Người Kéo

Người Kéo

Lượt đọc: 1306 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

Xoẹt, xoẹt, xoẹt, Người kéo đến

Cắt trò chơi của đám ác nhân

Xoẹt, xoẹt, xoẹt, Người kéo đến

Có khi mày cũng nằm trong danh sách của hắn đấy

Có khi mày cũng nằm trong danh sách của hắn

- Scissor Man, XTC

Nạn nhân thứ ba của Người kéo sống ở khu Takaban. Tôi hầu như chưa nhìn thấy hay nghe đến cái tên Takaban này bao giờ. Lúc mới nghe, tôi cứ ngơ ngác không biết khu phố ấy nằm chỗ nào trong quận, ga gần nhất là ở đâu và muốn đến đó thì nên bắt chuyến tàu nào.

Thứ Sáu, ngày 10 tháng Mười, tôi quyết định nghỉ làm một hôm để đến Takaban xem thử. Tôi vẫn chưa biết Tarumiya Yukiko mặt ngang mũi dọc ra làm sao, song tôi tự nhủ rằng hôm nay chỉ cần xác nhận nơi ở của cô bé là được.

Bữa sáng của tôi gồm một miếng bánh mì nướng cùng trứng ốp la lòng đào, bông cải luộc còn thừa từ tối qua và một tách cà phê nhiều sữa. Tôi vừa ăn vừa lấy tập bản đồ bỏ túi yêu thích vẽ 23 quận Tokyo ra để lên chiếc bàn ăn tròn, giở xem quận Meguro.

Khu Takaban tọa lạc gần trung tâm quận. Nếu bắt tàu chạy theo hướng Nam-Bắc, cắt ngang qua hai con đường thì sẽ đến ga gần đó nhất là ga Đại học Gakugei. Thế tức là từ căn hộ của mình, tôi cần bắt tàu, đổi tuyến để xuống được ga Đại học Gakugei. Quãng đường khá xa nên tốn nhiều thời gian đây. Dám chừng sẽ ngốn của tôi nguyên ngày.

Tôi nhặt chiếc túi đeo vai vứt dưới sàn lúc về nhà tối qua, lục túi lấy một tờ giấy in ở chỗ làm rồi giở ra, đặt cạnh tập bản đồ.

Họ tên: Tarumiya Yukiko

Địa chỉ: Căn 503 Desert Himonya,

số 4-13 khu Takaban, quận Meguro

Số điện thoại: xxx

Tôi so địa chỉ trên tờ giấy với bản đồ. Khối phố 4 Takaban có một mặt tiền ở đường Meguro. Tức là bắt tàu đến chỗ đổi tuyến thì dừng, chặng còn lại đi xe buýt cũng được. Như thế có gần hơn không nhỉ?

Tôi vừa nhấm nháp miếng bánh mì nướng phết đầy bơ vừa nhìn xoáy vào bản đồ. Loại bỏ túi này cầm theo thì tiện, nhưng các chi tiết bị in bé đến nhức mắt, tôi không thể ước lượng được khoảng cách từ ga Đại học Gakugei đến đường Meguro chính xác là bao xa.

Sau một hồi nghĩ ngợi, tôi quyết định sẽ thẳng tiến đến ga Đại học Gakugei chỉ bằng phương tiện tàu điện, vì đổi sang xe buýt thì dù quãng đường có ngắn hơn đi nữa tôi cũng không biết mình sẽ tiết kiệm được bao nhiêu thời gian.

Ăn xong, tôi đem đĩa tách bỏ vào bồn rửa, thay áo len, quần jeans, đeo đồng hồ. 7 giờ sáng. Giờ này đúng là có hơi sớm thật, nhưng lần đầu tiên đi đến chỗ lạ thì cũng nên chừa thời gian dư dả ra một chút.

Tôi xỏ giày thể thao rồi rời khỏi nhà. Hôm nay chỉ đi thị sát nên cũng không cần mang túi theo làm gì. Tôi khóa trái cửa lại rồi bước xuống bậc thang tối hù của chung cư.

Căn hộ tôi đang trọ thực chất chỉ là một cái hộp sắt chứ chẳng phải căn hộ một phòng ngủ như công ty bất động sản đã từng một mực nói với tôi.

Tôi chẳng biết nó được xây từ thời nào, nhân viên bất động sản cũng thận trọng tránh nhắc đến chủ đề ấy. Nói tóm lại, chung cư trông cũng chẳng khác gì các tòa nhà được xây từ hồi xửa xưa là mấy.

Tường bê tông thì ngả màu vàng vọt cáu bẩn, đèn chiếu sáng trên trần nhà thì tầng có tầng không. Chủ chung cư không chịu thay đèn huỳnh quang, đến cả hệ thống điện cũng không được ai bảo trì. Sống ở đây được cái chẳng bao giờ bị hàng xóm soi mói, chung cư cũng ở gần nhà ga. Sau khi người chủ cũ rời đi, tôi đã quyết định dọn vào chỗ này phần lớn cũng vì đi lại tiện lợi.

Qua cửa chung cư, tôi bước ra đường, bấm nút báo hiệu ở cột đèn để xin sang đường. Ga tàu điện ngầm đã ở ngay trước mặt. Dòng quảng cáo “đến nhà ga chỉ mất chừng một phút” của công ty bất động sản xem chừng không phải phóng đại hay lừa đảo, ngược lại, tôi còn thấy ước tính ấy khiêm tốn hơn thực tế. Nếu chạy hết tốc lực chắc chẳng mất đến một phút đâu.

Tàu điện chạy qua khu này theo lộ trình đường sắt trên cao. Dù cũng bình thường thôi, nhưng gọi là tàu điện ngầm rồi lại leo lên mặt đất thì cũng hơi ngạc nhiên.

Đoàn tàu hướng về trung tâm thành phố, trong toa đông nghẹt người đi làm và đi học.

Ánh mắt tôi tự nhiên dạt đến chỗ mấy nữ sinh trung học. Hồi mới tới Tokyo, lúc nào tôi cũng nhìn thấy những con nhóc tóc nhuộm đỏ hoe, lông mày thì cạo sạch, đuôi mắt kẻ sắc lẹm, vớ rộng thùng thình, cổ chân nhuộm màu cam nhạt như màu lông đười ươi, trông chẳng khác gì bị bệnh da liễu. Vả lại, trào lưu bây giờ của lũ trẻ hình như là nhuộm tóc thành bạc phếch thì phải.

Mặc đồng phục thủy thủ rồi nhuộm tóc bạc như y bác sĩ nhìn cứ phản cảm thế nào, như kiểu cosplay mấy mụ già hành nghề vũ nữ thoát y ấy, nhưng người trong cuộc hẳn chỉ đang nghĩ rằng mình trông hợp thời lắm thôi. Đứa nào cũng ưỡn ngực đầy tự hào, khoe khoang với những hành khách khác trên toa.

Nhưng khi đến trường thì chúng nó phải làm sao? Trên đời không có trường cấp ba nào để yên cho đám học sinh nghênh ngang đem quả đầu bạc phếch ấy vào học đâu nhỉ? Hay mấy đứa nó lén nhuộm tóc trong nhà vệ sinh nhà ga bằng thuốc nhuộm lấy trộm của mẹ?

Tôi ghì lấy dây nắm trên toa tàu, miên man nghĩ về Tarumiya Yukiko, cô bé mà tôi vẫn chưa một lần gặp mặt. Tóc em liệu có bị nhuộm bạc phếch không? Chắc là không đâu, quả đầu giả tạo ấy không hợp với cô bé chút nào. Nhưng lỡ tôi vỡ mộng khi nhìn thấy cô bé thì sao? Mong rằng cô bé sở hữu một mái tóc óng ả thướt tha.

Sau một quãng đường dài dưới lòng đất thì đến chỗ phải đổi tuyến. Tôi ngồi xuống băng ghế ở nhà ga, đợi tàu đổi.

Theo thói quen, tôi lia mắt đọc hết toàn bộ quảng cáo của các tờ tạp chí dán trên tường nhà ga. Mấy dòng tít của những tờ tuần san và nguyệt san truyền tải các loại thông tin rất đa dạng.

Nội chiến nổ ra tại một nước cộng hòa ở châu Phi, giá gạo tăng cao do mùa hè năm nay nhiệt độ giảm mạnh, tin đồn một nghệ sĩ sân khấu đã sáu mươi tuổi có quan hệ tình dục với con gái nuôi, chất liệu giả lông thú lộng lẫy cho mùa đông năm nay, trào lưu nhuộm tóc bạc của giới trẻ hiện nay gọi là “bờm trắng”, vân vân…

Những dòng tít này có lẽ sẽ hữu ích với ai đấy, nhưng đối với tôi thì chúng chỉ là thông tin vô bổ. Trước hết, tôi đâu cần biết những vụ việc đang xảy ra ở đất nước châu Phi mà ngay cả tên tôi còn không đọc được. So với cơm gạo thì tôi thích ăn bánh mì hơn. Còn nữa, dù là quan hệ tình dục với con gái nuôi hay chó cưng hay laptop đi nữa, chỉ cần ông nghệ sĩ kia thích là đủ, bới móc làm gì? Tôi không mặc trang phục giả lông thú. Hơn nữa, tôi chẳng có tí hứng thú nào với đám con gái theo trào lưu “bờm trắng”.

Thứ gây tò mò nhất đối với tôi lúc này chỉ có Người kéo. Hiện giờ Người kéo chỉ là thần tượng của đám báo lá cải và hiếm khi được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông chính thống, như một đứa con cưng giờ đã thành con ghẻ.

Vụ án gần đây nhất của Người kéo xảy ra đã hơn nửa năm, thông tin báo chí cũng vì thế mà trở nên lộn xộn. Trong quãng thời gian Người kéo ẩn mình cũng có nhiều vụ án, tai nạn và scandal khác gây chấn động dư luận hơn.

Tôi chẳng tiếc nuối gì việc Người kéo bị sụt giảm danh tiếng. Ngược lại, tôi còn cảm kích vì truyền thông đã không còn hứng thú với tên sát nhân này nữa.

Từ vụ Konishi Mina bị sát hại ở tỉnh Saitama đến vụ Matsubara Masayo bị sát hại trên bờ vịnh quận Edogawa, hễ có người bị hại là cánh truyền thông sẽ bâu vào xâu xé ngay. Vậy nên tốt nhất là đừng ai nhắc đến Người kéo nữa. Nếu được, tôi chỉ mong tên tuổi Người kéo rơi vào quên lãng luôn.

Một chiếc tàu điện màu cam dừng lại ở ga. Tàu đổi đây rồi.

Chắc là do tàu di chuyển từ trung tâm ra ngoại ô nên khoang vắng vẻ đến nỗi một người có thể thoải mái ngồi phần ghế dành cho ba người. Tàu ra khỏi đường hầm âm u của nhà ga để chạy lên mặt đất. Từ đường ray trên cao, tàu chạy xuống lòng đất, rồi lại chạy lên đường ray trên cao khác.

Như một con chuột sợ bò lên chỗ sáng, tôi chỉ dám di chuyển trong lòng đất của khu trung tâm để đi từ Bắc đến Nam.

Từ cửa sổ nhìn ra, trời đã bắt đầu âm u vần vũ. Dạo gần đây trời cứ mưa dầm dề, chẳng mấy khi tạnh. Sắp tới còn là ngày hội Sức khỏe toàn dân, phen này hội thao phải hủy hết rồi. Hội thao của trường cấp ba Hazakura nơi Tarumiya Yukiko theo học có sao không nhỉ?

Cuối cùng tàu cũng đến ga Đại học Gakugei, tôi tính nhẩm rồi trả phí đi tàu cho quãng đường ban nãy ở máy tự động, đoạn bước ra ngoài.

Cắt ngang ga tàu nằm ở tuyến đường sắt trên cao là một khu phố mua bán nhỏ. Tiệm sách, tiệm ăn, hàng tạp hóa, tiệm bán đồ điện khí, quầy bán mì soba. Toàn là những hàng quán quen thuộc thường gặp ở các bến tàu tư nhân. Loa phóng thanh mắc trên dàn dây điện bọc nhựa an toàn đang phát nhạc nho nhỏ.

Tôi móc bản đồ từ túi quần sau, kiểm tra lại một lần nữa rồi đi về phía đường Meguro. Theo bản đồ thì khu này đã là Takaban của quận Meguro rồi. Hẳn là tôi đang ở gần căn hộ của Tarumiya Yukiko lắm đây.

Tôi tiếp tục men theo lối hẹp lát gạch sau khi đi hết con đường nằm gọn dưới mái vòm của khu mua bán. Thấp thoáng bên phải có một hàng rào bằng kẽm, đối diện là một tòa nhà lớn nhưng không cao lắm. Trên tầng thượng có một tháp tín hiệu sơn màu đỏ tươi trông đến là bắt mắt. NTT chi nhánh Meguro.

Không hiểu sao, hình như tôi đi nhầm đường rồi thì phải. Qua khỏi NTT thì ra một con đường lớn. Đường Meguro đây rồi. Biển báo màu xanh bên vệ đường ghi bằng cả chữ Nhật và chữ La tinh. Tôi dừng ở ngã tư có cột đèn giao thông, giở bản đồ ra xem lại, Tôi so hình vẽ trên bản đồ với khung cảnh thực tế, xác định vị trí tương quan giữa NTT và bưu điện. Muốn tìm chung cư Desert Himonya thì có lẽ từ đây chỉ cần đi hướng bên phải.

Tôi cất bản đồ vào túi quần rồi tiếp tục bước đi. Lúc trông thấy tấm biển khu dân cư bằng nhựa màu xanh biển gắn trên cột điện đề “Takaban, khu phố 4”, tôi lập tức rẽ vào con đường nhỏ ngay đấy. Từ đây chỉ thấy được một mặt chung cư. Đành phải mò mẫm trong khu phố phức tạp này vậy.

Đến là khổ với hệ thống chung cư nhiều vô kể của Tokyo. Sau chừng hai mươi phút lòng vòng, rốt cuộc tôi cũng phát hiện ra một chung cư màu đỏ gạch. Chẳng biết tòa nhà xây theo phong cách gì, nhưng trông tổng thể như một sân khấu múa rối khổng lồ làm bằng sa thạch đang đổ hẳn sang bên. Bức tường tiếp giáp mặt đường bị đục lỗ chỗ bằng các ống nhựa ruột gà, những ô chữ nhật lớn thụt vào có lẽ là ban công, còn những ô chữ nhật bé hơn thì có vẻ là cửa sổ. Cửa sổ nhà tắm.

Bên trên cửa ra bằng kính có khắc dòng “Desert Himonya” bằng kí tự La tinh theo lối viết thư pháp. Hàng rào kẽm nằm ven con đường ban nãy có gắn biển đề “Nơi để vật dụng dành riêng cho chung cư Desert Himonya”. Suy cho cùng chỉ là bãi đổ rác thôi mà, có cần cầu kì thế không?

Sau khi bước qua cánh cửa tự động, chân tôi lập tức bước lên khoảng sân trước lát gạch màu pastel. Gần kế bên cánh cửa tự động choán cả mặt tiền tòa nhà là hộp máy điều khiển khóa tự động có hai cạnh cong cong.

Hệ thống này không cho phép người lạ vào nếu như sau khi bấm số căn hộ, chủ nhà không lên tiếng cho phép qua chiếc loa gắn bên trong máy. Nói cách khác, hộp máy kim loại trơn nhẵn như búp bê chạm bằng gỗ này chính là tên lính canh không ngơi nghỉ của các chủ hộ.

Hôm nay cũng chưa cần vào chung cư. Tôi đến gần dãy hòm thư gắn âm tường để kiểm tra hòm thư đề số 503.

503 Tarumiya Kazuhiro

Bố của Yukiko tên là Kazuhiro thì phải. Hài lòng rồi, tôi lấy tay xoa cái đầu trơn nhẵn của tên lính canh kim loại và rời khỏi Desert Himonya.

Tôi quay ra đường Meguro, vừa đi vừa ghi nhớ đường đi nước bước đến khu này. Tôi định bụng chiều tan làm sẽ bắt thử xe buýt về chỗ đổi tàu xem sao.

Tôi cần xin nghỉ thêm một ngày nữa để đến Desert Himonya, theo dõi xem Yukiko mặt ngang mũi dọc ra sao.

9 giờ sáng hôm sau, tôi đến chỗ làm. Tôi đang làm thời vụ ở Nhà xuất bản Himurokawa, đi thẳng từ nhà trọ đến không cần đổi phương tiện di chuyển. Đấy là một trong những lý do khiến tôi tăng hợp đồng thuê nhà thành dài hạn và làm việc ở đó những hơn hai năm.

Đến ga, tôi đi lên mặt phố, bước vào một con hẻm nhỏ nằm ở góc đường lớn, thế là tòa nhà năm tầng của Nhà xuất bản Himurokawa đã hiện ra trước mắt. Nhưng không phải tất cả đều là của họ. Hiniurokawa chỉ thuê tầng ba và tầng bốn, mang tiếng là nhà xuất bản nhưng cả thảy chỉ có hơn chục nhân viên.

Tôi bước vào thang máy rồi bấm nút lên tầng bốn. Bảng nút tầng của cái thang máy này có dạng hình tròn nhô ra ngoài, âu cũng hiếm thấy vào thời nay.

Nhà xuất bản cơ cấu rõ ràng cho hai tầng. Tầng ba là phòng Kinh doanh, tầng bốn là phòng Biên tập. Về danh nghĩa rất rạch ròi, nhưng thực tế thì các phòng ban nội bộ không thể tuân theo lằn ranh đó được. Cứ vào giữa tháng, tức là đợt bận rộn nhất của nhà xuất bản, nhóm ba nhân viên thời vụ chúng tôi lại phải chạy đôn chạy đáo giữa hai bộ phận, đến nỗi ranh giới giữa hai bên coi như xóa nhòa.

Công việc của tôi hiện ở tình trạng thế này. Sau khi lấy hơn năm mươi bản photo ở tầng bốn thì xuống tầng ba để phụ giúp phân loại, đóng thùng các bộ giáo trình hoặc gửi chúng đi, rồi quay lại tầng bốn, giả vờ hiệu đính bản thảo bằng bút chì đỏ, không thì cũng đeo đôi găng nhựa mỏng dính để xếp mấy tấm phim dương bản vào trong phong bì.

Mỗi lần như thế, trưởng phòng Okajima sẽ gọi tôi lại, đưa cho một địa chỉ để sai đi lấy tập bản thảo quý báu mà ông giáo sư gì-đó của trường đại học nào-đó đã dày công viết. Lắm lúc các ông ấy bắt tôi phải đợi dài cả cổ vì bản thảo vẫn chưa xong. Bấy giờ thì đừng nói đến cà phê, ngay một cốc nước máy họ cũng không màng đến chuyện mời tôi.

Để miêu tả công việc của tôi thì chắc chỉ có cụm từ “tối mắt tối mũi”. Lúc mở cánh cửa lắp kính mờ của phòng Biên tập ra, tôi có thể lập tức cảm nhận bầu không khí hẵng còn thong dong của những ngày đầu tháng. Dù gì thì hôm nay cũng là thứ Bảy. Vả lại, trạng thái quay cuồng đã là chuyện của cuối tháng trước, tức hơn mười ngày trước đây. Bầu không khí nhàn nhã đang lởn vởn trong phòng này âu cũng là điều hiển nhiên thôi. Người thì đang nhấp trà hoij*, người thì đang dọn dẹp mặt bàn bừa bộn lâu ngày, người thì lơ đãng nhìn màn hình chờ của máy tính. Thậm chí đến cả một người khét tiếng nghiêm túc như trưởng phòng Okajima cũng đang chống cằm mơ màng nhìn ra cửa sổ.

Song, làm gì có chuyện cả phòng có thể cùng nhau nhàn rỗi thế này được.

“A, đúng lúc lắm.” Vừa thấy tôi ngồi vào bàn, Sasazuka đã cất tiếng gọi. Đôi mắt láo liên phía sau cặp kính gọng bạc của gã khiến tôi chỉ muốn nhìn đi chỗ khác, miệng gã thì liến thoắng, “Gọi chuyển phát đến đi, chuyển phát bằng xe máy ấy.”

Tại sao lúc nào gã đàn ông này cũng lảng tránh việc nhìn thẳng vào mắt đối phương thế nhỉ?

“Gửi cái này đi ấy ạ?” Tôi hỏi lại.

“Đúng rồi. Đến chỗ anh Wada, nhà thiết kế ấy, biết địa chỉ rồi chứ gì?”

“Vâng ạ.”

Lúc tôi lấy tập địa chỉ ra để trên bàn, Sasazuka ghé lại gần, đưa cho tôi ba chiếc đĩa từ quang, “Đây này.”

“Vâng ạ.”

Tôi vừa dứt lời, Sasazuka đã trở lại bàn làm việc, cầm bút bi hí hoáy gì đó lên mẩu giấy nhớ. Đang rỗi rãi thế thì thừa sức tự gọi người chuyển phát tới chứ. Dường như gã đàn ông nhỏ con tuổi chừng băm lăm ấy luôn tâm niệm rằng không bóc lột sức lực của đám nhân viên thời vụ thì thật uổng phí hay sao ấy, từ hồi tôi mới vào làm ở phòng Biên tập thì đã gã sai phái chẳng thiếu việc gì từ nhỏ đến lớn. Hôm nay là thứ Bảy, công việc chắc chắn không nhiều, thế mà gã vẫn bới ra việc để bắt chúng tôi làm.

“Gã nghĩ chúng ta là nô lệ hay gì?” Đồng nghiệp Yamagishi đã từng bực tức kêu lên như vậy trong giờ giải lao ở phòng ăn.

Yamagishi ngoài ba mươi, xin vào làm thời vụ ở Himurokawa đã được nửa năm, sau khi xin nghỉ ở một nhà máy nào đó. Trong bữa tiệc liên hoan nho nhỏ mừng nhân viên mới vào làm, với gương mặt đỏ gấc vì nốc chuhai*, Yamagishi đã giải thích lý do nghỉ việc trước đây là “Vì tôi muốn làm công việc mang tính sáng tạo”, song thực hư thế nào thì chẳng ai rõ. Anh đeo cặp kính gọng đen trông rất bền, bề ngoài khá nóng nảy và đầy tự tôn, có khi nghỉ việc vì cãi nhau với sếp cũ không chừng.

Yamagishi đã tính sẽ phấn đấu thành nhân viên chính thức trong vòng một, hai tháng, để rồi sau đó vùi mình vào công việc sáng tạo anh hằng ao ước. Thế mà suốt nửa năm nay công việc quanh đi quẩn lại toàn rót trà bưng nước với dọn dẹp lặt vặt, hẳn là khác xa những gì anh ta tưởng tượng. Chưa kể bị một người chẳng lớn hơn mình là bao sai phái đến điều, kiên nhẫn chừng nào cũng không chịu nổi.

Phần tôi thì không cầu tiến như Yamagishi nên đành phải ngoan ngoãn vâng lời Sasazuka. Tôi nhấc điện thoại bàn, bấm số giao hàng đã nhẩm thuộc lòng.

“Speed King* đây ạ.” Giọng đáp lanh lảnh của một chàng trai vang lên từ đâu dây bên kia. Tên công ty kì thật, nhưng cước phí thì rẻ.

Tôi báo tên và số điện thoại Nhà xuất bản Himurokawa, rồi đọc địa chỉ người nhận, vừa lắng nghe bài rock đinh tai nào đấy cài làm nhạc chờ của công ty chuyển phát, tôi vừa ngồi đợi một lúc, sau đó thì có người báo lại rằng nhân viên chuyển phát chừng hai mươi phút sau sẽ đến.

Thấy trời đang mưa, tôi liền cẩn thận dùng bọc nhựa quấn chiếc đĩa từ lại rồi mới bỏ nó vào chiếc phong bì giấy nâu, sau đó dán lại bằng băng dính. Đoạn, tôi lấy mẫu giấy gửi từ ngăn bàn ra, ghi địa chỉ và số điện thoại của Wada rồi dán lên mặt trước của phong bì.

Thấy tôi đặt chiếc phong bì đã chuẩn bị xong lên bàn, Sasazuka toan mở miệng sai khiến việc tiếp theo. Tôi vờ như không để ý, đứng dậy đi đến bàn làm việc của trưởng phòng Okajima.

Trưởng phòng đang đưa tay chống cằm, mắt lơ đãng ngắm mây trời ngoài cửa sổ. Lúc tôi tới gần, bà vẫn giữ nguyên tư thế, miệng lầm bầm, “Trời âm u đến khi nào nữa đây?”

Trưởng phòng Okajima là một phụ nữ ngoài năm mươi. Mái tóc cắt ngắn điểm bạc ôm lấy khuôn mặt dài ngoẵng không trang điểm, thường vận Âu phục kiểu dáng đơn giản nhưng toát ra vẻ đắt tiền.

Lần đầu tiên gặp mặt, tôi có ấn tượng bà là một phụ nữ thành đạt theo phong trào nữ quyền. Một tay bà lèo lái cả phòng Biên tập, nên nhất định là có thực lực. Chỉ cần nhìn qua tác phong làm việc của bà là đủ hiểu.

Tôi là người có kinh nghiệm sống nghèo nàn, nên mỗi khi nghe đến hình tượng phụ nữ sắc sảo như trưởng phòng Okajima, trong đầu chỉ liên tưởng đến một vị bác sĩ nào đấy mà thôi.

“Gì hở?” Trưởng phòng Okajima tươi cười nhìn tôi.

“Cháu muốn xin nghỉ thêm vào thứ Ba tới ạ.”

“Thứ Ba tới… tức là ngày 14?” Okajima liếc tờ lịch để bàn. “Không thành vấn đề, cháu bận việc gì à?”

“Dạ, cũng có chút chuyện ạ.”

“Tôi có hỏi thì cháu cũng không nói rõ là chuyện gì đâu, phải không?”

Tôi làm thinh. Đâu thể nói với sếp rằng mình xin nghỉ để đi rình nữ sinh cấp ba.

“Tôi cho phép. Lúc ấy công việc hẵng còn thư thư.” Nói đoạn, bà thêm vào với giọng đùa cợt. “Mà này, nghỉ nhiều quá thì tôi không cho lên nhân viên chính thức đâu nhé.”

“Cháu cũng không muốn thành nhân viên chính thức ạ.”

Nghe tôi đáp, Okajima thở dài rõ to, bà chống hai khuỷu tay lên mặt bàn, đan các ngón lại rồi gác cằm lên. Nở nụ cười như một đứa trẻ tinh nghịch, bà nhìn thẳng vào mặt tôi, “Cháu nên bỏ cái thói nói năng cục súc ấy đi. Cứ như vậy ai mà tiếp tục trò chuyện cho được?”

“Cháu xin lỗi ạ.”

“Không phải xin lỗi đâu.”

Trưởng phòng Okajima lại đưa mắt dõi ra ngoài cửa sổ. Vì đã xin phép nghỉ nên tôi cũng về chỗ. Sasazuka ngay lập tức tiến tới gần, bảo rằng nếu không có việc gì làm thì vào kho dọn đồ đi. Vốn dĩ tôi cũng muốn vào đó nên rất biết ơn mệnh lệnh của gã.

Gọi là kho, nhưng thực chất chỉ là một gian phòng ở cạnh phòng Biên tập chứ chẳng phải cả một cái kho lớn nằm ở tòa nhà khác. Trong phòng chật kín kệ sắt chất đầy giấy tờ. Lần theo các kệ cũng như lần theo lớp lớp lịch sử của Nhà xuất bản Himurokawa.

Ví như chỉ cần nhìn chỗ lưu trữ bản thảo đã qua sử dụng của các ấn phẩm trước đây, ta sẽ thấy ngay kệ dưới cùng là nơi nhét đầy túi nylon chứa bản thảo viết tay, tiếp theo là hàng chồng giấy tờ đánh máy, kế đến là những thùng các tông đựng cả đống đĩa mềm.

Bước sang thời hoàng kim của công nghệ thư điện tử, bản thảo giấy xem như tuyệt chủng nên kệ còn một chỗ trống huơ trống hoác.

Tiện đây, chẳng biết vì lý do gì mà bây giờ người ta cứ nơm nớp lo sợ một ngày nào đó ổ cứng với dung lượng khủng kết nối internet sẽ hư sạch dữ liệu trong vòng một đêm, nên nhà xuất bản cứ in toàn bộ bản thảo trao đổi qua e-mail để lưu trữ. Nhờ thế nên phía trên thùng các tông đựng đống đĩa mềm mới lại chồng chất cả đống giấy tờ, trông mới hoài cổ làm sao.

Tôi lách qua lối đi giữa hai hàng kệ sắt để vào kho, nơi có tủ đựng hồ sơ.

Nhà xuất bản Himurokawa vốn là một đơn vị chuyên phát hành các ấn bản học đường, sản phẩm chủ lực là kỉ yếu tốt nghiệp cấp ba, sổ tay sinh viên, hoặc là các dạng tờ bướm.

Tuy nhiên, sự suy giảm số lượng trẻ em đến trường đã đẩy lĩnh vực kinh doanh này vào cảnh thất bát. Thế nên vài năm trước, nhà xuất bản phải chuyển sang mảng khác.

Tôi khom người trước tủ đựng hồ sơ. Hồ sơ lưu trữ theo địa chỉ và tên của từng học viên theo thứ tự bảng chữ cái. Tôi mở ngăn tủ dành cho quận Meguro, thành phố Tokyo. Nhác trông đã thấy hồ sơ của Yukiko.

Rồi, để xem thành tích mới nhất của cô bé thế nào.

Tiếng Anh 84 điểm

Toán 94 điểm

Lý-Hóa 79 điểm

… …

Điểm các môn tự nhiên có rớt một chút so với kì trước, nhưng nhìn chung thành tích vẫn rất đẹp. Đặc biệt là Toán, 94 là quá giỏi rồi. Đây còn là điểm số cao nhất của cô bé nữa.

Tôi đọc thư phản hồi của Yukiko. Từng hàng chữ viết bằng bút bi đều rất nắn nót.

Bài thi Lý-Hóa lần này có hơi khó nên em chỉ trả lời trong phạm vi hiểu biết của mình. Vốn dĩ em cũng không giỏi các môn tự nhiên. Em nghĩ từ nay mình sẽ phải cố gắng học hành hơn nữa.

Tại sao điểm Toán cao như thế mà lại học dở các môn tự nhiên nhỉ? Đối với một đứa tối dạ như tôi thì môn nào cũng như môn nào thôi.

Tôi thấy tò mò hơn về Yukiko.

Tôi trả hồ sơ về lại ngăn tủ.

Mấy năm trước, Nhà xuất bản Himurokawa có hợp tác với một công ty để tổ chức các lớp luyện thi dành cho học sinh cấp hai. Khóa học không muốn chiêu mộ học viên từ khắp cả nước vì dễ dẫn đến việc dàn trải, nên chỉ tập trung vào việc luyện thi cho các học sinh giỏi ở trung tâm thành phố.

Trên tờ bướm quảng cáo còn ghi “Phương pháp giảng dạy tối ưu dành cho học sinh ưu tú”. Hầu hết phụ huynh có con học cấp hai đều chắc mẩm rằng cô chiêu cậu ấm nhà mình phải thuộc hạng giỏi giang lắm, thế nên lớp học chẳng sợ thiếu học viên.

Công ty đối tác lo quảng bá và chiêu sinh, Nhà xuất bản Himurokawa thì đảm nhiệm phần việc in ấn các bộ giáo trình gửi cho học viên, chỉnh sửa và chấm điểm các bài thi gửi về.

Vì đã có nhiều năm làm ở mảng giáo dục nên nhà xuất bản có mối quan hệ rất khăng khít với các trường, khỏi lo việc không kiếm ra thầy cô dạy cấp hai nào cho khâu soạn câu hỏi, càng không sợ thiếu sinh viên cao học cần làm thêm nhận việc soạn đề thi.

Tủ hồ sơ lưu trữ đủ loại giấy tờ như đơn xin nhập học của các học viên ở vùng Kanto, bảng điểm và thư phản hồi, vân vân. Tôi biết đến Konishi Mina và Matsubara Masayo chính là nhờ mớ lưu trữ này. Ngay cả việc phát hiện ra cô bé Yukiko mà tôi vẫn chưa một lần thấy mặt cũng là từ những ngăn kéo ở đây. Tôi đang sắp xếp mọi thứ trong kho lưu trữ về đúng vị trí ban đầu của chúng thì cửa kho đột ngột mở ra, Sasazuka ở bên ngoài nhòm vào, “Người giao hàng đến rồi đấy.”

Tôi còn chưa kịp thấy mặt thì gã đã biến đi chỗ khác, xem ra Sasazuka không có hứng thú tiếp chuyện với người giao hàng.

Tôi quay lại phòng Biên tập, đưa gói phong bì cho tay giao hàng có hình xăm trên mu bàn tay rồi thanh toán cước phí. Lúc trông thấy mảng xăm trổ hình thỏ Bugs ấy, chẳng hiểu sao tôi thích thú đến nỗi suýt chút nữa là mờ miệng hỏi han về nó.

Thứ Bảy tôi tan ca lúc 4 giờ chiều. Tôi khoác túi lên vai, chào gọn lỏn một tiếng “Xin phép về trước” đoạn rời phòng Biên tập vào đúng 4 giờ.

Xuống khỏi tàu điện, tôi chọn đường vòng để ghé sang hiệu tân dược ven đường. Vì hôm nay là thứ Bảy nên tôi buộc phải đi mua sắm. Mấy năm gần đây các hiệu tân dược kiểu Mỹ mọc lên ngày một nhiều, ngoài thuốc men và các dụng cụ y tế, họ còn bày bán bột giặt, vật dụng nhà bếp, nước giải khát và thực phẩm. Nhìn chung thì giống như siêu thị có bán thuốc vậy. Nhưng hôm nay tôi đến mua dược phẩm.

Tôi ngắm nghía các kệ sản phẩm hồi lâu rồi chọn mua dung dịch sát khuẩn cresol.

Dĩ nhiên, là để tự tử.

Tôi thức dậy trên giường cùng cơn đau bỏng rát trong lồng ngực, có cảm giác như từ bao tử đến vòm họng đang mọc ra hàng ngàn mũi kim châm. Dịch vị cũng đang trào lên trong cuống họng.

Tôi tì vai phải lấy đà gượng dậy, với tay xuống cạnh giường để chộp lấy cái túi dùng để đựng đồ mua ở hiệu tân dược. Cứ thế, tôi vừa nằm dài trên giường vừa ghé miệng vào túi nôn thốc nôn tháo thứ dịch vị vàng vọt. Màng nhầy trong miệng gây cảm giác tê tê, cơn đau tái người lan đến tận sống mũi.

Đã nôn hết dung dịch sát khuẩn mà cơn buồn nôn vẫn không chịu lắng xuống. Cơ bụng và các bắp thịt ở vai căng cứng trong tư thế sẵn sàng cho một đợt nôn mửa nữa, nhưng còn gì đâu để mà nôn. Thứ duy nhất trào ra khỏi tôi lúc này chỉ có nước mắt.

Khi cơn co giật cuối cùng cũng dừng lại thì cơn bỏng rát còn dùng dằng nơi lồng ngực. Tôi xoay xở ngồi dậy được và loạng choạng đi vào nhà vệ sinh. Căn hộ tối om, tôi đành phải nhìn nhờ ánh đèn đường nhập nhoạng từ khung cửa sổ.

Tôi bật đèn nhà vệ sinh lên rồi nhìn vào gương. Mép môi có màu vàng lợt lạt, sưng phồng. Dùng ngón tay chạm vào thì thấy đau rát, tấy đỏ lên.

Hai má tôi cũng sưng vù, nhưng không phải là do dung dịch sát khuẩn, tôi đã quen nhìn thấy bộ dạng này rồi.

Rửa mặt súc miệng xong, tôi buông mình ngồi xuống ghế.

Trên bàn tròn có một chiếc cốc, bên trong còn quá nửa thứ dung dịch vàng vọt bốc ra thứ mùi chỉ ngửi thôi cũng đã cay mũi. Tôi rót không nhiều, nhưng vẫn không tài nào nốc hết được.

Mới nghĩ đã không chịu nổi cảnh phải uống lại thứ dung dịch đó, tôi bèn cầm chiếc cốc cùng cái túi chứa dịch nôn của mình đổ hết vào bồn cầu kiểu Âu.

Đầu lại ong ong lên rồi. Tôi leo lên giường, nằm xuống, mặt ngửa lên.

Tôi quờ quạng với tay qua chiếc bàn cạnh giường, chộp lấy đồng hồ báo thức giơ ra trước mặt. 2 giờ sáng. Lúc tôi uống dung dịch sát khuẩn là 7 giờ hơn, tức là bản thân đã bất tỉnh bảy tiếng rồi.

Toàn thân cảm thấy khó chịu, hai chân thì run rẩy, nhưng tôi còn sống. Tôi thẫn thờ đưa mắt nhìn trần nhà mờ mờ tối, biết thừa chuyện gì sắp xảy đến với mình rồi. Lần nào tôi cố gắng làm hại bản thân để tự tử cũng thế.

Lại phải đối diện với lão “bác sĩ” ấy.

Bác sĩ đang ngồi ở chiếc bàn bằng thép, bộ dạng vẫn như mọi khi, đang đọc dở quyển sách. Chắc lại mấy tác phẩm nhàm chán của những ông bà tác giả tôi chưa bao giờ nghe tên.

“Ái chà, lại nữa sao? Lại thêm một phen tự tử bất thành nhỉ.” Dứt lời, Bác sĩ kẹp thẻ đánh dấu trang vào quyển sách, đặt nó lên bàn rồi xoay cái ghế lăn về phía tôi.

Tuổi lão phải tầm sáu chục. Mái đầu bạc rẽ ngôi giữa, nhưng không phải do dùng lược, mà là do tóc trên đỉnh đầu chỉ còn lưa thưa. Chiếc áo blouse trắng phẳng phiu trông như mới.

Thân hình lão gầy guộc, trên mặt đeo một cặp kính tròn gọng đen, đôi môi mỏng dán giữa phần hàm dưới đầy nếp nhăn luôn nhếch lên với vẻ nhạo báng.

Tôi căm ghét lão đàn ông này.

“Rồi, nói tao nghe xem. Mày muốn thế nào đây?”

Về việc tôi muốn chết đến thế nào, Bác sĩ có lẽ là người hiểu rõ nhất. Bởi vì mỗi lần tôi tự tử bất thành đều phải đối mặt với lão.

“Lại diễn đạt sai nữa rồi.” Bác sĩ ngồi thẳng lưng lên rồi trừng mắt nhìn thẳng vào mặt tôi, “Nếu thật lòng muốn chết thì mày đã chết từ lâu rồi. Nghĩ xem có đúng không?”

Nhưng tôi thực sự muốn chết. Từ tận đáy lòng tôi thành tâm muốn chết quách đi. Tôi không phải kẻ chỉ nói suông về việc tự tử hay một kẻ đang giả vờ muốn tự tử. Trước đó tôi còn kiểm tra xem lượng dung dịch sát khuẩn cresol mà mình sẽ uống có đủ gây chết người hay không kia mà.

“Thế nhưng mày có chết đâu. Vì thế nên ham muốn chết của mày chẳng có gì để chứng minh cả. Miệng có đòi chết nhiều lần đến đâu đi nữa mà cứ tự tử bất thành hết lần này đến lần khác thì vô nghĩa lắm. Chẳng ai tin mày đâu. Tất nhiên, tao cũng không tin.”

Đúng là tôi không thể uống hết lượng dung dịch sát khuẩn đủ để mất mạng đã cẩn thận đong ra cốc. Xem ra là tại tôi bất tỉnh giữa chừng bởi vòm họng đau như xé và hai bên thái dương nhức như kim châm.

Ý chí thì muốn điều ngược lại, nhưng cơ thể không chịu nghe cho.

Thật không may, lý do này không đủ, vì Bác sĩ sẽ vặn lại, là tại tiềm thức tôi không muốn chết thôi.

“Tao không định mở miệng nói một câu ngu ngốc như thế đâu. Nghe này, trên đời chẳng có gì là tiềm thức cả. Chỉ hiện thực là tồn tại thôi.” Bác sĩ giở giọng giáo điều. “Mày vẫn chưa chết. Đủ thấy bản thân mày không muốn chết. Nếu mày tự tử thành công thì mới chứng minh được là bản thân mày thực sự muốn chết. Đơn giản thế thôi. Tao giải thích rõ ràng và dễ hiểu chứ? Vì lẽ đó, cách duy nhất để chứng minh rằng mày thực sự muốn chết chính là tự tử thành công.”

Nếu thâm tâm tôi thực sự mong chết thì tôi có thể tự tử thành công ư?

“Sai rồi, sai rồi. Ngược lại mới đúng. Mày tối dạ thật nhỉ.” Bác sĩ giả vờ tỏ vẻ ngạc nhiên. Tính cách của lão thật đáng ghét. “Nghe này. Những người nằm chết ngoài kia là những người thực sự muốn chết. Ngược lại, những người còn đang nhởn nhơ là những người hoàn toàn không muốn chết. Nói tóm lại, dù cho bọn họ có mong muốn hay ước nguyện điều gì trong lòng đi nữa thì nó cũng chẳng quan trọng. Sự thật rằng họ đã chết rồi mới là điều quan trọng duy nhất. Tao có thể suy ra rằng những người đang nằm chết ngoài kia là vì họ thật lòng muốn chết, họ chết vì đủ thứ lý do, như tuổi già, ung thư, tai nạn giao thông, hoặc là vì mong mỏi cái chết như mày vậy. Mày xem, mỗi khi những người leo đỉnh Alps chết vì gặp nạn hay các tay đua Công thức 1 chết vì sự cố thì lũ chuyên gia phân tích tâm lý ngu ngốc luôn có mặt để ra điều bảo rằng tiếng gọi của cái chết trong tiềm thức nó như thế này thế kia đấy còn gì.”

Bác sĩ hạ họng, tuôn ra một tràng cười mỉa mai.

Tôi phải dừng lại ngẫm nghĩ một lúc. Bởi vì bản thân tôi đang có cảm giác rằng mình lại sắp sửa bị lừa bởi những lời lẽ ngụy biện của lão. Những ông già bà cả chết vì tuổi tác có thật là vì họ muốn chết không? Thế tức là loài người sẽ trường thọ mãi mãi, chỉ cần họ đừng bao giờ ước rằng mình muốn chết à?

“Đúng thế. Chỉ cần đừng bao giờ nghĩ, muốn chết quá, thì loài người thừa sức sống đến hai ba trăm năm tuổi. Thậm chí còn có thể thọ đến hàng vạn, thậm chí hàng triệu năm ấy chứ.” Bác sĩ thản nhiên đáp. Chắc là lão lại đang lừa phỉnh tôi như mọi khi rồi. Nhất định là thế.

“Người cao tuổi ngừng hưởng dương vì họ không còn muốn tiếp tục sống nữa, chỉ muốn chết đi thôi. Nếu trong đầu họ không nghĩ những chuyện như thế thì tuổi thọ của họ sẽ còn kéo dài hơn nữa. Từ tất cả ta có thể suy ra kết luận thế này. Chết chẳng qua chỉ là tự tử mà thôi.” Khuôn miệng lão cong lên để nặn ra một nụ cười độc địa. “Trên đời này thực sự lại có người xướng lên cái giả thuyết nghe ngu ngốc thế đấy. Cha đẻ của giả thuyết này là một nhà tâm lý học người Mỹ theo học thuyết của Jung*. Dù sao đi nữa thì trường phái của Jung cũng tồn tại nhiều thứ ngớ ngẩn lắm.”

Đủ quá rồi. Từ nãy đến giờ tôi đã hết kiên nhẫn với mớ luận điểm nhảm nhí của lão. Tôi quay mặt vào trong hòng cắt đứt cuộc hội thoại.

Ánh nắng rọi vào từ khung cửa sổ khiến căn phòng sáng bừng lên. Tôi xoay đầu để kiểm tra đồng hồ báo thức thì thấy đã gần 12 giờ trưa chủ nhật. Cơn bỏng rát nơi lồng ngực phần nhiều đã dịu bớt. Cơ thể tôi đang dần dà hồi phục. Tôi thử đứng dậy thì thấy hai chân còn run rẩy. Xem ra cả ngày hôm nay chỉ có thể nằm một chỗ rồi.

Chính vì thế, tôi mới chọn tự tử vào tối thứ Bảy.

Trước đây đã có lần tôi uống dung dịch xà phòng vào ngày thường. Quả nhiên lồng ngực tôi đau như xé, còn cơn buồn nôn cứ liên tục kéo đến. Nguyên nhân theo như Bác sĩ giải thích thì hình như là do tác dụng của chất hoạt động bề mặt*.

Tôi đã phải lết đến nhà vệ sinh để nôn thốc nôn tháo vào bồn cầu. Bỗng dưng từ lỗ mũi tôi bay ra những bọt bong bóng. Bong bóng xà phòng. Chúng lơ lửng bay quanh bồn cầu với vẻ lấp lánh. Tôi còn nhớ rất rõ mình không kìm được mà cười phá lên, bất chấp cảm giác khó chịu vì tức thở.

Sáng hôm sau, tôi kiệt sức đến nỗi không bước đi nổi nữa, đành gọi điện đến chỗ làm thêm xin nghỉ phép đột xuất. Sasazuka bắt máy, còn dùng giọng rất mực lo lắng để hỏi thăm.

Cứ thế mà chết quách đi có phải tốt hơn không, ở lại làm phiền người khác làm gì.

Tôi mà nói ra câu ấy thì có khi lại phải nghe Bác sĩ giễu cợt rằng bản thân tôi có thực sự muốn chết hay chăng. Hoặc không thì cũng bị bảo là một đứa ngu dốt.

Tôi cứ nằm ngửa trên giường mà nhìn trần nhà.

Bác sĩ luôn mắng nhiếc và châm chọc đầu óc đần độn của tôi. Tự tôi cũng biết rõ mình không thông minh cho lắm, nên dù cố cãi lại lão thì tôi cũng không thắng nổi. Tôi thừa biết rằng dẫu có mở miệng đáp trả đi chăng nữa, những gì tôi nhận lại từ lão cũng chỉ là khinh thường chiếu cố.

Đây là chuyện của hơn một năm về trước.

Tôi đến Nhà xuất bản Himurokawa làm việc, vẫn răm rắp nghe lệnh Sasazuka như mọi khi, sắp xếp lại giáo trình, gửi đến nhà các học viên theo danh sách trên máy tính. Mặc dù không thạo đánh máy, nhưng làm theo chỉ dẫn của người khác đối với tôi không có vấn đề gì.

Đang lơ đãng nhìn màn hình, mắt tôi đột nhiên lia đến tên một học viên nọ. Thành tích học tập của em thật xuất sắc. Hết lần này đến lần khác, em đạt điểm gần như tuyệt đối ở mỗi bài kiểm tra trong toàn bộ giáo trình.

Tôi rất ngưỡng mộ các bé gái sáng dạ. Thành ra tâm trí tôi chỉ đọng lại mỗi cái tên yêu kiều Konishi Mina của em. Mấy hôm sau, lúc đang làm việc trong kho lưu trữ, tôi mới phát hiện ra mớ giấy tờ của các học viên cất giữ trong tủ hồ sơ. Tôi đã vô thức lại gần tủ và lấy hồ sơ của Konishi Mina ra đọc.

Em là học sinh lớp Mười sống ở tỉnh Saitama. Tờ đơn đăng kí nhập học có điền họ tên, địa chỉ, số điện thoại, đính kèm bảng điểm và thư phản hồi của cô bé. Những con chữ tròn trịa viết bằng bút nước mực xanh trông thật thích mắt.

Vì dần dà cảm thấy tò mò về Konishi Mina, tôi đã quyết định dành ra cả ngày chủ nhật để đến thành phố nhỏ của em. Tới nơi, tôi đã rình rập trước nhà và vờ gọi nhầm số với mong muốn thấy mặt và nghe giọng em.

Konishi Mina là một cô bé giống hệt tưởng tượng của tôi. Em không thực sự xinh, nhưng lại sở hữu một khuôn mặt vừa tươi trẻ lại vừa khả ái. Tóc ngắn, kính gọng bạc, phục trang bình thường. Nhìn qua hẳn ai cũng nghĩ em là một cô bé sáng dạ, nhưng tính cách hơi rụt rè, những lúc đi chơi với bạn bè em cũng chẳng nói gì nhiều mà chỉ đưa ánh mắt chờ đợi, có vẻ thích làm người lắng nghe hơn là người nói.

Trong vòng một tháng, hễ có dịp tôi lại đến quan sát Konishi Mina, lòng thầm tính cách tiếp cận em. Tôi muốn nhìn thấy em ở một cự li gần gũi hơn thế này. Đến một ngày nọ, tôi lại vớ lấy túi đeo chéo của mình, hạ quyết tâm làm một chuyến du hành chẳng biết là lần thứ mấy đến thành phố nhỏ bé ấy của Saitama. Trong túi là cặp găng tay mỏng bằng nhựa mà tôi đã tự tiện lấy ở nhà xuất bản, cùng một cuộn dây nhựa loại to bản.

Để chung với một cây kéo màu bạc, bén nhọn lấp lánh.

Ngày thứ Hai thuộc tuần thứ hai của tháng Mười là ngày hội thể thao, hội thao của các trường nô nức diễn ra. Những người bình thường chẳng bao giờ tập thể dục đầy đủ hẳn là đang nghĩ đến việc chạy bộ, tôi thì chỉ nằm dài trên giường cả ngày. Vị dung dịch sát khuẩn còn sót lại trên lưỡi khiến tôi mất hết cả cảm giác thèm ăn.

Thứ Ba ngày 14, cơ thể tôi mới bình phục hoàn toàn. Sau khi dùng bữa sáng với bánh mì nướng và nước cam, tôi liền mở tập bản đồ 23 quận Tokyo ra trên bàn và suy tính xem hôm nay nên làm gì.

Yukiko học lớp Mười một trường tư thục Hazakura. Đứng đợi ở đâu thì sẽ gặp cô bé sau giờ học nhỉ?

Tôi đến thư viện thêm lần nữa để kiểm tra lại địa chỉ của trường Hazakura trong danh sách liệt kê các cơ sở công cộng ở Tokyo, đoạn rê ngón tay trên bản đồ quãng đường di chuyển từ Desert Himonya đến ngôi trường ấy.

Phương tiện di chuyển mà tôi nghĩ ra được chỉ có tàu điện và xe buýt. Tôi đoán rằng Yukiko hoặc sẽ xuống tàu ở ga Đại học Gakugei, hoặc sẽ xuống xe buýt ở trạm Takaban và đi bộ từ đấy về chung cư. Chỉ có điều tôi vẫn chưa rõ cô bé sẽ chọn đường nào.

Xem ra đứng chờ ở Desert Himonya là phương án tối ưu. Nhưng nếu đứng phục ở cửa ra vào thì làm sao tôi biết cô nữ sinh đang về nhà này chính là Yukiko kia chứ? Ở Desert Himonya thiếu gì gia đình có con gái, trong số đó hẳn sẽ có nhiều em là bạn học cùng trường với Yukiko.

Trước tiên, phải tìm hiểu xem đồng phục trường Hazakura trông như thế nào đã.

Tôi nhìn đồng hồ đeo tay. 8 giờ sáng. Nếu đi lúc này thì tôi sẽ đến trường vào giữa giờ giải lao mười phút. Tôi rời khỏi căn hộ. Cơn mưa đầu thu như ứ đọng, trên trời không ló ra nổi một tia nắng. Cách đây bốn ngày tôi cũng đã đi một chuyến tương tự, tàu điện ngầm, đổi tuyến, đi ngang qua ga Đại học Gakugei để xuống ga gần trường Hazakura.

Trường tư thục Hazakura nằm trên đỉnh một con dốc thoải, cách ga tàu vài phút đi bộ về phía Nam.

Xung quanh trường là khu dân cư yên tĩnh nên dù có quảng cáo rằng đây là nơi có môi trường giáo dục lý tưởng cũng không ngoa lắm đâu. Những hàng giậu cắt tỉa gọn gàng nối tiếp nhau, từ ô cửa sổ khép hờ của một nhà nọ, tôi còn nhác thấy dải ren trắng của tấm rèm đang phấp phới.

Khu phố này rõ là của tầng lớp khá giả, những người có thể nhăn mày khó chịu khi nghe thấy tiếng đóng mở cửa ô tô. Nhưng chỉ cần ra ga bắt tàu điện ngầm là đến ngay khu sầm uất như Shibuya, nên hoàn cảnh quanh trường có lành mạnh đến mấy đi nữa thì cũng khá là vô bổ trong việc giáo dục đám học sinh nên người.

Kéo dài từ cổng chính vào trong sân trường, cắt ngang dãy phòng học là một lối đi lát gạch đỏ có hàng cây hồ dương trồng ở hai bên. Chính giữa tòa nhà sơn màu trắng đục có khắc mặt đồng hồ thật lớn, kim ngắn đang chỉ 10 giờ hơn.

Tiết học vẫn chưa kết thúc nên chẳng có bóng dáng học sinh nào trên hàng gạch đỏ. Hình như có lớp đang học nhạc cổ điển thì phải, giai điệu của những tiếng đàn và kèn cứ loáng thoáng bên tai tôi.

Tôi đi tìm chỗ nghỉ chân để chờ đến trưa, cuối cùng cũng tìm ra một công viên nhỏ. Tôi ngồi xuống băng ghế, vừa thầm mong sao hôm nay trời đừng mưa, vừa ngắm một bà mẹ trẻ đang cười đùa với con mình. Đứa bé áng chừng mới 5 tuổi, hết trèo lên khung xà bằng gỗ rồi lại nhảy lên tấm lưới đan bằng chão. Người mẹ vừa đưa tay xoa cái bụng căng tròn, vừa dõi trông con.

Có tiếng chuông nghe như chuông nhà thờ gióng lên đằng xa, báo hiệu đã 12 giờ. Tôi rời khỏi công viên, quay trở lại trường Hazakura.

Đám học sinh đã ùa ra lối đi gạch đỏ. Cả nam và nữ sinh đều khoác áo vest màu xanh lá mạ. Quần nam sinh và váy nữ sinh có màu giống nhau. Ngoài sân có một nhóm nam sinh đang đá bóng, đã bỏ áo vest và xắn tay áo sơ mi đến khuỷu.

Biết rõ đồng phục của trường trông như thế nào rồi, tôi liền quay trở lại con dốc của khu dân cư.

Tôi quyết định dùng bữa trưa ở một quán ăn nhanh trước ga. Thực đơn hôm nay gồm bánh kẹp thịt phô mai và một tách cà phê đen nóng.

Cà phê ở các quán ăn nhanh luôn đậm, còn cà phê ở các nhà hàng gia đình luôn nhạt. Đây là luật bất thành văn của hàng ăn.

Lúc tôi cầm khay lên tầng hai thì thấy vào buổi trưa ngày thường thế này quán khá là vắng khách. Chỉ có một nhóm phụ huynh đang mải ngồi tụm lại một góc trò chuyện với nhau, để mặc lũ trẻ con chừng bốn năm tuổi vừa kêu bô ba vừa nhóp nhép mấy miếng khoai chiên đựng trong hộp giấy lớn cầm ở tay.

Khoai tây chiên ở các quán ăn nhanh luôn mềm oặt. Luật bất thành văn thứ hai của hàng ăn là đây.

Khoai tây nên chiên sao cho giòn lớp vỏ ngoài và bên trong thì vẫn mềm xốp, nhưng khoai chiên của hầu hết các quán ăn nhanh đều dai nhách, cầm cọng nào lên cũng rũ xuống trông hệt như một dấu chấm hỏi. Tất cả đều tại đám nhân viên chẳng thèm ngó ngàng gì đến máng đựng khoai gắn đèn hồng ngoại.

Nhắc mới nhớ, bộ dạng nhồm nhoàm thứ khoai tây chiên mềm oặt ấy của lũ trẻ trông mới ngon miệng làm sao. Tôi nhớ ra rằng vị giác của con người vốn hoàn thiện từ bé. Mai đây trưởng thành, có khi mấy đứa trẻ kia lại tưởng khoai chiên ỉu dai mới là bình thường ấy.

Sau một lát ngồi nghỉ trong quán ăn nhanh, tôi bắt tàu để về lại ga Đại học Gakugei. Khu phố mua bán trước ga cũng thưa thớt người.

Lần này tôi đi một mạch đến chung cư Desert Himonya. Ngay sân trước chung cư vẫn là hộp máy tự động ấy. Tôi đi thẳng đến tủ hòm thư của các chủ hộ. Tôi tra từng hòm thư một. Nếu bảo rằng mình là người giao hàng từ nội thành ra, hẳn là người trong chung cư sẽ cho tôi vào mà không nghi ngờ gì.

707 (TNHH) HYPERPRISM

Trên một nhãn hòm thư trông như mẫu chữ in từ máy in laser có dán logo kết hợp từ nhiều ngôi sao lấp lánh vẽ theo nét manga. Chắc là hình đồ họa làm từ phần mềm vẽ 3D. Căn hộ này hẳn là văn phòng của một công ty thiết kế đồ họa hoặc truyền thông. Tôi bước đến hộp máy khóa cửa tự động, nhập số 707 vào rồi ấn nút gọi.

“Vâng?” Từ loa trong của hộp máy vọng ra tiếng trả lời của một người đàn ông trẻ tuổi.

“Giao hàng của Speed King đây ạ.” Tôi ghé miệng đến gần hộp máy rồi trả lời thật to. “Có người gửi hàng đến ạ.”

May mắn thế nào mà gã thanh niên không hỏi tôi món hàng từ đâu đến. Đúng như tôi trù tính, nếu ngày nào cũng sử dụng dịch vụ chuyển phát thì chắc là bọn họ đã quá quen với cảnh này rồi.

“Cảm ơn nhé. Giờ tôi sẽ mở cửa đây.”

Tiếng rừ rừ vang lên ngoài thềm. Lúc tôi bước lại gần cửa tự động thì hai cánh kính lập tức mở ra. Bước vào tiền sảnh lát cùng loại gạch với phần sân, tôi đến thang máy rồi bấm tầng năm.

Ra khỏi thang máy đã thấy hành lang sơn màu trắng ngà trải dài trước mắt, với những ô cửa sổ lắp kính trổ ra hướng Bắc và những khung cửa ra vào màu nâu sậm ở phía Nam.

Tôi dò biển từng căn hộ để tìm 503. Bên trên chuông cửa là tấm biển đề họ tên các thành viên trong gia đình.

503

TARUMIYA Kazuhiro

Toshie

Yukiko

Kenzaburo

Trông cứ như một khổ thơ ấy. Kazuhiro, Toshie, Yukiko, Kenzaburo, tôi lẩm bẩm những cái tên. Xem ra nhà Tarumiya là một gia đình có bốn thành viên. Nghĩa là Yukiko còn một đứa em trai.

Tôi mường tượng ra chân dung cả nhà. Yukiko 16 tuổi, suy ra bố mẹ cô bé cũng phải hơn bốn mươi. Nơi này lại gần trung tâm, để sống ở đây thì nhà Tarumiya phải khá giả lắm. Nội việc gửi con gái vào học ở một trường tư thục đã chứng tỏ rằng nhà họ nếu không thuộc giới trung lưu thì cũng phải là hàng sung túc.

Bố cô bé có lẽ là nhân viên của một công ty lớn nào đó có văn phòng nằm trong một tòa nhà sang trọng tọa lạc ở trung tâm thành phố. Nếu đã ngoài bốn mươi thì rất có thể ông ta sắp được cất nhắc lên hàng ngũ quản lý, như thư kí trưởng bộ phận hoặc đại diện trưởng bộ phận chẳng hạn.

Trong đầu tôi hiện lên hình ảnh một người đàn ông đeo kính gọng bạc, vận bộ comple hiệu Armani hay đại loại thế. Bộ dạng có lẽ giống một nam diễn viên truyền hình tôi từng thấy qua.

Vì thiếu dữ liệu về mẹ và em trai Yukiko nên tôi chẳng tưởng tượng ra hình ảnh gì. Dẫu vậy, tôi vẫn đoán rằng mẹ của em nhất định là kiểu phụ huynh mà ai cũng đã từng thấy trên truyền hình, nhưng về đứa em trai thì chịu. Chủ yếu là do tôi không biết tuổi thằng bé. Học sinh cấp hai? Tiểu học? Hay chỉ là trẻ nhỏ đang chập chững tập đi? Chân dung đứa em trai trong gia đình vẫn là một chỗ trống.

Tôi không cần mường tượng ra hình ảnh Yukiko. Bởi lẽ chỉ cần đứng chờ ở đây thôi, chẳng mấy chốc tôi sẽ gặp cô bé.

Tôi rời khỏi cửa để đi tìm chỗ nấp. Đối diện cửa thang máy về phía xa là thang bộ. Cầu thang ở đây so với chung cư nơi tôi sống vừa to vừa sạch lại sáng sủa hơn rất nhiều, hầu như chẳng có lấy một góc tối.

Ai trên đời này cũng có một chỗ náu thân. Nếu có người sống dưới gầm cầu thì cũng có người sống trong lều tuyết, có người sống trong khu lắp ghép bê tông cốt thép bỏ hoang thì hiển nhiên cũng phải có người sống trong những khu chung cư sang trọng gắn hệ thống khóa tự động chứ.

Chỉ có điều, thang bộ ở đây chẳng được ai để tâm coi sóc, tường là bê tông trần, không sơn phết. Thang này e rằng chỉ dùng làm lối thoát hiểm. Đã có hẳn hệ thống thang máy sang trọng, chắc không ai vì muốn giảm cân mà cất công dùng thang bộ lên tận tầng năm đâu. Xem ra tôi không cần lo đến việc người ta nhòm ngó rồi.

Ngồi xuống chiếu nghỉ cầu thang, tôi nhìn đồng hồ. 2 giờ chiều. Cho đến giờ tôi vẫn không rõ khi nào trường cô bé mới tan học, nhưng tôi khá chắc rằng mình phải đợi ở đây ít nhất là ba tiếng.

Nghe chừng tôi đã quá ngây thơ. Hơn 6 giờ tối mà Yukiko vẫn chưa về. Mỗi lần chuông thang máy kêu, tôi lại chạy lên cầu thang để nhòm ra hành lang, nhưng đều chỉ thấy mấy tay nhân viên văn phòng hay mấy bà nội trợ, chứ không phải bóng áo đồng phục xanh lá mạ kia.

Sắp sửa quá 8 giờ rồi. Yukiko không thuộc dạng nữ sinh ngoan ngoãn tan trường là về thẳng nhà à? Hay do cô bé bận sinh hoạt câu lạc bộ?

Bụng tôi ậm ạch khó chịu, có thể là tại bữa trưa chỉ tọng toàn thức ăn nhanh đây mà.

Giữa lúc tôi đang băn khoăn không biết có nên rời đi hay không, chuông thang máy lại kêu. Tôi chạy lên cầu thang, từ góc tường nhòm ra hành lang. Một nữ sinh mặc áo vest màu xanh lá mạ bước ra khỏi thang máy. Hạnh phúc làm sao, mái tóc của em dài óng ả đến tận lưng. Chiều cao vào khoảng 1m60. Dáng người cân đối, dưới tà váy đồng phục lộ ra cặp chân thon thả.

Em băng qua hành lang, vai khoác một chiếc túi vải lớn.

Quả là một cô bé xinh đẹp, đấy là ấn tượng đầu tiên của tôi về Yukiko. Cằm nhọn, hàng mi dày phủ bóng xuống cặp mắt sáng ngời khiến khuôn mặt em có nét như loài mèo. Không phải mèo hoang hay chạy nhảy gờ tường, mà là giống mèo lông ngắn thuần chủng của Mỹ.

Khoảng cách hơi xa nên tôi nhìn không rõ, nhưng hình như em không xỏ khuyên ở tai, mi mắt hay mũi. Thế thì em về trễ hẳn là do sinh hoạt câu lạc bộ chứ không phải vì la cà hay đi chơi đêm.

Cô bé bước lại gần cửa căn hộ 503 rồi ấn chuông. Có tiếng nói chuyện lào xào không rõ, vài giây sau thì cửa nhà mở ra, đón em khuất hẳn vào trong.

Đúng là Yukiko rồi.

Vì không thể xin nghỉ liên tiếp mấy buổi liền nên suốt ba ngày nay tôi đã làm việc rất chăm chỉ.

Thứ Sáu ngày 17 tháng Mười, hơn 3 giờ tôi đã xin phép về. Trưởng phòng Okajima bảo rằng tuần sau tôi mà còn thế này bà sẽ không duyệt phép đâu, nhưng cuối cùng vẫn cho tôi về.

Bản thân tôi cũng biết rằng sắp sửa đến giai đoạn công việc bận rộn nhất rồi. Hôm nay đã là cơ hội cuối cùng trong tháng để tôi theo dõi cô bé.

Một tiếng đồng hồ sau, tôi lại ngồi giết thời gian ở công viên gần trường Hazakura. Lâu lắm rồi bầu trời mới lại trong xanh và làn gió mới lại mát rượi thế này. Vào đúng cái hôm quá lý tưởng để ra ngoài chơi thì cặp mẹ con tôi bắt gặp lúc trước lại không có ở đây. Tấm lưới của khung xà đung đưa trong cô quạnh.

Nhác thấy đã đến giờ, tôi liền đi tới trường Hazakura. Đến nơi đã thấy từng tốp học sinh từ hành lang ùa ra sân trường. Tôi đứng ở trạm dừng xe buýt ngoài cổng chính, mắt dõi theo một nhóm các cô cậu mặc đồng phục.

Bảo rằng ngôi trường thuộc số ít các trường điểm của thủ đô thì có hơi quá lời, nhưng đối với những người thường xuyên qua lại khu này thì Hazakura quả thật là một trường danh tiếng chỉ dành cho cô chiêu cậu ấm.

Nói cách khác, học sinh trường này nếu không sống ở biệt thự sang trọng thì cũng ở căn hộ cao cấp, sinh trưởng trong gia đình chỉ sử dụng các vật dụng đã tiệt trùng, luôn tích trữ rất nhiều rau củ quả trồng trọt hữu cơ trong chiếc tủ lạnh khổng lồ có khả năng bảo quản độ tươi ngon lâu nhất cho thực phẩm, mỗi cuối tuần cả nhà lại cùng nhau đi ăn ở một nhà hàng Ý nào đó, đứa bé nhất đang tuổi đi mẫu giáo thì trông chừng bằng cách cho xem anime dài tập.

Trên nền gạch nung đỏ, các cô cậu học sinh đang kiêu hãnh bước đi với vẻ tươi trẻ tràn đầy sức sống bừng sáng khuôn mặt kia hẳn cũng thuộc thế hệ trẻ em tin vào thế giới ảo tưởng của Nàng Lọ LemAladdin, trải qua thời thơ ấu ngập tràn mơ ước mình sẽ như Totoro* bảo vệ thiên nhiên.

Sau hai mươi phút đợi chờ, rốt cuộc tôi cũng thấy Yukiko xuất hiện trên con đường gạch đỏ. Em vừa đi vừa trò chuyện với một cô bé nhỏ thó, trông như bạn cùng lớp. Cô bé này có khuôn mặt bầu bĩnh, đeo kính gọng bạc, răng hơi hô. Một ca cần đi niềng. Có lẽ ngay từ nhỏ, bố mẹ cô bé đã không dạy con mình phải bỏ thói quen mút ngón tay. Khuôn mặt cô bé trông hệt như bức biếm họa vẽ người Nhật thời xưa vậy.

Yukiko và cô bạn bước ra khỏi cổng trường, băng qua bến xe buýt để đi xuống con dốc thoải.

Tôi liền bám theo sau, thận trọng giữ khoảng cách.

Không rõ hai em đang nói gì, nhưng có thể thấy cô bé nhỏ thó hoạt ngôn hơn, Yukiko chỉ mỉm cười và im lặng lắng nghe. Mái tóc dài chấm lưng tung bay trong gió thu, phấp phới như một đôi cánh đen huyền.

Hai cô bé chia tay nhau ở cửa ga. Chắc hẳn Yukiko đi lại bằng tàu điện ngầm.

Tôi nhanh chân chạy trước vào trong, bỏ lại Yukiko còn đang vẫy tay chào bạn bên ngoài. Tôi bấm mua vé tàu đến ga Đại học Gakugei, rồi đứng chờ máy nhả vé. Trong lúc tôi vờ như đang đọc bảng thông báo thì Yukiko xuất hiện. Em rút ví ra khỏi túi ngực áo vest rồi bấm mua vé ở máy tự động.

Tôi bám theo cô bé, đi lên cầu thang dẫn ra sân ga.

5 giờ chiều, khoảng thời gian mà tàu điện tấp nập hành khách trở về nhà. Không đông đến nỗi xảy ra cảnh chen lấn xô đẩy nhưng cũng khiến nhiều khách phải đứng khi lên tàu, toa ken đặc người đến nỗi không thể phóng mắt nhìn đi đâu xa được. Tôi quyết định lên cùng một cửa toa với Yukiko.

Tôi tóm lấy tay vịn ngay bên cửa toa, dựa người vào đó, vờ như không để ý gì rồi liếc mắt quan sát cô bé.

Yukiko đứng cách tôi vài bước chân, tay em nắm chặt dây vịn. Em hếch chiếc cằm nhọn lên, mắt lơ đãng nhìn trần tàu. Em đang tư lự điều gì, hay đang mải mê đọc tấm áp phích của một tuần san thiếu nữ dán trên ấy?

Càng nhìn càng thấy xinh đẹp. Đến tôi mà còn phải thừa nhận nét đẹp của Yukiko thì đối với các bạn nam đồng trang lứa, hẳn em phải nổi tiếng lắm. Đầu óc tôi nhớ đến câu nói ngày xưa của các cụ, “Tài sắc vẹn toàn”. Tôi thật lòng mong sao em đừng bao giờ gặp phải những tên biến thái trên toa tàu điện chen chúc vào buổi sáng.

Tàu gần đến ga Đại học Gakugei, Yukiko với tay lấy túi xách để trên lưới hành lý. Tôi chủ động xuống tàu trước.

Lúc tôi đang đứng ở khu mua bán phía dưới cầu tàu thì bóng dáng Yukiko lại xuất hiện. Em băng qua cửa soát vé tự động rồi đi về phía bồn hoa ngay trước ga. Xem chừng không định về thẳng nhà rồi. Em nhìn chiếc đồng hồ đeo tay mảnh dẻ vòng quanh cổ tay trái, đoạn ngẩng mặt lên để so giờ với bảng lịch trình điện tử.

Tôi tự nhủ chắc là em đang đợi ai đấy. Hò hẹn sau giờ học. Đáng ghen tị thật. Chỉ có điều, nếu đây là bạn trai cùng trường thì em đâu cần cất công đến tận ga Đại học Gakugei để đợi với chờ. Cả hai chỉ cần hẹn gặp ở trường rồi đến đâu đó ở Shibuya thôi mà. Hay bạn trai em học trường khác?

Không, cũng rất có thể người mà em đang hẹn hò là ai đấy lớn tuổi hơn, ví như sinh viên đại học hay người đã đi làm.

Hình như giờ hẹn là 5 rưỡi chiều thì phải. Lúc đồng hồ điện tử của nhà ga nhảy từ số 32 sang 33, một người đàn ông thình lình xuất hiện, băng qua cửa soát vé rồi chạy bước nhỏ về phía Yukiko, ông ta vận comple có vẻ đắt tiền, tuổi chừng bốn mươi.

Tôi dỏng tai nghe ngóng, thi thoảng lại liếc trộm về phía hai người.

Xin lỗi, trễ thế này rồi nhỉ? Vẻ mặt ăn năn.

Chỉ trễ có hai phút thôi mà. Em mỉm cười.

Vậy à? Người đàn ông cười đáp lại. Đi đâu bây giờ?

Vẻ tư lự. Mình đi ăn hamburger hay gì đấy đi. Yukiko không phải trả tiền đâu nhỉ?

Yukiko và người đàn ông đi ra cửa ga phía Bắc. Chắc để đến quán ăn nhanh.

Vừa bám theo sau tôi vừa thắc mắc. Yêu đương cách biệt tuổi tác cũng không phải chuyện lạ, nhưng cách biệt ở mức này thì quá lớn.

Quan hệ vì tiền ư? Ý nghĩ vừa thoáng hiện ra, tôi đã phủi ngay những từ ngữ xấu xí ấy đi. Làm gì có đứa con gái nào lại đứng mồi chài khách ngay trên tuyến đường mình đi học hàng ngày kia chứ. Hơn nữa, món mà người đàn ông kia sẽ đãi em là hamburger, chẳng phải có hơi rẻ tiền quá sao?

Tôi bước vào quán ăn nhanh. Yukiko và người đàn ông đã gọi món xong, đang cầm khay đồ ăn đi lên tầng. Tôi kêu một cà phê nóng, lát sau cũng cầm cốc giấy leo lên cầu thang.

Tầng hai khá đông người. Tôi chọn chỗ ngồi ở dãy bàn cao hướng ra cửa sổ, bỏ mặc cốc cà phê đắng nghét rồi bắt đầu quan sát.

Hai người ngồi đối diện nhau ở chiếc bàn trong cùng. Người đàn ông đang nói với gương mặt mỉm cười hiền hòa. Vì tiệm ăn quá ồn ào nên tôi không nghe ra gì cả.

Bỗng, một tiếng cười trong trẻo vang lên. Một Yukiko chỉ biết im lặng lắng nghe mà phải bật cười đến độ hai mắt nheo lại, đưa tay che miệng.

Đây là lần đầu tiên tôi nghe tiếng cười của em. Chắc người đàn ông cũng ngạc nhiên lắm, sau một thoáng bất ngờ thì lại mỉm cười. Chẳng rõ ông ta là ai, nhưng trông hai người khá thân thiết.

Sau chừng nửa tiếng trò chuyện, họ rời tiệm ăn.

Tôi đã dành ra kha khá thời gian để theo dõi Yukiko. Nhận thấy tiếp tục bám đuôi cô bé thế này thì mạo hiểm quá, tôi bèn ngồi yên trong quán để dõi theo hai người từ cửa sổ. Họ sóng bước với vẻ thân mật đến góc cua đường Meguro.

Trước cảnh tượng ấm áp ấy, tôi tự nhủ có khi người đàn ông kia là ông Kazuhiro, bố cô bé. Bề ngoài tuy có hơi khác với tưởng tượng mà tôi vẽ ra ở Desert Himonya, nhưng đây vẫn là một người đàn ông ân cần và dịu dàng, một người bố vừa trẻ trung, phong cách, lại còn chu đáo nữa.

Trên đường đi học về, cô bé đứng đợi bố ở ga rồi dắt ông đến quán ăn nhanh. Mẹ ở nhà nhất định là đang chuẩn bị một bữa cơm nóng sốt cho cả gia đình nên ban nãy hai bố con chỉ dám gọi một suất hamburger gọn nhẹ thôi.

Đây cũng lại là một cảnh quay trong phim truyền hình dài tập.

Đợt chạy nước rút điên cuồng cuối mỗi tháng sẽ bắt đầu từ thứ Bảy tới, ngày 18, bất chấp việc trường phòng Okajima bảo rằng phải đến tận tuần sau kia.

Để vượt qua những ngày hỗn loạn và bù đầu ấy một cách yên bình, tôi buộc phải giữ mình, quên đi những chuyện cá nhân và cố gắng vận dụng toàn bộ trí tuệ và sự gan dạ. Không thì có khi tôi phải chịu lời nguyền từ linh hồn giận dữ của đức thánh Sugawara no Michizane* mất.

Rắc rối đầu tiên chính là bản thảo của lời bạt dành cho quyển cẩm nang thi cử vốn là phần việc của lão giảng viên gì-đó thuộc trường đại học nào-đó mãi mà vẫn chưa xong. Phái biên tập non tay nghề đi không xong nên đích thân trưởng phòng Okajima phải ra tay, ngày nào cũng gọi điện đến để đốc thúc công việc. Bà phải vận dụng toàn bộ sách lược của mình để tấn công lão, đầu tiên là gọi điện nhắc nhở lịch hôm nay đã đến ngày này tháng này, sau đó hỏi han về tình trạng bản thảo, tiếp theo khẩn khoản van xin, rồi khóc lóc, cuối cùng là thẳng thừng đe dọa. Giả sử trưởng phòng mà trẻ lại tầm mười tuổi thì có khi cả mỹ nhân kế cũng không từ.

Cuối cùng lão giảng viên gì-đó buộc phải quy hàng, chân chạy việc như tôi phải đến tận phòng nghiên cứu của trường đại học để thỉnh tập bản thảo quý giá về.

Tôi ngồi chờ, vừa nhấp cốc trà xanh nóng một cô gái trẻ trông như sinh viên rót cho, vừa thầm thắc mắc tại sao lão giảng viên toán ấy lại không dùng e-mail nhỉ.

Trưởng phòng Okajima tiếp tục thành công trong việc dùng sách lược (hẳn là đe dọa và cưỡng ép) lên hội đồng chịu trách nhiệm chỉnh sửa đề thi, và thế là từng bộ đề thi đã qua hiệu đính cứ thế lũ lượt gửi về Nhà xuất bản Himurokawa như chiến lợi phẩm. Việc biên tập ấn phẩm tạp chí cẩm nang thi cử hay bộ giáo trình mới với đề thi đính kèm cũng nhờ thế mà tiến triển thuận lợi.

Trong lúc tiếng reo đại thắng vang lên ở tất cả các mặt trận thì hậu phương lại có biến. Có một phần trong mẫu in của giáo trình, nhà in không thể in ra được.

Trưởng phòng Okajima cực kì dạn dày kinh nghiệm trong việc đối nhân xử thế mà cũng đành bó tay trước trò phản loạn của công nghệ chế bản điện tử. Phải luôn đề phòng lũ máy móc. Bởi lẽ chúng là thứ luôn chống lại động vật.

Người chịu trách nhiệm bên nhà in đến tường trình với trưởng phòng Okajima trong bộ dạng râu ria lún phún trông đến là bê bối, mái tóc dài bù xù thì buộc vội ra sau.

Ông ta giải thích vấn đề nằm ở chỗ máy in, loại máy in kĩ thuật cao với cái tên nước ngoài mà tôi không tài nào phát âm nổi, nào là nhầm lẫn giữa hai loại font chữ trong bản layout, rồi thì số hiệu của font thế này thế nọ.

Theo cách ông ta khua môi múa mép thì rắc rối này có vẻ khá giống một món ăn nêm muối quá tay. Vốn dĩ mọi chuyện chẳng có gì để phải trầm trọng hóa lên như thế.

“Cháu có hiểu hắn muốn nói gì không?” Sau khi tay phụ trách kia đi khỏi, trưởng phòng Okajima mới quay sang hỏi tôi. Tôi chỉ nhún vai mà chẳng nói gì. Trưởng phòng day day thái dương, miệng lẩm bẩm. “Người ở xưởng in ngày trước toàn là mấy ông chú trung niên bụng phệ luôn cười toe toét, thời nay thì rặt mấy kẻ nhìn như dân tập yoga, nói năng chẳng ai hiểu nổi. Đáng lẽ nên có thông dịch viên ở đây mới phải.”

Vẻ mặt trường phòng như đang hồi tưởng lại thời xa xưa tươi đẹp khi người ta còn dùng máy đánh chữ. Đây có lẽ cũng là nét mặt của những người sống bằng nghề viết tay sao chép bản thảo khi máy in Gutenberg* xuất hiện.

Những rắc rối lặt vặt khác thì nhiều không kể xiết. Ngày nào tôi cũng phải chạy lòng vòng khắp trung tâm thành phố, làm hết việc vặt này đến việc vặt khác, mấy hôm liền phải ở lại phòng biên tập đến khuya, gom từng đồng lương ngoài giờ còm cõi.

Tôi bận đến nỗi không có thì giờ để mà chết theo đúng nghĩa đen. Vào ngày thứ Bảy kế tiếp, tôi đã không ghé sang hiệu thuốc. Tôi rất ghét mọi việc đi chệch với lịch trình, nhưng thế này thì tôi lại tránh mặt được Bác sĩ, âu cũng là cái may.

Ngoài ra tôi còn gặp thêm một chuyện tốt nữa. Vì ngày nào phòng Biên tập và phòng Kinh doanh cũng phải vùi đầu vào làm việc nên sẽ chẳng ai chú ý đến vài món đồ tự dưng biến mất.

Tôi lẳng lặng cất cây kéo mới tinh đi.

Cây kéo ấy cũng giống như hai cây lúc trước mà tôi đã lấy, từ lưỡi kéo đến tay cầm đều làm bằng thép không gỉ, chính giữa ghim một chiếc ốc vít nhỏ để cố định hai phần lưỡi kéo.

Lưỡi kéo cũng không bén lắm. Ngón tay có sượt qua thì cũng chỉ để lại một vết lõm trên phần thịt chứ không chảy máu. Mũi kéo mài tròn vì lý do an toàn, dẫu có cố tình đâm vào đầu ngón tay đi nữa thì cũng chỉ để lại vết lõm trên thịt. Đây vốn là loại kéo dùng vào việc cắt giấy. Không phải thứ hung khí cắt da xé thịt.

Tối nào khi tan ca về, tôi cũng lấy cây mài để mài đầu lưỡi kéo hòng giết thời gian.

Qua mấy ngày, mũi kéo đã trở nên nhọn hoắt, trông như mũi rìu phá băng vậy. Như thế đã được chưa nhỉ? Tôi có thể thử độ bén của mũi kéo bằng cách đâm nó vào ngón tay, bắp tay hoặc cổ họng mình, nhưng như thế sẽ không tránh khỏi việc máu tôi dính lên lưỡi kéo.

Tôi nhặt một chiếc hộp gỗ bên vệ đường rồi lấy kéo đâm thử. Chẳng cần dùng sức mũi kéo đã đâm sâu vào gỗ. Thế này thì chắc là ổn rồi. Kinh nghiệm rút ra từ vụ Konishi Mina đã cho tôi thấy việc dùng kéo cùn khó khăn đến thế nào.

Khi lưỡi kéo đã mài bén, tôi mua loại vải mềm từ hiệu thuốc về để đánh bóng nó. Mỗi khi thó cây kéo nào từ phòng Biên tập và cả khi mài kéo, tôi luôn cẩn thận đeo găng nhựa hoặc dùng khăn lau để tránh lưu lại dấu vân tay.

Những lúc ở phòng Biên tập, tôi đều đeo găng ở hai tay rồi mở kéo ra hình chữ thập, sau đó mới cẩn thận lau sạch từ tay cầm đến phần bắt ốc.

Sau khi lau sạch mọi dấu vân tay, biểu bì và bụi bẩn khỏi cây kéo, tôi giơ nó ra trước bóng đèn ngủ để ngắm nghía vẻ bóng bẩy lấp lánh của nó.

Đoạn, với đôi tay còn đeo găng, tôi kéo dây nhựa ra quấn thành năm vòng rồi lấy kéo cắt. Tôi gói cây kéo và cuộn dây nhựa lại bằng túi nylon rồi nhét nó xuống tận đáy cái túi đeo chéo của mình. Sau đó, tôi bọc chiếc găng tay nhựa mới vào rồi nhét kế bên túi đựng kéo và dây. Đôi găng đang đeo thì tôi vứt thẳng vào thùng rác.

Khâu chuẩn bị đã hoàn tất. Giờ chỉ việc chờ thời cơ đến.

Đã gần cuối tháng Mười, khi tiết trời khiến người ta trở nên âu yếm hơn với những chiếc áo khoác và áo len, thì cũng là lúc cuộc chiến của phòng Biên tập Nhà xuất bản Himurokawa đi đến hồi kết.

Phần còn lại chỉ là khâu xử lý tàn cuộc, nói cách khác là hoàn tất thủ tục giấy tờ và dọn dẹp mớ hỗn độn trong phòng Biên tập sao cho ngăn nắp sau một cuộc chiến khốc liệt. Giấy tờ sẽ do trưởng phòng Okajima lo liệu, còn phần chỉnh đốn văn phòng sẽ do lũ thời vụ chúng tôi phụ trách.

Thứ Bảy, ngày 1 tháng Mười một, nhân viên phòng Biên tập đều đã xin nghỉ phép sau quãng thời gian nước rút mệt nhoài, chỉ còn ba người làm thời vụ ở lại dọn dẹp phòng ban cả nửa ngày trời cho đủ giờ công.

Ba người chúng tôi đều dở tệ việc dọn dẹp và sắp xếp. Cậu sinh viên cao lêu đêu (tên Takahashi) vớt miếng giẻ ướt sũng ra khỏi xô nước và cứ thế mắm môi mắm lợi lau, ông anh cựu nhân viên văn phòng đeo kính gọng đen (tức Yamagishi) loay hoay mãi vẫn không biết cách sử dụng máy hút bụi, còn kẻ béo ú lười vận động (tức là tôi) thì gãy cả lưng vì bê tài liệu.

Tình hình này cứ xảy ra như cơm bữa, khiến trường phòng Okajima sốt ruột phải nhảy vào chỉ đạo và phụ giúp chúng tôi với năng suất gấp đôi người bình thường. Cũng chính vì như cơm bữa, nên thao tác của trưởng phòng rất điêu luyện đẹp mắt.

“Giẻ phải vắt rồi mới lau. Này, vắt đi. Vắt cho ráo nước vào. Thật là, cái giẻ ướt sũng thế thì lau gì?”

“Cố ghi nhớ cách sử dụng máy hút bụi đi chứ! Lau dọn cũng là một phần công việc chỗ chúng ta. Ở nhà chưa làm bao giờ à? Không phụ vợ việc gia đình luôn hả?”

“Cháu nữa, sao lại buộc cả đống tạp chí vào như thế? Mang hết lên sao được? Cả chồng này thì nặng lắm. Tách làm đôi. Buộc lại đi.”

“Này này, rác cháy và rác không cháy, phân loại cẩn thận vào. Đều là kiến thức thường thức thôi mà, phổ thông mà!”

Tôi cảm thương sâu sắc cho bất kì ai phải về làm dâu nhà Okajima, mà chẳng rõ trên đời có tồn tại một ai như thế không.

Cuối cùng phòng Biên tập cũng trở về với vẻ ngăn nắp trật tự như xưa, tôi và hai người kia khuân cỡ chục túi rác lớn ra điểm tập kết. Quá nửa số rác toàn là giấy vụn, xem ra còn lâu lắm chúng ta mới có thể tiến lên một xã hội không cần giấy.

Trở về phòng Biên tập, tôi thu xếp đồ đạc rồi đi thẳng đến bàn của trưởng phòng Okajima, xin phép tuần sau được ba ngày về sớm.

“Ừ, thôi. Đỡ một kì bận rộn rồi.” Trưởng phòng Okajima vui vẻ đồng ý, có lẽ là do bà đang hài lòng trước chiếc bàn làm việc đã lau dọn sạch sẽ và sắp xếp ngăn nắp của mình. “Tôi biết là có hỏi thì cháu cũng không nói đâu, nhưng cháu bận việc gì thế? Hẹn hò với người yêu à?”

Bà mỉm cười hỏi. Tôi suy nghĩ một hồi rồi đáp.

“Dạ vâng ạ.”

Trưởng phòng Okajima ngạc nhiên ra mặt, hẳn là câu trả lời của tôi đã khiến bà bất ngờ lắm. Tôi cúi đầu chào rồi rời khỏi phòng Biên tập.

Trên đường về căn hộ, tôi ghé sang hiệu thuốc, tiến đến kệ bán các sản phẩm diệt côn trùng và sâu bọ có hại rồi với lấy hộp thuốc diệt chuột. Tên sản phẩm khiến tôi thích thú, Kill More. Giết nhiều hơn đi!

Mặt trước vỏ hộp vẽ hai dấu chéo hai bên, bên trên là một con chuột đội vòng thiên sứ, cho thấy con chiên chuột tội nghiệp sẽ lên thiên đường với chúa Jesus.

Về đến nhà, tôi đổ thuốc chuột ra một cái đĩa. Những khối thuốc be bé xù xì màu đỏ ào ra khỏi hộp. Bỏ qua màu đỏ độc hại thì trông cái đĩa đầy thuốc chuột chẳng khác nào một đĩa kẹo đường thơm ngon.

Tôi bỏ một viên vào mồm ăn thử. Quả nhiên viên thuốc không có độ cứng và vị ngọt thơm ngon của kẹo đường. Nhấm nháp thứ kẹo giả tạo không mùi không vị này, chẳng biết lũ chuột có cảm thấy vui sướng không nhỉ? Nhưng biết đâu nó chỉ không mùi không vị với tôi, còn với lũ chuột lại là châu ngọc cực phẩm thì sao?

Tôi chiêu hết hộp thuốc chuột bằng một cốc trà gạo lứt non.

Cầm theo túi nylon phòng khi ói mửa, tôi leo lên giường nằm. với tư thế nằm ngủ ngửa mặt lên trời, tôi chờ đợi đống thuốc diệt chuột phát huy công hiệu.

Thế nhưng ba mươi phút… rồi một tiếng trôi qua… vẫn chẳng có gì xảy ra cả. Không ói mửa, không bỏng rát, càng không có cơn đau nào. Chỉ riêng bên ngực trái trĩu xuống bị như vật gì đè nặng.

“Mày đần thật. Uống thuốc diệt chuột thì ngực trái làm sao mà trĩu xuống được? Cảm giác hiện tại của mày chẳng qua chỉ là triệu chứng giả thôi.”

Bác sĩ cất tiếng với khuôn mặt chán ngán. Tay lão vung vẩy chiếc bút bi như đang đánh roi ngựa, giọng nói thì cao lên với thái độ giáo huấn.

“Nghe đây, mỏ bạc núi Iwami* xưa như cổ tích rồi, thuốc diệt chuột bây giờ chẳng có loại nào chứa thành phần gây hại như thạch tín đâu. Mày đã đọc kĩ thành phần ghi phía sau vỏ hộp chưa? Thành phần chủ yếu là warfarin. Warfarin đấy. Là chất chống đông máu, có vai trò ngăn máu đông lại. Lũ chuột bây giờ không phải chết vì nhiễm độc thạch tín đâu, mà chết vì xuất huyết võng mạc.”

Nhưng thuốc diệt chuột thì làm sao mà không gây hại cho con người được? Vả lại, tôi đã uống hết cả một hộp kia mà.

“Đúng là nếu hấp thụ một lượng lớn thì có thể gây chết ở người. Lẽ đương nhiên thôi. Bất kì loại thuốc nào cũng có hàm lượng chết người cả. Mà đâu chỉ thuốc men, ngay cả đồ ăn thức uống cũng vậy. Mày sẽ chết ngay tức khắc nếu ăn một tô đầy muối, uống gần 2 lít nước tương và 9 lít nước vôi. Mà theo tao thì thay vì uống tới 10 lít nước, vục mặt vào xô nước để tự tử có khi còn dễ chịu hơn.”

Bác sĩ nhếch mép cười.

“Tuy tao không biết hàm lượng chết người của warfarin là bao nhiêu, nhưng tao dám cá với mày rằng chỉ một hộp thế này thì không đủ đâu. Nếu chỉ một hộp đã giết người được thì làm gì có chuyện người ta dễ dàng mua bán ở hiệu thuốc?”

Tôi lại bị Bác sĩ chế nhạo tơi tả. Dù muốn chết đến đâu đi nữa, lần nào tôi cũng tự sát bất thành, và lại bị lão cười chê. Nếu tôi bỏ quách niềm khát khao tự sát này đi và bắt đầu hi vọng vào cuộc sống thì cái chết sẽ tự đến chăng?

“Mày là người theo chủ nghĩa lãng mạn à?” Bác sĩ cau mày, bộ mặt lộ rõ vẻ chán ghét. “Nói nhiều lần như thế cũng chỉ mong mày hiểu ý tao. Nguyện vọng sống chết của mày chẳng liên quan gì đến việc mày sống hay chết trong thực tế. Cái chết không hề dính dáng đến nội tâm. Nó là ‘thực tếʼ. Các kết quả mà mày cho rằng thuận theo hay cưỡng lại ý chí của bản thân đều chỉ là sản phẩm của sự ảo tưởng.”

Nhưng chính vì thâm tâm thực sự muốn chết nên tôi mới cố gắng để tự sát. Đấy chẳng phải là thực tế chứ là gì?

“Hành động của mày gợi tao nhớ đến mấy mẩu chuyện hài. Mày từng nghe qua chưa? Kiểu truyện mà có câu chốt hài hước ấy? Vì muốn tự sát nên ta sẽ uống thuốc ngủ, để chắc ăn hơn ta sẽ để mở cửa phòng.” Bác sĩ cười váng lên. “Này nhé, có hai lý do khiến tao cảm thấy chán ghét lũ tự tử bất thành. Một là bọn chúng chuyên dùng tự tử để dồn ép người khác. Điển hình nhất chính là những đứa thích gào mồm ‘Nếu anh đòi chia tay thì tôi sẽ chết cho mà xem’, và dùng dao lam rạch cổ tay. ‘Tôi đã thử hành vi tự sát mà không người bình thường nào dám làm. Vậy nên mấy người phải nghe theo lời tôi nói.’ Chúng nó dám áp đặt cái luận điểm ngu ngốc ấy lên người khác như thế đấy.”

Bác sĩ tựa lưng vào ghế, im lặng một lát để tăng hiệu ứng thu hút cho câu chuyện.

“Hai là chúng nó luôn lầm tưởng sự tồn tại của bản thân là thứ gì đặc biệt lắm. ‘Tôi đã dám thử trò tự tử mà chẳng kẻ tầm thường nào dám đấy, nhưng mệnh trời xui khiến nên tôi không chết được. Có điều gì đó muốn tôi phải tiếp tục sống, vậy nên sự tồn tại của tôi ắt phải đặc biệt lắm.’ Bề ngoài thì trưng ra bộ mặt đưa đám, song bên trong thì lại tràn đầy ngạo mạn, đi đâu cũng vui vẻ rêu rao về trải nghiệm tự sát bất thành của mình. Chỉ có những đứa đầu óc hủ bại mới như thế. Đã không phải do ý trời thì cũng chẳng phải do ý chí của bất kì ai, tất cả chỉ đơn thuần là sự ngẫu nhiên thường gặp trong xác suất thôi. Thi thoảng người sống sót lại nhầm tưởng cái ngẫu nhiên ấy là tất nhiên. Cũng giống như cách ứng phó khi ta gặp gấu vậy.”

Tự sát bất thành và gấu thì liên quan gì với nhau? Tôi nghĩ mãi mà vẫn không ra.

“Nào, mày vẫn nghe người ta khuyên nếu gặp gấu trong rừng thì hãy giả chết, đúng không? Đây là mẹo truyền miệng từ xưa đến giờ, vì có nhiều người đã giả chết và sống sót trở về. Đấy là điều hiển nhiên thôi. Vì, nghe này, nếu mày giả chết thất bại thì đã bị gấu ăn thịt mất rồi. Thế thì còn ai trở về để làm chứng rằng giả chết khi gặp gấu là vô ích? Nên tất nhiên chỉ những người giả chết thành công mới có thể quay về để kể lại thôi. Trường hợp tự sát cũng tương tự. Những người tự sát thành công đâu thể bộc bạch cho ai biết sự tồn tại của họ tầm thường đến mức nào. Chung quy vì họ đã chết mất xác rồi.” Bác sĩ càng nói càng hào hứng. “Tao lại nhớ ra một truyện cười. Nếu nghe rồi thì cứ bảo tao dừng lại nhé. Chuyện là thế này…”

Có một du khách người Nhật, trong lúc leo núi trên dãy Rocky thì gặp phải một con gấu xám hung tợn.

Du khách sực nhớ ra phương pháp đối phó với lũ gấu truyền bá từ xưa đến giờ ở Nhật nên đã quyết định nằm giả chết, ông ta nằm dài ra trên nền đất, mặt ngửa lên trời, hai tay chắp lên ngực, mắt nhắm nghiền và nín thở.

Thấy thế, con gấu liền kêu lên, “Is it Zen?*”

Bác sĩ bật cười sằng sặc, nhưng tôi chẳng hiểu câu chuyện đáng cười ở chỗ nào.

Tôi đang nghĩ rằng cuộc tranh luận sẽ chấm dứt với mẩu truyện cười kiểu Mỹ chưa hề nghe qua ấy, thì Bác sĩ bỗng hỏi tôi với vẻ nghiêm túc hiếm thấy, “Dạo này mày mài kéo trở lại nhỉ. Tìm ra cô bé nào mới rồi à?”

“Ừ.” Tôi đáp cụt lủn.

Bác sĩ nhìn đi chỗ khác, miệng lầm bầm, “Xoẹt, xoẹt, xoẹt, Người kéo đến kìa. Nạn nhân thứ ba. Máu đỏ sẽ chảy, tang thương bao trùm. Người người khiếp sợ, phẫn uất, e dè, hoặc không thì tận hưởng cuộc vui…”

“Ông muốn tôi dừng lại sao?”

“Không, ý tao không phải thế.” Bác sĩ lập tức trở về với giọng điệu mọi khi. “Cứ làm như mày muốn. Chỉ hiềm, có khi bản thân mày cũng chẳng biết mình đang muốn gì đâu.”

Sáng hôm sau, lúc thức dậy trên giường, tôi vẫn chẳng cảm thấy đau đớn hay khó chịu gì. Đã lâu lắm rồi tôi mới lại đón chào một sáng chủ nhật sảng khoái thế này. Thường thì vào các ngày chủ nhật, tôi đều chẳng muốn ra khỏi giường vì hôm trước vừa tự sát hụt.

Tôi bất giác nhớ lại công dụng của hộp thuốc diệt chuột. Khi đi vệ sinh, thì thấy bồn cầu nhuộm một màu đỏ quạch. Trong một thoáng tôi đã tưởng đấy là máu, nhưng không phải. Cơ thể tôi đã bài tiết phẩm đỏ nhuộm thuốc chuột và thải nó ra ngoài theo đường nước tiểu.

Ngoài chuyện đó ra thì thể trạng tôi chẳng có gì thay đổi cả, ngược lại, tôi còn cảm thấy khoan khoái là đằng khác.

Nếu cứ thế này thì hôm nay và ngày mai, tức Chủ nhật và lễ Văn hóa*, sẽ là hai ngày mà tôi có thể theo dõi các hoạt động ngày nghỉ của Yukiko.

10 giờ sáng, tôi khoác túi đeo vai lên người rồi đến ga Đại học Gakugei.

Nếu Yukiko quyết định ra ngoài chơi vào ngày lễ thì dù đến khu trung tâm là Shibuya hay thậm chí đến tận Yokohama, cô bé cũng sẽ đi tuyến này thôi.

Tôi quyết định vào quán điểm tâm nằm kế ga tàu, chiếm lấy một chỗ cạnh cửa sổ rồi dõi mắt ra phía cửa soát vé.

Bây giờ chỉ việc ngồi nhấm nháp cà phê ở quán điểm tâm có cái tên kì quặc Ofurando này nữa thôi.

Hẳn là phát chán với vị khách chỉ gọi mỗi một tách cà phê, ông chủ quán ngoài năm mươi tiến lại gần với vẻ mặt tươi cười giả lả để mời tôi nếm thử món bánh thịt đặc biệt do chính tay ông chế biến. Vì không thể từ chối những lời mời mọc kiểu ấy, nên tôi lập tức đồng ý.

Món bánh được đưa đến chỗ tôi, rưới đẫm xốt cà chua do ông chủ quán nhiệt liệt đề cử.

Khi nhét vào mồm miếng bánh cuối cùng, cũng là lúc tôi bắt gặp một bóng dáng quen thuộc đi ra từ cửa soát vé. Chính là cô bé tan trường về cùng Yukiko. Xem ra phỏng đoán của tôi không sai trật là bao.

Tôi đứng dậy, vừa rút tiền mặt thanh toán vừa khen ngợi phần xốt cà chua của món bánh.

“Công thức gia truyền đấy,” chủ quán nói với vẻ khoái chí. Giọng điệu nghe như thể sắp sửa truyền lại cho tôi toàn bộ công thức gia truyền từ khâu chọn nguyên liệu đến khâu chế biến nếu tôi không sớm chuồn đi, thế nên tôi quyết định rút lui.

Tôi đứng chờ ở hiệu sách cạnh quán điểm tâm, vừa cầm lấy tờ tạp chí vờ như đang đọc thì đã thấy Yukiko khoan thai bước vào ga.

Concept hôm nay của em là Alice ở xứ sở diệu kỳ thì phải. Em mặc áo blouse cổ cồn màu thiên thanh, bên ngoài là cardigan bằng len, ở dưới vận váy xòe, tóc cài một chiếc băng đô giống như của Alice.

Người bạn đang vẫy tay chào em cũng vận trang phục điệu đà không kém, áo cổ lọ bằng nỉ Angora*, nhưng so với Yukiko thì cô bé trông chỉ như chú thỏ trắng dẫn đường mà thôi.

Trong lúc hai cô bé đang đứng trò chuyện cùng nhau, tôi đến máy bán vé tự động mua vé đến Shibuya rồi băng qua cửa soát vé trước. Đoạn, tôi lên cầu thang để ra sân ga. Ga Đại học Gakugei chỉ có một sân ga với hai đường tàu, một lên và một xuống, thế nên dù cho hai cô bé có quyết định đi hướng nào đi nữa thì tôi vẫn có thể trở tay kịp thời.

Alice và cô thỏ trắng vừa trò chuyện vừa lên đến sân ga nơi tôi đang đứng đợi. Tôi thực sự rất tò mò, không biết hai cô bé đang nói chuyện gì với nhau, nhưng buộc lòng phải giữ khoảng cách.

Hai cô bé bước lên chuyến tàu chạy hướng Shibuya. Vì trong toa không đông cho lắm nên tôi lên tàu bằng một cửa khác, dõi theo đối tượng từ xa.

Dù trên tàu còn ghế trống, hai cô bé vẫn mải mê đứng nói chuyện ở gần cửa. Người nói nhiều hơn cả là cô bạn em.

Ở ga cuối Shibuya, tàu trờ vào một trong các sân ga như răng lược. Cửa toa trượt mở, hành khách ùa ra cửa soát vé.

Tôi trà trộn vào giữa dòng người, thi thoảng lại nhón chân phóng mắt về phía trước để theo dõi hai cô bé.

Hai cô đi xuống cầu thang chỗ tượng chú chó Hachiko, băng qua tổ hợp các giao lộ để tiến vào khu phố nhộn nhịp trong ngày nghỉ của Shibuya.

Tôi giữ khoảng cách vừa đủ để không mất dấu đối tượng, mắt vẫn tiếp tục quan sát.

Đây là một ngày dạo chơi vô cùng bình thường của lũ con gái. Trước tiên là đi ngắm nghía và nghiên cứu các mẫu Âu phục. Cả hai nhìn ngắm những bộ trang phục trưng bày sau kính hoặc trong cửa hàng và luôn miệng trầm trồ, “Cái này đẹp quá,” “Cái kia xinh thật…”

“Ayako hợp với bộ kia lắm.”

Giọng nói cất lên giữa thinh không. Ngước mắt nhìn, tôi thấy Yukiko đang duỗi ngón trỏ chỉ một bộ váy cực kì đơn điệu, còn cô bạn tên Ayako thì tỏ vẻ như bị xúc phạm.

Sao Yukiko không chọn bộ nào xinh hơn nhỉ?

Tuy cô bạn không nổi bật cho lắm khi đứng bên em, nhưng trông rất hợp với chiếc áo nỉ Angora đang mặc.

Vì tiền túi chẳng đủ mua bộ nào nên hai em quyết định sẽ về xin bố mẹ, sau đó dắt tay nhau đến một tiệm tạp hóa. Thế giới trong tiệm cứ như thiên đường của những cô bé tuổi teen, mà bộ dạng tôi chẳng ăn nhập gì với vườn địa đàng ấy, nên tôi quyết định đứng bên ngoài chờ đợi.

Hai cô bé mua bút chì gắn hình nhân vật, khăn tay sợi tổng hợp có họa tiết đáng yêu, chiếc bình ước loe miệng đựng đầy bi thủy tinh… tóm lại là những hạnh phúc có thể mua được bằng tiền lẻ.

Năm năm nữa thôi, các em sẽ chỉ còn mơ đến Tiffany hay Hermès. Mà ngay ở lứa tuổi này, cũng có không ít đứa con gái chỉ hạnh phúc với những món đồ phải chi trả bằng thẻ tín dụng rồi.

Đứng chờ gần một tiếng đồng hồ, tôi thấy hai cô bé ôm túi giấy màu nâu đi ra khỏi tiệm tạp hóa.

Tiếp theo, hai em xếp hàng mua bánh nướng ở một quầy có đánh giá tốt, mua xong vừa đi vừa ăn, rồi vào hiệu sách đứng đọc tạp chí thần tượng và truyện tranh, lại vào tiệm đĩa nghe thử các CD J-rock và J-pop.

Lúc cả hai quay ra ga Shibuya thì đã quá 4 giờ chiều.

Trước thế giới đáng yêu của hai cô bé, tôi chỉ thấy phiền chán, thậm chí còn phát ngốt. Địa hạt đó quá xa lạ, và hai cô cứ như người ngoài hành tinh đối với tôi vậy.

Vì đã quá mệt mỏi, từ Shibuya tôi quyết định đi thẳng về nhà chứ không bám đuôi hai đứa nữa.

Hôm sau là lễ Văn hóa, tôi lại đến quán điểm tâm Ofurando kế ga Đại học Gakugei. Lần này, tôi gọi ngay cà phê và bánh thịt rồi chọn vị trí cạnh cửa sổ. Tôi không chắc Yukiko có ra ngoài chơi những hai ngày liền không, nhưng nếu hôm nay công cốc thì ít ra bản thân cũng được an ủi bởi món bánh thịt ngon tuyệt.

Gần 12 giờ trưa, tôi nhác thấy bóng Yukiko đi bộ dọc con đường trong khu mua bán.

Nếu hôm qua cô bé thắng bộ cánh trông diêm dúa chẳng kém gì các thiếu nữ thời Victoria thì hôm nay, concept của em hẳn là Cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn. Cô bé vận trang phục khá năng động, gồm áo khoác trùm đầu đan tay và quần jeans, chân mang giày thể thao, tóc buộc gọn ra sau.

Tôi lấy làm ghen tị với tủ đồ đa dạng của Yukiko.

Để giảm thiểu khả năng nghi ngờ đến mức tối đa, mỗi lần theo đuôi đối tượng tôi đều phải thay một bộ quần áo khác nhau, nhưng vì tủ đồ Âu phục thường nhật của tôi vốn rất lèo tèo, khiến vấn đề ăn mặc ngày một nan giải. Vụ theo đuôi này mà kéo dài ra thêm nữa, có khi tôi sẽ phải mặc cả bộ comple màu đen mà trước giờ chưa bao giờ thèm mó tay tới mất.

Hôm nay Yukiko ra ngoài một mình. Em đi tàu điện ngầm, xuống ga, sau đó thả bộ qua khu mua sắm sầm uất quanh đấy để vào khu dân cư.

Rốt cuộc cô bé muốn đi đâu đây?

Vừa nghĩ thế, tôi đã trông thấy một rạp chiếu phim tọa lạc ngay giữa khu phố. Đó không phải kiểu rạp hay chiếu các bộ phim ăn khách Hollywood, mà chỉ là một rạp cỡ nhỏ chuyên chiếu phim nghệ thuật dành cho dân sành sỏi. Yukiko là người đam mê điện ảnh chăng?

Yukiko bước lên bậc thềm dẫn tới cửa, và bước vào tòa nhà ốp gạch nung đỏ đó. Tôi chẳng hứng thú gì với phim ảnh, nhưng vì mục đích điều tra nên tôi quyết định nghía qua các tấm áp phích dán trên tường dọc bậc thềm. Trong số những phim đang công chiếu, có một bộ nhan đề Zazie tàu điện ngầm*.

Hiển nhiên tôi chưa từng xem qua hay nghe đến phim này, đọc chú giải mới biết nó là một bộ phim Pháp chuyển thể từ tiểu thuyết và phát hành vào cái năm mà tôi còn chưa chào đời. Bây giờ đang là dịp tái công chiếu nhằm kỉ niệm năm sinh của tác giả nguyên tác. Ông ta có phải là người ở trong tấm ảnh dán kèm với poster không nhỉ? Một người đàn ông ngoại quốc nhỏ người nhưng béo tốt, ánh mắt sắc bén ẩn sau tròng kính gọng tròn. Mà có khi đó là hình chụp đạo diễn hay nam chính cũng nên.

Phim áng chừng thuộc loại khó hiểu, Bác sĩ thì có thể, chứ tôi dứt khoát không phải tạng xem được, có vào rạp cũng sẽ ngủ khò, chắc chắn sẽ bị các khán giả khác lườm cho rát mặt. Nhưng xung quanh rạp lại không có chỗ nào cho tôi giết thời gian cả, dẫu có đứng chờ trước ga Jiyugaoka thì rất có khả năng tôi sẽ để mất dấu Yukiko giữa biển người đông đúc của ngày lễ mất.

Tôi nhanh chóng bỏ cuộc và quyết định về sớm.

Thứ Ba, ngày 4 tháng Mười một, tôi đi làm đủ cả hai ngày ở Nhà xuất bản Himurokawa. Nói thì nói thế, nhưng ngoài những công việc lặt vặt do Sasazuka sai khiến thì chẳng còn việc gì khác để làm.

Mười ngày đại loạn đã qua đi, phòng Biên tập giờ lại đang nín thở chờ đợi. Mấy chuyện như đốc thúc bản thảo hay thu thập tài liệu cho những quyển cẩm nang học tập thì không cần đến lũ thời vụ chúng tôi.

Quá 3 giờ chiều một chút, tôi khoác túi lên vai, xin phép trưởng phòng Okajima cho về sớm một tiếng. Bỗng nhiên sau lưng có người gọi giật, “Đi hẹn hò thích nhỉ.”

Tôi ngoảnh đầu lại thì thấy Sasazuka đang nhìn chòng chọc vào mình, môi nở nụ cười giễu cợt. Đúng là một tên đáng ghét. Hôm thứ Bảy Sasazuka không có mặt ở đây, chắc là gã nghe trưởng phòng Okajima hay ai đó kể lại. Hẳn cái cớ về sớm để đi hẹn hò của tôi đã khiến thiên hạ cầm lòng không đậu mà đi buôn chuyện.

Không phải là tôi tức giận hay gì, nhưng bị người khác cười nhạo như thế thực sự rất khó chịu. Ở phòng Biên tập chắc chắn có người nghĩ rằng cái ngữ tôi có chó nó hẹn. Họ nghĩ thế cũng phải, vả lại, đó cũng là sự thật nên tôi chẳng định phủ nhận.

Tôi là người có cân nặng không lý tưởng cho lắm, nói cách khác là béo phì. Tôi không muốn bàn đến cân nặng của mình, dạo này tôi cũng không màng bước lên cân, càng không muốn nghĩ về nó.

Nguyên nhân của việc người tôi đầy mỡ thế này hẳn là do ăn quá nhiều. Lúc ở nhà hay ra ngoài, tôi đều ăn một suất đầy ắp (như món bánh thịt chẳng hạn), nói khó nghe thì tôi còn là đứa nghiện đồ ăn vặt.

Cho đến bây giờ, tôi đã thử rất nhiều phương án tự tử vào mỗi thứ Bảy, duy chỉ có một phương án mà tôi vẫn chưa áp dụng và sẽ không bao giờ áp dụng, đó chính là tuyệt thực. Tôi có thể chết vì bỏ thứ gì đó vào mồm, nhưng chết vì không bỏ bất kì thứ gì vào mồm có lẽ là phương án bất khả duy nhất đối với tôi.

Gần 4 giờ, tôi đến ga Đại học Gakugei, tự dặn bản thân không bước vào quán Ofurando nữa. Không phải vì tôi đã hạ quyết tâm ăn kiêng do tự ái trước lời bỡn cợt của Sasazuka đâu. Chẳng qua tôi chỉ sợ bị chủ quán quen mặt khi lui tới những ba ngày liền.

Tôi bước vào hiệu sách gần đấy để chờ, ngong ngóng dõi về phía ga. Thật lòng tôi cũng không biết liệu Yukiko có về ga lúc 5 giờ hay tôi sẽ lại chờ cô bé đến tận 8 giờ tối như lần đầu tiên. Tôi muốn trong mấy ngày này phải nắm rõ giờ giấc về nhà của cô bé.

Thứ Ba là ngày em về sớm thì phải. Bóng dáng Yukiko trong áo vest đồng phục xuất hiện ở cửa soát vé vào khoảng 5 giờ hơn. Hôm nay em không đứng đợi bố mà đi thẳng về phía khu mua bán. Chắc là ông Kazuhiro đang bận tăng ca.

Tôi lập tức bám theo Yukiko.

Không giống với người ngoài như tôi, Yukiko vốn là dân sống ở đây nên rất rành đường đi nước bước trong khu này. Cô bé không băng qua khu mua bán mà giữa chừng rẽ vào một con đường tắt dẫn về Desert Himonya. Tôi giữ khoảng cách chừng 10 mét, chầm chậm bước theo sau.

Vì đang là tháng Mười một nên hoàng hôn xuống sớm. Bóng tối và sự tĩnh lặng đang dần buông trên những con đường hẹp đan xen vào nhau giữa các khu dân cư và chung cư. Đèn đường bật sáng, kéo chiếc bóng cô bé loang ra trên mặt đường.

Giờ này còn người đi lại trên đường, nhưng khi màn đêm đã sụp hẳn xuống, nhân chứng trong bóng tối chỉ có thể là những con mèo hoang.

Tôi siết nhẹ túi đeo vai. Qua lần vải, bàn tay vẫn cảm nhận được cây kéo vùi sâu bên trong. Lẽ dĩ nhiên, hôm nay không phải ngày thích hợp để dùng đến nó. Nhưng thời cơ sẽ đến nếu tôi biết kiên nhẫn. Ngày mai, tuần sau, không thì tháng sau cũng được. Nhờ vào kinh nghiệm hai lần trước mà tôi biết điều này.

Bóng dáng Yukiko như tan vào màn đêm nhạt nhòa. Tôi thì chẳng vội làm gì, cứ thong thả vừa đi vừa ngắm cảnh xung quanh.

Không gian rợp bóng những tòa nhà cao tầng bằng bê tông cốt thép. Bóng các cột bê tông khổng lồ hằn đậm trong tầng giữ xe tối tù mù của chung cư. Trong công viên, khung xà và cái bập bênh đổ bóng nằm im thin thít.

Cuối cùng, tôi cũng đến con đường có chung cư Desert Himonya quen thuộc.

Yukiko bước qua cửa tự động để vào bên trong.

Hài lòng với việc đã nắm bắt đường đi nước bước của cô bé, tôi băng qua Desert Himonya về thẳng nhà.

Khoảng thời gian sau đó, tôi vừa tiếp tục quan sát Yukiko vừa đợi thời cơ.

Có một hôm, cô bé rời trường Hazakura lúc chiều muộn vì còn phải sinh hoạt câu lạc bộ thì phải. Trong lúc bám theo cô bé, tôi đã thầm mường tượng khung cảnh xung quanh con dốc này.

Lại có một lần, tôi rời khỏi ga Gakugei trước, nấp vào bụi rậm trong công viên để quan sát. Yukiko đã đi khỏi mà tôi vẫn ngồi yên, tận hưởng không khí công viên khi màn đêm vây bủa.

Lúc nào tôi cũng mang túi đeo vai theo, nhưng không khi nào tôi lấy cây kéo ra khỏi túi nylon cả. Tuy phải trải qua chuỗi ngày chẳng có chút động tĩnh gì, nhưng kì thực tôi lại không cảm thấy chán. Thời gian thì tôi có thừa. Ngoài ra, theo dõi hành tung của Yukiko và thu thập càng nhiều thông tin về em sẽ khiến mọi chuyện trở nên thú vị hơn nhiều.

Thứ Bảy lại đến, nhưng lần này tôi không ghé hiệu thuốc nữa. Giống lúc bận bịu với mớ công chuyện ở phòng Biên tập, hôm ấy tôi cũng có chuyện phải làm nên cần giữ sức khỏe cho thật tốt.

Cuối cùng thì ngày 11 tháng Mười một cũng đến.

Ngày 11 tháng Mười một, thứ Ba.

Tôi thức dậy giữa tiết trời lạnh lẽo. Người vẫn cuộn tròn trong chăn, tôi nghiêng đầu để nhòm ra ngoài cửa sổ. Bầu trời xanh biếc trải rộng trước mắt. Kim đồng hồ chỉ 5 giờ rưỡi sáng.

Bây giờ mà ngủ lại thì sẽ không thức kịp giờ mất, tôi đành từ chối chăn ấm nệm êm để ngồi dậy trong bộ pyjama. Căn phòng lạnh cóng. Tôi mở cửa sổ, luồng gió rét buốt liền ập vào thổi tung tấm rèm. Lá cây đã úa.

Tôi đóng cửa sổ lại, vừa ngắm công trình đường sắt trên cao trông y hệt động vật chân đốt khổng lồ đậu giữa trên khu phố vắng người, vừa tư lự nghĩ xem đã nên lấy áo ấm ra khỏi tủ chưa.

Tôi trùm áo len ngoài bộ pyjama rồi làm bữa sáng. Cho tám lát bánh sandwich vào lò nướng, rót nước vào ấm đồng, bắc lên bếp gas. Đoạn mở tủ lạnh lấy bơ và trứng.

Lúc tôi làm xong món trứng bác cũng là lúc chuông báo lò nướng reo lên và ấm nước bốc hơi ngùn ngụt.

Bánh mì nướng, cà phê, trứng bác xịt tương cà, món canh còn thừa từ tối qua hâm lại. Có thể nói bữa sáng này đã là quá tươm tất đối với người sống một mình rồi. Tôi phết đầy bơ lên mặt bánh mì nướng và cắn một miếng bự. Toàn bộ miếng bánh mì cắt lát mỏng chỉ có một màu duy nhất, chứng tỏ được nướng rất đều. Ăn đến miếng thứ tư, tôi bắt đầu ngán, ra bật ti vi để xem tin tức buổi sáng.

Chừng như hôm qua chẳng có vụ việc gì lớn xảy ra cả, đài nào cũng chỉ lấy đợt lạnh hôm nay làm bản tin chính. Tuy tôi không hiểu cho lắm, nhưng chắc là luồng áp thấp ngoài khơi Thái Bình Dương đã mang hơi lạnh áp sát vào quần đảo Nhật Bản khiến trời trở đông.

“Nhiệt độ mùa đông năm nay so với các năm trước sẽ thấp hơn nhiều,” nhà dự báo khí tượng thủy văn đeo kính trên truyền hình giải thích.

Một người dẫn chương trình điển trai, trông ở độ vừa trung niên, đột ngột lớn giọng chỉ trích vấn nạn tham ô rõ rành rành như sợi quang học của các quan chức Bộ Nội vụ…

Chợt nhận ra đã đến lúc phải đi làm, tôi tắt ti vi thầm tiếc rẻ chương trình đang xem. Không phải vì tò mò về vụ tham ô, mà do cảm thấy thích thú khi bản mặt của người dẫn chương trình nổi tiếng hiền lành ấy trở nên đỏ gay vì tức giận.

Phòng Biên tập của Nhà xuất bản Himurokawa đang bước vào gian đoạn cuối của thời kỳ u uất.

Hiện thời không có công việc gì nên hầu như ai cũng ngồi suông. Nếu đầu hàng sự uể oải buồn chán này và lỡ sử dụng đến năng lượng bản thân thì không thể nào chống chọi được với thời kì hỗn loạn sắp tới. Toàn bộ nhân viên trong phòng đều biết điều đó, nên ai cũng ráng tận hưởng khoảng thời gian lười biếng này.

Chỉ hai người tỏ ra bận rộn, là Yamagishi (đang ráng làm việc để cộng điểm lên nhân viên chính thức) và Sasazuka, vốn tính lăng xăng chẳng thể ngồi yên một chỗ.

Tôi ngoan ngoãn làm tất cả những công việc lặt vặt mà Sasazuka sai bảo để cho qua buổi sáng.

Trưởng phòng Okajima thì ngồi chống cằm nhìn ra trời xanh không một gợn mây ngoài cửa sổ. Bức tường phía sau bàn trưởng phòng cũng có treo một chiếc áo khoác xanh biếc.

Hôm nay quả thật là ngày chẳng có gì để làm cả. Đến hơn 2 giờ chiều thì Sasazuka đã hết việc vặt cho tôi làm. Gã ngồi chống tay suy nghĩ, còn tôi thì ngồi bên cạnh nhâm nhi tách trà hoji.

Yamagishi rất muốn chứng tỏ cho mọi người thấy niềm hăng hái trong công việc của mình, nhưng vì chẳng có việc gì đáng kể nên anh ta cứ chạy lòng vòng trong phòng Biên tập.

Còn cậu sinh viên Takahashi thì trông như đang dùng máy tính của công ty để viết luận văn báo cáo.

Thấy thế, trưởng phòng Okajima mỉm cười nói, “Người nào làm thời vụ hôm nay về sớm đi.”

Vì tan ca trước 3 giờ nên chân tôi tự động bước đến ga Đại học Gakugei.

Tôi đẩy cửa bước vào quán Ofurando với cái cớ dò xét xem liệu chủ quán có nhớ mặt mình hay không, nhưng thực chất là vì tôi muốn nếm thử thực đơn buổi chiều của quán.

Chiếc chuông nối với tấm biển bằng gỗ khắc tên tiệm reo lên, chủ quán ngẩng đầu lên nhìn tôi, gương mặt toe toét. Điềm chẳng lành rồi. Phải từ bỏ tiệm ăn toàn những món ngon thế này thật là một điều đáng tiếc.

“Phải sau 5 giờ mới đến bữa chiều, mà thôi, cháu cứ vào đi.” Chủ quán vừa mỉm cười với vẻ mừng rỡ vừa đưa cho tôi bảng thực đơn màu xám nhạt trơn dầu mỡ. Đây mới là lần thứ hai tôi đến đây mà ông chủ đã tỏ vẻ thân thiết thế này. Hẳn là ông ấy phải vui lắm khi nghe những lời ngợi khen tôi dành cho món bánh thịt.

Sau khi đọc kĩ bảng thực đơn viết tay với những con chữ đầy cá tính, tôi gọi món xúp borscht*, bánh mì nướng bơ tỏi, cùng một tách cà phê sau bữa ăn.

Món xúp borscht có hương vị tuyệt cú mèo so với một tiệm ăn nhỏ bé thế này, còn bánh mì nướng bơ tỏi thì ngon tuyệt. Bánh mì phết đầy bơ và đầy xốt tỏi. Bơ thì bào mịn, tỏi băm thật nhuyễn, rưới lên từng lát bánh mì baguette cắt chéo rồi nướng thật đều. Một món ăn không thể nào đơn giản hơn nữa, nhờ chuẩn bị một cách vô cùng chu đáo nên khiến hương vị tăng thêm bội phần.

Tôi từ từ thưởng thức bữa ăn của mình, lúc xong thì đã gần 5 giờ. Vừa nhâm nhi tách cà phê đầy đường và kem, tôi vừa dõi mắt về phía cửa soát vé.

Đã 6 giờ hơn mà vẫn chưa thấy Yukiko đâu.

Ở lâu hơn nữa sẽ khiến chủ quán để ý mất, nghĩ thế nên tôi đành đứng dậy.

“Quý khách thấy sao?”

Nghe chủ quán hỏi, tôi bèn dừng lại để ca ngợi món bánh mì nướng bơ tỏi.

Tôi đi lòng vòng trước cửa soát vé đã nửa tiếng đồng hồ mà vẫn chưa thấy Yukiko về nhà. Tôi nhớ lại đêm đầu tiên nhìn thấy cô bé. Hay hôm nay cũng là ngày em phải sinh hoạt câu lạc bộ? Giờ này mà vẫn chưa về thì rất có khả năng phải hơn 8 giờ tối tôi mới thấy bóng em như tối hôm đầu tiên.

Tôi tựa vào trụ bê tông của đường sắt trên cao, thầm suy tính hành động về sau.

Hơn 8 giờ tối thì con đường từ ga tàu dẫn về chung cư Desert Himonya chắc sẽ không còn bóng người qua lại. Nếu tôi bám theo Yukiko từ ga tàu thì có bị phát hiện không? Hơn nữa, bóng tối liệu có thể giúp che giấu bóng dáng kẻ bám đuôi? Xác suất là 50/50. Nên giảm nó xuống nữa. Tôi vốn là người rất cẩn trọng.

Tôi quyết định đứng phục sẵn ở Desert Himonya.

Có cảm giác việc tôi về sớm thế này chính là cơ hội trời ban để rình cô bé. Nhưng dứt khoát không được nóng vội. Tối nay có thể là thời cơ, nhưng không phải là thời cơ cuối cùng. Chưa kể nó không do tôi dàn dựng, mà là kết quả xảy đến hoàn toàn ngẫu nhiên.

Màn đêm buông xuống. Khu phố mua bán hai bên đường đã lên đèn, các mái che cuốn vào, bóng tối theo ra đến tận con hè hẹp trước chi nhánh NTT ở Meguro. Bốn góc buồng điện thoại ánh lên lấp lánh trong đêm tối, chiếc đèn lồng giấy màu đỏ trước quầy ramen đung đưa qua lại. Gió trở lạnh, tôi phải kéo khóa áo khoác lên.

Lúc ra đến đường Meguro, tôi mới lại nhìn thấy ánh đèn nhân tạo. Quá nửa trong số đó là đèn pha của ô tô chạy trên đường. Tôi bước lên vỉa hè, nơi còn vài người qua lại.

Khi rời đường Meguro để rẽ vào con hẻm ấy thì mọi sự đúng như tôi nghĩ.

Ở đây vắng tanh. Tôi phải nhờ vào đèn đường và ánh sáng hắt ra từ cửa sổ nhà dân mới có thể lần mò giữa con hẻm âm u để đến chung cư Desert Himonya.

Vì chỉ còn phân nửa thị giác hoạt động, các giác quan khác liền trở nên vô cùng nhạy cảm. Tôi ngửi mùi vị ngọt ngào của các loại thịt xào nấu đang phả vào chiếc bình không khí rỗng không, như mùi cà ri đang sôi và mùi cá rán vậy. Giọng tường thuật đều đều vô cảm của biên tập viên, tiếng khóc của một em bé, tiếng cười lảnh lót của một cô gái trẻ.

Các giác quan của tôi hoạt động một cách mạnh mẽ. Tôi tưởng như nghe thấy cả tiếng đế giày cao su của mình nghiến xuống mặt đường nhựa.

Rốt cuộc tôi cũng đến Desert Himonya. Tôi quyết định đứng chờ dưới bóng rào kẽm khu tập kết rác. Ngồi ở đó sẽ có bụi rậm xung quanh chung cư che khuất.

Tôi ngồi trên bồn cây ốp gạch nung lạnh lẽo, nhìn đồng hồ. Màn hình tinh thể lỏng có lắp đèn chiếu sáng hiển thị con số 6 giờ 50 phút chiều, chỉ còn một tiếng nữa thôi. Tôi vòng hai tay ôm quanh thân mình cho đỡ lạnh.

Trăng đã mọc trên tòa nhà góc cạnh phía bên kia đường. Vành trăng non nổi lên phía trên bể nước đặt ở nóc tòa nhà, rọi sáng xanh mờ xuống mặt đường nhựa. Gió lại càng lạnh hơn.

Đã 8 giờ tối mà Yukiko vẫn chưa về.

Tôi đứng dậy, nhìn về phía Desert Himonya. Chung cư đứng giữa màn đêm trông như một người khổng lồ với cả trăm con mắt, hầu hết các cửa sổ đều đang sáng đèn.

Tôi nhớ lại kết cấu chung cư, đoạn đưa mắt lần tìm cửa sổ căn hộ 503. Có ánh sáng từ bên trong tràn ra ban công. Gia đình họ không lý nào lại đang đi chơi xa được.

Tôi đứng đợi thêm một tiếng nữa, nhưng Yukiko vẫn nhất quyết không xuất hiện. Về muộn thế này mà gia đình cô bé không lo sao?

Tôi tưởng tượng ra bộ dạng lo lắng của bà Toshie (mà tôi vẫn chưa biết mặt) đang cầm điện thoại gọi đi khắp nơi tìm con gái, đồng thời lại trông ngóng bóng dáng ông Kazuhiro hớt hải vọt ra từ khu chung cư để chạy thẳng đến chỗ quán ăn nhanh trước ga xem thử.

Song, chẳng ai xuất hiện cả.

9 giờ tối, tôi quyết định bỏ cuộc.

Vì lý do riêng nào đấy có lẽ Yukiko đã từ ga Đại học Gakugei về đến nhà trước khi tôi kịp xuất hiện ở đây.

Về trễ thế này có khi sáng mai tôi không đi làm được mất. Tôi ôm hai cánh tay, chà xát lên xuống để làm ấm người, đoạn quay bước về phía ga Đại học Gakugei.

Để ăn chắc, tôi lấy đôi găng nhựa ra khỏi túi đeo, tháo bọc xỏ vào tay. Biết đâu trên đường về tôi lại tình cờ bắt gặp Yukiko đang bước đi trong hẻm vắng thì sao. Cơ hội như thế thì tuyệt hảo quá.

Tôi thả bộ men theo con đường về nhà của Yukiko. Trên đường chẳng có ai, nhà dân hai bên đường quá nửa đã tắt đèn. Kẻ duy nhất dõi theo tôi chắc là mảnh trăng lưỡi liềm nghiêng nghiêng trên nền trời kia.

Tôi đi khỏi chung cư có bãi đậu xe ngầm, qua cây cột đèn gắn đèn huỳnh quang đã cũ, qua khỏi bức tường có con mèo cụt tai mất nửa để ra đến chỗ công viên.

Bản thân tôi cũng không hiểu lắm, tại sao mình lại dừng chân ở đây. Từ ngoài cổng nhòm vào sẽ thấy, tình hình ở đây cũng chẳng khác gì những đêm trước tôi lui tới. Giữa màn đêm, khung xà và chiếc bập bênh trông như hai con thú lạ lẫm đang ngồi lọt thỏm giữa công viên vậy.

À không, có điểm khang khác so với khi trước. Có cái gì đó nơi bãi cỏ, bị bụi rậm che khuất một nửa.

Tôi bước vào công viên để kiểm tra xem là cái gì. Màn đêm giống dầu đen rót xuống một phía của bụi cây. Tôi len vào trong, bước tới bãi cỏ um tùm cây cối.

Có một cặp chân duỗi trên bãi cỏ, khuất trong bóng đổ của bụi rậm. Một cặp chân mà nhìn kĩ sẽ thấy rất thon thả. Cặp chân và chiếc váy là hai đặc điểm vô cùng quen thuộc đối với tôi. Cả dung mạo xinh đẹp như mèo kia nữa.

Cái xác của Yukiko nằm giữa bụi rậm, mặt ngửa lên trời. Cổ cô bé quấn dây nhựa, hai mắt mở thao láo, gò má cắt không còn hột máu. Đây là khuôn mặt của người bị siết cổ đến chết. Áo khoác đồng phục màu xanh lá mạ của em vẫn gọn gàng, chỉ có tứ chi hơi dang ra một chút, còn lại thì từ cổ trở xuống trông em cứ như đang ngủ vậy.

Thêm một đặc điểm nữa, là đặc điểm quá đỗi quen thuộc với tôi.

Cây kéo.

Dấu hiệu nhận biết Người kéo. Chính là kẻ đã trở thành hiện tượng, được truyền thông và báo chí đưa tin suốt thời gian qua.

Nguồn sáng yếu ớt của đèn đường đằng xa hắt lại, cho thấy ánh bạc của cây kéo đang găm trên cổ Yukiko.

Tôi biết rất rõ đích đâm của Người kéo. Phần da thịt kế bên nơi cứng nhất của cổ họng là phần da thịt mềm và dễ đâm sâu nhất. Chỉ có một kết luận xuất hiện trong đầu tôi, rằng Yukiko đã bị Người kéo sát hại. Không còn nghi ngờ gì nữa, chắc chắn là như thế.

Tôi đâm ra bối rối.

Tôi không hề giết Yukiko. Nhưng Yukiko đã bị Người kéo sát hại. Chuyện này rốt cuộc là sao? Tôi lấy cây kéo khỏi túi đeo vai, gỡ bọc nylon ra rồi giơ nó lên trước mặt. Nhìn thế nào đi nữa cũng thấy hai cây kéo đích xác thuộc cùng một loại. Rất hoàn hảo.

Yukiko là nạn nhân thứ ba của Người kéo.

Nhưng Người kéo này không phải là tôi. Ai đó đã sử dụng đúng cách thức của Người kéo để giết chết Yukiko. Tôi đã bị qua mặt.

Có cảm giác như thời gian kéo dài vô tận, nhưng khi tôi trở về với thực tại thì từ nãy đến giờ chưa đầy năm phút. Tôi cố gắng trấn tĩnh, bụng bảo dạ, “Mình phải thoát khỏi đây.” Nếu đích thị tôi là người đã giết Yukiko thì có bị bắt cũng chẳng sao, nhưng kết tội khi tôi không phải là hung thủ thì tôi quyết không phục.

Nhưng đã muộn. Khi tôi quay phắt lại, toan thoát khỏi chỗ này thì đã thấy một bóng người từ cổng công viên tiến vào.

“Có chuyện gì đằng đó vậy…?” Giọng nói nghe yếu ớt pha lẫn chút lo lắng. Tôi buộc phải đưa ra quyết định trong tích tắc. Trốn ngay! Nhưng trốn đi đâu đây?

Tôi không phải là người sát hại Yukiko. Không có lý do gì để trốn tránh cả. Đây là kết luận mà tôi rút ra được.

“Có người chết!” Tôi kêu lên. “Làm ơn gọi cảnh sát đi!”

Bóng người sững lại vì kinh ngạc, đoạn quay về phía cổng công viên. Tôi liền xoay người đi, rút phắt cây kéo ra khỏi túi.

Cảnh sát có lục soát nhân chứng phát hiện ra thi thể không nhỉ? Nhưng nói gì thì nói, mang theo vật nguy hiểm thế này bên người cũng không ổn.

Tôi vứt cây kéo của mình vào bụi rậm.

Đúng lúc ấy…

Tôi chợt nhận thấy có ánh sáng lóe lên dưới chân Yukiko.

« Lùi
Tiến »