Người Chuyển Tàu

Lượt đọc: 832 | 1 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương một
dành tặng w. h. auden

Ấn tượng đầu tiên của tôi là đôi mắt người lạ kia mang một sắc xanh nhạt bất thường. Chúng chạm ánh mắt tôi trong vài giây, trống rỗng, hoang hoải, rõ ràng là đang sợ hãi. Thảng thốt và ngây thơ vô số tội, chúng thoáng gợi nhắc tôi tới một sự kiện mà tôi không thể định rõ; một điều gì đó đã xảy ra lâu lắm rồi, mãi từ hồi học trung học. Chúng là đôi mắt của một cậu học sinh sửng sốt khi đã vi phạm nội quy. Rõ ràng, tôi chẳng bắt quả tang được ông điều gì ngoài chính những suy nghĩ của ông: có lẽ ông tưởng rằng tôi có thể nhìn thấu chúng. Bất luận thế nào thì có vẻ như ông đã không nghe thấy hoặc nhìn thấy tôi bước đến chỗ ông trên toa tàu, vì ông giật bắn mình khi vừa nghe giọng của tôi; dữ dội tới mức vẻ rúm ró lo lắng của ông dội ngược lại tôi như tiếng vọng. Theo bản năng, tôi lùi lại một bước.

Cảm giác giống hệt như thân thể chúng tôi vừa đụng vào nhau trên phố. Cả hai đều bối rối, cả hai đều sẵn sàng xin lỗi. Mỉm cười, lo lắng trấn an ông, tôi nhắc lại câu hỏi của mình: “Ngài có thể cho tôi châm nhờ điếu thuốc được chứ?”

Kể cả lúc này, ông cũng không trả lời ngay. Có vẻ như ông đang mải mê làm phép tính nhẩm nào đó, những ngón tay lo lắng giật liên hồi, nguệch ngoạc những đường tròn mông lung trên chiếc áo gi-lê. Thoạt nhìn, tựa hồ như ông chuẩn bị cởi áo, rút khẩu súng lục, hoặc đơn giản là muốn đảm bảo tôi đã không thó tiền của ông. Rồi giây phút kích động lướt khỏi ánh nhìn của ông, như gợn mây trôi, trả lại bầu trời quang đãng. Cuối cùng ông đã hiểu điều tôi muốn: “Vâng, vâng. Ờm - dĩ nhiên là được. Dĩ nhiên.”

Vừa nói ông vừa khẽ chạm đầu ngón tay vào thái dương bên trái, húng hắng rồi đột nhiên mỉm cười. Nụ cười của ông rất có sức hút.

“Dĩ nhiên rồi,” ông nhắc lại. “Rất hân hạnh.”

Một cách tao nhã, ông nhón tay lục tìm trong túi áo gi-lê của bộ vét xám phẳng phiu có vẻ đắt tiền, rút ra một chiếc bật lửa màu vàng. Đôi bàn tay của ông trắng, nhỏ và được tỉa móng gọn ghẽ.

Tôi mời ông thuốc lá.

“Ờm… cảm ơn cậu. Cảm ơn.”

“Mời ngài châm trước.”

“Ấy thôi, thôi. Mời cậu.”

Ngọn lửa bé xíu trên chiếc bật lửa chập chờn giữa chúng tôi, mong manh như bầu không khí khách sáo quá đỗi giữa đôi bên. Chỉ cần một hơi thở nhẹ cũng đủ làm dập tắt thứ này, chỉ một cử chỉ hay câu từ xuề xòa cũng có thể phá tan thứ kia. Cả hai điếu thuốc giờ đã được châm. Chúng tôi ai lại về chỗ nấy. Người lạ kia vẫn đang ngờ vực tôi. Ông vẫn đang băn khoăn liệu mình đã đi quá trớn, đã tự đẩy mình về phía một gã nhàm chán hoặc một tay lừa lọc. Tâm hồn rụt rè của ông chực chờ ngơi nghỉ, về phần mình, tôi chẳng có gì để đọc. Tôi tiên lượng một hành trình câm lặng tột cùng kéo dài bảy, tám tiếng. Tôi quyết tâm nói chuyện.

“Ông có biết khi nào chúng ta tới biên giới không?”

Nhìn lại đoạn hội thoại, câu hỏi này với tôi dường như chẳng hề có chút bất thường. Đúng là tôi chẳng quan tâm tới câu trả lời; tôi chỉ đơn thuần muốn hỏi một cái gì đó có thể mào đầu cuộc tán gẫu, và đồng thời không quá thóc mách hay sỗ sàng. Tác động của câu hỏi lên người lạ kia thật đáng kể. Chắc hẳn tôi đã khiến ông hứng thú. Ông liếc nhìn tôi hồi lâu, vẻ cổ quái, khuôn mặt ông dường như căng cứng đôi chút. Đó là cái nhìn của tay chơi bài xì tố đột nhiên phán đoán đối thủ của gã đang nắm tay bài thùng phá sảnh* và rằng gã tốt hơn hết là nên cẩn thận. Hồi lâu ông mới đáp lời, từ từ và thận trọng: “Tôi e là tôi không thể nói cho cậu chính xác được. Khoảng một giờ nữa, tôi nghĩ thế.”

Ánh mắt của ông, trong giây lát trống rỗng, lại trở nên mù mịt. Một suy nghĩ khó chịu dường như đang trêu chọc ông như con ong vò vẽ; ông khẽ nghiêng đầu tránh nó. Rồi ông nói thêm, u ám đến bất ngờ: “Mấy cửa khẩu kiểu này… đúng là phiền toái kinh khủng.” Tôi không chắc nên đón nhận lời này như thế nào. Tôi chợt nghĩ có lẽ ông là một người theo chủ nghĩa quốc tế ôn hòa; một thành viên của Hội Quốc Liên*. Tôi đánh liều: “Chúng nên bị dẹp bỏ.”

“Tôi khá nhất trí với cậu. Thực sự nên thế.” Rõ ràng ông ta đang tỏ ra thân thiện. Ông có chiếc mũi tròn ủng và một chiếc cằm có vẻ bị lệch, giống như cái đàn concertina bị hỏng. Khi ông nói, nó giật dúm lại vô cùng kì quặc và vết cằm chẻ sâu hoắm như một vết thương đột nhiên xuất hiện lệch một bên. Phía trên gò má đỏ lựng của ông, vầng trán trắng loáng góc cạnh như đá cẩm thạch. Tóc mái màu muối tiêu cắt lem nhem vắt ngang, gọn, dày và nặng. Sau một hồi ngắm nghía, tôi nhận ra, với niềm hưng phấn cao độ, rằng ông ta đang đội tóc giả.

“Nhất là ba cái trò hành chính quan liêu,” tôi tiếp bước thắng lợi, “kiểm tra hộ chiếu, đại loại thế.”

Nhưng không. Câu này không ổn. Tôi ngay lập tức nhận ra từ vẻ mặt của ông rằng mình vừa gẩy một nốt nhạc chối tai. Chúng tôi đang nói thứ ngôn ngữ na ná nhưng khác biệt. Vậy mà lần này phản ứng của người lạ kia lại không phải là ngờ vực. Ông hỏi, với vẻ thẳng thắn khó hiểu và tò mò không giấu diếm: “Đã bao giờ cậu gặp vấn đề ở đây chưa?” Bản thân câu hỏi không khiến tôi thấy kì lạ bằng chính giọng điệu hỏi của ông. Tôi mỉm cười giả lả. “Ô không. Ngược lại thì đúng hơn. Thường họ đâu có thèm mở cái gì, còn hộ chiếu của ông họ chẳng thèm nhìn qua.”

“Thật mừng khi cậu nói thế.”

Ông chắc hẳn đã đọc thấy trên mặt tôi những gì tôi đang nghĩ, vì ông vội vã tiếp lời: “Có thể tôi hơi nực cười, nhưng tôi rất ghét bị quấy rầy và làm phiền.”

“Dĩ nhiên. Tôi hiểu.”

Tôi nhe răng cười, bởi tôi vừa đi đến một lời giải thích thỏa đáng cho hành vi của ông ta. Ông bạn già này đang dính vào một phi vụ buôn lậu nho nhỏ vô hại. Có lẽ là một mảnh lụa cho vợ hoặc một hộp xì gà cho bạn. Và dĩ nhiên, ông đang bắt đầu thấy sợ. Rõ ràng nom ông dư sức trả bất kì khoản thuế nào. Đám nhà giàu quả là có những sở thích lạ lùng.

“Vậy là ông chưa bao giờ đi qua cửa khẩu này?” Tôi cảm thấy bản thân tử tế, bảo bọc và trịch thượng. Tôi sẽ động viên ông, và nếu tình hình tệ quá thì phím trước cho ông mấy lời nói dối hợp lý để làm mềm lòng nhân viên hải quan.

“Mấy năm gần đây thì không. Tôi thường di chuyển nội trong nước Bỉ. Vì nhiều lý do. Vâng.” Ông lại có vẻ mơ hồ, im tiếng, và nghiêm trang gãi cằm. Đột nhiên, có thứ gì đó dường như thôi thúc ông nhận thức sự có mặt của tôi: “Có lẽ theo thủ tục thì tôi nên tự giới thiệu. Arthur Norris, người Gent. Tôi sống tự lập, nhờ vào thu nhập từ bất động sản.” Ông cười khúc khích vẻ lo lắng, rồi đột ngột thốt lên cảnh báo. “Xin đừng đứng dậy.”

Nếu muốn bắt tay mà không di chuyển thì xa quá. Chúng tôi đành thỏa hiệp bằng một cái cúi người lịch sự từ chỗ ngồi.

“Tôi là William Bradshaw,” tôi nói.

“Ôi trời, đừng nói cậu là người nhà Bradshaw ở Suffolk đấy nhé?”

“Tôi đồ rằng đó chính là nhà chúng tôi. Trước Chiến tranh*, chúng tôi sống ở Ipswich.”

“Thế bây giờ thì sao? Cậu còn sống ở đấy không? Có lần tôi từng sống cùng với một bà tên là Hope-Lucas. Bà ấy có ngôi nhà đáng yêu gần Matlock. Bà ấy mang họ Bradshaw trước khi kết hôn.”

“Vâng, đúng vậy. Đó là bà dì Agnes của tôi. Bà mất bảy năm trước rồi.”

“Vậy sao? Ôi, ôi. Tôi rất lấy làm tiếc… Dĩ nhiên, tôi quen bà từ khi tôi còn là thanh niên; lúc đó bà ấy đã trung niên rồi. Với lại nhắc cho cậu khỏi quên, tôi đang nói hồi năm 98* ấy.”

Từ nãy đến giờ tôi ngấm ngầm soi xét mái tóc giả của ông. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy mái tóc giả nào được làm khéo đến thế. Phía sau gáy, nơi tóc giả tóc thật được chải lẫn với nhau, trông thật hài hòa. Chỉ có phần rẽ ngôi là khiến nó bại lộ, mà thực ra nhìn từ cách xa ba, bốn mét thì cũng không quá kệch cỡm.

“Thật là…” Ông Norris trầm tư. “Ôi chao, đúng là trái đất tròn.”

“Chắc ông chưa từng gặp mẹ tôi? Hay cậu tôi, ngài đô đốc?”

Lúc này tôi đành hạ cố chơi bài quan hệ. Nó tẻ nhạt nhưng thư giãn, lại có thể kéo dài hàng giờ. Chưa gì tôi đã thấy cả chuỗi những nước đi ngon ăn phía trước - các cậu, các dì, anh em họ, đám cưới của bọn họ, gia tài của bọn họ, thuế thừa kế, tài sản thế chấp, doanh số. Rồi tới trường tư thục và đại học, so sánh về đồ ăn, trao đổi giai thoại về những chuyên gia, các trận đấu nổi tiếng và những cuộc đua thuyền trứ danh. Tôi biết đích xác chủ đề nào phải nói bằng giọng lưỡi nào.

Nhưng, ngạc nhiên thay, rốt cuộc ông Norris không có vẻ muốn chơi trò này. Ông vội vã đáp lời. “Tôi e là không. Không. Kể từ cuộc chiến, tôi mất liên lạc với kha khá bạn bè người Anh. Vì công chuyện làm ăn nên tôi đi nước ngoài suốt.”

Cụm từ “đi nước ngoài” khiến cả hai chúng tôi tự nhiên ngó ra ngoài cửa sổ. Hà Lan đang trôi qua tầm nhìn của chúng tôi êm đềm như cơn mơ sau bữa tối: một vùng đất lầy bình lặng, bao quanh là tuyến xe điện chạy dọc bờ đê.

“Ông biết đất nước này rõ không?” Tôi hỏi. Kể từ khi nhận ra bộ tóc giả, tôi nhận thấy không thể nào tiếp tục gọi ông là ngài. Vả lại, nếu ông ấy có đội nó lên để nom trẻ trung hơn thì cũng thật vô ý vô tứ khi cứ cố chấp nhấn mạnh sự chênh lệch tuổi tác giữa chúng tôi.

“Tôi biết Amsterdam khá rõ,” ông Norris len lén gãi cằm. Ông có cái kiểu vừa gãi vừa hé môi như thể đang cau có bất mãn, nhưng lại không hung bạo, tựa như con sư tử già trong chuồng. “Khá rõ, đúng thế.”

“Tôi cũng muốn đến đó lắm. Chắc hẳn rất tĩnh lặng và yên bình.”

“Trái lại, tôi có thể đảm bảo với cậu rằng đó là một trong những thành phố nguy hiểm nhất châu Âu.”

“Thật sao?”

“Đúng thế đấy. Gắn bó sâu đậm với Amsterdam, tôi vẫn luôn cho rằng nó có ba điểm trừ chí mạng. Thứ nhất, cầu thang trong nhiều ngôi nhà quá dốc đến mức phải là một tay leo núi chuyên nghiệp mới có thể leo thang mà không bị trụy tim hoặc gãy cổ. Thứ hai, đám đi xe đạp. Bọn này hăm hở đạp khắp thành phố rồi lấy đó làm tự hào mà không thèm quan tâm tới mạng người. Mới sáng nay thôi tôi vừa thoát chết trong gang tấc. Và thứ ba, kênh đào. Vào mùa hè, cậu biết không… hôi thối không chịu được, ôi, thối đến phát mửa. Có kể cả ngày cũng chẳng hết. Hàng tuần giời không lúc nào tôi không đau họng.”

Đến lúc chúng tôi tới Bentherim, ông Norris đã trình bày hẳn một bài diễn thuyết về những bất lợi của hầu hết các thành phố lớn ở châu Âu. Tôi kinh ngạc khi biết ông đã chu du nhiều đến thế. Ông đã chịu đựng bệnh thấp khớp ở Stockholm và hạn hán ở Kaunas; ở Riga ông buồn chán, ở Warsaw ông bị đối xử khiếm nhã tột cùng, ở Belgrade ông không thể mua được nhãn hiệu kem đánh răng ưa thích. Ở Rome ông bị côn trùng quấy phá, ở Madrid ông bị ăn xin vòi vĩnh, ở Marseilles ông khó chịu vì tiếng còi xe taxi. Ở Bucharest ông đã có trải nghiệm vô cùng khó chịu với cái cầu tiêu. Ở Constantinopole ông thấy xa xỉ và nhạt nhẽo. Hai thành phố duy nhất ông cực kì khen ngợi là Paris và Athens. Đặc biệt là Athens. Athens là thánh địa của ông.

Tới giờ, con tàu đã dừng lại. Những người đàn ông mập mạp tái nhợt trong bộ đồng phục xanh dương đi tới đi lui trên sân ga với vẻ nhàn nhã có phần thâm hiểm, làm nên phong thái quan chức ở các ga cửa khẩu. Họ chẳng khác gì những kẻ giám ngục. Tựa hồ như chúng tôi không một ai được phép đi xa hơn.

Từ phía cuối hành lang toa tàu, một giọng nói vang lên: “Deutsche Pass-Kontrolle*.”

“Tôi cho rằng,” ông Norris duyên dáng mỉm cười với tôi, “một trong những kí ức dễ chịu nhất của tôi chính là những buổi sáng đi dạo quanh đường phố cổ kính phía sau Đền Theseus.”

Ông cực kì lo lắng. Bàn tay trắng mảnh mai không ngừng múa máy với chiếc nhẫn trên ngón út; đôi mắt xanh lam bất an của ông liên tục nheo lại nhìn về phía hành lang. Giọng ông vang lên giả tạo và the thé trong sự hân hoan gượng ép, giống như giọng của một nhân vật trong vở hài kịch tiền chiến. Ông nói to tới mức người ở khoang bên cạnh cũng phải nghe thấy.

“Người ta sẽ tình cờ bắt gặp những chi tiết nho nhỏ kì thú. Một cột trụ đứng đơn độc ngay giữa một đống rác…”

Deutsche Pass-Kontrolle. Tất cả các hộ chiếu.”

Một cán bộ xuất hiện ở cửa toa của chúng tôi. Giọng anh ta làm ông Norris nhảy dựng lên, khẽ khàng nhưng lộ liễu, sốt sắng câu cho ông thêm chút thời gian bình tĩnh, tôi vội vã chìa hộ chiếu của mình ra. Y như tôi nghĩ, nó chẳng thèm được ngó tới.

“Tôi đang đi tới Berlin,” ông Norris nói, đưa hộ chiếu cùng nụ cười duyên dáng; thực sự duyên dáng tới mức hơi quá. Tay cán bộ kia không phản ứng. Anh ta gầm gừ, lật giở các trang với vẻ hứng thú rõ nét, rồi cầm cuốn hộ chiếu đi ra ngoài hành lang, giơ nó lên phía ánh sáng ở cửa sổ.

“Đáng nói là,” ông Norris nói với tôi, “cậu sẽ chẳng tìm thấy một tác phẩm văn chương kinh điển nào nhắc tới ngọn đồi Lycabettos.”

Tôi sửng sốt quan sát trạng thái của ông; những ngón tay vặn xoắn và giọng nói hầu như mất kiểm soát. Vầng trán cẩm thạch lấm tấm mồ hôi. Nếu đây là cái mà ông gọi là “bị quấy rầy”, nếu đây là nỗi thống khổ mà ông phải chịu đựng mỗi khi phá luật thì chẳng trách những dây thần kinh đã khiến ông mắc bệnh hói sớm. Ông bắn tia nhìn thê lương về phía hành lang. Một cán bộ khác đã tới. Họ đang cùng nhau kiểm tra hộ chiếu, quay lưng lại phía chúng tôi. Nhưng quả là một nỗ lực anh hùng khi ông Norris vẫn giữ được giọng điệu tâm tình đầy tính thông tin.

“Mà anh biết đấy, nơi ấy từng là lãnh địa của sói.”

Tay cán bộ kia giờ đã cầm cuốn hộ chiếu. Nom như thể anh ta sẽ mang nó đi. Đồng nghiệp của anh ta đang tra một cuốn sổ nhỏ màu đen bóng. Ngẩng đầu, anh ta đột ngột hỏi: “Ông hiện đang ngụ ở số 168 đường Courbierestrasse?”

Trong giây lát tôi đã nghĩ ông Norris sắp ngất.

“À… vâng… đúng là thế…”

Như con chim trước rắn hổ mang, đôi mắt ông bị hút vào kẻ đang tra hỏi mình trong nỗi bất lực ngây dại. Người ta có khi còn tưởng ông sẽ bị bắt tại trận. Thực ra, tất cả những gì xảy ra là viên công chức đó ghi chú vào sổ, lầm bầm, rồi quay gót đi sang toa tiếp theo. Đồng nghiệp của anh ta trả lại hộ chiếu cho ông Norris và nói: “Cảm ơn ông,” lịch sự chào và đi theo sau.

Ông Norris ngồi thừ xuống chiếc ghế gỗ cứng, thở hắt ra. Trong giây lát ông dường như không nói nên lời. Rút chiếc khăn tay to bằng lụa trắng, ông bắt đầu chấm chấm lên trán, cẩn thận tránh làm lệch mái tóc giả.

“Cậu có thể rộng lòng mở cửa sổ giúp được không,” hồi lâu ông cất lời, giọng yếu ớt. “Tự dưng trong này sao mà ngột ngạt thế.”

Tôi vội vã làm theo.

“Tôi có thể lấy gì cho ông không?” Tôi hỏi. “Cốc nước nhé?”

Ông run rẩy vẫy tay gạt đi. “Cậu tốt quá… Không. Tôi sẽ ổn nhanh thôi. Tim tôi giờ không được khỏe như xưa.” Ông thở dài: “Tôi giờ đã quá già cho mấy cái chuyện này. Tất thảy mấy việc đi lại này… rất có hại với tôi.”

“Ông đừng thất vọng thế.” Lúc này tôi cảm thấy cần chở che cho ông hơn bao giờ hết. Thái độ bảo bọc thương mến này, thứ mà ông đã khơi dậy trong tôi quá ư dễ dàng và đầy nguy hiểm, sẽ tô màu cho cách xử sự của chúng tôi trong tương lai. “Mấy chuyện lặt vặt không đáng để rối trí.”

“Cậu bảo đó là chuyện lặt vặt!” Ông thốt lên, vẻ phản đối khá thảm thương.

“Dĩ nhiên rồi. Dù gì thì cũng xong xuôi trong có vài phút. Anh ta đơn giản là nhầm ông với một ai đó cùng tên.”

“Cậu thật sự nghĩ thế à?” Ông ta háo hức được trấn an như trẻ nhỏ.

“Còn cách giải thích nào khả dĩ hơn thế?”

Ông Norris có vẻ không mấy chắc chắn về việc này. Ông ngần ngừ đáp: “À thì… không, tôi đoán thế.”

“Với lại, việc này thường xuyên xảy ra mà, ông biết đấy. Những người ngây thơ nhất lại hay bị nhầm với mấy tay trộm trang sức khét tiếng. Người ta lột trần họ và sờ mó khắp người. Cứ thử nghĩ họ cũng làm thế với ông mà xem!”

“Thực sao?” Ông Norris khúc khích. “Chỉ nghĩ thôi đã thấy đỏ mặt rồi.”

Cả hai chúng tôi phá lên cười. Tôi thấy mừng vì đã giúp ông lên tinh thần. Nhưng tôi băn khoăn chuyện quái gì sẽ xảy ra khi thanh tra hải quan tới? Bởi nếu tôi đoán đúng về mấy món quà lậu thuế, đây mới là nguyên nhân chính của tất thảy nỗi lo lắng kia. Nếu hiểu nhầm chẳng đáng về cuốn hộ chiếu đã khiến ông xuống tinh thần như vậy thì chắc chắn viên hải quan sẽ làm ông lên cơn đau tim mất. Tôi tự hỏi liệu nên đề cập thẳng thắn chuyện này và đề nghị giấu mấy thứ kia vào chính va li của mình; nhưng dường như ông đang quá đỗi vui sướng mà không ý thức được bất cứ phiền toái nào sắp tới, khiến tôi chẳng có lòng dạ nào làm phiền ông.

Tôi hơi bị nhầm. Nhân viên hải quan lại có vẻ khiến Norris thoải mái. Ông không tỏ chút bất an; và cũng chẳng có thứ gì để đánh thuế trong hành lý của ông. Bằng thứ tiếng Đức trôi chảy ông cười đùa với viên hải quan về một chai nước hoa Coty cỡ lớn: “À vâng, là tôi dùng thôi, tôi có thể đảm bảo với anh. Có chết cũng không thể thiếu nó. Để tôi xịt thử một giọt vào khăn tay của anh nhé. Mùi sảng khoái lắm.”

Tóm lại tất cả đều xong xuôi. Con tàu chậm rãi leng keng tiến vào Đức. Người tiếp viên toa nhà ăn đi dọc hành lang, gõ chiếc kẻng nhỏ.

“Giờ thì, chàng trai thân mến của tôi,” ông Norris nói, “sau mấy pha báo động với tuần tra, cùng sự động viên tinh thần đáng giá nhất của cậu mà tôi cảm kích không nói nên lời, tôi hi vọng là cậu sẽ đồng ý cho tôi được vinh dự mời cậu bữa trưa.”

Tôi cảm ơn ông và nói tôi rất vui.

Khí chúng tôi ngồi thoải mái trong toa nhà hàng, ông Norris gọi một chai cognac nhỏ: “Tôi vốn có quy tắc không uống trước bữa ăn, nhưng đôi lúc cần phải có ngoại lệ.”

Món xúp được đem ra. Ông xúc một thìa đầy, và rồi gọi người tiếp viên đến, nói với anh ta bằng ngữ khí chê trách nhẹ nhàng.

“Chắc là anh cũng đồng ý rằng có quá nhiều hành?” Ông khó chịu hỏi. “Liệu anh có thể giúp tôi việc này không? Tôi muốn anh tự nếm món này.”

“Vâng, thưa ngài,” người tiếp viên đang vô cùng bận rộn đáp lời, có phần tỏ thái độ khi dọn đĩa xúp khỏi bàn. Ông Norris bị tổn thương.

“Cậu có thấy không? Anh ta không thèm nếm nó. Anh ta không thèm thừa nhận là có vấn đề. Ôi ôi, sao lại có những người thật cứng đầu!”

Tuy nhiên chỉ chốc lát sau, ông đã quên béng chút thất vọng về bản chất con người. Ông bắt đầu chú tâm nghiền ngẫm danh sách rượu.

“Để tôi xem… để tôi xem… Cậu có muốn thử rượu vang trắng của Đức không? Cậu muốn hả? Tôi nói trước là năm ăn năm thua đấy nhé. Trên tàu luôn phải chuẩn bị cho kịch bản tệ nhất. Tôi nghĩ là ta cứ nên liều một phen?”

Rượu vang được mang tới và là một thành công. Ông Norris chưa bao giờ được nếm thứ rượu vang trắng ngon như thế, kể từ bữa trưa với Đại sứ Thụy Điển ở Vienna hồi năm ngoái như ông nói với tôi. Có cả món bầu dục ưa thích của ông. “Ôi,” ông thốt lên sung sướng, “tôi thấy mình ngốn cũng kha khá rồi đấy… Nếu cậu muốn ăn món bầu dục tuyệt hảo thì nên đến Budapest. Đúng là như được khai sáng… Tôi phải nói là món này thực sự ngon, cậu có thấy thế không? Thực sự khá là ngon. Ban đầu tôi cứ tưởng mình ăn phải thứ tiêu đỏ đáng ghét, nhưng rốt cục là do tôi tưởng tượng thái quá.” Ông gọi người tiếp viên: “Phiền anh chuyển lời tới bếp trưởng rằng tôi muốn tán thưởng ông ấy vì đã nấu một bữa trưa tuyệt hảo nhé? Cảm ơn anh. Giờ thì cho tôi điếu xì gà.” Xì gà được mang tới, được ngửi, được vân vê thử giữa ngón trỏ và ngón cái. Cuối cùng ông Norris chọn điếu lớn nhất trên khay: “Gì thế, chàng trai thân mến của tôi, cậu không hút à? Ồ, nhưng đúng là nên thế. Ái chà, hay là cậu có những tật xấu khác?”

Lúc này ông đang cao hứng.

“Tôi phải nói là càng già tôi càng trân trọng những thú vui nho nhỏ trong cuộc đời này. Đại thể là, tôi đi du lịch thì phải ngồi hạng nhất. Lúc nào cũng đáng. Người ta được phục vụ chu đáo hơn hẳn. Ví dụ như hôm nay chẳng hạn. Nếu không phải vì tôi ở toa hạng ba thì họ đừng mơ làm phiền tôi. Ở đó rặt đám người Đức. ‘Cái ngữ hạ sĩ quan’, chẳng phải có ai đó gọi họ thế hay sao? Quá hay! Quá đúng…”

Ông Norris trầm tư xỉa răng hồi lâu.

“Thế hệ tôi được dạy nhìn sự xa xỉ từ góc độ thẩm mỹ. Kể từ khi Thế chiến nổ ra, người ta dường như không còn cảm thấy thế nữa. Thường họ chỉ cảm thấy ghê tởm. Họ coi thường những khoái cảm của mình, cậu không thấy sao? Thi thoảng, người ta cảm thấy mình mắc tội khi thất nghiệp và khốn khó ở khắp nơi. Tình hình ở Berlin rất tệ. Ôi, rất tệ… cậu cũng biết đấy. Theo cách khiêm tốn của mình, tôi làm những gì có thể để giúp đỡ, nhưng thực như muối bỏ bể.” Ông Norris thở dài và chấm khăn ăn lên môi.

“Và chúng ta ở đây, ngồi giữa lòng xa hoa.

Những nhà cải cách xã hội sẽ kết án chúng ta, chả có gì phải bàn cãi. Dù vậy, tôi đồ là nếu không ai dùng toa nhà hàng này thì chúng ta cũng sẽ phải lo trợ cấp thất nghiệp cho tất cả những nhân viên kia… Ôi ôi. Mọi thứ bây giờ thực rất phức tạp.”

Chúng tôi chia tay ở Ga Zoo. Ông Norris nắm tay tôi hồi lâu giữa dòng người hối hả đi tới.

Auf Wiedersehen* chàng trai thân mến của tôi. Auf Wiedersehen. Tôi sẽ không nói lời chia tay vì tôi hi vọng rằng chúng ta sẽ sớm gặp lại. Bao nỗi khó chịu mà tôi có lẽ phải chịu đựng trong hành trình khốn khổ vừa rồi đã được bù đắp khôn cùng bởi niềm vui được quen biết cậu. Và giờ thì tôi tự hỏi liệu cậu có bằng lòng tới uống trà với tôi tại căn hộ của tôi trong tuần này hay không? Thứ Bảy được chứ? Đây là danh thiếp của tôi. Xin hãy nhận lời.”

Tôi hứa sẽ đến.

« Lùi
Tiến »