Bia. Chỉ một chai bia thôi. Khát cháy cổ rồi, sắp gục rồi.
Lửa trời tàn khốc cứ tuôn xuống. Ruộng hoang mênh mông cứ trải rộng thêm mãi. Từng thửa bùn nhày nhụa phủ cỏ khô và tươi cứ bị kéo căng ra như cao-su, thửa sau vượt lâu hơn thửa trước. Đồn 76 nhô cao cái chỏm đỏ loét lù lù đấy, nhưng phải lội băng hơn nửa cây số đồng lầy mới tới chân nó. Giếng bị đầu độc. Suối khe cạn sạch, cạn vì ta cố phá đập. Không một bóng cây đỡ nắng, ta đã ra lệnh chặt trụi cây. Không một túp lều nào trên nền cháy của cái xóm ta vừa đi qua, ta đã cho quân đốt xóm, bắn chết hai mươi bảy người dân để bọn du kích ngừng chơi trò gài mìn. Việt Minh gọi ta là Tây Bia. Hai Bia, thằng quỷ Bia, ái chà, chúng không ngờ quỷ Bia đang thèm muốn chết một chai bia ướp lạnh...
Từng lúc, một viên đạn bắn tỉa của du kích núp trong những bụi tranh đế lau lách xác xơ tít đằng xa lại bay tới, phát ra tiếng “chíu” như bia hé nút, xóc xuống bùn rong róc như bia rót vào cốc vại. Cả hàng quân bì bõm cùng một lần rùn người rụt cổ xuống, lại cùng rướn người lên, ỳ ạch rút một chân ngập bùn đến gối duỗi tới trước, lại khom lưng kéo tiếp chân kia. Hơi nóng và thối từ đáy ruộng ùng ục phòi lên chung quanh gối như bia sùi bọt mạnh, thứ bọt làm ngạt thở hoa mắt.
Quân trên đồn vẫn bắn che qua đầu đám lính rút lui. Đạn đại bác 75 và cối 81 sắp hết, lũ giữ nhà chỉ giã hú họa năm bảy quả cối 60 hay xổ vài tràng trọng liên vào những chỗ nghi có du kích luồn lách đuổi theo. Hai trung đội lính pác-ti-dăng[1] đi trước ít bị ăn đạn lẻ, du kích cứ bám theo trung đội Âu-Phi đàng cuối mà chọn mồi, nhưng nghe chừng hầu hết súng đã rỗng.
Tặc-tặc-tặc-tặc. Pù-pù-pù-pùng.
Díu-ục. Díu-u. Díu-u-uuu...
Trung liên Việt Minh !
Một tiếng rít tuyệt vọng buột qua mũi Pi-e La-phác-sơ. Hắn ngồi thụp xuống ruộng, cũng vừa lúc tên thượng sĩ người Hà-Lan kêu rú, ngã sấp ngay trước mặt hắn, bùn nước xộc vào mồm bịt lấy tiếng rống tử thương.
Tắc-pùng-díuuu. Tắc-pùng-díííu...
Cả đại đội vùi nửa người trong lầy, bắn trả hú hoạ về hướng trung liên địch. Pi-e cố dỏng tai nghe, chỉ nhận ra tiếng súng trường nhiều cỡ táp nhau của du kích. Trung liên chỉ nổ một loạt rồi im. Súng hóc, người bắn trúng đạn lạc, hay hết đạn ? Chao ôi, chỉ cần vài cây trung liên của đại đội thằng quỷ sứ Năm Phi Đao, từ rặng lau bói cách ba trăm mét kia, xổ vài chục băng vào cánh quân sa lầy của ta, ắt sẽ gặt ngót trăm linh hồn gọn hơn lưỡi hái Thần Chết !
Trung liên câm hẳn rồi. Pi-e cố quát khàn khàn bằng cổ họng khô rát: “Lệnh trung úy: vượt nhanh về đồn”. Chuỗi lính hàng dọc hổn hển truyền lệnh như nói thầm.
Pi-e không biết mình đã trườn bò lết lăn cách nào mà về đến nơi. Hắn chỉ nhớ mang máng thấy bọn pác-ti-dăng đằng trước lén tụt bỏ giày và liều mạng với chông cắm lẫn trong cỏ, kín đáo đánh rơi từng vốc đạn và đạp vùi luôn xuống sâu. Lần lượt, mấy tên gốc Bắc Âu chịu nắng kém lăn gô ra một bờ ruộng nào hiện trước mắt, thân thể gần như trần truồng đỏ bằng cua luộc, bùn phủ kín từ rốn trở xuống, không còn đủ sức gỡ mớ đỉa to nhỏ đang phình nhanh trên thân, chỉ thều thào chửi thề và gọi Chúa. Hình như hắn đã lê qua một vũng thủy ngân có đèn chói chang bên trên và than hồng đun dưới, với tất cả các thứ khí độc hại nhất xoáy quanh người: cái bình nấu xác của phù thủy luyện phép... Rồi mươi gáo nước mát tuôn trên mình hắn, một ca nước lạnh ồng ộc dội tắt ngọn lửa trong cổ và phổi hắn, thêm một ca nữa, một ca nữa...
Hắn tỉnh dậy lúc xế chiều.
Cặp mắt lờ đờ mở ra một lúc, hắn mới nhận ra cái pan-ka[2] lủng lẳng trên trần hầm chỉ nhúc nhích cầm chừng trong khi mồ hôi hắn vã ướt cả giường vải và cái xi-líp hắn mặc. Tên pác-ti-dăng ngồi kéo quạt chỗ góc hầm đang ngủ gật. Hắn “hừ” trong mũi, quờ tay nhặt cái vỏ chai bên giường ném mạnh vào đầu thằng lười, chỉ trúng ngực. Tên kia bật kêu hoảng hốt, đứng chồm dậy, rồi sợ sệt ngồi xuống, khom lưng kéo lấy kéo để như muốn dứt đứt sợi dây dừa trong tay.
Nằm dưới quạt lát nữa cho ráo mồ hôi, Pi-e cho gọi thiếu úy đồn phó và thượng sĩ trực ban đến, vẫn nằm dài, hắn nghe báo cáo về hai ngày rưỡi hành binh khốn đốn vừa qua, mặt lì lì. Thua nặng. Thất bại bét be. Ra đi hùng hổ, trở về bò lê bò càng...
Hai tiểu đoàn - một lê-dương bộ binh, một quân Bảo Đại - được tung về quét Việt Minh mạn Bắc sông Thu Bồn, từ đồn 76 của hắn xuống gần tới quốc lộ số 1. Hắn nắm quân bản bộ, đánh kiểu biệt kích sau lưng đối phương dọc bờ Nam con sông, diệt các sở chỉ huy, kho tàng, các đoàn tiếp tế và tải thương. Rốt cuộc, hai tiểu đoàn kia chỉ sứt mẻ chút ít vì chông mìn và những phát “cắc-bụp”, trong khi được máy bay Đa-cô-ta thả dù cho no nê bụng người lẫn bụng súng, còn thêm lũ phóng viên Pháp Anh Mỹ Việt lăng xăng chụp ảnh quay phim cho lính phổng mũi. Hắn mở ra-đi-ô-phô-ni bắt tin các đài mà nổi ngứa ran cả lưng.
Thật sự đánh vật với Việt Minh chính là ba trung đội của hắn. Để thằng thiếu úy thò lò mũi xanh cùng một trung đội pháo và trợ chiến giữ đồn, hắn đích thân dẫn cánh quân ba màu da trắng đen vàng này đi chơi trò ú tim chết người với địch. Bọn gián điệp và viên chức Bảo Đại đã báo trước những bãi chông mìn, những tuyến phòng thủ, những trận địa phục kích của đại đội thằng Chò và các tiểu đội du kích xã thôn. Hắn so sánh mọi nguồn tin, vạch sẵn con đường luồn lách len lỏi bí hiểm nhất, lên kế hoạch hiệp đồng sít sao giữa bộ, pháo, máy bay trinh sát và tiếp tế. Rốt cuộc...
- Thưa trung úy, sáu quân nhân Âu-Phi tử trận gồm có trung sĩ nhất Vanh-tu-giê Giăng, hạ sĩ truyền tin Pác-mốt A-đôn-phơ...
Thằng truyền tin chết ngay bên ta. Là lính giữ kho mới học ra-đi-ô-phô-ni ba tuần, ra trận lần đầu, nó ngu đến nỗi không biết địch luôn luôn chăm chú tìm cái cần ăng-ten ngúc ngoắc để biết chỗ núp của sĩ quan chỉ huy. Cả sĩ quan và truyền tin đều là con mồi cao giá, đáng dùng tới các thứ hiếm hoi như đạn cối hay ba-dô-ca để diệt. Ta thoát, nhưng mất cả máy lẫn thằng Pác-mốt.
- Thưa, đây là danh sách mười bảy quân nhân Việt Nam tử trận...
- Xì, bọn ăn hại, thôi... Qua mục khác.
- Số thương binh phải đưa gấp về Quân y viện Đà Nẵng có hạ sĩ Pan-xet-si Ăng-toan và binh nhất Rô-crơ Giắc...
- Thằng Pan-xet-si ở cối 81 kia mà, có hành binh đâu ?
- Thưa, say rượu, đánh bạc rồi đánh nhau. Bị đâm hai nhát và một vỏ chai đập vỡ đầu.
Pi-e La-phac-sơ quay nhìn viên đồn phó đang đỏ mặt:
- Ông thiếu úy nắm quân thế đấy. Nhưng ông lại thích đưa các điều lệnh mẫu của trường võ bị Xanh-Xia ra bắt bẻ tôi. Còn phải học nhiều lắm, ông sĩ quan mỏ trắng ơi... Thôi, các người xào nấu một bản báo cáo xuôi tai, gấp lên. Cánh quân biệt kích của tôi đánh nhau với hai đại đội chủ lực Việt Minh, độ một ngàn du kích, thắng liên tiếp...
- Thưa, hạ được bao nhiêu ?
- Cứ lấy số thương vong của ta, nhân lên gấp năm... không, gấp bảy lần, là số của địch. Nhớ lèo thêm: không kể số thương vong đã được đồng bọn mang đi. Đánh điện xin gấp một hê-li xa-ni[3], hai chiếc càng tốt.
- Thưa, chúng tôi đã xin, Đà Nẵng bảo đang bận cả, mai mới có, hay là ngày kia.
Pi-e chồm ngồi dậy, gầm lên:
- Quỷ bắt cả lũ, mắc dịch chúng nó ! Chở gái điếm hay hàng buôn lậu mà hết cả trực thăng, trong khi toàn khu chỉ có cuộc hành binh này lớn nhất ? Đánh ngay một điện mật mã cho chúng nó: sáng mai không có hê-li xa-ni thì trung úy La-phác-sơ bỏ đồn 76, kéo quân về sở chỉ huy !
Viên thiếu úy nhóc con nãy giờ để mặc cho trực ban báo cáo, đến đây rụt rè chen vào:
- Thưa trung úy, tôi chưa kịp... chưa chúc mừng ông. Ban nãy thiếu tá Bri-môn đích thân báo tin vui: trong danh sách đề bạt lần này ông được thăng đại úy. Số sĩ quan ở gần Đà Nẵng đã làm lễ gắn lon hôm qua. Các sĩ quan đồn trú nơi xa sẽ được trung tá khu trưởng đến tận nơi làm lễ trước mặt đơn vị, có quay phim chụp ảnh tại chỗ. Trực thăng bận là vì thế, phái đoàn dùng tới ba chiếc... Còn một tin vui thú hai nữa: cụ Lê-ông La-phác-sơ vừa đến Đà Nẵng, cũng được mời cùng đi với trung tá đến đây thăm ông... sáng ngày kia...
- À, à, ông lại cứ ngậm miệng cá chép ! Thôi được, đi viết báo cáo cho kịp.
Thượng sĩ trực ban là bạn rượu bạn đĩ của Pi-e. Phẩy tay lên vành mũ vải gọi là có chào, hắn nheo một mắt hỏi vặn:
- Còn bức điện vừa nói đấy, vẫn đánh đi chứ ?
- Cút mẹ mày đi ! À quên, sục các lô-cốt kiếm cho tao mấy chai bia, thằng hầu của tao ăn vụng uống trộm hết nhẵn. Cô-nhắc tao còn, tối đến mà uống gỡ gạc.
- Cần mấy ả ?
- Mày chỉ giết tao hả ? Đang hấp hối đây, tao phải ngủ bù hăm bốn tiếng... Lại quên. Có hơn chục đứa tình nghi Việt Minh giải vô đấy, mày đem treo cổ hết đi, dãy giá gỗ dọc hàng rào bỏ trống mấy tuần rồi... Thằng người Ý chỗ pháo 75 mới nhận quà, có phó-mát chính hiệu pác-mơ-xăng ngon tuyệt, bảo nó biếu tao thêm nửa cân, tối nay ta nhắm.
*
* *
Viên trung tá tóc đốm bạc đã từng chỉ huy lính Lê-dương khét tiếng ngổ ngáo, lính ta-bo nói dối và ăn cắp thành thần, lính Bảo Đại chưa đánh đã chạy, biết cách nói trước ba quân sao cho tất cả cùng đẹp lòng. Lão ca ngợi các bạn chiến đấu đang trấn giữ nơi tiền đồn này, không chỉ ngăn chặn Việt Minh bảo vệ vùng quốc gia chung quanh Đà Nẵng, mà còn ngăn chặn cộng sản quốc tế để giữ vững thế giới tự do. Tất nhiên phải có tí lòng yêu nước và danh dự nhà binh như lớp rau thơm rắc trên mặt đĩa, nhưng lão nhanh chóng xốc lên lớp thịt bò ngon lành bên dưới: hàng loạt khoản ưu đãi đã và sắp được công bố, dành riêng cho quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương và những binh sĩ Việt Nam chung chiến hào. “Hàng ki-lô-met lon sĩ quan và hạ sĩ quan, hàng tấn huân chương, hàng tỉ đồng phụ cấp một lần hoặc suốt đời đang chờ các bạn !”. Lão không quên phun nước hoa trên cha con La-phác-sơ:
- Hãy xem: đại úy Pi-e La-phác-sơ khắc sâu căm thù Việt Minh cộng sản trong tim, luôn luôn vượt quá nhiệm vụ mình để đánh chúng tả tơi, thật đã xứng đáng với cụ Lê-ông La-phác-sơ, chuyên gia kinh tế đang cộng tác với Cục Hậu cần với cái vốn trí tuệ tuyệt vời của ba mươi năm lăn lộn trên các xứ Đông Dương !
Bữa tiệc khao ghi thêm một thành công khác nữa. Cha viên đại úy mới đã đặt hẳn một cỗ hai chục người ăn đủ các món Tây Tàu tại Đà Nẵng, người đầu bếp gốc Ý đi theo để chỉ huy bưng dọn. Lính đồn được phát thêm rượu mạnh và đồ hộp, cũng bằng tiền túi ngài chuyên gia, đủ uống say nghiêng ngửa đến tận chiều. Trung tá cho ba chiếc trực thăng chở cả thương binh lẫn lính đi phép về Đà Nẵng, hót đi một tên bị thương nặng đã chết trong khi đợi hê-li xa-ni, nhưng chẳng ai để ý chuyện vặt ấy khi bận nâng cốc mừng cuộc hành binh đại thắng vừa rồi. Đã lâu lắm đồn 76 mới được một ngày vui xả láng như thế.
Tám giờ tối. Máy phát điện nổ đều, chiếc quạt xoay Mi-re-li lão Lê-ông đem đến quét gió mát rượi trong căn hầm chỉ huy sáng rực. Nửa tạ quà đắt tiền đã được xếp gọn trong chiếc tủ lớn bằng tôn đề chữ “tối mật” của đồn trưởng. Tập giấy bạc năm chục ngàn Đông Dương cồm cộm trong túi áo lót của Pi-e. Lão Lê-ông ở lại với con vài ngày, sẽ về khu theo đoàn công-voa tiếp tế. Trung tá còn kéo lão ra một góc nói riêng khá lâu, rõ ra lão không phải là kẻ đi nhờ trực thăng.
Trong khi lão lúi húi pha hai cốc huýt-xki sô-đa có đá, Pi-e thốt ra một câu chưa từng nói:
- Con biết ơn ba hết sức. Vắng ba, ngày hôm nay sẽ rỗng tuếch, nhạt phèo !
- Cảm ơn lời cảm ơn của con. Mấy khi ba được nghe một lời mát dạ !
- Con phải cảm ơn và xin lỗi. Sống mãi với lính tráng cộc cằn, con trở nên thô lỗ, em Gia-net trách mãi... Mà sao thư nó gửi con lại bảo ba về Pháp nhỉ ?
- Nào, nâng cốc mừng vạch thứ hai trong đời võ nghiệp !... Gia-nét nói đúng đấy. Ba về Mác-xây thu xếp công việc ba ngày, bay sang Hồng-công hai ngày nữa, cố ý ghé Đà Nẵng thăm con, gặp dịp con được thăng cấp. Đáng lẽ lão trung tá đến gắn lon hôm qua, nhưng ba chưa kịp sắm sửa các thứ, phải bàn với lão hoãn một ngày và gạt bớt hai thằng phóng viên theo đóm ăn tàn, lấy chỗ chở quà cho con khao quân. Thằng thượng sĩ gì đấy uống say, bảo con chờ trực thăng sốt ruột chửi toáng lên phải không ?
- Ồ, giữa lúc rối mù... Đợi trực thăng, chết thêm một hạ sĩ pháo thủ. Chuyện vặt trong chiến tranh mà, hơi đâu... Nhưng con xem chừng ba có vai vế khá cao trong ngành Hậu cần thì phải ?
- Na-pô-lê-ông bảo rằng quân đội hành quân bằng dạ dày, quả là một ý thiên tài. Dạ dày quân viễn chinh ở Đông Dương quá to, nhồi vào chưa đẫy thì nòng súng tự nó chúc xuống đất, hệt thứ lính bằng cao-su phải bơm căng. Trong khi ấy Quốc hội Pháp chửi nhau loạn xạ, phe chủ hòa lấn đất, ngân sách cho chiến tranh Đông Dương ngày càng bị siết bu-loong, con biết chứ ?
- Biết. Giới sĩ quan nói Quốc hội là chuồng lợn, là nhà thổ, đủ thứ.
- Cái nhà thổ ấy đang nắm sinh mạng chúng ta. Đứa nào muốn lọt vào đấy cũng phải hứa với cử tri sẽ chấm dứt cuộc chiến tranh bẩn thỉu, trúng cử xong sẽ liệu cách nuốt lời. Lũ quan chức dân sự cạo giấy từ chính quốc sang phải tung ra một mớ nghị định xứng ý Quốc hội, và rỉ tai Bộ Tư lệnh quân viễn chinh: “Chống chọi kín đáo thôi nhé, đừng ồn ào”. Vì thế người ta mới cần đến ba...
Pi-e mở to mắt, ngậm trong miệng hớp huýt-xki xô-đa và súc nhè nhẹ - cái tật mà Gia-nét rất ghét - nhìn cha không chớp mắt. Hắn chỉ quen xem cha như viên đội quèn giải ngũ, như một chủ đất phá sản, đến cuối đời chịu làm lão bán thuốc ê được gọi là trình dược viên cho đỡ tủi thân. Chẳng ngờ cha hắn lại giàu sụ và bằng vai ngang vế với đám đeo lon bốn năm vạch...
- Mãi đến nay ba vẫn chưa nói với con: ba đang làm gì ?
- Thử đoán xem !
- Tình báo ?
- Ba không muốn dính vào chính trị.
- Quản lý viện trợ Mỹ ?
- Mỹ mới bắt đầu bố thí. Trao bằng tay trái, giật lại bằng tay phải, và cái mũi dài ngoẵng thì gí gục khắp nơi còn quá chó săn. Không ở ăn đâu.
- Con chịu thôi. Nêu ba thấy cần giữ kín...
- Cần phải kín, nhưng con có thể và nên biết. Trước kia ba không cởi mở vì thấy con đang say sưa với những chữ mỹ miều như tổ quốc, danh dự, nghĩa vụ công dân, văn minh khai hóa. Nay ba thấy con chim bay mỏi cánh đã xuống đất đi bằng hai chân, ba muốn ngỏ thật: hãy dành những lời hoa hoét cho giờ huấn thị dưới cờ, và thành thật nhận rằng lý tưởng chung của chúng ta là đồng tiên. Đồng tiền vạn năng, đồng tiền vô địch, đồng tiền che khuất mặt trời, đồng tiền mua được cả Giê-xu lẫn Xa-tăng. Con không nói trắng trợn như ba, nhưng con đã làm đúng ý ba. Muốn được nhiều lương, nhiều tiền thưởng thì phải lên cấp, hái lắm huân chương. Con kiếm huân chương và cấp bậc bằng những cuộc hành binh đầy những pha giết, cướp, hiếp, đốt, giật gân gấp trăm lần phim Viễn Tây của Hoa Kỳ...
- Con phải trả thù chúng nó !
- Con cứ trả thù, ba không can đâu. Ba chỉ ngạc nhiên khi thấy con đã ra lệnh triệt hạ bốn làng, bắn chết hơn một trăm người già, đàn bà, trẻ con, treo cổ ngót ba chục đàn ông tình nghi du kích, mà vẫn chưa hả mối thù riêng thưở nhỏ. Đến nỗi trung tá khu trưởng nhắc ba nên khuyên con hai điều: ta vẫn cần có dân để cày ruộng và đắp đồn cho quân đội ăn ở; những việc bẩn thỉu nên đùn bớt cho lũ quan chức và lính tráng Bảo Đại. Con thêm một vòng kim tuyến trên lễ phục, quyền hành sẽ to hơn, lời khuyên ấy đến rất đúng lúc. Sao nào ?
Khuôn mặt đang nóng bừng của Pi-e nguội dần. Một mảng lạnh loang nhanh trên lưng áo sơ-mi nhà binh. Nín lặng khá lâu, Pi-e mới cười gượng:
- Vẫn như xưa nay, ba luôn luôn có lý... Nhưng ba vẫn chưa để lộ ba đang làm gì...
Lão Lê-ông đặt cốc, cắm điếu thuốc lá thứ tư vào cái tẩu ngắn bằng ngà voi, thong thả châm hút. Pi-e chợt nhớ ra: từ nãy lão không động đến gói Cô-táp trên bàn, chỉ hút những điếu thuốc quấn tay sù sì trong hộp riêng bỏ túi, nuối khói thật sâu và nhả ra một làn hơi nồng nàn khác hẳn mùi thuốc lá, cũng khác mùi cần sa hay thuốc phiện tẩm mà hắn đã hút thử đôi lần.
- Đơn giản thôi. Ba là chuyên gia dân sự trong “Kế hoạch X” tối mật của quân viễn chinh, coi vắn tắt là kế hoạch dùng thuốc phiện nuôi quân đội. Ba góp sức vào tất cả các mắt xích của kế hoạch: khuyến khích trồng trọt thuốc phiện, thu mua, vận chuyển, bào chế, tổ chức tiêu thụ tại Đông Dương và bán ra nước ngoài.
- Nhưng... đây là hàng quốc cấm ! Bên chính quốc bài trừ từ lâu, các cao ủy ở Đông Dương đều ra nghị định cấm tiệt !
- Cấm, có nghĩa là rút vào bí mật. Trong chiến tranh, có bí mật nào cao hơn bí mật quân sự, có tổ chức nào vững mạnh và bí mật như quân đội ?... Mà thôi, hôm sau ba sẽ nói rõ hơn. Bấy nhiêu chuyện mới lạ từ sáng đến giờ đã quá đủ cho một ngày, biết lắm chỉ tổ chóng già...
Pi-e nhìn mặt cha, thấy rõ những, nét quen thuộc của người nghiện bắt đầu ngấm thuốc phiện: mắt ướt lim dim, cánh mũi phập phồng nhẹ, từng nét nhăn dãn ra hiện thành vẻ sảng khoái lâng lâng, nửa mê nửa tỉnh. Lão thong thả bước tới chiếc giường dã chiến dọn sẵn, lặng lẽ cởi áo quần, còn nằm nhắm mắt hít từng hơi thuốc dài trước khi buông màn ngủ hẳn.
*
* *
Cũng đúng vào giờ ấy, cán bộ từ trung đội phó trở lên lục tục kéo đến khu vườn hoang xơ xác. Giữa nền nhà trần trụi đặt hai cây đèn dầu lửa. Từng người rút dép lót ngồi, không dép thì bẻ một cành lá.
Ngồi tách riêng trên một thân cây đổ, xa chỗ họp, chính trị viên Ba Dĩnh cố thì thào bên tai Năm Chò những lý lẽ cuối cùng. Ánh trăng hạ tuần soi chéo trên bộ mặt đen trũi, lì lì không động với đốm sáng trong con mắt của anh đại đội trưởng, gợi hình một quả mìn bộ binh sắp nổ. Ba Dĩnh biết lắm: Năm Chò nạt nộ thét lác thì chẳng có gì đáng ngại, khi tức giận đến cùng cực anh mới hóa ra câm điếc như hôm nay.
“Hội đồng danh dự” sắp họp. Đây cũng là một sáng kiến của Năm Chò và một “lệ làng” của đại đội 8 độc lâp, khi xảy ra điều gì nghiêm trọng làm sứt mẻ danh dự chung.
Hồi đầu kháng chiến, Năm Chò hay họp mít-tinh toàn đại đội để bàn bạc và giơ tay biểu quyết. Khi chi bộ Đảng đông dần lên, anh thường mời họp chung Ban chỉ huy đại đội với chi bộ cho đỡ cồng kềnh và lộ bí mật. Đảng chưa ra công khai, nhưng nể lời đại đội trưởng nên đảng viên cứ đến tự nhiên. Trong khi khối anh chỉ huy ngoài Đảng còn cố ý hay vô tình phạt tóe phở những đảng viên lén đi họp tổ Đảng, được một cán bộ “có ý thức chính trị” như Năm Chò là quý lắm. Tới 1949, anh em được kết nạp ào ào, chỉ trong vòng một năm hầu hết đại đội được vào Đảng, đi họp chi bộ phải vác theo cả súng cối, gánh theo cả mìn, chỉ để lại mấy tân binh ở nhà trông chừng ba-lô, trú nơi gần địch thì toàn đại đội hành quân đến chỗ yên ổn để họp chi bộ. “Hội đồng danh dự” phải thu hẹp lại, chỉ gồm cán bộ trung đại đội và chi ủy.
Năm Chò cắt ngang lời dỗ dành:
- Tới đủ rồi, làm hè.
Anh đã thay mặc bộ quân phục xi-ta mới nhất chưa phai màu xám, đội mũ ca-lô đính quân hiệu mới phát tháng trước, hình tròn giập bằng tôn tô sao vàng và một vành vàng trên nền đỏ, khác với Ba Dĩnh có hai vàng vàng trên quân hiệu dành cho cán bộ tiểu đoàn trở lên.
Trực tinh đại đội đã xếp hội đồng đứng thành hình nửa vòng tròn, hô nghiêm báo cáo đàng hoàng hơn dịp trước. Trăng mỗi lúc một sáng, tỏa ánh xanh êm mát trên khu nền đất nện phẳng và sạch, nhà này kịp tháo giỡ chứ không bị đốt. Khác hẳn nhũng cuộc hội báo cán bộ đầy tiếng cười và tiếng cãi vã, lúc này mười bốn khuôn mặt đều cứng lạnh.
Sáu Mãnh, tiểu đội phó bắn trung liên, được một tổ liên trinh giải ra ngồi trước hội đồng, đầu cúi gằm, tay phải táy máy vạch những đường ngang dọc trên đất, thân hình cao to thỉnh thoảng rùng nhè nhẹ trong bộ quân phục ngoại cỡ. Con người này đã gây ra vô số cuộc tranh luận trong hàng cán bộ và đảng viên, nhất là giữa Ba Dĩnh với Năm Chò là hai người thương cậu ta hơn ai hết.
Mãnh vào bộ đội ngay trong Tổng khởi nghĩa, đi Nam tiến đánh giặc cùng một lượt với Chò và Dĩnh, qua vài trận đã nổi danh gan lì và bắn giỏi. Giữa lúc đạn to nhỏ của địch quét như hão, cậu ta kẹp nách cây trung liên vanh-cách hai cò đứng thẳng lưng bắn trả từng loạt ngắn ba bốn viên rất trúng đích, hết băng mới thịu thụp xuống, ôm súng luồn sang chỗ khác, thay băng, lại nhô lên quật nhào từng tên địch đang chồm tới địch cướp súng. Dạo ấy huân chương là thứ chi nghe nói chứ chưa ai trông thấy, Mãnh được rất nhiều giấy khen, bằng khen, tuyên dương công trạng.
Khốn nỗi, anh chàng lại mắc cái bệnh mà Ba Dĩnh gọi là “lưu manh nan y”. Cần gà rượu, cậu vác trung liên đi vào xóm lẻ nào đấy, hỏi xin vài câu lấy lệ, tiếp tới một tiếng quát và một tiếng lên đạn “róc-xoảng”, thế là gà đang ấp và rượu sắp cúng được đem ra nộp. Địch càn, dân chạy hoảng loạn, cậu vào các nhà vắng chủ có vẻ khá giả, lấy rựa bờ hay mai thuổng nạy rương hòm. Chiến lợi phẩm thì khỏi phải nói: sau mỗi trận đánh thắng, nhất là đánh đoàn xe tiếp tế, các đội viên tiếp đạn phải lặc lè cõng các thứ vơ vét của tổ trưởng, không ai dám hở môi lộ bem. Các cô gái làng nhẹ dạ theo anh bộ đội ấy ra chỗ vắng tâm sự, khi về nhà đều đã biết mùi đời. Một dạo Mãnh được đề bạt lên tiểu đội phó, rồi tiểu đội trưởng, cậu sai vặt và bạt tai đá đít chiến sĩ quá quắt đến nỗi cả tiểu đội kéo lên xếp hàng ngang trước đại đội bộ, đưa “bản thỉnh nguyện” đòi đổi tiểu đội trưởng, hô ầm lên cho cả đại đội cùng nghe và chạy tới: “Đả đảo Sáu Mãnh !”. Xấu mặt trước dân làng quá đỗi, Năm Chò phải ra lệnh báo động chuyển quân khẩn cấp. Đại 8 rời làng đi nơi khác, khiêng theo một Sáu Mãnh say rượu mê man.
Nửa tháng “cải hối thất”, thật ra chỉ tước súng và buộc về ở nhà anh xã đội trưởng chứ chỗ đâu mà giam, người đâu mà gác ! Hạ tầng xuống tiểu đội phó. Khai trừ khỏi Đảng không thời hạn. Hắn ta cứ tỉnh như sáo. Địch càn tới dồn dập, lại phải ấn trung liên vào tay Mãnh, dụ hắn lập công chuộc tội, Năm Chò không quên dặn thêm: “Mày không nể ai, cũng phải nể mặt tao với anh Ba chớ. Mày lập công thì còn tình nghĩa anh em, mày đánh tồi thì nổ viên đạn cuối cùng vô đầu luôn đi, đừng về, về tao cũng bắn chết mày”. Sáu Mãnh lập công lớn trong đợt càn ấy, hơn hai chục lính địch nằm đo đất trước họng trung liên đứng bắn kẹp nách. Ban chỉ huy làm lễ tuyên dương những người có công, tìm không ra Mãnh: đồng bào thấy hắn dắt gái luồn vào bãi bói ven sông Thu Bồn, hơi đâu theo dấu mà tìm !
Cãi nhau chán chê. Năm Chò với Ba Dĩnh thỏa thuận rằng nên đưa Sáu Mãnh về đại đội bộ, làm tổ trưởng trung liên trực thuộc Ban chỉ huy, cấp cho hắn cây trung liên 24-29 tốt nhất cùng hai chiến sĩ tiếp đạn gan góc và đứng đắn nhất. Tiểu đoàn trưởng đến thăm đơn vị cũng bằng lòng: “Dụng nhơn như dụng mộc là vậy. Đừng bỏ phí đứa bắn giỏi nhứt trung đoàn”. Từ đó Sáu Mãnh khá hẳn lên, chỉ làm bậy ở mức không đáng kể, lần hồi được phục chức, được kết nạp lại.
Thế mà không thoát số phận con cóc leo tường !
Trong trận càn vừa rồi, cánh quân rắn luồn của thằng Tây Bia đánh úp vào khu vườn hoang sau lưng đại đội Năm Chò, nơi tập kết của đoàn dân công tiếp tế và tải thương. Gạo và đạn đã giao xong, anh chị em đang ăn cơm nắm, đợi khiêng thương binh và gánh chiến lợi phẩm về, nếu có. Hầu hết kịp chạy thoát, địch chỉ bắn chết ba người - một ông già, hai phụ nữ - bắt sống bốn người, vun đốt một đống đòn gánh và sọt tre. Được tin cấp báo, năm Chò dẫn bộ đội hộc tốc chạy đuổi theo, nhưng địch đã biến mất tăm trong vùng đồi rậm.
Đến sẩm tối, hàng chục cột khói chợt ùn ùn bốc lên cách chỗ đại đôi 8 chừng ba cây số. Ban chỉ huy cùng tiểu đội liên trinh hối hả đến thật gần, leo lên cây xem kỹ, thấy địch đang nấu cơm và căng lều vải. Chắc ăn lắm rồi !
Dù lực lượng địch mạnh hơn, nhưng chúng ra ngoài đồn lũy, ta quen đánh đêm, và đánh xáp lá cà, tập kích nhất định sẽ thắng to ! Mười giờ tối, đại đội chia thành ba mũi đã sẵn sàng thốc lên đồi. Giờ hẹn nổ súng là đúng nửa đêm. Nằm đợi một lát, tất cả cán bộ và chiến sĩ đều ngờ ngợ, mỗi lúc một thêm ngờ ngợ trước cái vắng lặng khác thường trên đồi. Mấy đống lửa vẫn cháy lập lòe đấy, nhưng tuyệt nhiên không có tiếng nói, tiếng giày đinh đi đổi gác, tiếng ho hay ngáy của lính ngủ mê, cũng không hề thấy một bóng người đứng ngồi hay qua lại. Ban chỉ huy cùng liên trinh bò lên xem, phát hiện ra chỗ đóng quân giả chỉ là một bãi mìn lớn. Và chắc hẳn các họng pháo trên núi Voi Quỳ đang chĩa thẳng vào mấy đống lửa dùng làm đích này, đợi một ánh chớp của lựu đạn hay đạn cối 60 là bắn xối xả ! Thằng Tây Bia quả là quỷ sứ !
Đại đội rút ra xa, chia nhiều cánh đi lùng tiếp, có du kích đẫn đường. Tám giờ sáng, hẳn nhìn qua ống dòm thấy ta không mắc bẫy, địch giội xuống bãi mìn mấy chục quả pháo 75, đạn nổ lẫn đạn cháy, không để mìn và lều vải lọt vào tay Việt Minh. Cả khu đồi bốc lửa và nổ suốt buổi sáng.
Lại ú tim tìm bắt một ngày nữa. Chiếc Đa-cô-ta hai động cơ rì rì quần treo đèn từng lúc. Bốn chiếc khu trục cổ rùa Xpít-phai lên ném bom hủy diệt một xóm công giáo toàn tòng do địch kiểm soát, vì bọn quan sát trên Đa-cô-ta trông thấy trung đội vệ sĩ của nhà thờ vác súng đi tuần bên trong hàng rào chống Cộng. Rối tinh rối mù.
Tuy vậy, Tây Bia đã lâm thế bí.
Sau một ngày bị bất ngờ, du kích và nhân dân bám theo cánh quân hắn mỗi lúc một sát. Súng trường bắn tỉa nhả đạn ở những nơi ít chờ đợi nhất. Bọn lính ngụy dẫn đầu vấp mìn ở chỗ hôm qua không hề có mìn. Một trung đội Việt Minh phục kích đón đường, rất may là hắn cho quân đi men phía bên trái của cánh đồng hoang. Địch nằm mé bên phải, nổ súng cách bốn trăm mét, súng tồi và bắn kém nên hắn chỉ mất hai lính. Hắn gọi ra-đi-ô-phô-ni về đồn cho pháo dập, đi tiếp. Hai giờ sau, mấy phát đạn lẻ của du kích bắn chết tên hạ sĩ truyền tin, phá luôn máy. Túng kế, hấn cho quân tuôn ra một bãi sỏi cát rộng ven bờ Nam sông Thu Bồn, buộc hai sơ-mi trắng vào gậy, đánh tín hiệu xê-ma-pho lên chiếc Đa-cô-ta quần tròn trên đầu xin yểm trợ và thuyền vượt sông. Đánh đến rã tay, bọn trên máy bay mới ném xuống một mẩu giấy: “Chúng tôi không hiểu tín hiệu xê-ma-pho, hãy dùng moóc-xơ”. Pi-e chửi toáng một hồi, lại đánh moóc-xơ vắn tắt hơn, sợ máy bay bị Việt Minh bắn sẽ chuồn gấp. Việt Minh không bắn, nhưng từ chiếc Đa-cô-ta rơi xuống mảnh giấy thứ hai: “Phải về Đà Nẵng lấy xăng. Sẽ xin thả dù ra-đi-ô-phô-ni, xin pháo yểm trợ và thuyền vượt sông”. Máy bay đi khỏi một lát, cối 60 của Việt Minh ầm ầm tống đạn xuống bãi cát, thêm mươi lính nữa chết và bị thương. Còn may là bãi cát khá rộng, Việt Minh không xung phong qua được, lại nghèo đạn không bắn dai.
Cánh quân của Pi-e qua sông bằng ca-nô máy chở nhiều đợt lúc mặt trời lặn, dưới làn pháo yểm trợ của đồn 76 và các đồn gần đấy, và dưới những viên đạn bắn tỉa “cắc-bụp-xòe”.
Đường về đồn chỉ cách sáu cây số nhưng phải qua nhiều bãi chông mìn có từ trước hoặc mới đặt chặn đầu. Lính lại mệt phờ phạc, quân da vàng giở bài ỳ không hiểu khẩu lệnh tiếng Pháp nữa, quân da đen vãi bớt đạn dọc đường, quân da trắng bắt đầu chửi chỉ huy bằng tiếng Đức, Ý, Hà-Lan, Tây-ban-nha. Pi-e phải cho rút vào chỗ rậm, ăn đồ hộp với nước lã để tránh đốt lửa, ngủ thành vòng tròn đơm súng ra ngoài, nửa số quân ngủ thì nửa kia phải gác và tuần. Sáng hôm sau, phải đợi đến chín giờ máy bay quan sát mới đến quần treo đèn, canh chừng cho Pi-e rút quân về đồn. Khu không có sẵn ra-đi-ô-phô-ni để thả dù, chỉ liên lạc với trời với đất bằng giấy viết nguệch ngoạc và cờ sơ-mi. Mất gần một buổi nữa để vượt sáu cây số băng ruộng, cả quan lẫn lính đều hấp hối...
Về sau Pi-e nhớ lại trận càn “đại thắng” này, vẫn còn ngạc nhiên vì loạt trung liên bốn năm viên xổ gần trúng hắn, lại câm bặt trước khi quân hắn kịp bắn trả.
Đại đội 8 họp Hội đồng danh dự chính vì loạt trung liên ấy, do Năm Chò tự tay bắn.
Chủ tịch Hội đồng là Ba Dĩnh đã thu thập đủ chứng cớ để làm báo cáo, chỉ còn dằng co ở bàn án sẽ đề nghị biểu quyết: Năm Chò đề nghị xử tử Sáu Mãnh, Ba Dĩnh thấy nên giải lên cấp trên xét xử.
Sự việc đơn giản thôi. Sáu Mãnh ham gái, lần này bốc trúng một ả buôn lậu con thoi giữa vùng ta với vùng địch, ủy ban xã nghi là gián điệp và đang theo dõi. Sau vài lần cợt nhả đưa duyên, ả hẹn Mãnh ra một chòi tranh bỏ hoang giữa một nà bắp rộng, bắp bẻ xong nhưng cây còn đứng. Mãnh đã vác trung liên ra đi, thấy rờn rợn thế nào lại gọi hai đội viên mang đạn đi cùng, tính nếu êm xuôi sẽ cho hai cậu kia về trước. Một cậu đang lên cơn sốt rét rên hừ hừ, cậu kia nghe bảo đi tìm đạn địch vất lại nên hăng hái theo ngay. Ở sát nách địch, vũ khí phải dính theo người, cũng không thể giao vũ khí cho đồng đội đang ốm, cậu đành trút hết ba trăm đạn trung liên mang theo. Lúc này trong đại đội mỗi trường Max 36 chỉ được mười lần nổ, mỗi trung liên 24-29 được một trăm phát, riêng súng của Mãnh là “cây hỏa lực chiến lược” lãnh tới ba trăm viên, coi như phần con cưng.
Ra đến chòi giữ chim, Mãnh kêu mệt, ngả lưng trên sạp tre một lát, lại rút tiền bảo cậu mang đạn đi mua rượu với lòng heo trong xóm. “Để ba-lô đạn tao giữ cho, cõng kè kè làm gì cho cực”. Cậu kia ngần ngừ, nhưng một lần nữa lại phục tùng tiểu đội trưởng. Ả kia trông chừng, thấy rõ thày trò Sáu Mãnh ra nà bắp mới lẻn đi đón cánh quân Tây Bia, lúc ấy đã tuôn qua hẻm suối khô đến gần làng. Một tiểu đội lính ngụy được ả dẫn đi đánh úp, cướp súng. Pháp không cần súng, chỉ cần nhổ bớt nanh vuốt của Năm Chò và diệt một tay thiện xạ cực kỳ lợi hại.
Ả kia quen luồn lách một mình, không biết rằng một tiểu đội mang súng đạn và ba-lô đi trong nà bắp khô và dày sẽ ồn tới mức nào. Mãnh đang nằm lim dim đợi người tình, nghe tiếng rào rào như trâu bầy tới gần, nhỏm dậy dỏng tai. Vài tiếng ho rồi một giọng hạ thấp mà vẫn ồm ồm hỏi: “Gần tới chưa ?”. Tiếp giọng đàn bà: “Dạ thưa thầy gần rồi, phải thiệt êm...”. Tuy nghe lõm bõm mà Mãnh vẫn nhận ra tiếng ý trung nhân mới sáng nay còn thề trọn đời chung thủy. Hắn nhảy ào từ sạp xuống đất, chụp trung liên. Nghe trong chòi động mạnh, địch chưa thấy gì vẫn xả đạn như mưa vào chỗ động. Những cây bắp khô bị phạt văng tung tóe, đạn xăm đất túi bụi chung quanh Mãnh. Hắn chỉ còn kịp túm đầu nòng cây trung liên kéo lê theo, chạy tháo thân. Thoát ra chừng trăm thước, hắn mới sực nhớ phải chặn địch đuổi, vội kẹp súng vào nách bắn hú họa mấy loạt về phía sau, lại chạy. Hắn về đến gần làng vừa gặp đại đội ngậm tăm rút ra đồi, lùng đánh cánh quân chính của địch. Vừa dỗ vừa dọa, hắn buộc cậu mang đạn phải giấu vụ mất sạch ba trăm đạn, hẹn trong đợt chống càn này sẽ kiếm bù vào. Cứ thế, suốt hai ngày rưỡi quần lộn ẩu với địch, hắn vác cây trung liên với năm viên cuối cùng sót trong băng đi theo Năm Chò, còn cậu đội viên bị trám mồm cung cúc cõng ba-lô của người bạn sốt rét đã xuống nằm hầm bí mật, với hai cái băng rỗng độn ngoài cùng cho lấp ló.
Địch về gần tới đồn, Năm Chò mới chộp được thời cơ ăn to. Rượt theo đến mửa mật, anh suýt reo ầm khi thấy tất cả cánh quân Tây Bia ngoi ngóp lội ruộng lầy trước mắt anh. Không thể xung phong dưới tầm súng bắn che của đồn 76, vả lại theo kịp anh chỉ có mươi tay súng gần hết đạn. Diệt địch lúc này chỉ trông vào cây trung liên “dự trữ chiến lược”. Sáu Mãnh ôm bụng quằn quại kêu đau. Năm Chò chụp lấy súng, gọi cậu tiếp đạn đến bên, nổ một loạt, hối hả gọi thay băng, tái mặt khi nghe báo cáo hết đạn. Anh há miệng ngáp ngáp mấy cái, bật ra tiếng gầm méo mó: “Saaao? Sao lại hết !?”. Anh em chung quanh đều nhận ra thằng Tây Bia vừa hút chết đang rướn người ngoi gấp tới bờ ruộng gần nhất. Mặc cho trọng liên trên đồn bắt đầu quét tới chíu-chíu-pùng-pùng, họ ngắm kỹ và bấm những phát súng trường cuối cùng, trượt cả. Một trung đội phó tức điên nổ ba loạt hết băng tiểu liên Xten, mọi người đều thấy đầu đạn rơi xuống bùn chúm chúm trước họng súng chỉ vài chục thước, nòng quá mòn rồi.
Ba Dĩnh báo cáo ngắn, vì đại đội biết rõ đầu đuôi. Anh dứt lời giữa một câu dở dang, như mắc nghẹn. Hội đồng nhìn xói vào Năm Chò, đợi anh lên tiếng. Năm Chò ngồi lỳ không động, không mở miệng, cả thân hình đúc thành khối đen kịt dưới trăng rằm đã lên tới đỉnh vòm trời. Mắt anh đăm đăm nhìn khối đen thứ hai cũng câm lặng như mình là Sáu Mãnh.
Tất cả đều hiểu một lời của Năm Chò sẽ quyết định Sáu Mãnh sống hay chết. Cán bộ đại 8 gồm toàn những tay sừng sỏ ngổ ngáo, nhiều lần Hội đồng danh dự đã biểu quyết ngược ý Năm Chò chứ không hề gọi dạ bảo vâng, nhưng chẳng hiểu tại sao lần này họ đều - không ai bảo ai - muốn nhường quyền phán xử cho đại đội trưởng, người sống chung lâu nhất và chơi thân nhất với Sáu Mãnh. Riêng chính trị viên Ba Dĩnh, sau mấy làn cố dỗ dành Năm Chò đừng đề nghị tử hình và cảm thấy Năm Chò là quả mìn sơn đen có dây cháy chậm bén lửa, đã bí mật rút băng đạn súng ngắn Côn 45 của Năm, lắp trên cùng một viên đạn thối đã cho vào tiểu liên Tom-xơn bắn đến thủng đít mà không nổ, lắp lại như cũ. Phòng xa vẫn hơn. Năm Chò dạo này bớt nóng tính được nhiều, nhưng biết đâu...
Chung quanh mười bảy người đồng đội ngồi nín thinh trên nền nhà trụi, trăng rằm âu yếm rưới mãi những đốm và mảng xanh tuyệt vời xuống trần cho tất cả cùng trẻ lại. Trăng xóa trên mặt người những nếp nhăn khắc khổ nhọc mệt. Trăng đổi màu cây cỏ mùa đại hạn sẫm nặng ra xanh non mơn mởn tiết Thanh Minh: bãi bom hủy diệt biến thành vùng gò đống cho người đến viếng; trận địa chông mìn quyết chiến điểm hiện lên là nơi trai gái hẹn nhau hát giao duyên đến trăng tà gà gáy; những nền nhà mới cháy trụi hôm kia hôm qua được trăng phủ lụa mềm mại sẵn sàng đón bước chân ngập ngừng của cặp người lần đầu biết yêu. Và gió nữa. Gió từ sông Thu Bồn thổi lên khi nhẹ khi mạnh theo ý riêng khó hiểu. Những gì được trăng giảm tuổi già lại được gió biến hẳn thành lứa măng tơ. Lá to nhỏ lao rao lắc đầu xoay cổ, cây cao thấp nghiêng thân uốn dẻo, những vũng trăng trên đất cũng đung đưa gợn sóng, chung vui trong điệu múa khoan nhặt của trẻ em chơi quên giờ đêm rằm.
Người lính địch hậu quen biến đêm thành ngày, nhưng ngày lại chẳng chịu hóa thành đêm cho người được nghỉ trọn giấc.
Gà gáy chưa dứt tiếng, pháo cầm canh đã chuyển sang bắn cấp tập trong khi chờ máy bay đến giội bom. Tiếp tới quân bộ, không càn lớn cũng thọc phá nhỏ đôi ba chỗ, ta quấy rối đêm thì địch trả đũa ngày. Hôm nào không quá găng, bộ đội lại bới ra một góc của quả núi công việc ùn đợi sẵn: kéo ra rừng học chính trị, lên đồi tập quân sự (gọi là hội trường và thao trường nghe cho sang), đào thêm hầm hào chống càn, giúp dân dựng lều thay nhà bị đốt, đi lãnh gạo và vũ khí, kiếm củi nơi xa, cộng thêm những việc không tên khác như lau súng, may vá, tắm giặt nữa, coi như nhồi nhét đầy căng một ngày không còn khe hở để ngủ bù.
Đêm được đành cho hành quân và chiến đấu. Ngày sửa soạn cho đêm, là phần mở đầu của đêm. Có thể quên ngày dương lịch, lẫn lộn chủ nhật ra thứ Năm, nhưng không thể nhớ sai lịch ta. Phải nắm chắc và tính kỹ những đêm trăng và đêm sao, độ sáng của từng đêm thượng tuần và hạ tuần, giờ trăng mọc và lặn, nếu không muốn bò qua rào thép gai dưới trăng rằm xỏ kim được, hoặc không gánh lặc lè đi men bờ vực mà mắt nhìn xuống không thấy bàn chân... thế đấy, người lính theo dõi trăng, nhớ trăng, thèm từng giờ trăng, cũng lắm khi bực vì trăng nấn ná không lặn, chửi trăng tàn tệ khi mắc nghẽn không vượt được bãi cát hay cánh đồng sát bên đồn. Gì thì gì, không ai có thể dửng dưng với trăng...
Hội đồng danh dự ngồi im khá lâu, có dễ đến mươi phút. Cả mấy đồng chí nhanh miệng nhất cũng không vội lên tiếng. Tựa hồ họ rủ nhau ra đây hưởng gió mát trăng thanh và đang đợi nồi chè sắp chín nhừ. Một cậu liên trinh ngồi gác sau lưng Mãnh chợt thì thào với bạn: “Được đêm như ri, ta liên hoan mừng công mặc sức mà vui...”. Trong vắng lặng, mọi người cùng nghe rõ. Đâu đó vẳng lại một tiếng thở dài.
Năm Chò như sực tỉnh sau lời nhắc nhở. Anh ngồi thẳng người lên, chẳng hiểu vì sao lại thong thả nhấc cái ca-lô đang đội. Mái tóc lâu không cắt đổ xuống trán, anh em bỗng thấy mặt anh hốc hác đến thảm hại. Anh vò nắn cái ca-lô trong hai bàn tay hơi run, nói rời từng tiếng bằng giọng khàn đặc như nhả trong họng ra từng hạt dẻ đầy gai:
- Xin lỗi các đồng chí, tôi rán giữ bình tĩnh, thiệt khó... Thôi thì vầy... tôi đề nghị đuổi ra khỏi quân đội... tôi xin về nằm một lát, mệt quá, với lại tôi cũng sợ...
Anh khoát tay, lảo đảo đi về cuối vườn.
Anh em hiểu ngay: Năm Chò cố nén cơn tức điên, và sợ nó nổ bùng khi nghe Sáu Mãnh cãi chày cãi cối.
Ba Dĩnh rụt rè đề nghị giải lên cấp trên. Đề nghị lấy lệ thôi, vì chính Ba Dĩnh cũng biết là thiếu người giải, đường xa và khó, Sáu Mãnh có thế biến dọc đường. Vài ý kiến qua lại, rồi Sáu Mãnh nhận tội gọn gàng. Hội đồng biểu quyết theo ý Năm Chò, chỉ thêm một chi tiết: giấy về xã có thể ghi giải ngũ vì kém sức khỏe.
Dù giận Sáu Mãnh đến mấy, anh em vẫn nhớ rằng mãi đến nay bộ đội ta chỉ gồm toàn những người tình nguyện. Vô khối con trai to khỏe vẫn cứ phây phây ở hậu phương thì sao ! Chỉ trừ những tội quá nặng, còn lại cũng nên giảm phạt phần nào. Như Sáu Mãnh mất tuột cả chức vụ, cả Đảng, trùi trụi về quê sau bốn năm rưỡi chiến đấu, bấy nhiên cũng đã nhục lắm rồi.
Bốn giờ sáng, Mãnh qua đò về vùng tự do phía Nam sông Thu Bồn.
Chín giờ sáng, trong một xóm ven sông có tiếng lựu đạn nổ, chỉ một quả lẻ loi.
Trưa đứng bóng, một cô du kích đi vòng vượt sông xa đồn đến trao cho Ban chỉ huy đại 8 ba lá thư: một gửi đại đội, một gửi riêng cho Năm Chò cùng Ba Dĩnh, một nhờ chuyển về nhà theo đồ đạc riêng.
Sáu Mãnh viết thư xong, đã xuống hào tự tử bằng lựu đạn, một quả tấn công OF giấu trong ba-lô mang theo.
Chú thích:
[1] Thân binh, lính ngụy thuộc Pháp (partisan)
[2] Quạt kéo tay treo trên trần nhà (panka).
[3] Gọi tắt trực thăng y tế (hélicoptère sanitaire).