
❖ 1 ❖
Trước khi bắt đầu vào sách mới, tôi cần phải ngợi ca thời quá khứ ấy, khi tôi được tự do đi qua nhiều nước và học được thêm bao nhiêu kiến thức, vì thời gian như thế chắc sẽ không bao giờ trở lại. Cứ thế, tôi du hành trong một thế giới bốn mươi năm liền không có chiến tranh, các đoàn chở hàng và thương gia được lính cấm vệ của các quốc vương bảo vệ, và vùng sông, biển được hải đội của pharaon các triều đại bảo vệ khỏi thủy hải tặc. Biên giới rộng mở và thương gia cùng du khách mang vàng theo người được chào đón ở khắp các thành phố; người ta không xúc phạm nhau mà cúi người chào, hạ tay xuống ngang đầu gối và học hỏi phong tục của nhau; người có học thức nói nhiều thứ tiếng và viết hai loại chữ. Các cánh đồng được tưới tiêu đem lại mùa màng bội thu và thay vào vị thế sông Nile, dòng Nile từ trời cao tưới nước cho ruộng đồng của miền đất đỏ. Những nơi tôi du hành qua, đàn gia súc lững thững, bình an trên đồng cỏ; người chăn dắt không giáo mác thổi tiêu và hát những bài ca vui nhộn; những đồi nho tươi tốt và cây ăn quả trĩu nặng trái chín; các giáo sĩ béo tốt, mặt bóng nhẫy dầu xức và khói bốc lên từ vô số vật hiến tế trong sân trước các đền ở tất cả các nước; cả thần linh cũng mãn nguyện, nhân từ và béo tốt nhờ đủ loại đồ cúng tế. Người giàu giàu hơn, kẻ quyền thế quyền thế hơn, còn người nghèo lại nghèo hơn, như thần linh đã sắp đặt và như vậy, tất cả mọi người đều hài lòng, không than vãn, kêu ca. Trong tâm trí tôi hiện về những hình ảnh như vậy của một thời đã qua, thời có lẽ không bao giờ trở lại, khi tôi còn trẻ và thân thể tôi chưa mệt mỏi với những chuyến đi dài, đôi mắt tò mò của tôi thèm được thấy những điều mới lạ, lòng tôi khao khát tri thức và háo hức tiếp nhận mọi điều.
Để ví dụ cho cuộc sống quy củ và ở mọi nơi đều như nhau, tôi có thể kể đến việc thương điếm của một ngôi đền ở Babylon đã không ngần ngại trao cho tôi số vàng được viết trên những bảng đất sét mà tôi nhận được từ thương điếm của mình ở Simyra; hay ở tất cả các thành phố lớn đều có thể mua rượu của vùng núi hay của bến cảng, những thứ được đưa từ xa đến; và ở các thành phố Syria, rượu vang vùng núi Babylon được cho là tốt nhất còn ở Babylon người ta trả vàng cho rượu Syria. Ai có vàng đều có thể mua nô lệ với màu da và dáng vóc khác nhau, mua trẻ em và người lớn, mua các cô gái trẻ để có người vui thú và thuê cho mình người làm công. Ai không có vàng thì làm việc chân tay cho đến khi tay chai cứng, da sần sùi và dày cộp hay lưng còng. Nhưng kẻ nào lẻn vào nhà giàu trộm vàng để uống rượu, tiêu khiển và mua nô lệ cho mình, kẻ đó sẽ bị bắt và treo ngược trên tường để làm gương cho kẻ khác.
Tôi đã ngợi ca như thế về những ngày hạnh phúc đã qua, khi ngay cả mặt trời cũng chiếu sáng hơn và cơn gió cũng dịu dàng hơn những ngày tồi tệ này, còn giờ đây, tôi sẽ kể về tất cả những điều mắt tôi đã thấy và tai tôi đã nghe được trong những chuyến đi. Nhưng trước tiên, tôi cần kể tôi đã trở lại Simyra như thế nào.
Khi tôi trở về nhà mình ở Simyra, Kaptah lao về phía tôi, hét to lên, òa khóc sung sướng rồi nằm rạp xuống chân tôi và nói:
- Tạ ơn ngày may mắn đã đưa ông chủ tôi về nhà. Ông đã quay về mặc dù tôi nghĩ rằng ông đã chết trong trận chiến và tôi tin chắc ông đã bị ngọn giáo đâm xuyên người vì ông không chịu nghe lời cảnh báo của tôi mà muốn đi nếm trải xem chiến tranh thế nào. Nhưng bọ hung của chúng ta đúng là vị thần uy lực đã bảo vệ ông, nên ngày hôm nay mới tươi đẹp làm sao. Tôi vô cùng vui sướng khi nhìn thấy ông, vui đến trào nước mắt vì không kiềm chế được mình dù tôi tin rằng mình đã được thừa kế gia sản của ông và tất cả số vàng ông để vào thương điếm Simyra. Nhưng tôi không buồn về sự giàu có vừa vuột mất này bởi không có ông, tôi như con cừu non mất mẹ khốn khổ kêu be be và ngày tháng của tôi chỉ là bóng tối. Tôi cũng không lấy cắp nhiều hơn trong lúc ông vắng nhà mà đã trông coi ngôi nhà của ông, đồ đạc của ông cũng như tất cả của cải của ông để khi trở về, ông trở nên giàu có hơn lúc ra đi.
Ông ta rửa chân cho tôi, giội nước lên tay tôi, chăm sóc tôi bằng mọi cách và khóc lóc không dứt cho đến khi tôi bảo ông ta im đi và nói:
- Hãy chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng, vì chúng ta sẽ làm một chuyến đi dài, có thể kéo dài nhiều năm và đầy khó khăn cực nhọc, chúng ta đến xứ Mitanni, Babylon và các hải đảo.
Kaptah lập tức im bặt, nét mặt trở nên tối sầm và xám ngoét vì sợ hãi, rồi ông ta hét lên:
- Thề có bọ hung, ông chủ của tôi đã mất trí và tốt nhất tôi nên trói ông lại, bỏ đỉa lên cánh tay và đầu gối ông. Vì ở Simyra chúng ta no đủ, chúng ta rưới mật ong lên bánh mì của mình, các thương gia và quan lại của thành phố tôn trọng chúng ta, các trinh nữ của đền Ishtar cũng đã học được từ các thủy thủ nhiều cách thức quyến rũ đàn ông mới và làm cho thân thể họ nhảy tanh tách như cá trên đất khô, vậy nên tốt nhất ông hãy đi ngay đến đền cúng tế hầu quên đi những lời nói điên rồ.
Tôi bảo ông ta:
- Ta không tự quyết định đường đi của mình được nữa, nhưng vì sao thì ta không muốn kể với ông, vì ông là nô lệ và ngu dốt. Nhưng thôi cứ làm như ông muốn, hãy ở lại đây trông coi nhà cũng như tài sản của ta và thỏa sức vui thú với những đàn bà mà ta không muốn gọi là trinh nữ của đền thờ, trong khi ta đi vắng. Ta sẽ đi một mình nếu ông không muốn đi cùng, ta không ép buộc ông bởi trong chuyến đi dài, ông có thể gây cho ta nhiều rắc rối hơn là thuận lợi.
Lúc đó Kaptah bắt đầu gào khóc và hét lên:
- Giá như tôi chưa bao giờ được sinh ra trên thế gian này. Giá như tôi chưa bao giờ béo lên và có được những ngày tốt đẹp, vì ai đã từng được sung sướng, người đó càng khó từ bỏ ấm no. Nếu ông chỉ đi một hoặc hai tháng như trước đây, tôi sẽ không nói gì mà chỉ yên tâm ở lại Simyra. Nhưng nếu chuyến đi của ông kéo dài hàng năm, có thể ông sẽ không bao giờ quay lại thì tôi sẽ không bao giờ được thấy ông nữa. Vì thế tôi phải theo ông và mang theo bọ hung linh thiêng của chúng ta, bởi trên hành trình như vậy ông cần tất cả vận may mà ông có và nếu thiếu bọ hung, ông sẽ rơi xuống vực trên đường đi, bọn trộm cướp sẽ đâm giáo nát người ông. Không có tôi và kinh nghiệm của tôi, ông như con bê con bị tên trộm trói hai chân sau rồi vác trên lưng đi bất cứ đâu và không có tôi, ông như người đàn ông bị chằm mắt và bất lực quờ tay về phía trước dò đường đi, khiến ai gặp ông đều thỏa sức lấy hết đồ của ông khi chưa kịp bị phát hiện. Tôi không cho phép điều đó, bởi nếu phải có ai đó trộm của ông thì tốt nhất người đó là tôi, vì tôi lấy của ông một cách vừa phải và cẩn trọng, cân nhắc tới lợi ích của ông. Nhưng tốt hơn cả là chúng ta nên ở lại trong nhà của chúng ta ở Simyra thôi.
Quả thật theo thời gian Kaptah đã trở nên trơ tráo hơn, đã nói “nhà của chúng ta”, “bọ hung của chúng ta” và khi trả tiền, ông ta đã nói “vàng của chúng ta”. Nhưng tôi đã mệt mỏi về chuyện này và chán ngấy lời than vãn của ông ta nên cuối cùng tôi cầm cây gậy của mình lên, cho tấm lưng béo ấy một trận nhừ đòn để ông ta có lý do thật sự mà gào khóc, rồi tôi nói:
- Tim ta mách bảo rồi sẽ có lúc ông bị treo ngược trên tường vì sự hỗn xược của mình. Nói nhanh, ông đi với ta hay ở lại? Nhưng trước hết, hãy thôi ngay cơn lải nhải muôn thuở của ông đi, nó làm ngứa tai ta trong khi ta phải chuẩn bị cho một chuyến đi dài.
Nghe thế Kaptah trấn tĩnh lại, phục tùng số phận của mình và chúng tôi chuẩn bị cho chuyến đi. Bởi ông ta đã từng thề không bao giờ bước chân lên thuyền, nên chúng tôi nhập vào một đoàn lữ hành đang đi về phía bắc Syria, vì tôi muốn nhìn thấy những khu rừng tuyết tùng Li-băng, nơi có những cây thân gỗ được dùng để xây cung điện và đóng thuyền thiêng cho thần Amon. Tôi không có nhiều điều để kể về chuyến đi vì nó đơn điệu và chúng tôi không bị lũ cướp đường quấy nhiễu. Các nhà nghỉ được trang bị tốt, chúng tôi ăn uống thoải mái và ở một số trạm nghỉ, bệnh nhân tìm đến tôi và tôi chữa lành cho họ. Tôi ngồi kiệu vì đã quá ngán cưỡi lừa, Kaptah cũng không thích lừa nhưng tôi không thể cho ông ta cùng ngồi kiệu với mình để khỏi mất thanh danh trong mắt những hành khách khác, vì ông ta là đầy tớ của tôi. Vì thế Kaptah than vãn rất nhiều và nói ông ta muốn chết. Tôi nhắc ông ta rằng chúng tôi có thể thực hiện chuyến đi này nhanh hơn và dễ chịu hơn bằng thuyền, nhưng điều đó không an ủi được ông ta là bao. Gió khô cào rát mặt tôi đến nỗi tôi phải liên tục bôi dầu lên da; bụi bám vào cổ họng và những con rận cát làm phiền tôi, nhưng tôi nghĩ những trở ngại này là chuyện nhỏ và tôi vui mừng với tất cả những điều mắt mình nhìn thấy.
Tôi cũng thấy những rừng tuyết tùng và những cây to đến mức không người Ai Cập nào tin là có thật nếu tôi kể, nên tôi sẽ không kể. Nhưng tôi buộc phải nói rằng mùi hương của những khu rừng này thật huyền diệu, cũng như những dòng suối trong vắt và tôi đã nghĩ chắc không ai có thể cảm thấy bất hạnh ở đất nước tuyệt vời này. Tôi đã nghĩ thế cho đến khi nhìn thấy những nô lệ chặt cây và róc cành để vận chuyển dọc theo sườn núi ra bờ biển. Nỗi khốn khổ của những nô lệ này là vô cùng, tay chân họ đầy vết thương và vết xước do vỏ cây và dụng cụ làm việc gây nên, ruồi bâu lúc nhúc kín những vệt roi trên lưng họ, khiến tôi không còn nghĩ như trước nữa sau khi nhìn cảnh ấy.
Nhưng Kaptah lại giải khuây bằng việc tính xem ông ta sẽ giàu đến mức nào nếu sở hữu tất cả những cây này ở Ai Cập; ông ta sẽ dùng thuyền chở tất cả đến bến ở Thebes. Ông ta tính giá một cây to đủ để một người đàn ông bình thường nuôi sống gia đình suốt đời, cho con trai học thành ký lục và con gái được gả vào một dòng họ tốt. Ông ta bắt đầu đếm cây nhưng cây nhiều vô kể và đầu ông ta rối tung, ông ta bắt đầu đếm lại và cuối cùng gào lên: “Tim tôi nhói đau khi thấy tất cả sự giàu có nhường này chỉ hoài phí đung đưa trong gió”. Thế là ông ta kéo áo trùm lên đầu để không thấy rừng cây nữa. Còn tôi, khi nghe tiếng rì rào trong tán tuyết tùng, tôi lại nghĩ cũng đáng cho một chuyến đi dài và xa để nghe được âm thanh ấy.
Cuối cùng chúng tôi đến thành phố Kadesh, nơi có một pháo đài và khu kiều dân lớn của Ai Cập. Nhưng trên thành pháo đài không có lính gác, cỏ mọc kín hào nước xung quanh thành, quân lính và chỉ huy sống trong thành phố cùng với gia đình họ và chỉ nhớ mình là lính vào những ngày kho của Pharaon phân phát lương thực, hành và bia. Chúng tôi nán lại trong thành phố để những vết thương do cưỡi lừa trên mông Kaptah kịp đóng sẹo và tôi chữa cho nhiều bệnh nhân ở đó, vì các thầy thuốc Ai Cập trong thành phố không đủ tốt; tên họ đã bị xóa khỏi Sinh thư từ lâu, nếu một lúc nào đó đã có trong ấy. Vậy nên người bệnh thường sai đưa mình đến xứ Mitanni nếu họ có đủ vàng và đành chịu ở đó cho các thầy thuốc đã học nghề ở Babylon chữa trị. Tôi nhìn thấy ở thành phố này những tượng đài được các pharaon vĩ đại cho xây dựng và tôi đọc trên đó những dòng chữ kể về chiến thắng của họ cùng với sự thất bại của kẻ thù và những cuộc săn voi của họ. Ở đây tôi cũng cho khắc một ấn triện bằng đá quý vì muốn mình được kính trọng ở những nước này, bởi khác với ở Ai Cập, ấn triện ở đây không gắn vào nhẫn đeo trên ngón tay mà treo trên cổ vì nó có hình trụ với một lỗ thủng ở giữa và được quấn quanh bảng đất sét nên có thể in dấu trên bảng. Còn người nghèo và người ít học thì chỉ ấn ngón tay cái xuống bảng đất sét nếu họ có việc dùng bảng.
Nhưng Kadesh là một thành phố rất buồn bã và ảm đạm, khô rang dưới cái nắng ban ngày và đồi bại đến mức cả Kaptah cũng muốn tiếp tục cuộc hành trình, mặc dù ông ta rất sợ ngồi trên con lừa của mình. Sự thay đổi duy nhất diễn ra ở đó là các đoàn hành hương từ tất cả các nước đều đi qua đây vì thành phố nằm ở ngã ba đường. Nhưng tất cả các thành phố biên ải đều như thế, dù dưới triều đại bất cứ vị vua nào, là nơi đày ải các võ quan và binh lính, dù quân đội của họ thuộc về Ai Cập hay Mitanni, Babylon hay Hatti. Vì thế ở bất cứ thành phố biên ải nào, tôi không nghe thấy binh lính và cai, cơ làm gì khác ngoài việc nguyền rủa sự có mặt của chính mình trên thế gian, chơi bời và ẩu đả nhau, uống loại bia chua lòm và vui thú với đàn bà, dù đàn bà ít khi mang lại cho họ niềm vui mà phần nhiều chỉ nỗi buồn.
Chúng tôi tiếp tục đi và vượt qua biên giới đến vùng đất Naharani mà không bị ai chặn lại, nhưng lại gặp một dòng sông nước chảy ngược lên chứ không xuôi xuống như sông Nile. Người ta cho biết chúng tôi đang ở đất Mitanni và chúng tôi trả thuế du lịch cho sở thuế của hoàng gia. Vì chúng tôi là người Ai Cập nên mọi người dành cho chúng tôi sự đối xử tôn trọng, họ đến gặp chúng tôi trên đường phố và nói:
- Chào mừng các ngài đã đến, chúng tôi rất vui khi thấy người Ai Cập, vì rất lâu rồi chúng tôi không thấy người Ai Cập nào. Pharaon đã không gửi binh lính và vũ khí cũng như vàng đến đất nước chúng tôi, làm chúng tôi rất bồn chồn. Có tin đồn rằng ngài đã chào mời quốc vương chúng tôi một vị thần mới mà chúng tôi không hề biết chút gì, dù chúng tôi đã có thần Ishtar ở Nineveh và nhiều vị thần vĩ đại khác bảo vệ từ trước đến nay.
Họ mời tôi đến nhà và thết đãi tôi, Kaptah cũng được họ cho ăn và uống vì ông ấy là người Ai Cập, mặc dù chỉ là đầy tớ của tôi, nên Kaptah nói:
- Đây là xứ sở tốt. Chúng ta hãy ở lại đây thôi ông chủ ạ, để làm nghề thuốc. Vì tôi thấy người ở đây thiếu hiểu biết, cả tin và dễ bị lừa.
Vua Mitanni và triều đình chuyển vào vùng núi ở phía bắc vào quãng thời gian nóng nhất của mùa hè nhưng tôi không muốn đi theo họ, vì tôi đang rất nôn nóng và khát khao được nhìn thấy tất cả những điều kỳ diệu của Babylon mà tôi đã nghe nói đến rất nhiều. Nhưng tuân lệnh Horemheb, tôi bắt chuyện với cả người quý phái lẫn thường dân, tất cả đều nói giống nhau nên tôi hiểu rằng lòng họ thật sự không yên. Bởi ngày xưa xứ Mitanni vốn rất hùng mạnh nhưng bây giờ là một vùng đất bất ổn, bao quanh bởi Babylon ở phía đông, dân mọi rợ ở phía bắc và phía tây là người Hittite trong vương quốc Hatti. Càng nghe họ nói về người Hittite mà họ sợ, tôi càng hiểu ra rằng mình phải đặt chân đến đất Hatti, nhưng trước tiên tôi muốn đến Babylon.
Người dân xứ Mitanni này nhỏ nhắn, phụ nữ của họ rất đẹp và thon thả, trẻ con của họ trông như búp bê. Có lẽ họ từng là một dân tộc hùng mạnh, vì họ kể rằng đã có lúc họ cai trị tất cả các bộ tộc ở phía bắc, phía nam, phía đông và phía tây, nhưng tất cả các dân tộc khác cũng từng nói như vậy. Tôi không tin rằng thuở xưa họ đã từng chiến thắng và cướp bóc Babylon cho dù họ kể thế, mà nếu quả đúng như vậy thì họ đã làm điều đó với sự giúp đỡ của các pharaon. Bởi vì từ thời các pharaon vĩ đại, vùng đất này đã phụ thuộc vào Ai Cập và trong vòng hai thế hệ, con gái các quốc vương của Mitanni đã sống trong cung điện của pharaon và làm phi tần của họ. Chiến xa của tổ tiên dòng họ Amenhotep đã từng có mặt trên khắp xứ Naharani này và trong các thành phố vẫn còn các bia ký ghi chiến tích của họ. Khi nghe những lời kể và than vãn của người Mitanni, tôi hiểu rằng đất nước này được thiết lập để làm vùng đệm, bảo vệ Syria và Ai Cập khỏi sự cai trị của Babylon và các bộ tộc mọi rợ; là lá chắn của Syria, đất nước này nhận vào mình những ngọn giáo nhắm tới quyền lực của Ai Cập. Vì thế, và chỉ vì thế, các pharaon đã giúp quốc vương xứ này giữ vững ngai vàng vốn bị lung lay và gửi cho ông ta vàng, vũ khí và các đội lính đánh thuê. Nhưng dân chúng không hiểu điều này mà chỉ tự hào về xứ sở vĩ đại và hùng mạnh của mình. Họ nói:
- Công chúa của chúng tôi, Tadukhipa, đã là vương phi vĩ đại ở Thebes khi nàng chỉ là một đứa trẻ, và đã đột ngột qua đời. Chúng tôi không hiểu vì sao Pharaon không còn gửi vàng cho chúng tôi, mặc dù theo trí nhớ của chúng tôi, các pharaon đều yêu quý các quốc vương của chúng tôi như anh em và vì mối thâm tình này mà đã gửi cho họ các cỗ chiến xa, vũ khí, vàng và quà tặng đắt tiền.
Nhưng tôi thấy đất nước này đã quá rệu rã và sắp lụi tàn, bóng thần chết đang lơ lửng phía trên những ngôi đền và những tòa nhà to đẹp của nó. Bản thân họ không nhận thấy điều đó mà chỉ chú tâm đến những thứ mình ăn, cố công chế biến chúng sao cho lạ mắt nhất và tiêu phí thời gian thử quần áo mới, giày mũi cong, mũ chóp cao và hết sức cẩn thận chọn đồ trang sức cho mình. Cánh tay của họ thon thả như tay người Ai Cập và làn da phụ nữ của họ mỏng mịn đến mức có thể thấy máu chảy trong huyết quản; họ nói năng, cư xử từ tốn và cả nam lẫn nữ từ tấm bé đã học cách đi đứng duyên dáng. Sống ở đất nước này thật dễ chịu, cả những âm thanh ồn ã và tiếng lè nhè trong các nhà vui ở đây cũng không làm nhức tai mà tất cả diễn ra lặng lẽ và độc đáo, khiến tôi có cảm tưởng mình nói to và vụng về khi tán gẫu và uống rượu với họ. Nhưng trái tim tôi trĩu nặng khi nhìn họ, vì tôi đã nếm trải chiến tranh và nếu tất cả đúng như những gì họ nói về xứ Hatti, đất nước của họ là một vùng đất sắp diệt vong.
Kiến thức y học của họ cũng rất uyên bác, danh y của họ là những người có tài, có hiểu biết chuyên môn và biết rất nhiều điều mà tôi không biết. Chẳng hạn, họ cho tôi một loại thuốc tẩy giun ít gây đau đớn và dễ dùng hơn bất kỳ loại thuốc nào tôi từng biết. Họ cũng biết cách dùng kim chữa cho người mù nhìn được và tôi cũng học được từ họ cách dùng kim tốt hơn. Nhưng họ không hề biết đến khoan sọ, cũng không tin những gì tôi kể với họ mà nói rằng chỉ thần linh mới có thể chữa lành các bệnh về não và dù cho các vị thần có chữa lành cho họ, họ cũng không bao giờ trở lại như trước, vì vậy tốt hơn nên để họ chết.
Tuy nhiên, người dân Mitanni rất tò mò, họ đến gặp tôi và đưa bệnh nhân đến chỗ tôi, bởi vì tất cả những người lạ đều thu hút họ, giống như việc họ thích mặc quần áo khác lạ, ăn món ăn lạ, uống rượu miền núi và yêu thích trang sức từ xứ lạ, và họ cũng muốn thầy thuốc nước ngoài chữa bệnh cho mình. Những phụ nữ ở đó đến gặp tôi, cười với tôi, kể cho tôi nghe về căn bệnh của mình và phàn nàn rằng chồng họ lạnh lùng, lười biếng và mệt mỏi. Tôi biết rõ họ muốn gì ở tôi, nhưng tôi không động vào người họ để mua vui vì tôi không muốn vi phạm luật pháp nước ngoài. Thay vào đó, tôi đưa cho họ những loại thuốc để họ có thể bí mật hòa lẫn vào rượu của chồng mình, những loại thuốc tôi nhận được từ các thầy thuốc Simyra, những loại khiến cả người ốm sắp chết cũng có thể vui cùng phụ nữ, bởi các danh y Syria là những người giỏi nhất thế giới về khoản này và thuốc loại này của họ mạnh hơn thuốc Ai Cập. Nhưng những phụ nữ đó có đưa thuốc cho chồng không, hay lại chỉ đưa cho những người đàn ông lạ, tôi thật sự không biết, song tôi nghĩ họ thích những người lạ hơn chồng mình, vì cách sống của họ rất phóng túng và họ không có con; cũng từ điều này mà tôi đi đến kết luận là bóng thần chết đang che phủ xứ này.
Tôi cần kể thêm rằng người dân của đất nước này không còn biết đâu là biên giới của họ, bởi đá mốc biên cương của họ liên tục bị dịch chuyển, vì người Hittite chất những hòn đá lên chiến xa, chở đi và đặt xuống bất cứ chỗ nào mình muốn. Nếu họ phản đối, người Hittite chỉ cười và bảo họ cứ việc dịch chuyển những hòn đá trở lại nếu thật sự muốn. Nhưng họ không muốn, vì nếu điều họ nói về người Hittite là đúng thì trên trái đất này chưa bao giờ có dân tộc nào tàn nhẫn và đáng sợ như vậy. Theo lời kể của họ, niềm vui lớn nhất của người Hittite là được nghe tiếng gào thét của những kẻ bị xẻ thịt và thấy máu phun ra từ những vết thương hở hoác; và người Mitanni miền biên cương đã phàn nàn vì gia súc của chúng giày xéo ruộng đồng và ăn cây trồng, rồi chúng còn nhạo báng, bảo họ nhấc những cột đá làm mốc biên giới về chỗ cũ. Chúng cũng chặt chân họ rồi bảo hãy chạy đến chỗ quốc vương mà than khóc, chúng còn rạch da đầu họ và kéo da xuống che mắt để họ không thể thấy những cột đá làm mốc ranh giới đã được xê dịch thế nào. Người dân Mitanni cũng nói rằng người Hittite nhạo báng các vị thần Ai Cập, một sự sỉ nhục lớn đối với toàn Ai Cập, và như vậy là đã có quá đủ lý do để Pharaon gửi vàng, vũ khí và lính đánh thuê đến xứ Mitanni giúp họ chiến đấu chống lại người Hittite, mặc dù họ không thích chiến tranh mà chỉ mong quân Hittite rút đi khi thấy quân đội của Pharaon đến bảo vệ Mitanni. Tôi không thể nhắc lại và không thể kể ra tất cả những điều xấu xa mà người Hittite đã gây ra cũng như những hành động tàn ác và lễ nghi đáng hổ thẹn mà chúng làm. Họ nói rằng người Hittite còn tồi tệ hơn cả châu chấu, bởi sau khi đàn châu chấu bay đi, đất đai tốt trở lại, nhưng nơi nào chiến xa của Hittite đi qua, nơi đó cỏ không mọc được nữa.
Tôi không muốn ở lại xứ Mitanni lâu hơn, vì tôi nghĩ mình đã biết được tất cả những điều muốn biết, và danh tiếng thầy thuốc của tôi bị xúc phạm bởi sự nghi ngờ của các danh y Mitanni, họ không tin những gì tôi nói với họ về khoan sọ. Nhưng sau đó, một người quyền quý đã đến nhà trọ của tôi và than phiền là anh ta nghe thấy tiếng ầm ào không dứt của sóng biển trong tai, và hay bị ngã, có lúc ngất đi và đau đầu khủng khiếp đến nỗi không còn muốn sống nếu không ai có thể chữa lành cho anh ta. Các thầy thuốc Mitanni không muốn chữa cho anh ta, nên anh ta chỉ muốn chết, vì sống chỉ khiến anh thêm đau đớn. Tôi nói với anh ta:
- Có thể anh sẽ khỏi nếu anh cho tôi khoan hộp sọ của mình, nhưng nhiều khả năng là anh sẽ chết, bởi trong một trăm người chỉ có một người sống sót sau khi bị khoan sọ.
Anh ta đáp:
- Tôi điên mới không đồng ý với đề nghị của ông, bởi vì ít nhất tôi cũng có một phần trăm cơ hội sống, còn nếu tôi tự làm cho đầu mình hết đau, tôi sẽ nằm dài và không bao giờ dậy nữa. Quả thực tôi không tin ông có thể chữa lành cho tôi nhưng nếu ông khoan sọ của tôi, tôi sẽ không phạm tội với thần linh như khi tôi tự kết liễu đời mình. Nếu kết quả trái với dự đoán của tôi, ông chữa cho tôi khỏi bệnh, tôi sẽ vui lòng trao cho ông một nửa những thứ tôi có, không hề ít, còn nếu tôi chết, ông cũng không phải ân hận mà vẫn được nhận một món quà lớn.
Tôi khám anh ta một cách kỹ lưỡng và dùng tay kiểm tra mọi điểm trên đầu anh ta, nhưng sự đụng chạm của tôi không khiến anh ta đau đớn, điểm chạm nào cũng thế. Khi ấy Kaptah nói:
- Ông hãy lấy búa gõ vào đầu anh ta, có mất gì đâu.
Tôi dùng búa gõ vào nhiều chỗ trên đầu anh ta, anh ta không phàn nàn, nhưng đột nhiên thét lên, ngã xuống đất và bất tỉnh. Nên tôi nghĩ có lẽ mình đã tìm thấy điểm tốt nhất trên hộp sọ để khoan. Tôi mời tất cả các danh y Mitanni, những người không tin tôi, đến và nói:
- Có thể tin tôi hoặc không, nhưng tôi sẽ chọc thủng sọ người đàn ông này để chữa cho anh ta, mặc dù nhiều khả năng là anh ta sẽ chết.
Nhưng các thầy thuốc cười nhạo tôi và nói:
- Chúng tôi thật sự muốn nhìn thấy việc đó.
Tôi xin lửa từ đền thờ Amon, tẩy rửa mình và tẩy rửa cả người bệnh quyền quý của tôi rồi tẩy trùng tất cả các thứ trong phòng. Vào giữa trưa khi ánh nắng sáng rõ nhất, tôi bắt đầu bằng việc mở da đầu anh ta và chặn các mạch máu bằng sắt nung đỏ, nói rằng tôi rất lấy làm tiếc về cơn đau mà tôi gây ra, nhưng bệnh nhân của tôi nói cơn đau này không thấm vào đâu so với những cơn đau đầu mà anh ta phải chịu hằng ngày. Tôi cho anh ta uống rất nhiều rượu mà tôi đã pha với các loại thuốc tê khiến mắt anh ta trợn trừng như mắt cá chết và anh ta vẫn rất vui vẻ. Sau đó, tôi rạch lớp da đầu của anh ta một cách cẩn thận nhất có thể bằng các đồ nghề mà tôi có; anh ta thậm chí không ngất mà thở sâu và nói đã cảm thấy nhẹ hơn ngay khi tôi nhấc mẩu xương vừa gỡ ra khỏi chỗ của nó. Lòng tôi mừng rỡ vì chỗ tôi mở là nơi ma quỷ hay linh hồn của mầm bệnh đã đẻ trứng vào đó, như Ptahor đã dạy, nó có màu đỏ và xấu xí, cỡ bằng trứng chim nhạn. Tôi đã dùng tất cả kỹ năng của mình để lấy nó ra, đốt cháy mọi thứ dính với nó trong não rồi đưa nó cho các thầy thuốc xem; họ xem và không cười nữa. Tôi bít hộp sọ bằng một tấm bạc rồi khâu da đầu lên nó; bệnh nhân có ý thức trong suốt thời gian đó. Anh ta đứng dậy, đi lại và cảm ơn tôi rất nhiều vì không còn nghe thấy tiếng ong ong khủng khiếp trong tai và những cơn đau cũng đã dứt.
Từ ca phẫu thuật này, danh tiếng của tôi lan khắp xứ Mitanni và còn bay đến tận Babylon trước tôi. Nhưng bệnh nhân của tôi bắt đầu uống rượu và thỏa mãn ham muốn, cơ thể phát sốt và anh ta mê sảng, đến ngày thứ ba anh ta ra khỏi giường và chạy đi, ngã từ tường thành xuống, gãy cổ và chết. Tuy vậy mọi người ai cũng nói rằng lỗi không phải ở tôi và hết lời khen ngợi tài năng của tôi.
Nhưng Kaptah và tôi thuê một chiếc thuyền, chèo xuôi dòng sông xuống Babylon.
❖ 2 ❖
Vương quốc mà Babylon cai trị được gọi bằng nhiều tên, cũng được gọi là Kaldea hay Khossea, theo tên các tộc người sống ở đó. Nhưng tôi gọi nó là Babylon bởi như vậy ai cũng sẽ biết đây là đâu. Đây là một vùng đất màu mỡ, các cánh đồng có rất nhiều kênh tưới tiêu, đất đai bằng phẳng, trải dài hút tầm mắt, khác với Ai Cập. Về mặt này cũng như trong mọi việc, ở đây đều khác, tỷ như ở Ai Cập, đàn bà quỳ gối xuống đất và xoay tròn cối đá để nghiền hạt ngũ cốc, còn ở Babylon, đàn bà ngồi và xoay hai phiến đá vào nhau, nặng nhọc hơn nhiều.
Ở nơi này không có cây cao và cây cối ít đến mức ai chặt cây sẽ bị khép tội chống lại con người lẫn thần linh và trong luật pháp có quy định hình phạt cho tội này. Còn người nào trồng cây, người đó nhận được sự che chở của thần. Dân ở Babylon cũng đẫy đà hơn, béo tốt hơn người ở bất cứ nơi nào khác và họ hay cười, như thường thấy ở những người béo. Họ ăn nhiều chất bột khó tiêu, tôi nhìn thấy trong nhà họ những con chim mà họ gọi là gà không biết bay, chúng sống với người và hằng ngày tặng cho người quả trứng to như trứng cá sấu; tôi kể điều này dù biết sẽ không ai tin nếu chỉ nghe kể. Người ta cho tôi trứng này để ăn và người dân Babylon coi chúng là món khoái khẩu. Tuy nhiên, tôi không dám động vào chúng vì cẩn tắc vô lo, tôi hài lòng với những món ăn mình quen dùng hoặc ít nhất biết chúng được chế biến như thế nào.
Người dân nước này nói Babylon là một trong những thành phố lâu đời nhất và lớn nhất trên thế giới, nhưng tôi không tin lời họ, vì tôi biết Thebes là thành phố lâu đời nhất và lớn nhất. Tôi vẫn tiếp tục nói trên thế giới không có thành phố nào như Thebes nhưng tôi phải thừa nhận rằng Babylon làm tôi ngạc nhiên bởi sự vĩ đại và giàu có của nó, bởi vì tường thành của nó cao như núi và rất đáng sợ, còn những ngọn tháp mà họ xây cho các vị thần của họ vươn tận trời cao. Các ngôi nhà trong thành phố được xây tới bốn, năm tầng nên mọi người ở và sinh hoạt trên hoặc dưới nhau và không ở đâu, ngay cả ở Thebes, tôi thấy các cửa hiệu giàu có, sang trọng và nhiều hàng hóa như trong các thương điếm của đền.
Thần của họ là Marduk và họ đã xây cho Ishtar một cái cổng lớn hơn tháp môn đền Amon, ốp gạch tráng men nhiều màu sặc sỡ, tạo nên những hình ảnh làm lóa mắt người trong ánh nắng ban ngày. Từ cổng này, một con đường rộng rãi dẫn đến Tháp Marduk, tòa tháp được xây thành các tầng với con đường thoai thoải và rộng để đi lên đỉnh tháp, rộng đến mức nhiều xe ngựa có thể chạy cạnh nhau. Trên đỉnh tháp là chỗ ở của các nhà thiên văn, những người biết mọi thứ về các thiên thể, biết tính toán quỹ đạo của chúng và thông báo ngày tốt, ngày xấu để mọi người có thể dựa vào đó thu xếp cuộc sống của họ. Người ta nói họ cũng có khả năng dự đoán tương lai con người nhưng để làm được việc đó, người ta phải biết chính xác ngày, giờ sinh của mình, vì vậy tôi không thể kiểm chứng tài năng của họ, việc mà tôi ao ước làm nhưng lại không biết chính xác giờ sinh của mình.
Tôi có vàng nhiều hơn mức cần phải lấy từ kho bạc của đền bằng cách đổi những bảng đất sét của mình, vì thế tôi ở trong một nhà trọ lớn cạnh Cổng Ishtar, một tòa nhà có nhiều tầng, trên mái trồng nhiều bụi hương đào, có suối chảy róc rách và cá nhảy trong ao. Nhà trọ này là nhà ở dành cho giới quyền quý khi họ từ trang trại của mình đến thành phố mà không có nhà riêng ở Babylon. Cả sứ thần ngoại quốc cũng sống ở đây. Các phòng đều phủ thảm dày, nơi nghỉ được trải các tấm da thú, còn tường là gạch thủy tinh nhiều màu sắc với các hình ảnh đầy tính giải trí và vui nhộn. Tên nhà trọ này là “Vọng lâu Ishtar”, vì nó thuộc về tháp của thần này, giống như tất cả những thứ quan trọng khác ở Babylon. Nếu tính cả người ở và người phục vụ trong tất cả các phòng, tôi tin rằng chỉ riêng tòa nhà đó đã có nhiều người hơn một khu phố của Thebes, dù không ai tin nếu chính mình không sống ở đó.
Không nơi nào trên thế giới có nhiều người tứ xứ như ở Babylon và không nơi nào có thể nghe nhiều thứ tiếng như ở đây, vì chính người dân Babylon nói mọi con đường đều dẫn đến thành phố của họ và Babylon là trung tâm của thế giới. Họ quả quyết rằng vương quốc của họ không nằm ở rìa thế giới, như người Ai Cập vẫn tin, mà ở phía đông sau các dãy núi, là nơi có những vương quốc hùng mạnh, nơi các đoàn lữ hành có vũ khí thỉnh thoảng mang đến những hàng hóa kỳ lạ, vải vóc và loại bát đĩa dễ vỡ. Tôi cũng nói thêm rằng ở Babylon, tôi đã nhìn thấy những người mặt vàng, mắt xếch và họ hoàn toàn không vẽ mặt; họ buôn bán các loại vải mỏng như vải lanh hoàng gia, nhưng mịn màng và đủ loại màu sắc lóng lánh như nước dầu tinh khiết.
Vì người Babylon trước hết là các thương gia nên buôn bán là nghề được coi trọng nhất, đến mức thần linh của họ cũng buôn bán với nhau. Vì vậy họ không ưa thích chiến tranh mà thuê binh lính và cho xây dựng tường thành để bảo vệ việc giao thương của mình. Họ muốn mở rộng các con đường cho tất cả mọi người từ tất cả mọi vùng đất. Họ thật sự muốn làm như thế chỉ vì họ biết mình là những người buôn bán giỏi nhất và được hưởng lợi nhiều từ buôn bán hơn là từ chiến tranh. Nhưng dù vậy, dân Babylon vẫn tự hào về những người lính ngày ngày diễu hành đến Cổng Ishtar, với mũ và tấm che ngực bằng vàng và bạc để bảo vệ các tường thành và đền thờ trong thành phố. Tay kiếm và lưỡi giáo của họ được nạm vàng và bạc để tỏ rõ sự giàu có của mình. Họ thường hỏi: “Này khách lạ, anh đã bao giờ thấy binh lính và những cỗ xe như vậy chưa?”.
Quốc vương Babylon vẫn còn là một cậu bé chưa có râu quai hàm, phải quàng dưới cằm bộ râu giả khi lên ngôi. Tên quốc vương là Burraburiash. Ngài ta thích đồ chơi và những câu chuyện ly kỳ. Danh tiếng của tôi từ Mitanni đã lan đến Babylon nên sau khi tôi đến Vọng lâu Ishtar và đến đền, nói chuyện với các giáo sĩ và danh y của Tháp, tôi được báo rằng quốc vương sai vời tôi đến gặp. Như thường lệ, Kaptah đâm ra lo lắng và nói:
- Ông đừng đến, mà chúng ta hãy mau mau trốn đi, bởi vì không mong có điều gì tốt lành từ các đế vương.
Nhưng tôi nói với ông ta:
- Rõ ngớ ngẩn, ngươi quên là chúng ta có bọ hung đi cùng ư?
Ông ta nói:
- Bọ hung là bọ hung và tôi không bao giờ quên nó nhưng cẩn tắc vô áy náy, mà chúng ta cũng không nên thử thách sự chịu đựng của bọ hung quá nhiều. Nhưng nếu ông nhất quyết đi thì tôi không thể ngăn ông, tôi đi cùng để ít nhất ta chết cùng nhau. Nếu chúng ta sống sót, điều tôi hoàn toàn không tin là có thể, thì khi quay trở lại Ai Cập, tôi sẽ kể rằng mình đã cúi rạp trước quốc vương Babylon. Có mà ngốc mới không tận dụng cơ hội được dâng đến tận miệng như thế này. Nhưng nếu đến đó, chúng ta phải đến làm sao cho xứng với danh tiếng của mình. Ông nên đòi kiệu hoàng gia đến rước và chúng ta không đi hôm nay, vì hôm nay là một ngày xấu theo tập quán của nước này; các thương nhân đã đóng cửa tiệm và người dân không làm việc mà nghỉ ngơi trong nhà, vì hôm nay là ngày thứ bảy của tuần và mọi việc đều đen đủi.
Tôi ngẫm nghĩ và nhận thấy Kaptah nói đúng, bởi cho dù người Ai Cập xem tất cả các ngày như nhau, song vẫn có một số ngày bị coi là ngày xấu nếu chiếu theo các vì sao, vì vậy nếu quả thực ở đất nước này, mỗi thứ bảy là một ngày tồi tệ thì cũng không loại trừ người Ai Cập, nên cẩn tắc vô áy náy. Vì vậy tôi nói với tín sứ của nhà vua:
- Chắc anh nghĩ tôi là một kẻ khờ, một người lạ, nên anh vời tôi đến diện kiến nhà vua vào ngày như thế này. Nhưng ngày mai tôi sẽ đến nếu quốc vương cho kiệu đến đón rước tôi, bởi vì tôi không phải là kẻ tầm thường và không muốn diện kiến nhà vua với những ngón chân dính phân cừu.
Viên tín sứ nói:
- Gã Ai Cập bẩn thỉu kia, ta sợ rằng vì những lời nói đó, mi sẽ được đưa đến trước nhà vua với những mũi giáo nhọn chọc sau lưng.
Rồi anh ta bỏ đi và có lẽ cũng dành cho tôi sự kính trọng nên hôm sau, một chiếc kiệu hoàng gia đã đến Vọng lâu Ishtar để đón tôi. Nhưng đó là loại kiệu thông thường, được dùng để đưa rước các thương nhân và những kẻ thấp hèn mang đồ trang sức và lông chim, lông khỉ đến cung điện. Thế nên Kaptar hét lên với đám rước kiệu và người dẫn đường:
- Lạy Seth và tất cả loài ma quỷ, thần Marduk hãy quất các ngươi bằng roi bọ cạp! Các ngươi hãy xéo ngay! Vì ông chủ của ta không thể ngồi lên cái thứ ọp ẹp đó.
Mấy gã khênh kiệu lúng túng, người dẫn đường giơ gậy đe Kaptah, đám đông kéo đến trước nhà trọ. Họ cười ầm và hò hét:
- Chúng tôi thật sự muốn nhìn thấy chủ của ông, người mà đến kiệu của nhà vua cũng chê là tồi tàn.
Nhưng Kaptah đã thuê của nhà trọ một chiếc kiệu lớn cần tới bốn mươi nô lệ khỏe mạnh để khênh, được các sứ thần đáng kính sử dụng trong các việc quan trọng và được dùng để rước các vị thần ngoại quốc khi họ đến thành phố. Đám đông không còn cười nữa khi tôi từ phòng mình bước ra trong bộ quần áo có những hình đặc trưng của nghề y, được dệt tinh xảo với sợi bạc và vàng, cổ áo lấp lóa vàng và đá quý dưới ánh sáng ban ngày, những sợi dây chuyền vàng leng keng trên cổ, theo sau là các nô lệ của nhà trọ, khiêng những chiếc rương bằng gỗ tuyết tùng và gỗ mun khảm ngà đựng thuốc và dụng cụ y tế của tôi. Lúc đó tuyệt nhiên không một ai cười nữa, chính xác là họ cúi người thật thấp trước tôi và nói với nhau: “Chắc chắn người này phải thông thái như những vị thần nhỏ. Chúng ta hãy đi theo ông ta đến cung điện”. Thế là một nhóm rất đông theo sau kiệu đến tận cổng cung điện. Kaptah cưỡi một con lừa trắng đi phía trước kiệu, những chiếc chuông bạc kêu leng keng trên bộ dây cương. Nhưng tôi không làm tất cả những điều này vì lợi ích của mình mà vì Horemheb, bởi anh ta đã cho tôi nhiều vàng và mắt của tôi là mắt của anh ta, tai của tôi là tai của anh ta.
Tại cổng cung điện, binh lính chĩa giáo xua đuổi đám đông và nâng khiên lên để bảo vệ cổng khiến những chiếc khiên tạo thành một bức tường vàng và bạc, những con sư tử có cánh bảo vệ dọc con đường mà kiệu của tôi được rước đi vào sân trong. Tại đây, một ông già râu quai hàm cạo sạch theo kiểu của các học giả ra đón tôi. Hai tai lúc lắc những chiếc khuyên vàng, hai má sệ xuống đầy vẻ bất mãn, ông ta nhìn tôi bằng ánh mắt bực tức và nói:
- Gan ta đau nhức vì tiếng ồn ào và sự náo động anh gây ra khi đến đây, vì ông chủ của tất cả bốn phương đất hỏi người đàn ông này là ai mà đến theo ý mình chứ không theo lệnh vời của quốc vương và làm ầm ĩ, ồn ào như thế.
Tôi bảo với ông ta:
- Này ông già! Lời ông nói như tiếng ruồi vo ve trong tai tôi, nhưng tôi vẫn muốn hỏi ông là ai mà dám nói chuyện với tôi như vậy.
Ông ta đáp:
- Ta là ngự y của chủ bốn phương đất và là thái y danh giá nhất trong các thái y của ngài, còn ngươi là kẻ lừa đảo nào mà đến đây với các trò ảo thuật hòng dụ vàng, bạc từ nhà vua? Hãy nhớ rằng nếu quốc vương hào phóng đưa cho ngươi bạc hay vàng đã đóng dấu, ngươi phải đưa một nửa số đó cho ta.
Tôi nói với ông ta:
- Ta đâu thèm chấp ông và tốt hơn ông nên nói chuyện với người hầu của ta, vì việc của ông ta là xua đuổi những kẻ tống tiền và những kẻ chọc ngoáy xung quanh ta. Tuy nhiên, ta muốn trở thành bạn của ông vì ông đã già và không biết thế nào là tốt, xấu. Vì vậy ta cho ông những vòng vàng ta đeo ở cổ tay đây để ông thấy vàng và bạc chỉ là cát bụi dưới chân ta và ta đến đây không phải để tìm vàng, mà tìm tri thức.
Nói rồi tôi đưa cho ông ta những chiếc vòng vàng ở cổ tay mình. Ông ta rất kinh ngạc, đến nỗi không biết phải nói gì với tôi nữa. Thế là ông ta đồng ý để Kaptah đi theo tôi và đưa tôi đến diện kiến quốc vương. Vua Burraburiash ngồi trên những tấm nệm mềm, cung thất thoáng mát với những bức tường ốp gạch thủy tinh lấp lánh đủ màu. Vua, chỉ là một cậu bé được nuông chiều, đang ngồi chống tay một bên má, bên cạnh là một con sư tử nằm chầu hẫu, nhe răng gầm gừ khi thấy chúng tôi. Ông già nằm ệp xuống, miệng lau sàn nhà trước mặt vị vua và Kaptah cũng làm như vậy, nhưng khi nghe tiếng gầm gừ của sư tử, ông ta nhổm ngay dậy, tay chống sàn, chân co lại như con ếch và hét lên sợ hãi khiến nhà vua cười phá lên, nghiêng ngả trên nệm. Nhưng Kaptah đã tức giận và nói:
- Hãy dắt con quỷ đáng sợ ấy đi trước khi nó cắn tôi, vì từ xưa đến nay tôi chưa bao giờ nhìn thấy con vật nào đáng sợ hơn, tiếng gầm gừ của nó nghe như tiếng các cỗ chiến xa ầm ầm trên đường phố Thebes khi các vệ sĩ đánh xe ra bãi tập trong cơn say xỉn.
Ông ta ngồi dậy trên sàn và giơ tay ra dấu xua đi, sư tử cũng nhổm dậy và ngáp một lúc lâu, rồi nó ngậm miệng lại, răng va vào nhau kêu lách cách, nghe như tiếng kêu của hộp tiền trong đền khi nuốt những đồng xu công đức của mọi người.
Nhà vua cười đến nỗi nước mắt trào ra, nhưng sực nhớ mình đang đau, ngài rên lên rồi tựa tay vào má trở lại, một bên má ngài sưng đến nỗi mắt chỉ mở được he hé. Ngài cau mày, ông già nhìn ngài rồi vội vã tâu:
- Muôn tâu quốc vương, đây là gã Ai Cập cứng đầu đã không đến khi ngài gọi. Chỉ cần ngài nói một lời, hạ thần sẽ sai quân lính chọc thủng gan gã.
Nhưng nhà vua đưa chân đá ông ta, quát:
- Bây giờ không phải là lúc để nói linh tinh, mà ta muốn biết hắn có thể chữa ngay cho ta không, vì cơn đau của ta thật khủng khiếp và ta sợ mình sẽ chết vì nhiều đêm không ngủ được cũng như không thể ăn gì ngoài súp nóng.
Lúc đó, ông già rên rỉ, đập đầu xuống sàn nhà và tâu:
- Bẩm chúa tể bốn phương đất, chúng thần đã làm hết sức mình để chữa lành cho bệ hạ, chúng thần đã dâng cúng hàm và răng trong đền thờ để xua đuổi tà ma, đã chui vào cằm bệ hạ và cũng đã đánh trống, thổi tù và, ăn vận trang phục đỏ nhảy múa trước bệ hạ để xua tà ma, chúng thần không thể làm gì khác, vì bệ hạ không cho phép chúng thần chạm vào hàm thánh của ngài để chữa lành vết thương cho ngài. Vậy nên hạ thần cũng không tin kẻ lạ mặt bẩn thỉu này có thể làm điều gì tốt hơn.
Nhưng tôi nói:
- Tôi là Sinuhe, Người Ai Cập, Người Cô Đơn, Con Trai Lừa Hoang. Không cần khám cho ngài, tôi cũng biết một chiếc răng sâu đã làm cho má ngài sưng mủ bởi vì ngài đã không cho rửa sạch răng hoặc nhổ nó đi như các thái y của ngài chắc chắn đã khuyên. Đây là căn bệnh của trẻ con và những kẻ hèn nhát, không phải của chúa tể bốn phương đất, người mà cả thiên hạ đều run sợ và sư tử cũng phải cúi đầu, như chính mắt tôi nhìn thấy. Tôi biết cơn đau đớn của ngài rất khủng khiếp, vì vậy tôi muốn giúp ngài.
Nhà vua đưa tay lên má và nói:
- Lời nói của ngươi thật trơ tráo, nếu khỏe mạnh, chắc chắn ta đã cho xẻo cái lưỡi điêu toa trong miệng ngươi và moi gan ngươi, nhưng lúc này không có thời gian cho ta làm điều đó. Hãy nhanh chữa cho ta, rồi ngươi sẽ được trả công hậu hĩnh. Nhưng nếu ngươi làm ta đau, ta sẽ ra lệnh giết ngươi ngay lập tức.
Tôi nói với nhà vua:
- Được, ngài sẽ được như ý. Tôi có một vị thần hộ mệnh nhỏ nhưng vô cùng mạnh mẽ, hôm qua tôi không đến với ngài vì sự có mặt của tôi lúc đó không cần thiết. Nhưng bây giờ, không cần khám tôi cũng biết cơn đau của ngài đã chín muồi, chỗ sưng cần phải chọc đi, và tôi sẽ chữa trị cho ngài nếu ngài muốn, nhưng không thần linh nào có thể bảo vệ con người, kể cả vua, khỏi cơn đau. Tôi cam đoan với ngài rằng ngài sẽ thấy nhẹ nhõm đến mức sau đó ngài không nhớ là mình đã từng đau đớn, và tôi cũng đảm bảo sẽ làm điều đó một cách dễ dàng như một người khéo léo nhất có thể làm.
Nhà vua ngần ngừ một lát, tay để lên má và nhíu mày nhìn tôi. Nếu không bị đau, ngài là một chàng trai trẻ, đẹp, rất tự mãn và khiến tôi cảm mến. Nhà vua cảm nhận được ánh mắt của tôi, ngài cáu kỉnh nói:
- Làm gì thì hãy làm mau đi.
Vị danh y già bắt đầu rên rỉ và đập đầu xuống sàn, nhưng tôi không để ý đến ông ta mà chỉ bảo hâm rượu, rồi tôi trộn thuốc tê vào và đưa nhà vua uống. Chỉ một lúc sau, ngài đã trở nên tươi tỉnh và nói:
- Cơn đau của ta đã giảm, ngươi không cần đến gần ta với kìm và dao nữa.
Nhưng ý chí của tôi mạnh hơn ý muốn của ngài, tôi buộc ngài há miệng, kẹp chặt đầu ngài trong nách mình rồi lấy con dao đã được Kaptah tẩy trùng trong lửa chọc thủng đám mủ ở hàm ngài. Ngọn lửa không phải là lửa thiêng của Amon, vì nó đã bị Kaptah sơ ý làm tắt trong khi đi trên sông và Kaptah đã đánh ngọn lửa mới bằng cái khoan lửa trong phòng tôi ở nhà trọ với niềm tin điên rồ rằng bọ hung cũng mạnh mẽ không kém Amon.
Nhà vua hét toáng lên khi con dao đâm vào hàm ngài khiến sư tử bật dậy gầm gừ, đuôi quất mạnh, mắt rực lửa, nhưng nhà vua không để ý vì đang bận nhổ dãi lẫn nước mủ chảy ra từ hàm và ngài tỏ ra rất dễ chịu; tôi giúp ngài bằng cách ấn nhẹ vào má ngài. Nhà vua khạc nhổ, bật khóc vì sung sướng, rồi lại khạc nhổ và nói:
- Sinuhe, Người Ai Cập, thần thánh đã ban phép cho ngươi, dù ngươi làm ta đau.
Vua lại khạc nhổ liên tục. Vị danh y già nói:
- Thần có thể làm như anh ta, thậm chí còn tốt hơn, nếu như bệ hạ cho phép thần chạm vào cằm thánh của ngài. Nha sĩ của bệ hạ đã có thể làm việc này tốt nhất.
Ông ta rất ngạc nhiên khi tôi nói:
- Ông già này nói đúng, vì ông ấy có thể làm việc đó tốt như tôi và nha sĩ của ngài sẽ làm việc đó tốt nhất. Nhưng ý chí của họ không mạnh bằng ý chí của tôi, vì vậy mà họ không thể giải thoát ngài khỏi cơn đau. Thầy thuốc cũng phải dám làm đau cả nhà vua nếu đó là điều cần thiết và không được sợ vì chính mình. Các thái y của ngài đã sợ nhưng tôi không sợ, bởi với tôi thế nào cũng được, kể cả nếu ngài muốn, ngài có thể cho lính của mình xé nát gan tôi sau khi tôi chữa lành cho ngài.
Quốc vương khạc nhổ, áp tay vào má mình rồi lại khạc nhổ và ngài không còn thấy đau ở má nữa. Rồi ngài nói:
- Ta chưa từng nghe ai nói như ngươi, Sinuhe. Nếu những điều ngươi nói là đúng, ta sẽ không để cho quân lính của ta xé gan ngươi miễn là ngươi không hối tiếc việc đã làm, mà hối tiếc thì có ích gì. Quả thực là ngươi đã làm ta cảm thấy hết sức dễ chịu, vì thế ta tha thứ cho sự hỗn xược của ngươi và tha thứ cho cả tên hầu của ngươi, kẻ đã nhìn thấy đầu ta ở trong nách ngươi và nghe ta rên rỉ. Nhưng ta tha thứ cho hắn vì hắn đã khiến ta cười trở lại sau một thời gian dài bằng điệu nhảy như điên của hắn.
Rồi ngài ta nói với Kaptah:
- Làm lại lần nữa đi.
Nhưng Kaptah hờn dỗi nói:
- Việc ấy không hợp với thanh danh tôi.
Burraburiash mỉm cười và nói:
- Chúng ta xem nào.
Ngài gọi sư tử, nó đứng dậy, duỗi toàn thân khiến các khớp xương kêu răng rắc rồi nhìn ông chủ với đôi mắt gớm ghiếc. Nhà vua chỉ vào Kaptah và con sư tử bắt đầu uể oải nhấc chân đi về phía Kaptah, đuôi vung vẩy. Kaptah lùi lại và nhìn nó chằm chằm như bị thôi miên cho đến khi sư tử đột nhiên há to miệng và gầm vang. Lúc đó Kaptah quay ra, túm lấy tấm rèm cửa vào lòng rồi bám vào đó, trèo lên dầm cửa và hốt hoảng gào lên khi sư tử giơ chân lên, với theo ông ta. Nhà vua cười còn nhiều hơn lúc trước, ngài nói:
- Ta chưa bao giờ nhìn thấy cái gì điên rồ hơn.
Sư tử ngồi trên sàn và liếm mép trong khi Kaptah ngồi trên dầm cửa, vô cùng sợ hãi. Nhưng nhà vua sai gọi đồ ăn thức uống và nói:
- Ta đói rồi.
Lúc đó vị danh y già mới mừng rỡ bật khóc vì thấy vua đã được chữa lành, và người ta mang đến cho vua nhiều món ăn trong các bát đĩa bạc có chạm hình và rượu trong cốc vàng.
Nhà vua bảo tôi:
- Ăn với ta, Sinuhe, mặc dù điều này không hợp với danh vị của ta nhưng hôm nay ta tạm quên điều ấy, bởi ngươi đã dám dúi đầu ta vào nách ngươi và lấy ngón tay khua khoắng trong miệng ta.
Thế là tôi được ăn và uống cùng với nhà vua và tôi nói với ngài:
- Sự đau đớn của ngài giờ đã giảm bớt nhưng nó sẽ tái phát bất cứ lúc nào, trừ khi ngài cho phép nhổ chiếc răng đau đi. Vì thế, ngài phải để nha sĩ nhổ nó ngay khi má của ngài bớt sưng và việc này có thể làm được mà không gây hại cho sức khỏe của ngài.
Vua nhăn mặt, cáu kỉnh nói:
- Ngươi nói những lời không tốt và phá hỏng niềm vui của ta, người lạ điên rồ.
Nhưng sau một lát suy nghĩ, ngài bảo:
- Có lẽ ngươi nói đúng, bởi vì cơn đau của ta tái phát vào mỗi mùa thu và mùa xuân khi chân ta bị ướt, khiến ta đau đớn đến nỗi ước gì mình chết quách đi. Nếu đúng là phải làm như thế thì ta cho phép ngươi, bởi vì ta không còn muốn nhìn thấy ngự y của mình nữa, khi mà hắn ta đã nhiều lần làm ta đau khủng khiếp.
Tôi nói với nhà vua:
- Qua những lời ngài vừa nói, tôi nhận thấy hồi nhỏ, hẳn ngài đã uống nhiều rượu hơn sữa; đồ ngọt không có lợi cho ngài, bởi vì các đồ ngọt ở thành phố này được làm từ nước quả chà là, thứ làm hỏng răng. Còn ở Ai Cập, đồ ngọt được làm từ mật ong, bởi những con chim nhỏ xíu gom nhặt thành những chiếc bánh lớn cho con người. Vậy nên từ nay trở đi, ngài hãy chỉ ăn đồ ngọt của bến cảng và uống sữa mỗi buổi sáng sau khi ngài thức dậy.
Nhà vua nói:
- Chắc ngươi là tay pha trò có hạng, Sinuhe, bởi vì ta không tin những con chim nhỏ gom nhặt kẹo cho con người. Ta chưa bao giờ nghe điều như thế.
Nhưng tôi nói:
- Số phận tôi thật long đong, bởi vì ở đất nước tôi, người ta sẽ gọi tôi là kẻ nói dối khi tôi nói với họ mình đã thấy ở đây những con chim không có cánh, sống cùng với con người và làm quà cho chủ của chúng bằng những quả trứng tươi mỗi sáng để làm cho họ trở nên giàu có. Do đó, tốt hơn tôi không nên nói gì, vì tôi sẽ mất danh tiếng nếu bị cho là kẻ nói dối.
Nhưng nhà vua gạt phắt đi:
- Cứ nói đi, vì không ai nói với ta như ngươi cả.
Lúc đó tôi mới nói một cách nghiêm nghị:
- Tôi sẽ không nhổ răng ra khỏi miệng ngài mà chỉ nha sĩ của ngài được làm điều đó, vì trong những việc như thế này, anh ta là người giỏi nhất ở đất nước này và chắc cũng giỏi hơn tôi, còn tôi thì không muốn làm anh ta ghét tôi. Nhưng nếu ngài muốn, tôi có thể đứng bên cạnh ngài, giữ chặt tay và khích lệ ngài khi anh ta làm việc đó. Đồng thời tôi cũng làm giảm cơn đau của ngài bằng tất cả các kỹ năng mà tôi đã học được ở nhiều miền đất và nhiều bộ tộc. Việc này sẽ được làm sau hai tuần kể từ hôm nay; đặt ngày trước như thế sẽ tốt hơn để ngài không hối tiếc. Cho tới lúc đó, hàm của ngài có đủ thời gian để lành hẳn, nên từ bây giờ, ngài cần súc miệng vào mỗi buổi sáng và tối với thuốc tôi đưa cho ngài, mặc dù nó có thể gây xót và có vị rất khó chịu.
Nhà vua xịu mặt và hỏi:
- Thế ta không làm thì sao?
Tôi nói:
- Ngài phải hứa bằng lời của đấng quân vương rằng ngài cho phép làm như tôi nói, bởi chúa tể bốn phương đất không thể không giữ lời hứa của mình. Nếu ngài cho làm điều đó, tôi sẽ làm ngài vui bằng hết khả năng của mình, tôi sẽ biến nước thành máu trước mắt ngài, đồng thời dạy ngài làm điều đó để ngài có thể làm kinh ngạc các thuộc hạ của mình. Tuy nhiên, ngài phải hứa sẽ không truyền lại bí quyết này cho bất kỳ ai khác, vì đó là bí mật thiêng liêng của các giáo sĩ Amon mà tôi sẽ không biết được nếu không phải là giáo sĩ bậc một, cũng như tôi sẽ không dám truyền dạy cho ngài nếu ngài không phải là quốc vương.
Tôi vừa nói đến đó thì Kaptah đã gào lên nơi dầm cửa và rên rỉ:
- Hãy dắt con quỷ đó đi, nếu không tôi sẽ trèo xuống và giết nó, bởi vì tay tôi đã bị tê và mông tôi đau khi ngồi ở nơi thổ tả không xứng với tôi này. Chắc chắn tôi sẽ trèo xuống và giết con vật đó nếu người ta không dắt nó đi ngay.
Burraburiash càng cười to hơn khi nghe lời đe dọa của ông ấy, nhưng rồi vua giả vờ nghiêm túc và nói:
- Thật đáng tiếc nếu ngươi giết sư tử của ta, vì nó đã lớn lên trước mắt ta và bầu bạn với ta từ khi ta còn bé tí. Bởi vậy ta sẽ bảo nó đi để ngươi không làm điều tàn bạo trong cung điện của ta.
Burraburiash gọi sư tử đến chỗ mình và Kaptah đu xuống theo tấm rèm che rồi đứng cọ xát đôi chân cứng đơ của mình và hậm hực nhìn con sư tử, khiến nhà vua vừa cười vừa đập tay xuống đầu gối và nói:
- Quả thật ta chưa bao giờ nhìn thấy một gã nào điên khùng hơn. Bán hắn cho ta và ta sẽ làm cho ngươi giàu có.
Tất nhiên tôi không muốn bán Kaptah cho nhà vua và vua cũng không ép. Chúng tôi chia tay như bạn bè khi vua bắt đầu gật gù và mắt ríu lại vì thiếu ngủ. Đã nhiều đêm ngài không ngủ được vì đau. Vị danh y già, ngự y của vua, tiễn tôi ra và nói với tôi:
- Qua cách cư xử cũng như lời nói của anh, tôi thấy anh không phải là kẻ lừa đảo, mà là người giỏi giang và có kỹ năng chuyên môn. Nhưng tôi kinh ngạc khi anh dũng cảm nói những lời đó trước mặt vua bốn phương đất, vì nếu danh y nào của ngài dám nói như thế, người đó đã nằm trong chum sành và làm bạn với tổ tiên.
Tôi nói với ông ta:
- Tốt nhất là chúng ta trao đổi với nhau tất cả những gì sẽ xảy ra trong hai tuần tới, bởi vì đó sẽ là một ngày tồi tệ và chúng ta cần dâng lễ cho tất cả các vị thần thích hợp trước ngày đó.
Ông ấy rất hài lòng với ý kiến của tôi, vì ông là một người đàn ông chính trực, và chúng tôi thỏa thuận sẽ gặp nhau trong đền thờ để dâng lễ và tổ chức một cuộc hội kiến giữa các danh y về hàm răng của nhà vua. Trước khi chúng tôi rời khỏi cung điện, ông ấy còn cho thết đãi những phu khênh kiệu đã đưa tôi đến cung điện, họ ăn uống vui vẻ trong sân và hết lời ca ngợi tôi. Khi đưa tôi trở lại nhà trọ, họ hát hò rất to và đám đông đi sau tôi, và từ ngày đó tên tôi trở nên nổi tiếng ở Babylon. Nhưng Kaptah cưỡi con lừa trắng và hờn dỗi, không nói gì với tôi bởi vì ông ấy thấy vị thế của mình bị hạ thấp.
❖ 3 ❖
Hai tuần sau, tôi gặp các danh y của quốc vương Burraburiash tại Tháp Marduk. Chúng tôi cùng nhau dâng cừu để các giáo sĩ xem gan của nó và giúp chúng tôi đoán định, vì ở Babylon, các giáo sĩ dựa trên gan của vật hiến tế và từ đó hiểu biết nhiều điều mà người khác hoàn toàn không lý giải được. Họ nói nhà vua sẽ rất tức giận nhưng chúng tôi không ai mất mạng hoặc chịu tổn thương nào vĩnh viễn. Tuy nhiên, chúng tôi cần đề phòng móng vuốt và giáo mác khi chữa cho nhà vua. Chúng tôi còn nhờ các nhà chiêm tinh xem Sổ Thiên Tào, tính xem ngày đó có thích hợp với việc định làm hay không. Họ nói rằng ngày đó thích hợp, mặc dù chúng tôi có thể chọn một ngày khác tốt hơn. Chúng tôi còn để các giáo sĩ đổ dầu vào nước và dựa vào đó để xem tương lai; sau khi xem dầu, các giáo sĩ nói họ không thấy có gì đáng nói hiện ra trong dầu, ít nhất là không có gì quá xấu. Khi chúng tôi ra khỏi đền, một con kền kền bay qua, vuốt của nó mang theo một chiếc đầu người mà nó quặp được từ trên tường thành. Các giáo sĩ giải thích đó là một điềm báo tốt cho việc làm của chúng tôi, song tôi lại nghĩ điềm báo đó cho biết nhiều việc, trừ thuận lợi.
Theo lời khuyên có được từ gan cừu, chúng tôi ngăn các vệ sĩ của nhà vua lại và không cho sư tử đi theo ngài mà nhốt nó ngoài cửa, bởi khi tức giận, vua có thể xua nó tấn công chúng tôi và nó có thể xé xác chúng tôi như nó đã từng làm, theo lời các danh y kể. Vua Burraburiash đã trở nên can đảm hơn và ngài uống rượu “để gan thêm phần phấn khích”, như cách nói của người Babylon, nhưng khi ghế nhổ răng được mang đến cung điện, nhà vua nhận ra nó, mặt tái ngắt và ngài nói có việc triều chính quan trọng cần làm mà khi uống rượu ngài quên mất.
Quốc vương định bỏ đi nhưng khi các thái y khác nằm sấp trên sàn và lấy môi lau sàn, tôi nắm lấy tay ngài, khích lệ và nói tất cả sẽ qua đi rất nhanh, chỉ cần ngài dũng cảm là được. Tôi lệnh cho các thái y tự tẩy trùng mình, còn tôi tẩy trùng các dụng cụ nha khoa bằng lửa bọ hung và bôi thuốc mỡ gây tê lên lợi của nhà vua cho đến khi ngài bảo tôi dừng lại, vì má ngài đã giống như gỗ và lưỡi không muốn động đậy trong miệng. Rồi chúng tôi đặt nhà vua ngồi vào ghế, buộc chặt đầu ngài vào thành ghế rồi nhét cái nêm vào miệng để vua không thể ngậm miệng lại. Tôi giữ tay vua và động viên ngài, còn viên nha sĩ vừa lớn tiếng cầu xin tất cả thần linh của Babylon đến giúp vừa đưa chiếc kìm vào miệng ngài và giật chiếc răng ra khỏi hàm vua, khéo đến mức tôi chưa bao giờ thấy ai nhổ một chiếc răng sâu ra khỏi miệng khéo đến thế. Nhưng nhà vua gào lên khủng khiếp dù cái nêm vẫn trong miệng, khiến sư tử bắt đầu gầm lên ngoài cửa, đập mình vào cửa cho cánh cửa rung lên bần bật rồi dùng vuốt cào cấu.
Đây là một thời điểm thật đáng sợ, vì sau khi chúng tôi tháo dây buộc đầu nhà vua và lấy nêm ra khỏi miệng ngài, ngài nhổ máu xuống chiếc bình to rồi vừa rên rỉ vừa hét gào khiến nước mắt chảy dài trên má. Sau khi nhổ máu ra, vua vừa khóc vừa hét gọi vệ sĩ vào giết tất cả chúng tôi; ngài còn gọi sư tử và đá ngọn lửa thiêng rồi dùng gậy đánh các danh y cho đến khi tôi lấy cây gậy ra khỏi tay ngài và bảo ngài súc miệng. Khi ngài súc miệng, các danh y nằm xuống sàn dưới chân ngài, người run bần bật, còn viên nha sĩ nghĩ rằng thời khắc cuối cùng của đời mình đã đến. Nhưng nhà vua bình tĩnh lại và uống rượu dù miệng vẫn còn méo xệch và bắt tôi làm cho ngài vui như tôi đã hứa.
Chúng tôi đến sảnh khánh tiết của hoàng cung vì nhà vua căm ghét phòng nhổ răng, sai đóng cửa nó vĩnh viễn và gọi nó là phòng đáng nguyền rủa. Trong phòng khánh tiết, tôi đổ nước vào một chiếc bát để vua và các danh y nếm thử và tất cả có thể xác nhận đó là nước bình thường. Sau đó tôi từ từ đổ nước vào một bát khác và khi nước chảy vào bát thứ hai, nó biến thành máu khiến nhà vua và các danh y của ngài kêu to vì kinh ngạc và rất sợ hãi.
Tôi còn bảo Kaptah mang vào một chiếc rương bên trong có một con cá sấu, vì tất cả đồ chơi được bán ở Babylon đều được làm bằng đất sét và rất đẹp nhưng nhớ lại con cá sấu bằng gỗ mà mình từng chơi thuở nhỏ, tôi đã đặt một nghệ nhân lành nghề làm một con cá sấu tương tự. Ông ta đã làm nó bằng gỗ tuyết tùng và bạc, rồi vẽ và trang trí khiến nó trông giống như cá sấu thật. Bây giờ tôi lấy nó ra khỏi hộp và khi tôi kéo nó dưới sàn, hai chân nó chuyển động đi theo tôi, hàm trên cắn vào hàm dưới giống như khi cá sấu đớp mồi. Tôi tặng nó cho nhà vua và ngài rất thích thú, vì sông ở xứ ngài không có cá sấu. Khi kéo cá sấu dưới sàn, nhà vua hoàn toàn quên đi cơn đau mà ngài đang chịu và các danh y nhìn nhau cười rất vui.
Sau đó, nhà vua tặng các danh y rất nhiều quà, làm nha sĩ thành người giàu có rồi bảo họ ra về. Còn tôi, ngài giữ lại và tôi dạy ngài cách biến nước thành máu như thế nào; tôi cho ngài một thứ bột để trộn với nước trước khi phép lạ này có thể xảy ra. Kỹ năng này rất đơn giản, những ai biết làm đều biết điều đó. Quả thực tất cả các phép lạ lớn đều đơn giản và nhà vua rất ngạc nhiên, khen ngợi tôi. Song vua vẫn chưa hài lòng mà cho tập hợp tất cả quần thần trong triều đình đến vườn thượng uyển và cho gọi cả thần dân sống gần các tường thành đến. Trước sự chứng kiến của tất cả mọi người, vua biến nước trong bể thành máu, đình thần cũng như dân chúng đều hét lên vì sợ hãi và nằm phủ phục xuống đất trước mặt ngài khiến nhà vua rất hài lòng.
Vua không còn nhớ tới cái răng của mình nữa mà nói với tôi:
- Sinuhe, Người Ai Cập! Ngươi đã giải thoát ta khỏi cơn đau và bằng nhiều cách làm cho gan của ta dễ chịu. Vì thế, hãy xin ta bất cứ điều gì ngươi muốn và nói cho ta biết ngươi muốn món quà gì để ta tặng cho ngươi, bất kể đó là gì, bởi vì ta cũng muốn làm cho gan của ngươi dễ chịu.
Lúc đó, tôi tâu với đức vua:
- Bẩm quốc vương Burraburiash, chúa tể bốn phương đất, là danh y, tôi đã ấn đầu ngài dưới nách tôi và đã giữ chặt tay ngài khi ngài giận dữ gào thét. Tôi thấy thật thất lễ khi tôi, một người xa lạ, có một ký ức như vậy về vua của Babylon và trở về đất nước của mình kể lại những gì tôi đã thấy ở đây. Vì thế sẽ tốt hơn nếu ngài làm cho tôi choáng ngợp, cho tôi thấy tất cả quyền lực của ngài, ngài đeo râu lên cằm, buộc thắt lưng lên người và lệnh cho quân lính của ngài diễu hành qua để tôi có thể cảm nhận được sức mạnh của đất nước ngài và cung kính nằm xuống liếm đất trước mặt ngài. Ngoài ra tôi không đòi hỏi ngài điều gì khác.
Đề nghị của tôi đã làm nhà vua hài lòng, vì ngài nói:
- Quả thực không ai nói với ta giống như ngươi, Sinuhe. Vì thế, ta sẽ làm theo thỉnh cầu của ngươi, mặc dù với ta điều đó thật nhàm chán, bởi lẽ lúc đó ta sẽ phải ngồi cả ngày với tư cách là quốc vương trên ngai vàng, mắt ta sẽ mỏi và ta sẽ bắt đầu ngáp. Nhưng được rồi, ta sẽ chiều theo ý ngươi.
Quốc vương cho truyền lệnh đến tất cả các xứ để triệu tập quân lính và định ra một ngày các đội quân phải diễu hành trước nhà vua.
Cuộc diễu hành được tổ chức tại Cổng Ishtar. Quốc vương ngồi trên ngai vàng, sư tử nằm dưới chân, tất cả triều thần đeo vũ khí đứng xung quanh khiến cho quanh nhà vua như có những đám mây vàng, bạc và đỏ tía. Còn trên con đường rộng phía dưới, binh lính chạy diễu hành qua trước nhà vua, các giáo thủ và cung thủ mỗi lần sáu mươi người thành hàng sát nhau, còn các cỗ chiến xa từng sáu chiếc một nối tiếp nhau chạy, khiến phải mất trọn cả ngày để tất cả đi qua trước nhà vua. Bánh của các cỗ xe rít vang ầm ầm như sấm, tiếng chân chạy rầm rập và tiếng vũ khí khua nghe giống như tiếng gầm của sóng biển trong bão, khiến ai nhìn tất cả những cảnh này cũng thấy đầu óc choáng váng và chân run lẩy rẩy.
Tôi nói với Kaptah:
- Nếu chúng ta chỉ nói quân đội của Babylon đông như cát biển hay sao trên trời thì vẫn chưa đủ. Chúng ta phải đếm con số của họ.
Nhưng Kaptah lầm bầm:
- Ông chủ ơi, điều đó là không thể vì trên đời này không có thật nhiều con số.
Tuy nhiên, tôi đã đếm những gì tôi có thể, bộ binh là sáu mươi lần sáu mươi lần sáu mươi lần, chiến xa ngựa kéo sáu mươi lần sáu mươi, bởi vì sáu mươi là con số linh thiêng ở Babylon; năm, bảy và mười hai cũng là số thiêng, nhưng tại sao lại thế, tôi không biết, mặc dù các giáo sĩ đã giải thích cho tôi. Chắc tôi đã không hiểu lời giải thích của họ.
Tôi cũng nhìn thấy khiên các vệ sĩ của nhà vua lấp lánh vàng và bạc, vũ khí của họ được mạ vàng và bạc, mặt họ lấp lánh dầu xức và họ béo đến mức khi chạy ngang trước mặt vua với vũ khí, họ thở phì phò như đàn bò đực. Nhưng số này không nhiều mà phần đông binh lính từ các trấn về da rám nắng, người bẩn thỉu và khai khẳm mùi nước tiểu. Thậm chí nhiều người trong số họ còn không có giáo vì lệnh của nhà vua đến với họ quá bất ngờ và mắt họ dính đầy dử, vậy nên tôi nghĩ quân lính ở mọi miền đất hầu như giống nhau. Tôi cũng nhận thấy nhiều chiến xa đã cũ, kêu cót két, một vài bánh xe rơi ra khi chạy và những cái liềm gắn vào thùng xe xanh nhợt vì mốc.
Vào buổi tối, quốc vương cho gọi tôi đến và mỉm cười nói:
- Ngươi đã thấy uy lực của ta chưa, Sinuhe?
Tôi phủ phục trước mặt nhà vua, miệng chạm sàn trước chân ngài và nói:
- Chắc chắn không có vị vua nào vĩ đại hơn ngài, và ngài được coi là chúa tể của bốn phương đất cũng đúng. Mắt tôi mệt mỏi, đầu tôi quay cuồng và chân tay tôi rã rời vì sợ hãi bởi binh sĩ của ngài đông như cát trên biển hay sao trên bầu trời.
Quốc vương mỉm cười hài lòng và nói:
- Ngươi đã nhìn thấy những gì ngươi muốn thấy, Sinuhe, mặc dù ngươi nên tin vừa vừa thôi, vì các triều thần của ta rất bực tức về việc này và các địa phương đã phải dành tiền tô thuế cả năm cho nó vì quân lính phải được ăn uống và tối nay họ làm loạn trong thành phố, làm nhiều chuyện phạm pháp theo thói quen của lính tráng. Trong vòng một tháng nữa, binh lính vẫn sẽ làm hỗn loạn các con đường lớn, nên ta sẽ không làm điều này lần thứ hai. Mông ta tê cứng khi ngồi trên ngai vàng và mắt ta cũng hoa lên rồi. Hãy uống rượu nào, để gan ta vui lên sau ngày mệt mỏi này, vì ta có rất nhiều điều cần hỏi ngươi.
Tôi uống rượu trước mặt nhà vua, ngài hỏi tôi rất nhiều điều những đứa trẻ và thanh niên thường hỏi về thế giới họ chưa từng thấy. Các câu trả lời của tôi khiến vua hài lòng, cuối cùng ngài hỏi:
- Pharaon nhà ngươi có con gái chứ? Theo như tất cả những gì ngươi đã nói về xứ Ai Cập, ta quyết định cưới con gái Pharaon làm vợ. Ta đã có bốn trăm phi tần trong hậu cung của mình và như vậy là quá đủ đối với ta, vì ta không đủ sức gặp nhiều hơn một người mỗi ngày và việc này cũng thật nhàm chán, nhưng cũng may là họ đều khác nhau. Nhưng thanh danh của ta sẽ tăng lên nếu trong hậu cung ta có con gái Pharaon, và các dân tộc ta trị vì sẽ tôn kính ta hơn.
Tôi kinh hãi giơ tay lên và nói:
- Bẩm quốc vương Burraburiash, ngài không hiểu mình đang nói gì, vì chừng nào thế giới còn tồn tại, con gái của Pharaon không hợp hôn với một người đàn ông lạ mà chỉ kết hôn với anh em của họ; nếu họ không có anh em, họ không lập gia đình và sẽ trở thành nữ giáo sĩ. Do đó, lời nói của ngài xúc phạm các vị thần Ai Cập, nhưng tôi bỏ qua cho ngài vì ngài không hiểu điều mình nói.
Đức vua cau mày và cáu kỉnh nói:
- Ngươi là ai mà dám tha thứ cho ta? Không phải máu ta cũng thiêng liêng như máu Pharaon sao?
- Tôi đã thấy máu ngài khi ngài nhổ nó vào cái bình bên cạnh tôi, - tôi thừa nhận. - Tôi cũng đã thấy máu Pharaon Amenhotep chảy rất nhiều và tôi không thể nói máu hai ngài có gì khác nhau. Nhưng ngài cũng phải nhớ rằng Pharaon chỉ mới kết hôn chưa lâu và tôi không biết Pharaon đã có con gái chưa.
- Ta vẫn còn trẻ và ta có thể chờ được, - Burraburiash nói và nhìn tôi ranh mãnh, bởi vì ngài là vua của dân tộc doanh thương. - Ngoài ra, nếu Pharaon nhà ngươi không có con gái gả cho ta, hay nếu ông ta không muốn gả con gái mình cho ta, thì hãy gửi bất cứ thiếu nữ quyền quý nào của Ai Cập đến đây, để ta có thể nói nàng là con gái của Pharaon. Ở đây không ai nghi ngờ lời ta và Pharaon cũng chẳng mất gì. Tuy nhiên, nếu ông ta vẫn không chấp thuận thì ta sẽ sai quân lính sang bắt con gái của Pharaon, vì ta rất cứng đầu và điều gì nảy ra trong đầu ta, nó sẽ ở đó mãi mãi.
Lời ngài làm tôi hoảng sợ, tôi nói với ngài rằng chiến tranh sẽ rất tốn kém và làm thương tổn nghiêm trọng thương mại thế giới, điều này sẽ làm ngài bị thiệt hại nhiều hơn Ai Cập. Tôi còn nói thêm:
- Có lẽ tốt nhất là ngài nên đợi sứ giả của ngài báo tin Pharaon đã có con gái. Khi đó, ngài có thể viết ý muốn của mình với Người vào một bảng đất sét và nếu Pharaon đồng ý, chắc chắn Người sẽ gả con gái mình cho ngài mà không phản bội ngài, vì Pharaon có một vị thần mới hùng mạnh và Người sống với thần ấy trong sự thật. Do đó mọi sự dối trá đều khủng khiếp với Người.
Nhưng Burraburiash không thể hiểu điều đó mà nói:
- Ta không muốn nghe về những thần như thế và ta rất ngạc nhiên thấy Pharaon nhà ngươi đã chọn một vị thần như vậy, vì tất cả mọi người đều biết rằng sự thật thường làm hại con người và khiến người đó trở nên nghèo khó. Thực ra ta cầu nguyện tất cả thần linh, kể cả các vị thần mà ta không biết, bởi cẩn tắc vô ưu và đó cũng là tập tục nhưng với vị thần này ta không muốn gì khác hơn là tránh thật xa.
Ngài còn nói thêm:
- Rượu đã làm ta sảng khoái và gan ta hoan hỉ, lời ngươi nói về con gái của Pharaon và vẻ đẹp của họ khiến ta phấn khích, vì vậy bây giờ ta nghĩ ta sẽ đến hậu cung của ta. Nhưng ngươi hãy đi cùng ta, vì là danh y, ngươi có thể làm điều đó và như ta đã nói, ta có quá nhiều thê thiếp, ta sẽ không lấy làm khó chịu nếu ngươi chọn một trong số họ để vui vẻ, nhưng đừng làm nàng ta có con vì điều đó sẽ gây ra nhiều phiền toái. Ta cũng tò mò muốn thấy người Ai Cập ăn nằm với đàn bà như thế nào, bởi vì mỗi một chúng dân đều có phong tục riêng và nếu ta kể với ngươi những thê thiếp được lấy về từ các miền đất xa xôi của ta có những cách gì, ngươi sẽ không tin mà rất lấy làm kinh ngạc.
Đức vua không thèm để ý tới lời từ chối của tôi mà bắt ép tôi đi cùng đến hậu cung của ngài và chỉ cho tôi xem những hình ảnh đàn ông và phụ nữ đang ân ái theo nhiều kiểu khác nhau được các nghệ nhân tạo tác bằng gạch thủy tinh màu trên tường. Ngài cũng chỉ cho tôi mấy người thiếp của ngài có đồ trang sức và xiêm áo đắt tiền, gồm cả người nữ đứng tuổi và thiếu nữ từ tất cả các nước quen biết, có cả những cô gái từ xứ mọi rợ mà các thương nhân mang đến. Màu da, vóc dáng của họ khác nhau và họ nói liến thoắng, ầm ĩ nhiều thứ tiếng nghe như bầy khỉ. Họ nhảy múa trước mặt nhà vua, để hở bụng và tiêu khiển ngài theo nhiều cách để tranh giành sự ưu ái của ngài. Đức vua không ngừng giục tôi chọn một trong những thê thiếp đó cho đến khi tôi nói với ngài rằng tôi đã hứa với thần linh sẽ kiêng phụ nữ bất cứ khi nào tôi chữa trị cho ai đó. Tôi đã hứa hôm sau sẽ phẫu thuật cho một trong những cận thần của vua có khối u ở bìu dái, vì thế không thể động vào đàn bà, mà tốt hơn là tránh xa họ, nếu không sẽ gây tiếng xấu cho danh tiếng chữa trị của mình. Nhà vua tin điều đó và để tôi đi, nhưng các phi tần rất bực bội, họ giơ tay rồi kêu la bày tỏ sự tiếc nuối. Trừ các hoạn quan của triều đình, họ thật sự chưa bao giờ nhìn thấy một người đàn ông khỏe mạnh, dương lực sung mãn nào trong hậu cung, nhà vua thì còn trẻ, yếu ớt và vẫn chưa có râu.
Nhưng trước khi tôi đi khỏi, nhà vua cười và như nói với chính mình:
- Các dòng sông đang dâng nước và mùa xuân đang đến. Vì thế, các giáo sĩ chọn bắt đầu từ hôm nay, ngày thứ mười ba, là ngày lễ mùa xuân và là ngày của vị vua hờ. Để ghi nhớ ngày hôm nay, ta có một bất ngờ dành cho ngươi mà ta nghĩ ngươi sẽ rất thích thú và ta hy vọng nó cũng đem lại cho bản thân ta nhiều niềm vui, nhưng đó là gì, ta không muốn nói trước với ngươi để ngươi khỏi làm hỏng niềm vui của ta.
Tôi nghi ngại bỏ đi, vì tôi sợ rằng điều quốc vương Burraburiash thích thú sẽ không làm tôi hài lòng chút nào. Trong việc này, lần đầu tiên Kaptah đã đồng ý với tôi.
❖ 4 ❖
Các thái y của nhà vua không biết nên bày tỏ họ ngưỡng mộ tôi như thế nào, vì nhờ có tôi mà đức vua đã không căm giận, lại còn ban cho họ những món quà lớn, và tôi đã bảo vệ họ trước nhà vua, khen ngợi kỹ năng của họ. Tôi đã làm điều này vì họ đúng là những danh y có tay nghề giỏi trong lĩnh vực của mình và tôi có rất nhiều điều để học hỏi từ họ, còn họ không giấu tôi bất cứ điều gì. Điều quan trọng nhất tôi học được từ họ là cách họ cô đặc nhựa chảy ra từ lõi hạt anh túc và chế nó thành một loại thuốc giúp ngủ ngon hay làm ai đó bất tỉnh hoặc chết, tùy vào liều lượng thuốc. Nhiều người ở Babylon đã dùng thuốc này với rượu hoặc không và kể rằng nó cho con người ta sự khoái cảm lớn lao. Các giáo sĩ cũng dùng nó để mơ khi ngủ và tiên đoán theo các giấc mơ ấy, bởi theo họ tri thức mà thuốc này đem lại là rất lớn. Vì thế ở Babylon, người ta trồng cây anh túc trên những cánh đồng rộng lớn và những cánh đồng hoa anh túc nhiều màu sắc này đem lại một cảnh tượng kỳ lạ, đáng sợ và được gọi là cánh đồng của các vị thần vì chúng thuộc sở hữu của đền thần Marduk.
Các giáo sĩ cũng bí mật tinh chế hạt cây dầu gai để được một loại thuốc mà sau khi dùng nó, người dùng không sợ đau đớn hay tử vong và nếu dùng nó thường xuyên với liều lượng cao, đàn ông không còn ham muốn vui thú với đàn bà trần thế nữa mà tận hưởng niềm vui thiên đường cùng với những người trong ảo mộng mà thuốc này đặt vào lòng họ. Vậy là tôi đã thu thập được nhiều thông tin khi tôi ở Babylon, nhưng ấn tượng nhất với tôi về phép thuật tài tình của các giáo sĩ là chiếc kính trong suốt: các vật thể sẽ được phóng to nếu nhìn qua kính đó. Có lẽ tôi sẽ không tin nếu không cầm chiếc kính trong tay và nhìn qua nó, nhưng tại sao viên pha lê này có sức mạnh như vậy, tôi không biết và các giáo sĩ cũng không giải thích và tôi nghĩ không ai có thể giải thích. Nhưng giới quyền quý và những người giàu nhất đã dùng kính này khi mắt họ kém đi để có thể đọc các bản văn cổ xưa trên các bảng đất sét và đóng triện tên của họ mà không nhầm lẫn.
Song có lẽ điều kỳ diệu hơn cả là khi mặt trời chiếu xuyên qua những viên pha lê này, chúng có thể đốt cháy phân khô, mạt cưa và lá khô, vậy nên khi mặt trời chiếu sáng có thể lấy được lửa mà không cần đến khoan lửa. Nhờ những viên pha lê này, tôi tin rằng các phù thủy Babylon có sức mạnh lớn hơn phù thủy của bất kỳ vương quốc nào khác và tôi rất kính trọng các giáo sĩ của họ. Những chiếc kính này cũng rất đắt, có giá gấp nhiều lần trọng lượng vàng của chúng, nhưng khi thấy tôi thích nó đến thế, nha sĩ của nhà vua đã tặng tôi một chiếc. Đổi lại, tôi tặng anh ta một cánh cửa tuyết tùng cho nhà anh ấy; trên cánh cửa, tôi đã đặt các nghệ sĩ vẽ theo lối vẽ của người Ai Cập đức vua và anh ta cùng chiếc răng mà anh ta đã nhổ từ miệng ngài bằng tài năng điêu luyện và cả những món quà mà nhà vua đã ban thưởng cho anh ta, bởi vì ở Babylon cũng có những họa sĩ có thể vẽ theo lối Ai Cập và ở đây gỗ quá đắt nên cửa là vật gia truyền từ đời cha sang đời con, từ thế hệ này sang thế hệ khác, nên những người giàu có và quý phái khi chuyển nhà thường mang theo cánh cửa của họ.
Tài tiên tri của các giáo sĩ Babylon cũng làm tôi chú ý và vì tôi được đức vua ưu ái, các danh y của ngài cũng nói thêm vào, nên tôi được phép học nghệ thuật tiên tri trong Tháp. Nhờ thế, tôi học được cách đọc gan cừu, phân biệt trong đó núi với sông, đường phố, cổng và tháp, đầu, tay chân, tai, ngón tay và nhiều thứ khác nữa, ví như cái giếng sâu nhất ở đâu - những điều rất có lợi cho thầy thuốc vì danh y có thể từ gan của cừu hiến tế mà biết được bệnh và cách chữa trị cho bệnh nhân của họ, không cần khám người bệnh. Phương pháp này thường được các thầy thuốc Babylon sử dụng khi không biết chắc chắn về chứng bệnh của bệnh nhân, và đem lại cho danh y sự tự tin cần thiết khi bối rối. Vậy nên tôi đã học nó kỹ hơn.
Nhưng kiến thức chính xác nhất về tất cả những gì đã và sẽ xảy ra chỉ có thể biết được khi đọc những chữ lửa trên trời cao vào ban đêm. Nhưng tôi đã không cố học luận hình chữ này bởi nó đòi hỏi nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên, mà những người giải mã các vì sao khi đã già, râu đã bạc, mắt đã mệt mỏi vì phải nhìn chằm chằm vào các vì sao vẫn còn tranh cãi cũng như không bao giờ đồng ý với nhau về ý nghĩa vị trí của các ngôi sao, nên tôi nghĩ việc học này là vô ích. Nhưng qua điều mà các giáo sĩ nói, tôi biết rằng mọi chuyện xảy ra nơi hạ giới đều xảy ra trên trời cao, không có chuyện gì nhỏ bé hay tầm thường mà không thể được biết trước từ các vì sao, không nói đến những chuyện lớn hơn, chỉ cần học đủ để luận các chữ của bầu trời. Tôi thấy môn này đáng tin và dễ hiểu hơn nhiều lý thuyết khác về con người và thần linh, nó làm cho cuộc sống trở nên dễ dàng bởi nó dạy người ta hiểu rằng mọi thứ đều xảy ra theo những quy luật bất di bất dịch, không ai có thể thay đổi số mệnh của mình, vì ai có thể lay chuyển được vị trí các ngôi sao, ai có thể buộc các vì tinh tú dịch chuyển. Nghĩ sâu hơn sẽ thấy lý thuyết này tự nhiên và dễ hiểu nhất trong tất cả các lý thuyết và nó phù hợp với đức tin của con người, mặc dù người Babylon nói về gan còn người Ai Cập nói về trái tim, nhưng sự phân biệt này theo tôi chỉ là cách nói chứ không phải điều gì khác.
Kiến thức tuyệt vời này đã tác động nhiều đến tôi, khiến tôi mất một thời gian để suy nghĩ nghiêm túc về việc có nên ở lại Babylon nghiên cứu các vì sao và có nên từ bỏ các chuyến đi cùng tất cả những việc khác, chỉ để nhiều năm hay nhiều thập niên sau hiểu được những điều các vì tinh tú ghi lại trên bầu trời, vì tôi nhận ra rằng cuộc sống của con người không có mục đích nào lớn hơn là học kỹ năng này. Tôi cũng nói với Kaptah về điều này, nhưng ông ta bảo:
- Ích gì khi một người dành nhiều năm của cuộc đời để lé mắt nhìn lên bầu trời cho đến khi dử bắt đầu rỉ ra đầy mắt. Bởi một khi mọi chuyện xảy ra đều được viết trên các vì sao thì con người không thể tránh được điều sẽ xảy ra, ngay cả khi biết trước nó. Đã có nhiều chuyện kể về điều này, chẳng hạn như chuyện về vị hoàng tử và những con chó của chàng ta. Nhưng nếu con người biết trước tất cả những điều tệ hại sẽ xảy ra với anh ta thì anh ta sẽ đau dạ dày, sẽ trở nên đau khổ và cố gắng vô ích để thay đổi điều sẽ xảy ra. Còn nếu người ta biết chỉ toàn điều tốt sẽ đến với mình, điều dĩ nhiên thường không xảy ra với con người, thì chẳng phải tốt hơn là anh ta cứ vui vẻ và tận hưởng điều tốt đẹp này mà không cần dòm ngó lên các vì sao cho tốn thời gian mà dành thời gian đó để làm tim mình vui. Tuy nhiên, cả điều tốt lẫn điều xấu đều xảy ra với con người, như thần linh ấn định, vì vậy việc đọc các ngôi sao sẽ chẳng đem lại gì ngoài sự lộn xộn và tiêu phí thời gian khi con người lúc vui vẻ lúc lại bực bội vì điều sắp xảy ra. Tốt hơn chúng ta nên tin vào bọ hung của mình.
- Nhưng, - tôi nói, - một khi mọi chuyện xảy ra với chúng ta đều được viết trên các vì sao, bọ hung không thể thay đổi chút gì số mệnh của chúng ta và nó cũng không có sức mạnh nào đối với những điều đó.
Nghe thế Kaptah rất bực tức, ông ta nói:
- Đó là lời nói ngu ngốc và thối như cứt lợn. Vì nếu đúng như ông nói thì chắc chắn trên các vì sao cũng có ghi bọ hung mang lại may mắn cho chúng ta và liệt kê chính xác tất cả những điều lớn, nhỏ mà nó đã mang lại, vì không có bọ hung, chúng ta đã bị treo ngược đầu trên tường thành hoặc sọ của ông đã trắng hếu trong bãi tha ma.
Thế thì còn gì để nói nữa, nên tôi từ bỏ ý định ở lại Babylon để nghiên cứu các vì sao. Khi tự vấn lòng mình, tôi thấy quyết định này làm tôi hạnh phúc, bởi sự xê dịch đã ngấm vào máu của tôi, đôi mắt tôi luôn bồn chồn và tôi thèm được thấy điều gì đó mới mẻ. Tôi cũng được an ủi vì nghĩ rằng mình chẳng mất gì, dù không ở lại, vì quyết định này của tôi và cuộc trò chuyện với Kaptah chắc chắn đã được viết vào ngôi sao trước ngày tôi được sinh ra, vì vậy tôi không thể ở lại dù tôi muốn, bởi các ngôi sao đã ấn định như vậy.
Thay vào đó, tôi đã nghiên cứu gan cừu và ghi lại những gì các giáo sĩ Marduk biết về những chuyến bay của loài chim để có thể lưu ý đến những dự báo chim chỉ ra cho chuyến đi của mình. Tôi cũng dành nhiều thời gian để xem họ đổ dầu vào nước và sau đó giải thích các hình ảnh hiện ra trên mặt nước, nhưng đây là kỹ xảo tôi ít tin nhất vì các hình luôn khác nhau và việc giải thích chúng không cần nhiều thông tin lắm, ngoài cái lưỡi liến láu. Nhưng tôi vẫn cố gắng ghi nhớ những gì họ nói về kỹ năng này.
Tôi đã tập trung vào việc học đến mức quên mình là danh y trong một thời gian và ở lại suốt ngày trong đền, từ chối gặp các bệnh nhân tìm đến tôi để chữa bệnh và lấy thuốc mà gửi họ tới các danh y của hoàng gia khiến các danh y rất hài lòng, vì điều này làm tăng uy tín của họ trong mắt người dân Babylon. Còn tôi, người đã kết hợp được sự thông thái của Babylon với tri thức của Ai Cập, tâm trí tôi run lên vì sự tinh thông của mình khi nghĩ rằng tất cả những kiến thức mà con người thu thập được ở khắp bốn phương trong hàng ngàn năm qua giờ đây đã là kiến thức của tôi. Nghĩ về điều này, tôi cảm thấy sức lực mình tăng lên gấp bội và kiêu hãnh nghĩ rằng với mình tất cả đều trong tầm tay. Quả thật tôi còn trẻ, song tôi có nhiều tri thức và kinh nghiệm đến thế.
Nhưng trước khi kể về lễ hội xuân Babylon và ngày vua hờ, tôi phải kể về điều kỳ lạ liên quan tới sự ra đời của tôi. Khi đọc gan cừu về tôi và nhìn vào hình dầu loang trong nước, các giáo sĩ nói:
- Có một điều bí ẩn đáng sợ về sự ra đời của anh mà chúng tôi không thể giải thích nổi, thực ra anh không đơn thuần là một người Ai Cập như anh nghĩ, mà là một người lạ trên thế gian này.
Tôi liền kể với họ tôi không được sinh ra như những người khác, mà tôi đã trôi dưới sông vào một đêm nào đó trên một chiếc thuyền bằng sậy và mẹ tôi đã tìm thấy tôi trong một đám sậy. Khi đó, các giáo sĩ liếc nhìn nhau rồi cúi đầu thật thấp trước mặt tôi và nói:
- Đó là điều chúng tôi đoán.
Và họ kể cho tôi rằng vua Sargon vĩ đại của họ, người đã chinh phục cả bốn cõi thế gian, thống trị cả một vùng từ Biển Bắc đến Biển Nam và cũng là người trị vì các hải đảo, khi còn là đứa trẻ sơ sinh cũng trôi dưới sông trên một chiếc thuyền sậy và không ai biết về sự ra đời của ông cho đến khi những hành động vĩ đại của ông cho thấy ông được sinh ra từ thần linh.
Nghe thế tôi bắt đầu thấy sợ, song tôi gượng cười và nói với họ:
- Chắc các ông không nghĩ rằng tôi, một thầy thuốc, được sinh ra từ các vị thần chứ?
Nhưng họ không cười mà nói:
- Điều đó chúng tôi không biết, nhưng cẩn tắc vô ưu nên chúng tôi xin cúi đầu trước ngài.
Họ cúi đầu trước mặt tôi một lần nữa, cho đến khi tôi thấy chán và nói:
- Chúng ta hãy chấm dứt trò chơi này và trở lại với công việc.
Chúng tôi trở lại bên mô hình đất sét và họ lại giải thích tiếp cho tôi về mê cung của gan cừu, nhưng đôi lúc vẫn tôn kính liếc nhìn tôi và thì thầm với nhau.
Từ đó trở đi, suy nghĩ về sự ra đời của mình bắt đầu giày vò tâm trí tôi và tim tôi nặng như chì khi nghĩ mình là một người lạ trên thế gian. Tôi cũng đã muốn hỏi các nhà chiêm tinh về sự ra đời của mình, nhưng vì tôi không biết chính xác thời điểm nên không hỏi được gì và họ cũng không thể cho tôi lời khuyên. Nhưng thể theo yêu cầu của các giáo sĩ, các nhà chiêm tinh cũng lấy ra những bảng đất sét của họ liên quan đến năm và những ngày dòng nước đưa tôi đến, vì các giáo sĩ cũng tò mò về sự ra đời của tôi. Nhưng các nhà chiêm tinh chỉ biết được nếu tôi được sinh ra vào giờ đó và ngày đó, tôi mang dòng máu hoàng tộc và sinh ra để trị vì nhiều dân tộc. Nhưng tiết lộ ấy không hề làm tôi nhẹ lòng, vì khi muốn nghĩ về điều gì đó trong quá khứ, tôi chỉ nghĩ về tội lỗi và sự nhục nhã mà tôi đã để lại ở Thebes. Nhưng, tôi nghĩ, có lẽ các ngôi sao đã nguyền rủa tôi vào đúng ngày tôi được sinh ra, đặt tôi vào một chiếc thuyền sậy để làm Senmut và Kipa chết trước tuổi và cướp đi niềm vui tuổi già của họ, rồi cướp luôn cả ngôi mộ của họ. Khi nghĩ về điều này, tôi thấy gai người, bởi vì một khi các ngôi sao đã nguyền rủa, tôi không thể tránh khỏi số mệnh của mình, mà trong tương lai tôi còn mang đến hiểm họa và đau khổ cho những người thương yêu tôi. Bởi vậy, tương lai ngự trị tâm trí tôi và tôi sợ tương lai, đồng thời tôi nhận ra rằng tất cả những gì xảy ra với tôi đều có mục đích là buộc trái tim tôi rời xa người khác và phải sống cô đơn, vì chỉ khi cô đơn tôi mới không thể gây đau khổ cho người khác.
❖ 5 ❖
Nhưng tôi còn phải kể về ngày vua hờ. Đó là khi hạt giống nảy mầm xanh và những đêm giá buốt đã dần lùi xa, các giáo sĩ ra ngoài thành phố, đào thần linh từ hầm mộ lên và hét thật to báo tin rằng đức thần đã phục sinh khỏi hầm mộ. Và cả Babylon biến thành một nơi hội hè ầm ĩ và nhộn nhạo, những đoàn người ăn vận quần áo lễ hội đổ ra các con phố, đám tiện dân nhộn nhạo đập phá, cướp các cửa hiệu và làm đường phố náo loạn, còn tồi tệ hơn cả binh lính trên đường về nhà sau cuộc duyệt binh hôm trước. Đàn bà và đám con gái đến tất cả các đền thờ Ishtar để thu nhặt bạc làm của hồi môn và bất cứ ai cũng có thể ăn nằm với họ, không ai coi việc này là đáng hổ thẹn mà ai nấy tha hồ vui thú và hưởng thụ theo sức lực, ham muốn của mình. Ngày cuối cùng của lễ hội xuân chính là ngày vua hờ.
Tôi đã quen với khá nhiều phong tục ở Babylon, nhưng vẫn rất kinh ngạc khi bình minh chưa lên mà các cận vệ của nhà vua đã say xỉn xông vào Vọng lâu Ishtar đập phá, mở hết các cửa, lấy cán giáo đánh bất cứ ai mà họ gặp và gào hết cỡ:
- Vua của chúng tôi đang trốn ở đâu? Hãy trả ngay vua cho chúng tôi! Trời sắp sáng rồi, mà vua phải đem lại công lý cho người dân.
Tiếng ầm ĩ bất thường, đèn được thắp sáng và những kẻ làm công trong khách sạn sợ hãi chạy dọc hành lang. Kaptah nghĩ rằng bạo loạn nổ ra trong thành phố nên trốn dưới giường tôi, còn tôi đi đến chỗ những người lính, trên người chỉ khoác áo choàng vải vì vừa ra khỏi giường, và hỏi:
- Các người muốn gì, hãy cẩn thận kẻo làm ta bị thương, vì ta là Sinuhe, Người Ai Cập, Con Trai Lừa Hoang, chắc chắn các người đã nghe tên ta.
Nghe thế họ hét lên:
- Nếu ông là Sinuhe, thì ông là người chúng tôi đang tìm kiếm!
Họ xé rách áo choàng vải của tôi khiến tôi trần truồng rồi ngạc nhiên chỉ tôi cho nhau xem vì họ chưa bao giờ nhìn thấy một người đàn ông cắt bao quy đầu. Vì vậy, họ nói với nhau:
- Chúng ta có nên để người đàn ông này đi lại tự do không vì anh ta sẽ là mối nguy hiểm cho đàn bà của chúng ta, bởi vì họ rất thích những thứ mới và lạ.
Họ còn nói thêm:
- Đúng là chúng tôi chưa nhìn thấy người nào lạ như thế này kể từ khi chúng tôi nhìn thấy gã da đen tóc xoăn từ đảo của biển ấm đến, đã đút một que xương và cái chuông nhỏ vào cục thịt của hắn để làm hài lòng phụ nữ.
Nhưng sau khi đã chế nhạo tôi đến chán, họ thả tôi và nói:
- Đừng bắt chúng ta mất thêm thời gian với những trò hề của anh nữa, mà trao tên đầy tớ cho chúng ta, vì chúng ta phải đưa hắn vào cung điện bởi hôm nay là ngày vua hờ và nhà vua muốn chúng ta đưa hắn vào cung.
Nghe thế, Kaptah vô cùng sợ hãi, đến nỗi tay chân ông ta bắt đầu run rẩy làm chiếc giường rung rinh theo, vì vậy họ tìm thấy ông và vừa kéo ông ra từ dưới gầm giường, họ vừa sung sướng reo lên và cúi thấp người trước mặt ông. Rồi họ nói với nhau:
- Đây là một ngày rất vui với chúng ta, vì cuối cùng chúng ta cũng đã tìm thấy vua của mình, người đã bỏ trốn khỏi tầm mắt của chúng ta. Bây giờ mắt ta reo cười khi thấy ngài, hy vọng ngài sẽ thưởng cho chúng ta nhiều quà vì sự trung thành của mình.
Kaptah nhìn họ đầu đung đưa, mắt trợn tròn như chiếc vòng nơi hàm ngựa. Nhìn thấy sự kinh ngạc và sợ hãi của ông, họ càng cười to hơn và hét lên:
- Hắn ta đúng là vua của bốn phương đất và chúng ta biết mặt hắn.
Rồi họ cúi thấp người trước ông ấy và những người đứng sau đá vào đít ông để buộc ông bước đi. Còn Kaptah nói với tôi:
- Đúng là thành phố và cả vương quốc này đã thối nát, điên rồ và đầy rẫy tội lỗi, mà có lẽ bọ hung cũng không thể che chở tôi được nữa nên tôi mới phải chịu như thế này. Tôi cũng không biết là mình đang đứng trên đôi chân hay bằng đầu nữa, mà có lẽ tôi đang ngủ trên chiếc giường kia và đang mơ, tất cả đúng chỉ là mơ. Nhưng gì thì gì, tôi cũng phải đi theo họ, vì họ là những gã đàn ông lực lưỡng, nhưng xin ông hãy giữ tính mạng mình, ông chủ của tôi, nếu ông có thể. Và hãy lấy xác tôi khỏi tường thành sau khi họ treo ngược đầu tôi lên đó, hãy giữ thân xác tôi chứ đừng để họ vứt xuống sông. Vì nếu tôi chết trong tay những người lính mà vẫn giữ trọn khí tiết Ai Cập, thì dựa trên những điều luật đã được viết xuống, tôi đương nhiên được đến thẳng miền tây, ngay cả khi thi thể tôi bị mất, nhưng cẩn tắc vô ưu và để tránh bất kỳ sự nhầm lẫn nào, ông hãy bảo quản thi thể tôi, vì ông biết làm việc đó.
Nghe ông ấy nói, những người lính cười ngặt nghẽo, nghiêng ngả, quỳ gối xuống mà cười và đập bôm bốp vào lưng nhau vì sợ nghẹt thở, và họ nói:
- Thề có Marduk, chúng ta không thể tìm được một vị vua tốt hơn, thật kỳ lạ là lưỡi ông ta không xoắn lại khi ông ta nói.
Nhưng trời đang dần sáng và họ lấy cán giáo đánh vào lưng Kaptah để giục ông ấy ra nhanh và dẫn ông đi. Tôi vội vàng mặc quần áo và theo họ vào cung mà không bị ai ngăn lại. Những người đang reo hò huyên náo đứng đầy khắp các sân trước và trong tiền sảnh của cung điện. Vì thế, tôi tin là đã có một cuộc nổi loạn ở Babylon và máu sẽ sớm chảy dọc theo các rãnh trên đường phố khi quân lính từ các địa phương kéo đến hỗ trợ cho thành phố.
Nhưng khi theo quân lính đến đại sảnh, tôi nhìn thấy Burraburiash đang ngồi trên ngai vàng được nâng bởi bốn chân sư tử dưới vọng lâu hoàng gia, trên người vận trang phục hoàng đế và tay cầm biểu tượng quyền lực của mình. Xung quanh vua là các giáo sĩ hàng đầu của Marduk, các triều thần và giới quyền quý trong vương quốc. Nhưng quân lính không để ý đến họ mà kéo Kaptah lên trước, lấy giáo chụm chéo nhau làm thành đường đi và dừng trước ngai vàng chờ đợi. Đột nhiên cả đại sảnh im phắc không ai nói gì cho đến khi Kaptah cất tiếng:
- Hãy đuổi con thú dữ đó đi, nếu không ta sẽ mệt mỏi với trò chơi này và bỏ đi đấy.
Đúng lúc đó một luồng ánh sáng từ cửa sổ phía đông chiếu vào phòng - mặt trời mọc - và tất cả, giáo sĩ và giới quyền quý, cận thần và binh lính của nhà vua, đồng thanh hét lên:
- Ông ấy nói đúng! Hãy dắt con thú đó ra, bởi vì chúng ta mệt mỏi với sự điều hành của thằng bé không râu. Trái lại, người đàn ông này thật thông thái, vì thế chúng ta hãy cho ông ta làm vua để ông ta được ra lệnh cho chúng ta.
Và tôi đã không tin vào mắt mình khi nhìn thấy họ chen lấn, cười đùa, tranh nhau nhào đến bên nhà vua, giật trượng quyền lực từ tay ngài và lột cởi hoàng bào, khiến vua trần truồng hệt như tôi khi lũ lính bất chợt xông đến bên giường. Họ véo vào cánh tay và nắn các bắp thịt ở đùi vua rồi chế nhạo ngài:
- Rõ ràng là anh ta vừa mới được cai sữa và miệng vẫn còn dính sữa mẹ. Vì thế, đã đến lúc đàn bà trong hậu cung được vui thú và chúng tôi nghĩ rằng lão già lừa đảo Kaptah người Ai Cập này cũng biết cưỡi trên yên đàn bà đấy.
Burraburiash không hề chống cự mà cũng cười, còn con sư tử của ngài ngơ ngác, bị đám đông làm cho hoảng sợ nên nép sang bên, đuôi cụp xuống.
Nhưng sau đó tôi không còn biết mình đang đứng bằng đầu hay trên đôi chân của mình nữa khi thấy họ từ chỗ nhà vua xông tới chỗ Kaptah, mặc hoàng bào cho ông ấy, buộc ông ấy phải cầm trượng quyền và ép ông ngồi lên ngai vàng. Rồi họ nằm rạp xuống trước mặt ông ấy và chà miệng lau sàn cạnh chân ông. Người đầu tiên bò trước mặt ông ấy là Burraburiash đang trần truồng, ngài hét lên:
- Đúng rồi. Hắn ta sẽ là vua của chúng ta, chúng ta không thể chọn được vị vua nào tốt hơn.
Rồi tất cả đều đứng dậy tôn xưng vua Kaptah và ôm bụng cười ngặt nghẽo.
Kaptah trợn tròn mắt nhìn họ, mái tóc xoăn dựng ngược dưới cái mũ hoàng đế mà họ đã vội vã chụp lên phía sau đầu ông một cách xiên xẹo. Cuối cùng, ông ấy tức giận hét to khiến tất cả im lặng, lắng nghe ông nói:
- Chắc chắn đây là một giấc mơ tồi tệ mà ai đó đã phù phép để ta nằm mê thấy, vì nó đã xảy ra. Ta không hề mong muốn trở thành vua của các người vì ta thà làm vua của lũ khỉ đầu chó và đàn lợn còn hơn. Nhưng nếu các người thực sự muốn ta trở thành vua, ta không làm gì khác được, bởi một người làm sao chống lại được nhiều người. Vì vậy, ta buộc các người phải nói thật, ta có phải là vua của các người không?
Nghe thế tất cả cùng hét lên:
- Ngài là vua của chúng tôi và là chúa tể của bốn phương thế giới! Ngài không tự nhận thấy điều đó ư, lão ngốc!
Một lần nữa, họ cúi rạp người trước ông ấy và một trong số họ khoác lên người bộ da sư tử và ngồi xuống cạnh chân ông, gầm gừ và vặn vẹo mình trong tấm da theo nhiều cách điên rồ. Kaptah suy nghĩ một lúc, tỏ ra lưỡng lự. Cuối cùng, ông nói:
- Nếu quả thực ta là vua thì cần có đại tiệc. Vậy hãy mau mang rượu vào, nếu ở đây có, hỡi lũ người hầu, nếu không gậy của ta sẽ nhảy múa trên lưng các người và ta sẽ cho treo các người lên tường, khi ta là vua. Hãy mang thật nhiều rượu vào để các quý ông và những người bạn đã tôn xưng ta lên làm vua uống với ta và hôm nay ta muốn uống ngập đến tận cổ.
Lời của ông ấy làm dấy lên niềm phấn khích, một nhóm người xông lên túm lấy ông và đưa đến một phòng lớn chứa đầy đồ ăn và rượu ngon. Mỗi người lấy những gì mình tìm thấy, Burraburiash mặc đồ của người hầu, chạy đi chạy lại quanh chân mọi người như một đứa hầu ngốc nghếch, làm đổ cốc chén đựng nước xốt lên quần áo của khách, khiến nhiều người xỉ vả và ném xương đã gặm vào ngài. Ngoài sân trước cung điện, dân chúng cũng được cho ăn uống thỏa sức những đồ ăn thức uống đã được chuẩn bị từ trước, những con bò và cừu được xả thành miếng cho dân ăn; dân chúng có thể múc bia và rượu ủ dưới hầm đất sét, thưởng thức món cháo đại mạch cùng với mứt hoa quả và kem; tất cả tạo ra một sự ầm ĩ khác thường, tiếng la hét, tiếng cười nói và đập phá lan khắp cung điện khi mặt trời càng lên cao, mà tôi không thể nào tưởng tượng được.
Ngay khi có cơ hội, tôi đến gần Kaptah và nói khẽ để những người khác không nghe thấy:
- Kaptah, đi theo ta, chúng ta sẽ chạy trốn vì ở lại đây không tốt.
Nhưng Kaptah đã uống rượu, bụng căng đầy thức ăn ngon, ông ấy bảo tôi:
- Lời nói của ông giống như tiếng ruồi vo ve trong tai tôi, vì tôi chưa bao giờ nghe điều gì điên rồ hơn thế. Bây giờ tôi bỏ đi ư, khi dân tộc tốt bụng này đã đưa tôi lên làm vua và ai cũng tôn sùng tôi? Tôi biết bọ hung đã làm điều này và tôi cũng biết ngoài bọ hung còn nhờ những phẩm chất tốt đẹp của tôi, những phẩm chất mà chỉ dân tộc thông minh này mới nhận ra giá trị thực của chúng. Tôi nghĩ ông không nên nói với Kaptah tôi thoải mái như với nô lệ hay gia nhân, mà ông phải cúi đầu tôn kính tôi như những người khác đang làm.
Nhưng tôi cố thúc ép ông ấy, tôi nói:
- Kaptah, Kaptah, đây là trò bịp bợm mà ông còn phải trả giá đắt, vì vậy hãy chạy trốn càng xa càng tốt, và tôi sẽ tha thứ cho sự ma mãnh của ông.
Nhưng Kaptah lau sạch vệt nhờn trên mép rồi vừa đánh tôi bằng khúc xương lừa đã gặm vừa hét lên:
- Hãy tống cái tên Ai Cập bẩn thỉu này đi trước khi ta nổi giận và để cho gậy của ta nhảy múa trên lưng hắn.
Lúc đó, gã choàng da sư tử nắm đầu tôi, la hét rồi cắn chân tôi, quật ngã tôi và lấy tay cào mặt tôi. Điều tồi tệ hẳn đã đến với tôi nếu như ngay lúc đó không có tiếng tù và vang lên báo hiệu đã đến giờ nhà vua thực hiện công lý cho người dân, nên họ đã quên tôi tức khắc.
Kaptah hơi sững sờ khi được dẫn đến công đường, nói rằng ông vui lòng trao quyền phán quyết công lý cho các quan tòa được bổ dụng, những người đáng kính và ông tin tưởng. Nhưng dân chúng đã kịch liệt phản đối, họ hét lên:
- Chúng tôi muốn thấy sự thông thái của nhà vua để biết chắc ngài là vua thật và ngài am tường luật pháp.
Vì vậy họ nhấc Kaptah lên ghế quan tòa và đặt trước mặt ông ấy các thứ biểu tượng cho công lý, đòn roi và xiềng xích. Người ta thúc giục mọi người kể vụ việc của mình với nhà vua. Người đầu tiên phủ phục dưới chân Kaptah là một người đàn ông đã xé quần áo và rắc tro lên tóc mình. Ông ta áp mặt xuống đất dưới chân Kaptah, vừa khóc vừa nói:
- Không ai thông tuệ như vua của chúng ta, chúa tể của bốn phương trời. Vì vậy tôi xin ngài phán quyết về việc của tôi, như thế này: Tôi có một người vợ mà tôi đã lấy bốn năm trước, chúng tôi không có con và bây giờ vợ tôi mang thai. Thế nhưng, hôm qua tôi được biết vợ tôi đã giấu tôi đi lại với một tên lính, thậm chí tôi còn bắt được quả tang họ ăn nằm với nhau, nhưng tên lính to lớn và khỏe mạnh nên tôi không thể làm gì được hắn ta, bây giờ gan tôi đầy phiền muộn và nghi ngờ, vì làm thế nào tôi có thể biết đứa trẻ được sinh ra là con tôi hay con của tên lính đó. Do đó tôi cầu xin nhà vua đem lại cho tôi công lý và tôi muốn biết chắc chắn sự thật để tôi có thể cư xử đúng đắn.
Kaptah im lặng và lo lắng nhìn quanh, cuối cùng ông nói một cách dứt khoát:
- Hãy lấy gậy và đánh thằng cha này để hắn ghi nhớ ngày hôm nay.
Đám nha lại công đường bắt giữ người đàn ông và đánh anh ta, khiến anh ta khóc thét lên và cầu cứu mọi người:
- Công lý thế này à?
Đám đông cũng bắt đầu xì xào và yêu cầu giải thích. Lúc đó Kaptah nói:
- Người đàn ông này đáng bị đánh đòn vì hắn quấy rầy ta bằng một việc đáng ghét. Thậm chí hắn đáng bị đánh nhiều hơn nữa vì sự ngu ngốc của mình, vì lẽ nào một người đàn ông đã không gieo hạt trên cánh đồng của mình lại còn than thở khi một người khác có công gieo trồng vào đó và để lại vụ mùa cho anh ta gặt hái? Cũng không phải lỗi của người đàn bà khi ả ta quay sang người đàn ông khác mà đó là lỗi của người chồng, bởi vì người này đã không trao cho vợ mình điều ả ta muốn, vì thế người đàn ông này đáng bị ăn gậy.
Nghe thế, mọi người hét to và cười ngặt nghẽo rồi hết lời ca ngợi trí thông minh của vua. Khi đó một ông già nghiêm trang bước đến trước nhà vua và tâu:
- Trước cây cột đá được khắc luật này và trước nhà vua, tôi đòi công lý và vụ việc của tôi như sau: Tôi đã xây một ngôi nhà cho mình bên đường phố, nhưng người thợ xây chính đã lừa tôi khiến ngôi nhà bị đổ, giết chết một người bất ngờ đi ngang qua. Bây giờ gia đình người chết buộc tội tôi và đòi bồi thường. Tôi phải làm gì?
Kaptah nghĩ một lát rồi nói:
- Đây là một việc phức tạp và cần được xem xét kỹ lưỡng. Theo ta nghĩ, đây là chuyện của thần linh hơn là của con người, nhưng luật pháp nói gì về việc này?
Những người rành luật tiến đến đọc luật ghi trên cột và giải thích:
- Nếu ngôi nhà đổ do sự bất cẩn của người thợ xây và giết chết chủ ngôi nhà, người phụ trách xây dựng cũng phải bị giết. Còn nếu ngôi nhà đổ và giết chết con trai của chủ nhà, con trai của người phụ trách xây dựng phải bị giết. Luật pháp không nói gì thêm nữa, nhưng chúng tôi giải thích thêm là một ngôi nhà sụp đổ vì bất cứ lý do gì thì người phụ trách xây dựng cũng phải chịu trách nhiệm, phải bị mất một phần tài sản tương tự. Chúng tôi không biết nói gì khác.
Kaptah phán:
- Ta không biết ở đây có những tay thợ xây chính bịp bợm như vậy và trong tương lai ta sẽ lưu ý đến người xây dựng. Nhưng theo luật, vấn đề này đơn giản: Hãy để người thân của người chết đến nhà của người thợ xây chính và chờ ở đó rồi giết chết người qua đường đầu tiên đi lại phía họ, như vậy thì công lý được thực hiện. Nhưng nếu họ làm vậy thật và nếu người thân của người qua đường này bắt họ phải chịu trách nhiệm về việc giết người thì họ hãy tự chịu hậu quả, bởi thật ra đây là việc của thần linh hơn là của con người. Ta nghĩ lỗi lớn nhất thuộc về kẻ qua đường đi dưới ngôi nhà bị đổ, bởi không có người khôn ngoan nào làm như thế, trừ khi bị thần linh sai bảo. Vì vậy ta cởi bỏ tất cả trách nhiệm của người phụ trách xây dựng và tuyên bố người đòi công lý từ ta là một kẻ ngốc, vì ông ta không để ý đến thợ xây xem anh ta làm việc có cẩn thận không, nên người thợ xây chính lừa anh ta cũng đúng thôi, vì những kẻ ngu phải bị lừa để còn rút kinh nghiệm. Xưa đã thế, sau này cũng sẽ thế.
Dân chúng lại hết lời ca ngợi sự thông thái của nhà vua và người khiếu nại bối rối bỏ đi. Tiếp đó, một thương gia to béo, ăn vận trang phục đắt tiền tiến đến trước nhà vua. Ông ta trình bày sự việc của mình:
- Ba ngày trước, tôi đã đến Cổng Ishtar và các cô gái nghèo của thành phố đã tụ tập ở đó vào đêm lễ hội mùa xuân để dâng hiến trinh tiết của họ cho nữ thần theo như lệnh truyền để góp nhặt của hồi môn cho mình. Tôi rất thích một cô trong số họ nên mất một thời gian mặc cả, xong tôi đưa cho cô ta cả xâu bạc và chúng tôi thỏa thuận. Nhưng đến lúc vào việc, tôi bất ngờ thấy đau bụng, vì vậy tôi phải đi giải quyết. Khi tôi quay lại, cô ta đã đồng ý đi với một người đàn ông khác và cũng đã nhận bạc của ông ta và làm điều mà vì nó cô ta đến Cổng. Cô ta cũng vui vẻ chào mời tôi nhưng tôi từ chối vì cô ta không còn trinh trắng và tôi đòi lại bạc, song cô ta không trả. Vì thế tôi cầu xin nhà vua đem lại công lý cho tôi, vì lẽ nào tôi đã mất bạc mà không nhận được gì? Nếu tôi mua một cái vò thì vò đó là của tôi cho đến khi tôi đập vỡ nó, người bán không có quyền đập vỡ vò và đưa cho tôi những mảnh vỡ của nó.
Nhưng khi nghe xong, Kaptah trở nên tức giận, bật dậy khỏi ghế quan tòa rồi đập roi xuống trước mặt và hét lên:
- Quả thật ta chưa bao giờ gặp những điều ngu ngốc như ở thành phố này và ta không thể hiểu gì khác ngoài việc con dê cụ này đang chế giễu ta. Bởi cô gái đã đúng khi đi với người khác, một khi kẻ ngốc này không thể lấy cái mà hắn đã mua. Cô gái cũng cư xử đẹp và tốt khi định đền bù cho ông ta cái mà hắn không đáng được hưởng. Lẽ ra hắn phải biết ơn cô gái và người đàn ông kia vì họ đã cùng nhau gỡ bỏ một chướng ngại cho hắn. Thế mà hắn còn đến kêu ca trước mặt ta và bắt đầu lảm nhảm về vò với chả hũ. Nếu hắn nghĩ các cô gái trẻ là những cái vò, từ nay ta sẽ bắt hắn chỉ vui thú với những cái vò mà không bao giờ còn được động vào các cô gái nữa.
Sau khi xử xong việc này Kaptah tỏ ra ngán ngẩm với việc xử án, ông vươn người trên ghế và nói:
- Hôm nay ta đã ăn uống no say và việc xử án khiến đầu ta mệt mỏi, ta nghĩ việc của ta hôm nay đã đủ. Vậy nên các quan tòa sẽ tiếp tục công việc của ta, nếu vẫn còn người khiếu kiện, vì những vụ việc khiếu kiện mới đây khiến ta nhớ ra rằng là một quốc vương, ta cũng là ông chủ của hậu cung, nơi ta biết có bốn trăm cung nữ đang đợi ta. Do đó bây giờ ta phải đi kiểm tra và sẽ không có gì ngạc nhiên nếu trên đường đi một vài vò bị vỡ, vì rượu và vương quyền đã tăng thêm cho ta sức mạnh ghê gớm khiến ta cảm thấy mình mạnh mẽ như một con sư tử.
Nghe thế, dân chúng hét ầm lên tưởng như không bao giờ dứt, họ đưa ông ấy trở lại cung điện rồi ở lại đợi ông trước cửa hậu cung và trong sân trước. Nhưng Burraburiash không còn cười nữa mà lo lắng xoa tay vào nhau và đưa bàn chân cọ cọ vào đùi. Khi nhìn thấy tôi, ngài đến gần và vội vàng nói:
- Sinuhe, ngươi là bạn của ta và là một danh y, ngươi có thể đến hậu cung. Hãy đi theo lão ta và để ý, đừng để lão làm điều gì phải hối tiếc sau này, bởi vì ta nhất định sẽ cho lột da lão khi lão còn sống và treo da lên tường cho khô nếu lão đụng vào cung nữ của ta, còn nếu lão cư xử tốt, ta hứa sẽ để cho lão chết một cách dễ dàng.
Tôi hỏi lại:
- Thưa Burraburiash, tôi là bạn của ngài và muốn điều tốt cho ngài, nhưng hãy cho tôi biết những điều đang xảy ra nghĩa là gì, bởi vì gan tôi nhức nhối khi thấy ngài trong vị thế của kẻ hầu và bị tất cả mọi người nhạo báng.
Đức vua nhanh nhảu nói:
- Ai cũng biết hôm nay là ngày vua hờ, nhưng hãy mau đi theo lão ta kẻo xảy ra chuyện bây giờ.
Nhưng tôi đã không làm theo lời đức vua mặc dù ngài kéo cánh tay tôi, mà chỉ nói:
- Tôi không biết phong tục của đất nước ngài, vì vậy ngài cần phải giải thích tất cả những điều này nghĩa là gì.
Lúc đó đức vua giải thích:
- Mỗi năm vào ngày vua hờ, người ta chọn một người đàn ông ngu ngốc và điên rồ nhất ở Babylon, cho làm vua và cai trị một ngày từ sáng đến tối với tất cả quyền lực của nhà vua và ngay cả nhà vua cũng phải hầu hạ hắn ta. Ta chưa bao giờ thấy một vị vua điên rồ như Kaptah, người mà ta đã đích thân chọn vì sự điên rồ kinh khủng của lão. Lão không biết chuyện gì sẽ xảy ra với mình và đó chính là điều điên rồ nhất.
- Vậy chuyện gì sẽ xảy ra với ông ta? - Tôi hỏi.
- Khi mặt trời lặn, lão ta sẽ bị giết, bất ngờ như khi được lên ngôi vào buổi sáng, - Burraburiash giải thích. - Ta có thể cho giết vua hờ thật tàn nhẫn nếu ta muốn, nhưng thường thì hắn được cho uống rượu đã pha với độc tố nhẹ khiến hắn chỉ ngủ thiếp đi mà không hay biết mình sẽ chết, bởi vì người được làm vua vào ngày vua hờ không thích hợp để sống. Nhưng trước kia từng xảy ra sự cố, một vị vua thật đã chết vào ngày vua hờ vì đã đổ canh nóng vào khí quản của mình trong cơn say, còn vua hờ tiếp tục nắm quyền và trị vì Babylon trong ba mươi sáu năm mà không ai dám kêu ca phàn nàn về sự cai trị của ông ta. Vì thế hôm nay ta sẽ cẩn trọng để không vô tình uống phải nước canh nóng. Nhưng ngươi đi nhanh đi, đừng để người hầu của ngươi làm điều ngu ngốc kẻo đêm nay không kịp hối.
Tuy nhiên, tôi đã không cần phải làm gì vì Kaptah đã chạy ra từ hậu cung của nhà vua, vô cùng tức giận, hai bàn tay che con mắt còn lại và máu mũi chảy ròng ròng. Ông ấy vừa gào khóc vừa nói:
- Các ngài hãy nhìn những gì họ đã làm với tôi, họ dành cho tôi mấy mụ già và mấy bà da đen béo ú, nhưng khi tôi muốn nếm một con dê non, nó biến thành một con hổ, đập tới tấp vào con mắt duy nhất còn nhìn được của tôi và dùng dép lê đánh vào mũi tôi.
Burraburiash cười ngặt nghẽo đến nỗi phải giơ hai tay níu lấy cánh tay tôi kẻo ngã. Nhưng Kaptah vẫn vừa rên rỉ vừa kêu ca:
- Tôi không dám mở cánh cửa của ngôi nhà đó nữa, vì con bé ấy gào thét ở đó như một con thú hoang và tôi không biết phải làm gì. Nhưng ông, Sinuhe, ông hãy đến đấy và mổ sọ nó bằng tất cả kỹ năng của ông, để giải thoát linh hồn nó khỏi quỷ dữ. Chắc nó đã bị một linh hồn xấu xa chế ngự nên mới không có can đảm ôm ấp vua của mình và lại còn dùng dép đánh vào mũi vua, khiến máu tôi chảy như con bò bị chọc tiết.
Burraburiash ẩn tôi và nói:
- Đi đi, Sinuhe, xem điều gì đã xảy ra vì ngươi đã biết ngôi nhà ấy và vì hôm nay ta không thể vào đó, rồi quay lại kể ta hay chuyện gì đã xảy ra. Ta nghĩ ta biết đó là ai, vì hôm qua người ta đưa đến một cô gái từ hải đảo và ta đang mong được ân ái với nàng, mặc dù trước tiên nàng phải được uống nước anh túc cho mê man đi.
Đức vua giục mãi, buộc tôi phải đi vào hậu cung đang náo động và rối loạn của ngài; hoạn quan không ngăn cản tôi vì biết tôi là danh y. Những mụ già, ăn mặc diêm dúa, trang điểm và tô vẽ khuôn mặt nhăn nheo chỉ vì ngày hôm nay, vây quanh tôi và hỏi tôi cùng một lúc:
- Ngài đã trốn đi đâu, người yêu của chúng tôi, trái tim yêu dấu của chúng tôi, con dê nhỏ của chúng tôi, người chúng tôi chờ đợi từ sáng đến giờ?
Một bà da đen to lớn, cặp vú đen như hai chiếc chảo úp trên bụng, đã cởi đồ, sẵn sàng là người đầu tiên đón Kaptah, kêu van trách móc:
- Hãy cho tôi người yêu dấu của mình để tôi ôm chặt ngài vào ngực!
Nhưng các hoạn quan lo lắng nói:
- Đừng chú ý đến những mụ này. Việc của họ là tiêu khiển vua hờ và trong khi chờ đợi ông ta, tất cả bọn họ đã uống rất nhiều rượu. Kỳ thực là chúng tôi cần một thầy thuốc vì cô gái được đưa đến đây hôm qua đã bị điên rồi, cô ta khỏe hơn chúng tôi và đá chúng tôi đau điếng, mà chúng tôi không biết điều gì sẽ xảy ra vì chẳng biết từ đâu cô ta lại có dao cầm tay và gào thét như thú dữ.
Họ dẫn tôi đến sân hậu cung đang sáng rực dưới ánh mặt trời với đủ màu sắc rực rỡ của gạch thủy tinh. Giữa sân có một hồ nước hình tròn và giữa hồ là những con vật thủy sinh miệng đang phun nước. Cô gái điên trèo lên chúng. Các hoạn quan đã làm rách xiêm áo cô khi cố gắng giữ cô lại. Người cô ướt đẫm vì đã bơi dưới hồ và bị nước phun từ tứ phía. Một tay cô nắm chặt mõm con lợn biển đang phun nước để khỏi ngã, còn tay kia cầm một con dao sáng loáng. Nước tung bọt rào rào, các hoạn quan đang gào thét và la hét xung quanh tôi nên tôi không thể nghe được cô gái nói gì. Cô ta hẳn là một cô gái xinh đẹp mặc dù xiêm áo cô bị rách và tóc ướt sũng. Tôi thấy lúng túng, rồi giận dữ nói với đám hoạn quan:
- Các người xéo đi để ta nói chuyện với cô ta và khuyên nhủ cô ta. Tắt nước đi để ta nghe được lời cô ta vì hễ thấy các ngươi là cô ta liên tục gào thét.
Họ hốt hoảng nói:
- Đừng đến gần cô ta vì con dao rất sắc, chúng tôi đã phải nhận mấy nhát rồi.
Nói vậy nhưng họ cũng đã tắt nước để các quái thú không phun nước nữa, những cột nước hạ xuống xung quanh cô gái và cô ta hiện ra, khiến tôi nhìn thấy cả người cô. Đó là một cô gái xinh đẹp đang độ dậy thì, mặc dù lúc đó tôi không hề nghĩ về điều đó. Nhưng khi nước ngừng chảy, tôi nghe thấy cô ấy không hét nữa mà hát, dù tôi không hiểu lời, vì cô ta hát bằng thứ tiếng tôi không biết. Cô ta hát, đầu ngẩng cao, đôi mắt màu xanh lục như mắt mèo và gò má đỏ ửng vì bị kích động, khiến tôi bực bội hét lên:
- Hãy thôi rú rít ngay con mèo cái kia, mau vứt dao và lại đây để chúng ta có thể nói chuyện và tôi sẽ chữa cho cô, bởi cô chắc chắn bị điên rồi.
Cô ta ngừng hát và trả lời tôi bằng tiếng Babylon không thành thục, thậm chí còn tệ hơn cả tôi:
- Nhảy xuống ao đi, khỉ đầu chó, và bơi đến đây để con dao này có thể lấy máu ra khỏi gan ngươi vì ta đang quá tức giận!
Tôi hét lên:
- Ta không hại cô đâu!
Cô ta hét lại:
- Đó là điều mà nhiều gã đàn ông đã nói với tôi khi muốn hại tôi, chỉ vì tôi không thể ôm ấp đàn ông cả khi tôi muốn. Tôi đã được tấn phong để chỉ nhảy múa cho thần linh. Bởi thế mà tôi có con dao này và thà cho nó uống máu của mình còn hơn để đàn ông động vào tôi, nhất là con quỷ một mắt trông giống một bao tải da căng phồng hơn là một gã đàn ông kia, kẻ đã cố sờ mó tôi.
- Có phải cô đã đánh nhà vua? - Tôi hỏi.
Cô ta đáp:
- Tôi đã đấm vào mắt ông ta và lấy dép đập vào mũi ông ta khiến máu chảy và tôi rất hả hê với hành động của mình, dù ông ta là vua hay không, bởi cả nhà vua cũng không được chạm vào tôi nếu tôi không muốn. Thần của tôi cấm tôi đụng vào bất cứ ai vì tôi được nuôi lớn để làm vũ nữ của thần.
- Thì cứ múa đi nếu muốn, cô điên kia, - tôi nói. - Việc đó không liên quan gì đến tôi, nhưng cô phải bỏ con dao ra vì khi cầm nó cô có thể làm hại chính mình và điều đó thật tồi tệ, bởi các hoạn quan nói rằng họ đã thay nhà vua trả cả xâu vàng ở chợ nô lệ để mua cô.
Cô ta nói:
- Tôi không phải là nô lệ mà bị người ta dùng mưu mô xảo quyệt cướp về đây, như ông có thể nhìn thấy điều đó ở tôi nếu ông có mắt. Nhưng ông có thể nói thứ ngôn ngữ khả kính nào mà những người ở đây không hiểu được không, vì tôi thấy các hoạn quan đang ghé tai qua những cây cột đá để cố nghe chúng ta?
- Tôi là người Ai Cập, - tôi nói bằng tiếng cha đẻ của mình, - tôi tên là Sinuhe, Người Cô Đơn, Con Trai Lừa hoang. Tôi là thầy thuốc, nên cô không phải sợ tôi.
Nghe thế, cô ta nhảy xuống nước và bơi lõm bõm đến chỗ tôi làm nước bắn tung tóe; tay vẫn cầm dao, cô nằm rạp xuống trước mặt tôi và nói:
- Tôi biết đàn ông Ai Cập yếu đuối và không làm gì xấu xa với phụ nữ trừ khi cô ấy muốn. Vì thế, tôi tin ông và mong ông lượng thứ cho tôi nếu tôi không bỏ dao xuống, bởi hôm nay có vẻ như tôi sẽ phải cắt động mạch mình, để chúng không làm nhục thần của tôi qua thân thể tôi. Nhưng nếu ông sợ thần linh và muốn điều tốt cho tôi, hãy cứu tôi và đưa tôi ra khỏi xứ sở này, mặc dù tôi không thể đền đáp một cách xứng đáng cho nghĩa cử ấy của ông, bởi vì tôi thực sự không thể chạm vào đàn ông.
- Tôi không hề có chút ham muốn nào để động vào cô, - tôi nói. - Cô có thể yên tâm về điều đó. Nhưng sự điên rồ của cô quả thực quá lớn, vì cô đã cố rời khỏi hậu cung của vua mặc dù ở đây cô có thể ăn thức ăn ngon và uống rượu, được mặc xiêm áo đẹp, đồ trang sức và có được bất cứ điều gì cô muốn.
- Đàn ông chỉ nói về việc ăn uống, đồ trang sức và xiêm áo bởi họ không biết gì khác tốt hơn, - cô ta nói, đôi mắt màu xanh lá cây nhìn tôi nghiêm nghị. - Nhưng đàn bà có thể mong muốn điều khác nữa mà đàn ông không hiểu, cũng như tôi hoàn toàn không hiểu được lời ông khi ông nói không muốn chạm vào người tôi, vì điều đó làm tôi tổn thương ghê gớm. Vì tôi đã quá quen với việc tất cả đàn ông đều muốn sờ mó tôi; tôi nhìn thấy điều đó trên nét mặt họ và nghe thấy mong muốn ấy trong hơi thở của họ khi tôi múa. Tôi nhận thấy điều đó rõ nhất khi lũ đàn ông háo hức nhìn tôi trần truồng ở chợ nô lệ và trao tôi cho hoạn quan để kiểm tra xem tôi có phải là một trinh nữ hay không. Nhưng chúng ta có thể nói về chuyện này sau nếu ông muốn, vì trước tiên ông phải đưa tôi ra khỏi đây và giúp tôi trốn khỏi Babylon.
Cô ta trơ trẽn quá đến mức tôi không thể nói gì thêm mà cuối cùng đành gắt lên với cô ta:
- Tôi không có ý định giúp cô trốn, vì như thế sẽ phạm tội với nhà vua, bạn của tôi và là người đã trả cả xâu vàng để mua cô. Tôi cũng có thể nói với cô rằng cái bao tải da căng phồng chính là vua hờ, chỉ trị vì ngày hôm nay, còn ngày mai đức vua thật sẽ đến với cô. Đức vua vẫn là một chàng trai trẻ chưa có râu, thân hình rất đỗi hào hoa và ngài đang mong đợi được vui vẻ với cô, nhưng trước tiên ngài sẽ bắt cô quy phục. Mà tôi thì không tin thần của cô có thể lan tỏa được sức mạnh đến đây, nên cô có mất gì đâu nếu chịu khuất phục điều tất yếu, vì vậy tốt nhất đừng ngu ngốc nữa mà hãy buông dao, mặc xiêm áo vào và trang điểm cho đẹp rồi chờ ngài, bởi cô trông thật tệ với mái tóc ướt và son môi lấm lem đến tận tai thế kia.
Điều này tác động đến cô ta, vì cô đưa tay vuốt tóc và thấm nước bọt vào đầu ngón tay rồi đưa lên chùi lông mày và môi. Rồi cô ta mỉm cười với tôi, khuôn mặt trông nhỏ nhắn và thật đáng yêu khi cô ta nhìn tôi và bẽn lẽn nói:
- Tên em là Minea, ông có thể gọi tên em khi ông đưa em đi và chúng ta hãy cùng nhau trốn khỏi xứ sở ma quỷ này.
Tôi giơ tay kinh hoàng trước sự trơ trẽn của cô ta và định bỏ đi lập tức, nhưng nét mặt cô làm tôi khó xử nên tôi quay lại nói:
- Minea, tôi sẽ nói chuyện với nhà vua về việc của cô, chứ tôi không thể làm gì hơn. Trong khi đó, cô phải ăn vận vào và bình tĩnh lại, còn nếu cô muốn, tôi sẽ cho cô một loại thuốc giúp cô trấn tĩnh lại và không quá để tâm đến những gì đang xảy ra với mình.
- Hãy thử làm điều ông dám làm, - cô ta nói. - Nhưng vì ông đã coi việc của em là của mình nên em đưa cho ông con dao này, thứ đã bảo vệ em cho đến lúc này, bởi vì em biết rằng khi em đưa dao cho ông, ông sẽ bảo vệ em và không bao giờ phản bội em, mà sẽ đưa em ra khỏi đất nước này và chạy trốn cùng em.
Rồi cô mỉm cười với tôi và đặt con dao vào tay tôi, cho dù tôi hét lên:
- Tôi không cần con dao của cô, cô gái điên rồ!
Cô ta không chịu cầm lại con dao, mặc dù tôi đã cố ấn nó vào tay cô, mà chỉ cười và nhìn tôi qua mái tóc ướt nước của mình, cho đến khi tôi bỏ đi với con dao trên tay và rất bối rối. Bởi tôi thấy cô ta khôn hơn tôi, vì khi đưa con dao cho tôi, cô ta đã trói buộc số phận của mình với định mệnh của tôi và như thế, tôi không thể tránh xa cô ta nữa.
Burraburiash rất tò mò khi thấy tôi từ hậu cung quay lại và hỏi tôi chuyện gì đã xảy ra.
- Các hoạn quan của ngài đã làm một thương vụ tồi, - tôi nói với đức vua, - vì Minea, cô gái mà họ đã mua cho ngài, đang phát điên và không muốn chạm vào đàn ông vì thần của cô ta cấm làm điều đó. Vì vậy, tốt nhất ngài nên để cô gái một mình cho đến khi cô ấy nghĩ lại.
Nhưng Burraburiash vui vẻ cười và nói:
- Chắc chắn ta sẽ rất thỏa mãn với cô ta, vì ta biết những cô gái như vậy và cách tốt nhất bắt họ quy phục là lấy gậy nện cho một trận. Ta vẫn còn trẻ và râu ta vẫn chưa mọc, vì thế ta thường cảm thấy mệt mỏi khi ân ái với phụ nữ, ta thấy vui thích hơn khi nhìn họ và nghe tiếng la hét của họ khi bị ăn roi của đám hoạn quan. Do vậy cô gái cứng đầu này sẽ làm ta đặc biệt thích thú, vì ta đã có cớ để sai hoạn quan đánh cô ta cho ta nhìn; và ta thề rằng đêm hôm sau, da cô ta sẽ sưng vù lên khiến cô ta không thể nằm ngửa được và như thế ta sẽ càng sung sướng hơn.
Đức vua rời chỗ tôi, vừa xoa hai tay vào nhau vừa cười rinh rích như một đứa con gái. Nhìn vua bước đi, tôi biết ngài không còn là bạn của tôi nữa và tôi không còn muốn điều tốt lành cho ngài; con dao của Minea vẫn còn trong tay tôi.
❖ 6 ❖
Sau việc này tôi không thể cười vui như trước được nữa, mặc dù sân trước cung điện đầy kín người và mọi người uống rượu bia và cuồng nhiệt cổ vũ những trò hề mà Kaptah không ngớt nghĩ ra; chắc ông ta đã quên những xấu hổ, khó chịu trong hậu cung, con mắt bị đánh thâm tím được đắp những lát thịt tươi nên không còn đau mặc dù vẫn còn thâm và loang lổ màu. Nhưng điều gì khiến tôi bận tâm, tôi không thể nói vì tôi không biết.
Tôi nghĩ mình vẫn còn nhiều điều cần học ở Babylon, việc học đọc gan cừu vẫn còn dang dở và tôi cũng chưa biết đổ dầu vào nước theo cách các giáo sĩ làm. Burraburiash cũng còn nợ tôi rất nhiều vì được tôi chữa lành bệnh và vì tình bạn với tôi. Tôi biết đức vua sẽ tặng tôi những món quà quý khi tôi ra đi nếu tôi vẫn là bạn của ngài. Nhưng càng nghĩ, khuôn mặt của Minea càng làm tôi bận tâm, nỗi lo nghĩ cũng lớn hệt như sự càn rỡ của cô ta đối với tôi và tôi cũng nghĩ về Kaptah, người phải chết đêm nay vì sở thích quái đản của nhà vua khi bắt ông ta làm vua giả mà không hỏi qua tôi, dù Kaptah là gia nhân của tôi.
Điều đó khiến tim tôi nhói đau và tôi nghĩ Burraburiash đã xúc phạm tôi, vì vậy nếu tôi cư xử với ngài theo cách tương tự thì cũng hợp lý thôi, mặc dù trong thâm tâm tôi, mới chỉ nghĩ như thế tôi đã thấy mình phá vỡ tất cả chuẩn mực về tình bạn. Nhưng tôi là người lạ, tôi đơn độc và những tập tục dù tốt đẹp cũng không trói buộc được tôi. Vì vậy khi trời sắp tối, tôi đi ra bờ sông, thuê một chiếc thuyền với mười tay chèo và nói với những người chèo thuyền:
- Tôi biết hôm nay là ngày vua hờ và các anh chỉ thích say sưa chè chén, không thiết đi chèo. Nhưng tôi trả cho các anh gấp đôi giá bình thường, vì ông chú giàu có của tôi vừa qua đời nên tôi phải đưa thi thể ông về với tổ tiên và phải làm nhanh trước khi các con ông và các anh em tôi bắt đầu cãi nhau về quyền thừa kế mà không để lại gì cho tôi. Vì vậy tôi sẽ trả công các anh hậu hĩnh nếu chúng ta đến đó nhanh hơn, mặc dù quãng đường khá dài. Tổ tiên chúng tôi đã được quy tập ở nhà cũ của chúng tôi gần biên giới Mitanni.
Những người chèo thuyền càu nhàu nhưng tôi đã mua cho họ hai vò bia và nói họ có thể uống cho đến khi mặt trời lặn, miễn là họ sẵn sàng đi khi tối đến. Nghe thế, họ kiên quyết từ chối:
- Chúng tôi không chèo thuyền ban đêm, vì đêm tối đầy rẫy các loại quỷ dữ lớn, nhỏ và những linh hồn ác độc phát ra những tiếng rất đáng sợ, có thể lật đổ thuyền của chúng tôi hoặc giết chết chúng tôi.
Nhưng tôi nói với họ:
- Tôi sẽ đến đền thờ dâng cúng để không có điều gì xấu xảy ra với chúng ta trên đường đi và âm thanh lảnh lót của những đồng bạc mà tôi sẽ trả cho các anh khi chúng ta đến nơi chắc chắn đủ để tai các anh không nghe thấy tiếng gào thét của ma quỷ.
Tôi cũng đến Tháp và hiến tế một con cừu ở sân trước. Trong đền chỉ có lác đác mấy người, vì tất cả cư dân của thành phố đã tập trung quanh cung điện để chúc mừng vua hờ. Tôi đã kiểm tra gan cừu, nhưng suy nghĩ của tôi rối bời đến nỗi gan không kể ra điều gì đáng nói với tôi. Tôi chỉ nhận thấy nó đen hơn bình thường và có mùi khó chịu, khiến những ý nghĩ tồi tệ tràn ngập tâm trí tôi. Tôi cho tiết cừu chảy hết vào chiếc túi da rồi cặp dưới nách mang đến cung điện. Khi tôi bước vào hậu cung của nhà vua, một con chim én bay qua đầu tôi làm tim tôi ấm áp và cơ thể tôi mạnh mẽ hơn, vì đó là loài chim của đất nước tôi và tôi nghĩ nó báo điềm lành cho tôi.
Trong hậu cung của nhà vua, tôi nói với các hoạn quan:
- Hãy để tôi ở lại một mình với cô gái điên rồ này để tôi có thể xua đuổi tà ma ra khỏi cô ta.
Họ nghe lời tôi và đưa tôi đến một căn phòng nhỏ, ở đó tôi giải thích cho Minea cần phải làm gì, để lại cho cô ấy con dao và cả túi da đầy máu. Cô hứa sẽ làm theo lời khuyên của tôi và tôi để cô ở đó, đóng cửa lại. Tôi dặn các hoạn quan không ai được quấy rầy cô vì tôi đã cho cô một loại thuốc để xua đuổi tà ma ra khỏi người và ác quỷ đó có thể vô tình nhập vào người đầu tiên mở cửa mà không được lệnh của tôi. Họ tin tôi ngay nên không cần phải nhiều lời.
Mặt trời bắt đầu lặn và ánh sáng đỏ như máu trong tất cả các phòng của cung điện. Kaptah lại tiếp tục ăn và uống, còn Burraburiash phục vụ ông ta, lúc thì cười to, lúc lại rinh rích như con gái. Dọc hành lang dài, những người đàn ông say xỉn, quý phái lẫn bình dân, nằm ngủ trong vũng rượu. Tôi nói với Burraburiash:
- Tôi muốn Kaptah được chết không đau đớn, vì ông ta là gia nhân của tôi và tôi chịu trách nhiệm về ông ta, như các ông chủ có trách nhiệm với đầy tớ của họ.
Burraburiash nói:
- Vậy thì nhanh lên, vì lão già đang pha thuốc độc vào rượu và đầy tớ của ngươi sẽ chết khi ngày hết theo phong tục.
Tôi tìm thấy viên ngự y già và ông ta tin tôi ngay khi tôi nói rằng nhà vua sai tôi đến, ông hát lẩm nhẩm một mình và nói:
- Ông trộn thuốc độc thì tốt hơn, vì tay tôi đang run vì rượu và mắt tôi nhòe nước nên tôi không thể nhìn thấy gì. Hôm nay tôi đã cười suốt ngày với những trò hề của ông ta.
Tôi đổ rượu pha thuốc của ông ta đi và nhỏ nhựa anh túc vào rượu, dĩ nhiên thận trọng để nó không giết chết Kaptah. Tôi đưa cốc rượu cho Kaptah và nói:
- Kaptah, có thể chúng ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau vì sự ngạo mạn chứa đặc đầu ngươi đến mức ngày mai chắc ngươi không còn quen biết ta nữa. Vì vậy, hãy uống cốc rượu ta mời này để khi trở về Ai Cập, ta có thể nói ta là bạn của vua bốn phương đất. Sau khi uống nó, ngươi sẽ biết ta luôn luôn muốn điều tốt đến với ngươi dù bất cứ chuyện gì xảy ra với ngươi, và luôn nhớ về bọ hung của chúng ta.
Kaptah nói:
- Lời nói của gã Ai Cập này sẽ giống tiếng ruồi vo ve trong tai ta, nếu như tai ta không đầy ắp tiếng rì rào của rượu đến nỗi không nghe thấy gã nói gì. Tuy nhiên, ta chưa bao giờ hất cốc đi, như mọi người đều biết, và hôm nay ta đã cố gắng hết mình để chứng minh cho tất cả thần dân của ta, những người ta rất yêu mến. Vì thế ta uống cốc rượu ngươi mời, mặc dù ta biết rõ rằng ngày mai những con lừa hoang sẽ đá vào cái đầu tội nghiệp của ta.
Ông ấy uống cạn cốc, cùng lúc đó mặt trời lặn. Đuốc được mang vào và đèn được thắp lên, tất cả đứng dậy và im lặng khiến cung điện im phăng phắc. Kaptah cởi vương miện vua Babylon trên đầu ra và nói:
- Vương miện quái quỷ này đè nặng đầu ta và ta ngán nó quá rồi. Hai chân ta cũng bị tê và mí mắt ta nặng như chì, vì vậy có lẽ tốt nhất là ta đi ngủ.
Rồi ông kéo một tấm khăn trải bàn dày quấn lên người và nằm xuống sàn để ngủ, kéo theo những chiếc vò và cốc đổ đè lên người ông, khiến ông ngập trong rượu đến cổ, đúng như đã hứa vào buổi sáng. Nhưng những người hầu của Burraburiash đã cởi ngay quần áo Kaptah đang mặc, khoác bộ quần áo ướt rượu đó lên người nhà vua và đội vương miện lên đầu vua, đưa cho đức vua quyền trượng của mình rồi để vua ngồi lên ngai vàng.
- Hôm nay là một ngày mệt mỏi, - Burraburiash nói, - nhưng dĩ nhiên, ta đã để ý một số các ngươi đã không tỏ rõ sự tôn trọng cần thiết đối với ta trong khi nhậu nhẹt, chắc muốn ta nghẹt thở vì súp nóng. Vì thế hãy tống cổ những kẻ ngủ trên sàn ra ngoài, dọn dẹp phòng, đuổi dân chúng ra khỏi sân và tống kẻ ngạo mạn mà ta đã chán ngấy kia vào chum vĩnh viễn, nếu hắn ta đã chết.
Kaptah bị lật ngửa ra và quan ngự y, với những ngón tay run rẩy và mắt nhòe vì rượu, kiểm tra ông ấy và khẳng định:
- Đúng là người đàn ông này đã chết như một con bọ.
Sau đó những người hầu khiêng vào một chum sành to mà người Babylon dùng để bỏ xác chết, họ bỏ ông vào đó rồi trát miệng chum lại bằng đất sét. Nhà vua sai mang ông xuống hầm mộ dưới cung điện nơi chứa các vua hờ khác theo phong tục, nhưng khi đó tôi nói:
- Người đàn ông này là người Ai Cập và đã cắt bao quy đầu như tôi. Vì thế, tôi phải ướp xác ông ta theo tập quán của người Ai Cập và mang theo tất cả những gì cần thiết đến xứ miền tây cho ông ta, để ông ta được ăn uống, vui chơi mà không phải làm gì sau khi chết. Tất cả những việc này mất ba mươi ngày hoặc bảy mươi ngày, tùy thuộc vào địa vị người chết khi còn sống, nhưng với lão Kaptah này thì tôi nghĩ cần ba mươi ngày vì ông ta chỉ là người hầu của tôi. Sau đó tôi sẽ đưa xác ông ta trở lại và chôn cạnh các vị vua hờ trước ông ta trong hầm mộ dưới cung điện của ngài.
Burraburiash tò mò lắng nghe rồi nói:
- Được, nếu ngươi muốn, song ta nghĩ sự quan tâm của ngươi sẽ vô ích, vì người chết sẽ vĩnh viễn nằm xuống và linh hồn của họ lang thang khắp nơi không tìm được bình yên và ăn rác rưởi từ đường phố, trừ khi thi thể họ được người thân cho vào chum giữ trong nhà thì linh hồn có thể được hưởng các đồ ăn của gia đình. Chuyện đó xảy ra với tất cả mọi người trừ ta, vì ta là vua và các vị thần sẽ cho ta đi cùng họ sau khi ta chết, nên ta không cần phải rối rít lo cháo hay bia sau cái chết như người khác. Nhưng hãy làm những gì ngươi muốn cho y, vì đó là phong tục của đất nước ngươi và ta không muốn tranh luận về việc đó, song ta cũng cầu nguyện những vị thần mà ta không biết tha thứ cho những tội lỗi mà ta phạm phải dù ta không nghĩ mình đã làm, nhưng cẩn tắc vô ưu.
Tôi bảo những người hầu khiêng chum sành đựng thi thể Kaptah ra và để lên chiếc kiệu đang chờ sẵn bên tường thành cung điện. Trước khi rời đi, tôi nói với nhà vua:
- Trong ba mươi ngày tới ngài sẽ không gặp tôi, bởi vì trong khoảng thời gian ướp xác, tôi không thể hiện diện trước người khác để tránh làm họ nhiễm hồn ma quỷ lởn vởn quanh xác chết.
Burraburiash cười và nói:
- Được, ta sẽ làm như ngươi nói và nếu ngươi đến, ta sẽ sai đuổi ngươi đi, kẻo ngươi mang linh hồn ma quỷ vào cung điện của ta.
Nhưng khi ở trong kiệu, tôi xoi đất sét vẫn còn mềm, trát trên chum sành cho Kaptah có không khí để thở. Sau đó tôi bí mật trở lại hoàng cung và đến hậu cung, nơi các hoạn quan vui mừng khi thấy tôi vì họ sợ nhà vua sẽ đến bất cứ giây phút nào.
Nhưng khi vừa mở cửa căn phòng mà tôi đã nhốt Minea, tôi lập tức xoay người lại, dứt tóc và hét lên thảm thiết:
- Hãy đến ngay, xem điều gì đã xảy ra, vì cô ta đã tắt thở trong vũng máu, con dao dính máu ở bên cạnh trên sàn và cả đến tóc của cô ta cũng đầy máu.
Các hoạn quan chạy đến, vô cùng kinh hãi khi nhìn thấy máu - bởi các hoạn quan sợ máu - và không dám chạm vào người cô. Rồi họ bắt đầu khóc và than vãn, sợ nhà vua nổi giận. Nhưng tôi nói với họ:
- Các ông và tôi, chúng ta cùng bị coi là tội phạm. Vì vậy, hãy mau mang đến một tấm thảm để tôi có thể quấn thi thể và rửa sạch máu trên sàn, để không ai biết chuyện gì đã xảy ra. Vì nhà vua mong đợi được tận hưởng niềm hoan lạc với cô gái này mặc dù chưa nhìn thấy cô ta, cơn thịnh nộ của ngài sẽ rất đáng sợ nếu ngài biết rằng vì sự bất lực của chúng ta mà cô gái chết, như thần của cô ấy đòi hỏi. Vậy nên các ông hãy mau chóng tìm một cô gái khác để thay thế cô gái này, tốt nhất là người đến từ một vùng đất xa xôi và không nói ngôn ngữ của các ông. Hãy mặc quần áo và trang điểm cho cô ta vì nhà vua và nếu cô ta chống cự, hãy lấy gậy đánh cô ta để vua nhìn thấy, vì nó sẽ mang lại niềm vui lớn cho nhà vua và ngài sẽ ban thưởng cho các ông rất hậu hĩnh.
Các hoạn quan nhận thấy sự khôn ngoan trong lời khuyên của tôi; sau khi mặc cả xong, tôi đưa cho họ một nửa số bạc mà họ nói sẽ trả cho cô gái mới, mặc dù tôi biết họ sẽ giữ số bạc này của tôi, vì ai cũng biết là họ sẽ mua cô gái mới bằng bạc của vua và còn trộm thêm bằng cách bảo người bán viết lên đĩa đất sét con số lớn hơn số mà họ thực trả. Điều này đã và sẽ luôn luôn là cách làm của các hoạn quan trên khắp thế gian. Nhưng tôi không muốn tranh cãi thiệt hơn với họ. Họ mang cho tôi một tấm thảm để quấn Minea và giúp tôi khiêng cô ta qua các khu sân tối tăm đến chiếc kiệu có Kaptah trong chum sứ.
Với cách này tôi ra đi trong đêm tối như một người tị nạn từ Babylon, mất rất nhiều vàng và bạc nhưng có thể giàu có thêm và học được thêm rất nhiều kiến thức ở đó. Những người khênh kiệu thì thầm với nhau: “Gã này là ai mà bắt chúng ta phải đi trong đêm tối không có đuốc và lại chất cả bình đựng xác và thảm hoàng gia lên kiệu khiến cổ chúng ta cúi xuống như cổ bò dưới ách và những khúc gỗ làm vai chúng ta bị thương. Chắc gan của chúng ta thâm đen vì sợ hãi khi chúng ta phải khiêng xác trong đêm tối và máu rỏ từ thảm xuống cổ chúng ta. Ông ta phải trả rất nhiều cho chúng ta vì việc này”.
Khi chúng tôi đến bờ sông, tôi bảo họ khiêng cái chum lên thuyền, còn tôi tự mình vác tấm thảm lên thuyền và giấu nó dưới mui. Tôi nói với những người khênh kiệu:
- Lũ nô lệ và những tên chó kia! Tối nay nếu có ai hỏi, bọn bây phải nói không nhìn thấy hoặc nghe thấy bất cứ điều gì, làm đúng như thế ta trả cho mỗi đứa một miếng bạc.
Họ nhảy lên vì sung sướng và reo lên:
- Chắc chắn chúng tôi đang phục vụ một quý ông tôn kính. Tai chúng tôi sẽ điếc, mắt chúng tôi sẽ mù và chúng tôi không nhìn thấy hay nghe thấy gì tối nay.
Tôi để họ đi như vậy, mặc dù tôi biết họ sẽ uống say như thói quen của những người khênh kiệu và khi say xỉn họ sẽ lè nhè phun hết ra những điều họ thấy. Nhưng tôi không thể làm gì được vì họ có tám người và là những người đàn ông to khỏe nên tôi không thể giết tất cả và ném xuống sông cho dù tôi muốn.
Khi họ đi khỏi, tôi đánh thức những người chèo thuyền và khi trăng lên họ đẩy thuyền xuống sông rồi chèo đưa tôi rời khỏi thành phố, trong khi vừa ngáp vừa lầm bầm cho số phận của mình, vì đầu họ đang đau nhức khi vừa uống đầy bia. Thế là tôi chạy trốn khỏi Babylon, nhưng tại sao tôi làm thế, tôi không thể nói bởi vì tôi không biết vì sao, mà có lẽ việc này đã được viết lên các ngôi sao trước khi tôi được sinh ra và tôi không thể ngăn được nó.