Người Tình Cũ

Lượt đọc: 2333 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

Oanh gõ vào cánh cửa đóng kín, lúc ấy là hai giờ chiều của một ngày âm u, oi nồng cuối tháng tám năm một ngàn chín trăm bẩy mươi lăm.

Bộ đồ tây hơi chật làm Oanh không được thoải mái. Lúc ngồi trên xích lô đạp, ánh nắng không chói chang nhưng cứ từ mặt đường hắt lên một thứ phản chiếu kim loại làm khó chịu. Oanh xuống xe giữa chừng và đi bộ một đoạn cho dễ thở. Cuối cùng chị rẽ vào ngôi nhà này, một ngôi biệt thự nhỏ bảy phòng được chia cho bảy người độc thân.

Căn phòng của Nguyễn ở tầng trệt có một cửa lớn và hai cửa sổ, có một ít hoa lá phía ngoài và một chút sân.

Oanh lại gõ cửa. Không thấy ai trả lời, chị xoay thử cái hột xoài và cánh cửa nhẹ nhàng mở ra. Chỗ giường Nguyễn nằm có ngăn một tấm màn vải dày. Oanh đặt gói quà lên chiếc ghế mây kê sát cửa sổ và nhẹ bước lại phía bức màn ấy. Chị vẹt bức màn qua một bên và nhìn thấy một cái chân cụt đang chìa ra phía mình. Oanh lùi lại và ngồi xuống chiếc ghế mây. Trước mặt Oanh là một người đàn ông cụt chân ở trần với dáng nằm xô lệch. Thoạt đầu chị không dám nhìn thẳng vào chỗ vết thương nơi cổ chân Nguyễn vì chị thấy như ở giữa cái khoảng da nhăn nhúm kia có đôi mắt đang nhìn mình bằng một cái nhìn dị dạng và dễ sợ.

Bỗng nhiên Nguyễn trở mình. Oanh giật thót, chân chạm phải một vật gì đang nằm dưới đất. Vật đó lăn trên sàn nhà kêu lộc cộc. Một khúc gỗ tròn dài chừng ba tấc có dính những sợi dây da.

Nguyễn choàng dậy, hoảng hốt vì thấy bóng một người phụ nữ đang đứng trước mặt mình. Anh đưa tay kéo mạnh bức màn.

- Ai đó? Nguyễn hỏi.

- Em.

Nguyễn vẫn chưa nhận ra Oanh, anh vơ vội cái áo thun trắng mặc vào người rồi gạt bức màn qua một bên. Lúc ấy anh nhìn thấy Oanh.

- Anh bệnh hả? Oanh hỏi.

- Không. Ðưa giùm cái chân.

- Cái chân? Oanh nhìn quanh quất. Cái chân nào?

Nguyễn chỉ đoạn gỗ tròn lăn lóc lúc nãy. Oanh cúi xuống nắm sợi dây da lôi đoạn gỗ đến gần chân Nguyễn.

Nguyễn lấy lại được sự bình thản. Anh cầm đoạn chân giả lên nhưng không lắp vào. Anh ngắm nghía nó một lúc rồi giơ cổ chân cụt ra trước mặt Oanh.

- Coi nó xấu xí quá. Nguyễn nói.

- Anh lắp nó vào đi.

Nguyễn cong ngón tay trỏ lại, gõ lên đoạn chân giả.

- Em có thích kiểu giày gỗ này không?

- Ðừng hỏi thế. Anh đi, nó có đau không?

- Không. Nhưng nó đau ở chỗ khác.

- Sao vậy?

- Nhưng em hỏi để làm gì? À, Oanh này, em có nhớ cái tuồng cải lương hồi trước giải phóng mình thường nghe anh hề Văn Hường hát không?

- Anh nói tuồng gì?

- Anh cũng không nhớ tuồng gì nhưng đại khái như thế này: có một bà đi mối lái kiếm vợ cho một cậu thanh niên bị cụt giò nhưng bà ta lại muốn lừa người cha của cô gái. Bà ta nói rằng chàng trai này hiền lành giỏi giang, ngặt một nỗi không có chân đứng, không thân thế với ai. Ông già bảo rằng ông cũng không cần thân thế, miễn anh ta có nghề nghiệp biết lo gia đình là quý rồi. Còn về con gái ông thì buôn bán làm ăn rất giỏi, việc nội trợ cũng không thua kém ai, tánh tình hiền lành ít nói, không có môi miếng như người ta. Bà mai chắc mẫm là mình đã lừa được ông già, kiếm được cô vợ ngon lành cho cậu trai cụt giò, té ra khi đôi trẻ gặp nhau thì anh chàng "không có chân đứng" gặp phải cô nàng sứt môi. Ðôi bên kết tội nhau là lừa đảo, nhưng rốt cuộc chàng trai và cô gái thông cảm nhau và cùng hát như thế này:"Nồi nào vung nấy cho xong, em thì môi sứt lấy chồng cụt chân".

- Anh kể chuyện đó nghe dở quá.

- Anh có biết kể chuyện đâu.

- Thế anh kể để làm gì?

- Ðể hỏi em có cô bạn nào sứt môi không.

- Anh lắp chân vào đi.

- Sao em cứ nhắc anh lắp chân vào hoài vậy? Em ghê sợ nó hả?

Oanh quay mặt đi. Nguyễn bật cười.

- Trong truyện chưởng của Kim Dung cũng có một nhân vật cụt chân. Ðó là Kha Trấn Ác. Em có nhớ…

- Thôi, Oanh kêu lên, anh là kẻ tàn nhẫn. Oanh nói và sụt sịt khóc.

Bây giờ Nguyễn mới lắp cái chân giả vào và bước vô toa-lét. Khi anh trở ra thì Oanh vẫn còn ngồi ở mép giường, hỉ mũi trong cái khăn tay. Nguyễn đến ngồi trên chiếc ghế mây gần cửa sổ và pha trà. Anh bảo Oanh lại gần và nói:

- Xin lỗi Oanh. Anh chỉ muốn tự chế giễu sự tàn tật của mình một chút thôi. Và cũng muốn cho em quen với sự tàn tật của anh. Nhưng nghĩ lại cũng không ích gì. Vì anh biết rằng em sẽ không bao giờ có thể quen với điều ấy.

Oanh chỉ khóc. Sự im lặng kéo dài. Nguyễn thấy không cần phải phá sự im lặng ấy. Anh định cứ để nó kéo dài xem sao vì anh cũng không thấy khó chịu, nhưng cuối cùng một câu nói cũng bật ra.

- Em tưởng anh không biết chuyện đó à?

- Chuyện gì?

- Thực ra thì anh cũng có thể giúp cho ông anh của em khỏi đi học tập cải tạo và một ông nữa được đi dạy nhưng nghĩ lại thì cũng chẳng cần làm như thế. Anh vẫn hình dung một mối tình mở đầu và kết thúc đẹp hơn thế nhiều. Một mối tình khởi đầu phải đẹp, nhưng kết thúc cần phải đẹp hơn nhiều.

- Anh muốn ám chỉ điều gì?

- Ðiều gì thì em tự biết. Chẳng cần phải hỏi.

Oanh rót nước trà, uống một hơi cạn sạch. Chị nói:

- Sau gần mười năm xa cách, bây giờ gặp lại thấy anh khác trước nhiều lắm.

- Dĩ nhiên. Một người tàn tật thì phải khác với người bình thường. Ðiều đó làm em chán ngấy rồi phải không?

- Bực mình.

- Bực mình thì em đến đây làm gì?

Oanh chụp lấy cái mũ vải, đứng dậy ngay. Nguyễn ngồi im, nhìn Oanh hấp tấp bước ra cửa, đến khi nghe tiếng mở cổng anh mới vội vàng đứng dậy.

- Oanh! Nguyễn gọi. Ðừng đi!

Nhưng Oanh đã kéo cánh cổng sắt. Nguyễn hốt hoảng bước vội xuống mấy bực thềm, cái chân giả chưa buộc kỹ tuột ra làm anh mất thăng bằng ngã chúi xuống sân. Oanh hoảng hốt chạy đến đỡ Nguyễn dậy.

- Trời ơi! Sao lại thảm hại như thế. Anh là người chiến thắng mà.

- Anh chưa cảm nhận được điều đó. Chiến thắng là vinh quang của dân tộc. Nhưng trong cái vinh quang ấy còn có những số phận.

- Nhưng số phận suy cho cùng thì cũng do mình tạo ra mà thôi. Em nghe nói khi vào rừng anh đã tự cô lập mình mà. Tại sao anh lại làm như vậy?

- Bởi vì anh vào rừng là để đánh giặc chớ không phải để làm chính trị.

- Thế ai làm chính trị?

- Nhiều lắm. Ngay từ hồi còn ở nội thành chúng đã có ý sửa soạn cho mình một uy thế chính trị, một chỗ đứng trong công luận, một cái danh. Chúng biết kết hợp giữa việc làm cách mạng, và làm chính trị, biết dùng văn nghệ để tạo thế đứng cho cá nhân sau này. Những thằng như thế nó đã biết làm chính trị từ trong bụng mẹ, nó là những con người vô cùng thực tế. Nó không hề tài hoa, không hề có chút lãng mạn nhưng nó thông minh và nhạy bén. Những mẩu người như thế đã thành công và sẽ tiếp tục thành công, còn những mẩu người như anh thì đã thất bại và sẽ tiếp tục thất bại. Em nghĩ xem có buồn cười không. Ai đời tham gia cách mạng với cả tấm lòng, công tác gì cũng không quản ngại, thế mà khi tổ chức bảo vô Ðảng thì lại không vô. Lúc ấy anh thấy việc vô Ðảng giống như nhận một món thù lao mà người ta trả công cho mối tình trong sạch của mình với cách mạng.

Cho đến bây giờ anh vẫn là người ngoài Ðảng, người ta chuyển công tác anh về Ban Thiếu Nhi và phân công cho anh đi lấy tin về các sinh hoạt thiếu nhi ở các phường trong thành phố. Hàng ngày anh đạp chiếc xe đạp trành lọc cọc lọc cọc đi xuống tận Gò Vấp, Phú Nhuận, Tân Bình, có khi đạp tới tận Bình Chánh, Thủ Ðức để tiếp xúc với các cô các cậu phụ trách thiếu nhi quận, phường, xã tìm hiểu xem trong tuần qua các em thiếu nhi đã trồng được bao nhiêu cây, nuôi bao nhiêu con gà, quét được bao nhiêu mét đường phố, hốt được bao nhiêu đống rác, nhặt được bao nhiêu kí lô giấy vụn. Sau đó về nhà anh gom các thứ lại viết thành những mẫu tin để in thành những tờ tin tức theo lối ronéo. Thời chống Mỹ anh đã từng in ronéo dưới hầm bí mật, in bằng những máy in thô sơ tự chế, nhưng hồi đó làm việc say mê thích thú, bây giờ có sẵn máy móc phòng ốc đàng hoàng mà sao làm việc thấy nản quá. Ngày nào cũng từng ấy chuyện, nuôi gà, quét đường, lượm giấy vụn. Anh chán ngấy cái nghề ấy. Ngày kia, cô Thu Trinh, trưởng Ban thiếu nhi, em biết Thu Trinh chứ? Nó là bạn của em mà – Thu Trinh gọi anh lên văn phòng của cổ và hỏi:

"Tôi nghe người ta phản ánh rằng anh thường xuống các quận các phường bắt các đồng chí ở đó báo cáo tình hình này nọ phải không?"

"Vâng, tuần nào tôi cũng có nhiệm vụ đi lấy tin về sinh hoạt thiếu nhi. Vậy thôi."

"Không phải. Người ta phản ánh rằng anh xuống địa phương bắt người ta phải báo cáo. Có người hỏi tôi không biết anh là cán bộ cỡ nào mà tuần nào cũng xuống địa phương bắt người ta báo cáo."

"A, ra là như vậy đấy! Thế Thu Trinh nghĩ tôi là người như thế nào? "

"Nếu quả thực anh có thái độ ấy thì nên bỏ đi. Mình là người cách mạng, mình phải hòa đồng với quần chúng chớ."

"Té ra Thu Trinh nghĩ rằng tôi rất lấy làm hãnh diện khi được phân công làm một anh hàng ngày đạp xe đi lấy tin tức về sinh hoạt thiếu nhi lắm à? Thế thì buồn cười nhỉ. Một người như tôi, cũng tốt nghiệp đại học, cũng tham gia cách mạng hàng chục năm nay chẳng lẽ tôi không có gì khác để hãnh diện sao mà phải đi hãnh diện vì được Thu Trinh cho làm một anh nhân viên đi lấy tin lượm giấy vụn? Lại còn ra điều hách dịch với các địa phương nữa chứ! Thế thì tôi hết thời rồi. Thế thì tôi xoàng quá nhỉ. Chẳng lẽ Thu Trinh nghĩ tôi xoàng như thế à?"

"Sao lại xoàng. Công tác của Ðảng giao không có gì là xoàng cả. Anh đứng trên quan điểm nào mà anh nói như thế? Anh phải biết rằng công tác thiếu nhi là một trong những công tác vinh quang nhất trong chế độ ta. Phải được đào tạo mới trở thành cán bộ thiếu nhi giỏi. Phải có trình độ đại học, đại học xã hội chủ nghĩa nhé, chứ không phải đại học của ngụy đâu. Bây giờ không ai công nhận bằng cấp đại học cũ."

"Thế thì tôi là cái đồ vô dụng"

Ðấy, em thấy chưa. Làm sao anh có thể chịu nổi một con bé tuổi tác chỉ đáng em út anh, quá trình tham gia cách mạng chỉ là đàn em rất xa của anh và trình độ chỉ đáng học trò của anh lại thường xuyên lên lớp chính trị với anh kiểu đó.

Thế mà suốt mấy tháng nay anh phải sống chung đụng với con người ấy, với cô cán bộ ấy, anh bị coi rẻ hơn cả một người mới tham gia cách mạng. Vì sao? Vì những người mới tham gia họ cũng như cô gái mới về làm dâu, họ ngoan, họ biết vâng lời, họ dễ bảo. Còn anh không dễ bảo, khó xài. Anh buồn lắm Oanh ạ, nhiều lần anh muốn đến thăm em để tìm một sự chia sẻ, một sự an ủi nào đó nhưng anh ngại gia đình em. Cái vụ rắc rối ở Ðà Lạt năm nào không ngờ lại làm ba em và các ông anh của em ghét anh đến thế. Em suy nghĩ đi. Chuyện ấy chẳng qua cũng vì anh quá yêu em. Và quá yêu cách mạng nên mới liều lĩnh xông ra làm một người hùng như thế. Ðó chỉ là trò trẻ con của một thời dại dột. Em thừa hiểu rằng bản chất của anh không phải là một thằng du đãng. Có lẽ ba em và cả em nữa cũng thấy điều đó, thế sao em cũng tránh anh. Anh đến tìm em mấy lần chỉ toàn nghe nói em bận đi chỗ này chỗ nọ với Hiếu. Hiếu là bạn của anh, sao nó có thể xử sự như thế nhỉ. Nó thừa biết là anh yêu em biết chừng nào. Hồi ở trong rừng anh đã kể với nó rất nhiều về em. Ðó cũng là một cách để khuây khỏa nỗi nhớ em. Anh kể với nó những kỷ niệm hồi tụi mình mới quen nhau, về cái tánh bướng bỉnh của em, anh kể chuyện cái đêm em đến nghe anh đàn và cho anh những trái mận. Hiếu cũng biết cả chuyện em có một ngón tay bị thương trên móng, biết cả lai lịch, cái vết thương ấy nữa. Lúc ấy anh không ngờ là anh đã cung cấp tất cả những chi tiết về con người em để bây giờ Hiếu dễ dàng tán tỉnh, chinh phục em.

Anh xin lỗi là lúc nãy anh đã cư xử với em như một kẻ vô lại. Em không thể hiểu được rằng trong mấy tháng qua anh đã phải trải qua biết bao điều đau khổ, đầu óc anh mệt mỏi, thân xác anh rã rời. Làm sao anh có thể sống bình thường như mọi người được?

Bữa nọ Thu Trinh gọi anh lên văn phòng cô ta và nói:

"Anh chuẩn bị làm một tờ báo. Mình sẽ ra một tờ báo Thiếu Nhi. Hiện nay các em trong thành phố ta đang thiếu món ăn tinh thần trầm trọng."

Thế là anh làm báo. Anh tổ chức một buổi họp các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ. Trước giải phóng, hồi còn hoạt động trong phong trào sinh viên Sàigòn anh đã từng làm báo, anh cũng biết viết lách đôi chút, những cộng tác viên hôm đó ai cũng phấn khởi vui mừng vì một tờ báo sắp ra đời, vì thế mà anh thu thập bài vở rất nhiều. Anh chọn lựa, biên tập rồi đưa cho Thu Trinh duyệt. Mấy hôm sau anh nhận lại tập bản thảo. Thật không ngờ. Cô học trò lớp mười một của trường trung học Lê Văn Duyệt ấy đã dùng bút đỏ bôi xóa, thêm thắt, sửa chữa nát bét trên những bản thảo của các nhà văn, nhà thơ. Anh cầm tập bản thảo mà rụng rời tay chân. Anh nói:

"Trời ơi, Thu Trinh sửa tùm lum thế này thì họ không chịu đâu. Họ toàn là những người có tiếng tăm cả. Ða số là nhà văn cách mạng, cũng có một số nhà văn Sàigòn trước đây nhưng tôi đã chọn mời toàn là những người tốt, những người tiến bộ cả. Họ mà thấy bài vở của họ như thế này họ buồn lắm đấy. Họ cự mình đấy".

"Có gì mà buồn, Thu Trinh cau mày nói, Tôi chỉ sửa theo quan niệm mới của Ðảng. Ðồng ý họ là những nhà văn, nhưng làm sao họ có thể nắm vững những quan điểm mới mẻ về thiếu nhi, nhất là những vùng mới giải phóng."

Anh cặm cụi suốt ngày ở nhà in. Em không biết là lúc ấy anh khổ đến mức nào. Rất nhiều lần anh phải đánh liều bỏ bớt những câu "biên tập" kỳ quặc của Thu Trinh, phục hồi lại nguyên văn của các tác giả. Ðau đầu nhất là lỗi chính tả. Vì chưa từng học qua đại học, nên Thu Trinh hoàn toàn không có ý niệm gì về luật hỏi ngã, về tiếng lấp láy, về từ nguyên, không phân được tiếng nào là tiếng Hán Việt, tiếng nào là tiếng Việt thuần túy. Người ta viết "bụi cây" thì cô sửa lại là "buội cây" với lý do là "bụi không có ô là bụi bặm" người ta viết "mạnh mẽ" thì cô sửa lại là "mạnh mẻ" người ta viết "tứ chiếng" thì cô bỏ phăng đi cái chữ "g" ở đằng sau, người ta viết "hộp thư" thì cô sửa lại là "hòm thư" với lý do là nên xài từ giống như miền Bắc để cho có tính thống nhất vì hiện nay đất nước mình đã thống nhất rồi. Nhưng đó chỉ là những cái lặt vặt. Một buổi tối kia, khi máy in đã bắt đầu chạy thì anh phát hiện ra một bài kiểu như xã luận ở đâu mới nhét vô. Anh hỏi nhà in:

"Bài nào đây? "

"Bài của chị Thu Trinh mới đưa hồi chiều".

"Sao các anh không thông qua tôi mà cứ in?"

" Tụi em đâu dám cãi lệnh chị Hai."

Anh thở ra. Cầm tờ báo lên đọc thử.

" Ngừng máy lại!" Anh nói.

Máy ngừng. Anh đưa bài báo lại gần ánh đèn hơn. Ðó là bài tập làm văn của cô học trò học mất căn bản trầm trọng. Thu Trinh dùng chữ rất kêu nhưng toàn những khẩu hiệu rỗng. Cô viết sai văn phạm be bét, lỗi chính tả đầy dẫy. Khi đọc bài của người khác thì cô táy máy tay chân dùng bút đỏ sửa chữa phê phán bình phẩm trên trang giấy tùm lum nhưng bài của cô thì cô không muốn ai sửa một chữ nào vì thế mà cô âm thầm đem bài đến, ra lệnh cho thợ in xếp chữ, lên khuôn gấp gấp.

Em cũng hiểu là anh không thể nào chấp nhận một bài tập làm văn xoàng xĩnh như thế đăng lên trang nhất của một tờ báo Thiếu Nhi thành phố. Anh sẽ ăn nói làm sao với các cộng tác viên của anh. Anh phải chịu trách nhiệm trước độc giả nhỏ tuổi của mình. Anh chỉ còn một con đường để chọn: cắt bỏ.

"Nhưng anh phải chịu trách nhiệm trước chị Hai" người sếp ti-pô nói.

"Tôi chịu trách nhiệm."

"Vậy thì xin anh viết ít chữ trên bản thảo".

Anh cầm lấy bản thảo của Thu Trinh và viết: "Tôi, Nguyễn, quyết định không in bài báo này. Lý do sẽ trao đổi sau." Anh ký tên và dắt bút vào túi.

Quyết định ấy không ngờ đã dẫn tới cho anh biết bao nhiêu tai họa. Ngày kia Thu Trinh gọi anh đến và hỏi:

"Hình như trước đây có thời kỳ anh đi lính ngụy, phải không? "

"Có. Ở tù ra, tôi bị đưa thẳng tời quân trường. Tôi ở đó ba tháng, ra trường với cấp bậc binh nhì quân dịch. Mấy ngày sau tôi đào ngũ về Sàigòn."

"Về Sàigòn anh làm gì? "

"Tôi làm nhân viên bơm xăng ở trạm xăng sau bưu điện Sàigòn. Ðồng chí Nguyễn Ngọc lúc ấy là chủ bút tờ báo Tin Văn, cơ quan công khai của thành ủy Sàigòn Gia Ðịnh đưa tôi về làm ở đó."

"Tại sao anh không về đơn vị cũ?"

"Tôi không liên lạc được với đơn vị cũ."

"Vì sao? "

"Vì lúc ấy đồng chí phụ trách tôi đã bị bắt. Ðịch đánh phá các cơ sở cách mạng ở các trường đại học. Anh em chạy lánh nạn sang tận Kampuchia."

"Thôi được, Thu Trinh nói, anh làm cho tôi một tờ tự thuật thật chi tiết. Sắp tới sẽ có một khóa chỉnh huấn đảng viên đứt liên lạc, tôi sẽ gởi anh đi dự khóa ấy."

Trong khi anh dự khóa chỉnh huấn thì tờ báo Thiếu Nhi in xong. Và mặc dù nó đã được hình thành trong những hoàn cảnh như anh đã kể, tờ báo vẫn rất đẹp. Bìa là giấy couchée in bốn màu bóng loáng ruột in hai mầu, nhiều minh họa, nhiều hình chụp. Khoan nói đến nội dung, chỉ nói về hình thức thì đây là tờ báo cách mạng đẹp nhất từ trước đến thời điểm đó.

Và em có thể ngờ được không? Em có thể hiểu được thế nào là lòng dạ con người không? Một tờ báo như thế, bạn bè anh, những cộng tác viên của anh, những độc giả của anh…ai cầm nó lên tay cũng đều xuýt xoa khen đẹp, cũng đều chúc mừng. Nhưng Thu Trinh và hai ba vị gì đó ở Ủy ban Thiếu niên nhi đồng trung ương tức tốc mở một phiên họp kín. Không biết các "nhà Mác-xít" ấy đã nói những gì với nhau mà sau đó anh lại bị Thu Trinh cho người đến lớp học gọi anh về. Cô ấy đưa cho anh một xấp giấy đánh máy cẩn thận. Ðó là bản nhận xét của hai vị gì đó của Ủy ban Thiếu niên nhi đồng trung ương về tờ báo của anh. Anh đã rất ngạc nhiên khi đọc những lời lẽ hằn học như thể nó là sản phẩm của Mỹ ngụy để lại. Suốt bốn trang đánh máy dày đặc chữ, không hề có lấy một dòng nào khen tờ báo. Họ chê từ cách chọn giấy quá sang khi đất nước còn nghèo. Họ phê bài này không có tính đảng, bài kia không có tính quần chúng. Họ bảo bài thơ này tả cảnh đồng quê có kỹ thuật nhưng đó là thứ đồng quê của chế độ cũ chưa mang được sức sống mới, họ bảo bức tranh nọ vẽ người da đen mà môi dày tóc quắn là mất quan điểm, họ bảo cái bìa báo vẽ các em học sinh trong ngày tựu trường đầu tiên dưới mái trường cách mạng nhưng mặc quần ống hơi loe xem còn phảng phất cách ăn mặc của chế độ cũ.

Thu Trinh vớ được cái "bản nhận xét" ấy giống như người bắt được vàng. Cô làm như tờ báo ấy là của ai chớ không phải của Ban Thiếu Nhi mà cô là trưởng ban. Cô chỉa mũi dùi về phía nó, thẳng cánh mà đâm.

"Anh thấy chưa? Tôi không ngờ tờ báo lại tồi tệ như thế".

"Sao lại không ngờ? Anh hỏi lại. Chính Thu Trinh là người duyệt và biên tập tất cả mọi bài vở? Mà lỗi gì? Hai phần ba số bài trong tờ báo này là do những nhà văn, nhà thơ cách mạng ở ngoài Bắc vào, ở trên rừng về viết ra, một phần ba còn lại là của các nhà văn có cỡ của thành phố viết, họ đều là những nhà trí thức có tiếng, những cơ sở cách mạng cả. Bao nhiêu cái đầu ấy, bao nhiêu trí tuệ ấy mà lại đẻ ra một sản phẩm tồi tệ à. Thật khó có thể tưởng tượng rằng những cái đầu ấy lại thua vài ba cái đầu của mấy vị cán bộ ban thiếu niên nhi đồng gì đó."

"Anh không được vô lễ với các đồng chí lãnh đạo cấp trên như thế. Anh không được dùng những từ mỉa mai như thế. Tôi đề nghị anh viết một tờ tự kiểm, nhận hết tất cả các khuyết điểm mà các đồng chí trong ủy ban thiếu niên nhi đồng trung ương đã vạch ra và xin lỗi các đồng chí ấy. Anh làm gấp. Nộp cho tôi ngay rồi hãy quay về lớp học".

Ðời nào anh lại đi làm một tờ tự kiểm như thế, phải không Oanh?

Sau khóa học chỉnh huấn, anh trở về cơ quan. Lúc ấy bên Sở giáo dục có đợt tuyển giáo viên dạy đại học, nhiều bạn bè hiểu hoàn cảnh anh khuyên anh nên nộp đơn đi dạy. Anh lo hồ sơ gồm bằng cấp, lý lịch, giấy khai sinh, còn thiếu giấy xác nhận là cán bộ của cơ quan.

Anh đã nói rõ tại sao anh xin giấy xác nhận này. Thu Trinh cầm tờ giấy đánh máy nhưng không ký. Cô ta cười cười rồi nói:

"Anh bỏ tôi hả? Anh đi làm gì, ở đây làm việc với nhau có phải vui không. Các em nó cũng rất mến anh".

"Tôi cũng mến các em lắm Thu Trinh ạ. Nhưng có lẽ tôi nên trở về nghề cũ hay hơn. Trước đây tôi cũng có đi dạy".

"Thôi được. Ðể tôi suy nghĩ lại xem".

Anh đã chờ ba ngày mà vẫn chưa nhận được tờ giấy xác nhận. Sốt ruột quá anh lên thẳng phòng của Thu Trinh.

"Chắc Thu Trinh đã quên tờ giấy xác nhận? " Anh hỏi với giọng vui vẻ giả tạo.

Thu Trinh không nói gì, lặng lẽ mở ngăn kéo lôi tờ giấy của anh ra để trên mặt bàn. Cô ta nhìn tờ giấy một lúc lâu, lẩm nhẩm đọc:

"Xác nhận đồng chí Lê Nguyễn là cán bộ của… (cô ta ngó ra ngoài cửa sổ, nói một mình)……. không ổn, đâu phải ai cũng là cán bộ, bộ dễ là cán bộ lắm sao".

Anh lạnh người. Lúc ấy nếu anh không bỏ đi có lẽ anh đã tát tai cô ta rồi. Anh cóc cần tờ giấy đó.

Nhưng chưa hết chuyện. Ðến cuối tháng, văn phòng mời mọi người đến lãnh lương, như thường lệ anh cũng đến lãnh lương nào ngờ cái tên của anh đã biến mất khỏi danh sách.

"Sao kỳ vậy? " Anh hỏi.

Người nhân viên phát lương trả lời:

"Nghe chị Hai nói anh đã chuyển qua giáo dục rồi mà".

Thế đấy, anh đã sống và làm việc trong một tình cảnh kỳ quái như vậy. Bây giờ anh là một người thất nghiệp, có ai phân công tác gì cho anh đâu. Anh không thể hạ mình đi xin xỏ một cái giấy xác nhận, anh cũng không thể tiếp tục làm việc với một con người như thế.

Cô ta đã xóa tên anh trong bảng lương mặc dù cô ta hoàn toàn không có quyền làm việc đó, nhưng anh cũng chẳng cần khiếu nại. Anh ghê sợ con người ấy lắm rồi, anh ghê sợ cả em nữa, Oanh đừng buồn nhé, bây giờ thì anh không còn tha thiết với cái gì nữa. Anh muốn xa lánh mọi người, muốn sống một mình trong cái xó này. Có lẽ em cũng không nên gặp anh nữa làm gì.

Oanh nắm chặt lấy bàn tay Nguyễn đưa lên miệng hôn. Chị cứ lặng lẽ khóc như thế mà không nói lên một tiếng nào. Hoàn toàn im lặng cho đến lúc ra về.

« Lùi
Tiến »