Nguyên Hồng Toàn Tập 3

Lượt đọc: 918 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sóng Gầm
Chương 4

Phố Hạ Lý cũng như nhiều phố khác của Hải Phòng xây một kiểu nhà khá đặc biệt. Nhà làm từng dãy. Dãy bên này đường tám gian thì dãy bên kia cũng tám gian hay mười gian, mười hai gian cùng một kiểu như thế. Tầng trên gác ở, tầng dưới làm mặt hàng. Cầu thang lên gác thông thống ở ngay bên nhà tầng dưới. Người lên xuống thang cứ sầm sập, thình thình cả ngày ở trên đầu người nhà dưới. Gác nhà nào cũng có lan can bày các chậu cây và một khám thờ đủ cả câu đối, bình hương, bài vị, ảnh thờ treo ở ngay bờ tường. Nhiều nhà tầng trên và tầng dưới là hai thế giới khác hẳn. Tầng dưới là nhà làm đinh, thợ tiện, thợ hàn, thì tầng trên là hộ sinh, trường học tư. Tầng dưới là nhà thổ, hàng cà phê, hiệu phở, sòng bạc thì tầng trên cũng là nhà của ba bốn chủ: mẹ con khâu giày, may vá thuê, bố làm lang, con tán thuốc, người làm đội xếp, làm tàu, làm ở các kho, các cửa hiệu. Nhưng nhà mở "nhà thổ" vẫn đông nhất, cả tầng trên, cả các gian xép. Suốt từ chân cầu Hạ Lý lên gần đến sở Cốt phát, nhà thổ có môn bài và nhà thổ lậu chiếm gần hết các dãy, rồi đến hàng cà phê, phở, thợ may, cắt tóc và sòng bạc. Ở trên gác, nhà thổ cũng bày ra ở lan can đủ cả khám thờ, chậu cây và treo ảnh Đức thánh Quan như những nhà người Tàu vậy.

Mấy tháng trước, Thanh được mấy buổi làm gõ gỉ sắt ở cầu Hạ Lý và đập gạch trong sở Pháo thủ. Thanh thường nghỉ trưa và có hôm ăn cơm cùng anh em ở ngã tư. Bởi vậy ở nhà ra đi, cái quãng đường làm Thanh hồi hộp khi sắp đến vẫn là hai đầu cầu Hạ Lý và cái bến sông Tam Bạc này. Hôm nay, Thanh cứ lại phải ngồi ở dưới cái gốc cây bàng trên cái tảng đá nhẵn ở vệ đường ấy, mặt thì ngẩn ra, tâm trí rũ xuống mà nghe thêm sự buồn thảm quấn lấy tất cả mạch máu trong người. Vẫn cái cảnh xào xạc, lúc nhúc mọi sáng. Người ta họp chợ ở ngay đầu đường. Cũng đủ cả hàng rau đậu, mắm muối. Thịt bò, thịt lợn pha ngay trên tấm ván để dưới đất, hàng cá hồng, cá nác, rươi, lòng lợn tiết canh, nộm, bún ngồi liền với nhau. Người mua vẫn là các thím khách và người nhà các phu phen thợ thuyền ở trong các ngõ. Còn người ăn vẫn là các ả gái nhà chứa. Họ ngồi chồm chỗm gọi ăn ngay ở bờ hè, ngay giữa lối đi, cạnh những hàng cá, hàng rau, mặc cả, giằng giật, chửi nhau túi bụi. Quần áo nhầu nát, mặt mày bợt bạt, tóc như ma dại, nhiều ả khoác cả áo tây đàn ông, quấn cả miếng dạ đỏ của lính bịt bụng làm khăn choàng, và đi cả giày săng đá mà ngồi sụp soạp ăn nào bún ốc, lòng tiết canh, cháo phổi. Vừa ăn họ vừa giằng kéo những khách quen và cả những người đi đường đã vô ý nhìn họ hay có khi không dám nhìn họ nữa. Người nào cũng bị họ bá bíu, nắn túi; từ bác bếp mải miết về chợ với con cá chép xách tay còn ngáp, đến chú lính khố xanh đi coi nhà pha làm cỏ vê, ngủ gà ngủ vịt ở cột đèn, đến anh thợ chữa khóa thất tha thất thểu, ông cụ ký kèm nhèm đi thu tiền thùng.

Thanh đã bị hai lần họ bá cổ khoác tay kéo vào nhà. Thanh chỉ xệu mặt ra, co người lại, chứ không dám kêu gắt, giằng gỡ gì cả. Rồi về sau, ngày ngày Thanh đi qua đây, có những lần mải nghĩ, Thanh xô, vập cả vào họ, họ cũng chẳng buồn nghe Thanh xin lỗi, mà chỉ nhìn Thanh, càng ngạc nhiên vì vẻ mặt hốc hác, ngờ ngạc của Thanh mà họ đã quen đến nỗi tưởng như Thanh ở gần đâu đây, ngay cùng phố với họ, và cũng biết cả cái tên "cậu giáo Thanh" của Thanh nữa.

- Có đứa nào dám bao "cậu" không nào? Cậu vừa trẻ vừa ngoan, chạy được việc cho cậu làm thì ba chê được!

- Mày ấy! Mày ấy! Thì mày bao cậu chứ còn ai!

- Mày ấy! Mày ấy!

- Thôi để tao... để tao... Mợ mày cân cậu cho chúng mày biết tay!

Cả bọn ùa nhau ra ôm khoác lấy Thanh. Lần này Thanh không xệu mặt và co rúm người lại nữa. Thanh lặng nét mặt đi cố kiễng người lên để gỡ những cánh tay ôm và tránh những cặp môi hôn chun chút vào môi vào má vào cổ Thanh, rồi Thanh chạy bán sống bán chết.

... Một trận gió đánh thoảng mùi đốt rác của đám trẻ đi bới mảnh chai sắt vụn ở cái bãi gần đấy. Thanh vội quay mặt ra phía bờ sông, cũng để tránh nhìn cái chợ với những cảnh ăn uống, những dãy nhà chứa, những người khách đến giờ mới dậy về, và những người con gái ốm yếu vàng vọt đến giờ mới ra các hàng quà... Nhưng một hình ảnh khác liền vụt ngay đến. Thanh vội gục mặt xuống cái mũ, mở hai ngón tay nắn nắn hai thái dương, thở dội một tiếng.

Thanh vừa gặp mẹ. Mẹ Thanh ở trong ngõ 71 đi ra, so súi chiếc nón để giấu giấu rổ thịt lậu thuế và cũng giấu cả mặt mình.

Ngõ 71 cũng có một nhà thổ và nhà này mở cả tiệm hút. Một tiệm hút nữa ở ngay trước cửa nhà này với những khách hút chỉ hút thứ thuốc nấu bằng các thứ sái sảm, giẻ lau bàn đèn và cao các dọc, tẩu, xe, lọ... Cũng có người không hút mà uống. Họ uống cái nước nấu với giẻ lau, với các mảnh dọc, tẩu, xe, lọ nọ chế thêm rượu gọi là nước "cam lồ". Phần đông là những người làm xe kéo, làm phu bắc tê, ba gác. Có cả bọn ăn cắp con cá lá rau ở các chợ hay boóng xẩu ngoài Sáu Kho và ở bến tàu Quảng Đông...

Thanh gặp mẹ ở nhà cụ Coóng trong ngõ 71 đi ra. Người khách bạn già của cụ Ước này bây giờ đã lòa, hai chân lại bị liệt. Cụ ở nhà trông nhà cho đứa con dâu đi làm bên Xi măng và người con gái đi dệt khăn mặt ở bên phố. Hơn tuần nay với đồng bạc của bà Chính dúi cho, mẹ Thanh buôn lại thịt của mấy hàng thịt lậu dưới làng đi bán lẩn lút ở các xóm các ngõ. Mẹ Thanh sang cả phố Hạ Lý này mà như lời mẹ Thanh nói thì lại bán hàng dễ hơn cả mọi chỗ. Khách hàng của mẹ Thanh là các chú khách, thím khách, họ hay mua thịt lợn to và mua mỡ, ăn ngay cũng có, để phơi khô, làm thịt mặn cũng có. Những người vợ phu xe, phu bắc tê, làm gỗ, làm gạch cũng mua nhưng chỉ một hai xu mỡ để xào nấu mấy bữa, hay năm ba xu thịt nạc về rim cho con...

Trông thấy mẹ, Thanh đã toan quay mặt đi và rẽ vào cũng một cái ngõ cạnh đấy. Nhưng rồi Thanh cứ đi thẳng đến với mẹ.

- Con chửa sang bên Xi măng à?

Thanh sực đến gần, làm mẹ giật mình nhìn lên, luống cuống hỏi. Thanh nhìn mẹ mặt giá ngắt, cái áo nâu thắt vạt phần phật trước gió, cổ ngẳng ra thở khò khè, khò khè.

- Mẹ bán sắp hết chưa?

- Chỉ còn cái chân giò và mấy lạng mỡ. Về bán cho mấy nhà quen trong xóm Máy nước hai vòi và ngõ ông Đồng lùn là hết. Hôm nay cũng chỉ cất lại hơn đồng thịt thôi. Buổi mai thôi không buôn cái tang chân giò này nữa...

Chỗ mẹ con Thanh đứng nói chuyện ở trước cái lò bánh chưng rán của một bà khách già. Mùi bánh chưng xèo xèo trong cái chảo to nhoáng mỡ đã thơm ngậy lại còn những tia lửa ở bếp than vờn lên hơi nóng bốc ngụt. Những người ngồi sưởi và cả những người ở hàng nước bên cạnh đều sáng cả mắt lên nhìn những miếng bánh lật đi lật lại đã vàng sém trên chảo mỡ và những tia lửa kêu reo reo leo cả lên miệng chảo. Toàn những người ngồi chầu hẫu công việc ở mấy cái tràn và bến đò gần đấy. Chẳng ai ăn uống gì cả.

Mẹ Thanh tần ngần:

- Bây giờ mới chín giờ, con ăn chiếc bánh nhá?

Thanh lắc đầu. Mẹ Thanh thụp xuống rồi lại đứng lên. Thanh còn giữ lấy cánh tay mẹ thì bà đã xiên hẳn chiếc bánh với cái que tre vạt nhọn đưa cho Thanh. Bà nói run cả người:

- Con ăn rồi chiều về sớm ăn cơm.

Thanh vội cúi xuống. Thanh rút chiếc bánh đặt lại lên mặt chảo xèo xèo bốc hơi.

- Chiều con về sớm, nhà thổi cơm ăn mà.

Nhưng mẹ Thanh lại xiên chiếc bánh, và bà khách già đưa vội chiếc đĩa với chiếc bánh vào tay Thanh:

- Ăn ly... ăn ly... Peéng noóng noóng ngon lớ... Ăn ly... ăn ly... một xu một peéng thôi lớ...

Mẹ Thanh lại xiên một cái nữa. Lần này bà cùng ăn với Thanh. Bà ăn một nửa bé, chỗ sém vàng và nửa to phần Thanh. Từ ngày ra đến đất Hải Phòng, giờ bà mới dám biết mùi quà và mẹ con ăn quà với nhau.

- Chiều nhà thổi cơm sớm đấy. Con về sớm nhé!

Mẹ Thanh úp nón vào cái rổ cắp đi, xo ro lấm lét, đi men mén ở bên hè. Người bà đã bé nhỏ càng lúi xúi hơn. Gió thổi như muốn rứt ra khỏi bờ hè cái thân hình gày gò và đẩy dập nó xuống đất... Không biết nghĩ ngợi ra sao, Thanh chạy vội theo mẹ sang cầu. Nhưng khi bà đến chợ Ba Ty, và Thanh sắp xuống dốc cầu thì Thanh đứng lại. Thanh trông theo mẹ thêm giây lát rồi quay lại. Chiếc áo lót Thanh mặc trong chiếc áo tây vàng bị gió tốc hẳn lên, như để cả một tảng nước đá thúc vào giữa ngực. Thanh xuýt lên một tiếng, đến giờ mới thấy rét. Đôi guốc Thanh mòn quá, gót chân chìa ra, thỉnh thoảng lại bị những đá dăm kẹt trong guốc đâm lên vừa ngứa vừa nhức. Bước trên cầu, giẫm phải những đầu nhọn của những đinh tán đã gỉ gãy và những thanh sắt cờn lên lởm chởm, Thanh càng thấy ghê cả chân. Nhưng vẫn không bằng gió. Mũi Thanh tắc nghẹn, buốt xộc lên tận óc. Ngực thì chói tức. Vai mỏi ê ẩm và cũng lạnh buốt. Tiếng cành cạch ở những đám thợ chữa cầu và ở hai chiếc sà lan sửa chữa bên bờ sông đánh lọng thêm vào trong đầu óc Thanh.

Qua cầu, Thanh đành lại phải ngồi xuống dưới gốc bàng và hòn đá mọi khi vẫn nghỉ. Thanh tưởng sẽ không còn có thể đứng dậy được nữa.

Hôm nay lại có người hẹn tìm việc cho đây. Nhưng liệu có kết quả không. Hay rồi lại một hẹn khác? Một hẹn khác lại phải chờ đợi hàng tuần hàng tháng, cũng lại qua lại ở những quãng đường này? Mọi khi qua cái gốc cây và chỗ ngồi này, Thanh lúc giở về cũng mệt nhọc và buồn nản, nhưng hễ sắp đến hàng cụ Ước là Thanh lại thấy bớt hẳn đau khổ. Rồi khi Thanh ngồi xuống bên ông cụ, ông cụ rót nước cho uống, lấy khoai lấy kẹo cho ăn, Thanh lại dần dần hồi lại tinh thần. Nhiều hôm Thanh và ông cụ cùng về nhà, ông cụ gánh giành nước và cái hòm kính, Thanh xách xâu bánh đa, rau hành và con cá, hai ông con vừa đi vừa chuyện, Thanh còn thấy nhẹ nhàng, vui vẻ hẳn lên nữa. Y như Thanh được đi làm về! Đi làm với cụ Ước vậy.

Nhưng cụ Ước mất rồi! Hàng để lại cho chị em Dâng mà thường là cái Ngọt đi hàng, còn Dâng thì cất bánh khúc nóng đi bán tối với thằng La. Chỗ ngồi dạt vào mãi trong ngõ. Cái chỗ cũ giờ treo một miếng vải to vẽ một bàn tay xòe ra và một mặt người vuông chằn chặn, chằng chịt những đường ngang nét dọc, những chữ Nho viết bằng mực Tàu và dạm thêm son. Cái lão thầy tướng này nghe đâu có người làng làm đội xếp ở bóp đầu cầu. Khi cụ Ước vừa mất thì lão đương ở gốc cây bên kia đường, ôm ngay chiếu, tráp sang xí phần. Lão cũng già nhưng mắt sáng như mắt vọ, đeo một cặp kính lão gọng đồng mà bất kỳ người chưa đến tuổi nào đeo cũng được. Tóc lão đen, cứng, cợp lên. Râu chuột. Lúc tán quẻ cho khách thì như khướu hót, còn chèo kéo người xem thì y như mấy hàng kẹo kéo và mấy thằng ba que ở cổng chợ. Cạnh lão thầy tướng là một hàng thịt bò khô. Gã bán hàng tóc gọng kính, răng vàng, lúc nào cũng tanh tách chiếc kéo. Và hàng bánh rán nhân thịt của một chú khách. Chú này cũng hen suyễn như mẹ Thanh, nhưng chú vẫn còn con bé. Thanh chỉ thấy con chị cõng con em, thằng nhớn dắt thằng bé ra hàng chứ không thấy vợ chú đâu. Bánh rán bằng dầu lạc khét mù. Dấm tỏi nước mắm nồng nặc. Kẹo kéo và bánh rán chuyên bán cho trẻ con ở trường học trong ngõ. Lão thầy tướng lúc nào cũng nhấp nha nhấp nhỏm nhìn vào hàng bánh rán như trẻ con ấy. Sáng, trưa, chiều, lúc nào lão cũng uống rượu, nhắm với bánh rán mà lão ngốn rau và húp nước mắm dấm cứ vung vãi cả ra râu, cả ra cái khăn điều quấn lòng thòng ở cổ.

Một tháng nay Thanh chỉ đến hàng Ngọt có hai lần. Nhiều khi đi qua, ở bên kia đường, Thanh không dám nhìn sang cả ngõ nữa.

... Gió vẫn ù ù bên tai Thanh. Sóng đập vào hai bờ sông Tam Bạc, bọt trắng chồm chồm tưởng như ngoài nước xanh. Tiếng máy chạy rào rào của khu Máy chỉ và tiếng đóng thuyền, ca nô, sửa chữa máy móc của mấy xưởng máy ở chung quanh đấy dần dần bị tiếng sóng gió át đi. Trên đầu Thanh, bầu trời càng thấp xuống, mây như chì như đá. Khi mấy cái thuyền Trà Cổ dỡ xong củi và chiếc cầu quay mở lối, thì quãng bến ở hai đầu cầu hoàn toàn vắng ngắt, chỉ còn trơ lại chiếc tàu bỏ hoang của hãng Xôpha, mái đã sụp, hà hến lỗ chỗ bám lên cả hai càng bánh guồng.

Thanh quay lưng, ngả người vào gốc cây, nhìn ra cửa sông. Những tầng lò, những ống khói bên Xi măng và những cột buồm, những ống khói tàu, những cột vô tuyến điện ngoài Sáu Kho trông càng nghiệt ngã dưới những lớp mây đen vần chuyển nặng nhọc dồn dập.

Hôm qua Sáu Kho có hai tàu to về. Những ống khói như những cột đình tầm đại dương lừ đừ nhả những vờn khói bị gió thổi dạt hẳn đi. Thanh lại nghĩ đến những cái điếu tẩu thuốc lá ngậm ở bên mép những ông đốc công và sếp máy, ngồi mặt lạnh lùng thờ ơ trước tất cả những người thợ kêu van vì bị giãn, bị cúp phạt và những lá đơn xin việc. Những ống lò bên Xi măng cao hơn, to hơn, khói tuôn mù mịt cả một vùng. Nhà máy Xi măng đấy, chốc nữa Thanh sẽ gặp Cam và người quen của Cam ở đây để hỏi việc. Quang cảnh đây có vẻ sầm uất hơn, nhưng cho đến giờ Thanh vẫn thấy đối với Thanh bằn bặt, khó khăn vô cùng.

A! Hải Phòng mơ ước, hy vọng của Thanh! Hải Phòng Thanh đã nói với mẹ: "Mẹ con ta cứ ra ngoài ấy là sống được!".

Hải Phòng nhà máy, xưởng thợ không nhớ xuể! Có chỗ cu li, thợ cai ký hàng sáu bảy nghìn. Trẻ con cũng làm ra tiền: đẩy xe bò, đội than cũng kiếm được hai ba hào một ngày. Không làm đâu thì ra vớ vẩn ngoài Sáu Kho boóng xẩu với các phu ở kho gạo, kho thuốc bắc, ở dưới tàu, hay sang sở Xi măng sàng than xỉ bán cho hàng phố, hay ra bến tàu Nam, phố Khách quét gạo đỗ rơi rụng, hay xuống Đống Nổi bới rác nhặt sắt vụn, mảnh chai, lông vịt... xoay giở đâu cũng ra tiền. Bữa ra thì ngày dăm ba hào! Không có cũng đủ đong gạo cho nhà. Ấy là cùng mạt mới phải làm như thế. Chứ có chữ nghĩa văn bằng mà cạy cục được công việc thì... Ngày ngày Thanh hết sang Xi măng lại xuống phố Cầu Đất, nhà hát Tây, phố Bônbe, phố Khách, chợ Sắt. Nơi kích thích vời gọi Thanh nhất là Sáu Kho, bến Bính và phố Bônbe, phố Khách. Chao ôi! Cửa biển sao mà to mà đẹp thế này? Những chiếc tàu hiện ra ở trên sông sừng sững, nguy nga còn hơn cả những lâu đài. Lại còn tàu chiến nữa mới lạ chứ! Súng thần công tua tủa. Lính thủy da đỏ như da gà chọi, quần áo mũ lại đẹp quá sức lẽ mình. Còn hai khu phố Tây phố Khách kia! Sao mà vàng bạc, lụa là, pha lê, sứ, len dạ, đồng, sắt, máy móc hàng hóa nhiều đến thế, không còn biết bao nhiêu thứ, ước lượng được bao nhiêu tiền! Nguyên một khu thôi mà có những ba tòa nhà băng và ba nhà ôten, ba rạp xinê. Không kể có những cửa hàng rộng còn hơn một dãy phố!

Làm sao mà lại không có một chỗ để làm và sống ở đây?

Đúng đấy! Hải Phòng đâu đâu cũng có việc, nhưng người lại nhiều hơn việc. Những người tìm việc, xin việc, chờ việc, không tỉnh nào, vùng nào không có. Nhiều người đã chầu chực hàng mấy năm rồi. Họ cũng không còn chỗ nào nương tựa, không còn thứ gì cầm bán, không còn biết xoay giở cách gì được nữa rồi. Lắm người đã thành ăn mày, ăn nhặt, trộm cắp vào tù, bán thân bán xác đi Tân thế giới, đi Đất đỏ cao su rồi! Còn tiền... bòn nhặt cái gì cũng ra tiền đấy, quét hót gạo đỗ rơi rụng, bới rác sàng than, đẩy xe, gõ sắt ngày được một hai hào... nhưng nào tiền nhà, tiền vệ sinh, thổi một bữa cơm tiền củi có khi bằng cả tiền bữa gạo, hột nước phải thuê, bẩn bức quá, tắm ao tắm hồ cũng mất một xu trả cho nhà chủ, tắm giặt ở bến sông thì bị phạt. Và thuế... ngoảnh đi ngoảnh lại đã hết một năm, lại hai đồng rưỡi bạc thẻ thuế thân. Giời ơi! Hai đồng rưỡi bạc một cái thẻ mà gạo máy Sài Gòn tải ra chỉ có đồng rưỡi một tạ... Toàn những việc phải tiêu tiền! Không tiêu không được. Không có tiền không được! Vì vẫn phải ăn để sống. Trần truồng rách rưới còn có thể được chứ không ăn không được. Nên nhiều khi muốn ăn để sống người ta chỉ còn...

Thanh bật hẳn lên thành tiếng nói. Thanh rít tiếng trong hai hàm răng:

- ... Chỉ còn cách xông đến giật lấy ví tiền cắp ở nách những con đầm. Hay đón những thằng chủ Tây, những thằng má chín khách lĩnh tiền ở nhà băng ra mà cướp lấy cặp. Hay vồ lấy những tập bạc giấy còn gắn xi chồng từng chồng trước cửa tủ két nhà Đétcua Cabô, Thy San, Đờvanhxy, Thuận Thái ngày phát bạc... Chỉ có thế! Phải đến thế!

Tâm tưởng Thanh đen sầm lại. Trước mặt Thanh, chung quanh Thanh, như có những đỉnh núi, những ngọn thác, những tầng nhà, những đoàn tàu, những đầu máy, những lò nung, những ống khói, những nhịp cầu tung lên ầm ầm sụt đổ. Trong những đám gạch ngói, than sắt, bụi đen và mạt lửa này cháy ngụt lên và tan tành hết những hình ảnh mơ ước nâng niu của Thanh.

... Ngày ngày Thanh dậy cùng những người trong xóm đi làm. Thanh làm chấm công biên chép ở Sáu Kho, hay làm thợ xếp chữ, sửa bài ở nhà in, hay làm chấm dầu, phụ lò ở dưới tàu, ở sở Xi măng... Trưa Thanh ăn cơm nắm nghỉ lại ở nhà máy, ở kho hàng với anh em. Chiều tối về, mẹ thổi cho bữa cơm nóng sốt. Ngày đi làm, tối khuya học. Từ bảy giờ đến mười một hay mười hai giờ. Thanh học, làm bài theo chương trình "Thành chung" của một học san rồi gửi về nhà báo kèm theo tem giả nhời để chấm. Được công ăn việc làm chắc chắn, dần dà Thanh sẽ theo hẳn một lớp học tối dù phải trả một nửa hay hơn nửa số tiền lương, Thanh cũng vui lòng. Cốt nhất người giáo sư bảo Thanh học là một người yêu nghề, biết thương kẻ học trò nghèo mà có chí. Nếu lại còn được người nọ quý mến thân thiết thì Thanh sẽ không còn sự an ủi, sung sướng gì bằng. Thanh không phải chỉ gọi họ bằng "thầy" hay bằng "anh" mà sẽ coi họ như là ruột thịt của mình. Học như thế, bốn, năm năm Thanh sẽ thi tú tài. Đỗ càng hay, không đỗ Thanh cũng có một vốn học thức khá. Thanh sẽ tìm những người cùng cảnh, dạy lại những điều Thanh đã học, đã suy nghĩ. Họ và Thanh sẽ như là những anh em kết nghĩa, cùng nhau trau dồi cả trí tuệ, đạo đức để cùng tìm một con đường đi cho có ý nghĩa. Con đường đi ấy sẽ đến những cảnh không còn những nỗi đói rét, khổ sở; không còn sự giàu sang, xa xỉ; không còn những cái đè nén khinh miệt, trừ bỏ hết những kẻ quyền thế, gian ác. Những cảnh xã hội không còn ai nghèo hèn, cực nhục và cuộc sống đen tối!

Những mơ ước, khao khát bao năm của Thanh đấy! Kinh thánh chúa Giêsu dạy, nát bàn của Phật tổ Như Lai, thiên đường, địa ngục vân vân... ngay từ thuở bé Thanh đều đã không tin, mặc mẹ Thanh, mặc mọi người cầu khấn. Nhưng lâu nay, Thanh không những không tin mà còn oán ghét, hờn thù nữa. Những ảo ảnh tôn giáo và đạo đức ấy Thanh càng thấy chỉ là lừa dối. Chỉ có những điều lý tưởng và những cảnh tươi sáng trên kia mà Thanh nghĩ ra và láng máng nghe nói, láng máng đọc thấy trong vài cuốn sách thì mới thật là hạnh phúc, công bằng, bác ái thôi! Thanh càng khổ bao nhiêu, càng ngoi ngóp với những người khổ cực như Thanh hay còn khổ cực hơn Thanh bao nhiêu, Thanh càng thấm thía với những điều ấy, với những cảnh phác tưởng ấy... Nhiều lúc Thanh đã phải nghĩ tới không có cơm ăn áo mặc thì Thanh chết. Nhưng có cơm ăn áo mặc mà Thanh phải vùi dập những lý tưởng và mơ ước thì Thanh cũng không thể sống được... Nhưng nay... tất cả... tất cả... chỉ còn là tuyệt vọng... Đời sống đã đến bước cùng tận rồi trên cái đất xa lạ khó khăn, buồn thảm này! - Có lẽ ta bị quỷ ám nên mới nằng nặc đòi mẹ ra cái thành phố này chăng? Có lẽ lúc ta nhìn thấy sự sầm uất, dễ dàng, no ấm của nó là lúc ta đi trong cơn mê lú, hai chân không phải của ta đi, hai mắt nhìn không phải của ta nhìn, mà bên tai ta là gió của hồn ma, tiếng quái thì thào chăng?

***

Nhưng còn chuyến này để hy vọng. Thanh sẽ cố sống thêm một ngày nữa. Ngày hôm nay và cuộc hẹn này! Giờ cũng đến chín giờ, chín rưỡi rồi đây!

Thanh đứng dậy, đi lên đường nhà máy chỉ, để xuống đò sang bên Xi măng với Cam. Gió sông Cửa Cấm thổi vào càng như bão. Bụi đường và lá cây quằn lên mù mịt. Sau những phút bàng hoàng chưa bao giờ từng thấy, đầu óc Thanh ê hẳn đi, rần rật, nhức nhói. Phía ngực bên trái cũng thế. Thanh phải vừa đi vừa day day xoa xoa ngực. Chiếc mũ đội sụp trên đầu Thanh chợt bị gió tung đi. Một tiếng còi ô tô rít vang. Bánh xe sạt qua mặt Thanh. Thanh nhảy bổ lên hè, dụi dụi mắt, mãi sau mới chạy nhặt mũ. Rồi Thanh rảo bước để xuống đò.

Từ đằng xa, Cam trông thấy Thanh xớn xác tìm mình thì bắc loa tay gọi và lấy khăn bông bịt đầu vẫy vẫy:

- Đây cơ mà! Đây cơ mà! Cậu Thanh ơi!...

Chiếc đồng hồ ở cửa nhà giấy chỉ đúng chín giờ. Cam cười thầm:

- Đúng hẹn đấy! Nhưng sao hôm nay lại càng như người mất hồn mất vía thế kia?! Không hiểu khi xin được việc thì những việc như bốc đá hay xúc bột dưới gầm lò có kham được không? - Cam lắc đầu - Đến chết đói vì chữ với nghĩa, vì kinh với kệ thôi!

Trước cái cười miệng bĩu bĩu của Cam, Thanh lại thấy khó chịu như những lần trước. Hai người vào chuyện cũng lại ngượng ngập. Tuy ở trước nhà Cam, biết nhiều việc của gia đình Cam, của Cam và cũng rõ được phần nào tính nết của Cam, nhưng Thanh vẫn ít nói chuyện với Cam. Mấy lần cùng nhau đi đường, ngồi với nhau ở bờ hè, ở ghế vườn hoa, Thanh đã gợi chuyện thì Cam đều bắt nhời một cách chủng chẳng, rồi khi chuyện, Cam lại thường có những câu đâm ngang, hay ngược hẳn ý Thanh. Trong khi ấy đối với mấy người bạn trên phố, tuy Cam chẳng thân với ai, nhưng Thanh thấy Cam thật là xuề xòa. Thanh đã cho rằng khó mà đánh bạn được với cậu hàng xóm lấc cấc, ngạo ngược này, vì Thanh còn cảm thấy thêm một điều này, là đối với gia đình Thanh, Cam cũng có vẻ xét nét, rất dè dặt nữa.

- Không thể giữ miếng với Cam và quá để ý đến cá tính một người còn trẻ hơn mình, sống một hoàn cảnh khác mình được!

Thanh đã phải kết luận như thế. Nhưng sau đó, một lần vào sáng chủ nhật, một lần vào buổi tối đấu quyền Anh, Cam lại đi chơi với Thanh và đã bắt chuyện Thanh. Rồi có kỳ tiền Cam mời cả Thanh ăn phở. Thanh không thể chối từ được. Một buổi khác, ăn phở xong lại còn đi uống cà phê pha túi ở hàng cà phê bờ hè. Thanh đã hối hận mình vẫn không chịu khó nhận xét kỹ những người chung quanh, nhất là những kẻ như Cam, và Thanh vẫn thiếu sự cởi mở rộng rãi, đến trước và ôm trước lấy bạn.

Hôm qua, cả Cam và Gái đen lại sang nhà Thanh. Gái đen cho Thanh biết tin có nhiều tàu lại đến Hải Phòng ăn xi măng. Nhà máy bên ấy đương lấy thêm người. Gia đình Gái có một người làm ở lò nung thân với cha Gái, Gái đen và Cam vẫn gọi là chú Sấm. Gái đen và Cam đã nói với chú Sấm để ý xin việc cho Thanh. Chú Sấm nhận nhời, hẹn hôm nay Cam dẫn Thanh đến.

Thanh không dám vào chỗ Cam làm, cứ đứng ở chỗ thuyền than đỗ. Cam kéo tay Thanh. Thanh chùn người lại:

- Chết! Để chốc nữa nghỉ tầm Cam hãy đưa tôi vào. Cam đương làm đá mà!

- Việc gì mà chết! Ở nhà máy đến đá đè, goòng đổ, tường sập còn chả chết nữa là... Còn bỏ việc đi, có gì thì chỉ đến bị đuổi. Tôi đưa Thanh đến gặp chú Sấm trước tầm về cho tiện. Lúc tầm về túi bụi lắm!

- Thế tôi vào hẳn chỗ ông Sấm làm?

- Chứ sao?

- Tôi có thẻ đâu mà vào nhà máy?

- Vẽ! Có vác hẳn "xy lô" hay lò số 5, quả gang nghiền đi, Tây nó bắt gặp mới sợ. Kìa, bỏ bố hai thằng bây giờ!...

Cam nắm tay Thanh kéo Thanh nhảy té qua đường sắt, vừa lúc mấy tảng đá cuốn lên "máy hập" bật tung ra khỏi "băng", choang choang lao xuống đường sắt vào cả xe goòng. Quay lại nhìn chỗ mình vừa đứng hoắm xuống như trôn cối, Cam cười:

- Tí nữa lại mất cái để đội mũ.

Thanh sững người ra. Cam lay lay vai Thanh, càng cười to hơn.

- Vào chỗ ông Sấm còn xa không? - Thanh vừa hỏi vừa quay lại nhìn mấy hòn đá lỏng chỏng đằng sau mình. - Thế Cam dẫn tôi đi, đương làm bỏ việc à?

- Buổi nay tôi nghỉ.

- Kìa! Sao Cam lại nghỉ!...

- Nghỉ là nghỉ chứ sao! Ở đây làm hôm nào thì biết hôm ấy. Chỗ nào làm biết chỗ ấy. Đến như bên nhà máy Xi măng đen mấy năm mới xây xong, đương chạy rầm rầm thế mà đùng cái nghỉ, rồi bỏ hoang đây kia, nữa là!...

- Nhà máy Xi măng đen bên kia ấy à?

Thanh hỏi và lại nhớn nhác quay lại trông, Cam bá lấy vai Thanh:

- Thôi đi!...

Càng vào sâu khu nhà máy, Thanh càng hồi hộp. Giời đất khác lạ hẳn đi. Ngoài kia sông Cửa Cấm, cửa sông Dế và cả sông Xi măng nữa, nước đã xanh biếc, sóng đập làm rập rình cả những thuyền đinh, thuyền mành to như những chiếc tàu. Nhưng tất cả cột buồm, ống khói của những thuyền những tàu đỗ dưới sông so với những lò, những tầng nhà máy thì vừa thấp bé, vừa mỏng manh, như ở dưới chân những quả núi, mà than bụi và một cái lò hay tầng máy nào đấy phụt vỡ ra, thì đây sẽ thành như hỏa diệm sơn động lửa. Dãy núi Yên Tử phía xa và dãy Tràng Kênh gần trước mặt cũng chỉ sàn sàn với những đỉnh lò, những tầng máy ở trên đầu Thanh thôi.

Cam làm ở khu Máy đá liền với khu Thuyền đất. Những đống đá bốc ở dưới thuyền lên và những đống đất quật từ dưới sông vào, cũng chất ngất như đồi, như núi. Người làm thuyền đất chỉ đóng khố. Ai mặc quần đùi thì quần chỉ còn là những manh vải tướp ra. Người nào người nấy nước rỏ tong tong từ trán xuống mặt, xuống ngực. Lấm cả bùn nữa. Tóc tai đều bê bết bùn. Lưng, ngực, bụng, chỗ nào khô thì bùn đóng sần sùi như vảy; chỗ nào ướt thì đen nhờn đen nhụa. Người đào đất xúc vào thúng, người đội đất đổ vào goòng, người đẩy goòng chuyển vào máy, da thịt mặt mày ai cũng tái nhợt, bùn đất cóc cáy, hơi thở lòa nhòa, xuýt xoa run không được. Trông những người làm than lem luốc đã thấy cực, nhưng nhìn những người làm đất rúm ngực lại ở dưới sông và thở ra như khói thì Thanh không thể nào tưởng được.

Nhưng chỗ làm đá của Thanh phần gay gắt nguy hiểm lại còn hơn. Những đá hộc và đá củ đậu đều lởm chởm những cạnh sắc, những đầu nhọn. Không có gì bao tay, bao chân. Cứ tay không mà sục vào đá. Cứ chân không mà chuyền trên đá. Lấy đá ở trên đống lao xuống đường. Rồi bốc đá vào các goòng. Nhiều người vừa xoa bóp cùi tay, mắt cá, ống chân, đầu gối, vừa nhảy lên thon thót mà vẫn cứ phải quanh ở đống đá. Đá như búa, như dùi, ầm ầm, túi bụi. Goòng chở đá sầm sập trên đường sắt. Đá cuốn trên "băng", đá đổ vào máy hập kêu lục cục, rau ráu. Luôn luôn có những tảng bật ra ngoài cùng lúc máy chuyển rùng cả mặt đất.

Vừa ra khỏi khu Máy đá và Thuyền đất, Thanh đương choáng váng thì ho sặc lên. Một luồng bụi than và bụi xi măng từ Nhà điện và Lò nung tạt lại đen rầm cả trời đất. Mọi người quay cả ra ngoài sông. Kẻ nhắm mắt, người chúi vào nón. Có người vừa ho rũ vừa rủa trời rủa đất rủa cái thân mình.

- Cha tiên nhân nhà nó, cũng là cha mẹ đẻ ra, sao người thì nhàn hạ sung sướng mà mình thì lại thế này?

- Bà gí vào mà làm nữa! Xe với pháo thế này thì đẩy mẹ nó xuống sông...

Chiếc goòng của hai bà nọ bị cặm. Một bà bụng chửa bị xe thúc lại, ôm bụng, nhăn nhó chửi. Một anh con giai đương đẩy xe phải bỏ xe đấy, lấy đòn bẩy bẩy hộ. Cả bọn cu li đàn bà xúm lại chiếc xe, quằn cả người, nhăn nhúm mặt mũi, nào hò, nào hự để bốc bánh xe vào lại đường sắt mà không được. Chiếc xe đã xộc xệch, gạch và xi măng vón hòn lại chở đầy, bánh xe lại thụt kẹt vào một cái rãnh. Nhưng chả nhẽ lại đổ gạch đổ xi măng ra đường. Bốn xe sau đã đến. Những người đun xe ngồi phệt xuống mé tường máy, vừa run vì gió rét, vừa thở dốc và ho rũ vì nhọc, vì bụi.

- Nếu xin được việc thì mình làm ở đây đây! Mình sẽ đi xe với Cam, không thì đánh bạn với một giai cùng xóm cũng được. Làm ở Máy đá, Thuyền đất, Lò nung đều gay cả. Gay hơn làm ở Sáu Kho nhiều! Nhưng có người có ta. Miễn là xin được việc!

Thanh tự nhủ, Thanh còn cố quay lại nhận xét chỗ bốc đá, bốc đất, và chỗ những xe goòng chuyển gạch, xi măng tả, đặc biệt là chỗ chiếc xe bị cặm. Cam vẫn dìu tay Thanh. Qua mấy chặng đường dưới có luồng điện nặng cắm những chiếc biển vẽ hình đầu lâu với hai khẳng xương trắng giao nhau, Thanh nắm chắc nữa lấy tay Cam, đi rón ra rón rén! Cam lại phải cố nhịn cười ái ngại thêm:

- Đã bảo không thể chết được mà! Cứ đường hoàng mà đi.

Lại mấy chiếc xe goòng lao qua. Rồi đến những xe bàn xếp những tấm sắt to hơn cái giường và những mảng quả gang hai ba người ngồi lọt. Cũng vẫn đàn bà, con gái, con giai đẩy chung. Người nào người nấy mặt mũi đen nhẻm, quần áo rách bươm. Thanh còn đương tưởng tượng ra hình thù cái máy khi những mảng sắt kia lắp lại thì không biết to nặng đến thế nào và làm sao mà đưa lên bệ được, bỗng thấy nổi lên một thứ tiếng rì rì như của một dòng sông lũ về xoáy nước. Cùng lúc đó một làn hơi nóng át cả gió lạnh phả đến dần dần làm người Thanh nóng sực.

Thanh vội ngẩng mặt lên. Một lò sắt dài, to và tròn, quay lừ lừ, như cả một đoàn toàn những đầu máy xe lửa chuyển bánh rất chậm ở phía trên đầu Thanh. Thì ra những mảng sắt lắp thành cái lò quay này đây? Thanh còn đương tự hỏi thì thấy không phải chỉ có một quả núi sắt tròn và dài quay như thế, mà còn hai quả nữa cũng quay lừ lừ ở trên đầu mọi người. Hàng trăm người làm việc dưới gầm lò. Nào đẩy goòng, khuân vác, nào rèn sắt, nào quai búa, cắt tôn, xì điện. Thanh càng vào gần, tiếng ì ì càng như xé màng tai và hơi nóng càng rát hết cả mặt. Thanh đi thêm vào độ mươi bước, trên đầu Thanh rõ là có lửa chụp xuống. Thanh thở ngột ngạt vô cùng. Thêm vài bước nữa, Thanh thấy thật là lửa táp vào người. Lửa ở khối sắt xám xám kia đương cháy bỏng lên và đương tỏa xuống ngùn ngụt. Lửa ở những thứ như là gạch, vữa, than, sỏi đen, cát đỏ, lổn nhổn ở dưới đất bốc lên. Và bụi. Vẫn bụi than với xi măng nhưng nóng bỏng và rào rào thổi vào mặt Thanh.

- Cam ơi! Đây là lò nung phải không?

- Lò nung đấy.

- Ông nhà ta trước cùng làm ở đây với ông Sấm?

Cam gật đầu, nét mặt đương hơn hớn bỗng lặng đi, Thanh sực nhớ đến những chuyện của cụ Ước, của bác La và những bà hàng xóm nói về sự bắt bớ, tra tấn, tù đày của cha Cam. Thanh hối vì câu hỏi vô ý của mình. Chợt từ trong gầm lò nhô ra hai cái xe goòng chở gạch và xi măng tả. Thấy những hòn gạch bám bụi xi măng xôm xốp như cục bột, Thanh sờ xem, tay Thanh vừa động đến hòn gạch liền rụt ngay lại. Luống cuống, Thanh vịn lấy thành goòng. Cũng lại như điện giật, Thanh nảy tay lên. Cả gạch vỡ, xi măng tả và thùng xe đều nóng cháy. Trong khi ấy, một người đàn bà Tàu bụng chửa vượt mặt và một người đàn bà ta đã có tuổi vẫn phải bám lấy xe, lót tay bằng miếng bao tải rách, ì ạch đẩy xe ở gầm lò ra.

- Con dâu cụ Coóng cũng đẩy goòng ở lò nung? Không hiểu dạo cụ Ước làm ở đây thì cụ ở trên máy hay làm dưới gầm lò?

Người đàn bà Tàu ngước nhìn Thanh, ngờ ngợ. Chiếc xe của y đi ra thì tiếp theo một xe khác. Hai người đẩy xe. Một người con gái cũng bé nhỏ như Dâng, đầu tóc trắng bụi, mặt mày như người bạch tạng, quần áo không còn chỗ nào lành, và một người con gái chỉ mặc cái quần đùi, đầu cũng đội cái miếng giấy bao xi măng đụp lại làm nón. Người con gái đến chỗ dốc thì nhoài ra, mắm môi lại:

- Hự... hự... cố lên nào! Cố lên nào!...

Chiếc xe chỉ rình trụt xuống. Thanh nhíu mày lại:

- Một xe chở như thế này thì mấy tạ? Lạnh giời ở đây còn nóng thế này, mùa bức làm sao chịu nổi?

Thanh chưa dứt câu, Cam đã phốc lại chiếc xe đẩy hộ:

- Hự, hự... lên nào... lên được rồi... lên được rồi!...

Quay lại với Thanh, Cam đáp, giọng hơi đổi khác:

- Vì cơm vì áo phải chịu tất. Không thế thì tìm cách gì ra cơm ra áo mà khỏi khổ thì đi mà tìm, mà làm...

- Cam bảo sao?

Cam đáp nhưng trở lại cái giọng vui và nhẹ như không:

- Thầy tôi trước chuyên xúc bột ở gầm cái lò giờ bỏ hoang kia kìa. Thầy tôi có lần nói đùa với u tôi: "Tao mà có chết xuống âm ty thì các quỷ sứ phải xin làm đàn em hết". U tôi hỏi sao vậy. Thầy tôi bảo: "Vì có cho quỷ sứ xúc bột ở gầm lò trong cùng chỗ tao làm chỉ một buổi trưa dạo tháng năm thôi thì quỷ sứ cũng nhăn răng ra mà chết!".

Nghe Cam nói Thanh lại nghĩ đến những nhà tù và Sở mật thám tên nghe ghê cả thịt mà các người như cha Cam bị giam cầm. Thanh còn bâng khuâng tự hỏi: "Ừ thì cha Cam đã trải qua cái cảnh nung nấu này, nhưng đến các nơi như Sở mật thám, Hỏa Lò, Côn Lôn kia thì làm sao mà chịu được, làm sao mà sống nổi?" thì Cam lại nắm lấy cánh tay Thanh kéo giật đi. Hai người qua một cái băng không chạy đá mà chạy những tảng, những viên gì đen đen cuốn qua đường. Bụi và những viên ấy giội xuống rào rào, có những viên bắn vào gáy Thanh như đạn bỏng. Đến dưới cái thang sắt bực lên xuống ở ngay cạnh đường, hai người đứng lại. Trên thang có tiếng gọi:

- Cam! Mày đưa anh ấy vào trong này cơ à?

Cam ngẩng đầu, che mắt để tránh bụi:

- Chú Sấm! Cháu đưa người đến học đạo ở hỏa diệm sơn của chú đây.

Sấm nhô ra ngoài cầu thang, mặt mũi, quần áo còn lấm láp hơn vì dầu mỡ. Cái mũ bác đội chụp xuống gần trán, tòi cả bấc, thứ mũ rộng vành như của lính Tây hay của cụ đạo sơn trắng. Thanh ngạc nhiên. Nghe tên thì tưởng là một người dữ tợn. Nhưng đây, Sấm người vậm vạp, gương mặt bầu bầu, cổ gáy béo ụ, đôi mắt rất hiền tuy sáng quắc hẳn lên trên gương mặt nhem nhuốc, da bì bì. Thanh bỏ mũ chào, hai tay ôm mũ, khép nép nhìn lên. Sấm cười, nháy mắt cho Thanh:

- Cậu cứ đội mũ không bụi! Cờlanhke (1)đổ xuống kia kìa...

Sấm cũng ngạc nhiên, thấy Thanh còn hiền lành hơn cả Gái đen và Cam tả người. Tuy vẫn còn là bộ học trò nhưng Thanh đã ra vẻ đứng đắn. Thật là một cậu giáo! Sấm chợt nghĩ đến hai thằng người nhà xếp máy đưa vào làm chấm dầu. Cả hai đều cấc lấc, nhãi con mà cũng phì phèo thuốc lá, chưa vào làm mấy ngày đã chuyện toàn "phất" con này "đá" con kia ở Nhà than, ở Kho bao, và nhòm ngó, nghe ngóng như kiểu sú doóc (2), mật thám ấy. Sấm tự nhủ: "Nếu được cả như thằng Cam hay nhà cậu này lên phụ lò thì nhẹ người và tốt cho mình bao nhiêu". Sấm hỏi Thanh mấy câu rồi bảo Cam:

- Được! Mày đưa cậu ấy ra chỗ cần cẩu ở cổng Nhà tháo chờ tao. Lò tao lại sắp "tớp" (3)rồi. Thằng Tây gấu nó đã xuống bàn giấy sạt ầm lên kia... Lại giở quẻ gì đây?

⚝ ✽ ⚝

[1] Cờlanhke: xi măng còn đóng hòn chưa nghiền thành bột.

[2] Phụ mật thám, chỉ điểm.

[3] Tớp: đứng lại, hỏng.

- Thế sao chú không cho nó ăn ít kẹo bu loong hay bánh gạch cờlanhke?

- Thôi thằng cướp! Mày đưa cậu ấy ra đi. Cứ chờ đấy. Đừng la cà đâu nhé.

Nghển nhìn về phía nhà giấy, Sấm cau mày, vẻ lo lắng:

- Cả Tây gấu hôm nay cũng xuống!

Cứ mỗi lần thằng Tây này xuống lò thì cuydơ, phụ lò, cu li không bị đánh bị phạt thì lại bị đuổi. Ba tháng nay, tuy xi măng ra gấp đôi hồi đầu năm, nhà máy lại phải lấy thêm người vào làm, nhưng chính đây lại là dịp để bọn cai bọn sếp xoay giở. Nhất là đương cái lúc mấy tàu ngoài Sáu Kho ăn vội xi măng, và nghe đâu sở lại sắp có commăng mới mà lò lại tớp thế này, bọn chúng lại càng được thể kiếm chác.

Thanh và Cam đi vội ra ngoài. Đến gần nhà tắm Thanh sửng sốt hỏi Cam:

- Thím khách sao lại thế kia?

Cam nhíu mày nhìn Thanh đi hẳn lại chỗ người con dâu cụ Coóng nằm sóng sượt. Những đàn bà, con gái, con giai ở mấy chiếc goòng chở gạch và cờlanhke đều xúm lại. Người đàn bà Tàu bụng chửa, mắt nhắm nghiền, mặt đỏ sần, miệng sùi bọt, hai tay dang ra cứ quật đi quật lại, hai bắp đùi co lên duỗi xuống cũng đập thình thịch xuống đất, cái bụng trắng căng lên, oằn oại. Người con gái bé nhỏ mà Thanh gặp ban nãy đẩy goòng và một bà có tuổi túm tóc thím khách giật giật, gọi:

- Thím Voòng! Thím Voòng! Dậy! Dậy! Dậy nào! Dậy nào!

Một bà già quét đường vẫn còn cặp cái chổi ở nách te tái chạy đến:

- Tôi có gừng đây. Ai có bát lấy gừng giã với nước tiểu xoa cho thím ấy. Nhưng xem xem bị cảm lửa hay giở dạ

đẻ đấy!

- Đẻ gì mà đẻ! Ban sáng nói chuyện, thím ấy bảo có gì phải cuối tháng sau cơ mà!

Bà cụ liền văng tục:

- Chúng mày thì còn biết cái gì! Năm kia thím ấy đã bỏ mất một đứa tám tháng rồi! Khiêng thím ấy vào trong nhà gạch kia...

Bà cụ quẳng cái chổi xuống một mé rãnh, gạt mấy người đàn bà còn cứ ồn ồn cãi nhau về những chuyện nên xoa dầu, hay không xoa dầu, cho uống nước hay không cho uống nước tiểu. Bà cụ sấn đến nới cạp quần lằn một vệt tím bầm ở bụng người đàn bà Tàu ra. Bà luồn tay vào, liền tru tréo:

- Cha mẹ ơi! Nó đóng đầu ở cửa mình đây rồi! Nước đầu ối vỡ đã ướt cả quần rồi! Khiêng đi! Khiêng ngay đi. Ra gọi xe cho thím ấy về nhà thôi. Không có Tây gấu nó đến, cả lũ lại ăn no móng giò của nó bây giờ.

Mấy người đàn bà cười rúc lên:

- Vỡ đầu ối rồi à!

- Chết, chết! Thế mà cứ cuối tháng sau mãi!...

Thanh nhìn theo đám người lếch thếch, kẻ dìu, người đỡ, người cầm hộ nón, áo, quang liễn cho người mẹ nọ. Than bụi ở bên nhà điện tạt sang càng mù mịt. Những quần áo rách và những bước chân cứ ríu lại với nhau vì gió thổi. Bà cụ quét đường đã vào nhà gạch lại quay ra, cặp cái chổi ở nách, chạy theo bọn người gọi:

- Mấy con mẹ nó ơi! Còn đôi giày của thím ấy đây này! Còn đôi giày đây này...

Bà cụ vừa gọi vừa giơ lên đôi giày to tướng bằng vải đen khâu tay, có lẽ chỉ có chân đàn ông hạng đại mới vừa, đã rách há cả miệng, chằng chịt bằng chỉ bao xi măng và cả dây thép nữa.

Thanh nức nức lên trong họng. Cụ Coóng cũng đi một đôi giày như thế. Sáng nay lúc Thanh gặp cụ, cụ đương sờ sẫm khâu một đôi nhỏ có lẽ cho con dâu.

Sấm đứng ở cầu thang nhìn theo mãi người đàn bà Tàu bạn cu li của mình nọ. Đầu óc Sấm như bị một cái kìm và là cái kìm đương đỏ bỏng ngoạm vào. Chỉ vì lẻ loi trơ trọi, không có tổ chức gì cả, chịu mãi sự áp bức nên mới thống khổ đến thế này đây. Thêm mãi thế này đây!... Tâm trí Sấm lại càng nung nấu. Sấm vào đến cửa lò, hơi lửa phụt ra rừng rực táp vào mặt mà Sấm vẫn không biết, không thấy gì cả...

Thanh và Cam ra cổng. Ở cửa nhà giấy của chủ nhì lại thêm một dãy ô tô nữa. Toàn những kiểu ở Mỹ mới sang. Có ba chiếc xe, mỗi chiếc chồm chỗm một con chó béc giê ở trên đệm, thỉnh thoảng lại nhô mõm lưỡi thè lè, nhìn láo lơ. Một chiếc cũng giống xe Thy San, chỉ khác là màu sơn đen, không có chó to mà có một con chó Nhật Bản to hơn con mèo, lông trắng mướt, mắt nhỏ như hạt cườm. Nó được mặc một thứ áo hở đầu, hở chân bằng nhung màu gio nhạt và đeo một cái vòng to như cái kiềng vàng con gái nhà giàu.

Cam đưa mắt gờm gờm nhìn, tự hỏi:

- Không hiểu chủ có việc gì mà toàn xe lạ, xe sang đến sở thế này? Cả xe chủ mỏ Hòn Gai, Lapíc, Đờvanhxy nữa.

Thấy Thanh cứ nghênh nghênh và chực đi thẳng đến bờ hè xe đỗ, Cam vội kéo giật lại:

- Đi sang bờ hè bên này kia.

Hai người ngồi ở một hàng nước chỗ thuyền than đỗ. Đây toàn khách tụ tập chuyện gẫu. Có người nằm ngủ ngay dưới gốc cây, đắp mấy cái bao giấy rách và úp nón che mặt, mặc kệ cả những cần cẩu và dây ba lăng chạy sầm sầm reo réo trên đầu. Đàn bà, trẻ con cũng nằm ngồi la liệt ở cả bờ sông để chầu gọi việc.

Cảnh bờ hè, bến sông, hàng nước, khách ngồi xổm, với ông cụ già bán nước cũng có tủ kính, vò ủ bao tải, lại nhắc Thanh nhớ đến cụ Ước. Con sông cụ đào từ ba bốn mươi năm về trước giờ đương vỗ sóng dưới chân Thanh. Cái nhà máy ông cụ làm từ ngày hàng năm mươi người phải kéo dây da cua roa để chạy máy điện, rồi ông cụ chuyển sang cũng đẩy goòng, xúc gạch, xi măng tả ở gầm lò, cái nhà máy mà ông cụ cũng bán bao nhiêu mồ hôi để sống nhưng rồi lại thấy chán nản, lại bỏ đi nơi khác, cái nhà máy mà cha Cam cũng làm từ ngày còn để chỏm đi gõ đinh và lăn thùng xi măng, rồi đến Cam mới mười sáu tuổi đầu cũng lại vào làm vất vả nguy hiểm - cái nhà máy lớn nhất của Hải Phòng ấy giờ đương nhả khói trên đầu Thanh, rung trời chuyển đất chung quanh Thanh.

Nếu cụ Ước còn sống làm ở đây hay bán hàng nước ở đây và Thanh xin được việc làm cùng với Cam thì hay biết bao! Dù lầm than nguy hiểm đến thế nào Thanh cũng lấy làm sung sướng. Sáng cùng Cam ra đi. Trưa, tối cùng Cam về tầm. Khuya, sáng sớm ngồi bếp ăn khoai luộc, khoai vùi nghe chuyện cụ Ước kể. Kể vào những ngày giở rét như ngày hôm nay, sưởi bên lửa những hôm gió đông sóng động như hôm nay.

Mới có mười giờ. Còn phải chờ những một tiếng rưỡi nữa mới tầm về! Trong người Thanh lại ê ẩm, bứt rứt vô cùng vì chờ đợi.

***

Chiếc xe tối tân giống kiểu xe Thy San, có con chó Nhật Bản mặc áo nhung màu gio nhạt đeo kiềng vàng là của Đờvanhxy.

Đờvanhxy lái lấy. Lúc y họp xong với chủ sở Xi măng và các chủ khác, y ra xe vừa mở cửa thì con chó con liền chồm ra, sủa rít lên. Y tát vào mõm con chó một cái khẽ, móc ở trong túi giấy bóng treo gần tay lái một viên kẹo sôcôla bọc sữa tung lên trước mặt con chó. Con chó nhảy, đớp rất gọn, như làm xiếc. Nó nhai kẹo ngau ngáu vừa nhìn chủ rồi lại sủa. Đờvanhxy tung lên viên nữa. Rồi y lại tát nhẹ vào cái mõm lưỡi còn lom lem nọ:

- Con Bạch Tuyết này! Mày hay yêu sách nhiều lắm! Tao nhượng bộ như thế là thôi đấy.

Chiếc xe vụt lên một cách bất ngờ. Nhiều người đẩy goòng và xúc than bổ choàng cả lên hè. Đờvanhxy nhìn lại đồng hồ đeo tay, gật đầu:

- Còn những nửa giờ nữa mới gặp Thy San. Tốt!

Thế là một phần trong công việc đã được tiến hành. Bây giờ chỉ còn một phần của ván bài chính. Theo thói quen mỗi khi làm việc đã lâu lâu hay xong một việc gì, Đờvanhxy lại phải gội đầu, rửa mặt và vừa ăn một món nhẹ, vừa uống rượu ngọt. Y lái xe về nhà, lên buồng rửa mặt trên gác. Trong khi y thay sơ mi khác, người bồi đã chực ở buồng ăn, dọn sẵn rượu, cam, lê và một món ăn nguội. Nhưng Đờvanhxy không ăn, bấm chuông gọi bồi. Y bảo lấy bao thuốc lá mới, rồi xuống bàn giấy xem qua tập hồ sơ những giấy tờ mới đệ lên. Vừa đúng 10 giờ kém 10. Chiếc xe lại vụt đi với con chó con nép vào lòng chủ.

Xe Đờvanhxy vừa tới, không cần nổi còi gì cả, cánh cổng nhà Thy San liền mở. Xe rẽ vào lối đi rải sỏi, hai bên trồng liễu và trắc bách diệp. Mũi xe vừa kề bên thềm, Đờvanhxy bước xuống, vợ chồng Thy San cũng vừa từ cửa phòng khách đi ra.

Những cái nghiêng mình, bắt tay và những nụ cười rất thân mật, trang nhã như đóng kịch ấy. Ba người vào nhà. Đó là một gian rộng như sân khấu Nhà hát Tây, tường quét một thứ sơn kim nhũ và có chỗ bọc nhung, bọc dạ. Khi những chùm đèn pha lê ở giữa nhà và bốn góc bật lên thì lại còn lung linh rực rỡ hơn. Sáu chiếc ghế đệm bọc nhung, chiếc nào cũng rộng đến hai người to béo ngồi vẫn lọt, kê trên một thảm dạ chiếm cả một khoảng giữa nhà. Hai cụm bàn ghế nhỏ cũng bọc nhung và lót vải đăng ten, kê ở phía trong với bốn chiếc đôn gỗ lát, bày bốn chiếc thống sứ trồng hoa cúc trắng. Gần cái bàn to chỗ Đờvanhxy và vợ chồng Thy San ngồi, có một bình pha lê cắm hoa lay dơn hồng. Những bông hoa lả xuống trước mặt người nhìn như những lưng thon và gương mặt làm duyên của những vũ nữ kiểu cách. Phía sau lưng Đờvanhxy treo một bức tranh lụa màu, vẽ một thiếu nữ đương cười với một đóa hoa hồng hàm tiếu. Còn ở góc tường sau chỗ vợ chồng Thy San, kê chiếc đôn bày một bức tượng cẩm thạch tạc một con hươu và người thợ săn vùng núi nước Hy Lạp. Ở chỗ cụm bàn ghế nhỏ treo một bức sơn mài cảnh một hồ sen, một ngôi chùa đương mùa xuân hoa nở. Bên ngoài cửa sổ trông ra vườn, những lẵng phong lan treo lơ lửng với những chùm hoa hoàng anh. Hai lồng chim hoàng yến thấp thoáng dưới giàn hoa, cất những tiếng hót như nhạc rung.

Giáng Hương áo nhung the màu cánh chả, tóc cài một trâm hoa nạm toàn kim cương, ngồi tiếp khách. Y không đánh phấn, tô môi, nhưng vẫn thoảng cái mùi nước hoa mà cảm giác người ta chỉ bị chạm lướt đến cũng đủ say rợn.

- Ngài thượng khách của chúng tôi! Xin cho tôi cái vinh dự được tiếp nước ngài trước khi ngài vào chuyện công việc với nhà tôi.

Đờvanhxy lại càng ngạc nhiên vì giọng nói và cách nói bằng tiếng Pháp của Giáng Hương. Đã hai lần, trong hai bữa tiệc lớn của Đốc lý thành phố và của Phòng thương mại mời dự, Đờvanhxy đã được người ta cho biết qua về người đàn bà lộng lẫy vợ Thy San kia, và cũng đã được vợ chồng Thy San chào hỏi đôi câu. Tới nay, y mới được ngồi mặt nhìn mặt và nghe Giáng Hương nói trong một phòng khách có cả một sự chuẩn bị đón tiếp có mình y. Đờvanhxy cúi đầu, tươi cười:

- Còn gì hân hạnh hơn cho tôi trong buổi hội ngộ này lại có mặt một người trang trọng, đáng mến như bà Thy San. Cái ân huệ bà ban cho tôi, cho phép tôi chối từ sao được!

- Xin lỗi ngài Đờvanhxy, ngài cho phép tôi được biết rằng ngài ưa rượu ngọt và hoa quả. Nếu như thế thì xin ngài cho phép tôi được thừa tiếp ngài theo lễ tục của phương Đông chúng tôi. Chúng tôi mời ngài xơi rượu ngọt, bánh mứt và hoa quả là mấy thứ sản phẩm đặc biệt của đồn điền chúng tôi đem ra thết vị quý khách như ngài.

- Thưa bà Thy San, bà đã chú ý cả đến những điều như thế của một người khách đến nhà thật làm tôi cảm động.

Không hiểu người bồi túc trực ở đâu mà khi Đờvanhxy vừa dứt tiếng và Giáng Hương mỉm hết nụ cười, thì y đã rón rén đi ra, bưng một khay bạc to đặt xuống chiếc bàn tròn mặt phủ vải đăng ten và lót một tấm pha lê. Giáng Hương chờ người bồi bày xong, nghiêng đầu nói với Đờvanhxy:

- Xin ngài cho tôi được phép giới thiệu thứ rượu tôi sắp mời ngài. Đó là sản phẩm của đồn điền tôi, chế bằng một thứ gạo nếp đặc biệt, gọi là rượu nếp cẩm. Nếu những rượu nho ở nước Pháp mà tôi được nghe truyền tụng quý vì lâu năm, thì rượu nếp cẩm của chúng tôi cũng thế. Xin mời ngài cầm cốc và xin phép ngài cho chúng tôi nâng cốc chúc mừng sức khỏe và sự thịnh vượng của ngài một cốc đầu tiên...

Thứ rượu cất đáng mười chai chỉ lấy ba, bốn, ngâm đặc và chôn lâu đã sánh như mật ong, nhấp nhánh trong chiếc ly cao chân. Đờvanhxy nâng cốc lên chạm cốc chúc mừng lại vợ chồng Thy San, uống cạn một hơi. Một vị thơm, say lừ bốc lên trong đầu y. Giáng Hương trỏ vào đĩa hoa quả, sau khi người bồi rót tiếp chén thứ hai cho Đờvanhxy:

- Thưa ngài, tôi lại xin phép ngài được giới thiệu thứ cam và dứa này cũng là sản phẩm của đồn điền chúng tôi. Xin ngài nếm qua cái vị cam tươi trước. Rồi đến mứt cam. Đây thưa ngài: vỏ cam là một thứ hồng cẩm thạch đằm ánh nắng mặt trời còn ruột cam thì là lòng nước suối có nắng hanh vàng giội xuống...

Đờvanhxy nghển đầu lên: cặp mắt y không thể giấu được những ánh chớp của sự ngạc nhiên. Một cảm giác nhói lên trong người y như mọi lần y bắt được một thống khoái diệu kỳ khi y nghe nhạc, xem múa hay đi một nhịp vũ phối hợp tuyệt thú.

- Thưa bà Thy San, xin phép bà cho tôi được kêu lên sự mến phục của tôi. Bà đã quá khiêm tốn, không cho tôi được biết bà còn là một nhà thơ, một họa sĩ trác tuyệt.

Giáng Hương tủm tỉm đưa mắt cho Thy San. Thy San nghiêng đầu, mỉm cười:

- Ngài quá khen Giáng Hương của tôi. Nào, thế thì mời ngài thưởng thức với chúng tôi những câu thơ và màu sắc của tấm tranh mà Giáng Hương của tôi vừa sáng tác.

Nhấp chưa hết ly rượu, mặt Giáng Hương đã phừng phừng. Đôi gò má y hừng thêm. Mắt càng sáng ấm. Nhất là cặp môi, cặp môi nhoẻn trước hàm răng trắng muốt cũng sánh như rượu vậy. Đờvanhxy nhìn, nhủ thầm:

- Cái thằng Thy San nhà quê và hãnh tiến này cũng biết dùng tiền đấy. Và nó có một món hàng tốt quá. Đồng thời một cái vốn và một con bài đáng gờm đấy!

Y lại nghĩ đến sự sống gọi là Âu hóa của vợ chồng Thy San. Chiếc ô tô Mỹ tối tân, vợ chồng Thy San và đứa con gái lớn dùng đi hiện nay là thứ bốn. Lấy Giáng Hương được ba năm, Thy San mua liên tiếp bốn chiếc xe. Chiếc thứ nhất vừa đem ra bày ở cuộc Đấu xảo vạn quốc ở bên Pháp, Thy San mua luôn. Ô tô tháo ra gửi tàu về đến Sài Gòn thì lắp chạy lên Đà Lạt. Giáng Hương ở Pháp về thăm bà cô và nghỉ hè ở đây. Một đốc tờ "bản xứ" và một trạng sư Pháp cùng hỏi Giáng Hương. Nhưng mẹ Thy San đã hỏi được. Thy San tự tay lái đưa Giáng Hương về Hải Phòng làm lễ cưới. Sau một tháng trăng mật, Giáng Hương lái xe cùng chồng đi khắp Sa Pa, Ba Bể, Tam Đảo, Thy San cho tháo chiếc ô tô chuyển xuống tàu gửi lại sang Pháp biếu người anh Giáng Hương học trường bào chế ở bên ấy. Một chiếc ô tô khác cũng vừa đem bày ở Đấu xảo lại mua luôn gửi về cho Giáng Hương. Bảo Đại và một gã công tử con nhà đại điền chủ Nam Kỳ đã tức lồng lên vì lại mua hụt...

Giáng Hương uống cạn thêm một ly rượu nữa. Đĩa mứt cam và mứt dứa cũng được khen nức nở vì độ ngọt và vị thơm giữ được bản chất của nó. Giáng Hương đưa mắt cho Thy San và Đờvanhxy:

- Thôi, bây giờ cái hân hạnh của hai ngài ban cho tôi đã đầy đủ. Tôi xin phép được rút lui để hai ngài nói chuyện công việc.

Bàn tay ấm nuột của Giáng Hương đưa ra. Đờvanhxy đón lấy, trân trọng cúi đầu chào. Sắp vào đến cửa phòng trong, Giáng Hương còn cúi đầu chào thêm và mỉm cười. Đờvanhxy lại cúi đầu mỉm cười đáp lại. Thy San và Đờvanhxy uống thêm mỗi người hai ly rượu, ăn mứt dứa rồi sang phòng bên. Đây cũng là một phòng khách nhưng nhỏ hơn. Cũng một tấm thảm dạ in hoa và một bộ bàn ghế đệm bọc nhung kê ở chính giữa. Cũng những thống sứ và vồm hoa cúc phải hai vòng tay mới ôm xuể. Khác một chút, tranh là tranh thủy mạc của Nhật Bản treo rủ từ trần nhà xuống, và tượng là một bức tượng Phật bằng vàng. Chỗ góc bên phải phòng có một tòa đền Ấn Độ bằng vàng cao đến hai mươi phân tây bày trong một lồng phalê kê trên một chiếc đôn gỗ trắc. Ánh sáng trong phòng này dịu hơn với những ngọn đèn hình bạch lạp và rèm cửa bằng trúc mà phong cảnh ghép trong mành là cảnh sơn thủy, đền đài Nhật Bản.

Thy San đưa thuốc lá mời Đờvanhxy. Đờvanhxy xin phép hút thuốc lá riêng của mình. Y vào cuộc trước:

- Thưa ngài Thy San, xin ngài cho tôi biết ý kiến của ngài về cái dự định công việc mà chúng tôi đã có lần trình bày với ngài.

Thy San trầm ngâm giây lát rồi mở hai cánh tay ra:

- Xin lỗi ngài Đờvanhxy, xin ngài cho được biết cụ thể thêm về dự định ấy để tôi suy nghĩ và có thể trả lời ngài một cách chín chắn.

Đờvanhxy gạt tàn thuốc xuống cái đĩa bằng đồng hun của Cao Miên. Y nhủ thầm:

"Còn cụ thể đến thế nào nữa?! Phải chăng mày muốn đặt bất kỳ điều kiện nào chúng tao cũng phải nhận và lợi tức của cuộc kinh doanh sẽ về phần mày theo kiểu cung tiến cho một vị công thần hay một hoàng đế như kiểu những độc quyền mày đương tọa hưởng?!"

Đờvanhxy vẫn cứ như không nét mặt:

- Cụ thể... thưa ngài, cụ thể là cảng Hải Phòng của chúng ta nên dời ra Hòn Gai, hay nói một cách khác, nên mở một hải cảng mới ở Bắc Kỳ mà địa điểm và sự phát triển của nó sẽ làm cho miền Bắc Đông Dương thêm trù phú để đáp ứng với những khả năng của giới kinh tế mà chúng ta là đại biểu duy nhất.

Thy San liền nhủ thầm:

"Đức Chúa Giời ơi! Những danh từ văn hoa mà người Pháp đã nổi tiếng là dùng rất khéo và hay dùng như các ngài, Đức Chúa Giời đã cho tôi được dịp nghe nhiều rồi! Hừ! Miền Bắc Đông Dương thêm trù phú hay là một lũ cáo già là bọn các ngài ních thêm vào két của các ngài và của Đông Dương ngân hàng hàng bạc triệu? Rồi các ngài nắm thêm nữa quyền sinh sát ở đây, làm mưa làm gió ở đây! Chúng ta là đại biểu duy nhất, a ha! Thy San là người của bọn các ngài đây! Cũng khí dễ dãi sự nhận vơ và cái giọng phỉnh phờ này!"

Thy San cũng vẫn như không nét mặt:

- Thưa ngài, có thể thì xin ngài cho tôi được biết ý kiến của những giới thẩm quyền của Chính phủ Đông Dương và Bộ Chiến tranh, Bộ Thuộc địa về dự định này.

Trong não cân Đờvanhxy như bị điện giật. Tuy bề ngoài thản nhiên nhưng bề trong thì Đờvanhxy lặng hẳn người đi. A! Thy San hỏi như thế có nghĩa là chỉ cần một số ý kiến và biểu quyết trong một hội nghị cao cấp ở Đông Dương hay ở Pháp là có thể gạt bỏ công việc này ra khỏi chương trình thảo luận hay trong dự án kế hoạch. Thế lực đó chính là có cả thế lực đỡ đầu cho Thy San và những đồng minh của Thy San. Ấy là không kể những thế lực kình địch với bọn Đờvanhxy mà quyền lợi bị xâm phạm trong cuộc đổi dời này.

Đờvanhxy thở nhẹ một hơi thuốc lá:

- Thưa ngài Thy San, tôi nghĩ đây là một vấn đề công ích. Phải! Đây là một nguồn lợi mới cho cả nền kinh tế và công quỹ của Mẫu quốc và của Đông Dương thì sự tích cực là một điều mà cơ quan và cá nhân nào cũng sẵn lòng ủng hộ.

Đến đây Đờvanhxy nhìn thẳng vào mắt Thy San:

- Thưa ngài, chắc ngài có để ý đến báo cáo của Sở kinh tế tài chính và Phòng thương mại. Chắc ngài cũng có để ý đến nhịp sản xuất cả miền Bắc này và nhịp xuất nhập của cảng Hải Phòng chúng ta trong tình trạng hiện nay.

Lại đến lượt cân não Thy San như bị điện giật.

Cái quãng hẫng rồi thụt xuống như một hố sâu trên bảng thu lợi của Thy San lại hiện vụt ra. Số tàu đến ăn hàng ở Hải Phòng sút hẳn xuống hai mươi phần trăm so với năm ngoái. Ấy là không lấy những năm phồn thịnh để đối chiếu. Tàu đã vào ít lại không được mấy tàu to. Số hàng xuất cảng lại càng ít. Gạo, ngô, trâu, bò thì bị Xiêm cạnh tranh, mặc dù các giá đã phải đánh thấp xuống gần ba mươi phần trăm, trong khi đồng bạc Đông Dương chỉ còn ăn nửa giá tiền phụ thuộc vào đồng phật lăng. Sơn, chè, trẩu, gai gần như bị đình hẳn. Gà, vịt, ngỗng bán được nhưng nhà quê đem ra bán ngày càng ít. Đã thế, đem bắc cân thì lông lại nặng và gần đắt bằng thịt! Rau đậu các tàu chỉ cân ăn rất hạn chế; trái lại, lê, táo, cam Hoa Kỳ tràn vào đầy các hiệu, các chợ. Các đồ hộp cũng ế. Nhà binh và ôten thỉnh thoảng mới lấy. Còn bán lẻ, thì có hiệu cất hàng từ ba năm nay vẫn chưa bán hết. Phụ tùng ô tô xe đạp lại càng ế hơn. Nhiều cửa hiệu hàng bày không còn buồn lau chùi. Xe đạp hàng năm mới có người hỏi mua một chiếc.

Còn các sở, các hãng, các nhà máy khác? Sở xi măng sáu tháng nay ra lò hụt đi hàng mười vạn tấn. Ấy là hai tháng nay đã nhận được com măng mới, phải chạy cả năm lò. Cốt phát thì sắp đóng cửa hẳn vì không còn nhà quê nào mua bón. Các hãng Đétcua Cabô, Poăngxoa, hàng năm rồi mà chỉ được mấy cái commăng của Sở lục lộ, sắt và máy móc bán toàn là hàng nhập từ năm kia, năm kìa, ứ lại trong kho. Công ty hỏa xa Vân Nam, đường xe lửa Đông Dương, nhà binh... không gọi bao thầu gì cả. Đến cả than Hòn Gai, Uông Bí cũng sút...

Cơn khủng hoảng đã báo hiệu với những đám mây đen nhờ và bầu không khí oi nồng. Cái bóng đen đáng ghét của những năm 1929, 1930 đã lại lấp ló, sau năm năm sự phục hồi đã được đẩy lên và đã được ca tụng là cả một cuộc hồi xuân của nền kinh tế. Những ý nghĩ ngùn ngụt trong tâm trí Thy San. Thy San đập nhẹ nhẹ mẩu tàn thuốc lá vào chiếc đĩa, nhìn lạnh lùng những tia khói ri rỉ. Giọng nói của y vẫn từ tốn:

- Thưa ngài Đờvanhxy, cái tuần chu kỳ của cuộc khủng hoảng mà ngài gợi nhắc cho tôi, tôi cũng đã dự đoán. Nhưng quy luật là quy luật! Tình trạng báo động khẩn cấp vẫn cứ báo động khẩn cấp! Ta là ta! Công việc của ta vẫn là của ta! Sự kinh doanh của ta chỉ có thể đi lên phía trước. Còn như đối với công việc của ngài, tôi xin được đi thẳng vào vấn đề: Xin ngài cho tôi biết phần phạm vi trách nhiệm và phần tiền tôi bỏ vào công việc.

Đờvanhxy tươi cười, mở hai cánh tay ra:

- Ngài, ngài sẽ cùng chúng tôi tranh thủ cho thật rộng rãi sự ủng hộ của các giới có thẩm quyền và huy động những nguồn tài lực cần thiết để góp sức vào công cuộc này. Cũng cần nói thêm, sẽ có nhiều dư luận khác nhau ở chung quanh công cuộc khi tiến hành, đặc biệt là dư luận của các báo, của dân chúng. Chúng ta sẽ vừa tranh thủ vừa làm sao cho thành một sự đồng tình hoan nghênh. Còn vốn! (Đờvanhxy nhún vai, cười) Vốn của chúng ta là Đông Dương ngân hàng. Đông Dương ngân hàng rất sẵn sàng để chúng ta mở "công tờ" mà giới kỹ nghệ và thương mại thiển cận, yếu đuối ở đây không thể sử dụng được việc gì.

Tất cả những điều Đờvanhxy nói, Thy San đã đoán trước và thấy thế nào y cũng đề ra. Nhất là cái dụng ý của bọn Đờvanhxy dùng Thy San làm con bài để chọi lại những sức chống đối của bọn khác cánh, và làm một lực lượng để lôi kéo, đàn áp dư luận, thì Thy San không cần phải nghĩ nhiều cũng thấy rõ. Một mặt khác, công việc chiêu mộ phu phen thuyền thợ, lập sở, di dân, tiếng nói của Thy San với Nhà Chung, với các vùng công giáo sẽ góp một phần trọng yếu cho bọn chúng.

Nhưng đây đã phải là một cơ hội để Thy San bắt tay vào công việc? Và một cuộc kinh doanh như thế thu lợi sẽ được bao nhiêu?

Những con số dự kiến lại lần lượt mở ra trong đầu Thy San. Tiền lãi về bao thầu, gỗ, đá, gạch ngói để xây dựng hải cảng... Tiền lãi về bán thực phẩm và vật dụng cho các tàu ngoại quốc cập bến và cho hàng vạn gia đình phu, thợ, cai ký và người các nơi đi, đến... Tiền lãi trong cổ phần khi công việc hoàn thành... Sau đây lại còn những độc quyền khác về một số hàng xuất nhập cảng... Lại còn cổ phần ở những nhà máy mới... Lại còn tiền thu lợi ở các hãng tàu, hãng buôn mới đến kinh doanh... Lại bạc triệu và bạc triệu! Lại những độc quyền và độc quyền! Lại những cổ phần trị giá mỗi ngày một cao... Tình trạng khủng hoảng sút kém sẽ thay đổi.

Nhưng đã phải là cơ hội chưa? Tiền lãi như thế có xứng không? Cũng là một ván bài nhưng có đáng là ván bài để nếu cần thì Thy San này cũng đánh những "quắn" sát phạt?

Thy San tự hỏi và buông một tiếng "chưa" rất ngắn đoạn kéo nhẹ một hơi thuốc lá.

Thy San lại nghĩ đến tình thế thế giới và trong nước mà y thấy cần phải đợi xem nhiều chuyển biến nữa để đi đến kết luận và sự quyết định.

Ở Pháp, Mặt trận Bình dân đương mở rộng thì ở Tây Ban Nha lại rục rịch nội chiến. Đức Quốc xã càng mạnh và cả Mỹ lẫn Anh, Pháp thái độ nhượng bộ rất nhiều. Ở Âu châu, thế lực của Hítle, Mútxôlini bành trướng như sóng cồn. Á châu, Nhật Bản càng uy hiếp. Mãn Châu thế là hoàn toàn thành một thuộc địa, một địa bàn khai thác và chuẩn bị chiến lược về chiến tranh của công ty Mítsubítsi và Thiên hoàng mà tất cả đế quốc Âu Mỹ đều trắng mắt ra nhìn. Rồi đây, quân đội Thiên hoàng còn đạp qua đầu nhiều đế quốc da trắng tiến những bước gì nữa? Đông Dương, Xiêm, Phi Luật Tân, Nam Dương và lại cả Tàu nữa, ai mà lường trước được những biến cố ở những đất này với Nhật Bản lầm lì, quyết liệt kia?!

Còn ở Đông Dương, chính phủ Pháp không hơn không kém chỉ là một mụ chủ già tham lam cay nghiệt. Chỉ có khai thác và vơ vét về... "mẫu quốc". Khốn nạn!... Khốn nạn!... Tất cả những cái gọi là thương mại, kỹ nghệ, kinh tế... tất cả những nhà máy, xưởng thợ gọi là giới tư bản Đông Dương gộp lại không bằng cái xó kho của hãng Pho, hãng Kờrúp của công ty Anh, Nhật! Thế mà bao sắc lệnh già nua, vô nghĩa lý về kinh tế vẫn cứ cố duy trì để vơ tiền vào cái mồm nhồm nhoàm ăn bẩn ăn thỉu của bọn tư bản và cầm quyền Pháp. Quân đội và chính trị lại càng thảm hại! Cũng không hơn không kém là một hệ thống tổ chức để ăn lương và ăn cắp giỏi vào bậc nhất!

Qua làn khói thuốc lá lởn vởn, bất giác Thy San đưa mắt thoáng nhìn Đờvanhxy.

Và cái thằng Đờvanhxy đương hoành hành trên đất Hải Phòng và xứ Bắc Kỳ này! Hừm! Họ Đờ quý tộc Pháp đấy! Một bằng kỹ sư quèn. Lại là quan ba nữa! Đeo lon sĩ quan mà chỉ ngửi mùi thuốc súng ở các cuộc tập trận giả với đám ba chi ba chích (4)thuộc địa! Với hai bàn tay trắng cha con nhà nó đã nhảy lên vũ đài kinh tế ở Đông Dương. Vừa bao thầu làm các đường tàu, kho, bến, dinh trại, cầu cống, chợ búa... lại còn ngoạm vào cả cứt nữa. Cứt của những cu li cu leo, của đàn bà con trẻ Hải Phòng, công ty vệ sinh Đờvanhxy vơ vét đem sấy khô đi cũng đưa về "mẫu quốc" đấy! Và làm mật thám nữa! Mật thám nhưng không phải đến Sở mật thám! Hàng vạn... hàng vạn bạc quỹ đen đã thút vào tay nó. Mình nó những hai tờ báo, nhật báo chữ Pháp và tuần báo chữ Việt. Mỗi chuyến hội nghị chính trị, mỗi cuộc điều tra xã hội, mỗi một biến cố, một cuộc vận động, thì lại thêm một món tiền kếch xù cho nó gửi nhà băng. Nhà máy, biệt thự ở Đà Lạt, ở Cannơ, tiền gửi về cho vợ con ở Pháp... toàn bằng cứt, bằng rác, bằng quỵt công phu hồ, bằng tiền xuyên tạc, mị dân, vu khống, tiền chỉ điểm, tiền đầu người bị chém và tiền những năm ngồi xà lim, ăn cá mắm của tù cộng sản!

⚝ ✽ ⚝

[4] Lính tập.

Được! Con cáo già và chó đói này sẽ phải thấy một người Việt Nam như thế nào! Mày phải thấy Thy San như thế nào!

Cuộc thương lượng kéo dài tới lúc chiếc đồng hồ ở một phòng bên ngân nga điểm thêm ba mươi phút nữa. Đúng 11 giờ 30. Đờvanhxy đứng dậy, cười đưa tay bắt tay Thy San:

- Tôi rất mong cuộc hội kiến này sẽ thắt chặt thêm sự cộng tác của chúng ta.

Thy San cũng nghiêng mình tươi cười:

- Thịnh tình và sự tín nhiệm mà ngài dành cho tôi làm tôi rất suy nghĩ. Tôi xin cố gắng đáp lại ngài.

Giáng Hương từ phòng khách đi ra vừa đúng lúc Thy San và Đờvanhxy bước đến bậc thềm xuống sân. Đờvanhxy cúi đầu chào, bắt tay Giáng Hương:

- Một lần nữa, tôi xin trân trọng cám ơn sự tiếp đãi của một chủ nhân hiếu khách và trang nhã như bà. Rất mong lại được dịp đến thăm ông bà.

Con chó Nhật Bản lại chồm lên khi Đờvanhxy mở cửa xe. Chiếc xe lừ lừ ra cổng. Con chó lại dụi dụi đầu và nép vào lòng Đờvanhxy vừa nhóp nhép nhai chiếc kẹo mà lần này Đờvanhxy không tung như ban nãy, chỉ bỏ xuống đệm cho nó nhặt. Đến đường cái Đờvanhxy liền cho xe vụt lên. Giáng Hương cũng lại hiện vụt ra theo. Cái sống mũi thon, cái cằm gọn như nặn. Cổ trắng ngần, ức phập phồng. Thân hình cuồn cuộn. Và cái mùi thơm vừa là của nước hoa vừa là của da thịt như quất vào cảm giác người ta. Đờvanhxy cười bĩu một cái, lẩm bẩm, điếu thuốc lá dấp dính ở góc miệng:

- Thưa ngài Thy San... quân bài là quân bài... ta là ta... ngài xin được suy nghĩ! Rất đúng! Rất đúng thưa với ngài nhà quê của tôi ạ!

Tiễn chân Đờvanhxy đoạn, Thy San quay lên buồng làm việc ngay. Trên chiếc cầu thang gác xoáy trôn ốc giải thảm, Thy San bước đi bước một, đầu cúi cúi, cặp kính trắng lặng lẽ nhìn khoảng không. Chiếc màn cửa đăng ten đã vén sẵn sau chỗ y ngồi. Y chưa vào bàn vội, ra đứng bên khung cửa. Đã có chút nắng. Trời bớt nặng nhưng mây vẫn xám nhờ. Ở dưới chân chung quanh khu biệt thự Bờ Biển Xanh, cảnh vật càng xơ xác mờ ảm. Những xóm ngõ với những gian nhà, bếp nước, cống rãnh sao mà lúc nhúc ghê bẩn! Có những nhà ở ngay sau chuồng xí, chỉ có mỗi tấm liếp quét vôi trắng dựng lên để ngăn ra. Nhưng ruồi nhặng cứ bâu đen ngòm cả tấm liếp, mỗi lần có người đi qua lại rào rào bay vào mấy gian nhà ở sau đấy! Ngõ nọ cách ngõ kia, dãy nhà trước cách dãy nhà sau bằng những bức tường cắm mảnh chai và những cống rãnh. Khói bếp quằn lên, lởn vởn trên những tường, rãnh nọ.

Vẫn thấy trẻ nô đùa. Tiếng cười reo của chúng làm vang từng góc ngõ. Trước cửa mấy dãy nhà chung quanh bãi rác mà cả tường vách và mái nhà đều che bằng mảnh tôn, bao tải và chiếu rách, có mấy ông già bà lão và kẻ mù lòa, què cụt đương sờ rờ quét dọn, khâu vá, đan lát. Tiếng búa rèn của cái lò chuyên đánh vành xe bò ở ngõ trong cùng nghe rõ hơn cả. Tiếng rèn choang choang, thình thịch dằn dỗi, dồn dập, lọng chói vào không khí. Mùi khét của than và mùi đốt rác dần dần sực lên, ngái ngái, nồng nặc.

Thy San vội đi sang cửa bên kia.

Chỗ này mở trông sang Kiến An có những cánh đồng, những đợt núi và thấp thoáng sông nước.

- Không biết đến nghìn chín trăm bao nhiêu hay đến thế kỷ thứ hai mươi mấy thì cái thành phố thảm hại này mới dời được những xóm ngõ quái gở kia ra các vùng ngoại ô xa nữa? Từ con đường Trại Cau, An Dương và cả hai bên bờ con sông Cầu Rào, Cầu Niệm, sang đến Kiến An rồi ra đến Đồ Sơn, phải là những đại lộ, những khu biệt thự thì cái bộ mặt Hải Phòng mới sáng sủa được, và con mắt người ta mới có chỗ thoát để nhìn, lỗ mũi người ta mới có khoảng gió để thở?!

Thy San cau mày, ho sặc lên, lắc đầu, quay vào:

- Cứ phải sống với cái bộ máy cai trị này và cái dân chúng này thật là mệt!

Thy San kéo lại chiếc rèm che cửa, bật đèn lên. Y tiếp điếu thuốc mới. Sau mấy phút trầm ngâm, y đi đến tấm bản đồ treo phía trái bàn giấy. Cả khoảng tường rộng chỉ có tấm bản đồ nọ. Đó là khu vực Đông Nam Á châu ghi những đường liên lạc giữa Đông Dương với các nước bằng đường biển và đường máy bay tô bút chì xanh đỏ rất thẫm do chính tay Thy San ghi và tô. Cặp kính trắng lấp lánh của Thy San nhìn suốt một đường vạch đỏ từ Hải Phòng vắt qua Nam Kỳ rồi mở ra hai cánh chạy vút sang Mỹ và sang Nhật Bản. Thy San rút bút chì xanh đỏ, tô đậm thêm đường chỉ xanh mở sang hai nước đó và khoanh cho đỏ nữa cái vòng tròn đóng lấy hai kinh đô Nữu Ước và Tôkyô.

Thy San lặng ngắm những đường chỉ xanh và những khoanh đỏ kia, đặc biệt là cái khoanh đỏ trên chữ Tôkyô. Thy San kéo những hơi thuốc lá dài, rồi lại lấy bút chì vạch cho đậm thêm cái hoa thị đỏ dưới chữ Cam Ranh. Và từ chữ Cam Ranh, Thy San đưa mạnh bút theo hai cánh đường chỉ xanh sang châu Mỹ và Nhật Bản. Đoạn Thy San mở rộng tay, gật đầu, cười mỉm nói:

- Đây mới là chỗ cần mở mang! Nếu Thy San làm thì là lúc thế giới có nhiều thay đổi và chỗ này sẽ thành quân cảng và thương cảng chính của Đông Dương, chứ không phải là Hải Phòng hay Sài Gòn đâu, thằng cai xia và chó đói kia ạ!

***

Đã thấy mưa bụi. Gió giật từng cơn. Đường phố vắng ngắt. Đến vườn hoa Nhà Kèn, Thanh lại phải ngồi nghỉ. Đầu gối, bắp chân mỏi ê ẩm. Trong người bải hoải như sốt. Trưa, Thanh nói chuyện với bác Sấm cho đến lúc còi tầm nhất. Thanh ra về, đến vườn hoa cầu Hạ Lý thì ngả lưng nằm. Không hiểu trong người Thanh mệt, ốm hay thế nào mà Thanh thiếp hẳn đi cho đến chiều. Rồi từ chập tối đến giờ, Thanh lại đi quanh quẩn hàng chục vòng ở phố Cầu Đất, phố Hàng Cháo và phố Khách.

Bác Sấm bỏ cả nghỉ trưa để chuyện với Thanh, Cam. Người bạn kém tuổi của cha Cam nọ còn bảo hai thằng ăn phở, nhưng hai đứa chỉ uống nước chè tươi và ăn kẹo bột thôi. Bắt tay Thanh, bác Sấm còn dặn đi dặn lại thế nào Thanh cũng đến nhà bác chơi luôn. Bác sẽ hết sức xoay việc bằng được cho Thanh. Hiện nay tuy sở lấy người, nhưng ban sáng mấy lão sếp, lão cai lại ấn chân tay của chúng nó vào. Nguyên lão sếp trên Cam Lộ chiếm gần hai chục chỗ cho người làng người hàng tổng của nó. Toàn những kẻ hầu đầy tớ và những kẻ vay mượn, cầm bán vườn đất cho nó. Còn mấy chỗ xương xẩu thì nó nhằn cho lão cai. Bọn cai cũng bắt chồng ngay sáu đồng bạc bảo là để mua rượu tết đốc công. Sau mỗi tháng lại còn trừ ba đồng nữa.

- Cậu quen với cháu Cam thì cậu cũng là người nhà của tôi. Cảnh ngộ của cậu tôi cũng coi như cảnh ngộ của em út tôi. - Bác Sấm vỗ vai Thanh nói như không muốn dứt nhời. Tất cả lòng thật của bác đấy, người nghe biết cho bác. Thanh cũng ngập ngừng nhìn lại bác. Gương mặt người thợ lò nọ mới rửa qua, da vẫn còn sàm sạm, nhờn. Dưới quầng mắt và ở những nếp trán vẫn còn những ngấn than bụi. Nhưng đôi con mắt khi ra hẳn ngoài trời càng ánh hẳn lên vẻ đôn hậu, thông minh. Chỉ là lần đầu tiên Thanh gặp! Chỉ là một người quen của Cam! Chỉ là một người thợ thuyền lần hồi vất vả, nguy hiểm - Giời ơi! Sao chỉ có những người như thế này là tôi thấy gần cận và thấy hy vọng?! Nhưng khốn nạn cho tôi, tôi còn cách gì để mà sống và hy vọng nữa?

Thanh như muốn nức lên khi bác Sấm cầm chặt tay Thanh trong bàn tay dày, nháp và nóng của bác! Thanh cúi cúi đầu, ôm mũ vào ngực, vẫn như một học trò bé lễ phép:

- Thưa bác cháu về! Cháu chào bác...

Cam ở lại đá bóng. Thanh ra cổng một mình. Thanh lại đi một mình. Thanh đi như người mất hồn...

Đèn phố bật lúc nào Thanh cũng không biết. Trước mặt Thanh nhiều lúc ánh điện, những người qua lại và xe cộ bỗng đỏ lóe lên, quay lộn như trong cái ống nhòm của trẻ con chơi. Nhưng trong cái ống nhòm trẻ con chơi thì có các thứ chùm hoa, các thứ màu sắc kỳ ảo xô biến, hiển hiện. Đây, Thanh như nhìn vào trong một ống đen thăm thẳm, chỉ có những tia lửa sinh lửa diêm và các hình thù mờ tối, chờn vờn.

Giời mưa rét Thanh cũng không biết. Ngực Thanh, vai Thanh, gáy Thanh tê cóng đi. Tới lúc Thanh gieo phịch xuống chiếc ghế ẩm và hôi sì giữa cái vườn hoa không còn có một ai, và Thanh lại định mặc kệ cho sự nhọc mệt làm thiếp đi, Thanh mới thấy nước mưa đã ướt thấm cả vào áo trong; mặt Thanh, trán Thanh nước mưa xâm xấp, và trong người Thanh tức chói khó thở.

Mùa rét đến dần dần đêm nay mới thấy rõ. Sự cùng kiệt của con đường sống tới phút này thật là sừng sững như vách núi, như tường ngục vậy. Sự cùng kiệt có lẽ ở khắp gầm trời này. Những mẩu chuyện ở trong báo và những mẩu chuyện bác Sấm kể cho ban nãy mà Thanh càng nghe càng thấy tê dại thêm tâm trí, lại loáng thoáng trở lại. Bên Mỹ, bên Nhật, nạn nghèo đói và thất nghiệp lại còn ghê sợ gấp mười đây. Những người thợ đói phải bán cả máu. Những người con gái có những răng đẹp phải bẻ cả răng bán. Những đêm bão tuyết, dưới những gầm cầu những đống sắt đống gỗ, có những ông già bà lão và những gái mãi dâm ngồi ho rũ chưa đến sáng đã chết. Có những người mẹ đông con, thì những đứa mười bốn, mười lăm, mười sáu bỏ đi hết... đi giết người thuê, đi làm bồi bé con nhưng thật là làm đĩ đực, và khi có tiền thì những đứa trẻ nọ đi uống rượu, tiêm thuốc phiện trắng và cũng kiếm đĩ. Trẻ con còn được thuê đi đốt nhà và khiêu khích khi có những cuộc đình công của thợ thuyền. Và thất nghiệp, tự tử. Lấy lưỡi dao cạo cắt mạch máu. Từ trên gác mười lăm hai mươi tầng bước ra khỏi cửa sổ. Nhảy ôm vào những luồng dây điện nặng. Bắn chết các con rồi bắn mình... Trong cảnh ấy... sữa đã phải đổ xuống sông, từng tàu chở. Lúa mì và ngô, đỗ, hoa quả cũng thế. Hoa quả quý như cam, thứ cam vàng tươi gói giấy mỏng như lụa, người nghèo chỉ những ai ốm sắp chết, chồng con muốn giả nghĩa, bố mẹ muốn hết lòng, thì mới được mua vắt ăn, thứ cam bày ở mấy hiệu ngõ Hàng Cháo kia kìa thì đem để thối từng kho rồi cũng đổ đi. Lợn cũng hàng tàu đem ra biển đổ cùng với thịt muối, dồi sấy, và các thứ đồ hộp để ôi thối ra.

Ở Tàu, ở Ấn Độ thì chết đói hàng triệu người là sự thường quá rồi! Những kẻ nghèo ở Ấn Độ phải sống riêng một khu, khi ra đến đường được người giàu sang cho tiền thì kẻ cho quay mặt đi mà ném tiền xuống đất...

Nhưng, trên mặt đất của cái thành phố nhỏ mà Thanh đương còn sống đây thôi, sự giàu sang xa hoa diễn ra không bén gót các nơi văn minh đô hội nổi tiếng hoàn cầu kia, và Thanh chưa thấy những cảnh thảm khốc như thế, tuy vậy những nỗi khó khăn, cảnh chênh lệch bất công, và những kiếp người tủi cực cũng đầy rẫy ở chung quanh Thanh, và chính Thanh cũng đương phải chịu.

- Nhưng chịu đến bao giờ? Sức đâu mà chịu đựng? Phải chịu đựng như thế thì sống làm cái gì?

Thanh lại hối hận.

Nếu Thanh không giục mẹ Thanh ra Hải Phòng!

Nếu Thanh nghe mẹ? Phải! Nếu Thanh nghe mẹ.

Trên nhà thờ xứ kẻ Vĩnh quê ngoại mẹ Thanh mở một trường học. Xứ đây chỉ cách tỉnh có hơn mười cây số, tuy không có đường ô tô nhưng là con đường người đi chợ tỉnh, chợ huyện đông đúc, đến mùa nước thì có thuyền. Xứ có hơn nghìn nhân danh. Đường lát gạch từ đường cái vào đến cổng nhà thờ và các xóm. Chung quanh nhà thờ, nhà nào cũng vườn rau ao cá, ba bốn trâu cày, vú bõ canh điền năm bảy người. Nguyên ruộng nhà xứ đã ngót trăm mẫu, chưa kể ruộng nhà mụ. Hàng năm đến ngày lễ Thánh quan thầy nhà xứ rước kiệu xuống đến đầu tỉnh long trọng gần như là tỉnh rước lễ Săngti.

Nếu Thanh xin được dạy học ở đây thì năm đầu Thanh ăn ở trong Nhà chung. Năm sau thầy giáo mà đức hạnh được cha xứ phê nhận, còn học trò thì kinh bổn giỏi giang, đi nhà thờ chăm chỉ ngoan ngoãn, Thanh sẽ được nhà chung cấp cho năm sào ruộng để cấy thêm và được ở gian nhà cuối vườn trường học. Mẹ Thanh đã bàn đi tính lại, nhưng Thanh thấy mẹ càng mặn mà thì càng sợ. Thanh đã nghĩ đến cảnh đi đường ngược, đi xứ, đi đày. Cái cảnh lặng lẽ bằn bặt trong Nhà chung: khép nép, đạo đức, sống với những cha, những nhà thầy, nhất là các thầy già! Gà gáy đã có mặt ở nhà thờ. Hai giờ chiều lại đi nhà thờ. Tối đến cũng lại nhà thờ! Lúc nào ở trước mặt các bề trên, Thanh cũng như dọn mình đi xưng tội ấy. Còn với chung quanh thì Thanh nghiêm trang cung kính và ăn nói như khi đi chịu lễ về.

Chỉ nghĩ đến như thế Thanh đã thấy không thể nào sống được.

Ấy là chưa kể sự ăn ở rất khổ hạnh mà nếu Thanh không muốn chịu thì Thanh phải đi lại luồn lọt la liếm ở các nhà giàu, các nhà trùm trưởng. Ấy là chưa kể bao nhiêu ước vọng của Thanh bị giết đi cho đến khi Thanh thành một người khi ngửng đầu lên là cầu xin cho được cái chết và nước thiên đàng. Ấy là chưa kể sự đau xót... cái đau xót khi gợi nhớ nghĩ đến những chuyện về cha Thanh, về mẹ Thanh...

Nhưng mẹ Thanh lại được yên tâm có cơm ăn, áo mặc. Rồi ra còn sung sướng thảnh thơi là đằng khác. Năm bảy năm, mẹ Thanh cấy hái cứ để ra mỗi vụ mươi thúng thóc và một lứa lợn đẫy niên... Còn Thanh thì chắt chiu các món tiền, như tiền quà cáp của những nhà khá giả có con cháu mà Thanh chăm sóc đặc biệt, chúng học vừa tấn tới, kỳ thi sơ học yếu lược lại đỗ... như tiền xà xẻo vào các món đóng góp vào nhà trường... như tiền đơn từ, giấy má làm hộ người ta... Tích góp những tiền của mẹ và của mình lại, mẹ Thanh sẽ tậu thêm mấy sào ruộng, còn Thanh sẽ lấy vợ. Làm ăn khấm khá, Thanh sẽ mua cái xe đạp. Đến những ngày lễ cả hay nghỉ hè, Thanh sẽ theo cha xứ ra tỉnh và đón các cha, các khách trên tỉnh về. Thanh sẽ theo cha đi làm phúc ở các họ lẻ, và Thanh sẽ được các nơi mời mọc chơi bời ăn uống ngày hội hè, giỗ tết. Cái xe đạp lúc nào cũng lau chùi giữ cho bóng nhoáng. Chuông chỉ khẽ bấm là tiếng kính coong ran ran. Bánh xe bon bon theo sau con ngựa của cha xứ chạy lốc cốc, nhạc rủng roẻng trên đường đê cao. Thanh ngồi xe êm ru, đội cái mũ trắng rộng vành đánh phấn trắng, sờ tay vào phấn bay lả tả. Thanh mặc áo the lồng áo trắng cổ cồn, quần hồ lơ, đi giày bốt tin...(5).

⚝ ✽ ⚝

[5] Giày da cao cổ.

Như thế Thanh vẫn được ở gần tỉnh nhà. Thỉnh thoảng Thanh vẫn còn được nhìn lại cái phố cũ, tuy đây chỉ còn mấy nóc nhà lá mai kia là dỡ đi nốt của mấy nhà làm nghề giồng rau giồng hoa, và tuy đây nền nhà Thanh người mua đã dùng làm sân xếp gỗ của lán xẻ, cả ngày tiếng kéo cưa miết vào không khí! Thanh còn được nhìn lại cái đầm sen sau nhà Thanh, nhìn lại cái cây si đầu đường cứ đến mùa thu lại ríu rít chim vành khuyên, làm Thanh ngày bé đêm đêm thường mơ ước để dành tiền mua được cái lồng sập, cứ đến ngày chủ nhật Thanh sắm sửa hoa dâm bụt, hoa cúc, chuối, quýt, xách đi những vườn xa để bẫy chim... Thanh còn được nhìn lại cái vườn hoa của thành phố đối với Thanh lúc còn bé là cả một rừng sâu, dạo mùa hè Thanh thường chờ những đêm mưa gió to sáng dậy thật sớm đi nhặt sấu rụng đem chia cho các bạn được các bạn quý như vàng. Thanh còn được đêm đêm sáng giăng đi trên bờ con sông đào sao mà thấy mênh mông nguy hiểm ngày mùa nước, thỉnh thoảng lại có một chiếc pháo thuyền về đỗ thì cả tỉnh kéo đi xem. Những khẩu súng thần công và những người lính trẻ mặc quần áo trắng viền xanh, thứ áo có yếm, mũ có dải, sao mà lạ, mà đẹp! Thanh đã nghĩ sau đây Thanh phải làm sao cho thật khỏe mạnh, bơi giỏi, để cũng đăng lính đi các sông, các biển, các nước...

Ấy là Thanh tưởng tượng. Thật ra Thanh thấy dù Thanh cố gắng khuôn mình vào cuộc đời đó để yên thân cái kiểu như thế cũng không được nào. Lai lịch của mẹ con Thanh nhà Chung nào nhận cho? Trùm trưởng nào dám đứng ra bảo lĩnh? Đã thế lại còn bao nhiêu học trò dở dang như Thanh, con cháu của các cha, các trùm trưởng, họ nhu mì còn hơn các con gái, đức hạnh và thuộc kinh bổn không kém các thầy già, các bà mụ! Phải! Những điều Thanh tưởng tượng nọ hoàn toàn chỉ là ảo vọng. Không có một tia gì là của ánh sáng hé ra trước mặt Thanh để Thanh đáng ân hận rằng đã không nghe mẹ. Cái cảnh mẹ con ở giữa nơi quê hương, chôn rau cắt rốn, có bao nhiêu kẻ quen thuộc họ hàng mà như ở giữa một biển băng... Cái cảnh những ngày ngao ngán mẹ con chỉ còn biết nhìn nhau mà chịu đói chứ không dám làm một việc gì tai tiếng - cả gánh đất, đội than, quét đường, vác gạo cũng là tai tiếng! - ... Cái cảnh mà nhìn đâu Thanh cũng chỉ thấy những kỷ niệm, những nguồn cơn đau xót, buồn thảm không thể nào chịu được nữa ấy, Thanh đã dứt bỏ hẳn đi rồi.

Nhưng hiện tại thì hơn gì? Và tương lai nữa, hơn gì? Thanh mở choàng mắt. Trong tâm trí Thanh xé vụt ra như một luồng lửa. Không! Thanh đã có một cơ hội, nhưng Thanh đã bỏ qua.

Cái ví của Dậu! Cái ví của Dậu bỏ tung ra đất đêm Dậu đi khách về say rượu và là đêm cuối cùng Thanh nghe cụ Ước kể chuyện. Cái ví ấy Thanh đã giẫm và day gót lên làm gẫy hết cả gương lược phấn sáp trong đó. Cả tiền nữa! Không biết là bao nhiêu mà chỉ thấy những giấy năm đồng hai mươi đồng còn mới tinh. Tiền tung ra, Thanh đã cố ý xéo cho nhoét xuống đống mửa. A! Những giấy một đồng, năm đồng, hai mươi đồng. Lúc ấy chỉ có mình cụ Ước và Thanh. Thanh chỉ đá nhẹ cái ví ra cửa rồi cầm lên thì chỉ có giời lúc đêm tối ấy là biết. Hay không cần lấy cả ví, Thanh chỉ nhón cuộn giấy bạc thôi. Cuộn bạc toàn những giấy mới tinh và có cả giấy hai mươi đồng! Không! Thanh đã lấy thì lấy cả ví chớ. Trong ví thế nào chả còn tiền lẻ. Thế nào chả còn những thứ khác mà chỉ bán một thứ đi thôi thì cũng đủ cả nhà Thanh ăn gạo một tháng. Biết đâu trong ấy lại còn có cả nhẫn, dây chuyền. Đúng! Mọi ngày Dậu vẫn đeo cái dây quả tim trề trễ ở trước ức mà! Đêm ấy rõ ràng cổ áo ngoài Dậu bựt ra, chỉ còn trần cái nịt vú và mảng ngực trắng rợn... Trời ơi! Sao Thanh không lấy cả cái ví và chỗ tiền ấy? Chỉ một chỗ tiền ấy thôi cũng đủ là cái vốn cho mẹ Thanh suốt đời tần tảo! Thanh nếu không phải là ngu tối mê muội thì cũng là điên dại đã bỏ qua cái dịp may ấy! Không phải Thanh ăn cắp! Mà cho ăn cắp đi nữa thì đã làm sao? Cái thứ tiền mà Dậu kiếm được! Cái thứ tiền mà người ta vung cho Dậu! Với món tiền ấy, Thanh sẽ sống và làm được bao nhiêu việc có ích. Mất chỗ tiền ấy, Dậu lại có ngay, có nhiều hơn nữa cũng nên. Rõ ràng là Dậu không ở xóm Cấm nữa. Dậu lên phố rồi. Dậu lên ở trên phố Tây. Dậu cũng đi chơi bằng ô tô và mấy lần chào gọi Thanh. Thế là hết! Không bao giờ lại có một dịp như thế nữa. Họa chăng chỉ còn cách Thanh tìm đến giả vờ thăm Dậu, rồi lừa một dịp nào ăn cắp lại thì mới được thôi. Thanh mà ăn cắp của Dậu thì Dậu không thể nào ngờ tới! Không bao giờ dám nghĩ tới!

Thế là hết! Cả một cái vốn để một đời mẹ Thanh lần hồi và Thanh, và em Thanh sinh sống! Thanh ơi! Mày là thằng rồ! Mày là thằng hèn nhát chứ không phải cao quý cao đạo gì! Mày u mê trần đời không ai như thế! Thanh ơi! Thế là hết! Không thể còn có một dịp nào như thế nữa! Cái ví! A! Cái ví và cuộn giấy bạc mới tinh. Phải! Chỉ kể cuộn giấy bạc thôi chứ không cần những thứ khác trong ví nữa!

Thanh như bị bóp cổ. Thanh thở sằng sặc. Thanh xanh mắt lên nhìn khoảng không đêm đen, mưa bụi, gió rít. Thanh nghiến hai hàm răng, các thăn thịt ở miệng và thái dương buốt nhức hết.

Gió sông cửa Cấm thổi như gào như rít. Mưa bay mờ. Ánh đèn chung quanh nhòa ướt, lởn vởn như lửa vạc trong khói nước sôi. Cây cối từng cụm bù xù, cành lá vật vã. Khu Vườn hoa đưa người bên kia đường không còn một ai. Cả những người con gái kiếm tiền co ro trong những bụi cọ, lào thào, thất thanh gọi: "Chơi nhé! Có đi chơi không?!", và mấy ngọn đèn lù mù của mấy hàng nước, thuốc lá cũng không thấy nữa. Xa hơn nữa, con sông Lấp hoàn toàn mịt mùng lặng ngắt. Thuyền tàu, cột buồm, các lán than, lán củi, cầu Carông, nhà máy... chỉ còn le lói nhập nhòe ánh đèn và những tiếng của mưa gió và khí lạnh réo lên u u, rỉ rền.

Thanh bưng lấy mặt.

Nước mắt Thanh ứa ra. Thanh lạnh toát người. Không! Thanh sợ lắm! Thanh sợ lắm! Những ý nghĩ và sự tưởng tượng vừa qua cũng lại chỉ là những ý nghĩ và sự tưởng tượng thôi! Thanh không thể nào hành động như thế được! Không đời nào Thanh lại hành động như thế được! Và Thanh ngồi bổ dậy. Bước xử sự cuối cùng của Thanh chỉ còn cách... Phải!... Tất cả những câu hỏi trước sau của Thanh từ bao lâu nay đã đến chỗ không còn thấy một chút gì là chân trời để cởi mở rồi!... Tất cả những hy vọng của Thanh vùi xuống cất lên, nâng lên rồi lại dập xuống, đã đến chỗ mù mịt lạnh lẽo vô cùng như cái mù mịt lạnh lẽo vô cùng Thanh đương sống.

Chỉ còn chết là giải quyết được thôi! Chỉ còn chết là giải thoát được thôi! Chỉ còn chết là giữ được nguyên vẹn những ước mơ, khao khát bấy lâu nâng niu thôi! Tự tử không dễ đâu! Tự tử không hèn đâu! Nhất là cứ sống vất va vất vưởng để một người đã khổ lại khổ thêm mới là hèn thôi! Hay để có miếng cơm manh áo mà tự chân mình giẵm lên lương tâm mình, giẵm lên lý tưởng mình mới là hèn thôi!

Mẹ ơi! Phải không mẹ, con chết đi mẹ sẽ đau đớn vô cùng, nhưng con sống để mẹ phải nhịn đói, chịu rách, tủi cực thay cho con thì sao nên?! Chắc chắn là khi đỡ được miệng con, mẹ lần hồi chạy vạy tuy không được sung sướng nhưng cũng bớt lo lắng, có khi no ấm cũng nên. Mẹ! Phải! Mẹ cần được rảnh rang một chút, no ấm một chút vì mẹ đã quá vất vả, ốm yếu rồi! Mẹ đã chịu đựng quá nhiều rồi! Mẹ cầu xin đã quá nhiều rồi! Khi con chết, những chiều hôm, ban sáng, canh khuya, nước mắt mẹ sẽ đẵm cả thánh giá, cứ như thế cho đến ngày mẹ chết. (Mà ngày chết của mẹ, với hơi sức của mẹ như nay thì cũng không lâu đâu!) Nghĩ đến mẹ, con lại thấy như gươm buốt đâm vào trái tim, như kìm lửa cặp vào gan ruột. Mẹ, mẹ tin có linh hồn. Con, con không tin có linh hồn. Mẹ, mẹ tin có Chúa. Con, con chỉ tin có người và lương tâm của mình. Không chỉ như thế, mà còn có nhiều điều nếu con nói ra thì mẹ có thể ngất đi, mẹ uất, mẹ héo hắt, mẹ chết, nếu không thì mẹ phải từ con, lìa con... Mẹ đã buồn phiền đau đớn trên hết cả mọi nỗi buồn phiền đau đớn vì thấy con như thế. Nhưng mẹ cứ phải là mẹ. Mẹ cứ phải sống bên con. Mẹ không thể nào không sống ở gần con. Bởi vậy cho nên khi thấy con đọc sách thì mẹ đọc kinh. Thường lúc con đọc sách, hay nằm nghĩ ngợi, hay khi con tỉnh những giấc mơ thức dậy là thấy mẹ đọc kinh. Rồi đây khi mẹ đọc kinh thì con không còn đọc sách nữa. Lần này thì con bỏ mẹ con đi thật, con trốn mẹ con đi thật. Con hoàn toàn để mẹ một mình yên lòng yên trí trong một sự tin tưởng rằng linh hồn con vẫn còn, tội lỗi gì của con mẹ cũng rửa bằng hết vì mẹ đọc kinh, cầu xin cho con, và mẹ con sẽ lại gặp nhau trong Giờ phán xét.

Nước mắt Thanh giàn giụa.

Thanh lại nghiến chặt hai hàm răng. Thanh ngước nhìn cành cây cơm nguội khẳng khiu gió thổi ù ù ở trên đầu. Thanh móc cuộn dây điện nhỏ sợi nhặt được ban sáng ở vệ cỏ ngoài cổng sở Xi măng định đưa về cho ông Cam buộc chuồng lợn, còn thì Thanh chằng lại cái cửa bếp. Thanh trông hút ra đường rồi đứng lên ghế.

Chợt có tiếng hét lên và những tiếng cười sặc sặc:

- Bánh khúc nóng đây ông ơi!

- Bánh khúc nóng đây ông ơi!

- Mẹ kiếp cái thằng Eeng có chạy mau lên, không có con chị trán nứt của mày nó lại bán nữa mất thôi!

- Chuyện mãi! Chuyện mãi! Tai như tai chó đá cả với nhau ấy! Eeng ơi là Eeng ơi!

Hai thằng bé cắp hai cái thúng ở đầu đường ngoài kia vừa thở, vừa cười, vừa nói với nhau chạy qua ghế Thanh sang bên hàng hiên Nhà hát Tây có tiếng người gọi "bánh ơi!". Thằng La loắt choắt chạy sau, nó đã ngoái trông lại cái ghế và cái hình thù lẩy bẩy trên ghế nhưng mặc kệ.

- Mở thêm vitét nữa.

- Phovêuýt (6)của Đờvanhxy đây Eeng ạ!

- Lanhcôn mới bóc tem của Thy San đây!

⚝ ✽ ⚝

[6] Phovêuýt: xe ô tô nhãn hiệu Pho của Mỹ.

Thằng La rút đến trước, cười rúc lên:

- Cuarơ Bổng mặc áo vàng về nhất rồi Eeng ơi!

Nó ríu cả lưỡi, chìa thúng bánh vào mấy người thợ điện ngồi xúm với nhau hút thuốc lào:

- Bánh khúc nóng nhân thịt cà cuống ông ơi! Ông mua cho cháu! Ông mua cho cháu!

Lại có tiếng thình thịch đến gần Thanh. Người chạy thở hổn hển, kêu thất thanh khe khẽ:

- Còn có hai chiếc nữa mà lại bán hụt thế này!

- Dâng! Cô Dâng!

Cái bóng người mảnh khảnh cắp thúng quay lại.

- Cậu giáo! Kìa cậu giáo!

Thanh bủn nhủn, trống ngực như nghẹn lại, đứng sững. Dâng đặt thúng xuống ghế, run rẩy:

- Bà ở nhà mong cậu giáo quá.

- Có việc gì thế cô?

- Cháu chẳng biết. Lúc cháu cất bánh đi bán bà chỉ dặn cháu hễ gặp cậu thì bảo cậu về ngay.

- Tôi về ngay đây!

Dâng lập cập đánh rơi cả cái vỉ đậy chõ bánh xuống đất. Dâng không nhặt, sục cái đĩa vào đơm cả chỗ xôi và hai chiếc bánh còn nóng đưa cho Thanh:

- Cậu giáo ăn bánh rồi hãy về.

Thanh toan bảo: "Để bánh cho Dâng còn đi bán chớ", thì Dâng đã kéo cái thúng đến bên Thanh, đặt đĩa bánh lên với đôi đũa đặt ngang. Cặp mắt lo ngại của Dâng thoáng gặp cặp mắt bàng hoàng của Thanh. Trước mặt Thanh, cái trán Dâng cúi cúi. Cái trán lõm một vết sẹo ở mé trái. Cái vết thương Dâng mang từ ngay khi mới lọt lòng mẹ, khi Dâng tênh tênh tập đứng, khi Dâng lẫm chẫm tập đi, khi Dâng biết chạy, biết nhảy, những lần ngã nào thì cũng vập chỗ trán ấy xuống đất, xuống gạch, xuống đá, xuống cọc, chết lặng đi. Cụ Ước nghe chuyện đã gật gù: "Tôi nghiệm những trẻ con như thế thì đến đập đầu cối đá cũng không việc gì! Nuôi được lớn lên thì khá lắm!"... Nhưng Dâng, phải như thế nào mới khá được, chứ từ ngày Thanh để ý đến Dâng trên chuyến tàu thủy thì Dâng chỉ là một cái bóng. Cái bóng hậm hụi làm đủ mọi việc trong nhà. Cái bóng lặng lẽ xo ro lúc đi đội than cũng như khi đi bán nước, bán bánh. Chưa bao giờ Thanh thấy cái bóng ấy cười cả!

Thanh nhìn cái trán sẹo của Dâng. Như một lưỡi dao bằng lửa điện, hình ảnh của Huệ Chi, cái trán dô, gương mặt trắng mát như tượng cẩm thạch lạnh lùng kiêu kỳ, rạch vút qua mắt Thanh... Thanh đã ngoắt trông chung quanh và định đưa tay ra để nắm lấy bàn tay Dâng. Nhưng cả người Thanh giật đánh thót, Thanh nuốt nuốt những hơi thở nóng bỏng cồn cồn đưa lên và cũng để nuốt cả những giọt nước mắt ở trong tâm trí vỡ ra.

Thanh cầm lấy đĩa bánh. Dâng chớp chớp mắt, run

run nói:

- Chõ bánh hôm nay thổi xôi nếp cái, nhân mỡ lại nhiều, bà với cô Ngơ cũng ăn hai đĩa đấy!

Dâng nói đoạn, cúi xuống nhặt cái vỉ đậy lại chõ bánh rồi gạt vén lên những sợi tóc xổ xuống, nước mưa và mồ hôi dính bết ở má, ở trán...

...12 giờ ngày 20 tháng 12-1935

Ngày 5 tháng 11 là ngày sinh nhật của tôi. Nhưng tôi sẽ lấy cả ngày hôm nay kỷ niệm làm ngày sinh nhật. Một ngày tôi đã chết đi sống lại và trải qua bao nhiêu giờ phút mà tôi càng không thể sao nghĩ tới. Can đảm và nghị lực ơi! Còn ngày mai và những ngày mai phải sống!...

Cuốn nhật ký của Thanh lại ghi thêm những trang dày đặc. Đêm ấy Thanh lại ngủ như người bị nóng sốt trong trận sốt rét hay sau một cuộc tra tấn.

« Lùi
Tiến »