằng họ hài lòng và mọi chuyện xảy ra với họ đều tốt. Tôi muốn tin như thế, mặc dù tôi biết chắc bọ hung đã rơi ra từ của cải trong mộ Pharaon và bị mắc lại trên cát.

Trăng đã lặn và bầu trời xám xịt màu chết chóc. Tôi cúi rạp xuống cát rồi giơ tay nói lời tạm biệt với bố Senmut và mẹ Kipa của tôi. Hãy để thi thể bố mẹ tôi trường tồn và cuộc sống của họ đầy niềm vui nơi miền tây. Vì họ mà tôi muốn tin rằng một vùng đất như vậy tồn tại, mặc dù tôi không còn tin vào điều đó nữa. Rồi tôi ra đi và không ngoái nhìn lại. Nhưng tôi mang theo con bọ hung linh thiêng trong tay và nhờ quyền năng rất mạnh của nó, tôi không bị lính canh nhìn thấy mặc dù tôi nhìn thấy họ khi họ đi ra khỏi điếm canh và nhóm lửa hâm nóng đồ ăn. Bọ hung rất thiêng vì tôi không bị trượt chân trên đá và bò cạp, rắn không động đến tôi mặc dù tôi không còn vác tấm da bò trên lưng. Tối hôm đó tôi ra đến bờ sông Nile, uống nước sông Nile rồi ngã vật ra đất và ngủ vùi trong một đám sậy. Bàn chân tôi ứa máu và đầy vết xước, tay tôi dính máu và trầy trụa, mắt tôi mờ đi sau khi qua vùng đất lạ, người tôi cháy đỏ và đầy vết rộp. Nhưng tôi vẫn sống và cơn đau không ngăn được tôi ngủ thiếp đi vì quá mệt.

❖ 6 ❖

Sáng sớm tôi thức dậy giữa tiếng quàng quạc của bầy vịt trong đám sậy, Amon chèo thuyền vàng trên bầu trời và tiếng ồn ào của thành phố vẳng đến tai tôi từ phía bên kia sông. Thuyền bè với những cánh buồm sạch bong chạy dọc sông, những người thợ giặt đập chày vào nhau, cười và hét rõ to trong khi làm việc. Buổi sáng tinh khôi và tươi sáng nhưng trái tim tôi trống vắng và cuộc sống như nắm tro tàn trong tay tôi.

Những cơn đau thể xác làm tôi hạnh phúc vì chúng đem lại cho sự tồn tại của tôi một mục đích nào đó. Vì cho đến lúc này, mục đích duy nhất của tôi là đem lại cho bố mẹ tôi một cuộc sống vĩnh hằng mà tôi đã lấy đi khi đẩy họ đến chỗ chết sớm. Việc tôi làm giờ đây đã được đền bù theo cách tôi có thể, nhưng sau đó cuộc đời tôi không có mục đích hay ý nghĩa nào khác. Trên người tôi chỉ có một cái khố rách bươm như của nô lệ, lưng tôi bị cháy sém thành vảy và tôi không có đến một miếng đồng nhỏ nhất để có thể mua đồ ăn. Nếu tiếp tục đi, tôi biết chẳng chóng thì chầy tôi sẽ gặp lính canh và họ sẽ hét gọi tôi, hỏi tôi là ai, từ đâu đến và tôi sẽ không thể trả lời, vì tôi tin cái tên Sinuhe đã bị tẩy xóa và nguyền rủa muôn đời. Chính vì vậy, tôi không thể đi đến nhà bạn bè mình, bởi tôi không muốn họ chia sẻ nỗi nhục nhã của mình, tôi cũng không muốn họ giơ tay từ chối tôi và quay lưng lại với tôi vì điều đó sẽ gây cho họ đau khổ. Tôi nghĩ mình đã làm quá nhiều điều tồi tệ rồi.

Đang miên man nghĩ về những điều đó, tôi để ý thấy một sinh vật sống đang rón rén rình quanh mình, nhưng lúc đầu tôi không thể tin đó là một con người mà chỉ nghĩ đó là bóng ma của một cơn ác mộng. Nơi vốn là cái mũi giờ chỉ còn là một cái hốc, tai đã bị cắt đứt và gầy đến phát sợ, nhưng khi nhìn kỹ hơn, tôi thấy bàn tay ông ta có những đốt to khỏe, cơ thể ông ta rắn chắc và đầy những vết hằn do mang vác hoặc dây thừng cọ xát.

Ông ta hỏi khi nhận ra tôi đã thấy ông ta:

- Anh đang giữ chặt cái gì trong nắm tay thế?

Tôi xòe bàn tay ra và cho ông ta xem con bọ hung thiêng của pharaon mà tôi tìm thấy trên cát trong thung lũng cấm. Ông ta nói:

- Anh cho tôi nhé, để nó mang lại may mắn cho tôi, vì tôi là một người đàn ông nghèo khổ và đang rất cần sự may mắn.

Nhưng tôi đáp:

- Tôi cũng là kẻ khốn cùng, không có gì khác ngoài con bọ hung này. Tôi muốn giữ nó như một lá bùa để nó mang lại may mắn cho tôi.

Ông ta liền nói:

- Tôi nghèo và khốn khổ thật, nhưng tôi cho anh một miếng bạc, mặc dù nó là quá nhiều so với viên đá sặc sỡ như thế. Song thương hại cho sự nghèo khó của anh nên tôi cho anh miếng bạc.

Rồi ông ta lấy ra một miếng bạc từ thắt lưng, nhưng vì thế tôi càng quyết tâm giữ con bọ hung và nhất mực tin rằng nó sẽ mang lại thành công cho tôi, và tôi nói điều đó với ông ta. Nghe xong ông ta giận dữ nói:

- Anh quên là tôi có thể giết anh khi anh đang nằm. Tôi đã nhìn anh rất lâu trong khi anh ngủ và băn khoăn không biết tay anh giữ chặt cái gì, vì vậy tôi đợi cho đến khi anh thức dậy, nhưng bây giờ tôi ân hận đã không giết anh vì anh vô ơn như thế.

Tôi trả lời ông ta:

- Nhìn mũi và tai của ông, tôi biết ông là một tên tội phạm và đã trốn khỏi mỏ đá. Giá như ông cứ giết tôi khi tôi ngủ thì ông đã làm một việc tốt, bởi tôi cô đơn và đang không biết đi đâu. Hãy giữ lấy tài sản của ông và trốn khỏi đây, bởi vì nếu lính canh nhìn thấy ông, họ sẽ bắt ông, nện cho nhừ tử rồi treo ngược ông lên tường hoặc ít nhất là đưa ông trở lại mỏ.

Nhưng ông ta nói:

- Tôi vẫn có thể giết anh nếu tôi muốn, bởi dù khốn khổ thế này nhưng tôi là người đàn ông khỏe mạnh. Nhưng vì viên đá, tôi không thèm làm điều đó, bởi chúng ta đang ở gần thành phố của người chết và lính canh có thể nghe thấy tiếng thét của anh. Vì vậy hãy giữ lấy vận may của mình, có lẽ anh thực sự cần nó hơn tôi. Tôi cũng muốn hỏi anh là loại người gì mà không biết rằng tôi không hề sợ lính canh, vì tôi là một người tự do chứ không còn là nô lệ nữa. Tôi có thể đi vào thành phố nhưng tôi sẽ không chường mặt ra nơi phố xá bởi vì trẻ con sợ khuôn mặt tôi.

- Làm sao một người bị đày chung thân ở mỏ lại tự do được? Tôi biết điều đó từ mũi và đôi tai bị cắt của ông, - tôi nhạo báng nói vì nghĩ đến sự khoác lác của ông ta.

- Tôi không giận vì lời nói của anh bởi vì tôi là một người sùng đạo và tôi sợ thần linh, - ông ta nói, - bởi thế tôi không nỡ giết anh khi anh đang ngủ. Nhưng đúng là anh không biết sau khi được trao vương miện của cả hai miền, Thái tử đã truyền cởi bỏ tất cả xiềng xích và giải phóng nô lệ khỏi các hầm mỏ, và những người làm việc ở đấy từ nay trở đi là những người tự do.

Ông ta cười một lúc lâu rồi nói tiếp:

- Vì vậy ở bãi sậy này chúng tôi có nhiều người, những người đàn ông lực lưỡng sống bằng đồ cúng tế của kẻ giàu có trong nghĩa địa, bởi lính canh sợ chúng tôi, còn chúng tôi không sợ người chết. Những ai từng ở mỏ không còn sợ bất cứ điều gì, vì như anh biết đấy, không điều gì xảy ra với con người có thể tồi tệ hơn việc làm nô lệ ở mỏ. Nhiều người trong chúng tôi thậm chí còn không sợ thần linh, nhưng tôi vẫn ngoan đạo vì tôi nghĩ cẩn tắc vô áy náy, mặc dù như anh thấy, tôi đã sống mười năm ở mỏ.

Lúc đó tôi mới nghe được tin Thái tử vừa lên ngôi là Amenhotep Đệ Tứ đã giải phóng tất cả nô lệ và tù nhân khiến các hầm mỏ và mỏ đá ở bờ biển phía đông cũng như ở Sinai đều hoang vắng. Bởi vì không ai ở Ai Cập điên rồ đến mức tự nguyện làm việc trong các hầm mỏ. Hoàng hậu vĩ đại hiện giờ là Công chúa Mitanni còn chơi búp bê, và Pharaon tôn thờ vị thần mới.

- Thần của ngài chắc là một vị thần kỳ lạ, - cựu phu mỏ nói, - bởi vì thần cho phép Pharaon làm những điều vô lý; vì lũ cướp và những kẻ giết người bây giờ được tự do đi lại ở cả hai miền; các mỏ bị bỏ hoang và Ai Cập không giàu lên nữa. Tôi thực sự vô tội và đã chịu bất công, nhưng điều đó luôn xảy ra và vẫn sẽ tiếp tục xảy ra. Vì thế thật điên rồ khi thả một trăm, một ngàn tội phạm chỉ để một người vô tội được tự do. Nhưng đó là việc của Pharaon chứ không phải của tôi. Hãy để ngài nghĩ thay tôi.

Trong khi nói, ông ta nhìn tôi, nghịch tay tôi và chạm lớp vảy trên lưng tôi. Mùi Nhà Chết từ tôi không làm ông ta sợ và dường như tiếc thương cho tuổi trẻ của tôi, ông ta nói:

- Da anh bị cháy. Tôi có dầu, để tôi xoa cho anh.

Ông ta xoa dầu lên lưng rồi chân và tay tôi nhưng vừa làm, ông ta vừa thề và nói:

- Thề có Amon, thực tình tôi không biết sao mình lại làm điều này bởi vì tôi không được lợi lộc gì từ anh, và chẳng ai xoa dầu cho tôi khi tôi bị đánh đến bị thương và nguyền rủa thần linh vì điều oan ức đã xảy ra với tôi.

Tất nhiên, tôi biết tất cả nô lệ và tội phạm đều thề rằng mình vô tội, nhưng ông ta cư xử tốt với tôi, bởi vậy tôi muốn thân thiện với ông ta. Và vì tôi chỉ có một mình nên tôi sợ ông ta rời xa tôi, để tôi lại một mình với trái tim cô đơn, vì thế tôi nói:

- Hãy kể cho tôi sự bất công xảy ra với ông để tôi có thể chia sẻ nỗi đau buồn cùng ông.

- Người ta đã đánh bật nỗi đau buồn ra khỏi tôi trong năm đầu tiên ở mỏ đồng, - ông ta nói. - Nỗi hận thù dai dẳng hơn, bởi vì phải mất năm năm hận thù mới bị đánh bật khỏi tôi và trái tim tôi trở nên chai lì với tất cả cảm xúc của con người. Nhưng sao tôi không kể với anh tất cả cơ chứ, bởi tôi muốn anh quên khi ngón tay tôi chắc chắn làm anh đau trong khi chà xát lớp vảy của anh. Hãy biết rằng trước đây tôi là một người tự do; tôi làm nông, có một ngôi nhà, có bò, có vợ và bia trong hũ của mình. Dĩ nhiên, tôi có một người hàng xóm, một người đàn ông có thế lực tên là Anukis - hãy để thi thể hắn tan rữa đi. Của cải của hắn không thể đo bằng mắt, số gia súc của hắn nhiều như cát và tiếng rống của chúng giống như tiếng gầm của biển, nhưng hắn vẫn thèm muốn mảnh đất nhỏ của tôi. Vì vậy hắn gây cho tôi rất nhiều rắc rối và sau mỗi trận lụt, khi đất được đo lại, hắn dời hòn đá ranh giới tới gần nhà tôi và tôi mất đất. Tôi không thể làm được gì bởi bọn địa chính nghe hắn chứ không nghe tôi vì hắn cho chúng những món quà tốt. Hắn cũng chặn mương tưới nước của tôi và ngăn nước chảy vào ruộng của tôi, để đàn bò của tôi khát nước, ngũ cốc của tôi héo khô và hũ bia của tôi cạn đi. Nhưng hắn không nghe thấy những lời phàn nàn của tôi vì mùa đông hắn sống trong ngôi nhà lớn ở Thebes và mùa hè hắn đến trang trại của mình để tận hưởng, chỉ có bọn đầy tớ của hắn ở đó, chúng lấy gậy đánh tôi và xua chó cắn tôi nếu tôi dám đến gần.

Người không mũi thở dài và xức dầu lên lưng tôi rồi nói tiếp:

- Nhưng có lẽ tôi vẫn sẽ sống trong nhà của mình nếu thần linh không nguyền rủa tôi bằng cách cho tôi một cô con gái xinh đẹp. Tôi có năm con trai và ba con gái, vì người nghèo mắn đẻ và khi chúng lớn lên, tôi được chúng giúp đỡ rất nhiều, chúng mang lại cho tôi niềm vui, mặc dù một đứa con trai khi còn nhỏ đã trộm của một người bán hàng Syria. Nhưng con gái út của tôi rất xinh đẹp và trong cái dại dột điên rồ của mình, tôi tự hào về nó nên không để nó phải làm việc nặng nhọc, không bị cháy da trên đồng và cũng không phải kín nước. Lẽ ra khôn ngoan hơn, tôi nên cắt tóc con bé và bôi nhọ nồi lên mặt nó, bởi vì hàng xóm của tôi, Anukis nhìn thấy con bé và thèm muốn nó khiến tôi không còn đến một ngày bình yên. Hắn ta kiện tôi ra tòa với lý do bò của tôi giậm đạp trên đồng của hắn, các con trai tôi chặn mương tưới nước của hắn và vứt xác súc vật thối vào giếng của hắn; hắn cũng nói tôi vay hạt giống của hắn trong những năm mất mùa; tất cả những điều đó được đầy tớ của hắn chứng thực và quan tòa đã không nghe tôi. Nhưng hắn ta nói sẽ cho tôi giữ lại cánh đồng của mình nếu tôi cho hắn con gái tôi. Điều đó dĩ nhiên tôi không đồng ý, vì tôi hy vọng với sắc đẹp của con gái tôi, nó sẽ có được một người đàn ông đáng kính, sẽ chăm sóc và thương yêu tôi lúc tuổi già. Cuối cùng, đám đầy tớ của hắn xông đến đánh tôi, còn tôi không có gì khác ngoài cây gậy của mình và tôi đã lấy gậy quật vào đầu một đứa khiến hắn ta chết. Sau đó tôi bị cắt tai và mũi rồi bị đày đến mỏ, vợ con tôi bị bán làm nô lệ vì các khoản nợ chưa trả, riêng con gái út bị Anukis giữ lại và sau khi ăn nằm chán chê, hắn để con bé cho lũ gia nhân. Vì thế, tôi tin việc tôi bị đày đến mỏ thật bất công. Bây giờ, khi được nhà vua trả tự do sau mười năm, tôi vội vàng trở về nhà nhưng nhà tôi đã bị dỡ, trên đồng cỏ là một đàn gia súc lạ và con gái tôi không còn nhận ra tôi mà hắt nước nóng vào chân tôi trong lều của những người chăn gia súc. Nhưng tôi nghe nói Anukis đã chết và trên cửa ngôi mộ to lớn của hắn trong nghĩa địa Thebes có một dòng chữ dài. Vì thế tôi đến Thebes để nhìn xem dòng chữ trên mộ hắn viết gì cho lòng khuây khỏa, nhưng tôi không biết đọc và không ai đọc nó cho tôi, mặc dù tôi đã dò hỏi và tìm được ngôi mộ.

- Nếu ông muốn, tôi đọc cho ông, - tôi nói, - vì tôi biết đọc.

- Thi thể của anh sẽ được giữ mãi muôn đời nếu anh giúp tôi được việc này, - ông ta nói. - Tôi là một người đàn ông nghèo và tôi tin tất cả những gì được viết, vì vậy tôi muốn biết người ta viết gì về Anukis trước khi tôi nhắm mắt xuôi tay.

Ông ta xoa dầu lên người tôi và giặt khố cho tôi, rồi chúng tôi đi đến nghĩa địa và lính canh không chặn chúng tôi. Chúng tôi đi qua các ngôi mộ cho đến khi ông ta chỉ cho tôi một ngôi mộ lớn, phía trước bày thịt với nhiều loại bánh ngọt, trái cây và hoa. Trước mộ còn có một hũ rượu đậy kín. Người không mũi ăn các đồ cúng và đưa cho tôi cùng ăn rồi nhờ tôi đọc những gì được viết trên cửa ngôi mộ. Tôi đọc cho ông ta:

“Tôi, Anukis, trồng ngũ cốc và cây ăn quả, mùa màng của tôi bội thu bởi tôi, vì sợ thần linh nên đã dâng cúng cho các thần một phần năm số sản phẩm thu hoạch được. Sông Nile đã độ lượng với tôi và trong suốt cuộc đời tôi, không ai trong trang trại của tôi phải chịu đói, hàng xóm của tôi cũng không bị đói vì tôi dẫn nước đến ruộng của họ và cho họ ngũ cốc những khi mất mùa. Tôi đã lau khô nước mắt của trẻ mồ côi, không cướp bóc những quả phụ và còn xóa cho họ tất cả các khoản nợ nên tên của tôi được cầu nguyện khắp vùng. Ai mất bò, tôi, Anukis, cho người đó một con bò khỏe mạnh. Tôi đã không dời những hòn đá ranh giới cũng như không ngăn dòng nước chảy qua cánh đồng láng giềng mà tuân thủ pháp luật và đạo lý trong suốt cuộc đời mình. Tôi, Anukis, đã làm tất cả những điều này để các vị thần ưu ái và giúp cho hành trình của tôi đến miền tây được thuận chèo mát mái.”

Người không mũi lắng nghe chăm chú. Sau khi tôi đọc xong, ông khóc thảm thiết và nói:

- Tôi là một người đàn ông nghèo và tôi tin tất cả những gì được viết. Tôi thấy Anukis là người ngoan đạo và hắn ta được kính trọng sau khi chết. Các thế hệ tương lai cũng sẽ đọc những lời khắc trên cửa mộ của hắn và kính trọng hắn ta. Còn tôi là một tội phạm và người khốn khổ, không tai, không mũi nên mọi người nhìn thấy nỗi nhục nhã của tôi, rồi khi tôi chết, thi thể của tôi bị ném xuống sông và tôi không còn nữa. Vậy, chẳng phải tất cả mọi thứ trên thế gian này đều hết sức vô nghĩa ư?

Ông ta cạy lớp xi trên hũ rượu và uống. Lính canh đến và giơ gậy đe dọa nhưng ông ta nói:

- Anukis đã làm rất nhiều điều tốt cho tôi trong cuộc đời tôi. Do đó, tôi tưởng nhớ ông ta bằng cách ăn uống bên mộ ông ta. Nếu anh động đến tôi hoặc anh bạn đứng cạnh tôi đây, một người có học vì anh ấy biết đọc các bia ký, hoặc nếu anh gọi các lính canh khác đến giúp, thì hãy biết rằng trong bãi sậy chúng tôi có nhiều người khỏe mạnh, nhiều người có dao có thể đến cắt cổ anh. Tất nhiên tôi sẽ lấy làm tiếc về điều đó, vì là một người ngoan đạo và tin vào thần linh, tôi không muốn làm điều bất công cho bất cứ ai. Vậy nên tốt hơn là anh hãy để chúng tôi được yên và coi như không nhìn thấy chúng tôi.

Ông ta trừng mắt nhìn gã lính canh, và thấy ông ta rách rưới, không mũi, không tai trông cũng thật kinh khủng nên gã tin lời ông ta, nhìn xung quanh rồi bỏ đi. Chúng tôi ăn và uống bên cạnh mộ Anukis, trong lều cúng tế mát mẻ và dễ chịu và sau khi uống rượu xong, người không mũi nói:

- Bây giờ tôi hiểu rằng nếu tôi tự nguyện trao con gái mình cho Anukis thì chắc sẽ tốt hơn. Có lẽ hắn ta sẽ để tôi giữ lại căn nhà và có thể sẽ tặng quà cho tôi, vì con gái tôi rất xinh đẹp và ngây thơ, mặc dù bây giờ nó chỉ là tấm thảm ngủ cho lũ đầy tớ của hắn. Bây giờ tôi biết rằng trên thế gian này không có lẽ phải nào khác ngoài lẽ phải của kẻ giàu, và lời nói của kẻ nghèo hèn không đến được tai của pharaon.

Ông ta nhấc hũ rượu lên, cười lớn và nói:

- Chúc mừng ngươi, Anukis đức độ, hãy giữ thi thể ngươi muôn đời vì ta không muốn theo ngươi đến miền tây, nơi ngươi và những người như ngươi sống một cuộc đời hạnh phúc mà không sợ thần linh phiền nhiễu. Tuy nhiên, ta nghĩ sẽ tốt hơn nếu ngươi vẫn tiếp tục sống tốt trên trần gian và chia phần cho ta những chiếc bát và đồ trang sức bằng vàng được cất giữ trong mộ của ngươi. Vì thế tối nay ta sẽ đến chào ngươi khi mặt trăng khuất vào đám mây.

- Ông nói gì, người không mũi? - Tôi sợ hãi kêu lên và theo bản năng giơ tay làm dấu Amon linh thiêng. - Ông không định thành kẻ trộm mộ chứ, bởi vì đó là tội nhục nhã nhất trước thần linh và con người?

Nhưng người không mũi bị rượu làm cho điên lên và nói:

- Anh có học mà nói như cứt! Anukis nợ tôi và tôi không nhân từ như hắn, tôi phải đòi món nợ của mình. Nếu anh định cản tôi, tôi sẽ cắt cổ anh, còn nếu khôn ngoan, anh hãy giúp tôi bởi vì bốn mắt sẽ nhìn rõ hơn hai mắt và cùng nhau, chúng ta sẽ lấy được từ mộ nhiều hơn so với chỉ một người khi cửa mộ bị đập vỡ, nếu đêm mai không có trăng.

- Tôi không muốn bị đánh rồi bị treo ngược lên tường thành, - tôi hốt hoảng nói nhưng khi bắt đầu ngẫm nghĩ, tôi thấy nỗi nhục nhã của tôi không vì thế mà tăng lên nếu như bạn bè nhìn thấy tôi bị treo ngược trên tường và cái chết không đe dọa nổi tôi.

Thế nên chúng tôi ăn và uống hết vò rượu rồi đập vỡ nó và ném các mảnh vỡ lên các mộ xung quanh. Lính canh không hét dọa chúng tôi mà tránh xa vì sợ. Đêm đến, lính từ thành phố chèo thuyền đến thành phố chết để bảo vệ các ngôi mộ, nhưng Pharaon mới không tặng họ quà sau khi đăng quang như thông lệ. Vì thế họ rền rĩ, đốt đuốc, bắt đầu phá các ngôi mộ rồi uống rượu và cướp mộ, vì trong các am thờ trước mộ có rất nhiều hũ rượu. Cũng không ai ngăn chặn người không mũi và tôi khi chúng tôi phá mộ của Anukis rồi lật quan tài của hắn ta lên, lấy đi những chiếc bát vàng và những thứ đắt tiền mà chúng tôi có thể mang theo. Vào sáng sớm, một tốp thương nhân Syria đã chờ trên bờ sông để mua đồ bị cướp từ các hầm mộ và đưa xuống thuyền xuôi dọc sông. Chúng tôi đã bán cho họ các thứ lấy được và nhận về vàng và bạc, tổng cộng gần hai trăm deben rồi chia đều cho nhau theo trọng lượng được ghi trên vàng và bạc. Nhưng vàng bạc chúng tôi nhận được từ số của cải lấy từ mộ chỉ bằng một phần nhỏ so với giá thật của chúng và vàng là vàng pha. Tuy nhiên, người không mũi vẫn rất vui, ông ta nói:

- Tôi sẽ trở thành người giàu có, vì chắc chắn nghề này mang lại nhiều lợi nhuận hơn là khuân vác trên bến cảng hoặc kín nước từ kênh thủy lợi lên đồng ruộng.

Nhưng tôi bảo:

- Vận may đến rồi đi thôi!

Vậy nên chúng tôi chia tay nhau, tôi lên thuyền buôn để trở lại bờ bên kia, về Thebes. Tôi mua cho mình quần áo mới và ăn uống trong quán rượu vì mùi Nhà Chết từ người tôi đã bắt đầu bay hết. Nhưng suốt cả ngày, tiếng tù và và tiếng vũ khí lách cách vang lên từ thành phố chết bên kia sông. Các chiến xa chạy dọc theo lối đi giữa các hầm mộ và lính cấm vệ của Pharaon tay cầm giáo truy đuổi những người lính và phu mỏ cướp mộ khiến tiếng khóc chết chóc của họ vọng đến thành phố. Tối hôm đó, trên tường thành đầy thân người treo ngược và trật tự được thiết lập lại ở Thebes.

❖ 7 ❖

Tôi qua đêm ở một nhà trọ, sau đó về nhà cũ của mình và gọi Kaptah. Kaptah khập khiễng đi ra, má sưng vù vì bị đánh nhưng khi nhìn thấy tôi, ông ấy bắt đầu khóc vì vui sướng với con mắt còn lại của mình và gục xuống dưới chân tôi, nói:

- Ông chủ của tôi, ông đã trở về, vậy mà tôi cứ tưởng ông đã chết. Bởi tôi nghĩ nếu còn sống, chắc ông sẽ bảo tôi đưa thêm đồng và bạc, vì khi đã cho một lần, người ta phải cho thêm nữa. Nhưng ông đã không đến, mặc dù vì ông tôi đã lấy trộm từ người chủ mới thật nhiều khi còn kịp. Cầu cho thi thể ông ta thối rữa, như ông nhìn thấy, chân và má tôi bị ông ta đá hôm qua. Mẹ ông ta, mụ cá sấu, cầu cho mụ ta tan thành bụi vì đã dọa bán tôi khiến tôi rất sợ. Vậy nên hãy nhanh chóng rời khỏi ngôi nhà xấu xa này, ông chủ của tôi ạ, và tôi sẽ trốn cùng ông.

Tôi ngần ngừ và có thể ông ấy hiểu lầm sự ngần ngừ của tôi, vì ông nói:

- Tôi đã trộm rất nhiều, đủ để chu cấp cho ông trong một thời gian, ông chủ ạ, và khi của cải của tôi hết, tôi có thể làm việc cho ông, miễn là ông giải thoát tôi khỏi bàn tay của mụ cá sấu này và con trai bà ta.

- Tôi chỉ đến để trả nợ cho ông thôi, Kaptah, - tôi nói rồi đếm vàng và bạc cho ông ấy, nhiều hơn gấp nhiều lần số ông ấy đã đưa cho tôi. - Nhưng nếu ông muốn, tôi có thể mua lại ông từ chủ của ông để ông được tự do và có thể đi bất cứ nơi nào ông muốn.

Khi cảm nhận được sức nặng của vàng và bạc trong tay, Kaptah rất vui và bắt đầu nhảy cẫng lên, quên bẵng mình đã là một ông già và chân đi khập khiễng. Nhưng rồi ông ấy xấu hổ nói:

- Đúng là tôi đã đau khổ khóc khi đưa cho ông số tiền tiết kiệm, nhưng xin ông đừng giận tôi. Nếu ông giải thoát tôi thì tôi đi đâu, suốt cuộc đời mình tôi cũng chỉ là một nô lệ. Không có ông, tôi giống như con mèo con bị mù hoặc con cừu non bị lạc mẹ. Ông không nên tiêu số vàng đắt đỏ để giải phóng tôi, vì tại sao ông lại phải trả để có thứ mà ông đã sở hữu.

Ông ấy nhấp nháy con mắt còn lại của mình một cách ranh mãnh và vờ ngẫm nghĩ.

- Trong thời gian chờ đợi ông, mỗi ngày tôi đều dò hỏi về các chuyến thuyền đi, - ông nói tiếp. - Hiện giờ có một thuyền lớn và có vẻ chắc chắn sắp rời đi Simyra mà ta có thể đi nếu cúng đủ lễ vật cho các thần. Thật đáng tiếc là tôi chưa tìm thấy một vị thần đủ mạnh sau khi từ bỏ Amon, vị thần chỉ gây ra mất mát. Tôi đã cần mẫn dò hỏi về một số thần và tôi cũng đang thử vị thần mới của Pharaon; đền thần này đã mở cửa trở lại và nhiều người đến đó vì mong được Pharaon sủng ái. Nhưng theo lời người ta kể, Pharaon nói thần của ngài sống vì sự thật, vì vậy tôi sợ rằng thần của ngài là một vị thần dễ gây rắc rối và có vẻ không đem lại cho tôi lợi ích gì.

Nhớ ra con bọ hung mà mình đã tìm thấy, tôi đưa nó cho Kaptah và bảo:

- Đây là thần cho ông đây, một vị thần rất mạnh dù có kích thước nhỏ. Hãy bảo quản ngài thật tốt vì tôi tin ngài sẽ mang lại may mắn cho chúng ta bởi tôi đã có vàng trong túi mình. Vì vậy hãy mặc quần áo, cải trang thành người Syria và trốn đi nếu ông thực sự muốn, nhưng đừng đổ lỗi cho tôi nếu ông bị bắt như một kẻ đào tẩu. Hãy để vị thần nhỏ này giúp ông vì có lẽ tốt nhất chúng ta nên tiết kiệm tiền để trả cho chuyến đi tới Simyra. Bởi tôi không thể nhìn mặt ai ở Thebes hay bất cứ nơi nào khác trên đất Ai Cập nữa. Tôi ra đi vì rõ ràng tôi phải có một nơi để sống và tôi không bao giờ trở lại Thebes nữa.

Nhưng Kaptah nói:

- Tốt nhất là không thề nguyền gì, ông chủ ạ, vì không ai biết ngày mai thế nào, ai đã từng một lần uống nước sông Nile, suốt đời sẽ thèm khát nguồn nước ấy. Còn lại thì suy nghĩ và quyết định của ông là khôn ngoan; thêm nữa, ông còn khôn ngoan hơn khi đưa tôi đi cùng, bởi vì thiếu tôi, ông giống như một đứa trẻ không thể tự quấn tã. Tôi không biết ông đã làm gì xấu, mặc dù mắt ông trợn trừng trắng dã khi nhớ lại, nhưng ông vẫn còn trẻ và rồi ông sẽ quên thôi. Việc làm của con người giống như hòn đá bị ném xuống nước. Đá rơi tõm xuống và nước bắn lên, nhưng rồi mặt nước phẳng lại và không thấy đá đâu nữa. Ký ức của con người cũng giống như vậy. Khi thời gian trôi qua đủ lâu, mọi người sẽ quên ông và việc làm của ông, ông có thể trở lại và hy vọng khi đó ông mạnh mẽ và giàu có, đến mức ông cũng có thể bảo vệ được tôi nếu không may danh sách truy tìm nô lệ gây phiền phức cho tôi.

- Tôi đi và sẽ không bao giờ trở lại! - Tôi nói một cách dứt khoát.

Lúc này bà chủ mới the thé hét gọi Kaptah. Tôi tránh đi và đợi ông ta ở góc phố, một lúc sau ông ta đi ra với cái giỏ có một gói nhỏ bên trong và một nắm đồng leng keng trong tay.

- Mụ cá sấu sai tôi ra chợ mua đồ, - ông ta hớn hở nói. - Mụ ta đưa tôi quá ít miếng đồng như thường lệ, nhưng đã lên đường thì càng nhiều càng ít, bởi tôi nghĩ từ đây đến Simyra rất xa.

Trong giỏ của ông ấy có một bộ quần áo và một bộ tóc giả. Chúng tôi đi đến bãi sông, Kaptah vào đám sậy thay quần áo rồi tôi mua cho ông ấy một cây gậy đẹp, loại gậy gia nhân và người chạy trước kiệu của giới quyền quý thường dùng. Sau đó chúng tôi đi đến bến cảng nơi thuyền Syria cập vào và tìm thấy một chiếc thuyền lớn có dây cáp to dày cỡ một người, chạy dài từ mũi đến đuôi; trên cột buồm, cờ hiệu xuất phát đang bay. Thuyền trưởng là người Syria, rất vui khi biết tôi là danh y vì ông ta coi trọng y học Ai Cập và nhiều thủy thủ của ông bị bệnh. Bọ hung quả thật đã mang lại may mắn cho chúng tôi, vì thuyền trưởng viết tên chúng tôi vào danh sách của thuyền và không thu phí chuyến đi của chúng tôi, miễn là chúng tôi tự trả cho bữa ăn của mình. Từ đó trở đi, Kaptah sùng tín bọ hung như một vị thần, mỗi ngày xức cho nó một loại dầu tốt và bọc nó vào một miếng vải đắt tiền.

Chiếc thuyền rời bến, các nô lệ bắt đầu chèo và sau mười tám ngày, chúng tôi đã đến ranh giới giữa hai miền và sau mười tám ngày nữa, chúng tôi đến nơi con sông chia làm hai nhánh chảy ra biển và hai ngày sau, biển cả đã ở trước mặt chúng tôi. Thuyền đã đi qua các thành phố và đền đài, các cánh đồng và gia súc, nhưng sự giàu có của Ai Cập không làm tôi vui mà tôi chỉ nóng lòng, ước sao hành trình ngắn lại và nhanh đưa tôi rời khỏi xứ đất đen. Nhưng khi biển ở trước mặt và không nhìn thấy bờ bên kia, Kaptah bồn chồn lo lắng và hỏi liệu bây giờ lên đất liền, đi theo đường bộ đến Simyra thì có tốt hơn không, mặc dù hành trình có thể khó khăn và bọn cướp sẽ gây phiền nhiễu cho chúng tôi. Sự bồn chồn của ông ấy tăng lên khi những người chèo thuyền và thủy thủ, theo phong tục của họ, bắt đầu than vãn và lấy những hòn đá sắc nhọn cào lên mặt khiến máu rỉ ra, phớt lờ lệnh cấm của thuyền trưởng vì anh ta không muốn làm hành khách trên thuyền sợ hãi. Tên của thuyền là “Cá Kiếm”. Thuyền trưởng sai lấy roi quất đám thủy thủ và người chèo thuyền, nhưng việc này không làm họ bớt kêu than và gào khóc, vì vậy nhiều hành khách cũng bắt đầu than vãn và cầu cứu thần linh. Người Ai Cập cầu xin thần Amon giúp đỡ, còn người Syria giật râu và gọi thần Baal của Simyra, Sidon, Byblos hay các thành phố khác, tùy theo quê quán của họ.

Thấy thế tôi cũng bảo Kaptah nếu sợ thì cầu cứu thần của chúng tôi nên ông ấy đã mở miếng vải quấn bọ hung linh thiêng ra rồi nằm rạp xuống sàn thuyền, ném một miếng bạc xuống nước để xoa dịu thần biển và khóc cho cả chính mình lẫn miếng bạc bị mất. Các thủy thủ ngừng la hét và giương buồm khi thuyền nghiêng và bắt đầu lắc lư; các tay chèo được phát bia và bánh mì.

Nhưng khi thuyền bắt đầu chao đảo, mặt Kaptah trở nên xám ngoét, ông ấy không hét lên nữa mà ôm chặt lấy dây cáp. Một lúc sau ông ấy buồn rầu nói với tôi rằng dạ dày ông như leo lên tận tai và ông biết mình sắp chết. Nhưng ông không muốn trách tôi dù tôi đã dụ dỗ ông vào chuyến đi này, mà tha thứ cho tôi để thần linh cũng phù hộ ông, bởi vì ông có hy vọng mong manh rằng nước biển sẽ đủ mặn để giữ thi thể ông, nhờ đó ông sẽ đến được miền tây sau khi chết đuối. Nhưng các thủy thủ nghe được lời ông đã cười nhạo ông, rằng biển đầy quái vật và chúng sẽ nuốt chửng ông trước khi ông chạm được đến đáy.

Gió mạnh lên, thuyền bắt đầu rung lắc mạnh hơn và thuyền trưởng đã lái nó ra xa tới mức không còn thấy bờ nữa. Lúc ấy tôi cũng bắt đầu lo vì tôi không hiểu anh ta làm thế nào có thể tìm lại bờ để lái thuyền vào một khi đã để mất nó. Tôi không còn cười Kaptah mà đầu óc tôi choáng váng và tôi có một cảm giác rất lạ lùng. Một lúc sau, Kaptah nôn ọe và gục xuống sàn thuyền mặt xanh mét, không nói năng gì nữa. Lúc đó tôi hoảng sợ và khi thấy nhiều hành khách khác cũng nôn mửa, mặt xám ngoét và rên rỉ rằng họ sẽ chết, tôi vội vàng đi đến chỗ thuyền trưởng và nói các vị thần rõ ràng đã nguyền rủa thuyền của anh ta, vì vậy trên thuyền có một bệnh dịch đáng sợ bất chấp tài chữa bệnh của tôi. Tôi van thuyền trưởng quay thuyền trở lại bờ, nếu anh ta có thể tìm thấy nó; nếu không, dù là thầy thuốc tôi cũng không thể chịu trách nhiệm về các hậu quả. Tôi cũng nói cơn bão đang hoành hành quanh chúng tôi thật khủng khiếp, làm rung lắc thuyền khiến các mối ghép kêu răng rắc, mặc dù tôi không muốn chõ mũi vào nghề nghiệp của anh ta.

Nhưng thuyền trưởng trấn an tôi và an ủi rằng chúng tôi chỉ đang gặp một cơn gió vừa đủ để dong buồm, giúp hành trình nhanh hơn, vì vậy tôi không nên chế nhạo thần linh khi nói về cơn bão. Còn căn bệnh xảy ra với các hành khách chỉ là do vì đã trả tiền cho bữa ăn trong chuyến đi nên họ tham mà đã ăn quá nhiều của nhà hàng, điều này gây thiệt hại đáng kể cho chủ quán người Simyra, cũng là chủ thuyền. Vì thế có lẽ hãng buôn ở Simyra đã cúng tế các thần biển để hành khách không thể giữ thức ăn trong bụng và do đó sẽ không như những con quỷ đói làm cạn rỗng nguồn cung lương thực khiêm tốn của thuyền.

Giải thích của anh ta không thật sự an ủi tôi và tôi dám hỏi liệu anh ta có tìm lại bờ được không vì trời sắp tối. Anh ta cam đoan rằng trong buồng thuyền trưởng của anh ta có rất nhiều vị thần có thể giúp anh ta tìm đúng hướng dù ngày hay đêm, miễn là có thể nhìn thấy những ngôi sao vào ban đêm và mặt trời vào ban ngày. Nhưng chắc chắn anh ta đã nói dối vì làm gì có vị thần nào như vậy.

Vì thế tôi chế nhạo và hỏi anh ta tại sao tôi không bị bệnh như những hành khách khác. Anh ta nói điều đó không khó hiểu, vì tôi tự trả tiền thức ăn của mình trên thuyền và cũng không gây ra bất kỳ thiệt hại nào cho chủ thuyền. Còn Kaptah, anh ta nói gia nhân thì khác. Họ khi ốm khi khỏe mạnh, rất thất thường. Nhưng anh ta cam đoan rằng tất cả hành khách sẽ sống khỏe như dê con ngay khi đặt chân lên vùng đất khô ráo ở Simyra và tôi không cần phải lo sợ về thanh danh thầy thuốc của mình. Nhưng tôi khó có thể tin vào điều này khi nhìn tình cảnh khốn khổ của họ.

Nhưng vì sao tôi không bị bệnh nặng, điều đó tôi không thể nói, ngoại trừ lý do ngay sau khi được sinh ra, tôi đã bị ném vào sóng của sông Nile trên một chiếc thuyền sậy đung đưa. Tôi không thể tìm được lời giải thích nào khác.

Tôi cố gắng chăm sóc Kaptah và các hành khách theo cách tốt nhất có thể nhưng khi tôi chạm vào họ, họ la mắng tôi và khi tôi đưa thức ăn cho Kaptah ăn để lấy sức, ông quay đầu đi và phát ra những tiếng lộc bộc nghe như hà mã đang làm rỗng bụng mặc dù không còn gì để nôn ra. Trước đây Kaptah chưa bao giờ quay mặt đi trước bát thức ăn, vì thế tôi bắt đầu tin rằng có thể ông ấy sẽ chết và tôi rất lấy làm tiếc vì đã kịp quen với những lời ngu ngốc của ông.

Màn đêm buông xuống, cuối cùng tôi cũng ngủ, mặc dù tiếng nghiến ken két của các chỗ nối và tiếng đập kinh hoàng của những cánh buồm do sóng biển đập vào hai bên mạn thuyền làm tôi hoảng sợ. Phải mất vài ngày như thế, song không có hành khách nào chết mà một số bắt đầu ăn trở lại và đi lại dọc mạn thuyền. Chỉ Kaptah nằm yên tại chỗ và không sờ đến thức ăn, nhưng vẫn có dấu hiệu của sự sống vì ông ấy bắt đầu cầu khấn bọ hung của chúng tôi, từ đó tôi luận ra ông ấy có hy vọng sống được đến khi vào đất liền. Vào ngày thứ bảy, bờ biển lại hiện ra và thuyền trưởng nói thuyền đã đi qua Joppa và Tyre, đang hướng thẳng đến Simyra nhờ đang xuôi gió. Nhưng từ đâu mà anh ta biết tất cả những điều đó, đến hôm nay tôi vẫn không thể biết. Dù sao, Simyra cũng đã hiện ra vào ngày hôm sau và thuyền trưởng cúng rất nhiều đồ lễ cho các vị thần của biển và các vị thần trong buồng thuyền trưởng. Những cánh buồm được hạ xuống, toán chèo thuyền thả chèo xuống nước và thuyền được chèo đến bến cảng Simyra.

Khi chúng tôi vào đến được vùng nước lặng, Kaptah đứng lên và thề với bọ hung rằng ông sẽ không bao giờ đặt chân lên thuyền nữa.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của mika waltari