Người Vợ Cô Đơn

Lượt đọc: 3597 | 1 Đánh giá: 6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG VII

Bernard đứng trên thềm chờ Thérèse về. Vừa nhìn thấy tà áo nàng trong bóng tối, Bernard reo lên: “Tôi không bị gì hết, không bị gì hết! Mình có thể tưởng tượng một người sức vóc như tôi thế này mà lại thiếu máu? Không thể tin được nhưng lại rất đúng: không thể căn cứ vào bề ngoài được; tôi phải theo một phương pháp trị liệu... phương pháp Fowler: dùng chất thạch-tín; việc quan hệ là tôi phải trở lại ăn thấy ngon miệng...”

Thérèse nhớ lại ban đầu nàng không lấy làm bực bội: những gì do nơi Bernard đều khiến cho nàng không thấy khó chịu như trước (ảnh hưởng xem như tới từ xa hơn). Nàng không nghe Bernard nói, linh hồn và thể xác nàng hướng về một vòm trời khác, nơi có những con người tha thiết chỉ ao ướcđược hiểu, được biết- và, như lời Jean đã nói một cách khinh khoái vô cùng, “tự thể hiện”. Khi ngồi vào bàn ăn, Thérèse mới nói tới chuyện gặp gỡ ban chiều, Bernard phát gắt: “Thế sao khi nãy mình không nói? mình lạ lùng quá nhỉ:  Thế nào? Hai bên đã quyết định ra sao?”

Nàng liền bịa ra một kế hoạch thật ra sau đó cũng thi hành: Jean Azévédo bằng lòng viết cho Anne một bức thư trong đó y sẽ nhẹ nhàng tỏ cho cô bé biết không hy vọng gì. Bernard phì cười nhất định cho rằng anh chàng không phải không tha thiết với đám cưới đó đâu: một thằng Azévédo mà không mong cưới Anne de la Trave! “Ồ, mình có thể điên đến mực ấy ư? Nói trắng ra, tại nó biết rằng không ích gì; bọn đó không bao giờ dám thử thách nếu biết trước sẽ thất bại. Mình còn ngây thơ quá, mình ạ.”

Vì muỗi, Bernard không chịu cho thắp đèn, cho nên chàng không nhìn thấy con mắt của Thérèse. Bernard “ đã thấy ngon miệng”, như lời chàng. Viên y sĩ ở Bordeaux đã giúp Bernard tìm lại nghĩa sống.

“Ta có thường gặp lại Jean Azévédo không? Cuối tháng mười y rời Argelouse... Có lẽ ta đã cùng đi dạo với y năm hay sáu lần; ta chỉ tách riêng ra những dịp mà hai người bàn về bức thư viết cho Anne. Chàng trai ngây thơ chọn những lời lẽ mà y cho rằng thoa dịu, nhưng khiến ta cảm thấy trọn vẹn sự ghê tởm, tuy không nói ra với y. Còn những cuộc dạo chơi khác ta hòa lẫn trong một kỷ niệm duy nhất. Jean Azévédo kể cho ta nghe về Paris, về những sự giao du của y, ta tưởng tượng ra một vương quốc mà phép tắc là “tự thực hiện”. “Ở đây bà bị buộc phải dối trả cho đến lúc chết”. Y có ý gì khi nói ra những lời ấy? Y nghi ngờ ta điều chi? Cứ nghe y nói, không thể nào ta chịu nổi cái khí hậu ngột ngạt này. Y nói: “Bà hãy nhìn cái mặt phẳng mênh mông không thay đổi của lớp băng trong đó mọi tâm hồn của dân vùng này bị đóng chặt; đôi khi một kẽ hở để lộ một dòng nước đen: có ai đã quẫy lên và mất tích; cái vỏ liền khép lại... vì ở đây cũng như những nơi khác ai nấy sinh ra đều phải chịu những phép tắc sẵn có; ở đây cũng như những nơi khác, mỗi kiếp người đề có những đặc điểm riêng rẽ; nhưng hết thảy vẫn phải chịu chung một định mệnh thảm đạm; có ít người chống đối: do đó có những thảm kịch mà các gia đình vùi lấp đi. Như ở trong vùng mọi người thường nói: “Phải lấp liếm đi...”

Ta la lên: “Phải đấy! Đôi khi tôi hỏi đến một tổ phụ hay một tổ mẫu mào đó mà trong tập hình gia tộc thấy biến mất mọi tấm hình, không bao giờ tôi được trả lời, trừ ra có một lần được một lời thú thật: “ Cụ ấy mất tích... phải làm cho mất tích.”

Jean Azévédo có ngại ta sẽ gặp một định mệnh như vậy không? Y nói rằng chưa hề có ý định nói với Anne về những chuyện đó vì, mặc dầu sự đắm đuối của Anne, đó chỉ là một tâm hồn bình dị, có đôi chút chống đối, nhưng rồi ta sẽ bị áp chế ngay: “Còn bà, tôi cảm thấy trong những lời lẽ của bà một sự thèm khát chân tình...” Có cần nhắc lại đúng những lời đó với Bernard hay không? Đó chỉ là một cơn điên hy vọng mà Bernard không làm sao hiểu nổi! Dù sao cũng cần cho anh ấy hiểu rằng, không phải ta không chống trả trước khi thua. Ta nhớ có chống lại Jean, bảo rằng anh chàng dùng những lời lẽ khéo léo để che đậy một khuynh hướng trụy lạc thấp hèn. Ta dung tất cả những gì còn nhớ về những bài luân lý ở trường  trung học. Ta nhắc mãi: “Tự thực hiện ư? Nhưng chúng ta chỉ thực hiện được bằng những gì do chính ta tạo nên.” (Chẳng cần phải giải thích dài; nhưng có lẽ phải giải thích Bernard mới hiểu.) Azévédo không chịu nhận có sự trụy lạc nào ghê gớm hơn sự phủ nhận bản chất của mình. Y cho rằng không có người anh hùng hay bậc thánh không hơn một lần đào sâu trong tâm hồn mình, không tận dụng mọi khả năng của mình. Y nhắc đi nhắc lại: “Phải vượt hơn mình mới tìm thấy Thượng-Đế.” Hoặc “Tự nhận, công việc đó buộc những con người cao cả nhất trong chúng ta phải so đọ với chính họ, không che đậy, không mánh lới. Bởi thế mới có những người đã giải thoát được lại đi tin theo một tôn giáo chật hẹp nhất. ”

Không tranh luận với Bernard về căn bản vững chắc của thứ luân lý đó - bằng lòng nhận với Bernard rằng có lẽ đó chỉ là những lời quỷ biện nghèo nàn; nhưng Bernard cần phải hiểu, phải cố gắng mà hiểu rằng một người đàn bà như ta có thể bị tiêm nhiễm, và đó là điều mà ta nhận thấy, buổi tối, trong phòng ăn ở Argelouse: Bernard, trong gian bếp kế bên, đang tháo ủng, kể lại bằng thổ âm những kết quả của cuộc săn trong ngày. Những con chim cu bị bắt giảy giụa, làm phồng cái túi bỏ trên bàn; Bernard ăn chậm rãi, khoan khoái vì đạ tìm lại được sự ngon miệng - Bernard chăm chú đếm những giọt thuốc “ Fowler ”. Chàng nói mãi: “Sức khỏe đây.” Lửa đỏ ở trong lò sưởi, đến lúc ăn tráng miệng Bernard chỉ cần quay lưng ghế lại để đưa hai chân mang giầy dạ hơ gần ngọn lửa. Hai mắt chàng nhíp lại, tay vẫn cầm tờ nhật báo La petite Gironde. Đôi khi chàng ngáy to, nhưng nhiều lúc ta không nghe tiếng chàng thở. Trong bếp tiếng dép của Balionte kéo lệt xệt; sau đó chị ta mang những cây đèn nến vào. Và tất cả đều im lặng: sự im lặng của Argelouse! Những ai chưa biết vùng truông hẻo lánh này không thể hiểu nổi sự im lặng đó: nó bọc lấy căn nhà, như đóng cứng trong cái khối đầy những rừng cây trong đó không có sinh vật gì, ngoại trừ đôi khi một con cú lên tiếng hú (trong đêm tối ta tưởng như nghe tiếng khóc mà ta đang cố nén xuống).

Ta biết tới sự im lặng đó nhất là từ sau khi Azévédo ra đi. Ý thức đó nặng nề đến độ ta cho rằng ngày nào mà ta gặp lại Jean, sự có mặt của y khiến cho bóng tối ở chung quanh trở nên vô hại; giấc ngủ gần gũi của y tràn đầy trong đêm tối. Liền sau khi rời Argelouse, sau lần gặp gỡ cuối cùng mà y hẹn sẽ trở lại sau một năm, y nóí với ta rằng y tràn ngập hy vọng tới hồi đó ta đã tự giải thoát được rồi (mãi tới nay ta vẫn không hiểu y nói chơi như vậy hay có hậu ý gì? Ta ngờ rằng con người Paris đó không chịu nổi sự im lặng của Argelouse và y tôn quý nơi ta người duy nhất biết nghe y nói), liền sau khi ta từ biệt y, ta tưởng như chui vô một đường hầm vô tận, dấn mình vào một bóng tối ngày càng dầy đặc thỉnh thoảng ta tự hỏi liệu có ra tới chỗ đủ không khí trước khi bị nghẹt thở. Cho tới ngày ta sinh nở, vào tháng giêng, không có chuyện gì xảy ra...

Tới đây Thérèse ngập ngừng; cố gắng không bắt nghĩ tới những gì đã xảy ra tại Argelouse, cách một ngày sau khi Jeanị ra đi. Nàng nghĩ: “Không, không, không liên quan chi hết tới những gì lát nữa ta sẽ phải giải thích với Bernard; ta không có thì giờ bỏ phí vào những đường mòn không đưa tới đâu.” Nhưng tư tưởng thường ương ngạnh; không sao ngăn cấm không cho chạy tới đâu nó muốn: Thérèse không thể nhận chìm trong ký ức buổi tối tháng, mười đó. Trên lầu nhất, Bernard đang thay quần áo; Thérèse chờ cho khúc củi thật cháy hết mới lên theo chồng - sung sướng được có một lúc cô đơn: vào giờ này Jean Azévédo đang làm gì? có lẽ y đang uống rượu tại cái quán nhỏ y có nói tới; có lẽ (ban đêm êm ả làm sao) y đang đi xe hơi cùng một người bạn trong rừng Boulogne hoang vắng. Có lẽ y đang làm việc ở bàn, và xa xa Paris  nhộn nhịp: sự im lặng chính y đã gây ra, y đã chiếm đoạt được trong sự xào xạc của cuộc đời; đối với y, im lặng không do bên ngoài bắt ép như cái im lặng đang làm cho Thérèse ngột ngạt; sự im lặng đó là do y tạo thành và không tỏa lan ra xa quá ánh đèn, quá những ngăn chất đầy sách của y…Thérèse đang nghĩ như vậy; bỗng con chó sủa vang, rồi gầm gừ, và ngoài hành lang một giọng nói quen thuộc, mệt lả, phủ dụ con chó: Anne de la Trave mở cửa vào; cô bé đi bộ trong đêm tối từ Saint-Claire  về đây- đôi giầy lem những bùn. Trên khuôn mặt chợt già đi, hai con mắt cô gái long lanh sáng. Anne bỏ mũ trên ghế và hỏi: “Jean đâu?”

Thérèse và Jean, sau khi gửi bức thư đã đã tưởng thế là xong - không thể tưởng tượng Anne sẽ cương quyết không rời – tưởng rằng con người biết nghe theo lẽ phải, theo sự biện luận, mỗi khi có chuyện liên quan tới cuộc đời mình! Anne đã đánh lừa được mẹ và nhảy lên một chuyến xe lửa. Trên con đường tối tăm về Argelouse, cô gái cứ theo khoảng, trời sáng giữa hai hàng ngọn cây mà đi. “Cần nhất là gặp lại chàng; nếu gặp được chàng, chàng sẽ nghe theo ngay, cần nhất là gặp lại chàng.” Cô gái vấp, trẹo cả chân trong những ổ gà, vì hăng hái muốn đi mau tới Argelouse. Thế là Thérèse lại bảo Jean đã đi rồi, Jean hiện ở Paris. An lắc đầu, không tin; cô bé cần phải không tin để khỏi ngã gục vì mệt, vì thất vọng:

“Chị quen nói dối quá!”

Thấy Thérèse cãi, Anne tiếp:

“Hừ, chị nặng tinh thần gia tộc lắm nhỉ! Chị làm bộ muốn được giải phóng... Nhưng từ ngày lấy chồng lập tức chị trở thành một thứ đàn bà trong nhà... Phải rồi, tôi hiểu lắm: chị tưởng làm như vậy là tốt lắm hả; chị phản bội tôi để cứu tôi chứ gì? Thôi chị khỏi cần giải thích nửa.”

Khi cô gái mở cửa, Thérèse hỏi cô ta tính đi đâu. “Sang Vilméja, tới nhà anh ấy.

- Tôi nhắc lại với cô rằng cậu ta ra đi từ hai hôm nay rồi.

- Tôi không tin lời chị đâu.”

Anne đi ra. Thérèse liền châm ngọn đèn bão vẫn treo ở hành lang rồi đi theo Anne:

“Cô Anne ơi, cô sẽ lạc mất: đường đó đi Biourge, Vilméja đi ngả này cơ.”

Hai người đi trong màn sương từ cánh đồng tràn ngập lên. Chó lên tiếng sủa. Đây là những hàng sồi ở Vilméja, căn nhà không phải đang yên ngủ mà như đã chết. Anne đi quanh nơi mộ địa trống không, lấy cả hai bàn tay đập cửa. Thérèse đặt cây đèn xuống cỏ, đứng yên lặng. Nàng nhìn cái bóng ma của cô bạn dán vào từng khung cửa kính tầng dưới. Có lẽ Anne gọi mãi một cái tên, nhưng không la to, biết rằng vô ích. Trong giây lát cô gái đi khuất sau căn nhà; rồi cô ta quay lại, lê tới trước cửa, ngồi bệt xuống thềm, hai cánh tay bó gối, vùi mặt vào đầu gối. Thérèse nâng cô bé dậy, kéo đi. Anne chập choạng, nói mãi: “Mai em sẽ đi Paris. Paris đâu có lớn lắm; em sẽ tìm thấy chàng ở Paris...” giọng nói của một đứa trẻ hết sức chống cự và đã chịu thua.

Bernard thức giấc vì nghe tiếng hai người nói, khoác áo ngồi đợi họ ngoài phòng khách. Thérèse vô lý muốn xóa bỏ trong trí nhớ cái cảnh đã xảy ra giữa người anh và cô em gái. Người đàn ông dám nắm chặt cổ tay cô gái nhỏ mệt lả, kéo lê cô ta lên tận căn phòng trên tầng lầu hai, khóa chặt cửa, người đó là chồng của ta, Thérèse ạ, người mà trong hai giờ đồng hồ nữa sẽ đứng ra phán xét ta. Tinh thần gia tộc xui khiến hắn, đỡ cho hắn khỏi phải do dự. Trong bất kỳ trường hợp nào, bao giờ hắn cũng biết phải làm thế nào để bảo vệ quyền lợi gia tộc. Ta đang lo lắng sửa soạn một bài biện hộ dài; nhưng chỉ riêng những đàn ông không có định kiến mới nghye theo những lý lẽ do bên ngoài đưa tới.

Bernard đâu có quan tâm tới những lý lẽ của ta: “Tôi biết tôi phải làm những gì.” Bao giờ Bernard cũng biết sẽ phải làm những gì. Nếu đôi khi có do dự, tất hẳn sẽ nói: “Chúng tôi đã bàn kỹ trong gia đình, chúng tôi xét rằng...”; tại sao ta có thể nghĩ rằng…Bernard chưa có sẵn một quyết định? Số pbận của ta đã định: tốt hơn hết là ngủ đi.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của françois mauriac