Một sáng, không lâu sau đó, Frl. Schroeder hối hả lao tới phòng tôi để báo rằng Arthur đang đợi điện thoại. “Chắc chắn là việc gì đó rất nghiêm trọng. Herr Norris thậm chí còn chẳng chào tôi nữa.” Bà rất bất ngờ và thấy khá tổn thương.
“Xin chào, Arthur. Có việc gì thế?”
“Vì Chúa, chàng trai thân mến của tôi, đừng hỏi tôi bất kì câu gì bây giờ.” Giọng ông gắt gỏng đầy lo lắng, và ông nói nhanh tới mức tôi chẳng hiểu nổi. “Tôi không thể chịu được nữa. Giờ tôi chỉ muốn biết là, cậu có thể đến đây ngay không?”
“À… tôi sắp có học sinh đến lúc 10 giờ.”
“Cậu không hủy được à?”
“Có quan trọng đến mức đó không?”
Arthur khẽ bật ra tiếng kêu chán nản cay đắng. “Có quan trọng không ư? William thân mến của tôi, xin cậu hãy chịu khó vận dụng trí tưởng tượng của mình đi. Liệu tôi có gọi điện cho cậu vào cái giờ tréo ngoe này không nếu đó không phải là việc quan trọng? Tôi chỉ xin cậu trả lời đúng một câu thôi: Có hay Không. Nếu là chuyện tiền bạc thì tôi sẽ trả cho cậu phí của buổi học này. Cậu tính giá bao nhiêu nào?”
“Thôi đi, Arthur, đừng có nói thế. Nếu là việc gấp gáp thì dĩ nhiên tôi sẽ tới. Tôi sẽ tới gặp ông trong hai mươi phút nữa.”
Tôi thấy tất cả các cửa ra vào của căn hộ mở toang, tôi bước vào mà không ai biết. Arthur nom như đã chạy loạn cào cào từ phòng nọ sang phòng kia như một con gà mái hoảng loạn. Lúc đó, ông đang trong phòng khách, ăn vận sẵn sàng để ra ngoài, lo lắng đi găng tay. Hermann, đang quỳ gối, cáu kỉnh lục lọi tủ trong sảnh. Schmidt thơ thẩn ở lối đi phòng làm việc, miệng ngậm điếu thuốc lá. Anh ta thậm chí còn không buồn tỏ vẻ muốn giúp đỡ và rõ ràng là đang tận hưởng sự khốn cùng của ông chủ mình.
“A, cậu đây rồi, William, cuối cùng thì cũng tới!” Arthur reo lên khi nhìn thấy tôi. “Tôi cứ nghĩ là cậu sẽ không bao giờ tới nữa. Ôi ôi! Muộn rồi chăng? Đừng quan tâm tới cái mũ xám của tôi. Đi nào, William, đi nào. Tôi sẽ giải thích với cậu trên đường.”
Schmidt ném cho chúng tôi nụ cười khó chịu, mỉa mai khi chúng tôi đi ra ngoài.
Khi chúng tôi an ổn trên xe buýt, Arthur trở nên bình tĩnh và mạch lạc hơn.
“Trước tiên,” ông vội vàng lục tất cả túi áo túi quần và lấy ra một tờ giấy được gập: “Xin cậu hãy đọc cái này.”
Tôi nhìn mảnh giấy. Đó là một Vorladung* từ Sở Cảnh sát Chính trị. Herr Arthur Norris được yêu cầu trình diện tại Alexanderplatz sáng hôm đó trước 1 giờ. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ông không đến thì không được nêu. Ngôn từ trịnh trọng và lạnh lùng.
“Chúa ơi, Arthur,” tôi nói, “cái này nghĩa là sao? Giờ ông định thế nào?”
Thay vì cảnh giác lo sợ, Arthur lại trưng vẻ tự hào khiêm nhường.
“Tôi tự khen ngợi bản thân rằng mối quan hệ của tôi,” ông hạ thấp giọng và liếc nhanh những hành khách gần bên, “với những đại diện của Quốc tế Ba không phải hoàn toàn không có kết quả. Tôi được biết những nỗ lực của mình thậm chí còn khơi dậy nhận xét tích cực tại một số vùng ở Moscow… Tôi nói cậu nghe rồi, đúng không, rằng tôi đến Paris ấy? Đúng, đúng thế, dĩ nhiên… Chậc, tôi có một nhiệm vụ nhỏ phải hoàn thành ở đó. Tôi đã nói chuyện với những cá nhân quan trọng và mang về những chỉ thị cụ thể… Giờ đừng quan tâm tới chuyện đó. Dù sao, rõ ràng chính quyền ở đây biết được nhiều hơn chúng ta tưởng. Đó chính là việc mà tôi phải tìm ra. Toàn bộ vấn đề này thực sự rất tinh vi. Tôi phải rất cẩn thận để không lộ ra bất cứ điều gì.”
“Có lẽ họ sẽ cho ông nếm mùi độ ba*.”
“Ôi, William, làm sao cậu có thể nói thê lương thế? Cậu khiến tôi thấy hơi hoảng đấy.”
“Nhưng, Arthur, chắc chắn sẽ là thế… Ý tôi là, chẳng lẽ ông lại không thích thế?”
Arthur khúc khích: “Ha, ha. Ha, ha. Tôi phải nói điều này, William, rằng kể cả trong những thời khắc đen tối nhất, sự hài hước của cậu chưa bao giờ làm tôi thất vọng… Chậc, chậc, có lẽ nếu người hỏi cung là Frl. Anni hay một quý cô nào đó trẻ trung không kém phần duyên dáng thì tôi có lẽ sẽ vượt qua với, ừm, cảm xúc hỗn độn. Đúng thế.” Bối rối, ông gãi cằm. “Tôi cần sự ủng hộ tinh thần của cậu. Cậu phải đến và nắm tay tôi. Và nếu như,” ông lo lắng liếc qua vai, “cuộc thẩm vấn này kết thúc không khả quan thì tôi sẽ nhờ cậu tới gặp Bayer và kể lại cho anh ta chính xác những gì đã xảy ra.”
“Được, tôi hứa. Dĩ nhiên.”
Khi chúng tôi xuống xe buýt tại Alexanderplatz, Arthur tội nghiệp run rẩy tới mức tôi đã đề nghị vào một nhà hàng và làm một ly cognac. Được xếp ngồi ở một bàn nhỏ, chúng tôi nhìn đám hỗn độn những tòa nhà Praesidium* buồn tẻ phía bên kia đường.
“Pháo đài của kẻ thù,” Arthur nói, “nơi cái thân tôi nhỏ bé tội nghiệp sẽ phải liều mạng bước vào, một mình.”
“Hãy nhớ tới David và Goliath.”
“Ôi, bạn hiền. Tôi e là sáng nay người soạn thánh ca* và tôi chẳng có gì giống nhau. Tôi cảm thấy mình giống con bọ cánh cứng sắp bị xe lu nghiền nát… Có một việc rất lạ là, từ hồi xưa rồi, bản năng tôi đã không thích cảnh sát. Đường may bộ cảnh phục của họ làm tôi khó chịu, mà mấy cái mũ sắt của Đức không chỉ xấu xí mà còn khá xấu xa. Chỉ cần nhìn thấy một người trong số bọn họ điền đơn bằng thứ chữ viết tay như máy móc phi nhân tính ấy đã khiến tôi sa dạ dày rồi.”
“Đúng thế, tôi hiểu ý ông.”
Arthur tươi tỉnh hơn một chút.
“Tôi rất vui là có cậu bên cạnh, William ạ. Cậu rất biết cảm thông. Tôi chẳng thể ước có người bạn đồng hành nào tuyệt vời hơn vào buổi sáng mình bị hành quyết. Một hình ảnh rất tương phản với gã Schmidt thâm độc kia, một kẻ hả hê với sự không may của tôi. Chẳng có gì khiến anh ta sung sướng hơn việc được nói câu - ‘Tôi đã bảo ông rồi.’”
“Rốt cuộc, họ chẳng thể làm gì được ông ở đó đâu. Họ chỉ bắt nạt được người lao động thôi. Hãy nhớ, ông thuộc cùng tầng lớp với ông chủ của bọn họ. Ông phải khiến họ cảm thấy điều đó.”
“Tôi sẽ cố,” Arthur ngần ngại đáp.
“Làm thêm một ly cognac nữa nhé?”
“Có lẽ tôi sẽ uống thêm.”
Ly cognac thứ hai đã làm nên điều kì diệu. Chúng tôi rời nhà hàng, bước vào buổi sáng mùa thu tĩnh lặng ẩm ướt, cười to, tay trong tay.
“Hãy dũng cảm lên, đồng chí Norris. Hãy nghĩ tới Lenin.”
“Ha ha, tôi sợ là tôi lại tìm cảm hứng ở Hầu tước de Sade* cơ.”
Nhưng bầu không khí ở trụ sở cảnh sát khiến ông tỉnh táo đáng kể. Càng lúc càng bí bách và u ám, chúng tôi bước dọc những lối đi bằng đá với những cánh cửa được đánh số, định vị nhầm lẫn các tầng, va đập vào những sĩ quan đang hối hả bưng hàng chồng hồ sơ tội phạm. Hồi lâu, chúng tôi bước vào một khoảng sân, chung quanh toàn cửa sổ với những chấn song sắt nặng nề.
“Ôi trời, ôi trời!” Arthur rên rỉ. “Tôi sợ là lần này chúng ta chui đầu vào rọ rồi.”
Đúng lúc đó một tiếng huýt sáo cao vút từ trên vang lên.
“Nè, Arthur!”
Từ trên một trong những ô cửa sổ có chấn song nhìn xuống chính là Otto.
“Họ bắt ông vì việc gì thế?” Cậu ta vui vẻ gào to. Cả hai chúng tôi chưa kịp trả lời thì có một bóng người mặc cảnh phục xuất hiện bênh cạnh cậu ta nơi cửa sổ và đẩy cậu ta đi. Cảnh tượng chỉ thoáng chốc mà thật khó chịu.
“Có vẻ như họ đã gom được cả hội rồi,” tôi nói, nhe răng cười.
“Thực sự rất phi thường,” Arthur nói, rất rối bời. “Tôi không biết liệu…”
Chúng tôi đi qua một chiếc cổng vòm, lên vài bậc thang, bước vào ma trận các căn phòng nhỏ và lối đi tăm tối. Mỗi tầng đều có bồn rửa, sơn màu xanh lá. Arthur đọc tờ Vorladung và tìm thấy số căn phòng ông sắp phải đến trình diện. Chúng tôi thì thào vội vã lời chia tay.
“Tạm biệt, Arthur. Chúc ông may mắn. Tôi sẽ đợi ông ở đây.”
“Cảm ơn cậu, chàng trai thân mến… Giả thử điều tệ hại nhất xảy ra, và tôi bước ra khỏi căn phòng này tay bị còng, đừng nói gì với tôi hay tỏ ra là cậu quen biết tôi trừ phi tôi lên tiếng. Tốt hơn là không nên liên lụy tới cậu… Đây là địa chỉ của Bayer; phòng khi cậu phải tới đó một mình.”
“Tôi chắc chắn là tôi sẽ không phải làm thế.”
“Còn có một điều nữa tôi muốn nói với cậu.” Arthur cư xử như một người đang bước dần lên đoạn đầu đài. “Tôi xin lỗi nếu sáng nay tôi có chút nóng vội. Tôi rất buồn… Nếu đây là cuộc gặp gỡ cuối cùng của chúng ta trong một khoảng thời gian thì tôi mong đó không phải là kí ức của cậu về tôi.”
“Vớ vẩn nào, Arthur. Dĩ nhiên là tôi sẽ không thế. Giờ thì ông đi đi, và chúng ta sẽ cùng vượt qua chuyện này.”
Ông ấn bàn tay tôi, rụt rè gõ cửa và bước vào.
Tôi ngồi xuống đợi ông, bên dưới tấm bích chương màu đỏ máu đăng phần thưởng cho ai tố cáo một kẻ sát nhân. Tôi ngồi cùng băng ghế với một viên luật sư mập mạp người Do Thái và thân chủ của ông ta, một cô gái điếm nhỏ bé đang sướt mướt.
“Tất cả những gì cô phải nhớ,” ông ta cứ nói đi nói lại với cô gái, “là cô không hề gặp lại ông ta sau đêm mùng sáu.”
“Nhưng họ sẽ khui được ra từ tôi thôi,” cô thổn thức. “Tôi biết là họ sẽ làm thế. Chính là cách họ nhìn ta. Rồi họ đột nhiên hỏi làm ta chẳng có thời gian để nghĩ ấy.”
Gần một giờ sau Arthur quay lại. Tôi có thể thấy ngay từ gương mặt ông rằng cuộc thẩm vấn không tệ như ông dự đoán. Ông đang rất vội vã.
“Đi nào, William. Đi nào. Tôi không thiết ở lại đây thêm chút nào nữa.”
Ngoài phố, ông vẫy một chiếc taxi, yêu cầu tài xế lái tới khách sạn Kaiserhof, và nói thêm, giống như ông vẫn hay làm: “Không phải lái quá nhanh đâu.”
“Khách sạn Kaiserhof!” Tôi thốt lên. “Không phải là chúng ta sẽ tới thăm Hitler đấy chứ?”
“Không, William. Không phải… mặc dù, tôi thừa nhận là, tôi cũng thấy hưng phấn với việc lượn lờ trong lãnh địa của kẻ thù. Cậu có biết gần đây tôi làm móng ở đó không? Họ có thợ tốt lắm. Nhưng hôm nay tôi có mục đích khác. Văn phòng của Bayer cũng ở đường Wilhelmstrasse. Nếu đi thẳng từ đây tới đó thì có vẻ không được kín đáo lắm.”
Theo đó, chúng tôi diễn một vở hài kịch bắt đầu từ việc bước vào khách sạn, uống tách cà phê ở quầy và liếc quanh qua tờ báo. Thật thất vọng là chúng tôi không nhìn thấy Hitler hay bất kì lãnh đạo Đảng Quốc xã nào. Mười phút sau, chúng tôi lại ra phố. Tôi thấy mình nheo mắt nhìn trái nhìn phải như chảo chớp, tìm kiếm bất kể tay thám tử nào khả nghi. Nỗi ám ảnh với cảnh sát của Arthur thực sự dễ lây lan.
Bayer sống trong căn hộ lớn bừa bộn trên tầng cao nhất của một trong những căn nhà xập xệ phía bên kia phố Zimmerstrasse. Quả là tương phản gay gắt với nơi mà Arthur gọi là “lãnh địa của kẻ thù,” cái khách sạn xa xỉ, trang nghiêm, được canh phòng mà chúng tôi vừa rời khỏi. Cửa ra vào của căn hộ luôn khép hờ. Bên trong, các bức tường treo đầy bích chương tiếng Đức và tiếng Nga, thông báo về mít-tinh đại chúng và biểu tình, hoạt họa phản chiến, bản đồ các khu công nghiệp và biểu đồ minh họa bình diện và tiến độ bãi công. Sàn nhà trống trơn, không sơn, không trải thảm. Các căn phòng vang lên tiếng gõ máy chữ lạch xạch. Đàn ông và đàn bà ở mọi độ tuổi đi ra đi vào hoặc ngồi nói chuyện trên các thùng đường lật ngược, đợi phỏng vấn; kiên nhẫn, hài hước, thoải mái như ở nhà. Mọi người có vẻ đều biết nhau; người mới đều được chào bằng tên Thánh. Kể cả người lạ cũng được gọi là Bạn. Khói thuốc lá ở khắp nơi. Sàn nhà vương đầy đầu lọc bị nghiền nát.
Giữa hoạt động rộn rịp, thân tình ấy, chúng tôi tìm thấy Bayer trong một căn phòng bé tí tồi tàn, đang đọc chính tả một lá thư cho cô gái tôi đã nhìn thấy trên sân khấu trong cuộc mít-tinh ở Neukölln. Anh ta có vẻ vui nhưng không quá ngạc nhiên khi nhìn thấy Arthur.
“A, Norris thân mến. Tôi có thể giúp gì cho ông nào?”
Anh ta nói tiếng Anh đầy nhấn nhá và phương ngữ rất nặng. Tôi nghĩ là mình chưa từng gặp ai có hàm răng đẹp đến thế.
“Ông đã đi gặp họ rồi?” Anh ta hỏi thêm.
“Vâng,” Arthur nói. “Chúng tôi vừa mới từ đó tới đây.”
Cô thư ký đứng dậy và ra ngoài, đóng cửa lại. Đôi tay đeo găng trang nhã khiêm nhường đặt trên đùi, Arthur bắt đầu mô tả cuộc thẩm vấn của ông với cảnh sát tại Sở Cảnh sát. Bayer tựa lưng vào ghế và lắng nghe. Anh ta có cặp mắt hung dữ sáng quắc màu nâu đỏ sẫm. Ánh nhìn của anh ta trực diện, thách thức, tinh nhanh như đang cười, nhưng đôi môi của anh ta thậm chí còn không mỉm cười. Lắng nghe Arthur, gương mặt và cơ thể anh ta trở nên bất động. Anh ta không gật đầu, hay cựa mình, hay động đậy bàn tay dù chỉ một lần. Trạng thái tĩnh tại thuần túy đó cho thấy sự tập trung cao độ có tính thôi miên. Tôi có thể thấy Arthur cũng cảm thấy thế; ông cựa mình khó chịu trên ghế và cẩn trọng tránh nhìn trực tiếp vào mắt Bayer.
Arthur bắt đầu bằng việc trấn an chúng tôi rằng cảnh sát đã đối xử với ông rất lịch thiệp. Một người giúp ông cởi áo và mũ, người khác đưa ghế cho ông ngồi, mời ông xì gà. Arthur đã ngồi xuống ghế nhưng từ chối điếu xì gà; ông nhấn mạnh việc này, như thể đây là một bằng chứng cho ý chí mạnh mẽ, quyết tâm và tính chính trực của ông. Khi đó, viên cảnh sát kia, vẫn rất lịch thiệp, đã xin phép được hút thuốc. Và Arthur đồng ý.
Tiếp theo là một cuộc thảo luận, một cuộc kiểm tra chéo đội lốt tán gẫu, về hoạt động kinh doanh của Arthur tại Berlin. Arthur cẩn thận không đi sâu vào chi tiết. “Anh sẽ không mấy hứng thú đâu,” ông nói với Bayer. Tuy nhiên, tôi nhận ra cảnh sát đã thành công trong việc làm ông khiếp sợ kha khá. Họ quá sành sỏi.
Màn dạo đầu kết thúc, màn truy vấn thực sự bắt đầu. “Ông Norris, chúng tôi biết là ông gần đây đã tới Paris. Chuyến đi đó có liên quan tới việc làm ăn của ông không?”
Arthur dĩ nhiên đã chuẩn bị tinh thần cho câu hỏi này. Có lẽ quá kĩ. Lời giải thích của ông quá dài dòng. Viên cảnh sát chỉ cần một câu hỏi nhẹ nhàng đưa đẩy là điểm huyệt được tất cả. Anh ta nêu ra một cái tên và một địa chỉ mà ông Norris đã tới hai lần, vào buổi tối lúc ông đến và vào buổi sáng lúc ông rời đi. Đó có phải là một cuộc phỏng vấn làm ăn riêng tư? Arthur không chối rằng ông đã rất sốc. Tuy nhiên, theo như lời ông nói, ông đã cẩn trọng vô cùng. “Dĩ nhiên tôi đâu có ngu mà chối hết. Tôi chỉ nói giảm nói tránh thôi. Tôi nghĩ là tôi đã gây ấn tượng cho họ kha khá. Họ đã sửng sốt, tôi có thể thấy thế, sửng sốt khôn cùng.”
Arthur ngưng lời, khiêm tốn nói thêm. “Tôi tự tin là mình biết cách ứng phó với những kiểu tình huống như thế. Đúng thế.”
Giọng điệu của ông như đang mong chờ một lời động viên, một lời thừa nhận ở đây. Nhưng Bayer không động viên, không kết tội, không nói hay cử động gì cả. Đôi mắt nâu thẫm của anh ta tiếp tục nhìn Arthur với sự tập trung xuất sắc, mỉm cười và cảnh giác. Arthur húng hắng lo âu.
Sốt sắng khuấy động sự yên lặng thôi miên và áp chế ấy, ông đã kể lể rất nhiều. Chắc ông phải nói tới gần nửa tiếng. Thực ra, cũng chẳng có gì nhiều nhặn. Cảnh sát, thể hiện những gì họ biết, đã vội trấn an ông Norris rằng những hoạt động của ông không hề khiến họ quan tâm, miễn là chúng chỉ gói gọn ở nước ngoài. Còn đối với bản thân nước Đức, dĩ nhiên đó lại là vấn đề khác. Cộng hòa Đức chào đón mọi khách nước ngoài, nhưng đòi hỏi họ nhớ rằng có những quy tắc giao tế nhất định chi phối cả khách lẫn chủ. Ngắn gọn là, sẽ vô cùng đáng tiếc nếu Cộng hòa Đức lại phải làm sứt mẻ mối quan hệ với ông Norris. Viên cảnh sát cảm thấy chắc chắn ông Norris, công dân toàn cầu, sẽ trân trọng quan điểm này.
Cuối cùng, đúng lúc Arthur dợm bước đi ra cửa sau khi được giúp khoác áo và đội mũ, câu hỏi cuối được bật ra với ngữ điệu như thể nó chẳng liên quan gì tới bất kì điều gì vừa được nói ra: “Gần đây ông đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản?”
“Dĩ nhiên, tôi thấy ngay cái bẫy này,” Arthur nói với chúng tôi. “Đó đơn thuần là một cái bẫy. Nhưng tôi đã phải tư duy nhanh; bất cứ sự chần chừ nào khi trả lời đều có thể là chí mạng. Họ quá quen với việc bắt được những chi tiết này… Tôi không phải là đảng viên của Đảng Cộng sản, tôi nói với họ, hay bất cứ một tổ chức cánh tả nào. Tôi đơn thuần là đồng cảm với thái độ của K.P.D* về một số vấn đề phi chính trị… Tôi nghĩ đó là một câu trả lời đúng? Tôi nghĩ thế. Vâng.”
Cuối cùng Bayer vừa mỉm cười vừa nói. “Ông đã hành động đúng đắn, Norris thân mến của tôi.” Anh ta có vẻ khá thích thú.
Arthur sung sướng như con mèo được vuốt ve.
“Đồng chí Bradshaw đã giúp đỡ tôi rất nhiều.” “Vậy ư?”
Bayer không hỏi như thế nào.
“Anh có hứng thú với phong trào của chúng tôi?”
Đôi mắt anh ta lần đầu tiên đánh giá tôi. Không, anh ta không ấn tượng. Anh ta cũng chẳng chê trách gì. Một tay trí thức tư bản trẻ tuổi, anh ta nghĩ. Nhiệt tình, trong giới hạn. Có giáo dục, trong giới hạn. Có khả năng phản hồi nếu được thỉnh cầu bằng ngôn ngữ cùng tầng lớp. Hữu dụng trong mấy chuyện vặt vãnh: ai cũng có thể làm được gì đó. Tôi cảm thấy ngượng chín người.
“Tôi sẽ giúp anh nếu tôi có thể,” tôi nói.
“Anh nói tiếng Đức?”
“Cậu ấy nói tiếng Đức rất chuẩn,” Arthur chen vào, hệt như bà mẹ nói đỡ con trai trước mặt hiệu trưởng. Mỉm cười, Bayer lại xem xét tôi lần nữa.
“Thế thì?”
Anh ta lật giấy tờ trên bàn.
“Đây là một ít việc dịch thuật mà anh có thể làm giúp chúng tôi. Anh có thể dịch sang tiếng Anh được không? Như anh sẽ thấy, đây là báo cáo công việc của chúng tôi trong năm qua. Từ đây, anh sẽ ít nhiều biết được mục đích của chúng tôi. Tôi nghĩ là anh sẽ quan tâm.”
Anh ta đưa cho tôi một tập văn bản dày, và đứng dậy. Anh ta thậm chí nom còn đậm người hơn khi anh ta đứng trên sân khấu. Anh ta đặt tay lên vai Arthur.
“Những gì ông đã kể cho tôi rất thú vị.” Anh bắt tay cả hai chúng tôi, nở nụ cười chia tay tươi rói. “Và xin ông,” anh ta nói thêm, trêu đùa Arthur, “hãy tránh làm anh Bradshaw đây vướng vào nỗi muộn phiền của ông.”
“Ôi chao, tôi đảm bảo với anh là tôi không dám mơ tới chuyện đó. Sự an toàn của cậu ấy gần như là sự an toàn của tôi… Chậc, ha ha, tôi sẽ không làm phí thời gian quý báu của anh nữa. Tạm biệt.”
Cuộc trò chuyện với Bayer có vẻ đã hồi phục tinh thần cho Arthur.
“Cậu đã gây ấn tượng tốt với anh ta, William. Ôi, đúng thế ấy. Tôi có thể thấy ngay. Và anh ta là người rất sắc sảo trong việc đánh giá tính cách. Tôi nghĩ là anh ta hài lòng với những gì tôi đã nói ở Alexanderplatz, đúng không?”
“Tôi chắc chắn là thế.”
“Tôi cũng nghĩ vậy.”
“Anh ta là ai thế?” Tôi hỏi.
“Bản thân tôi cũng không biết mấy về anh ta. Tôi nghe nói ban đầu anh ta là một nhà nghiên cứu hóa học. Tôi không nghĩ bố mẹ anh ta là dân lao động. Anh ta không có cái vẻ đó, đúng không? Dù gì thì Bayer không phải là tên thật của anh ta.”
Sau buổi gặp mặt này, tôi cảm thấy nóng lòng gặp lại Bayer. Tôi cố gắng dịch nhanh hết mức có thể, vào lúc không dạy học. Mất hai ngày. Tài liệu là một báo cáo về mục đích và tiến độ của nhiều cuộc đình công, và biện pháp đã thực hiện để cung cấp nhu yếu phẩm cho gia đình của những người đình công. Khó khăn chính của tôi là vô số những cụm từ viết tắt tên các tổ chức tham gia lặp đi lặp lại trong báo cáo. Vì tôi không biết đa số tên những tổ chức này trong tiếng Anh nên không rõ phải dịch thế nào.
“Không quá quan trọng đâu,” Bayer nói khi tôi hỏi anh ta. “Chúng tôi sẽ tự xử lý việc này.”
Có điều gì đó trong giọng điệu của anh ta khiến tôi cảm thấy bị chế nhạo. Báo cáo mà anh ta đưa cho tôi dịch đơn giản là không quan trọng. Có thể nó sẽ chẳng bao giờ được gửi tới Anh. Bayer đưa nó cho tôi, giống như một món đồ chơi, để nô đùa, hi vọng sẽ tống khứ được lòng nhiệt tình vô dụng và buồn chán của tôi ít nhất trong một tuần, hẳn là thế.
“Anh thấy việc này thú vị không?” Anh ta tiếp tục. “Tôi mừng đấy. Bây giờ ai ai cũng rất cần biết về vấn đề này. Anh đã đọc gì của Marx chưa?”
Tôi nói là mình đã từng cố gắng đọc cuốn Tư bản.
“À, cuốn đó quá khó cho nhập môn. Anh nên thử Tuyên ngôn Cộng sản. Và mấy tập sách mỏng của Lenin. Đợi chút, tôi sẽ đưa cho anh…”
Anh ta hết sức thân thiện. Có vẻ như anh ta không vội xua đuổi tôi. Chẳng lẽ anh ta không có việc gì quan trọng hơn để làm chiều nay? Anh ta hỏi về điều kiện sống ở khu phía East End tại London và tôi cố gắng nặn ra câu trả lời từ vốn kiến thức ít ỏi thu thập được trong những ngày lang bạt ba năm trước. Sự chú ý cao độ của anh ta chính là thứ thuốc kích thích đầy tính ve vuốt. Tôi thấy mình gần như độc thoại. Nửa tiếng sau, nách kẹp sách vở và thêm giấy tờ để dịch, tôi sắp chào tạm biệt thì Bayer hỏi: “Anh biết Norris lâu rồi?”
“Được hơn một năm,” tôi tự động đáp lời, tâm trí không phản ứng gì với câu hỏi này.
“Thật sao? Thế hai người gặp nhau ở đâu?”
Lần này tôi đã không bỏ qua ngữ điệu của anh ta. Tôi nhìn kĩ anh ta. Nhưng đôi mắt khác thường của anh ta vẫn không tỏ vẻ nghi hoặc hay đe dọa hay quỷ quyệt. Cười nhẹ, anh ta đơn thuần đợi chờ câu trả lời của tôi trong im lặng.
“Chúng tôi biết nhau trên chuyến tàu tới Berlin.”
Ánh nhìn của Bayer trở nên hứng thú ngấm ngầm. Không màu mè, anh ta hỏi thẳng: “Hai người là bạn tốt? Anh thường gặp ông ta à?”
“Ô vâng. Rất thường xuyên.”
“Tôi nghĩ anh không có nhiều bạn là người Anh ở Berlin nhỉ?”
“Đúng thế.”
Bayer nghiêm túc gật đầu. Rồi anh ta đứng dậy, bắt tay tôi. “Tôi phải đi bây giờ. Nếu có điều gì anh muốn nói với tôi thì xin đừng ngại tới đây và gặp tôi bất cứ lúc nào.”
“Rất cảm ơn anh.”
Vậy đó, tôi nghĩ, khi bước xuống cầu thang ọp ẹp. Không một ai tin tưởng Arthur. Bayer không tin ông nhưng anh ta sẵn sàng lợi dụng ông, với sự đề phòng. Và cả lợi dụng tôi, như một tay mật thám soi nhất cử nhất động của Arthur. Không cần để tôi dính vào bí mật này. Tôi có thể dễ bị moi tin. Tôi thấy vừa tức giận lại vừa khá hứng thú.
Suy cho cùng, ai có thể trách tội họ được đây?