Năm Chò đạp xe từ quân y viện ra đến đường cái, gặp một chiếc xe ngựa lóc cóc chạy qua, lắc lư trên những hố chống tăng hình nanh sấu mới lấp lại. Vết xe còn hằn rõ trên đất chưa kịp dẽ chắc: xe ngựa, xe bò bánh gỗ, xe than chắp vá xộc xệch, cả một số xe quân sự kéo đại bác lấy của địch. Trong mấy tháng cuối kháng chiến, quân ta cố lấy cho được xe và pháo địch đem về, ít hủy bỏ như trước.
Một ý nghĩ chọt lóe trong đầu Năm Chò, xe ngựa... Được lắm chứ. Thương binh ngồi trên xe ngựa dự lễ, vẫn nghiêm chỉnh thôi. Phải tìm thằng Chín Mén, thằng bạn khố đỏ thời Tây, luôn miệng nói sắp xông pha khói lửa sa tràng mà rốt cuộc cứ bám lấy hậu phương làm giàu. Đó là người bạn đánh xe ngựa ở mé trên thị xã Hội An đã từng giúp ba anh em Cả Chanh ở kín tiếng khi từ Quy Nhơn mới trở vô xứ Quảng sau đảo chính Nhật. Người vợ xấu bụng đã bỏ anh ta theo nhân tình cũ. Anh tản cư vào Quảng Ngãi, đứa con trai vắng mẹ ốm chết, anh phẫn chí uống rượu như hũ chìm. Về sau anh cưới một chị góa chồng không con, may gặp người tốt và đảm, khéo khuyên chồng. Ba năm trước Năm Chò gặp anh ta gần thị xã phá hoại, thấy anh đã được hai “đực rựa”, vợ bán quán và chồng vẫn đánh xe ngựa. Lại làm với nhau một cái lễ “tái kiến” túy lúy cả ngày.
Quán xá lâu nay nép dưới rặng tre vườn cây đã được dời cả ra mép đường nhựa, dựng chắc và mở rộng hơn, lác đác có rèm cửa sổ bằng vải màn nội nhuộm màu tươi xanh đỏ, mặt bàn ghế bằng gỗ bắt đầu thay những tấm tre nứa chông chênh. Quán của Chín Mén cũng vậy, còn thêm một tờ giấy to viết quảng cáo: “Bún bò gạo - Mì Quảng gạo - Nguyên chất, xin kính mời”. Lệnh cấm chế biến gạo trong năm đói đã bỏ, các quán thôi bán phở sắn và không phải nhuộm mì bằng nghệ để giả hột bắp nữa.
Chị vợ nhớ mặt Năm Chò, bạn rất thân của chồng, hồ hởi bỏ ra một chùm nem chua và rót một li “rượu thuốc”. Thói quen kháng chiến vẫn mạnh, dân nhậu chưa hết xấu hổ, các chủ quán thường “nhuộm rượu” có tí màu cho đỡ ngượng. Hẳn đã nghe cán bộ qua lại giải thích nhiều về hiệp định Giơ-ne-vơ nên chị không hỏi thêm, chỉ lúi húi bán hàng. Năm Chò nhấp nháp trong khi ngắm cảnh ngoại ô thị xã đang sống dậy mau chóng.
Các mặt hàng khan hiếm mấy tháng trước đây túa ra thị trường rất nhanh. Xe đạp Xtéc-ling, Méc-xi-ê đu-ra nhẹ bỗng, cả thứ “xe trâu” nặng và chắc để thồ hàng, tràn vào từ vùng tề cùng với vải ngoại, thuốc tây, ni-lông đi mưa, đồ nhôm nhựa. Chính phủ ta cũng tung hàng ra bán để thu về tất cả số giấy bạc tín phiếu còn trong dân, địch nhất định không chịu đổi tín phiếu lấy bạc Đông Dương ở những vùng chúng tiếp quản. Nông dân góp tiền mua chung trâu hạ giá, đồ sắt, vải, muối, đường, trong khi dân thị trấn chung vốn mua máy cũ, xe cũ, thuyền vận tải, tranh tre gỗ nứa dự trữ của bộ đội, những thú không thể chở tàu biển đi tập kết ra Bắc. Ngày càng nhiều áo trắng áo hoa trên đường trống, trên các dây phơi. Ngành xe lửa chất đầy tà-vẹt là trụ cầu cho những đầu máy hiếm hoi chạy ban ngày với số toa ít và chở nhẹ, lắm chỗ phải tăng-bo hoặc đẩy mạnh cho toa rỗng trượt qua cầu trước, đầu máy bò cách quãng theo sau, cùng dừng lại để đợi khách cuốc bộ leo trở lên toa. Cam-nhông-ray chạy nhiều hơn, đỡ trục trặc hon. Chưa đến lễ Quốc khánh 2 tháng 9 mà nhiều nhà nhiều xe đã cắm cờ đỏ sao vàng mới may lại bằng vải ngoại, thay cho những lá cũ bạc và thôi màu. “Treo coi cho sướng con mắt, vậy thôi”.
Các em nhỏ sắp vào năm học mới trong khi học sinh lớp lớn mang khăn gói đi tập kết. Chưa biết thầy cô nào sẽ dạy, các em cứ kéo đến trường để tập hát và đánh trống. Trống ếch nội tăng giá vòn vọt, phải lôi ra tất cả các loại trống còn sót: trống chầu phường hát bội, trống nhà trường, cả những trống con của đám sắc bùa hay trống khẩu đưa tang còn sống sót qua những đợt “hài trừ hủ tục phong kiến”. Tiếng trống tiếng hát dội xa gần, ngày đêm, bổng trầm, gợi lên không khí của hội làng trong khắp vùng tự do. Các làn điệu xưa cũ đều xài tự do, xả láng.
Nhưng đó chỉ là mặt ngoài. Trong lòng người dân và người lính liên khu Năm đang cuộn xoáy những lo lắng rối bời.
Khi nhận được lệnh ngừng bắn đầu tiên, chưa ai nghĩ rằng đất nước tạm chia đôi. Cả nước cùng đổ máu đánh giặc, ắt là sướng chung khổ chung, lẽ đương nhiên phải vậy. Đến khi cầm đọc văn bản hiệp định, vẫn còn rất nhiều người nghĩ rằng vùng tự do của ta thì ta cứ giữ, thằng Tây bể đầu ở Điện Biên Phủ phải giao miền Bắc cho ta chứ sao nữa... Đến khi vỡ lẽ rằng đối phương sẽ tiếp quản khắp nơi từ Bến Hải trở vào, đám mây đen thất vọng mới úp chụp xuống miền Nam, ngày càng dày đặc và sà thấp.
Thùng thùng thùng... tom tom tom... thình thình thình...
Hòa bình trở lại
Ngày mai sáng bừng
Ta giương cao cờ chiến thắng vinh quang
Xôn xao xóm làng
Vui như tiếng đàn...
Vô số đêm kịch hát, mít-tinh, liên hoan quân dân. Ừ thì vỗ tay, hoan hô. Biết bụng nhau rồi, dân lau mắt thì lính cũng khóc thầm. Hòa bình trở lại nhưng ngày mai không sáng. Xóm làng xôn xao thật đấy nhưng nào có vui... Cấm trả thù người kháng chiến cũ ư ? Tin dữ hai đầu dội tới đầy náo động. Trong kia là Ngân Sơn, Chí Thạnh. Ngoài kia là Chợ Được, Cây Cốc. Những vụ to mới được đem ra mít-tinh đả đảo, kiến nghị phản đối, còn bao nhiêu vụ giết hại lẻ tẻ thầm lặng nữa ? Còn từng trăm từng ngàn người mẹ người vợ từ các thành phố và vùng tề luồn lách vào vùng tự do, lang thang tìm chồng con để biết còn sống hay không, khi gặp được chỉ thổn thức một câu hỏi: “Bao giờ về ?”. Liệu có chắc hai năm như hai ngón tay giơ lên vẫy nhau không ? Và sau hai năm sẽ ai còn ai mất ?
Năm Chò ngồi lặng ngắt, quên cả mình đang đợi Chín Mén đánh xe về. Vợ Chín Mén rót đầy li nữa, anh không để ý, không đụng đến chùm nem trên bàn.
Vừa được lệnh chuẩn bị tập kết ra Bắc, Năm Chò cùng một số quê ở Quảng Nam được đi phép gấp để thu xếp việc nhà, vì đối phương sẽ tiếp quản Nam Quảng Nam sớm nhất, chặn ngang ranh giới Quảng Ngãi. Anh hỏa tốc băng núi về Linh Lâm, gặp lúc thằng nhỏ Chung đang ốm nặng và kéo dài, mềm oặt như dưa héo trên tay mẹ. Địu nó từ vùng ven núi này vào tới cảng Quy Nhơn, chắc chết dọc đường. Năm Bưởi đành ở lại theo cách đổi vùng: nếu địch dợm bắt thì chị sẽ trốn đến ở nơi xa lạ, giấu tông tích. Ai chứ Năm Buởi thì chẳng thiếu người đùm bọc !
Chị Hai Thùy chẳng phải cán bộ đầu ngành trong xã, không được vào danh sách tập kết của Linh Giang. Nhưng phía quân đội lại cho phép cấp tiểu đoàn phó trở lên đưa vợ con theo, chị được đi. Anh Cả Chanh biệt tăm chưa về, chị sẽ đi với ai, bằng cách nào, khi hàng vạn người dân đang gánh gồng bồng bế nhau tuôn đến cảng Quy Nhơn cùng với hàng vạn bộ đội từ khắp các mặt trận xa tít miền Trung Đông Dương cũng kéo về như những dòng suối lặng lẽ xuyên rừng ? Chị Thùy ra vào, xếp gánh mở gánh, than ngắn thở dài, xong lại soạn máy may ra sửa những bộ quân trang anh em xưởng Cao Thắng II vừa mới được phát trước khi rời mảnh đất Xê-ca đơ đầy kỷ niệm.
Ông Tư Chua vấp nhiều hơn. Tám Doãn mang danh sách tập kết của xã Linh Giang xuống huyện, Ban tập kết rà lại và gạch tên ông. “Nguyên chủ tịch hả ? Không được. Cho đi chủ tịch đương chức thôi, tàu biển đông nghẹt rồi !”. Tiếp đó là cái nháy mắt của anh cán bộ mới ngoi lên, đang nhấp nhổm cuốn gói theo vợ con đã cho đi trước vào Quảng Ngãi: “Cường hào gian ác, ra Bắc làm gì thêm quấy rầy ?”. Tám Doãn về xã không dám kể hết, may sao ông Tư Chua đã nói thay:
- Chú Tám biết nhà tôi đó. Tôi đi, bỏ bà Tư ai nuôi, hay phải ở mướn bồng con cho thằng Quýt ? Tôi không gì cũng già rồi, đóng góp bấy nhiêu năm lên voi xuống chó đủ rồi, đi hay ở cũng một lòng trung với Cụ Hồ, với Đảng mình, hễ sai trái gì thì sau hai năm xin lãnh một hòn đạn của anh em đồng chí !
Ba người thân nhất của Năm Chò nơi quê gốc đã ở lại cả ba, khổ chưa !
Anh đuổi kịp tiểu đoàn tại huyện Sơn Tịnh, thuộc Quảng Ngãi. Trong buổi họp đầu tiên với liên chi ủy, anh kể hết những băn khoăn của mình đối với người kháng chiến cũ không ra đi. Các đồng chí đang bóp trán thì anh chính trị phó tiểu đoàn giơ tay. Anh này mới về thay đồng chí cũ bị sốt rét ác tính gần chết. Tuy thuộc thành phần bần nông nhưng anh chỉ xuống ruộng khi hành quân trượt chân, gần đây được đưa vượt cấp từ đại đội phó lên chính trị phó tiểu đoàn sau bốn tháng đi phát động giảm tô. Anh ta thấy cần phải xây dựng cho tiểu đoàn trưởng thoát khỏi tư tưởng dao động, cầu an, hoài nghi, thiếu tin tưởng ở đường lối đấu tranh hòa bình của Đảng và sức mạnh của nhân dân miền Nam, sẽ buộc đối phương thi hành hiệp định quốc tế được ký kết long trọng với sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc. Khi anh bắt đầu phân tích sâu sắc về ảnh hưởng của thời kỳ làm lính thực dân đế quốc đối với đồng chí Năm Chò, chính trị viên tiểu đoàn bỗng cắt ngang rất phũ:
- Bấy nhiêu đủ rồi, đừng đi tới chỗ phá hoại hòa bình thế giới ! Ta tính giùm anh Năm coi có cách gì gỡ rối được không ?
Bàn mấy cũng không tìm được cách gì cả...
Chiếc xe ngựa rẽ dừng trước quán chỉ khiến Năm Chò ngửng nhìn dửng dưng. Người đánh xe là một cậu trẻ mặc bộ xi-ta cũ, nặng nề bước xuống và đi vào quán với một cây nạng chống vào nách bên phải. Tiếp một xe thứ hai với Chín Mén ngồi trước, nhảy phịch xuống đất và ném dây cương vào một cành cụt của cây phi lao bên cửa, cười hoang hoác khi đi vào:
- Bữa nay trúng lắm nghen bà xã. Khách ra hồi cư, khách vô tìm chồng con, giới đàn bà vừa sùi sụt vừa đưa tiền, đỡ lắm... Ủa nè, ai như Năm Phi Đao vậy ta ?
- Chớ ai vô đó nữa ?
- Trời đất, tưởng mày lên ông bự chê tao không ghé ! Mụ tao để khách ngáp ruồi à ? Ồ, có cay có chua, khá. Ba kí thịt trâu đây, trâu to sụp hố què chân, nhúng dấm gấp mụ !
Năm Chò ngắm anh bạn cũ từ đầu tới chân, cười:
- Bỏ giùm tao cái tên Chín Mén[1] đi mày. Đổi ra Chín Bồ, Chín Bịch, Chín Ú, chớ cái bụng sệ ra bằng heo chửa cứ Mén hoài !
Chín Mén cười đến ho sặc:
- Đúng miệng lưỡi Năm Phi Đao, chẳng sai một li ông cụ ! Tao sệ là tại bà xã. Bả nuôi heo, nuôi con hay nuôi chồng đều thiệt khéo, mập tròn hết.
Anh ta cố ý nói to cho vợ nghe, vừa lúc chị vợ bưng đặt trên bàn cái âu đất nung đựng than hồng, bên trên có cái bát nhôm chứa dấm bắt đầu sủi. Chị dọn thêm đĩa rau thơm, chén tương ngọt, lọ tỏi ớt ngâm, đặt lên trên vài cái bánh tráng nướng, lườm anh chồng đang mở nút một cái be sành:
- Sơ sơ thôi ông, đông khách, lát phải đi tiếp.
- Thằng út đâu ?
- Vô xóm rồi. Hở một lát lại chạy tới con Lụa, chắc nên chuyện.
Đĩa thịt trâu ra mắt cuối cùng xắt ngang thớ mỏng tang, mịn và hồng như bò non. Chín Mén rót ra hai ly rượu nếp thơm lùng, không nhuộm:
- Nhịn thèm mấy năm, giờ mới kiếm được thứ đặc biệt, để dành chớ không dám đụng vô, mày thấy bụi phủ đầy bình đó... Dạo này mày mấy chai một ngày?
- Chừa rồi, lính chiến mà. Có khi vài tháng không một giọt, đi chiến dịch kiếm đâu ra.
- Chịu mày giỏi. Ăn chơi trời sợ, thiên lôi đánh trật búa, khi tu thì chừa ráo cạo... A-lê, cụng ly mừng tái kiến !
Rượu quả là đặc biệt. Năm Chò đã chừa tật ngưu ẩm, chỉ nhấp thong thả để hưởng vị thơm ngon trên lưỡi. Đúng với lệ chung của những bữa cơm khách, Chín Mén nhấc bánh tráng lên bẻ đánh rốp báo hiệu mở màn cuộc nhậu. Năm Chò ăn nhúng tái. Chín Mén chỉ khỏa nhanh miếng thịt qua dấm sôi, gần như ăn sống.
- Mày bây giờ hai ngựa hai xe, giàu rồi hả ?
- Nhờ ơn bộ đội đó. Thằng út em ruột tao đi lính trung đoàn 803, bị bom cụt chân, về ở với tao trót năm chẳng kiếm ra việc gì cho đáng việc. Mới đây bộ đội rao bán đồ dư, tao vét hết tín phiếu, đập vô cái xe đạp nữa, mua được con ngựa tốt với cái xe hư, sửa cho thằng Út chạy. Đi đâu tao cũng kèm đằng sau, hễ có trục trặc tao lo, chớ nó chân gỗ khó xoay lắm. Tao cho nó con Nu già hiền hơn, nay ngựa thuần cương thạo rồi. Kiếm được nghề rồi, nó đang kiếm vợ, hì hì... Cỡ tao đã kể vô chủ tư bản chưa ?
Năm cười xòa:
- Không ốm không đau, làm giàu mấy lát... Ít nữa làm lễ chiến thắng to lắm, biết chớ ?
- Biết thừa. Cán với quân ngồi xe tao nói miết. Xe hơi kéo đại bác cũng tới sân vận động rồi, nghe nói duyệt binh lớn lắm, lễ cát-to giuy-dê hồi Tây chỉ bằng ngón út. Tao thèm coi quá mà gác nghiêm lắm, có giấy mới vô được. Còn làm lễ Ihành lập đại đoàn sư đoàn gì đó nữa. So với hồi tụi mình ở khố đỏ...
- Mày muốn vô coi không ?
Chín Mén đặt ly xuống, mở to mắt:
- Ngu, tao ngu thiệt. Ngồi với ông bự mà quên xin giấy ! Cho tao vô nghen. Xưa nay chưa có lễ nào to tới vậy, sắp tới cũng chẳng còn mà coi, uổng đời.
- Cho mày vô, mà ngồi xe ngất ngưởng, có lính giẹp đường, xếp hàng đầu !
- Tàu bay giấy !
Năm Chò nói ý mình. Anh em thương bệnh binh ở quân y viện muốn dự lễ, số bị nhẹ tự đi được, còn mươi anh em trúng chân hay chưa đủ khỏe cũng muốn đi. Anh định xếp vài cái xe ngựa cho họ ngồi vào dự, với biển căng hai bên “Xe thương binh dự lễ”, có y tá và cán bộ mang giấy đi kèm. Đánh xe phải là người đáng tin cậy. Chín Mén đã từng giấu Việt Minh trong nhà, lâu nay cũng được tiếng tốt trong giới đánh xe...
- Phải, phải, mày nhắc tao mới nhớ hồi bóng tối tao có chút công đó, quên ráo. Tao sơn lại xe, chải ngựa, mượn đồ xi-ta mặc vô, bảnh hơn xà-ích đánh xe cho quan giám binh Tây. Bảng treo thì mày biểu viết thiệt đẹp nghen.
- Có điều... mày đừng phiền... bà xã kèm hai đứa nhỏ ngồi với thương binh không tiện...
- Ối, đừng sợ ! Hội hè là ngày bả phát tài. Khiêng bả thả vô sân, bả cũng lén trốn về bán quán ! Sắp nhỏ vô đó, ai lo chuyện ỉa đái, đói khát, khóc đòi về ? Hai xe đủ không mày ? Còn vài đứa nữa cũng tốt nết lắm, cho đánh xe vô được chớ ? Còn thứ lưu manh cầm cương thì lạy sống cũng không cho, lỡ ăn tiền của Tây ném vài trái lựu thì tao bị xử tử oan !
Thỏa thuận cuối cùng là bốn xe. Hai người được chọn sau là một bác có ba con liệt sĩ, một trung đội phó xuất ngũ. Cả bốn xe đều phải chỉnh tề như xe giám binh, ngựa chứng phải thay, cờ mũi xe phải mới. Chín Mén nhận chỉ huy.
Năm Chò vui vẻ đạp về trung đoàn.
Trong dịp lễ lớn sắp tới, anh bị điều lên Ban tham mưu trung đoàn để tổ chức duyệt binh. Bộ đội đang tập đi đều hàng tám, thêm cái động tác đi nghiêm với chân duỗi và tay đánh ngang vú mới trông hơi tức cười, trong đội hình lại oai phong lẫm liệt. Nỗi băn khoăn dày vò anh về người ở lại chìm sâu dưới những trăm lo toan hàng ngày, chỉ trồi lên hành hạ anh về đêm, mỗi ngày đêm như thế lặng lẽ khắc sâu thêm đường nhăn trên trán và để lại thêm một vài sợi bạc trên tóc.
Lễ mừng chiến thắng lớn chưa từng có của bộ đội và nhân dân liên khu Năm đã xong, chỉ rủi ro một chút là trời kéo mây mù, tiếp đổ mưa. Các phóng viên chụp ảnh và quay phim của liên khu và Bộ tổng tư lệnh vò đầu bứt tai, trong khi lính rỉ tai nhau: “Lễ này mưa mù là phải, thống nhứt xong mới có lễ nắng đẹp”.
Sân vận động đầy nghẹt những đơn vị bộ đội đã vào lần lượt suốt đêm, đúng giờ phút quy định nhằm tránh chen chúc, tranh chỗ. Đại biểu nhân dân phải hạn chế. Hàng vạn dân dầm mưa đứng đầy hai hên đường đợi lễ tan, bộ đội đi đều ra khỏi sân, để căng mắt tìm người thân trong những khối diễu hành. Tìm cầu may thôi, chỉ mươi phút đã hoa mắt váng đầu, thấy anh nào cũng giống người đang tìm, đành nán đợi hàng quân cuối cùng qua hết mới lau mắt và xoa dầu cù là vào thái dương.
Các trung đoàn tiểu đoàn lại nhích dần đến cảng Quy Nhơn theo kiểu cuốn chiếu. Hai tàu biển lớn của Ba-lan và Na-uy chạy con thoi đón vợi người ở phố cảng, lập tức có đơn vị khác lắp vào đợi sẵn. Riêng các bộ phận cồng kềnh như quân y không phải bước tới xếp hàng từng chặng ngắn như thế, mà lâu lâu mới chuyển một chặng dài, dừng ở nơi có tiện nghi khá nhất. Vì thế quân y viện 108 còn ở lại gần thị xã Quảng Ngãi sau khi trung đoàn đã tiến tới một quãng xa.
Bốn xe thương binh vào sân dự lễ đã thu hút sự chú ý chung. Chín Mén rất chững chạc dẫn đầu, bên cạnh có Năm Chò ngồi với phù hiệu sao tròn hai vành vàng của cán bộ tiểu đoàn trở lên. Bộ phận gác cổng quen mặt anh do đến thu xếp nhiều lần, chỉ đứng nghiêm chào và giẹp đường xe đi. Phía trước lễ đài không còn chỗ, ở đấy có mấy đơn vị danh dự vác quân kì, đội nhạc binh, đoàn phóng viên, những dãy pháo cối chiến lợi phẩm to nhất. Bốn chiếc xe vẫn được đỗ hàng đầu, nhưng là đầu mút, không thể ưu tiên hơn nữa.
Trong xe Chín Mén có một anh thương binh cao lớn, râu quai nón cạo xanh má, đầu băng trắng và tay trái bó bột, chống gậy đi nhúc nhắc. Chín Mén không thể ngờ đó là thằng nhỏ Sáu Cam mà vợ trước của anh bắt gánh nước thuê trả tiền cơm trọ. Cam đã dặn anh Năm Chò đừng giới thiệu, đừng nhắc tích cũ, để anh Chín quên luôn đi là hơn.
Cam bị thương khá nặng nhưng không chết. Sau hai đợt mổ, bác sĩ nói đùa đã thu được nửa ki-lô sắt vụn trong thịt Cam. Tám vết thương tất cả, mất máu nhiều, nhưng sức trai khỏe và thuốc dùng hào phóng nên mau lại sức - khi biết ta ngừng bắn rút quân, các thầy thuốc trút cho Cam nhiều thứ thuốc quí để dành dùng đủ một mùa chiến dịch. Nay Cam chỉ còn cánh tay trái gãy xương, trong khi hai vết ở trán và đùi đang kéo da non. Vết rạch bụng tưởng nguy, may chưa xé rách màng bụng, chưa phá ổ bụng, lại lành trước.
Anh Năm Chò chạy lo việc đơn vị, gần cuối buổi đến giúi cho Cam mấy chữ nguệch ngoạc: “Xong lễ, E mình cuốn chiếu một khúc nữa. Anh cả đã về tới đây, khỏe. Ảnh có ghé qua Linh Lâm, ở đó thường hết, địch chưa lên tới vùng trên, mới quản dọc đường Một. Anh sẽ ghé thăm em nay mai”.
Hôm nay nắng ráo, Cam ra sân chống gậy tập đi. Nằm mãi, chân tay bị chuột rút và tê dại, lưng dễ bị loét. Đi được hơn năm chục thước mới đau đùi, tiến bộ rồi. Chỉ phải cưỡng lại những cơn ngứa của thịt lên da non, ngứa cả bên trong lớp bó bột mới rầy.
Chiếc máy bay thứ ba trong ngày lừ lừ qua thấp, lấy đường Một làm cữ để đáp xuống sân Qui Nhơn. Loại Ca-ta-li-na bụng chửa, đậu thủy bộ đều được. Máy bay vào Sài Gòn bay xa ngoài biển... Bấy nhiêu năm qua, tiếng ù ù trên trời luôn luôn gây phản xạ y hệt: tìm chỗ núp, sửa vòng ngụy trang, chờ lệnh bắn hay lệnh chạy xa chỗ quả khói chỉ điểm. Nay mới luyện phản xạ mới: nó bay kệ nó, việc ta ta làm.
Có thêm tiếng ù ù trên quốc lộ. Tiếng ô-tô. Quân y viện đóng tạm trong một trường tiểu học khung tre lợp lá dừa dựng kín dưới rặng tre cao, cách đường cái năm chục thước. Đường vào mới mở rộng gần đây, khi các em nghe tin thương binh được xe đưa đón. Sửa xong đường mới bật cười: đó chỉ là những chiếc xe ngựa lóc cóc chạy đêm với cái đèn dầu lúc lắc trên càng của thời chiến.
Chiếc xe Gíp chạy chậm xem đường, rẽ vào trường. Lại một vị cấp côi nào đó sực nhớ tới thương binh, đến nói mươi câu an ủi. Mới hôm kia, một ông phái viên béo trắng của liên khu đến bằng ngựa, mời thương binh dồn vào phòng lớn - hai lớp đã tháo liếp cho thông - giảng một giờ về hiệp định, đả thông tư tưởng, chỉnh đốn tác phong, hẹn chắc hai năm sẽ thống nhứt chẳng sai. Thương binh không vỗ tay hoan hô nhiệt liệt, không đáp từ hứa hẹn, cũng không thắc mắc xin hỏi. Ông phái viên ra đi, trên bộ mặt béo trắng ẩn hiện chập chờn hai vẻ ngược nhau: thỏa mãn với bài diễn thuyết của mình, khó chịu trước sự thờ ơ đáng trách của thương binh đối với quốc gia đại sự. Ngả lưng xuống tấm ván cửa kê trên ghế dài làm giường, anh tiểu đoàn trưởng nằm hên Cam thở mệt nhọc:
- Tay đó mình biết, đại đội trưởng quân nhu, cả đời chưa hít mùi khói súng. Ba hoa thề thốt làm gì để về sau phải chối quanh lánh mặt ! Thà cứ nói rằng chúng ta là lính cách mạng, hễ còn giặc thì lính còn đánh, hễ cách mạng chưa xong thì còn phải đấu tranh, vậy thôi !
Xốc một làn bụi mỏng, chiếc Gíp vòng tránh trụ cờ mới dựng, đỗ ngay trước thềm. Ba anh cán bộ bước xuống nhìn quanh, sửa áo mũ, đi vào căn phòng giáo viên có dán tờ giấy chữ to: Quân y trưởng. Ngồi chỗ góc sân, Cam nhận ra ngay Năm Chò trong nhóm, hai anh kia lạ mặt.
Mươi phút sau, y tá ra sân gọi to mời thương binh vào họp ở phòng lớn. Đợi mươi phút nữa, nhóm khách cùng đi với bác sĩ quân y trưởng vào phòng. Bác sĩ nói hồ hởi:
- Xin giới thiệu với các đồng chí, có đồng chí Phan Chanh, chính ủy trung đoàn thuộc Tình nguyện quân Hạ Lào - Đông Bắc Miên, nhơn khi đơn vị hành quân tập kết qua đây, ghé chào và chúc sức khỏe anh em ta !
Lần này thương binh vui vẻ vỗ tay. Lính với nhau cả, nhưng ai cũng biết lính Hạ Lào phải đi xa và chịu khổ rất nhiều, còn gian nan hơn lính Cực nam là nơi mỗi ngày chỉ được một ca nước. Anh cùng đi có lẽ là thư kí, không nghe giới thiệu.
Cam không tin ở mắt mình nữa. Cam chờ gặp một anh Chanh quấn váy kẻ ô xanh đỏ quanh lưng, trùm khăn trên đầu, đi chân đất, như mấy cán bộ đội Hạ Lào về phép luân lưu gặp Cam đã tả. Đây khác hẳn. Anh Cả Chanh như vừa rời tiệm hớt tóc và tiệm may hạng nhất tới thẳng quân y. Anh mặc bộ áo quần kiểu đại quân hay đại cán gì đó, Cam chỉ thoáng thấy mấy anh từ Bộ tổng tư lệnh vào diện trong dịp lễ: áo bốn túi bằng thứ vải xanh lá trơn đẹp, quần ủi nổi đường li sắc lẻm, giày da đen có cổ đế cộp đánh bóng soi gương được, mũ phủ vải mới đính sao hai vành vàng, súng ngắn có dây choàng vai đeo bên sườn trái, xắc-cốt da cùng màu vàng sẫm với bao súng. Cán bộ liên khu chưa có ai sang đến thế. Mà lại đi xe Gíp chạy xăng, có thư kí xách cặp theo sau !
Cả Chanh nhận ra Cam ngay, anh nháy mắt gật đầu rồi thong thả đi từng giường. Nhiều cán bộ nhận ra “ông Chanh xe lửa”, tán chuyện thoải mái. Sau nửa giờ anh mới đến chỗ Cam, người cuối cùng, rỉ nhỏ: “Ta ra sân một lát, em !”.
Cam chống gậy nhúc nhắc bước ra, Cả Chanh và Năm Chò đỡ hai bên. Sau phút mừng đầu tiên, Cam thấy cái cảm giác ngờ ngợ không vui cứ tăng dàn. Chẳng ai ép anh Chanh chịu cực mãi, trên cấp cho thì hưởng thôi, nhưng giữa lúc lính và dân đang thiếu thốn, anh xài bảnh quá cũng khó coi. Cán bộ trung đoàn đã oách vậy, các cấp rất cao chắc phải ngất trời: ăn cơm như tiệc, đi máy bay riêng, một lô hầu cận theo sau, đi đâu lính dàn ra đón tới đó...
Ba người ngồi xuống cái ghế dài kê dưới bóng cây để thương binh hóng mát. Cả Chanh tủm tỉm nói ngay:
- Năm Chò biết rồi, em Sáu chưa biết. Anh đóng kịch khá đó chó ?
- Đóng kịch ...
- Đóng kịch tập kết, rồi ở lại miền nam.
- Ủa... bộ đội mà, sao anh... nó giết mất còn gì ?
- Nó muốn giết, ta đừng để nó giết !
- Anh về thành phố... hay ở bí mật ?
- Tùy cơ ứng biến. Hễ thằng Ngô Đình Diệm biết nể hiệp định, ta về thành phố lập hội, đóng trụ sở, trương cờ. Nó khủng bố thì về nông thôn, vô rừng núi. Được như các đảng cộng sản Tây Âu là hay nhứt, mà chắc không được, Mỹ với Diệm chống cộng trắng trợn lắm, ác hiểm lắm. Mình làm đúng hiệp định, đưa quân đội với chính quyền đi. Nhưng Đảng mình là đoàn thể nhân dân, dân có quyền tự do lập đoàn thể, đảng viên ở lại chẳng có vi phạm vi phiếc gì hết. Lý thuyết vậy, thực tế bây giờ là nó lùng giết mình, mình phải lánh né cái đã...
Cam thốt ra câu hỏi nóng cháy của mọi người:
- Anh Cả có tin hai năm nữa thống nhứt không ?
- Cứ rán hết mức, hai năm xong càng hay, chưa xong phải làm tiếp chớ chịu bỏ à ? Hồi mới đánh Tây, chẳng ai nghĩ đánh tới chín năm, anh cũng vậy, trên nói trường kỳ anh cho là mấy ổng phòng xa, hà hà...
Cả Chanh thu xếp việc rút quân ở mặt trận Tây-Nam khá chật vật, phải phóng người đi gọi các đội Xung phong công tác ở sát biên giới Thái-lan, thuốn sâu vào địch hậu Đông Bắc Miên. Rứt ra khỏi dân thật không dễ, phải thăm viếng chào hỏi, đợi làm lễ chúc phước cho các mẹ vui lòng, năn nỉ các cô đã dìm thuyền nơi vắng để giữ chân anh em. Chanh được thư hỏa tốc gọi về khu. Anh Hai Thỉnh trao điện tối mật: Chanh sẽ ở lại miền Nam, cần về ngay Quảng Nam nhận chỉ thị mới. Đến trạm biên giới, một thư của anh Tô Xáng đợi sẵn, dặn Chanh phải ghé Linh Lâm để chào từ biệt đi tập kết, có thể cho một người tin cậy trong nhà biết mình ở lại nhưng phải cấm để lộ, địch biết sẽ hại cả nhà. Thư cũng hướng dẫn đường dây băng núi vào Quảng Ngãi gặp liên khu ủy, nhận thêm chi thị về tổ chức bí mật của Đảng.
Chanh chỉ ở Linh Lâm hai ngày, đủ đi chào và bàn việc nhà. Năm Bưởi không đi được, ông Tư Chưa không muốn đi. Hai Thùy được biết chồng ở lại, cũng tháo gánh không chịu đi, Chanh dỗ mãi chẳng ăn thua. Chị lựa lời nói với chòm xóm: “Đợi ảnh bấy nhiêu năm còn được, hai năm nữa là bao !”.
Anh băng núi đi xuống, vòng tránh những chỗ địch đóng, đến thị xã Quảng Ngãi kịp dự lễ chiến thắng 2 tháng 9. Bàn xong công việc, liên khu còn buộc anh đóng kịch thêm một tuần: mượn đồ sang đi phô trương nhiều nơi, vì quá nhiều người biết mặt anh trong những năm làm xe lửa, sau đó đóng vai dân ruộng hay dân buôn luồn núi trở về Quảng Nam tìm anh Tô Xáng.
Nghe thủng chuyện, Cam mới thấy mình quá trẻ con. Trước mắt Cam, anh Cả lớn vọt lên như hồi xưa ở Qui Nhơn Cam đã trông thấy sau những ngày ăn xin đói khát. Những gì nữa đang đợi người anh chưa từng được hưởng chút gì từ ngày biết Đảng, chỉ cống hiến và hi sinh ?
Năm Chò rủ tất cả ra quán Chín Mén làm một chầu tiễn đưa. Cả Chanh bằng lòng ngay, chỉ dặn ra đó phải giúp anh diễn tiếp vai kịch sắp xuống tàu. Chín Mén lóa mắt khi gặp lại ông Cả Trà oai hơn giám binh đến bằng xe hơi với cả bộ ba Hội An năm xưa. Anh ta cười đứt đôi cái mặt, giới thiệu với khách ăn ngồi đầy quán về ba người đi tập kết. Sáu Cam không giấu mình nữa và anh Chín đã quên hẳn chuyện người vợ cũ.
- Cụng li anh Cả ! Hai năm nữa ta làm lễ tái kiến, ở đây hay Hội An gì đó, em xin chôn mấy bình đặt biệt chờ ba anh em trở về cố quận !
Đồng chí giao liên trẻ măng, vác rựa cõng gùi như người lên núi róc vỏ sim hay bứt mây, dừng lại nói với Cả Chanh:
- Chỗ này ngó xuống thấy rõ nhứt đây anh, lên khúc nữa là khuất.
- Ta nghỉ chút hè.
Chanh đặt cây đòn gánh có cuộn dây dừa buộc ở đầu, cởi mấy cúc áo trên hứng gió, nhưng vẫn giữ cái tay nải quàng chéo trên lưng, đúng thói quen ở Lào phòng địch đánh úp.
Trở về Quảng Nam, Chanh phải vòng xa hơn trên đồi gò, tới đây rẽ lên núi hẳn. Đối phương đã tiếp quản thêm một quãng nữa, cắm thêm một số bót gác phía tây quốc lộ Một khi con đường “tập kết trễ ngày” bị lộ. Sau những vụ khủng bố đẫm máu không dấu được, nhân dân cả vùng tự do lẫn vùng bị chiếm đấu tranh rất dữ, chúng chùn tay phần nào, bắt và giết người kín đáo hơn.
Từ mỏm cao này nhìn xuống thấy được hai chỗ chúng đóng quân, với cờ tam tài và cò sọc dưa treo song song trên chỗ hơi cao, chỉ khác trước là không rào dày đặc và không bắn pháo cối cầm canh ra chung quanh. Bọn tâm lí chiến làm ăn ráo riết. Vừa kéo cờ lên buổi trưa, xế chiều đã có loa chạy khắp nơi mời đồng bào đi coi phim không mất tiền, đêm đã có một vùng đèn điện sáng rực và ca nhạc vang dội qua máy phóng thanh. Nếu “đồng bào thân quí” lánh né liên tiếp mấy đêm không đến, chúng mới cho quân vác súng đi lùa tới dự mít-tinh ban ngày, bắt đầu hăm dọa. Trong khi đó gián điệp của chúng luồn vào vùng ta phá rối đủ cách, từ cắt dây điện thoại đến gài mìn chỗ trẻ em hát múa.
Chanh ở lại vùng tự do chẵn mười ngày. Một vùng tự do đang thu hẹp dần, co dần hai đầu, để biến hẳn sau hạn cuối ba trăm ngày.
Anh gặp may khi vào tới liên khu ủy. Chánh văn phòng là người quen cũ ở nhà lao Công-tum, mừng rỡ xô ghế bước ra vồ lấy anh trong khi hai máy điện thoại trên bàn cùng réo - có tất cả năm máy dã chiến kê thành dãy. Anh Hồng Long đi tàu biển ra Bắc gặp Tổng quân ủy vừa về, đã quy định xếp ưu tiên một cho các đồng chí ở lại cần gặp anh. Bí thư liên khu ủy làm việc với Trung ương chưa xong. Đặc biệt có anh Bảy Quý, ủy viên Trung ương và phó Ban tổ chúc cũng theo tàu vào, hỏi thăm Chanh nhiều nhưng nay không gặp được: anh đang ở các tỉnh Cực Nam Trung Bộ, giúp xây dụng các tỉnh ủy bí mật tại vùng đất cũ của mình.
Anh Hồng Long tiếp Chanh ngay chiều hôm ấy, với bộ mặt thiếu ngủ bơ phờ. Vừa bắt tay xong, anh hỏi một câu không ngờ:
- Chanh bên Lào về, có thèm thịt chó không ?
Chanh ngẩn ra, phì cười:
- Thứ đó ở đâu chẳng thèm !
- Hai Thỉnh về đây họp, được chế độ bồi dưỡng chiến trường, hắn ta dặn cấp dưỡng mỗi ngày mua cho một món thịt chó, hồi nào ngán sẽ báo lại. Tưởng mệ là dân Huế, mệ kiêng thứ đó chớ ! Mà sao hắn nói dân Lào tởm cái món cờ tây ?
- Khu bộ đóng trong rừng sâu, kiếm đâu ra cờ tây ! Tụi tôi sống với dân, họ không ăn mà cũng chẳng cấm. Hễ thôi không nuôi nữa, họ nhắn anh em tới bắt, thường họ dắt chó ra rừng cột vô gốc cây, anh em mình đem đi xa mà chén với nhau, tránh làm trong làng là được.
- Ồ, vậy tối nay cậu ăn mộc tồn nhà mình. Phu nhơn mình nấu thứ đó khéo đặc biệt, bả mới kiếm được một con giá rẻ còn to, tính tiễn đưa mấy đồng chí trở vô lại Cực Nam.
Anh Long ngoáy vội mấy chữ, bước ra hè gọi một chú bé đang gọt cây súng gỗ nơi góc sân: “Đem về nhà bác, đưa cho bác gái nghen”.
Cơ quan liên khu ủy và bộ tư lệnh liên khu đóng tạm trong một khu nhà tre lá dựng tách ra khỏi xóm cho đỡ lộ bí mật. Trong khi đợi xuống tàu, anh Long và vợ con ở một gian nhỏ chỗ khuất. Dân khu Năm được bộ đội nam tiến tập cho nấu và ăn chó, nhưng phụ nữ thạo nấu cầy còn rất hiếm. Chỉ đôi người như chị Long, vốn là du kích Ba Tơ đã nhào vô chém lốp xe Nhật, mới ngang tàng học cái nghề thiên hạ ngán ấy.
Ba đồng chí cán bộ tổ chức và bảo vệ được gọi đã đến. Năm người bắt tay vào việc. Theo đề nghị của anh Xáng bí thư Quảng Nam, liên khu ủy đã chỉ định Chanh làm phó bí thư tỉnh ủy bí mật, vì Chanh có kinh nghiệm hoạt động xây dựng cơ sở mật hồi Pháp thuộc cũng như ở địch hậu Hạ Lào sau này, lại quen nhiều với cán bộ các tỉnh bạn, thạo đường sá, thạo nếp sống thành thị. Những hiểu biết ấy sẽ giúp anh đối phó với vô vàn tình huống phức tạp sắp gặp nay mai. Chanh phải học thuộc lòng hàng loạt tên người, bí danh, bí số, mật hiệu (Chanh thoáng nhớ anh Bảy Quý năm xưa: bắt học thuộc lòng và trả bài cẩn thận !).
Chanh thấy như mình mang đến một tấm bản đồ in sẵn, vô danh. Từng đồng chí một dùng bút màu riêng, đang lần lượt vẽ lên đấy những đường ngoằn ngoèo, những dấu chéo, tròn, tam giác, ghi rất nhiều tên không in, nhiều con số khó đoán. Hệ thống tổ chức mới của Đảng hộ liên khu và các tỉnh sẽ hoạt động khác hẳn...
- Ta trở lại thời kỳ tiền khởi nghĩa, anh Long hè ?
Anh Hồng Long trầm giọng:
- Với những khó khăn lớn hơn... Ở vùng bị chiếm hay tranh chấp còn đỡ, hầu hết cơ sở ta nằm chìm, chỉ một số ít cán bộ với du kích ra mặt chống địch, nay cho đổi vùng, mai phục, tập kết, dễ thôi. Ở bốn tỉnh tự do tất cả đều công khai, địch biết rõ danh sách đảng viên, đoàn viên, hội viên các Hội cứu quốc, chẳng sót ai. Nếu ai dính vô kháng chiến đều đi cả thì phải tập kết toàn dân, cả lão thành cứu quốc, nhi đồng cứu quốc ! Địch biết ta quá rõ, mà ta biết bọn thù mới lại quá ít. Thằng Mỹ chống cộng khác thằng Pháp ra sao ? Thằng Diệm khác Bảo Đại ra sao ? Tôi hỏi nhiều, mà các đồng chí ở Tổng quân ủy và Bộ tổng tư lệnh chưa giải đáp được mấy, hứa sẽ nghiên cứu thêm thật gấp. Đành vậy, trên tìm hiểu thì ta cũng tìm hiểu, vừa thăm dò vừa tiến công, tự nghĩ cách ứng phó thôi !
Sau ba ngày làm việc ở liên khu, Chanh mượn áo quần và xe hơi sắm vai tập kết. Gặp Năm Chò và Sáu Cam trước, để lâu khó tìm. Tiếp đó anh đi gặp “giới xe lửa”. Giám đốc hỏa xa bây giờ là một lái xe ở ga Tua-chàm, cơ sở của anh Bảy Quí từ 1942, sau Tổng khởi nghĩa vào bộ đội, được điều về làm xe lửa khi đang giữ chức trung đoàn phó. Theo lời ông Hai Rề thì anh này được công nhân khen là chí công vô tư, lãnh đạo khá, nhưng chuyên môn thua xa Cả Chanh.
Giới xe lửa sẽ tập kết theo những chuyến tàu cuối cùng, bởi phải lo chở người và hàng về khu vực ba trăm ngày. Ông Hai Rề ra khỏi hố khám gầm xe đã nhiều năm, bớt cái tật ngưỡng thiên, chỉ thỉnh thoảng hất cao cái đầu như người chợt nghe tiếng máy bay. Ông buồn rầu cho biết trường hợp Bảy Tộ hi sinh cứu xe. Đêm ấy Bảy Tộ lái một chuyến tàu công hành chở toàn bộ đội, thương binh, chất nổ. Qua cửa Sa Huỳnh bị pháo tàu chiến bắn chặn mất một tiếng, tiếp đợi sửa đường ray chừng tiếng rưỡi nữa, đến Tam Quan khi đã sáng bạch. Hối hả trút người xuống, rồi Bảy Tộ cho tàu chạy trở ra núp đường hầm, toa trước máy sau. Bốn chiếc Co-bra cổ ngỗng bay đến, có lẽ tình cờ chộp được mồi ngon, đã vượt một quãng rồi còn quay lại, nhào xuống ném bom. Đầu máy rất hiếm quí, mà hơn một tấn chất nổ nếu trúng bom thì cũng rất nguy. Bảy Tộ bị nhiều mảnh bom, vẫn đứng mở hết ga cho đoàn tàu chạy thục mạng, lao tuột vào hầm sâu. Khi anh em thắp đuốc chạy tìm thấy thì Tộ đã hãm máy nằm hấp hối.
Thợ xe lửa chết và bị thương nhiều hơn hồi còn Cả Chanh, do máy bay đánh nhiều hơn, vào sâu hơn, rà bắn đến từng con trâu một cố gây nạn đói: “Giết một trâu bằng giết mười lính Việt Minh”, chúng rao như thế. Nghề chài lưới cũng tan hoang. Vũ khí Mỹ tốt hơn Pháp mỗi năm đổ vào một nhiều.
- Cả nè, nhắm chừng cha không kịp về thăm con Thùy đâu. Để cha viết thơ, gặp ai trở về ngoải nhờ chuyển cho nó. Ra Bắc chưa biết ai ở đâu làm gì, cha con mình nhớ tìm nhau nghen. Cha thì chắc vô hỏa xa rồi. Con thì ở quân đội, làm chánh ủy, vậy là thuộc Ban chánh trị... ờ, Tổng cục chánh trị, cha cứ gởi vài ba lá cho con ở Tổng cục chính trị, thời nay nó đụng...
Chanh muốn ôm ghì ông cha vợ, nói thật luôn, lại cố ghìm được. Ông sẽ chật vật viết thư, lận đận đi tìm con rể, chán rồi cũng thôi. Nay ông đang lãnh thư ký công đoàn hỏa xa, không nắm quyền hành gì mà lại làm dâu trăm họ.
Tuy anh Hồng Long cho phép xài xăng thả giàn vì ta ít xe, Chanh chỉ dám chường mặt thiên hạ đến Bồng Sơn rồi trở ra. Vây vo bấy nhiêu đủ rồi. Tin mới từ Quảng Nam dội vào ngày càng đáng lo.
Một nhóm cán bộ tỉnh đoàn thanh niên cứu quốc đi “tập kết trễ” cho biết Hai Khánh và Bảy Suyền trong Ban địch vận tỉnh đã về thành Đà Nẵng, chưa chửi ta trên đài hay ký truyền đơn rải máy bay như một số nhảy trước.
Số “tập kết chạy hoảng” tăng lên từng ngày. Đó là những cán bộ được bố trí ở lại hay cảnh nhà khó khăn phải ở lại dưới nhiều hình thức: ở công khai làng quê, đổi vùng và giấu tông tích, sống bí mật nơi rùng núi. Khi thấy địch bắt giết nhiều, cơ sở chịu đòn không nổi khai báo nhiều, họ đưa gia đình hoặc một mình chạy bừa vào vùng ta xin tập kết. Một trong những người gặp Cả Chanh dọc đường là anh Tám Lự, cố nông ở xóm Ấp Linh Lâm, được đội phát động đưa lên làm trưởng ban giảm tô xã Linh Giang nhưng không biết làm việc, nay đem một vợ năm con chạy vào, còn gửi lại ba đứa cho bà con nội ngoại. Nghe Tám Lự kêu đói khổ, mà đúng đói khổ thật, Chanh vét hết số tín phiếu ít ỏi còn lại biếu anh, anh còn năn nỉ xin thêm để “ăn rau cháo chờ tàu”.
Lại hiện ra thêm những trường hợp không ngờ, là số “tập kết đối phó”. Đó thường là số trẻ tuổi độc thân, lâu nay tránh đi bộ đội ta, nay sợ địch bắt lính, rất dễ bị địch vung tiền biến thành lưu manh, chỉ điếm, lâu dần thành kẻ ác. Cơ sở ta, cả cha mẹ số này nữa, xúm vào dỗ dành họ đi tập kết, nói khoác lu bù về thiên đường miền Bắc, họ chỉ gật đầu một cái là mổ heo giết gà làm lễ tiễn đưa gấp để chặn đường lui.
Còn nữa. Còn những trai gái trẻ hay người vợ lớn tuổi từ các huyện bị chiếm và các thành thị của Bắc Quảng Nam, vào tìm cha anh chồng con đi đánh giặc nhiều năm, quyết theo tìm tận miền Bắc, cũng ngây ngất vì không khí “xả láng ta với ta” đầy men say, đột ngột đến Ban tập kết đòi đi. Còn những gia đình gốc Bắc đã định cư từ xưa trong này, nhận được thư họ hàng ở Thái Bình hay Vĩnh Yên gửi vào theo tàu biển, bỗng nôn nao xin trở về quê cha đất tổ. Còn những đứa đã qua nhiều lớp huấn luyện của CIA và Phòng Nhì, nay nhận kế hoạch rình mò và phá hoại cùng với nhiều vàng, nhiều giấy bạc Đông Dương và giấy bạc miền Bắc, khoác khăn gói nghiễm nhiên xuống tàu Ba-lan...
Lác đác cũng gặp những bèo bọt trôi ngược dòng. Một lính trẻ lên cơn nhớ nhà nhớ vợ không chịu nổi, bỏ trốn. Một viên chức đã cưỡng được căn bệnh bất mãn, nay nó tái phát nặng hơn. Một cán bộ xã nghe tin cha già mẹ héo bị địch bắt, quay về đầu hàng. Và đôi người như Hai Khánh... người đồng chí tài hoa sắc sảo năm xưa mà Cả Chanh quí mến, cũng được Đảng coi trọng, đã vất bỏ tất cả để rẽ cương lối khác. Chanh hỏi lại liên khu ủy cho chắc: quả thật Hai Khánh không phải do ta gài vào hàng ngũ địch. Thêm một bài học nữa để “ông Cả Tin” trắng mắt ra. Đố ai bẻ thước mà đo lòng người !
Hai miền Nam Bắc chưa tách rời nhau mà trước mắt Cả Chanh đã hiện lên một rừng câu hỏi, cứ như bãi rau dớn với những đợt xoáy tròn mọc bên bờ suối.
Và lúc này, ngồi lặng trên mỏm núi, Chanh nhìn xuống vùng tự do liên khu Năm khi nó sắp thuộc về quá khứ.
Anh Hồng Long bảo ta giữ cơ sở ở đây khó hơn các nơi bị chiếm hay giành giật. Đúng vậy. Chúng ta rời những nơi ấy với vô vàn thương nhớ ít lo ngại. Anh tránh không nhắc đến nỗi đau của người cộng sản liên khu Năm khi phải trao đất và dân đã bóc hết lớp vỏ bí mật vào tay quân cướp nước (báo chí đổi gọi là đối phương, in cả ảnh lính ta và lính Pháp cắm hoa đầu nòng súng ngồi toét miệng cười với nhau, tùy ý các vị thôi chứ đối với tôi giặc vẫn là giặc, máu đã ngừng chảy đâu !). Sẽ biến đi khu căn cứ lớn nằm giữa bốn bề giặc vây đánh, cắn răng giữ được qua suốt chín năm xương máu. Tiếc buốt ruột một mảng Tổ quốc độc lập treo lơ lửng quãng giữa, đầu không đến trời chân không đến đất, xa Trung ương và xa cả Trung ương cục miền Nam mà vẫn bám chắc bộ óc của Đảng. Giày đinh của Pháp - Mỹ - ngụy sắp đạp trên dải đất nghèo và hẹp đã sinh ra và nuôi lớn những vạn người cầm súng nối tiếp nhau, đã làm ra và khiêng gánh những vạn tấn súng đạn, gạo muối, áo quần đến các tuyến lửa Bắc Nam Tây Đông, sang tận Lào Miên giúp bạn.
Lớp người mai sau sẽ học rất kỹ về chiến thắng Điện Biên “chấn động địa cầu”. Chắc chắn phải thế. Nhưng họ sẽ dừng hay chăng khi lật đến phần đuôi được ghi nhan đề chung là “Các chiến trường phối hợp” ? Họ có tò mò đọc những dòng rút gọn viết về chiến dịch bão táp giải phóng Bắc Tây Nguyên, trận diệt gọn binh đoàn cự phách GM.100 từ Triều Tiên sang, cuộc đánh vật dữ dội để hất xuống biển hơn bốn chục tiểu đoàn ùa lên chiếm vùng ta ? Họ đủ kiên nhẫn hay không để nghe kể rằng bộ đội chữa sốt rét bằng một viên kí-ninh vàng hòa cho sáu bảy người uống, xỏ tai búi tóc đóng khố để kéo từng người dân Thượng đến với Bok Hồ, chết lặng lẽ không tìm ra hài cốt bởi tất cả những ai nhớ chỗ chôn đều lần lượt ngã theo ? Họ sẽ cười, ngáp, nhún vai, hay sẽ động lòng thương xót khi biết chiến sĩ ta có thể sống hàng năm bằng củ rừng, lá cây, ốc suối, cũng có thể tắt thở sau vài giờ sốt mê man và bị vắt đói bò khắp thân, hút cạn máu ? Họ sẽ tiếp bước cha anh lao vào những chỗ mũi nhọn cách mạng, hay cố xua đi những kỷ niệm lẩm cẩm, u ám và lỗi thời của cha anh ?
- Đi anh hè. Đường vô nóc ông Xim đêm khó mò lắm.
Phải đi. Đường dài còn muôn ngàn trắc trở, khi trời tối giữa núi cũng như khi dạo đường phố dưới nê-ông xanh đỏ, khi đầu gối thúc cằm leo vào nóc Thượng và cả khi bấm nút thang máy vút lên lầu mười.
- Ờ, ta đi.
Nhấc cây đòn gánh lên vai áo bà ba vá một mảnh to, úp cái nón lá rách vành lên đầu, Cả Chanh đi tiếp.
Chú thích:
[1] Mén: bé, nhỏ.