Ngay khi người ta chuyển hồ sơ về Fo cho tôi, tôi đã ngạc nhiên về cách làm việc của những người điều tra. Hẳn là họ có được sự may mắn, phải chăng với nhân chứng đầu tiên của họ, bà quản lý xưởng nhuộm ở phố Tôckơvin đã là mẫu mực: cụ thể và rõ ràng, nhưng trước hết sự nhanh nhảu của họ đã làm tôi ngạc nhiên, họ đã gắn những dấu hiệu và lời chứng với một logic không có thiếu sót. Hầu như quá hay. Và kỳ lạ thay, chính điều đó làm tôi day dứt.
Thanh tra Girôđông là người đầu tiên ghim lại những điều không xác thực của lời chứng của Ê-ma-nuy-en Fo. Chàng bác sĩ phẫu thuật trẻ ở phố Xanh-xuypixơ, trước mặt cửa hàng thuốc lá. Tại sao anh ta lại mua thuốc lá ở phố Tôckơvin không phải cách nơi anh ta đỗ xe một trăm mét mà hơn hai trăm mét? Nếu chỗ anh ta đỗ xe không bị cấm, người ta có thể xác nhận điều này, nhưng mọi cảnh sát đều biết rằng khi một người lái xe đi mua thuốc lá ở Pari, người đó phải cho đỗ xe thành hai hàng.
Còn nghiêm trọng hơn: Matinđơ Buyxông chưa có chồng, cô ta mới quen biết Ê-ma-nuy-en Fo và cô ta không phải ở số nhà sáu mươi sáu mà là bảy mươi sáu, đại lộ Cuôcxen. Ngoài ra, cô ta sống tại nhà bố mẹ cô ta.
Thẩm phán Teroa phát lệnh khám soát nhà bác sĩ Fo để lấy dấu vết của anh ta. Người ta gửi đến phòng thí nghiệm một đôi giày và chiếc áo vét sợi tuýt trên đó có đọng lại những vết máu, và việc phân tích cho thấy máu này tương ứng với máu của Patric Parăng và một sợi tuýt cùng loại của chiếc áo vét của Ê-ma-nuy-en. Cuối cùng, người ta lấy được trên những chiếc cửa và một bức tường của công ty Bất động sản những dấu vân tay của Fo và anh lập tức bị cảnh sát trưởng Phăngtông ở sở Cảnh sát hình sự triệu tập. Cuộc thẩm vấn kéo dài nhiều giờ trong đó can phạm khăng khăng chối không đến công ty này ở phố Tôckơvin. Thật phi lý đến mức Phăngtông vốn là một cảnh sát điềm tĩnh, không có trí suy tưởng nhưng có lương tri vững vàng, bắt đầu mất bình tĩnh. Việc giám sát ngay trước mặt đã xong, thẩm phán Teroa sẽ thẩm cứu hồ sơ, và Fo sẽ được luật sư Graxanh bào chữa.
Vào hai mươi giờ rưỡi tôi bật máy thu hình trên kênh FR3 để nghe những tin tức cuối cùng trong ngày. Một việc duy nhất trong vùng Midi: một lần nữa lại cháy rừng, xã trưởng được phỏng vấn nói là có bàn tay tội ác. Ông thực sự tức giận. Ông ta nói thêm: chúng sẽ càn quét khắp vùng, chúng sẽ làm chúng tôi sạt nghiệp, cách nói hài hước vô tình của ông ta, rõ ràng ám chỉ những kẻ khởi xướng.
Ông bác tôi sở hữu một ngôi biệt thự, gần Xanhtơ-maxim, một ngôi nhà lộ liễu, có cây cối vây quanh, nhất là thông. Ông bác tôi không quá lo lắng nhưng bà bác tôi khẩn khoản bảo ông bán đi trước khi quá muộn. Tôi không có gì, điều đó cho phép tôi có đủ điều lợi. Con chó Caretxơ tán thành tôi, đến náu mình trong vòng tay tôi trong lúc nghỉ này.
Tôi mệt mỏi do căng thẳng và mất ngủ. Đêm nào cũng vậy, trước khi ngủ được, tôi đều nghĩ đến Ê-ma-nuy-en Fo trong phòng giam của anh ta và tôi e ngại cuối cùng anh ta tự sát. Anh ta không có tầm vóc để làm một kẻ bị giam giữ. Thể hình và ngay cả tâm lý quá yếu đuối, mỏng manh. Nếu anh ta là thủ phạm, điều này có khả năng, anh ta sẽ không chịu đựng nổi. Nếu anh ta vô tội, anh ta thoát ra khỏi vụ này, đau xé lòng khủng khiếp, cũng không chịu đựng nổi. Có thể nói, anh ta đã bị kết án.
Tôi cũng nghĩ tới Letxli Menxphin mà Ê-ma-nuy-en phải nợ cô ấy một phần để đạt được điều đó. Cô đã cố sôi sục một cách vô ích để giúp đỡ anh ta, cô đã không sao lấy lại được thế thăng bằng. Cái chết của cô em gái sinh đôi rồi một người đàn ông mà cô bắt đầu yêu, cô dễ dàng thú nhận điều này, bị bắt giữ làm cho cô thành nạn nhân của những thứ thuốc an thần và một bác sĩ khoa thần kinh. Đây là nhân chứng duy nhất của vụ án Parăng, bất chấp những chứng cứ chống lại can phạm, hăng hái khẳng định rằng anh ta không phải là thủ phạm. Cô còn đi tới mức khẳng định đây là sự dàn cảnh chống lại bác sĩ Fo. Chính cô đã thuyết phục anh thay đổi luật sư biện hộ với sự giúp đỡ của Fabrixơ Buyxông. Fabrixơ yêu Letxli nhưng cô lại yêu Ê-ma-nuy-en: Cuộc tình bộ ba thường gặp. Trước những con người này, tôi có một mối hoài nghi: cảm giác thấy những thanh thiếu niên chậm phát triển hành động một cách ngờ nghệch. Từ khi tôi ly hôn, tình yêu đối với tôi là một liều thuốc độc mà tôi tránh không khó khăn gì.
Một lúc sau, đêm tối hoàn toàn, nghe tiếng động tắt đèn, Caretxơ trở lại chỗ của nó ở chân giường tôi khẽ gầm gừ như một điệu ru. Tôi cố gắng để đầu óc mình thanh thản, nhưng những nhân chứng khác xuất hiện mà tôi còn chưa gặp: Giắcơlin Lơnoa chẳng hạn, tức Pedi, cô người mẫu chào hàng đã bỏ rơi Ê-ma-nuy-en Fo. Tôi tìm mọi cách để tưởng tượng ra cô ta: tất nhiên là cao và gầy giả tạo, theo Fo thì tóc hoe vàng và dịu dàng, và cũng bất ngờ trong vẻ dịu dàng. Anh còn nói là kỳ cục nhưng liệu người ta có thể tiếp tục kỳ cục khi người tình cũ của mình bị buộc tội giết người được không?
Tôi đã triệu tập cô đến vào chín giờ rưỡi “Trong khuôn khổ cuộc điều tra, vân vân…”. Tôi không chờ đợi điều gì khác lạ trong lời khai nhân chứng của cô, nhưng cô có thể đem lại những điều cụ thể về thái độ xử sự của người bác sĩ phẫu thuật trẻ vào ngày cắt đứt mối tình của họ. Cũng có thể Fo tìm gặp lại cô sau vụ giết người mà anh ta đã giấu tôi. Hơn ai hết, Pedi có thể mô tả cho tôi trạng thái tâm lý của một kẻ có tham vọng yêu cô say đắm đến mức sao lãng nghề nghiệp một cách đột ngột.
Văn phòng của tôi ở Toà án làm tôi ngán ngẩm, không phải vì nó nhỏ và tối mà vì nó giống bất cứ cái phòng nào mà người ta có thể chất đống những sổ sách kế toán cũng như những đồ hộp. Tường sơn màu xám ngọc, gỗ ốp tường và tủ sách màu nâu, ghế bành bọc da đen. Anh chàng lục sự trẻ của tôi hoàn toàn hoà lẫn vào trong khung cảnh này, anh ta mờ nhạt với mái tóc màu hạt dẻ mỡ màng. Tên anh ta là Pôn Giôngtơ, anh ta có vẻ xấu hổ khi phải nói. Chúng tôi rất hợp ý nhau. Không có những vấn đề nhưng đôi khi trao đổi với nhau vài nụ cười ngắn trong quá trình hỏi cung.
Pedi bước vào làm anh ta phải đưa mắt ngợi khen. Với đôi giày cao gót, cô ta hẳn vượt quá một mét tám mươi và tôi thầm nghĩ may mắn thay cho Fo là thường gặp cô ta ở tư thế nằm ngang. Khi cô ta cười trong lúc ngồi trước mặt tôi, những vết nhăn nhẹ quanh đôi mắt cô hợp với vẻ đẹp hơi quá giả tạo của cô.
Chúng tôi nhanh chóng chuyển qua những tin tức cần thiết có liên quan tới lý lịch và địa chỉ của cô rồi cô thở dài:
— Ê-ma-nuy-en vụng về không tưởng tượng nổi.
Tôi không nói gì. Một lúc sau cô nói thêm:
— Hẳn anh ấy làm không ít điều dại dột, nhưng nghiêm chỉnh mà nói, bà có tin anh ấy có thể giết một người đàn ông được không?
— Đó là những sự việc phải nói, không phải tôi. Thế mà những sự việc còn hơn cả bối rối mà nặng trĩu.
Cô hỏi tôi cô có thể hút thuốc được không, tôi liền đưa cho cô chiếc gạt tàn và bật lửa của tôi.
— Ê-ma-nuy-en có tìm gặp lại cô sau khi cô cắt đứt mối tình của hai người không?
Cô châm lửa hút thuốc và tôi nhận thấy hai bàn tay cô nhỏ so với một phụ nữ cao lớn đến thế, chúng ngắn và mũm mĩm, rất xanh xao.
— Anh ấy đã gọi điện thoại cho tôi một lần… có thể là hai, dù sao thì tôi không biết chắc.
— Anh ta muốn gì?
Cô nhún đôi vai tuyệt đẹp để lộ một đường nét thanh nhã ở phần hở ra của chiếc áo dài bằng ga-bac-đin màu xanh nước biển.
— Muốn tôi - Cô trả lời - Hy vọng, không nao núng, ít đau khổ… bất kể điều gì. Anh ấy xử sự như trẻ con cần lớn lên.
— Đó là điều cô nói với anh ta ư?
— Gần như thế, nhưng không bao giờ tôi thô bạo cả. Tôi rất yêu anh ấy. Đó là một người tình tầm thường nhưng là một người bạn tốt, một chàng trai thông minh không biết sử dụng những năng khiếu của mình.
— Lẽ ra cô có thể giúp anh ta.
— Không có thời gian. Tôi có một nghề thú vị nhưng điên khùng, kiệt sức và phù du - Cô nói thêm - Người ta giữ được nghề mười hai, mười lăm năm nếu rất chú ý giữ gìn sức khỏe. Ê-ma-nuy-en không phải là người đàn ông thoải mái. Những quan hệ lâu dài đối với tôi bị loại trừ.
— Anh ta gọi lại cho cô vào thời gian nào?
— Tôi thề là tôi quên khuấy. Hình như sau khi đoạn tuyệt một hoặc hai tuần, tôi không thể khẳng định điều này.
— Anh ấy có nói với cô về cô Letxli Menxphin nào đó không?
— Không, tôi tin là không.
— Cả Bố dượng của Letxli là Patric Parăng chứ?
— Không. Phải chăng đó là người đàn ông đã bị giết?
— Đúng. Hãy nói với tôi về những ngày cô ở Bệnh viện Bruxen. Ê-ma-nuy-en đã xử sự thế nào sau khi mổ cho cô?
— Rất tốt. Sếp của anh ấy cho thấy cảm giác rất quý mến anh ấy, cả những nữ y tá cũng vậy. Tất cả đã diễn ra thật tuyệt vời. Ê-ma-nuy-en đến thăm tôi hai, ba lần mỗi ngày.
— Không hơn à?
— Có thể hơn. Anh ấy theo dõi hết: vết sẹo, nhiệt độ, những bữa ăn của tôi. Một bác sĩ phẫu thuật trẻ có năng lực và nghiêm túc.
— Anh ta có nói với cô về sự nghiệp của anh ta không? Những hy sinh của anh ta để đạt được danh vị sinh viên Y khoa nội trú và làm việc trong một cơ quan có uy tín?
— Quả thật, anh ấy có nói với tôi chuyện đó.
— Cả chuyện anh ấy đã đính hôn với con gái của sếp chứ?
— Anh ấy chỉ thú nhận với tôi chuyện đó khi anh ấy đã là người yêu của tôi. Anh ấy sợ mất tôi. Thực tế, việc đó tiện cho tôi nhưng tôi không nói với anh ấy vì anh ấy sẽ không hiểu.
— Nhưng vợ chưa cưới của anh ta đã cắt đứt khi nào?
— Anh ấy chỉ nói gọn lỏn với tôi, không coi việc đó là quan trọng. Tôi hơi buồn phiền và tôi đã khuyên anh ấy thử dàn xếp mọi chuyện để nối lại với cô ấy.
— Anh ấy đã làm chứ?
— Không.
— Tóm lại, cô đang nói với tôi rằng anh ta sẵn sàng làm mọi thứ để giữ cô, kể cả mất uy tín với sếp, với vợ chưa cưới và vị trí của mình ở Bệnh viện Bruxen. Một Ratxti-nhắc đột ngột chuyển qua tình yêu trước khi thành đạt, một sự thành đạt mà anh ta kiên trì tìm kiếm.
— Cũng không đơn giản như vậy đâu. Thực tế, anh ấy luôn tin vào năng lực của mình và cả vận may nữa, nên anh ấy thầm nghĩ mình sẽ dễ dàng tìm được một vị trí làm việc khác, vả lại, anh ấy đã tìm được.
— Không tuyệt vời như thế đâu.
— Tất nhiên. Nhưng anh ấy còn rất trẻ.
— Chúng ta hãy công nhận rằng anh ta phạm một sai lầm nghề nghiệp mà lần này dứt khoát làm nguy hại đến sự nghiệp của anh ta. Cô có nghĩ rằng anh ta thử làm một việc không thể đạt được để thử dập đi việc rắc rối có thể buộc anh ta bị trả giá cho tình cảnh của anh ta không?
— Không, và anh ấy đã chứng minh.
— Hẳn cô muốn nói tới vụ Vilông. Nhưng trong trường hợp ấy, Ê-ma-nuy-en không mắc sai lầm nghề nghiệp. Anh ta chỉ phá vỡ cuộc đính hôn của mình và việc này ít nghiêm trọng.
— Tôi hiểu.
Cô nhìn tôi xoi mói, từ chiếc áo sơ mi là không phẳng phiu, rồi mắt cô nhìn ngược lên mái tóc tôi không phải chỉ một lần, có ý nói: trời ơi, làm sao người ta lại có thể cẩu thả đến mức này!
— Thật khó cho tôi trả lời. Tôi quen một chàng trai vừa nhớn nhác vừa dễ thương, vụng về nhưng không thể hung hãn. Nếu anh ấy mắc một lỗi lầm nghề nghiệp…
— Có chứ?
— Lỗi lầm ấy không thể hoàn toàn vô cớ. Tôi nghĩ anh ấy sẽ biết chứng minh điều đó.
— Nhưng anh ta lại không thể.
— Anh ấy… anh ấy sẽ phạm một tội ác để che giấu lỗi lầm của mình sao?
— Đó là một khả năng.
Cô lắc mái tóc dày từ phải qua trái:
— Tôi không muốn tin vào điều đó.
— Cô hãy cho biết rõ hơn một chút.
Cô châm một điếu thuốc khác, nhìn chằm chằm vào đầu thuốc sáng đỏ làm cô lé mắt, nhưng như vậy cô còn đẹp hơn.
— Đây, tôi sẽ lấy một ví dụ về mối tình tan vỡ của chúng tôi. Anh ấy nói với tôi, đối với Ê-ma-nuy-en, tôi được coi ngang với nghề nghiệp của anh ấy. Khi tôi cho anh biết rằng thế là chấm dứt, anh ấy đã phản ứng rất bình tĩnh. Điên người nhưng bình tĩnh. Không có sự hung bạo nào chống tôi, ngay cả sau đó.
— Ví dụ tồi đấy - Tôi nhẹ nhàng nói - Anh ta yêu cô, anh ta không thể giết hại cô được.
— Tất nhiên là có chứ. Đó là ví dụ loại tội ác vì tình.
— Ở những kẻ ít học, những kẻ xung động. Ê-ma-nuy-en không phải thuộc loại này cũng như loại kia.
— Những chứng cứ - Pedi nói sau một lúc im lặng - Bà có những chứng cứ gì?
— Nhiều đấy.
Tôi đứng lên, cuộc nói chuyện đã kết thúc, rõ ràng không rất sáng tạo, nhưng nào ai biết bao giờ. Đến lượt cô đứng lên, chúng tôi bắt tay nhau. Cô đi ra để lại trong phòng thoang thoảng mùi nước hoa nhẹ có hương sả.
— Không quá ngốc nghếch đối với một cô người mẫu chào hàng - Viên lục sự của tôi thốt lên.
— Hãy ngừng tích luỹ những lời sáo rỗng. Pôn. Những người đàn bà xinh đẹp ngay cả rất thông minh nữa thường xảo quyệt.
— Ái chà.
Tôi châm một điếu thuốc mà tôi thèm hút từ lúc Pedi đã hút nhưng tôi không cho phép mình bắt chước.
Những chứng cứ. Đó là cái thiếu nhất trong vụ án này và chứng cứ cuối cùng không phải là kém quan trọng. Khi nhóm cảnh sát hình sự lục soát những phòng tại công ty Bất động sản của Patric Parăng, không ai không ngạc nhiên về việc không phát hiện được ở đây hung khí của tội ác; sự ngạc nhiên này đã được tìm thấy ở đây. Kẻ sát nhân hiếm khi bỏ lại hung khí tại chỗ. Thế mà, hai mươi bốn giờ sau, người gác ngôi nhà bên cạnh đã đưa đến Đồn Cảnh sát quận Mười bảy một con dao mổ do con của ông ta, một đứa trẻ chín tuổi tìm thấy trong thùng rác của ngôi nhà được để trong hành lang từ cuộc đình công của những người hốt rác và chưa được đổ. Được gửi đến phòng xét nghiệm, con dao mổ cho thấy vài vết máu cùng nhóm máu của Patric Parăng, nhưng không có dấu vân tay. Bị thanh tra Girôđông thẩm vấn, nữ y tá làm nhiệm vụ băng bó ở Bệnh viện Giắccơ Đờlaruy thừa nhận rằng, trong những nơi cất giữ dụng cụ ở phòng mổ, thiếu một con dao mổ.
Tôi đọc lại biên bản hỏi cung Ê-ma-nuy-en Fo của thẩm phán Teroa, hai ngày sau việc phát hiện con dao mổ.
Hỏi: Anh có thói quen giữ lại trong người con dao mổ khi anh ra ngoài Bệnh viện không?
Trả lời: Tất nhiên là không. Đó là điều phi lý.
Hỏi: Người ta đã tìm thấy một con dao mổ trong thùng rác cách nơi xảy ra tội ác vài mét. Anh nói gì về việc này?
Trả lời: Một sự trùng hợp. Bất kể ai cũng có thể mua được con dao mổ tại cửa hàng chuyên bán dụng cụ y tế tại đại lộ Xanh-Giecmanh.
Hỏi: Nhưng con dao này của Bệnh viện Giắccơ Đờlaruy; trong kho thiếu một con. Một người ngoài Bệnh viện lẽ nào có thể chiếm đoạt nó?
Trả lòi: Thật khó, nhưng không phải không thể lấy được. Dù sao, không phải tôi.
Hỏi: Liệu anh có ý thức được rằng sự “trùng hợp ấy” theo anh nói, là hoàn toàn có thể tranh cãi chứ?
Luật sư Graxanh nói với Fo: Đừng trả lời. Rồi ông nói với thẩm phán: Thưa ông thẩm phán, thân chủ của tôi chỉ ý thức một việc duy nhất: không có gì để xem xét với con dao mổ tìm thấy trong thùng rác, anh ấy đã nói với ông rồi. Xin ông hãy tránh cho anh ấy bị coi là một kẻ ngu ngốc, một con dao mổ là vũ khí cuối cùng mà anh ta chọn nếu anh ta muốn giết một người đàn ông.
Thẩm phán Teroa: Thưa luật sư, những giả thiết của ông không đúng lúc. Xin ông hãy giới hạn vào những sự việc. Thân chủ của ông chối không lấy con dao mổ ở Bệnh viện Giắccơ Đờlaruy. Sau này chúng ta sẽ thấy vì những lý do gì khó tin anh ta.
Pôn Giôngtơ ngắt việc đọc biên bản của tôi vì anh ta hỏi liệu tôi có cho phép anh ta chiều nay về sớm hơn không.
— Vì lý do gì?
Anh ta đỏ mặt, nhìn những móng tay của anh ta bị gặm mòn, anh ta cho rằng chiếc máy chữ chịu trách nhiệm về việc này, rồi cười nhăn nhở làm tôi bực mình:
— Tôi theo học lớp giuđô - Anh ta nói thêm - Việc này có lợi cho tôi.
— Mỗi tuần mấy buổi.
— Chỉ một thôi.
— Còn tôi, tôi chỉ cho phép anh một lần thôi vào chiều nay.
— Được, thưa bà. Cảm ơn bà.
— Một lúc nữa, tôi sẽ tiếp bà Parăng, mẹ của Letxli Menxphin. Tôi cần cà phê.
— Bà có muốn tôi đi kiếm cà phê cho bà không? - Viên lục sư của tôi hỏi tôi.
Mặc bộ quần áo nữ đen ra ngoài chiếc sơ mi trắng và đeo kính râm mà bà chỉ bỏ ra khi cuộc thẩm vấn bắt đầu. Đôi bàn tay bà đẹp cũng xanh xao như bộ mặt bà và được chăm chút. Bà hơi nhúc nhích người khi tôi hỏi bà. Giọng nói của bà trầm hầu như không nghe được nên tôi buộc phải yêu cầu bà nói to hơn.
Bà goá Parăng không phải là một nhân chứng dễ chịu. Bà ngạc nhiên thấy tôi lại muốn bà nói về tính chất mối quan hệ của bà với chồng thời gian gần đây. Không, họ không thông cảm với nhau nữa. Nhưng không phải là số phận của phần lớn những cặp vợ chồng sau vài năm kết hôn chứ? Phải. Patric có thể lừa dối bà, nhưng, vân vân… Phải, đúng là bà không biết An, con gái bà đã có chửa, nhưng không có gì chứng minh Patric chịu trách nhiệm về cái thai ấy.
— Tại sao ông ta nói dối bà sau khi gặp bác sĩ Fo là người đã cho ông ta biên bản ca mổ?
— Hắn để giữ gìn sức khỏe cho tôi. Con gái tôi chết làm tôi tan nát cõi lòng, ông ấy biết rõ điều này. Ông ấy không muốn tôi bị dồn dập đau khổ?
— Bà sẽ làm gì nếu ông ta nói ngay với bà chuyện ấy và nếu ông ta thú nhận ông ta không đứng ngoài vụ này?
— Tôi không biết gì cả. Tôi đã kiệt sức đến nỗi không biết mình sẽ có thể làm gì.
— Bà đã làm gì trong buổi sáng ngày mùng năm tháng năm vừa qua?
— Ngày xảy ra vụ giết người ư?
— Vâng.
— Hình như tôi đã nói rồi, tôi đi mua sắm ở phố Lêvit, phố buôn bán ở phường tôi.
— Bà không có bà giúp việc thường xuyên chứ?
— Không. Ađơlina chỉ đến vào đầu giờ chiều và bà ta không biết mua hàng một cách đúng đắn. Bà ấy nói tiếng Pháp rất kém và mua bất kể thứ gì. Tôi nhận việc mua sắm.
— Phố Lêvit không xa phố Tôckơvin là nơi có trụ sở công ty Bất động sản của Parăng. Ngày hôm ấy bà có thể qua đó.
— Ngày hôm ấy cũng như ngày khác, tôi đều không đến. Tôi có nguyên tắc là không can dự vào những công việc kinh doanh của chồng tôi.
Bà mở túi xách tay lấy ra chiếc khăn tay vỗ nhẹ vào dưới mũi.
— Thưa bà Parăng, một nhân chứng đã nhìn thấy bà vào công ty ngày mùng năm tháng năm ấy.
— Không thể có. Nhân chứng nào?
— Người đưa thư chịu trách nhiệm chuyển những thư bảo đảm. Ông ta đã nhận ra bà: ông ta thường đến nhà bà.
— Hẳn ông ta nhầm lẫn với một người khác hoặc vào ngày khác. Bởi vì có một hôm tôi đến công ty của chồng tôi, nay tôi nhớ lại, tôi đã để quên quyển ngân phiếu của tôi mà tôi đã cho Patric mượn mấy tờ một trăm frăng để mua khăn trải giường bán hạ giá.
Bà bỏ đôi kính râm ra như để tôi thấy cái nhìn của bà và chứng tỏ bà không nói dối tôi. Tôi tìm sự giống nhau về hình thể giữa bà với Letxli, con gái bà nhưng vô ích; có lẽ trong màu mắt xanh ánh thép có vẻ loé sáng. Người đàn bà trước đây đã rất xinh đẹp là Fabiên Parăng lại hiện lên nếu ta bỏ qua hai rãnh sâu chạy từ cuống mũi đến cái miệng quá nghiệt ngã.
— Tôi không nghĩ rằng người đưa thư lầm lẫn - Tôi nói - Ông ta có những điểm mốc cụ thể: những thư và những bưu phẩm bảo đảm mà ông ta phải trao cũng như những chữ ký của người nhận.
— Tôi giữ lời khai của tôi.
Giọng nói của bà khô khan, hai bàn tay nổi gân. Lần đầu tiên tôi gặp bà, bà được hướng dẫn theo lời khuyên của luật sư biện hộ cho bà làm tôi bực mình. Bà xử sự vừa là nạn nhân vừa là kẻ tấn công.
Tôi ngồi lặng im và viên lục sự của tôi nhìn tôi với ánh mắt ngạc nhiên.
— Vui lòng cho xin cà phê, Pôn, cho cả ba người chúng ta.
— Tôi không uống - Bà Parăng nói - Bác sĩ cấm tôi uống trong thời gian này.
Tôi chờ Pôn trở lại để tiếp tục cuộc thẩm vấn. Bà Parăng cho tôi biết bà có cuộc hẹn vào giữa trưa.
— Rất tiếc - Tôi nói - Chắc chắn bà sẽ đến hơi muộn - Tôi nói thêm trong lúc đẩy chiếc máy điện thoại về phía bà - Bà có thể gọi điện cho người hẹn bà.
— Không, cảm ơn.
Ngay khi Pôn trở lại với những tách cà phê, tôi hỏi bà Parăng có phải bà biết quá khứ của ông chồng quá cố của bà không.
— Quá khứ nào?
— Lúc ông ấy chưa đến hai mươi chín tuổi khi bà cưới ông ấy. Ông ấy được đào tạo thế nào? Ông ấy có học cao học không?
— Không. Ông ấy thôi học ở ban tú tài, vả lại ông ấy thi trượt. Ông ấy vào làm trong một ngân hàng tư nhân…
Tôi biết việc tiếp theo: Người ta đã sa thải ông ta vì “khiếm nhã”. Nhưng hình như bà Parăng quên chuyện này.
— Khi tôi quen biết Patric thì ông ta đang làm đại lý cho một hãng máy giặt.
— Thế nào mà ông ấy đạt được việc gây dựng một công ty Bất động sản?
— Ông ấy có vài món tiền tiết kiệm và hùn vốn với một người bạn quen biết trong thời kỳ quân ngũ. Ông ấy thuê những phòng. Ban đầu, công việc kinh doanh khá trôi chảy rồi xảy ra khủng hoảng trong bất động sản…
— Bà đã giúp ông ấy chứ?
— Về tài chính ư?
— Vâng.
— Tôi đã giúp ông ấy theo khả năng của tôi, chuyện đó là bình thường mà.
Tôi thầm nói, bà ấy có lý: Việc đó là bình thường. Nhưng thật khó cho một người đàn bà nhiều tuổi hơn chồng chấp nhận điều bình thường ấy cho mình trước khi làm cho người chồng chấp nhận điều ấy với những người khác. Bà Parăng rõ ràng khó chịu, bà đã đưa kính râm lên mũi trước khi thôi không đeo.
— Ông ấy có những kẻ thù không?
— Trong loại kinh doanh này, không tránh khỏi cạnh tranh, có thể Patric đã làm thiệt hại vài đồng nghiệp của mình. Nhưng việc đó không thể đi xa được.
— Ông ấy năng đi lại với ai? Hai ông bà cùng năng đi lại với ai?
— Tôi khá cục cằn. Patric trách tôi điều này. Rồi tôi qua nhiều năm ở Mỹ với người chồng trước của tôi và khi tôi trở về Pháp, tôi không quen biết ai, bạn bè của tôi đã lấy chồng hoặc phân tán… tóm lại chúng tôi ít tiếp khách, thỉnh thoảng vài người bạn của Patric thôi.
— Những người bạn nào?
— Nhất là đôi vợ chồng Mecxiê mà Patric quen biết trong dịp nghỉ hè ở Canơ, ngay trước cuộc hôn nhân của chúng tôi. Những người bán đồ kim hoàn có cửa hiệu ở đại lộ Madăngta. Chúng tôi cùng chơi vài ván bài Britdơ và uống rượu gin pha rum. Chúng tôi cũng tiếp người em trai của Patric, Ăngtoan và người vợ trẻ của chú ấy là Magali. Ăngtoan là bác sĩ nha khoa ở Nôdăng-suya-Macnơ.
— Bố mẹ bà thế nào?
— Bố tôi đã mất. Từ đó, mẹ tôi sống ở nhà bà chị cả tôi ở tỉnh Tua. Mỗi năm tôi đến thăm bà hai lần. Không bao giờ bà đến Pari cả.
Fabiên Parăng là người đàn bà cô đơn. Nhưng sự cô đơn hẳn không làm bà e sợ. Không cam chịu, bà mệt mỏi. Hôn nhân không đem lại kết quả cho bà, lần thứ hai cũng không hơn gì lần đầu. Bà đã mất một con gái trong hoàn cảnh bi thảm, còn đứa con gái kia thoát khỏi bà. Bà chấp nhận sự thất bại mà không chống lại. Bà tự do.
Tôi nghĩ đến mẹ tôi, cũng theo cách của Fabiên Parăng đã lấy một người chồng trẻ hơn bà. Nhưng bố tôi đã cố gắng, chí ít trong mười lăm năm đầu cuộc hôn nhân đã không làm gì gợi cho bà chuyện đó. Patric Parăng là một kẻ thô lỗ và hư hỏng, nếu ông ta thành đạt có khả năng ông ta bỏ vợ. Thật rõ ràng đối với bà khi tôi không ngạc nhiên nghe bà lẩm bẩm:
— Bà biết không, Patric là một kẻ khốn nạn.
— Một kẻ khốn nạn đủ nguy hiểm để người ta xét cần phải giết kẻ đó chứ gì. Bà đã gặp bác sĩ Fo chưa?
— Không. Tôi chỉ biết anh ta đã mổ cho An thôi.
Như vậy thông tin đã không được kiểm tra. Những nhà báo không biết hôm ấy Fo quá say không thể mổ được. Bí mật của cuộc thẩm vấn không bị chê cười.
— Con gái bà quen biết anh ta. Cô ấy có nói chuyện với bà về anh ta không?
— Ít thôi. Khó khăn lắm con gái tôi mới thổ lộ tâm tình. Tôi biết nó yêu mến anh ta và nó không tin anh ta phạm tội. Vả lại tôi không thấy vì sao anh ta lại giết Patric. Đúng là tôi thiếu thông tin.
Bà vừa nhìn đồng hồ đeo tay và tôi cảm thấy bà sốt ruột muốn đi.
— Hôm nay thế là xong - Tôi nói.
Bà vừa ra khỏi thì Pôn bình phẩm ngay:
— Người có bộ mặt hãm tài nhưng máu nóng. Người đàn bà này thích bọn đĩ đực.
— Hẳn bà ta xinh đẹp - Tôi nói - Việc đó không quên được.
— Bà ta không quên điều đó còn chúng ta coi thường.
— Khi anh ở tuổi bà ấy, Pôn…
— Ô kìa! Bà sẽ không đóng vai những bà già đấy chứ! Quanh tôi, mẹ tôi, bà bác tôi, bà tôi cùng ca điệp khúc ấy… Nhưng tôi nghĩ rằng nếu Fabiên Parăng đến công ty Bất động sản ngày xảy ra tội ác, bà ấy trở thành kẻ khả nghi.
— Không phải không tránh khỏi, Pôn ạ. Tôi đã loè bà ấy vì lời chứng của người đưa thư rất lờ mờ nhưng tôi không nói với bà ấy. Có thể ông ta nói là mùng năm, nhưng có thể là mùng bốn hay mùng sáu.
Đã mười hai giờ rưỡi và tôi đói. Bố tôi đã mời tôi ăn trưa ở một quán yên tĩnh mà ông quen thuộc, không xa Toà án. Trước hết tôi đến xe của mình mà Caretxơ đang đợi tôi, tôi cho nó đi đái ở một rãnh lề đường, thành tích mà cứ ba lần nó mới đạt được một. Rồi nó gặm khan hai chiếc bánh ngọt lấy từ hộp đựng các thứ lặt vặt của tôi ở xe rồi nó trở lại ghế sau nằm lăn ra đợi tôi.
Bố tôi đến trước tôi và tôi nhận thấy ông đứng lên khi thấy tôi bước vào phòng. Ông hôn lên trán tôi và cho tôi cảm thấy mùi thơm oải hương trong lúc cạo mặt buổi tối của ông. Bố tôi đẹp trai, vóc dáng như tiều phu và cũng thanh lịch như diễn viên đang biểu diễn, có nghĩa là hơi quá để có giá trị. Chúng tôi cười với nhau qua chai rượu vang mà ông mặc nhiên đã đặt trước, biết rằng tôi sẽ ăn những con hàu.
— Con có bộ mặt khó coi - Ông nói và đưa cho tôi bản thực đơn - Sau món hàu, bố khuyên con ăn món nhồi vỏ sò Xanh-giắc. Buổi sáng của con diễn ra thế nào?
— Rất bình thản. Con sẽ ăn miếng cá lờn bơn để con nhớ tới tuổi thơ của mình.
— Con rút ra được gì ở toàn bộ kỷ niệm ấy?
— Nỗi buồn phiền. Tuổi thơ mạ vàng nhưng buồn phiền. Con muốn có một đứa em gái hoặc em trai, tại sao không. Dẫu sao đó là sự đồng lõa. Con rất cô đơn.
— Bởi vì con biết điều. Hầu như bố muốn thấy con làm những điều dại dột. Mà không. Con học hành nghiêm chỉnh và hạn chế những thú vui của con. Con làm bố hơi sợ đấy.
— Không, bố coi thường chuyện đó.
— Một cảm tưởng kỳ lạ làm sao! Bố quan tâm nhiều đến con hơn con tưởng. Hãy hỏi mẹ con xem, bố làm phiền bà vì mối lo lắng của bố đối với con.
— Nếu con có thể tin bố…
Ông nhìn tôi với nụ cười thoải mái, nụ cười mà ông chỉ phô ra trong những dịp lớn khi ông thắng một vụ kiện chẳng hạn, hoặc khi một đồng nghiệp mà ông không ưa bị báo chí chỉ trích. Bố tôi không có gì bí mật cả và tình yêu của ông đối với tôi như bãi biển hiền hoà ngập ánh nắng mặt trời, ông đã cho tôi những hạnh phúc lớn của đời tôi.
— Hãy nói với bố về Fo của con - Ông nói với tôi - Thái độ xử sự của anh ta thế nào?
— Yếu đuối. Chiều nay con phải gặp lại anh ta cùng luật sư của anh ta. Buyxông làm con sợ.
— Con sợ là có lý. Ông ta sẽ bất nhân.
— Con tin rằng ông ta sẽ rất yêu mến con.
— Đúng thế. Ông ta sẽ cố cho con một bài học:
Run sợ.
— Bố quá đáng…
— Vừa thôi. Buyxông là một diễn viên tồi, vả lại như tất cả chúng ta. Chúng ta là những diễn viên kịch thất bại. Lợi thế duy nhất của chúng ta là chúng ta biết luật.
— Bố có tin rằng Fo đã nói với Buyxông rằng anh ta là thủ phạm… hoặc vô tội không?
— Bất kể anh ta có nói gì thì Buyxông cũng không muốn biết, không một luật sư nào muốn biết có phải thân chủ của mình là thủ phạm hoặc vô tội cả. Đó sẽ là điều bất lợi trừ phi tội phạm rõ ràng, hiển nhiên. Nhưng trong trường hợp này, Fo luôn phủ nhận. Bố không tin vì lẽ gì hôm nay anh ta sẽ thú nhận.
— Con không tin là anh ta phạm tội và điều này làm con buồn phiền.
— Phải chăng con muốn nói rằng Buyxông thích những hồ sơ khó khăn lại còn tuyệt vọng. Như ông thầy đã đào tạo ông ta, giáo sư Florid. Con không sinh ra ở thời kỳ vẻ vang của Florid, nhưng con đã nghe nói tới những vụ kiện của ông ấy, nhất là vụ kiện mà ông ấy đã biện hộ ở Thuỵ Sĩ trong đó ông bảo vệ một luật sư bị kết tội đã giết người tình của chính tình nhân của mình. Floriô đã chói sáng nhưng kỳ lạ thay việc đó đã diễn ra chống lại ông: những người Thuỵ Sĩ nhỏ bé ở Đoàn luật sư không tha thứ cho ông đã cho họ có thể nói là một bài học ra trò và họ đã tác động đến hội đồng bồi thẩm.
— Nhưng bị cáo thế nào?
— Có khả năng y là thủ phạm. Y đã chứa chất những sự vụng về như Fo của con, thế nhưng đó là một luật sư. Y đã để lại dấu vết khắp nơi và đã làm điều ngu ngốc là nhuộm tóc sau vụ giết người, nhằm những nhân chứng không nhận ra y. Bố nghĩ rằng y bị kết án bảy năm tù ở vụ này. Điều đó không muốn nói lên điều gì cả. Hoặc giả y là thủ phạm và tù chung thân vì có dự mưu. Hoặc giả người ta tin y là vô tội và thế là trắng án.
— Bố đang nói với con điều gì khi so sánh Graxanh Florid với luật sư Buyxông?
— Con đã hiểu rất rõ: Bố không biết có phải một người lão luyện ở Đoàn luật sư cũng sẽ thuyết phục tốt như một con sói non qua vụ kiện. Nhưng trong lúc thẩm vấn, Buyxông sẽ không tặng con món quà chứ.
— Tóm lại, bất hạnh thật sự thuộc về con.
— Đừng thổi phồng. Buyxông sẽ cho con cơ hội để vật lộn, việc đó không thật tồi tệ đâu. Con có muốn ăn tráng miệng không?
— Không, cảm ơn bố. Một tách cà phê thôi.
— Con vẫn luôn uống nhiều cà phê ư?
— Đó là thứ ma tuý duy nhất của con, với thuốc lá.
Bố tôi ký giấy thanh toán tiền ăn mà không buồn nhìn vào đó, như tôi thường thấy ông làm thế. Tôi hỏi ông có phải ông vẫn còn nhân tình không, làm ông ngạc nhiên.
— Tất nhiên. Con thấy bố hết duyên rồi sao?
— Trái lại. Do đâu mà con hỏi.
— Con hãy yên trí, việc đó không đi xa đâu.
— Chính là phải làm mẹ yên tâm.
— Mẹ con không cần đâu. Bà ấy biết rằng trước hết bố cần bà. Thế là đủ cho bà ấy rồi.
Tôi không tin chắc điều ấy như ông nhưng tôi im lặng. Ông không hiểu mẹ tôi hơn là bà hiểu ông. Và có lẽ chính vì thế mà…
Bên ngoài trời nắng chói chang táp vào chúng tôi nên tôi chạy về xe của tôi để xem có thật nó không bị phơi ra nắng, trường hợp nào thì con Caretxơ có nguy cơ chết ngạt. Nhưng không, con chó của tôi nằm lăn trên ghế, trong bóng râm. Tôi cho nó ra dắt nó đi chơi tới tận Toà án và trao cho người gác. Nó sẽ ngoan ngoãn đợi tôi trong một góc phòng là nơi nó có một cái khăn và một xô nước mát.
Khi tôi trở lại văn phòng của mình thì Pôn đang gọi điện thoại cho một bạn trai. Pôn có tới chục bạn chỉ tiếp xúc qua trung gian hệ thống viễn thông của Toà án. Tôi mở hồ sơ Fo để chuẩn bị thẩm vấn. Người bác sĩ phẫu thuật trẻ thấy vụ này thế nào? Tôi thấy câu hỏi này là chủ yếu. Khi tôi thấy anh ta vào văn phòng, tôi thầm nghĩ qua mỗi lần mà Fo mất hết vẻ hiếu chiến tôi còn lo lắng hơn là anh ta hung hăng. Có gì ẩn sau vẻ ngoài bình thản của anh ta? Một quân bài bất khả kháng mà anh ta sẽ rút ra vào lúc chót chăng, có lẽ để làm cho tôi hết sức kỳ cục ư…
Tôi chú tâm vào những chứng cứ cụ thể: chiếc giày mà người ta tìm thấy tại nhà anh ta, để có những vết máu của nạn nhân; những dấu vân tay của anh ta trên những nắm đấm cửa và trên tường; con dao mổ thiếu trong phòng mổ và được tìm thấy trong thùng rác; những lời nói dối của anh ta, động cơ của anh ta: ngăn Parăng tấn công Bệnh viện và qua hậu quả gián tiếp, tránh một cuộc điều tra sẽ phát hiện anh ta quá say không thể mổ cho An Menxphin… Tuy nhiên, tôi hoàn toàn không bị thuyết phục.
Tôi quay về phía Pôn đã thôi nói chuyện ở điện thoại.
— Anh nghĩ gì về Ê-ma-nuy-en Fo?
— Tôi ư?
Anh ta vờ ngạc nhiên, nhưng đằng sau nụ cười của anh ta, tôi nhận thấy một sự tự phụ nào đó.
— Phải, anh ấy. Anh biết rõ anh ta hơn tôi vì anh đã gặp anh ta và nghe anh ta nói từ đầu.
— Tôi không thích ở vào địa vị của anh ta.
— Rõ rồi. Đừng làm tôi mất thì giờ. Tôi hỏi anh nghĩ gì về anh ta.
— Anh ta xuất phát sai và tự bảo vệ một cách vụng về, điều đó làm cho tôi có cảm tình với anh ta.
— Còn ngoài môi thiện cảm đó thì sao?
— Anh ta đã bước vào địa ngục: anh ta đã giết Parăng. Phải, anh ta đã giết ông ta, tôi tin như vậy. Anh ta đã dùng con dao mổ để cứa động mạnh cảnh của gã đĩ đực đẹp mã. Một việc làm có hiệu quả vì hằng ngày anh ta dùng đến nó. Anh ta đã chuyển từ nghệ thuật phẫu thuật đến giết người. Một sự trượt điên rồ.
— Anh trở thành nhà thơ trữ tình đấy, Pôn ạ.
— Chà! Đây là kẻ sát nhân tạm được đầu tiên của tôi. Những kẻ khác mà tôi có dịp trông thấy và nghe đã không làm tôi quan tâm, những đồ vô dụng, những bọn cướp không có trí tưởng tượng. Bác sĩ Fo có cá tính độc đáo, ta cảm thấy anh ta có trình độ học vấn cao và ở anh ta có một hậu thuẫn rất phong phú. Nếu anh ta giết người thì đấy là một tai hoạ trong cuộc đời anh ta, một phút hoàn toàn lệch lạc. Khốn thay, vì con dao mổ, ta phải nhận định có dự mưu và đó là điều làm tôi ngạc nhiên.
Một lúc sau, Ê-ma-nuy-en Fo được đưa vào cùng với luật sư của anh ta, luật sư Buyxông. Mặt anh ta xám ngoét như phần lớn những can phạm. Anh ta ăn mặc chững chạc trong bộ y phục màu hạt dẻ nhưng chiếc áo vét hầu như quá rộng đối với thân hình gầy guộc của anh ta. Cao lớn mạnh khoẻ, sắc mặt tươi tắn, luật sư Buyxông về mặt thể hình lộ vẻ tương phản khá gây xúc động. Tôi lật lại hồ sơ bằng cách bắt đầu từ chuyến Patric Parăng đến gặp bác sĩ Fo sau cái chết của An Menxphin.
— Đã có chuyện gì xảy ra khi ông Parăng đến tìm ông sau cái chết của con ghẻ của ông ta?
— Ông ta yêu cầu tôi vài lời giải thích, tôi đã trả lời ông ta khá nhanh nhưng ông ta có vẻ vội nên tôi đã không ép.
Giọng nói anh ta nhẹ nhàng, hầu như trầm xuống và trong khi nói, Ê-ma-nuy-en Fo nhiều lần quay về phía luật sư của mình nhưng ông này tỏ vẻ rất thản nhiên.
— Vì sao ông muốn tránh né?
Luật sư Buyxông ngồi lún sâu vào ghế bành.
— Hầu như thân chủ của tôi không biểu lộ ý muốn tránh né nào cả. Vậy vì sao có câu hỏi này?
— Bởi vì nó quan trọng, thưa luật sư, câu trả lời cũng vậy.
Im lặng. Rồi bác sĩ Fo thoát ra khỏi sự giữ gìn ý tứ trước khi luật sư của anh có thể phản ứng.
— Tôi biết Patric Parăng muốn gì, nhưng tôi không hề có thì giờ để tranh luận dài. Lúc ấy tôi cho ông ta biết những sự việc tàn nhẫn. An Menxphin không phải chết trong lúc phẫu thuật viêm ruột thừa mà do cô ấy chửa ngoài dạ con gây nên băng huyết tai hại.
— Do sai lầm chẩn đoán ư?
— Vâng. Thuộc về bác sĩ cấp cứu đã gửi cô ấy tới chúng tôi.
Chính đây là điểm yếu. Ê-ma-nuy-en biết điều này. Khi anh nói “gửi đến chúng tôi”, anh biết rằng tối hôm ấy anh không ở trạng thái mổ được kể cả chẩn đoán. Luật sư của anh ta cũng biết như vậy và ông dò xét thái độ của tôi.
— Đúng ra, ông “vắng mặt” hoặc gần như thế khi An Menxphin được chuyển vào phòng phẫu thuật. Sau đó, người ta nói với ông rằng đó là chẩn đoán sai lầm, nhưng ông không thể khẳng định chính bản thân ông nhận thấy điều đó.
Luật sư Buyxông can thiệp:
— Một cơn khó ở đã ngăn thân chủ của tôi mổ. Do lương tâm nghề nghiệp, bản thân ông ta cũng nói là mình không đủ thẩm quyền. Nhưng khi ông ta cảm thấy khá hơn, ông ấy đã chẩn đoán là chửa ngoài dạ con qua báo cáo của phẫu thuật viên và người gây mê.
Thế đó! Sự say rượu mê man của Ê-ma-nuy-en Fo trở thành “cơn khó ở”. Hay hơn: Fo tỏ rõ là một bác sĩ phẫu thuật mẫu mực lại từ chối mổ.
— Hãy cho tôi biết - Tôi nói với bác sĩ Fo - điều gì đã gây nên sự khó ở ấy.
— Đừng trả lời - Luật sư Buyxông nói chen ngang.
Fo hầu như co rúm người trên ghế.
— Này, tôi sẽ nói thay ông ấy - Tôi nói - Bác sĩ Fo say đến mức không ý thức được người gây mê, người sinh viên Y khoa nội trú năm thứ nhất và bà nữ y tá trực đêm đã nói gì quanh giường mình.
— Ông ấy đã uống một cốc uytxki, có thể là hai mà ông ấy lại không bao giờ uống rượu - Luật sư Buyxông trả lời - Cơn khó ở là do đó. Bà y tá trực đêm và người gây mê đã hốt hoảng để quên cả chăm sóc thân chủ của tôi. Tôi không dồn ép họ mà chỉ dựng lại những sự việc.
— Nếu tôi căn cứ vào lần thẩm vấn bác sĩ Fo mới đây nhất thì những sự việc có sắc thái hoàn toàn khác vì ông Fo đã thú nhận là “Tôi quá say nên không thể mổ được”.
— Hẳn ông ấy nghĩ thế. Thực tế, ông ấy ngất xỉu.
Tôi khâm phục sự cả gan của luật sư Buyxông nhưng đồng thời tôi cảm thấy ngấm ngầm tức giận.
— Thưa luật sư - Tôi nói - Ông đang không biện hộ đấy chứ.
— Không - Ông ta cười, trả lời - Tôi dựng lại sự thật.
— Dẫu sao chăng nữa, bác sĩ Fo, bà nữ y tá trực đêm, người gây mê và chàng sinh viên Y khoa nội trú năm thứ nhất đã xét thấy tốt hơn cả là che giấu sự thật ấy vì nói ra không hay chút nào.
— Họ đã phản ứng có thiện chí. Một phản ứng có hiệu quả.
— Nhưng trước hết họ đã nói dối cảnh sát và thẩm phán Teroa.
— Hẳn là sự vụng về gợi được sự độ lượng hơn là sai lầm nghề nghiệp.
— Thưa luật sư, tôi xin nhắc ông rằng tôi đang hỏi bác sĩ Fo và tôi rất muốn bản thân ông ấy trả lời.
— Tôi nói dối bởi vì tôi sợ - Ê-ma-nuy-en Fo nói - Người ta kết tội tôi về một tội ác mà tôi không phạm phải và tôi tuyệt vọng.
Anh ta ứa nước mắt và tôi lợi dụng sự bối rối của anh ta để lại hỏi sự tiếp xúc đầu tiên của anh ta với Patric Parăng diễn ra thế nào.
— Ông ta hỏi tôi An Menxphin chết thế nào. Tôi nói với ông ta rằng có sự sai lầm về chẩn đoán, rằng vấn đề là chửa ngoài dạ con và cần không để mất thời gian. Đã quá muộn để cứu cô ấy, vì băng huyết quá trầm trọng.
— Ông ta phản ứng thế nào?
— Bình thản. Ông ta không tỏ vẻ ngạc nhiên. Tôi đã cho ông ấy báo cáo ca mổ và ông ấy đọc trước mặt tôi, hỏi tôi vài điều cụ thể về một số từ ngữ y học. Rồi ông ta ra đi rất nhanh.
— Nếu ông ta yêu cầu anh giữ bí mật việc chẩn đoán để không làm mẹ và chị An Menxphin hốt hoảng thì ông sẽ làm gì?
— Ông ta chỉ là Bố dượng. Bà mẹ và cô chị có quyền biết sự thật. Nhưng ông ta không yêu cầu tôi nên tôi đã nói với Letxli Menxphin những gì tôi biết.
Fo đã lấy lại được sắc mặt và niềm tin nào đó. Luật sư Buyxông nhìn thân chủ của mình với ánh mắt của tình cha con nhưng tôi cảm thấy ông sẵn sàng can thiệp để ngăn mọi câu hỏi nguy hiểm.
— Bác sĩ Fo - Tôi nói - Letxli đã hai lần đến Bệnh viện Giắccơ Đờlaruy cố tiếp kiến ông. Tại sao ông không tiếp cô ấy?
— Tôi không có thì giờ, vả lại tôi đã gặp bố dượng cô ấy rồi. Tôi thấy không cần phải nhắc lại.
— Nhất là ông sợ cô ấy hỏi ông những điều cụ thể đặt ông vào tình trạng bối rối chứ gì.
Luật sư Buyxông chồm lên:
— Thưa bà thẩm phán, những lời suy diễn của bà không thể chấp nhận được và hoàn toàn vô cớ.
— Chúng càng có căn cứ hơn thế - Fo nói - Khi tôi gặp Letxli Menxphin, tôi đã không ngần ngại nói với cô ấy những gì đã xảy đến với em gái cô ấy.
— Nhưng ông đã không nói rõ với cô ấy rằng ông không phải là người mổ.
Luật sư Buyxông nhún vai và nói:
— Kết quả vẫn thế thôi.
— Ông không biết gì hết - Tôi nói giọng mạnh mẽ - Bác sĩ Fo có nhiều kinh nghiệm hơn phẫu thuật viên đã thay thế ông ấy, đó là điều chắc chắn.
— Tình cảnh tuyệt vọng - Fo nói xen vào - Cần kiếm máu để truyền nhưng trước lễ Phục sinh với số nhân viên giảm, đó là một cuộc chạy đua với thời gian.
— Sự cộng tác của ông thật quý - Tôi dịu dàng nói.
Luật sư đưa cặp mắt căm hận nhìn tôi. Ông đóng vai trò của mình hầu như một cách biếm hoạ. Tôi còn đặt ra vài câu hỏi cho thân chủ của ông mà ông xét thấy không cần can thiệp. Ê-ma-nuy-en trả lời với vẻ mệt mỏi không chút vờ vĩnh. Cho dù anh có được miễn tố, hôm nay hầu như không thể có được, thì anh biết rằng sự nghiệp của anh cũng bị nguy hại khủng khiếp. Anh ta hoàn toàn dựa vào sự nghiệp của mình. Điều gì còn lại với anh? Tôi đã thấy nhiều người bị buộc tội đã tự tử vì lý do còn ít hơn thế này. Và đây chính là điều làm tôi lo sợ. Fo đã có những lúc nổi loạn khó xác định, nhưng anh lập tức lại rơi vào tình trạng bối rối. Tôi không muốn dồn ép anh. Tôi chỉ cố thấy rõ sự việc. Thế mà tôi thấy động cơ của anh ta yếu ớt và tôi biết rằng luật sư Buyxông chơi đến cùng con bài này. Giờ đây tôi cần tìm cách thuyết phục về việc con dao mổ.
— Cần công nhận rằng rất hiếm khi xảy ra mất mát dụng cụ tại bệnh viện - Bác sĩ Fo nói - Cá nhân tôi không bao giờ “mượn” dụng cụ cả. Nếu tôi cần một con dao mổ cho việc riêng tư, tôi sẽ đến đại lộ Xanh-Giecmanh là nơi người ta bán bất kể thứ gì thuộc loại dụng cụ phẫu thuật.
— Ông sẽ gánh chịu rủi ro làm mình bị chú ý.
— Càng ít hơn bằng cách mượn nó ở Bệnh viện - Luật sư Buyxông nói chen vào.
— Dẫu sao, tôi không ngu ngốc ném nó vào thùng rác mà người ta có thể tìm thấy - Thân chủ của ông nói.
— Bác sĩ Fo ạ, những tên tội phạm hình sự thông minh nhất thường làm những điều ngu ngốc ghê gớm khi chúng hoảng loạn.
Luật sư Buyxông cười mỉa gây xúc động cho tôi hơn cái nhìn căm hận của ông trước đó.
— Bác sĩ Fo, ông có thể nói lại với tôi bằng cách quên đi những lời dối trá ban đầu, điều gì đã làm ông quyết định đi gặp Patric Parăng tại công ty của ông ta?
Anh thở dài, quay về phía luật sư của anh, ông này gật đầu khích lệ anh.
— Tôi có cuộc nói chuyện với Letxli Menxphin. Letxli nổi khùng và tin chắc bố dượng cô là người chịu trách nhiệm về cái thai của em gái cô. Bản thân tôi cũng thú nhận rằng có nhiều khả năng chuyện đó là thực. Nhưng cô ấy không có một chứng cứ nào chắc chắn cả và tính nhờ đến sự can thiệp của một thám tử tư. Theo tôi nghĩ, việc đó tỏ ra phi lý và còn nguy hiểm nữa.
— Nguy hiểm cho ai?
— Cho mọi người, kể cả tôi. Vậy là tôi quyết định mà không hỏi ý kiến cô ấy, đến báo cho Patric Parăng. Nếu ông ta không dính dáng gì đến cái thai ấy, có thể ông ta biết chứng minh và vụ việc dừng tại đấy.
— Ông có thể gọi điện thoại cho ông ấy.
— Thật khó nói những chuyện như thế này qua điện thoại.
— Ông có thể yêu cầu ông ta một cuộc gặp gỡ.
— Chắc chắn ông ta sẽ nghi ngờ. Tôi đã hành động trong cơn xung động.
Anh ta vừa thốt lên từ “cơn xung động” thì anh ta đưa cặp mắt khiếp sợ nhìn luật sư của mình.
— Hẳn bác sĩ Fo muốn nói rằng ông ấy không chịu khó suy nghĩ trước - Luật sư Buyxông sửa lại - Hành động của ông ấy là tự nhiên.
— Cho phép tôi nghĩ trái lại - Tôi nói - Được. Vậy thưa ông Fo, ông đã đến công ty. Mời ông nói tiếp.
— Thế là tôi bước vào. Không có ai trong văn phòng, kể cả phòng trong.
— Ông có gọi không?
— Có, tôi gọi và không thấy ai trả lời, tôi đi vòng trong các phòng và tôi máy móc mở cửa nhà vệ sinh.
— Sáng kiến lạ lùng thật. Ông đã gọi, không ai trả lời và ông đã mở cửa nơi kín đáo…
— Thân chủ của tôi đã nói rõ là ông ấy máy móc làm thế - Luật sư Buyxông xen vào - Hiện tượng tự động đơn thuần.
— Chúng ta công nhận điều này. Thế rồi ông làm gì nữa?
— Không gì cả. Tôi không làm gì hết. Tôi đứng trước mặt một người đàn ông bị cắt cổ. Máu ở khắp chỗ và ông Parăng đã chết. Thật khủng khiếp và tôi sợ. Tôi bỏ đi.
— Phản ứng của một công dân trên mọi sự nghi ngờ là gọi cảnh sát.
— Tất nhiên. Nhưng tôi đang ở trạng thái choáng váng.
— Bác sĩ Fo, xét cho cùng, tôi sẽ hiểu được điều đó ở một người bình thường nào đó chưa bao giờ nhìn thấy xác chết, nhưng không thể chấp nhận được đối với một bác sĩ phẫu thuật hằng ngày đối mặt với máu và cái chết.
Luật sư Buyxông đặt một bàn tay lên vai thân chủ của mình để làm yên lòng rồi ông nói:
— Một bệnh nhân trên bàn mổ và nạn nhân của một vụ giết người là hai cảnh tượng khác nhau. Bác sĩ Fo không chuẩn bị tinh thần trước cảnh giết người ấy. Ông ấy đã nói với bà và nhắc lại là ông ấy hoảng loạn. Đây là một sai lầm, nhưng là sai sót có thể hiểu và tha thứ được.
— Không, thưa luật sư, không tha thứ được. Công nhận là ông ấy nói thật, nhưng ông ấy đã suy nghĩ kỹ cố ý làm lệch hướng điều tra và nhiệm vụ của cảnh sát.
— Tôi nhận thức được điều này - Fo nói - Nhưng tôi không có gì để xem xét về vụ giết Patric Parăng cả.
Đột nhiên anh bật khóc, những tiếng nức nở nặng nề bật ra từ lồng ngực anh ta làm tôi bối rối. Luật sư Buyxông không nhúc nhích, ông ta nhìn thân chủ của mình như quan sát một con vật bị thương. Thời gian trôi qua chậm chạp trước khi những tiếng nức nở ấy trở thành những tiếng thở rền.
— Xin bà thứ lỗi cho tôi - Cuối cùng Ê-ma-nuy-en Fo nói.
Luật sư Buyxông đứng lên làm tôi tức giận về thái độ này, có thể nói ông ta buộc tôi ngừng cuộc thẩm vấn mà tôi còn muốn tiếp tục.
— Tốt hơn cả là tiếp tục cuộc thẩm vấn vào ngày mai - Tôi nói.
— Tôi biết ơn bà đối với thân chủ của tôi - Luật sư Buyxông tán thành.
Một lúc sau, khi cửa văn phòng tôi khép lại, Pôn thốt lên:
— Diễn tiết mục thất vọng thật tuyệt! Rất đúng lúc. Gã Fo này còn lâu mới là kẻ ngu ngốc.
— Tôi tin rằng anh ta thật sự tuyệt vọng.
Pôn nhìn tôi vẻ giễu cợt.
— Bà đã núng thế phải không?
Tôi vơ lấy những ghi chép của tôi bỏ vào cặp để đem về nhà làm việc. Sự có mặt của Pôn làm tôi mất tập trung tư tưởng. Dẫu sao, tôi không có cuộc hẹn khác vì tôi dự định thẩm vấn lâu hơn.
— Nếu có ai hỏi bà? - Pôn hỏi.
— Ở nhà tôi. Mong rằng người ta không ngần ngại gọi điện cho tôi.
Anh ta sẽ có thể về sớm để học võ giuđô và nụ cười thoả mãn của anh ta đã thiếu mọi vẻ đạo đức giả.
Xin lại con Caretxơ; để bộc lộ niềm vui được gặp lại tôi, con chó có vẻ nhảy nhót điệu rumba và tôi nói chuyện một lúc với người gác cổng. Ông ta năm mươi tuổi có mái tóc đen nhánh nên người ta cho rằng nhuộm nếu mái tóc ấy thuộc về một diễn viên. Giọng nói Pari của ông làm tôi vui. Ông nhìn công lý qua kinh nghiệm của ông ở đường pít và bê tông vì trước khi đến ở đây, ông ở trong một chung cư tại Xanh Đơnit. Đối với những tội phạm trẻ, ông có sự phán xét đúng đắn và không thiếu mị dân.
— Tôi trông thấy chúng diễu qua, khoá còng ở cổ tay - Ông nổi nóng - Tôi tự nhủ mình có thể là một kẻ trong bọn chúng. Cái vũ trụ bằng bê tông ấy thật kinh khủng, đó là nơi bát nháo. Người ta nghiền ngẫm sự thất vọng và thử trốn thoát bằng bạo lực.
Tôi hỏi ông có phải ông đã thấy một giải pháp.
— Không. Dẫu sao không phải ngay lúc này. Ở đây chỉ có thể có những giải pháp nhỏ thuộc cá nhân. Tôi đã tìm thấy một giải pháp tuy không nổi tiếng nhưng nó tránh cho tôi khỏi nhà tù.
Rồi ông nghiêm nghị nhìn tôi.
— Công việc của thẩm phán đối với một phụ nữ không phải quá khắc nghiệt ư?
— Rất lý thú.
— Ừa. Nhưng anh bạn nhỏ trong tất cả chuyện này, bà xếp anh ta vào đâu?
Tôi cười tránh né trả lời, đã đến lúc dắt con Caretxơ đang sốt ruột đi ra. Người gác cửa thân mật vỗ nhẹ vào mông nó và chúng tôi đã ở trên vỉa hè có những mùi hấp dẫn đối với nó nhưng hôi thối đối với tôi. Tại sao lại cần có những người vây quanh mình, những người thân thiết nhất và cả thân nhân có những quan hệ bình thường nhìn tôi như thể tôi là một kẻ tàn tật vì cuộc sống tình ái của tôi hầu như là con số không?
Mẹ tôi nói với tôi như thế là không bình thường. Bố thì lấy làm tiếc, cho là kỳ lạ. Phần lớn các bạn tôi thì khẳng định là ngớ ngẩn. Người gác Toà án nói một cách hình bóng là lập dị. Còn tôi? Hầu như tôi có lời nói của tôi. Nhưng tôi không tìm được từ nào có thể diễn tả rõ ràng sự hời hợt ấy mà tôi cảm thấy thiếu mọi mối liên hệ tình cảm và tình dục.
Tôi đã cho nhiều, có thể nói như thế khi nhớ lại cuộc hôn nhân của tôi mà phần lớn thời gian tôi cố không nghĩ tới nữa. Phải chăng mùa xuân tuyệt vời này đang trùm lên tôi một hơi ấm làm tôi đắm chìm vào những kỷ niệm đau đớn. Tôi nhìn thẳng vào cuộc sống hiện tại của tôi và thấy quá đủ rồi. Tôi đang có trong tay tương lai của một bác sĩ phẫu thuật trẻ và tôi không muốn mắc một sai lầm nhỏ nhặt nào. Tội phạm hay vô tội, anh ta vẫn gợi nên trong tôi lòng trắc ẩn làm tôi bối rối. Tôi nghĩ tới anh ta, đến cuộc đời tan vỡ của anh ta trong khi tôi tiến về chiếc xe của tôi, bị con Caretxơ, một con chó không dễ bảo lôi đi. Nó kéo tôi về phía mùi nước tiểu mà nó sung sướng hít lấy hít để. Đột nhiên, dưới màu xanh không dứt của bầu trời trên đầu, tôi tin chắc rằng luật sư Buyxông đã tin Ê-ma-nuy-en là tội phạm. Hơn nữa, ông ta sẽ nghi ngờ, sử dụng mọi thủ đoạn nghề nghiệp để thử cứu thân chủ của mình.
Fabrixơ, con trai ông ta có sự khâm phục mù quáng đối với Bố mình và người bố có sự mù quáng kỳ lạ liên quan tới con trai mình không có những phẩm chất mà ông ta gán cho con và sẽ không bao giờ là một luật sư giỏi, đó là rõ ràng. Anh ta quá mềm yếu, quá ngông cuồng, ương ngạnh quá đáng và thiển cận, chí ít đó phải chăng là những lời lẽ người ta nói ở Toà án và tôi có xu hướng tin vào những lời lẽ đó vì bố tôi là người đầu tiên khẳng định điều này. Theo Letxli Menxphin, “Anh ta bám dai như đỉa đói nhưng tử tế”. Tôi chưa tới ba mươi tuổi và tôi thấy những cô gái tuổi mười tám hầu như ở một hành tinh khác. Tất nhiên tôi có kinh nghiệm rất non nớt về hôn nhân. Tất nhiên cũng vì nghề nghiệp của tôi cho phép tôi đối đầu với những trường hợp bi thảm và thâm nhập vào đời sống riêng tư của những công dân ở trên mọi sự nghi ngờ.
Tôi tin chắc rằng chiếc xe của tôi sẽ không đi nổi. Một nhóm người đã vây quanh xe trong khi tôi vắt kiệt sức bộ khởi động xe và Caretxơ sủa nhưng không vì thế mà làm nản lòng những kẻ tò mò.
Một người đàn ông trẻ đề nghị được xem dưới nắp xe và tôi để anh ta hối hả làm một lúc rồi anh ta nói với tôi: “Đi thôi”, và xe chạy. Tôi cảm ơn anh và anh đề nghị tôi có thể cho anh xuống Xanh Giecmanh-đề-Prê không. Đi Xanh-Giecmanh, nếu Caretxơ không làm anh ta sợ. Nhưng không, anh không sợ gì hết mà còn đề nghị tôi đi uống với anh một cốc… Qua tiếng thở dài, tôi bị cám dỗ, nhưng không. Không. Anh khẩn khoản và thật sự đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy anh. Anh có vẻ dễ thương nhưng tôi nghi ngờ những người đàn ông dễ thương. Dứt khoát là không. Trước khi xuống xe, anh hỏi số điện thoại của tôi. Tôi nói dối bằng cách nói rằng tên tôi có trong niên bạ điện thoại.
— Tên bà?
Tôi lại định nói dối, nhưng mặc kệ, tôi nói: “Florăngxơ Lariơ,” và tôi cho xe chạy trước khi anh ta có thể ghi tên tôi. Caretxơ nhảy lên ghế trên, ngồi bên tôi, tôi có cảm giác nhìn thấy nó cười. Về con chó của tôi, tôi chờ đợi tất cả, gồm cả cái không thể có được. Mẹ tôi bảo tôi ác ý, chính vì một người đàn ông mà ta cần chờ đợi tất cả. Như thế bà đã thoả mãn. May thay, tấm gương của bà dùng làm tay vịn cho tôi.
Ngoại trừ đồng lương của tôi rất khiêm tốn, nhưng không bao giờ tôi than phiền, nghề nghiệp của tôi có những lợi ích mà lợi ích chính là sự đối lập kiên trì giữa cuộc sống những can phạm của tôi với cuộc sống của tôi. Mỗi khi tôi ra khỏi Toà án, tôi say sưa về sự tự do của mình, về khả năng hành động theo ý riêng mình cho dù có lướt qua tính phi pháp.
Trong khi tôi mua vài món tại cửa hàng thực phẩm khô quen thuộc, nhìn thấy một quả bưởi, đột nhiên tôi nhớ tới một ý nghĩ chớp nhoáng mà đêm trước đã gợi cho tôi một lúc quá ngắn để tôi giữ chặt lấy ý tưởng ấy trong đầu óc của tôi để có thể nhớ lại khi thức dậy. Ý tưởng này là điều tin chắc duy nhất của tôi, nhắc tôi đã bỏ qua trong lúc đọc hồ sơ một chi tiết rất quan trọng, có thể nói là một điểm thiếu sót trong việc tiến hành điều tra.
Tôi bị thu hút đến nỗi gã nhân viên bán hàng trẻ phải nhắc tới ba lần “Hết rồi chứ?” trước khi tôi phản ứng. Tôi đã trả tiền khi nhận những gói thức ăn cho con Caretxơ thế mà tôi lại lấy ví ra mua hai gói và cười ngớ ngẩn trước câu nhận xét của chủ hàng thực phẩm: “Hôm nay đầu óc bà để đâu đâu”.
Đâu đâu ư, không. Đầu óc tôi hầu như không bao giờ rời khỏi những hồ sơ của tôi, ngay cả khi tôi ngủ. Và trong đầu óc tôi, hồ sơ về Fo là ưu tiên. Khi trở về nhà, tôi thầm nhủ là buổi tối nay của tôi sẽ bị xáo trộn bởi “ý tưởng sao băng” này bị trí nhớ của tôi che khuất. Thử xua đuổi ý tưởng ám ảnh ấy ra khỏi đầu óc cũng vô ích như buộc Caretxơ nhịn ăn. Con chó cái của tôi lập tức đi vào bếp cuồng nhiệt khua cái đĩa bằng chất dẻo ở đó để nhắc tôi cho nó ăn. Tôi trộn thứ thức ăn mà nó ưa thích. Caretxơ ăn ngấu nghiến như sợ tôi cướp mất đồ ăn của nó.
Ngồi trong một chốn mà tôi gọi là “phòng”, trên chiếc tràng kỷ đã lún, tôi hút thuốc trong lúc cố bình tĩnh suy nghĩ. “Đặt nằm tất cả ra - Bố tôi nói với tôi thế khi tôi chuẩn bị một kỳ thi sát hạch - rồi cố tìm một dây dẫn”… Không có dây dẫn nhưng có một loạt suy diễn đưa tôi đến kết luận này: một nhà phân tích tâm lý chắc chắn có thể giúp tôi những lời khuyên. Tôi quen biết một người thuộc về những mối quan hệ của tôi là người đàn bà có chồng mà tôi không gặp lại từ khi tôi ly hôn. Sợ đau khổ. Nhưng tối nay nỗi đau khổ là sợ ý tưởng ấy tuột khỏi tôi. Tôi tìm số điện thoại của Stêphan Đatxlơ trong cuốn sổ tay ghi những địa chỉ của tôi. Tôi cũng có địa chỉ của anh ấy rất gần với nơi tôi ở.
Khi tôi nhận ra giọng nói của anh, tôi khẽ nấc rồi thở dài.
— Trời ơi! - Anh vui vẻ nói sau khi tôi nói tên mình - Anh không nghĩ… không, anh không nghĩ… nhưng anh rất vui nghe tiếng em. Đang có chuyện gì thế? Anh mong rằng không có chuyện gì nghiêm trọng chứ?
— Một lời khuyên thôi.
Và tôi giải thích cho anh vấn đề của tôi.
— Rất khó cho anh giúp em qua điện thoại - Anh nói - Bằng cách đồng ý là anh có thể giúp em. Em vui lòng đến nhà anh chứ? Sau đó chúng ta sẽ đi ăn tối trong phường.
— Em không có can đảm lại ra ngoài, em mệt đến chết được. Nếu anh đến nhà em, em sẽ mời anh món mì đũa với giăm bông Pacmơ.
— Anh mang rượu vang đến nhé - Anh nói - Địa chỉ của em?
Tôi không nghĩ anh sẽ nhận lời nên đột nhiên tôi hốt hoảng. Bà giúp việc của tôi mỗi tuần chỉ đến một lần và Stêphan không gặp may, ngày mai bà ấy mới đến. Có nghĩa là hai phòng của tôi, bếp và phòng tắm còn hơn là bừa bãi. Dọn dẹp lại căn phòng sẽ làm tôi mất hết sức lực. Vậy tôi chỉ dọn căn bếp nhỏ, bỏ bát đĩa vào máy rửa rồi chuẩn bị chảo, bột, nước chấm và phó mát nghiền. Rồi tôi dựng chiếc bàn trong phòng… Mặc chiếc sơ mi sạch, giũa móng tay bị xước xong thì Stêphan gõ cửa năm tiếng như xưa kia.
Anh vẫn đẹp trai, mái tóc hoe vàng rực rỡ.
— Em không thay đổi - Anh nói trong lúc đặt lên bàn một chai sâm banh, một chai vang đỏ và một chai vang Prôvăngxơ. Anh không biết em để những chai vang ở đâu - Anh nói thêm.
Caretxơ hết sức mừng rỡ đón anh, cho phép tôi đi để sâm banh và rượu vang vào tủ lạnh.
— Khi nó ngừng nhảy điệu Sămba quanh anh - Tôi nói - Anh có thể ngồi vào tràng kỷ lún kia. Em đổ nước để nấu mì đũa.
— Anh có đủ thời gian, em đừng lo. Khi em gọi anh, anh vừa tiễn người khách cuối cùng của anh và chuẩn bị đi ăn tối ở nhà mẹ anh.
— Anh đã báo hoãn rồi chứ? - Tôi nói trong lúc đến ngồi với anh trên tràng kỷ.
— Anh đã báo hoãn với bà không chút luyến tiếc. Bà bắt đầu làm anh phiền lòng và anh rất buồn về việc này.
Anh không có vẻ buồn, con mắt xanh xám ánh lên niềm vui hơi độc ác. Nhằm dứt ra khỏi ở người này cũng như người kia một vấn đề không tránh khỏi giữa chúng tôi mà chúng tôi không thể không nghĩ tới, tôi nói:
— Giăng Giăccơ có khoẻ không?
— Không biết. Anh quên anh ta rồi.
Tôi lập tức nghĩ là anh ta nói dối, có lẽ muốn đối xử khéo với tôi. Giăng Giăccơ là chồng cũ của tôi.
— Một cuộc xung đột ư?
— Không có xung đột nào cả. Giăng Giăccơ đột ngột biến mất khỏi cuộc đời anh.
Anh bật hai ngón tay vào nhau cho kêu lên và mỉm cười thận trọng:
— Đã lâu chưa?
— Một năm, có thể hơn một chút. Việc đó không làm anh chú ý… Chúng ta cần nếm thứ sâm banh này, không bao giờ nên uống ướp lạnh cả.
Tôi đã đặt chai rượu vào tủ lạnh; tôi lấy ra và chuẩn bị vài món khai vị, những món mà Caretxơ ưa thích. Khi tôi trở lại phòng, Stêphan đứng trước bức chân dung tôi hồi tôi hai mươi tuổi do mẹ tôi vẽ bằng chì than.
— Người mẫu và tài năng của tác giả đều đẹp cả - Anh nói - Em có vẻ một thiên thần.
— Mở nút chai ra - Tôi đưa chai cho anh và nói.
Anh rót sâm banh vào các cốc mù tạt, tài sản duy nhất của tôi trong nhà. Chúng tôi chạm cốc. Caretxơ nằm cuộn tròn trên thảm điềm tĩnh quan sát chúng tôi.
— Hãy nói cho anh biết vấn đề của em - Stêphan nói.
Tôi giải thích cho anh vụ án Parăng trong những giới hạn mà báo chí đã đăng, có nghĩa là khá rộng. Anh lắng nghe với vẻ nghiêm chỉnh mà anh cần tỏ thái độ trước những khách hàng của mình.
— Đúng ra em chờ đợi gì ở anh? - Anh kết luận.
— Anh tìm dây dẫn đã phát động sự xâm nhập vào tiềm thức của em trong giấc ngủ.
— Ơ kìa! - Anh nói, rồi dịu dàng - Món mì đũa…
Tôi đến kịp thời để cứu món xốt bắt đầu cháy, món mì đũa không được vừa miệng. Nhưng Stêphan nói rất hợp với khẩu vị của anh. Dưới ánh đèn soi sáng mái tóc hoe vàng của anh, ngồi đối mặt với tôi, tôi phát hiện nhiều vết nhăn nhỏ ở mặt anh sẵn sàng tạo thành những nét hằn sâu. Nhưng cả bộ mặt anh còn trẻ trung. Ba mươi hai? Ba mươi ba tuổi ư?
— Ba mươi tư - Anh trả lời câu hỏi ngầm của tôi - Trong một năm, anh đã cai thuốc lá và rượu. Còn em, em còn thời gian.
— Em coi thường.
— Bịp. Không một ai tuyệt đối coi thường cái già cả. Những sự chống lại nó khác nhau tuỳ theo từng trường hợp, thế thôi.
Anh ăn ngon lành món mì đũa và cho con Caretxơ miếng giăm bông béo ngậy làm nó vui mừng kêu gừ gừ.
— Nó đã bỏ anh - Stêphan nói.
Chính anh đã tặng tôi một con chó hai tháng tuổi quyến rũ mà Giăng Giăccơ chỉ nhận với vẻ ghê sợ. Vài tuần sau, anh điên người vì nó.
— Hãy trở lại với vấn đề của em. Tại sao bị gọi lại “khẩn cấp” như thế, nếu anh dám nói như vậy?
— Phải, vì sao?
— Anh có cách giải thích chắc chắn không làm em hài lòng, em đã trải qua nhiều giai đoạn đã dẫn em tới anh. Em muốn gặp chính anh.
— Đơn giản quá mức đấy.
— Trái lại, những vấn đề nghề nghiệp của em đã che khuất ý muốn gặp anh của em. Nói chính xác hơn, chúng giúp em tìm được cái cớ để gặp lại anh. Bởi vì không một nhà phân tích tâm lý nào có thể giải thích việc đó chỉ trong một tối, ngay cả nhiều tối, theo những tình tiết lắt léo trong tiềm thức của em.
— Stêphan, anh coi thường em.
— Em biết rõ là không. Cách tốt nhất để tìm lại được bước chuyển quan trọng ấy mà em bị che khuất, đó là chăm chú đọc lại hồ sơ của em.
— Vậy em phải đọc lại tất cả những biên bản ư?
— Không, không phải tất cả. Chỉ những biên bản đối với những người chủ yếu.
— Vì sao?
— Em hãy nghe đây, anh không phải là thầy bói, đừng chờ đợi ở anh một điều kỳ diệu mà là một lý lẽ sinh ra từ một lương tri đơn giản. Nếu em đã che khuất một thông tin trong cuộc thẩm vấn, có lẽ vì những hoàn cảnh mà nó gợi lên nhắc em nhớ tới Giăng Giăccơ và mối quan hệ của em với anh ta.
Tôi đỏ mặt không kiềm chế được và càng tức giận Stêphan hơn về nụ cười buồn của anh. Tôi mời anh ăn phó mát rồi ăn hoa quả sau, nhưng anh từ chối và nói:
— Rất đúng như vậy. Anh giữ đường lối của anh.
Chúng tôi uống hết chai sâm banh trong lúc nói tới những kỳ nghỉ sắp tới, anh sẽ qua đảo Coocxơ còn tôi có thể đi đảo Rê. Rồi Stêphan giúp tôi dọn dẹp bàn ăn, xếp bát đĩa vào máy rửa, chúng tôi cần quan tâm đến bàn tay của chúng tôi để giữ cho nhau, người này cũng như người kia khỏi một sự khó chịu hầu như buồn nôn.
— Em đi pha cà phê nhé - Tôi nói.
— Đừng pha cho anh.
— Chuồn hả?
Anh muốn đi nhưng không dám.
— Chuồn, ừ - Anh đành ngồi lại ở tràng kỷ và con Caretxơ lại đến với anh.
— Anh sống độc thân ư?
— Ừ, nhưng không hoàn toàn. Đó là sự thu xếp thận trọng. Trong nghề của anh…
— Trong mọi nghề - Tôi nói.
— Ê-ma-nuy-en Fo của em, y thế nào?
— Em cho rằng, trước khi bị bắt giam, đây là một người đàn ông rất hấp dẫn. Hiện nay, anh ta đang chán đời, buồn bã, tuyệt vọng, mắt lờ đờ, tóc dính bết. Anh ta không còn ở tuổi mình nữa. Đặt cuộc đời, sự tự do, sự nghiệp của anh ta vào tình trạng nguy ngập, không phải là trò trẻ con.
— Em có tin anh ta là thủ phạm không?
— Có, tới tám mươi phần trăm.
— Một sự nghi ngờ rất không hợp lý - Anh nhận xét - Anh rất muốn có thể giúp em.
Anh đứng lên. Tôi hôn lên má anh và với mùi nước thơm Cô-lô-nhơ, tôi lập tức nhớ lại hai ba hình ảnh của quá khứ làm tim tôi đau nhói.
— Cảm ơn anh đã đến, Stêphan.
— Rất vui được gặp lại em. Hãy thường xuyên gọi điện thoại cho anh.
Tôi hứa nhưng biết rõ, cả anh nữa, rằng lời hứa này sẽ không được giữ. Caretxơ tiễn anh tới tận thềm cầu thang rồi trở lại với tôi, vẻ mệt mỏi.
— Mày ở đây để chia sẻ nỗi cô đơn của ta, bạn ạ. Vậy, tự giác chịu nhé!
Tôi nói to để cố xua đuổi nỗi xúc động xem mình là phụ bạc.
Tôi ở lại văn phòng trong lúc bữa ăn trưa bị ngắt. Tôi yêu cầu Pôn đem cho tôi một ổ bánh mì kẹp nhân và một lon cô ca. Vậy là tôi có hai giờ trước mắt để đọc lại vài biên bản cho tối nay tôi chưa coi là quan trọng. Tôi bắt đầu từ người hùn vốn với Patric Parăng, thẩm phán Teroa đã gặp ông ta và tin là không cần triệu tập lại. Nhưng không có gì trong những câu hỏi - đáp có thể làm tôi ngạc nhiên. Đó là những lời nói sáo về pháp lý có điều gì mờ ám. Tuy nhiên tôi chú ý là cần gặp lại Rôlăng Giecboa này.
Thú vị hơn là lời khai của người gây mê Ghiôm Hecbe, người đã chăm sóc An Menxphin tại Bệnh viện Giắccơ Đờlaruy. Giữa cuộc thẩm vấn của thẩm phán Teroa từ đầu vụ án và của tôi, sau khi Ê-ma-nuy-en Fo đã thú nhận không thể mổ cho cô gái trẻ Menxphin, hầu như nhân chứng này trở thành người đàn ông khác. Kiềm chế tồi sự tức giận, hung hăng, căm hận của anh ta, đầy lòng trắc ẩn cho riêng mình, anh ta nói chẳng hạn: “Khi quyết định cho Kritxtốphơ Đơmanh mổ bệnh nhân, tôi cho anh ta một vận may được cứu thoát. Trước hết tôi không thể biết đã quá muộn. Sai lầm lớn nhất không phải là bác sĩ Fo mà là gã bác sĩ trẻ ngu ngốc ở Đội y tế cấp cứu đã chẩn đoán sai”.
— Cả ông cũng thế. - Những lời thú nhận của Ê-ma-nuy-en Fo thuộc về bí mật cuộc thẩm cứu.
— Cho tới khi nào? Nếu có vụ kiện và có khả năng như vậy, tất cả chúng tôi sẽ phải đi chầu hết. Đó hoàn toàn sẽ là bất công. Bà y tá trực đêm, chàng sinh viên Y khoa nội trú trẻ và bản thân tôi đã nói dối không chỉ để bảo vệ Fo mà cả Bệnh viện và quy chế hành nghề y tế. Sự thật trong vụ này có thể phục vụ gì? Fo chỉ say nhất thời, đây là một bác sĩ phẫu thuật xuất sắc, chúng tôi sẽ không phá hỏng sự nghiệp của anh ấy chỉ vì không chịu nổi vài cốc uytxki. Tôi không hiểu vì sao anh ấy lại thú nhận, ép cung, phải không?
— Không. Ông ấy không nói gì với cảnh sát thẩm vấn ông ấy. Ông ấy đã thú nhận với riêng tôi. Tôi không ép cung trong cuộc thẩm vấn mạnh mẽ.
Anh ta muốn cười, nhưng tôi nhớ lại không vì thế mà sự tức giận của anh ta đã tan biến.
— Mắc dịch! Việc ấy thay đổi gì cho anh ta chứ?
— Việc đó thay đổi là động cơ của ông ấy trở nên rõ ràng hơn: một bác sĩ phẫu thuật say rượu không có khả năng mổ là một dẫn chứng gây chết người.
— Chính vì điều đó mà anh ta đã giết con rối ấy ư?
— Người ta giết người còn ít hơn điều đó.
Phải, người ta giết người còn ít hơn điều đó, tôi đã bị trả giá để biết điều đó.
Tuy nhiên, động cơ ấy không hoàn toàn thuyết phục tôi, và không có gì trong hai cuộc thẩm vấn Ghiôm Hecbe làm nổi lên “cái câu bí ẩn nhỏ”.
Tôi khép hồ sơ lại thì điện thoại bên ngoài cho nghe thấy một hồi chuông rền. Một trợ lý của luật sư Buyxông là Bơnoa Feri gào lên trong máy:
— Fo đã toan tự tử! Anh ta đang ở bệnh xá… Hai bác sĩ đang chăm sóc anh ta.
— Tôi mong anh ta được cứu thoát.
— Bà hãy hy vọng: rửa ruột và tìm mọi phương tiện để thành công. Tôi tin là sức khoẻ anh ta không quá tồi tệ. Anh ta đã lấy cắp được những viên thuốc ngủ ở bệnh xá. Người ta không biết số lượng viên thuốc là bao nhiêu. Tóm lại, anh ta hoàn toàn ngất xỉu khi một người gác phát hiện anh ta trong phòng giam.
— Anh ta có để lại thư không?
— Có. Cho luật sư Buyxông.
— Nội dung thế nào?
— Nói chung, anh ta nói rằng anh ta vô tội.
— Tôi sẽ gọi điện cho bệnh xá vào cuối ngày. Cảm ơn đã báo tin cho tôi.
Tôi không thể ngăn nổi nghi ngờ lòng thành thật của Ê-ma-nuy-en Fo. Ngón bịp chăng? Anh ta là bác sĩ, hẳn anh ta biết liều lượng gây chết người. Người ta sẽ không bao giờ biết con số chính xác những viên thuốc mà anh ta đã uống. Và trong cái lợi của sự nghi ngờ, việc toan tự tử này là một điểm tốt đối với anh ta. Đó là lời tôi giải thích cho Pôn lúc anh ta trở về với hai bàn tay trắng.
— Lạy Trời! - Anh ta nói - Tôi đã quên bánh mì kẹp nhân của bà. Chờ một chút, tôi chạy ào đi…
— Khỏi cần. Vì chúng ta sẽ không được bác sĩ Fo đến thăm, tôi có đủ thời gian đi nhấm nháp ổ bánh mì nướng kẹp giăm bông, phó mát và thư giãn.
— Đúng thế ư?
— Đúng thế. Anh hãy đi lấy thư. Dưới một giờ tôi trở lại.
Ưu tiên số một cho Caretxơ. Tôi đã đón nó tại nhà người gác cổng và nó quay vòng theo thói quen. Vào lúc tôi sắp lại dắt nó vào nơi nó chờ, nó ngước cặp mắt thống thiết nhìn tôi làm tôi mềm lòng nên tôi dẫn nó tới quán cà phê mà tôi sẽ ăn trưa. Khi mở cửa, tôi nhận thấy Fabrixơ Buyxông ngồi trước quầy, tay cầm cốc rượu cô nhắc. Anh mỉm cười với tôi.
— Ông làm gì ở đây? - Tôi hỏi.
— Tôi phải dừng bữa ăn mà tôi mới bắt đầu ăn với bố tôi thì ông được gọi tới bệnh viện vì bác sĩ Fo định tự tử. Bà có tin tức gì không?
— Tôi nghĩ rằng ông ta sẽ được cứu thoát.
Sau khi gọi ổ bánh mì nướng kẹp giăm bông phó mát, tôi ngồi vào bàn và mời Fabrixơ đến ngồi đối diện với tôi. Caretxơ đã nằm ở dưới chân tôi.
— Khi tôi còn trẻ hơn, bà gọi tôi là “anh” - Fabrixơ nhận xét.
— Ông hồi ấy là một đứa trẻ. Ngày nay ông sắp là tiến sĩ Luật.
— Nhưng tôi luôn là một đứa trẻ.
Tôi cười về đôi vai rộng, đôi bàn tay cứng cáp, vóc dáng cao lớn và bộ mặt rậm râu cạo không kỹ của anh ta.
— Tôi biết hết về ông, Fabrixơ ạ.
— Hết ư? Cái đó làm tôi ngạc nhiên đấy.
Giọng nói hầu như khiêu khích nhưng lập tức Fabrixơ cười ròn dễ thương làm tôi nhớ tới chàng thiếu niên say mê tôi mười năm trước.
Khi tôi gọi gã trai hầu bàn đem cho tôi cà phê thì anh lại gọi một cốc cô nhắc nữa. Điều đó làm tôi ngạc nhiên nhưng tôi không nhận xét gì.
— Cuộc sống tình cảm của anh thế nào? - Tôi hỏi.
— Ta trở lại “anh, tôi chứ”?
— Vì tình yêu ư? Chỉ vì tình yêu thôi.
— Tình yêu với những người cao và những người thấp - Anh nói rõ - Người tình của tôi thật kỳ khôi.
Hẳn anh ta biết rằng tôi biết đó là Letxli Menxphin, nhưng anh ta tránh thốt lên cái tên ấy.
— Mọi phụ nữ đều thế cả - Tôi nói.
— Ở những mức độ khác nhau. Cô gái đang nói đến ở ngang tầm.
— Anh đau khổ à?
— Phải chăng tôi có vẻ ấy?
Tôi nói không nhưng không tin chắc. Và như để làm cho tôi hiểu rằng việc đó không thích hợp, Caretxơ liền gầm gừ.
— Nằm im dưới bàn!
— Tôi không thích chó - Fabrixơ nói.
— Đó là quyền của anh.
Anh ta thu lấy những vé để thanh toán tiền và dù tôi phản đối, anh ta khẩn khoản:
— Bố tôi sẽ không tha thứ cho tôi đã không mời bà, thưa bà thẩm phán.
— Bố ông thuộc trường phái cũ. Không phải ông.
— Xin bà đừng tin điều đó. Tôi muốn lấy vợ, xây dựng một gia đình và trở thành một quan toà đáng kính. Nếu tôi hai mươi tuổi vào tháng Năm năm sáu mươi tám, thì những tên đĩ đực nhỏ bé sẽ không được tính trong số chúng. Em gái tôi là Matinđơ sống ngoài lề xã hội hơn tôi. Vả lại, nó nghiện ma tuý.
— Việc đó hẳn không đi xa.
— Có chứ. Nhưng xin đừng nói chuyện này với Bố tôi, ông ấy sẽ giết nó.
Tôi cười trong lúc biểu lộ một nỗi khó chịu mơ hồ. Vì sao lại có chuyện tâm sự này về Matinđơ? Anh ta tìm cái gì? Trong gia đình Buyxông, kẻ được nuông chiều, yêu quý nhất là anh ta. Anh ta muốn trả thù ai và về cái gì?
— Tôi cần quay lại địa ngục trần gian - Tôi nói.
— Còn tôi, tôi có cuộc hẹn với chủ nhiệm luận án của tôi. Xin gửi lời chào của tôi tới bố bà và nói với ông rằng tôi luôn ngưỡng mộ tài năng của ông.
Anh ta vừa đi khỏi thì tôi gặp bố tôi từ Toà án bước ra.
— Con đi mò mẫm đấy à - Bố tôi nói - Hoan hô. Việc tiến triển chứ?
— Đó chỉ là Fabrixơ Buyxông.
— Bố vừa nhận ra. Anh ta béo ra, phải không?
— Anh ta thích rượu cô nhắc, có lẽ hơi quá.
Tôi báo cho ông ý định tự tử của Ê-ma-nuy-en Fo và tôi hoài nghi sự thành thật của người bác sĩ phẫu thuật trẻ. Ông thở dài, ông đang vội. Tôi ôm hôn ông và ông vuốt ve con Caretxơ.
— Tối mai về nhà ăn cơm nhé. Chúng ta sẽ nói tới chuyện này - Ông nói trong lúc bước hẳn vào trong xe của ông.
Trong khoảng hai giờ, tin tức về Ê-ma-nuy-en Fo chuyển từ lạc quan tốt đẹp nhất tới bi quan lập lờ. Thật quá đáng và điên rồ, không thể nói chuyện với các bác sĩ chăm sóc cho can phạm. Chỉ có một y tá muốn trả lời tôi.
Vào năm giờ, tôi để hồ sơ của tôi ở đó để đến Bệnh viện. Họ không nói rằng họ sẽ để tôi gặp Fo nhưng tôi muốn có được những tin tức đúng đắn. Tôi may mắn gặp được bác sĩ Hâyrô mà tôi quen biết trong hành lang và ông đưa tôi đến bệnh xá là nơi can phạm của tôi bị cách ly trong một phòng, anh ta vừa tỉnh.
— Anh ta thoát khỏi vụ này - Hâyrô nói - nhưng điên gàn, suy dinh dưỡng. Anh ta sút năm ki-lô kể từ khi bị bắt giam. Chúng ta hãy để cho anh ta hồi phục sức khoẻ.
— Ông có nghĩ rằng đây là một màn kịch không?
— Không. Bác sĩ Fo rất suy nhược. Anh ta đã trượt xuống con dốc định mệnh. Chúng ta lẽ ra phải ngờ và chú ý hơn tới chuyện này.
Đây là lần đầu tiên tôi nghe loại tự lên án mình về phía một bác sĩ. Tôi nói với ông điều này và ông nhún vai.
— Chúng tôi trông có nhiều người, nhóm người chưa tốt, những y tá làm hết khả năng của họ. Bà lại đây. Dưới một tuần nữa, bà có thể lại thẩm vấn bác sĩ Fo.
Nếu anh ta chết… Tôi hầu như không dám nghĩ tới chuyện này trong khi tôi bước đến xe của tôi. Vụ án thối tha. Không ai tặng quà cho tôi, ngay cả thẩm phán thay biện lý đã để lại tin ở máy trả lời điện thoại của tôi để tôi gọi cho ông ấy tại nhà.
Tôi chậm làm việc đó. Tôi ghét cái gã Giăng Rênha có giọng nói dịu dàng và những ý kiến độc địa. Ông ta chỉ có đổ lỗi cho anh trong lúc chào anh.
Chuẩn bị cái ăn cho Caretxơ, mặc quần áo thể thao để chạy thể dục, chỉ dùng để thoải mái tại nhà, uống một cốc bia không có cồn trong lúc hút một điếu thuốc lá, tôi sẵn sàng đương đầu với Rênha.
— Xin chào bà thẩm phán - ông ta nói với giọng đáng ghét - Những tin tức cuối cùng là gì?
— Ê-ma-nuy-en sẽ thoát khỏi. Tôi đã gặp bác sĩ của anh ta và bản thân anh ta.
— Bà gặp may đấy - Ông ta nói - Đã có chuyện gì xảy ra?
— Không có gì. Thẩm vấn theo thông lệ thôi.
— Có lẽ hơi tiến triển chứ?
— Bình thường.
— Tôi đã gặp luật sư Buyxông cuối ngày. Ông ta thấy bà đặc biệt kiên trì.
— Ông ta thích một lễ sinh hơn phải không? Dù sao, tính từ này gửi cho ông ta hơn là cho tôi.
— Bà đang cắn rứt, bà thân mến ạ. Không phải tôi sẽ trách cứ bà điều đó.
Thế nhưng đó là việc ông ta đang làm. Nhưng tôi không nhấn mạnh.
— Bà làm với Fo đến đâu rồi? - Ông ta hỏi.
— Nguyên trạng. Tôi thấy động cơ vẫn luôn kém mạnh mẽ.
— Bà chắc không có hoảng hốt, cả kinh hoàng nữa chứ. Gã đàn ông trẻ này có thần kinh yếu đuối, anh ta không ngừng chứng tỏ điều này. Bà tính khi nào khép lại hồ sơ của bà?
— Sau khi lại nghe anh ta cũng như những nhân chứng chính.
— Luật sư Buyxông bị dồn ép, ông ấy nói với tôi thế.
Dồn ép! Như thể nó thuộc một vấn đề không quan trọng mà ông ta định giải quyết trước khi chuyển sang những sự việc nghiêm trọng. Cuộc đời một con người chỉ có thế. Nhưng đối với Buyxông, có khả năng với kinh nghiệm và lề thói quen thuộc, con người ẩn lánh sau hồ sơ. Lẽ ra ông ta phải chuẩn bị sự bảo vệ của mình và cần thích ứng với nó. Nỗi buồn phiền trong tất cả chuyện này là Buyxông và Rênha có những mối quan hệ bạn bè vững chắc. Công lý cũng có những sự cười nhạo mình.
— Tôi không muốn làm qua quít hồ sơ này - Tôi nói.
— Không có vấn đề làm qua quít, thưa bà thân mến, nhưng không nên kéo dài quá đáng.
— Lỗi tại ai? Biểu lộ rõ là luật sư Buyxông đã không biết bảo đảm an toàn cho thân chủ của mình. Nếu Fo đã toan tính tự tử…
— Thưa bà thẩm phán! Vấn đề không phải ở đó. Tôi nhắc lại là hồ sơ này kéo dài và cần phải khép lại. Báo chí bắt đầu cười khẩy đấy.
— Được, thưa ông, tôi sẽ ra sức làm. Xin chào ông.
Tôi đã gác máy trước ông ta. Tôi sợ đã trở nên thô lỗ. Con người này làm tôi tức tối, khó chịu. Tôi phải làm gì để bình tĩnh đây? Ăn tối ư? Tôi không đói. Lại ghi chép ư? Hoặc gọi lại Letxli Menxphin cũng đã nhắn tin trên máy điện thoại của tôi? Thế nào mà cô ấy có số điện thoại của tôi? Hẳn là do Fabrixơ Buyxông. Anh ta không thể từ chối cô ấy điều gì. Cô ấy đã để lại hai số điện thoại: tại nhà mẹ cô và ở căn hộ một phòng của cô. Tôi bắt đầu gọi số máy thứ hai và cô lập tức nhấc máy.
— Xin cảm ơn đã trả lời tôi nhắn gọi, tôi cần gặp bà.
Cô nói kèm hơi thở như thể cô quá kiệt sức không sử dụng nổi bộ phổi của mình.
— Ngày mai mời cô đến văn phòng của tôi không cần giấy triệu tập. Tôi sẽ tiếp cô vào cuối buổi sáng. Vả lại tôi cũng muốn gặp cô.
— Bà không hiểu, đây là chuyện riêng. Tôi không muốn viên lục sự của bà dự vào cuộc nói chuyện của chúng ta.
— Đúng ra, cô muốn gì?
— Gặp bà, tôi đã nói với bà rồi. Gặp riêng, nếu có thể được.
Việc này không phải không thể được nhưng thật phiền cho tôi. Theo nguyên tắc, tôi không có quyền tiếp chuyện riêng tại văn phòng.
— Có một quán rượu cách nhà tôi vài bước chân, quán ánh chớp, gần quảng trường Etxtra-pat. Nửa giờ nữa tôi sẽ có mặt ở đó.
— Xin cảm ơn.
Thời gian chỉ đủ nhấm nháp một quả cà chua vừa nhìn những bản tin trên truyền hình và kết thúc là ăn một miếng phó mát. Tôi sẽ đưa Caretxơ đi để bảo vệ tôi chống lại những kẻ bất lương ở chỗ nào đó.
Ý thức được không nên rất chính thống trong thái độ của mình, tôi gặp Letxli Menxphin và gọi một tách cà phê. Mặt cô tái xanh nhưng lần đầu tiên tôi thấy rất hấp dẫn. Cô mặc bộ đồ nữ màu xanh nước biển ra ngoài chiếc sơmi trắng mở rộng ở chiếc cổ mảnh dẻ. Chúng tôi hút thuốc. Khi tách cà phê được đặt trước mặt tôi, cô liền nói:
— Đối với Ê-ma-nuy-en, tôi hiểu. Anh ấy tuyệt vọng nhưng tôi tin chắc anh ấy không giết bố dượng tôi.
— Niềm tin loại nào?
Cô ngước cặp mắt đầm đìa nước mắt nhìn tôi và dụi nát điếu thuốc lá vào chiếc đĩa đựng cốc côca của cô.
— Bà nói sao? Một kẻ nào đã giết Patric nhưng không phải Ê-ma-nuy-en.
— Tên của kẻ nào đó?
— Vấn đề là ở đó - Cô lẩm bẩm - Thứ nhất, tôi không muốn tố giác. Thứ nhì, cho dù tôi có nói với bà một tên thì tôi cũng không có nhiều chứng cứ.
Tôi không phải là cảnh sát.
— Nhưng cô yêu bác sĩ Fo.
Im lặng. Chủ quán, một người đàn ông trẻ và tươi tỉnh, luồn một cái đĩa vào máy hát tự động, tưởng rằng làm vui lòng chúng tôi vì chỉ có hai chúng tôi trong phòng.
Trong khi giọng hát của Frang Sinatra vọng ra từ chiếc máy hát thì Letxli vừa châm một điếu thuốc lá nữa vừa hít nhẹ.
— Yêu hay không, tôi thấy rõ.
— Nhưng không đủ để nói ra một tên người.
— Tôi đã nói với bà: đây không phải là việc của tôi.
— Vậy cô chờ đợi gì ở tôi?
— Mong bà hãy để mắt tới chỗ khác. Cuộc điều tra của cảnh sát đã làm cẩu thả.
Cô có lý nhưng không phải tôi nói với cô điều đó.
— Hãy cho tôi một điều chỉ dẫn, tôi sẵn sàng tin cô. Những chứng cứ chống lại Ê-ma-nuy-en Fo là vững chắc, cô hẳn biết rõ. Để có được một cuộc điều tra bổ sung, cần phải có những dấu hiệu nghiêm chỉnh.
Letxli thốt lên một tiếng thở dài mạnh trong lúc vặn mình trên ghế. Tiếng hát của Frang Sinatra ngừng bặt. Tôi ra hiệu cho người chủ quán niềm nở đừng mở nhạc nữa. Âm nhạc sẽ không làm cho thói quen của chúng tôi giảm bớt.
— Tôi… Tôi không thể - Cô nói.
— Vì sao?
Cô gọi một cốc côca nữa, rõ ràng cô bị khô cổ.
— Tôi hơi sợ.
— Nếu chỉ hơi thôi - Tôi tươi tỉnh nói - Cô có thể thổ lộ với tôi và với thẩm phán thẩm cứu mà tôi đại diện khi tôi ở văn phòng của tôi. Chính cô đã gọi điện cho tôi. Tôi cho rằng Fabrixơ Buyxông đã cho cô số máy điện thoại riêng của tôi. Tôi có tên trong danh sách đỏ.
— Không, không phải Fabrixơ.
Mỗi lúc cô càng tái nhợt hơn, như thể cô sắp ngất xỉu đến nơi.
— Cô cảm thấy khoẻ chứ? Ai đã cho cô số điện thoại của tôi?
— Tôi không thể nói ra điều này.
Cô bắt đầu làm tôi tức giận. Cô có hiểu điều này không? Cô nói thêm rất nhanh.
— Tôi xin bà đừng giận tôi. Tình thế của tôi rất nguy kịch. Liệu tôi có thể có được giấy phép để đến thăm Ê-ma-nuy-en không?
— Không.
— Tôi nghi ngại cho anh ấy. Hẳn anh ấy cảm thấy rất cô đơn và nghĩ rằng tôi bỏ rơi anh ấy.
— Bố mẹ anh ta đã đến thăm anh ta. Cô có thể viết thư cho anh ta.
Cô nói đồng ý và xoắn hai bàn tay. Cô vừa tròn mười tám tuổi.
— Việc học của cô đến đâu rồi?
— Yếu lắm. Tôi chỉ nghĩ tới anh ấy. Anh ấy không phải là thủ phạm.
— Cô hãy chứng minh.
— Đó là việc của bà, không phải là của tôi - Cô nói thêm trong hơi thở - Tôi tuyệt vọng.
— Cô bi kịch hoá đấy.
— Ồ không! Không cần đến tôi để bi kịch hoá. Bi kịch là ở đó, khủng khiếp.
— Hãy cho tôi một chỉ dẫn.
— Đó là… có lẽ nó đang nằm trong hồ sơ. Có lẽ bà có vài yếu tố trong hồ sơ.
Tôi nghĩ tới Stêphan Đatxlơ, cả anh ấy nữa cũng bảo tôi đọc hồ sơ. Nhưng rõ ràng tôi không biết đọc.
— Đã muộn rồi - Tôi nói - Tôi phải chia tay cô thôi. Khi cô cảm thấy tự tin hơn, hãy gọi cho tôi.
Cô khẩn khoản để cô trả tiền uống rồi yêu cầu tôi có thể cùng Caretxơ đưa cô đến bến tắc-xi được không.
— Cô sợ gì?
Cô không trả lời ngay và chúng tôi cùng bước đến quảng trường Păngtêông. Không có chiếc tắc-xi nào.
— Dưới kia - Tôi nói - Gần quảng trường Etmông-Rôtxtăng. Tôi sẽ đưa cô đến đấy.
— Lúc đi, tôi đi xe điện ngầm và tôi có cảm giác bị theo dõi.
— Cô có nhận ra người theo dõi cô không?
— Không. Bởi vì người đó lẩn mặt khi tôi quay lại nhìn.
— Ảo ảnh thôi.
— Có thể - Cô nói - Từ ít lâu nay tôi rất bồn chồn.
Tôi mở cửa chiếc xe Mecxêđet cho cô.
— Hãy gọi điện cho tôi khi cô có thể hơi biết rõ hơn.
Ngồi ở cuối xe, cô có vẻ một đứa trẻ mồ côi. Một cái vẫy tay và chiếc tắc-xi khởi động máy. Đêm tối rất dịu với những hương vị mùa hè thật non trẻ. Tôi lững thững trở về nhà cùng với Caretxơ. Tương lai không sáng sủa gì.