Nguyên Hồng Toàn Tập 4

Lượt đọc: 1147 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sức Sống Của Ngòi Bút
những tác phẩm kỳ diệu ấy đã đến với tôi

Trước khi những tác phẩm văn học Nga và Xô viết đến với tôi, thì tôi được xem hai phim Tarát Bunba (1)và Tội ác và trừng phạt (2)của hãng phim Pháp chiếu ở Hải Phòng. Vào khoảng mùa rét năm 1935. Mùa rét năm ấy tôi bắt đầu viết văn. Tôi viết được một tập truyện ngắn, có mấy truyện được đăng báo, tên tập truyện tôi quên mất rồi! Hình như là "Những người đau khổ" hay "Những cảnh cùng khổ" gì đó. Sở dĩ tôi quên cả tên đứa con đầu lòng của mình, chỉ vì khi viết xong, một sự thực cứ dần dần hiện rõ ở trước mặt tôi. Tôi thấy tôi có may mắn lắm thì chỉ một vài truyện được đăng báo là cùng, chứ in thành tập đem trưng bày bán ở các hiệu sách là cả một hy vọng mịt mù, một nhén lửa tắt ngay sau khi hé sáng. Ngày ấy, nhà xuất bản rất ít và rất ngại truyện ngắn. Còn tôi, chỉ là một thằng học trò mới ra khỏi nhà trường, một tên tuổi không có hình vóc tiếng tăm gì cả! Một sự thực nữa cũng dần dần mở ra ở trước mặt tôi. Đó là những cảnh khó khăn cùng kiệt của một đời sống nghèo đói giữa những thành phố xa lạ, một đời sống mà sự khắc nghiệt của nó tôi càng thấy thật là cắt vào da vào thịt mình, thật là đè sập xuống đầu mình, cũng như đã cắt, đã đè lên bao nhiêu xương thịt của những con người ngoi ngóp, tan nát ở chung quanh tôi.

-----

[1] Truyện của Gôgôn.

[2] Truyện của Đốxtôiepxki.

Tôi cũng không thể nhớ rõ bằng cách gì tôi đã được đi xem hai phim kia. Hình như đó lại là tiền của mẹ tôi mỗi ngày chạy chợ về cho tôi để hôm sau tôi ăn bún, ăn khoai thay bữa cơm trưa mà tôi đã nhịn ăn để mua vé. Hình như đó là tiền tôi để ra sau những tuần lễ dạy học thay cho người anh cùng mẹ khác cha với tôi, ông ta mở một trường tư trong cái ngõ gọi là ngõ Cố đạo. Hình như đó lại là tiền của người con gái lớn của bác tôi kia, chị ấy đã giấu cho tôi vì thấy tôi có lần dạy học chỉ được ăn cơm và tiền cắt tóc, còn tiền xà phòng giặt cũng không có!

Phải, Tarát Bunba và Tội ác và trừng phạt đã đến với tôi vào khoảng mùa rét. Cũng mùa rét năm ấy tôi bắt đầu viết Bỉ vỏ, tiểu thuyết đầu tay của tôi. Tôi cũng không thể nhớ rõ tới những chương nào hay xong được bao nhiêu trang bản thảo Bỉ vỏ thì tôi đi xem hai phim kia. Nhưng, những ấn tượng của nó để lại trong tâm trí tôi, và những cảm giác đã rung chuyển tôi đến ngày nay, vẫn rõ, vẫn sắc vô cùng... Đó là tình thương mênh mông đối với con người. Đó là sự đau đớn và tinh thần bất khuất của con người xoắn lấy những tâm trí nào còn thao thức, bắt những tâm trí ấy phải nghĩ ngợi, phải tìm hiểu về những khổ não tan vỡ của những cuộc đời, về những kiếp sống, về những cảnh ngộ của con người.

Những quằn quại của Rátkônikốp (Raskolnikov) nhân vật phạm tội trong Tội ác và trừng phạt, những cảnh tàn khốc, đau xót trong Tarát Bunba và tâm hồn anh dũng quật cường của Tarát Bunba, thỉnh thoảng lại như giội lửa lên trong tâm trí tôi những khi tôi ngồi một mình trước bàn viết hay đi đường một mình. Giội lửa và làm tôi thấy tôi không thể một phút xa rời cuộc sống, không thể xa rời và tìm được nguồn hy vọng nào khác ở ngay trong đời sống.

A! Đời sống chung quanh tôi! Con đường hằng ngày tôi ra đi lang thang cho nhẹ đầu óc, cho khuây những buồn rầu! Trên con đường này tôi phải qua một cái chợ gọi là chợ Vườn - hoa đưa người. Cả khu vườn hoa ấy, một đám cỏ tươi cũng không có. Còn hoa thì ở trên mấy cây không có tên mà người ta rất sợ khi nó có hoa vì mùi hoa ngai ngái, hôi, hắc, hễ phấn hoa bay vào tai có thể làm tai điếc. Trong vườn hoa chỉ có những cây cọ, cây núc nác tây gai góc. Dưới những gốc cây đó, tụ tập từng đám từng đám ăn mày trẻ con đàn bà, những người nhà quê tha hương cầu thực, những người con gái mười ba mười bốn tuổi bị dỗ đi làm con sen con nhài, làm cô đầu chanh cốm và bán đi làm nô tì ở các tỉnh biên giới. Và từng đám đĩ. Những đĩ thường thường đã có tuổi, ốm yếu, ở các nhà thổ, nhà chứa lậu thải ra, những đĩ cũng có kẻ chỉ mới mười bốn, mười lăm tuổi mà bệnh đầy người, cứ chập tối là ở các bụi cọ nhô ra the thé gọi khách vào. Giá tiền mãi dâm chỉ vừa đủ một bát phở, một bữa cơm ăn các thứ thừa của trại lính Tây. Chỗ mãi dâm kín đáo, sạch sẽ nhất là những ngõ nhà xí bên đường, dưới những tầng lầu khách sạn thâu đêm sáng đèn, inh ỏi tiếng bài sừng, đàn tam thập lục và tiếng cười, tiếng hát.

Tiếp vườn hoa này là con sông cụt. Hai bên rệ sông quanh năm ngập rác. Nhà trên sông là những chiếc thuyền gỗ nát, kê trên những cọc gỗ, sắt tà vẹt, xà gồ cũ, hay là những mái lợp bằng mảnh thùng hắc ín, bao tải, chiếu, giấy dầu. Phu phen, thuyền thợ, buôn thúng bán bưng chui rúc ở dưới những cái mái nọ. Còn có cả tiệm hút, sòng bạc và nhà chứa nữa!... Bờ sông cũng đầy những ăn mày, đàn ông đàn bà thất nghiệp nằm ngồi ngổn ngang trước các lán củi, lán gạch, lán than, hàng cơm, hàng quà. Lúc mặt trời mọc, dòng sông hửng sáng, thuyền đò xào xạc, khói bếp nhen lên, là lúc cửa nhà đề lao ở bên sông mở cổng. Từng dây nhà pha lếch thếch ra đi làm cỏ vê. Tiếng gáo dừa, ống bơ loảng xoảng,... tiếng ho,... tiếng rên. Những chân bước như kéo xiềng. Những mặt mày bủng beo ngờ ngạc.

Cùng lúc mặt trời hừng lên trên dòng sông ấy là lúc than khói ở những nhà máy phía bên kia sông tỏa ra. Những lò, những ống khói, những tầng máy chập chùng vây đè lấy người ta. Chung quanh đây là những xóm thợ ngoi ngóp trong than, trong bụi, trên những bãi rác, xỉ than và ao đầm. Xa xa là những làng mạc, những bờ bãi đồng lầy chua mặn, dân sống bằng móc cua móc cáy, xờ xạc, xiêu tán, heo hút...

Trước tác phẩm "Viên thanh tra" của văn hào Gôgôn, thi hào Puskin đã phải cất tiếng kêu, một tiếng kêu từ đêm sâu lạnh thẳm của mặt đất xé lên:

- Giời ơi! Nước Nga của chúng ta sao mà buồn thảm?

Trên cái mặt đất cách đây hơn hai mươi năm tôi đã sống, trên những quãng đường hàng ngày tôi đã ra đi lang thang và giữa những cảnh vật tôi đã về ngồi viết những tập sách trứng nước của tôi, tôi cũng đã không thể không kêu lên:

- Giời ơi! Cuộc sống sao mà nhiều buồn thảm đau xót! Làm sao tôi đủ tâm hồn mà ôm lấy cuộc sống này? Mà viết nổi lên cuộc sống này!

Tarát Bunba cùng với Tội ác và trừng phạt với Rátkônnikốp đã thêm là một sự kích thích cho tôi, thêm là những ám ảnh da diết của tôi, thôi thúc tôi phải viết về những con người đã chịu bao nhiêu nỗi đau xót thảm khốc, những con người đã cố vượt lên trên mặt đất tàn ác này, những con người không chịu những sự hèn hạ lăng nhục, những con người bất khuất...

⚝ ✽ ⚝

1937

Cũng trên cái mặt đất và những cảnh vật ấy, phong trào Mặt trận dân chủ ở Đông Dương, với những cuộc đấu tranh sôi nổi rộng lớn của quảng đại quần chúng, đã dần dần mở ra một bầu trời lồng lộng tươi sáng. Dưới bầu trời đó, tôi đã tìm đến Lêông Tônxtôi và Mácxim Gorki. Cuốn sách đầu tiên tôi được cầm lâu dài trong tay, thức say sưa với nó là cuốn " Sống lại" (Résurrection) của Lêông Tônxtôi. Rồi tôi tìm được đến Gorki. Tôi đọc Những vagabông, Kỷ niệm thời thơ ấu và Người mẹ của Gorki.

Qua từng trang từng trang trong cuốn Sống lại của Tônxtôi mà tôi được đọc lần đầu tiên nọ, tôi thấy cứ dần dần một trái tim mênh mông ôm lấy tôi, đồng thời với cảm tưởng này, tâm hồn và trái tim tôi cũng thấy dần lớn lên ôm lấy con người. Sự suy nghĩ của tôi bị xoắn lại với cuộc đời của Mátlôva, người con gái nô tỳ trong truyện, bị tàn phá tan nát và cuối cùng đã vươn lên trong ánh sáng của cách mạng. Một luồng ánh sáng đặc biệt rải ra, soi lên như chưa bao giờ tôi từng thấy một chế độ tội ác với những cảnh sống giàu sang quyền quý mà một bọn người lười biếng thối tha đã gây nên bao nhiêu tội lỗi, phá hoại tàn bạo. Cũng những cảnh nhà tù và đi đày, nhưng với những chiến sĩ cách mạng và do ngòi bút Lêông Tônxtôi diễn tả, sao mà vẫn thấy vằng vặc một cái gì cao quý, một cái gì trong suốt vô cùng của những con người thật là con người. Qua bao nhiêu năm, cho đến bây giờ, nhắc đến Tônxtôi dù chỉ trong một truyện ngắn mấy trang in, tôi vẫn giữ nguyên cái cảm giác có một thác ánh sáng và gió mát từ đỉnh núi trắng xóa giội xuống người tôi, ùa vào tâm hồn tôi, cuốn gội đi những bụi gai vướng víu, và chắp cho cánh bay lên.

Đến với Gorki tôi đã ngạc nhiên và thật là thấm thía khi đọc Những vagabông và Kỷ niệm thời thơ ấu. Tôi ngạc nhiên vì thấy cái xã hội và những con người trong tác phẩm đây sao mà gần gụi với tôi. Chừng như cái xã hội dưới thời Nga hoàng cũng có một phần cái xã hội dưới chế độ đế quốc Pháp tôi đương sống vậy. Tôi thấm thía vì thấy tất cả những con người cùng khổ, vất vưởng, bị bao nhiêu hủy hoạt về xác thịt cũng như về tinh thần ấy, thảy đều giữ được sâu xa trong tình cảm, trong tâm hồn họ một phần như là ánh sáng nó vẫn cứ cháy, cứ ngời lên giữa những gió bão than gio vùi dập của cuộc đời. Tất cả những con người bị coi là cặn bã ấy đều không ít trau chuốt cho sự sống những tình cảm sâu xa tươi thắm mà các bọn người trong giai cấp bóc lột không thể nào có được, không thể nào xử sự được. Và, từ những chốn nhầy nhụa đen tối, họ không ngừng vươn lên ánh sáng, họ không ngừng tìm mọi cách để giữ gìn lấy nhân phẩm và những khát vọng của mình, đó là bản chất, là lẽ sống của những con người lao động bị tàn phá trong cái xã hội bất công, độc ác nọ. Đọc xong những truyện của Gorki, và những sách, những bài nói về Gorki, tôi đã bâng khuâng tưởng như Gorki vẫn sống. Trên mặt đất này, vẫn đăm đắm và quăng quắc những nếp trán cay đắng và đôi mày của Gorki cau cau sống chết với chân lý, với sự tin yêu ở con người... Đôi mắt ấy, những nếp trán ấy, tôi thấy vẫn đăm đắm và cau cau nhìn tôi, một ngòi bút non dại chỉ được phép gửi vào cuộc đời những trang chữ tuy vụng về nhưng phải thật chân thành, những trang chữ không thể nào chấp nhận được dù chỉ mang một nét của sự nói dối của sự mưu đồ quái quỉ, của sự sáng tạo không phải do cần thiết, những trang chữ không phải vắt từ tâm hồn ra, không phải vì lòng yêu dấu tin tưởng ở cuộc sống, không phải vì sự thật, không phải vì quần chúng, vì con người...

... Với Người mẹ của Gorki thì tôi đã ứa nước mắt. Những giọt nước mắt của sự vui mừng! Con người không phải chỉ đau khổ. Con người đã vượt lên những đau khổ, tay mình nắm lấy vận mệnh của mình, đi lên với cách mạng để tự mình giải phóng cho mình. Lịch sử của con người đã chứng thực điều đó. Phong trào công nhân, phong trào quần chúng đương sôi nổi ở chung quanh tôi, đã chứng thực điều đó. Nhưng, hơn nữa, từ lịch sử, từ cuộc đời, con người đã nhập vào và hiện lên trên những trang giấy, bằng xương thịt sống hơn, kỳ diệu hơn, lạ lùng vô cùng, sâu xa vô cùng. Con người kết tinh đó, sáng tạo đó lại từ những trang giấy nhập vào cuộc sống, lay động xúc cảm và lay động ý thức của cuộc sống, xốc những con người của cuộc đời xông lên chiến đấu nữa, để thực hiện những khát vọng những lý tưởng của mình.

Và con người của Gorki sáng tạo đây là một người mẹ đã quá nửa đời đau khổ câm lặng! Người mẹ ấy ở một giai cấp mà từ mồ hôi trán họ đã kết dựng lên một xã hội được coi là mới nhất, văn minh nhất, tiện lợi, sung sướng nhất, nhưng lại thuộc quyền một giai cấp khác không phải đổ một giọt mồ hôi, mà trái lại hưởng nhiều nhất những sung sướng, hưởng đến nỗi ngập ngụa, thối nát, bốc uế khí tội lỗi, gây độc hại và gieo rắc tàn phá!... Tâm hồn người mẹ này đã sáng lên qua bao nhiêu lớp bóng đêm dày. Ý thức của bà đã dần dần chắp cánh rồi bay vút. Bà đi vào cách mạng. Bà đi vào cách mạng với đứa con trai độc nhất của bà. Bà đi vào cách mạng với các bạn của con trai bà. Người mẹ thành đồng chí của con, đồng chí của các đồng chí của con. Và người mẹ nhỏ yếu ấy trong cuộc chiến đấu, trước sức mạnh đàn áp của giai cấp thù, đã đi lên hàng đầu và là một mũi nhọn sáng quắc...

1939-1945. Qua những năm đại chiến lần thứ hai nghiệt ngã đen tối, sống dưới hai tầng bóc lột, áp bức của bọn Nhật, Pháp thống trị, một trong những giờ khắc an ủi tôi, nhóm đượm thêm lòng vui tin của tôi, là giờ khắc tôi nghĩ ngợi và sống với những nhân vật, những cuộc đời của những tác phẩm tôi được xem, được đọc đầu tiên của Gôgôn, Đốxtôiepxki, Lêông Tônxtôi và Gorki quý mến kia, tuy ở chung quanh tôi, cuộc sống bây giờ đã thấm vào tôi bao nhiêu yêu thương, bao nhiêu tin tưởng với những con người hàng ngày chung vai sát cánh với tôi, với những sự việc đã gõ vào làm rung chuyển tất cả tâm trí tôi.

Những năm không thể nào quên được!

Cuộc sống của những thợ thuyền, dân cày vô cùng khổ sở, khó khăn, tối tăm. Mồ hôi phải vã ra gấp trăm lần hột cơm ăn. Như không còn được một chút gì để mà đọc, mà xem, mà nghe; không còn một chút gì là tươi mát cho tinh thần, trong khi cả một thứ văn hóa đạo đức, lễ giáo từ hồi phong kiến suy sụp trì trệ nhất được phục hồi lại, bao vây trùm quấn lấy họ, với các thứ kìm cặp, bòn rút của sự bóc lột. Và khủng bố, khủng bố, khủng bố!... Đàn áp... đàn áp... Những Bắc Sơn, Đô Lương, Nam Kỳ khởi nghĩa thật là bị dìm trong máu. Nhà tù và trại giam lại nhiều hơn cả những năm 1930-1931 mà lịch sử của đế quốc Pháp đã được ghi, được đánh dấu là những năm tội ác nhất! Hình như bọn cầm quyền Pháp rửa cái nhục đầu hàng và phản bội của chúng ở Pháp cũng như ở Đông Dương bằng máu và bằng sự đói khổ của cách mạng, của dân chúng, vừa rửa nhục và cũng vừa để được ăn no thêm, ngủ kỹ hơn dưới gót giày phát xít và quân phiệt...

Trong những năm ấy, có thời kỳ mà tất cả các đồng chí Trung ương và đảng viên không bị sa vào lưới quân thù còn lại hoạt động chỉ có hơn ba mươi đồng chí, và quĩ Đảng có không được bốn mươi đồng bạc. Nhưng mỗi lần quân thù họp các hội nghị cao cấp để nhận định về tình hình trị an của chúng, hay mỗi lúc chúng nhìn vào các tấm bản đồ ghi các nơi có phong trào cách mạng, hay những đêm tối chúng lật những tập hồ sơ chính trị ra để xem lại còn những lãnh tụ nào chưa bị lên máy chém, còn những đảng viên nào vẫn trốn thoát và hoạt động... những lần ấy chúng nó đều phải kêu rít lên và như nghe thấy có những tiếng nói vang âm chung quanh chúng nó:

- Cách mạng vẫn sống! Cách mạng vẫn như những mạch nước trầm trầm đi một dạo rồi lại hồng lên, rình rình phụt nổ. Cách mạng không thể nào tiêu diệt được!

Những năm ấy, lịch sử cách mạng, Đảng, các đồng chí đảng và quần chúng chiến đấu đã rọi ánh sáng cho tôi nhìn thấy, ngay trong lúc đen tối nhất, tương lai vẫn ngày một long lanh để rồi rực lên, tươi sáng mênh mông. Tương lai ấy là một hiện thực. Mầm sống và sức đi lên ấy là một chân lý. Mầm sống và sức đi lên ấy chỉ càng ngày càng nảy nở. Và tương lai ấy cũng ngày một mở ra trên tay quần chúng lao động, trên tay giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, trên tay nhân loại đã nối tiếp nhau đổ mồ hôi cho trái đất và qua hàng nghìn năm, hàng nghìn năm đau khổ viết nên những trang sử bất diệt của mình. Những điều đó còn được cắt nghĩa thêm, được chứng minh thêm với những tác phẩm nhân đạo và hiện thực xã hội chủ nghĩa mà với những tên Gorki, Lêông Tônxtôi, Đốxtôiepxki, Mácxim Gorki... bất cứ bao giờ, bất cứ lần nào hễ gợi lên trong tâm trí tôi lại rung lên, dào dạt một niềm tin yêu và kích động vô cùng...

⚝ ✽ ⚝

1957.

Cũng một mùa rét. Một mùa rét mà lần đầu tiên mưa tuyết táp vào mặt tôi, cái lạnh buốt trắng xóa đồng tuyết thấm vào da thịt tôi, một cái gì mênh mông chỉ riêng đất nước Nga mới có ôm choàng lấy tôi. Tôi đã đến một làng của đất nước mênh mông ấy. Đó là làng của Gorki. Làng đây Lênin đã về ở tĩnh dưỡng những ngày cuối cùng của Người. Bọn chúng tôi tình cờ vào thăm nhà của một nông trường viên cạnh đường cái. Bọn chúng tôi đã hồi hộp vì thấy nhà lặng lẽ một cách lạ và chỉ có một người ra tiếp chúng tôi, một thiếu phụ. Bà chủ nhân mời chúng tôi vào buồng khách, bước trên một tấm thảm hoa trải từ cửa vào. Tôi ngồi đối diện với một bức tranh sơn dầu phong cảnh. Chênh chếch phía trước mặt tôi, ở một góc nhà, hai cái giá bày một bức tượng cẩm thạch và một máy vô tuyến điện truyền hình. Chủ nhân đương dọn các thứ cam, lê, nho, táo mời chúng tôi thì có tiếng trẻ con gọi trong buồng gần đấy. Chủ nhân phải xin lỗi chúng tôi chạy vào. Luýnh quýnh giây phút, bà mới ra, dắt một em gái bé tóc kết hai dải buông lơi sau lưng, cài một con bướm xanh ở bên mái tóc, áo hồ thủy, váy hồng. Bà cười giới thiệu đây là con gái yêu duy nhất của bà, nó vừa mới ấm đầu, nhưng thấy có khách vào nhà cứ nhất định bắt mẹ cho ra chào khách. Bà mẹ vừa dứt lời thì em gái đã đến trước mặt tôi. Gương mặt em hồng hồng, vằng vặc, và nụ cười nở ra, sáng như hoa. Tôi còn đương bối rối vì sự hiển hiện nọ, thì em một tay cầm tấm ảnh con chó Laika ở trong vệ tinh nhân tạo to hó nhìn ra vũ trụ, một tay cầm một quả táo đỏ tươi chưa bao giờ tôi trông thấy, đến bẽn lẽn đặt vào tay tôi.

"- Tôi đương ở trong một làng đất nước Xô viết, hay ở trong một truyện thần tiên nào vậy, với một nhi đồng thiên thần, và với một người mẹ hiền dịu, dưới mái nhà ấm cúng mà ngoài trời kia hoa tuyết phơi phới mênh mông"?

Không! Không phải ở trong truyện thần tiên nào cả! Đó chỉ là một mái nhà của nông trường viên, và làng đó là làng của Gorki sau đúng bốn mươi năm Cách mạng tháng Mười, và cũng là sau đúng hai mươi năm tôi được đọc những tác phẩm của Người và của những tâm hồn vĩ đại của đất nước Người.

ĐỌC NHỮNG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO

Bây giờ, cái tựa đề cho những truyện ngắn của Nam Cao mới thật tin cậy. Cái tựa tự tay thời gian viết, giới thiệu, ký nhận. Cái tựa tự quần chúng mỗi người tìm thấy một bản, mỗi người hiểu một cách trong khi đọc hay sau khi đọc Nam Cao đặt sách xuống suy nghĩ. Nhưng tất cả những bản đó với những cách hiểu khác nhau đó đều đứng chung trên một điểm này: đó thật là những tác phẩm, những tác phẩm thật của con người.

Và bây giờ Nam Cao đã khuất của chúng ta lại mỉm cười. Tác giả của những nhân vật, những tâm trạng, sau đây mỉm cười:

..."Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị, nhạt phèo, gợi những tình cảm rất nông, diễn ra một vài ý nghĩ quá thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương. Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa. Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có... Hắn nghĩ thế và buồn lắm! Còn gì buồn hơn chính mình lại chán mình".

(Đời thừa)

Về một mơ ước, một cảnh sống khác:

..."Điền phải đi. Đi để giữ cho lòng mình được tươi lâu. Điền sẽ làm bất cứ cái gì để có ăn. Rồi Điền bình tĩnh viết. Có như vậy Điền mới viết ra hồn được. Lời phải đẹp; ý phải thanh cao. Ngọn bút của Điền phải khơi nguồn cho những tình cảm đầy thơ mộng. Nghệ thuật chính là cái ánh trăng huyền ảo làm đẹp đến cả những cảnh thật ra chỉ tầm thường, xấu xa...

Điền lại thấy hiện ra cái bóng dáng yêu kiều của những đàn bà nhàn nhã, ngả mình trên những cái ghế xích đu nhún nhảy. Những người ấy sẽ đọc văn Điền. Lòng họ đẹp thêm lên. Họ sẽ yêu Điền. Họ sẽ gửi cho Điền những bức thư xinh xinh ướp nước hoa. Tưởng tượng của Điền tỏa rộng ra như một cảnh trăng. Điền nghĩ đến những cuộc tình duyên lãng mạn với những người đàn bà đẹp chỉ biết trang điểm và yêu đương.

Những tiếng gắt gỏng trong nhà lại đưa ra. Vụt cái trăng mất đẹp. Điền bẽn lẽn như bị bắt gặp làm việc xấu. Điền lắng tai. Tiếng vợ Điền gay gắt hỏi:

- Làm sao thế?

Đứa con gái vừa mếu máo vừa đáp lại:

- Con đau bụng.

- Giời ơi là giời!

Ấy là tiếng vợ Điền rên lên."

Sự thực trong sáng tác của Nam Cao thì như thế. Còn sự thực của cuộc đời bản thân tác giả thì ra sao? Tôi muốn nhắc lại tập Chí Phèo của nhà văn và một số câu chuyện chung quanh tập đó.

Chí Phèo là một truyện trong tập truyện đầu tay của Nam Cao viết khoảng 1940-1941, trước tiên lấy tên là Cái lò gạch cũ. Nam Cao lấy Cái lò gạch cũ làm tên cả tập. Nam Cao đưa cho một nhà xuất bản. Chủ xuất bản là một chủ nhà thuốc lậu. Tên này ra mở hiệu thuốc năm hắn hai mươi hai, hai mươi ba tuổi. Y trước đi ở bé con sai vặt và đóng thuốc lậu vào chai, làm việc cho cũng của một hiệu thuốc lậu mà chủ nó đã là tất cả mối suy nghĩ và mơ ước của y về sự giàu sang, về cứu nhân độ thế... về sự dốt nát, về xoay giở, bịp bợm, và phất.

Nam Cao phải đưa truyện đến nhà xuất bản nọ mà cũng không tin rằng truyện được xuất bản. Bản thảo Cái lò gạch cũ cứ vứt lay vứt lắt ở các chồng bản thảo khác đến nửa năm. Tình cờ Cái lò gạch cũ được chú ý. Người chú ý là một nhà văn nọ nổi tiếng một thời về cái "triết lý sức mạnh" cái tài viết nhiều của y, và cả vì cái đức độ có nhiều đàn em đi theo hút thuốc phiện, ăn phở, rồi về viết cho đàn anh ký tên đưa các nhà xuất bản lấy tiền để lại đi hút thuốc phiện, ăn phở. Nhà văn của "triết lý sức mạnh" để ý đến bản thảo của Nam Cao không phải vì tìm đọc mà vì ngạc nhiên. Tên truyện và tên tác giả gì mà lại nôm na đến ngớ ngẩn thế kia ở giữa cái thời mà tất cả những nhà văn có tên tuổi nhiều, tên tuổi ít, hay đương hăm hở, cay cú đi vào làng văn cho có tên tuổi đều phải tìm cho truyện của mình những cái tên gí vào người đọc như điện vậy?

Những: Sự động cỡn của đàn bà... Khi chiếc yếm rơi xuống... Ngựa đã thuần rồi mời ngài lên... Đời mưa gió... Trại Bồ tùng linh... Phấn hương... Đẹp, vân vân...

A ha! Cái lò gạch cũ! Cái lò gạch cũ và tên tác giả lại là Nam Cao!

Cái lò gạch cũ được nhắc ra khỏi đống bản thảo vứt bạ ở nhà xuất bản để rồi theo nhà văn đàn anh kia, lại nằm bạ ở một cái bàn cũng như thế. Lại một sự tình cờ khác, Cái lò gạch cũ lại được chú ý. Cũng vì cái tên truyện và tên tác giả. Nhưng lần này nó được đọc. Người đọc nó chỉ là một gã bạn lấy tên của nhà văn. Gã chưa đọc xong hết tập thì sửng sốt vô cùng và đi ngay các nơi thường nhóm họp làng văn mà tri hô lên những cái lạ, cái hay trong tác phẩm. Nhà văn đàn anh lừng lẫy kia bổ chửng ra, vội vàng đòi lại xem. Y ngốn xong bản thảo liền đề cho luôn ngay một cái tựa. Chưa đủ. Y còn đổi cho một cái tên khác: Đôi lứa xứng đôi.

Thế là Đôi lứa xứng đôi được xuất bản. Nam Cao của chúng ta đón lấy cuốn sách đầu tiên của mình mà bàng hoàng. Bàng hoàng vì truyện không những được in mà lại còn được cả tiền nữa. Tôi không nhớ chắc, tiền tác giả tập đó đâu như ba chục bạc thì phải.

Chao ôi! Không có những cái gọi là sáng suốt phát hiện tài năng, chân thực lẫn tài, nhiệt tình nâng đỡ cây bút mới của nhà văn đàn anh kia và của một nhà xuất bản cúc cung tận tụy với văn chương mặc dù không lãi bằng thuốc lậu, thì làm gì một người mới viết như Nam Cao lại có sách in... có tiền... nhất là có tên tuổi nữa...

Nhưng, dù đã được cả một bài tựa của một nhà văn đàn anh đề cho, dù được đặt cho một cái tên rất là một sự lôi cuốn, dù được tri hô lên ở giữa làng văn: "Thiên tài mới! Thiên tài mới"..., từ lúc ra đời cho đến lúc nằm mốc meo ở các hiệu sách, Đôi lứa xứng đôi không được một dòng chữ nào nhắc nhở đến trên mặt sách báo lúc bấy giờ. Chỉ vì đã được gọi là nhà văn, nhập vào làng văn mà Nam Cao không biết tùy khúc. Nghĩa là Nam Cao cứ lệt bệt ở cái xó làng Vũ Đại với những Thị Nở, Chí Phèo, Lão Hạc, với những Điền, Hộ, Thị Từ v.v... của anh. Nam Cao không chịu vác món tiền ra Hà Nội, "rưới" cho tác phẩm đầu tay của mình theo như tục lệ làng văn, bằng những chả cá, thuốc phiện, và rượu hát cho các bạn làng văn. Nhất là tiêu cho các nhà phê bình trấn ở các báo hàng ngày, hàng tuần lúc đó, nóng lòng chờ đợi các thiên tài đến gõ cửa, và sẵn sàng giáng cho những búa to, dùi nhỏ lên đầu những ai không biết hiểu thiên tài, và cả lên đầu nhau để tìm cho ra và giữ cho được cái "chân lý" của mình. A ha! Tác phẩm ra đời nhưng không có những ngòi bút "phê bình", khám phá ra những điều hay ho, rồi giới thiệu cho, thì làm sao thiên tài lại xuất hiện và được hiểu biết được? Nhất là làm sao sách lại bán chạy, lại được nhiều người đọc?

Chao ôi! Với những ba chục bạc và mười lăm cuốn sách bản quyền tác giả mà Nam Cao của chúng ta lại không biết dùng cho tên tuổi và sự nghiệp của mình!

Mặc dù, Đôi lứa xứng đôi vẫn cứ được đến tay những người đàn bà nhàn nhã ngả mình trên những chiếc ghế xích đu nhún nhảy đọc.

Và tôi lại xin phép kể thêm một chuyện về Đôi lứa xứng đôi.

Lại một sự tình cờ, trong một buổi chuyện gẫu bên bếp lửa lùi sắn trên nhà sàn ở Việt Bắc, Nam Cao và mấy chúng tôi đều rất hăng hái, mê ly bàn luận về các thứ văn chương thiên hạ sự. Không hiểu sao chúng tôi lại nhắc đến Chí Phèo, đến độc giả của Chí Phèo. Một nhà văn bạn trong chúng tôi gật gù bảo Nam Cao:

- Bác Nam ơi! Bác cứ hay phẫn! Chính nhờ cái độc giả nhàn nhã ngả mình trên ghế xích đu nhún nhảy mà Điền của bác mơ ước ấy mà tôi được phát hiện về bác đấy.

Nam Cao đương ngồi chành bạnh, cái đầu gối rung rung, thì đỏ ửng ngay mặt, khịt khịt mũi trong mùi soa, không cười nói nữa. Anh bạn chúng tôi vẫn cười nói tiếp:

- Cái kiểu người chính là kiểu người vợ tôi. Dạo ấy tôi còn làm phán nhà Đoan lương hơn trăm, vợ là con gái út một ông phủ cơ mà! Vợ tôi đọc bác. Đọc bác và phát hiện ra bác. Số là tôi rất có thành kiến với bất cứ tác phẩm đương thời nào, đó là một tật; tật thứ hai là tôi chỉ đọc những tác phẩm nào mà vợ tôi chê dở, chê tồi. Thì một hôm, tôi đi làm về thấy có một cuốn sách mới mua mà chỉ rọc có mươi trang, bỏ lay lứt ở dưới chân giường vợ tôi. Tôi thờ ơ cầm lên hỏi: "Cuốn này thế nào?". "Hôm nay em nhức đầu hay sao mà sách mới lại đọc bỏ dở như thế?". Tôi sờ trán, sờ đầu vợ tôi thấy chẳng sao cả, vợ tôi nguẩy người một cái, quều lấy cuốn nọ:

- "Truyện với trò! Thế này mà cũng in! Cũng bán! Vớ vớ vẩn vẩn, chẳng ra cái chuyện gì cả.

"Rồi vợ tôi và tôi ra ngoài hiên, ngồi chờ dọn cơm. Theo như cái tật của tôi, tôi liền đọc cái cuốn sách mà vợ tôi phê là truyện "vớ vớ vẩn vẩn" ấy...

Anh bạn chúng tôi liền ngừng nụ cười, hạ thấp giọng:

- "Bác Nam ơi! Em hoảng đấy! Bác làm em hoảng đấy! Bác viết lạ quá! Hay quá! Lần đầu tiên em hoảng đấy!... Chí Phèo của bác lạ quá! Hay quá! Thật là hoảng vì truyện ngắn của bác, vì bác đấy. Thế mà bác cứ hay phẫn!

Gương mặt bóng và gồ gồ của Nam Cao càng đỏ ửng lên. Nam Cao cười. Bác Nam tôi cười trước cả chúng tôi...

⚝ ✽ ⚝

18 năm. Phải, đúng 18 năm, Chí Phèo của Nam Cao bằng xương bằng thịt khật khưỡng đi vào cuộc đời văn học, đi vào trí nhớ của mọi người. Và nhiều nhân vật khác nữa của Nam Cao, mà hồn với xác của nó cùng bao nhiêu hồn xác khác của những con người tưởng tượng và sáng tạo của văn thơ, đã làm cho sự sống thật của mặt đất thêm phong phú những suy nghĩ, yêu thương. Một khoảng thời gian không dài lắm. Nhưng cũng đủ cho tất cả những cái gì là ăn sống nuốt tươi, gian dối, lừa bịp, đĩ thõa, buôn bán, tệ hại... tất cả những cái gì mà chữ đúng nhất để gọi tên nó, chỉ có thế là hai chữ "bất lương" dù nó được khoác được đội cho các thứ khăn áo gọi là văn chương, tác phẩm, phê bình, nghệ thuật, cao quý, tuyệt vời v.v... Tất cả các văn học làm bằng những thứ ngòi bút đầu cơ bán mình và vô sỉ ấy đã trơ ra hết sự thực của nó.

Qua thời gian, những giá trị thực của một nền văn học chân chính, hay nói một cách khác, chân lý của tư tưởng, của con người chiến đấu và trưởng thành trong nghệ thuật, chỉ càng ngày chói ngời, vời vợi. Qua thời gian, quần chúng lấy tâm hồn của mình chuốt cho những tác phẩm. Những tác phẩm của Nam Cao đã được sự trau chuốt này. Vàng ngọc của sự sáng tạo của Nam Cao đóng góp xây đắp cho lâu đài văn học đã óng ánh thêm trong những bàn tay lao động và sáng tạo của quần chúng. Cái con người mảnh khảnh, gầy yếu ấy đã đứng thẳng không một phút chùn bước, không chịu lút mình trong bão lốc vùi dập của một chế độ vô cùng thối nát, đen tối. Anh đã vắt từ những quằn quại, xót xa của mình ra những dòng ánh sáng thương yêu và tin tưởng để chứng minh sự sống nỗ lực của con người.

Bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào, những con người nghèo khổ, chịu thương chịu khó, vã mồ hôi ra làm nên thức ăn, áo mặc và lâu đài, đều vươn lên ánh sáng. Họ càng xơ xác, cùng kiệt bao nhiêu thì những tình cảm tươi tốt của họ càng rỏ thấm nhiều thêm mặt đất bấy nhiêu. Họ càng lấy thế làm sung sướng. Hai bàn tay của họ mở ra, không có một mảy may tiền của, trừ có mồ hôi, chai tay và bùn đất, trên đó một thứ quả chín ngọt nhất, một thứ hoa tươi ngát nhất, nở ra... Hoa và quả của tâm hồn họ... Cái chín ngọt và tươi ngát của bản chất họ.

Giữa những con người ấy, có những ngòi bút cùng chịu với họ những sự giày đạp, tàn phá. Những ngòi bút ấy cất vẽ lên những gương mặt, những tâm hồn của họ. Với những ngòi bút ấy, trái tim xấu xa của họ được soi chiếu thật là sáng rõ. Nhờ những ngòi bút ấy, cuộc đời được thấy thật thêm hình ảnh của họ. Cũng nhờ những ngòi bút ấy, họ nhìn trở vào thấy trái tim mình rõ hơn, thấy hết, thấy đúng, mà cả họ và cuộc đời đều bàng hoàng, sửng sốt, không ngờ được.

Nam Cao là một trong những ngòi bút kể trên. Những con người của Nam Cao sáng tạo là những con người trong đám người kể trên. Những Chí Phèo, Thị Nở, Lão Hạc và bà cụ già chỉ có cái tên chung là bà cái đĩ trong truyện Một bữa no kia mà Nam Cao để lại cho cuộc sống, chính là hình ảnh sinh động của một số nông dân ngoi ngóp trong cảnh nghèo đói. Họ đã bị áp bức và bóc lột đến cùng kiệt, và cũng bị phá hoại đến cùng kiệt, thể chất cũng như tinh thần, dưới cái chế độ thống trị của bọn cường hào phong kiến.

Sự xuất hiện của những truyện ngắn của Nam Cao thật là đột ngột.

Dòng tiểu thuyết của văn học Việt Nam đã non yếu lại phải vượt lên qua bao nhiêu sự khó khăn, phá hoại của chính sách ngu dân và chế độ kiểm duyệt lúc bấy giờ. Mặc kệ, những tác phẩm của Nam Cao cứ như một luồng ánh sáng xuyên qua tất cả những sự bưng bít, chèn ép mà đi sâu vào quần chúng. Nghệ thuật vững chãi và sâu sắc của Nam Cao gây thêm lòng tin ở những khả năng tiềm tàng thật là tươi tốt và ở sức phát triển của dòng văn học hiện thực, đi vào đây, chiến đấu trong đây, có bao nhiêu ngòi bút chật vật, gian khổ.

Chật vật, gian khổ và cố gắng không ngừng, ngòi bút Nam Cao đã đem lại một nét thật là đặc sắc. Có lẽ trong văn học Việt Nam, với ngòi bút của Nam Cao ta bắt đầu được thấy thật có sự sống, thật có con người trong truyện ngắn, cùng với một số tác phẩm chân thực của một số ngòi bút dũng cảm khác. Tuy ta đã được đọc không ít những truyện viết về sự đói khổ, bóc lột, áp bức về những cảnh thương tâm, đen tối của một xã hội đầy rẫy những bất công, nhưng qua Nam Cao ta được nghe thấy cất lên thật là những tiếng nói, ta được thấy lung linh thấm thía thật là những tâm hồn, ta được chứng kiến thật là những cuộc đời, - những tiếng nói, những tâm hồn, những cuộc đời mờ mịt, ngoi ngóp, xơ xác ở nông thôn mà từ trước đến giờ ta rõ ràng đã trông, đã nghĩ mà gần như không hiểu, không thấy gì hết!

Mà sao heo hút, sao ngột ngạt đời những con người nông dân nghèo túng, trơ trọi kia? Đọc Nam Cao, cười với Nam Cao xong, ta thấy tâm trí nghẹn lại, ngực ta tức tối, ý thức ta có một cái gì nhấp nháy như ánh sáng chỉ chờ bắt cháy được thêm một sức mạnh gì đấy có thể nổ bừng lên.

A! Cái cười làm thêm cay đắng, xót xa, không có Nam Cao làm sao ta được cười một cái cười đặc biệt như thế? Không có Nam Cao làm sao ta có được những hình ảnh như Thị Nở, lão Hạc... cùng với bao nhiêu hình ảnh sáng tạo khác để cho ta thương yêu thêm và hiểu sâu sắc thêm cuộc sống của con người trên mặt đất này? Và cái thế giới của những Bá Kiến, Đội Tảo, của cái làng Vũ Đại hẻo lánh dưới một quyền hành cho ai sống được sống, bắt ai chết phải chết kia, càng làm ta thêm suy nghĩ và thấy phải có một trách nhiệm gì trước với những con người bị đè nén, bóc lột ở trong đó.

Bên cạnh cuộc sống của những người nông dân cùng cực mà Nam Cao tạo nên kia, còn có thêm những con người cũng túng thiếu, cũng bị giày vò, quằn quại nhưng mà thuộc về từng lớp khác: đó là từng lớp tiểu tư sản. Đọc xong những Trăng sáng, Đời thừa, Nước mắt, Mua nhà v.v..., ta cũng bị ngạc nhiên. Đó là những cảnh đời. Ở ngay bên cạnh ta, những cảnh đời của chính là từng lớp của nhiều chúng ta, mà đến nay nhờ đọc Nam Cao chúng ta cũng mới thấy thật hơn, sâu sắc hơn. Chúng ta càng bàng hoàng đau xót vì thấy bao nhiêu ước vọng, mê say, thương yêu, tha thiết nhất của những con người họ, của chính chúng ta đã bị trĩu cánh xuống, giập nát. Cũng vì nghèo khổ! Cũng vẫn chỉ vì nghèo khổ!

Sự nghèo khổ cũng chưa được cắt nghĩa và chưa được một luồng ánh sáng của ý thức mới chiếu vào, nhưng cũng cạo vào đến xương trắng của chúng ta. Mang những đau xót nhức nhối ấy, chúng ta cũng lại bị thôi thúc vì nhiều ý nghĩ, nhiều câu hỏi. Tuy chúng ta không được Nam Cao trả lời một cách đến nơi đến chốn, nhưng trước một thái độ thật là trung hậu, chân thực như thái độ của Nam Cao, chúng ta càng đi với anh, càng quý mến tin tưởng. Trong cái giai đoạn đen tối đè trĩu lấy con người lúc đó, chúng ta càng thấy phải nhìn thẳng vào sự thực, và chỉ được nhìn thẳng vào sự thực, đem hết lương tâm ra chịu trách nhiệm trước cuộc sống, tìm một con đường giải phóng.

"Bao nhiêu người nữa, cùng một cảnh, khổ như Điền. Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta. Tiếng đau khổ vang dậy lên mạnh mẽ. Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội trong lòng Điền: Điền chẳng đi đâu cả, Điền chẳng cần trốn tránh, Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời.

Sáng hôm sau, Điền ngồi viết.

(Trăng sáng)

Qua những truyện ngắn, con mắt nhìn Nam Cao đặt cho chúng ta, những ý nghĩ Nam Cao gợi dậy trong tâm trí chúng ta, và tinh thần trách nhiệm Nam Cao đề ra với chúng ta, càng ngày ta càng thấy rõ hơn. Tới Cách mạng và kháng chiến, chúng ta càng gắn với Nam Cao, trân trọng Nam Cao hơn. Chúng ta gắn bó, trân trọng quý mến Nam Cao vì Nam Cao nâng hẳn chúng ta lên một mức. Đó là mức ý thức tích cực của một con người trước quần chúng, trước dân tộc, trước lịch sử. Với những trang nhật ký Ở rừng và Vài nét ghi qua vùng vừa giải phóng, chúng ta được sống thêm với Nam Cao, vẫn trong một tinh thần phải vận dụng hết mình ra để suy nghĩ, tìm hiểu, vượt lên tất cả những đau đớn riêng tây, lao vào cuộc sống chiến đấu mà gánh lấy nhiệm vụ.

Tôi xin được dừng lại ở đây. Tôi xin chỉ được viết về những truyện ngắn của Nam Cao. Những truyện ngắn cách đây mười sáu, mười bảy năm đã da diết tâm trí tôi, lay động ý thức tôi. Những truyện ngắn sao mà quý báu! Càng đọc thêm càng thấy tin cậy, quý báu, càng tiếc. Nam Cao mất năm 1951. Giặc Pháp đón bắt, bắn chết Nam Cao ở bờ sông trên con đường Nam Cao trở về quê nhà công tác. Năm ấy Nam Cao mới ngoài ba mươi tuổi.

7 -1960

HẢI PHÒNG VỚI TÁC PHẨM "CỬA BIỂN" CỦA TÔI

Tôi lớn lên rồi vào cuộc đời ở Hải Phòng, một thành phố kỹ nghệ, một hải cảng, một cửa biển lịch sử. Cuộc sống nơi đây, cái xã hội lao động, lầm than với những phong trào cách mạng của nó, cái mặt đất biển khơi với những dòng sử xanh bất tử của nó, đối với tôi cho đến bây giờ, vẫn là những hình ảnh, những điều gợi nhớ suy nghĩ, những niềm thương yêu và tin tưởng vô cùng.

Đất nước thần thánh và lịch sử hát ru. Đất nước và lịch sử Hải Phòng yêu dấu của tôi. Ngay từ bước đầu vào đời văn, tôi đã thấy đối với Hải Phòng, tôi mắc một món nợ, tôi đã yêu một tình yêu, không có thể nào trang trải, thay thế được, nếu tôi không có những tác phẩm mang tận cùng sự cố gắng và say mê của tôi khi viết về nó. Bao nhiêu năm tháng tôi đã trải qua là bấy nhiêu năm tháng của con người, của cuộc sống và của lịch sử của Hải Phòng đã quấn quýt da diết tôi.

Những năm dưới gông xiềng Nhật - Pháp, những năm mà tâm hồn và tư tưởng của con người không thể nào chịu những sự gian dối hơn được nữa, không thể nào thở và sống thêm được nữa với một chế độ bạo ngược cứ một ngày một thắt lấy đời mình, càng ngày càng đen tối ngột ngạt ấy... tôi lại càng cồn cào vì viết, viết về Hải Phòng.

Hải Phòng với những con người cần lao đau khổ. Những con người đã đem mồ hôi nước mắt của mình tưới cho mặt đất, khát vọng của họ cũng như cuộc đời của họ đã đẫm mồ hôi nước mắt luôn luôn phải cố cất lên nhưng cứ bị những sự bất công tàn bạo dập xuống, thậm chí họ cũng không còn được nhìn nhận là có quyền có cuộc đời của mình, có quyền khát vọng, có quyền mơ ước. Tôi phải viết về những con người và cuộc sống ấy của Hải Phòng. Những con người và cuộc sống ấy đã quằn lên, đã bị đạp xuống, lại quằn lên, và đã chịu bao nhiêu tan nát, chịu bao nhiêu cái chết. Những con người và cuộc sống ấy đã có những tiếng thét chưa dứt mà cổ đã bị bóp lại, đã có những lúc tâm hồn và ý chí bốc lên thành lửa, bùng lên thành ánh sáng, và đã từ bùn lầy than bụi đứng lên giằng gỡ những xiềng xích. Những con người và cuộc sống ấy đã nhận ra những nguyên nhân của mọi nỗi thống khổ của đời mình, và thấy không thể làm việc gì khác, là tự bàn tay mình phá tan những ngục tù giam hãm mình để từ cái mặt đất đau thương của mình đã chết đi sống lại kia, lại tự tay mình xây một cuộc đời khác, mở ra một bầu trời khác.

Những con người và cuộc sống ấy ở Hải Phòng là những con người và cuộc sống của quần chúng làm cách mạng. Trong cách mạng, họ đã đi đến mỗi người với một sự đau xót, với một niềm khát khao không thể nào xóa nhòa được. Nhưng cũng trong cách mạng, mỗi người đã phải, vẫn với máu thịt của mình, chiến đấu để đánh đổi lấy sự tự do, niềm tin tưởng hy vọng và tương lai cho mình, đã phải chiến đấu một sống một chết với cái giai cấp thống trị đã đàn áp họ bằng tất cả những sức mạnh tàn bạo nhất và bằng những sự dã man nhất dưới cả súc vật.

Cách mạng: một lò lửa. Trong lò lửa ấy những xiềng xích đã chảy ra. Cũng trong lò lửa ấy những cái gì là thối nát, phản động đã bị chiếu rọi tan tành. Cũng trong lò lửa ấy những cái gì là quý báu nhất, tốt tươi nhất của tinh thần, tình cảm, ý chí con người đã chói ánh lên, rực rỡ, cất cánh.

Hải Phòng với những quần chúng cách mạng của nó, Hải Phòng với những con người và cuộc sống lầm than, đau khổ của nó, Hải Phòng với những năm từ 1935 đến 1945, qua bao nhiêu cuộc biến chuyển với bao nhiêu sự phân hóa trong các tầng lớp xã hội, Hải Phòng thương yêu, đau xót, tin tưởng và chiến đấu của tôi ấy, là đề tài của bộ Cửa biển của tôi, mà tôi đã hoàn thành xong phần một là tập Sóng gầm.

1939, Đại chiến lần thứ hai bùng nổ. Thống trị Pháp ở Đông Dương chuẩn bị cả một cuộc đầu hàng bọn quân phiệt Nhật. Trong sự chuẩn bị ấy, chúng trở lại đặc biệt khủng bố phong trào cách mạng, bóp nghẹt và cướp lại những quyền lợi mà quần chúng công nông đã giành giật được. Sau những bài báo: Những giọt sữa, Người đàn bà Tầu đăng trên tờ Mới của Đoàn thanh niên dân chủ xuất bản ở Sài Gòn, tôi bị đế quốc Pháp xử tù ở Hải Phòng. Tôi đã được gặp đồng chí Tô Hiệu trong nhà tù. Cũng trong nhà tù, tôi được sống với những đồng chí công nhân. Có cả công nhân Hoa kiều. Đó là hai cha con ông thợ máy già ngoài mỏ Hòn Gai, và một người cháu của ông cũng là thợ máy. Một lớp huấn luyện theo đề cương Cách mạng tư sản dân quyền do đồng chí Tô Hiệu hướng dẫn, đã mở liền một tháng ròng cho chúng tôi. Lớp huấn luyện với những bạn học đầu tiên trong đời tôi là những công nhân, những người chiến đấu, những thanh niên dường như hoàn toàn sống bằng lý tưởng, vui tin và hy vọng. Lớp huấn luyện còn thu hút cả những chị em công nhân và những nữ thanh niên dân chủ giam ở xà lim riêng, bên kia trại chúng tôi. Trong số chị em bị giam đó có cả một đứa bé còn phải ẵm. Đó là con anh chị Đổng, công nhân Nhà máy xi măng. Anh Đổng cùng giam với tôi. Tôi suýt quên: chị Đổng lại đang có mang. Trong nhà tù, đứa hài nhi này đã được ra đời, nhưng lại chết sau khi lọt lòng mẹ. Chị Đổng bị sẩy thai trong xà lim. Tin đó chúng tôi nhận được một buổi sáng mùa rét, cửa các trại giam mở ra quét dọn. Chúng tôi chỉ được lờ mờ nhìn nhau và ra hiệu cho nhau. Những ngày mùa rét năm ấy, sao mà ghi nhớ! Đồng chí Tô Hiệu ho lao nặng. Chúng tôi phải chia cho nhau từng cái đầu tôm mặn trong những bữa ăn. Đồng chí Tô Hiệu cả một bữa ăn cũng chỉ có hai cái đầu tôm, và, đêm lạnh, anh em nhường chăn cho đồng chí cũng không nhận. Cả ngày đồng chí hướng dẫn anh em thảo luận. Trưa tối và khuya đồng chí ngồi còm cõi gò ngực trên miếng biển gỗ đề số tù để viết tài liệu sáng mai truyền sang cho xà lim phụ nữ.

Những chị em nọ án nhẹ hơn được thả ra trước. Tất cả rồi lại lao vào chiến đấu trong phong trào.

Ở tù ra, tôi trở lại xóm Cấm rồi xóm Chùa Đông Khê, những xóm lao động nghèo thảm của tôi. Tôi viết tập Xóm Cháy. Tôi đã viết được bốn chương. Tháng 6 -1940 đế quốc Pháp trước cuộc tấn công của phát xít, tuyên bố Ba-lê bỏ ngỏ. Chính phủ đầu hàng, phản bội và phản động Pê-tanh lên. Tôi lại bị bắt, tôi bị đưa đi giam ở trại tập trung Bắc Mê, Hà Giang. Bốn chương Xóm Cháy, tôi lại để lại cho mẹ tôi và em gái tôi. Thế là những chương tiểu thuyết viết về Hải Phòng ấy bị đứt đoạn! Lên trại giam được mấy tháng, tôi lại tiếp tục viết. Tôi viết lại từ đầu, viết hẳn những chương mới. Buổi trưa đi làm cỏ vê, tôi viết ở một góc cây mé sau trại. Tối khuya, tôi viết trên cái mặt hòm gỗ bưu kiện với ngọn đèn dầu lạc. Dầu lạc mẹ tôi gửi từ Hải Phòng lên, cùng với cá khô, tôm kho mặn và mắm ruốc. Năm ấy dầu tây khan hiếm, vả lại gửi dầu tây rất dễ đổ vỡ, dây dính vào thức ăn, vì từ Hà Giang vào Bắc Mê phải thồ bằng ngựa lội qua hàng chục con suối. Có những ngày tôi sốt rét và ho ra máu, tôi nằm đọc cho một đồng chí viết. Dạo sau này tôi viết bằng bút chì. Tất cả được gần 300 trang giấy pơluya mỏng. Tập Xóm Cháy viết xong, tôi ghép lại thật chặt, bọc bằng tờ giấy dầu, giấu trên nóc mái lá đầu sàn chỗ tôi nằm... Hoàn thành xong bản thảo này và cất giấu đi, tôi cũng không mong được xuất bản hay gửi ai đưa về nhà cả. Trừ phi chiến tranh kết liễu, cách mạng thành công, hay tôi được tha. Thì một tối... tôi giở xem tập Xóm Cháy, không thấy đâu nữa. Thời kỳ này "căng" đương bị khủng bố. Những "chó" lớn, "chó" bé ở "căng" cùng với bọn "a - b" cài vào cứ sin sít.

Tôi ngơ ngẩn không biết là bao nhiêu lâu. Nhưng rồi tôi lại viết. Tôi không viết tiểu thuyết nữa. Tôi viết những mẩu ngăn ngắn giả làm nhật ký và thư. Lúc được tha về, tôi lấy một số mẩu đó viết thành tập Cuộc sống.

1942, tôi về quản thúc ở Hải Phòng. Bốn chương đầu của bản thảo đầu tiên trong Xóm Cháy, mẹ tôi giữ cho tôi vẫn còn. Cầm trong tay, đọc lại những chương truyện mà bao nhiêu người quen biết, thân thuộc trước đây, kẻ xiêu tán đi hết, kẻ vẫn tiếp tục chiến đấu, kẻ tù đày, chết, đứa quay ra phản bội, đứa giàu có mãi lên, giữa cái thành phố từng giờ, từng ngày rền rú còi báo động bom Mỹ, hết nhà máy này đến xưởng thợ khác đóng cửa, cứ hàng nghìn hàng nghìn thợ đuổi ra, bơ vơ không còn biết đi đâu, đêm đêm phố xá lạnh vắng với ánh đèn xanh, gọi là đèn phòng thủ, tinh mơ dậy đã thấy tiếng vó ngựa lộp cộp, tiếng ngựa hí, tiếng gót giày đinh xào xạo ngoài đường, tiếng những thanh gươm xàn xạt bên đùi của những sĩ quan Nhật lạnh lùng, tàn bạo,... đọc lại Xóm Cháy và sống giữa những ngày ấy, tôi lại thấy cồn cào cả tâm trí, và lại thấy phải viết tiếp. Nhưng tôi thấy không thể sao viết tiếp, viết lại được. Những đau xót, những u buồn cứ đè trĩu xuống ngòi bút tôi. Càng cố đưa ngòi bút đi chỉ mong được lấy mấy dòng đầu thôi, thì ngòi bút lại càng quằn lên, nặng nhọc vô cùng, và không làm sao ra chữ. Không những tôi không viết tiếp được mà cuối cùng tôi đã xé cả bốn chương kia đi. Khi xé xong và đốt thành đống tàn ở trước mặt, tôi đã giấu cả vợ tôi. Tôi xé và đốt đi như thế để một ngày tới đây, tôi sẽ viết hẳn lại, viết khác hẳn, thêm nữa những nhân vật, những con người, thêm nữa những cuộc đời và những cuộc chiến đấu, thêm nữa những chuyển biến và sự thật - những nhân vật, những con người, những cuộc đời, những cuộc chiến đấu, những chuyển biến và sự thật mà cách mạng và thời gian đã cho tôi thêm ánh sáng để soi chiếu và suy nghĩ, mà cách mạng và thời gian đã mở ra cho tôi thấy được những chiều sâu, đã làm cho tôi thấm thêm được những sức nặng, vừa đòi hỏi ở tôi, vừa cho phép tôi tin tưởng hơn nữa, ở sự cố gắng lớn mạnh của mình.

Cách mạng tháng Tám thành công... Kháng chiến bùng nổ... Nhân cái đà sau khi viết được xong tập "Địa ngục" và "Lò lửa" tôi trở lại với những dự định cũ. Hải Phòng bây giờ đương nằm trong vùng tạm chiếm. Những Nhà máy xi măng, Bến Sáu Kho, khu Gia Lạc viên, Phốt Phát, Hạ Lý, Máy Tơ, Máy Chỉ... những con sông Tam Bạc, sông Dế, sông Cửa Cấm... những cầu Ca Rông, chợ Vườn hoa đưa người, chợ Cột đèn và cái xóm Cấm, xóm Chùa Đông Khê xa xôi của tôi kia, cứ mỗi lúc hiển hiện lên trong trí tưởng tượng của tôi lại càng làm tôi xa xót. Những lúc tôi ba lô trên vai, đi một mình trên những nẻo rừng ngút ngàn Việt Bắc,... những lúc nhìn những làn khói bom giội xuống đen ngòm, của những trận máy bay giặc oanh tạc điên cuồng ở chung quanh tôi; ... những canh khuya tôi thức giấc ở cơ quan càng ngày càng lùi mãi vào những thẳm rừng,... những bữa ăn làn khói cơm bốc nóng chung quanh tôi đông đủ có mẹ tôi, vợ tôi và các con trai tôi... thì Hải Phòng xa xôi, đau thương và vẫn chiến đấu của tôi kia biểu hiện lên sao mà rõ và nung nấu?

Những năm đó tôi đã chỉ nghĩ làm sao tôi lại được trông lại Hải Phòng, chân tôi lại được đi trên những con đường Hải Phòng, và Hải Phòng mà tôi trở lại đó sẽ là Hải Phòng giải phóng để tôi ôm rồi hát lên cùng với nó. Phải! Tôi đã chỉ tưởng nghĩ như thế, còn viết về nó tôi vẫn thấy ngại ngùng và không sao cất nổi những dòng chữ bắt đầu...

⚝ ✽ ⚝

Nhưng những dòng chữ bắt đầu không những đã bắt đầu được mà đã thành trang, thành tập. Tôi đã trở về Hải Phòng giải phóng. Tôi đã trở về với Hải Phòng những ngày đầu tiên tiếp quản. Tôi đã trở về với Hải Phòng tàn phá tan hoang dần dần khôi phục. Tôi đã trở về với Hải Phòng không những đã lên da lên thịt, khí huyết dạt dào, mà còn tươi sáng lên, rực rỡ, nguy nga. Hải Phòng đương nhả khói, đương vang động các tiếng còi tàu. Hải Phòng đương từng giờ từng giờ đổi khác với những cơ sở công nghiệp, với những khu công nhân, với những trường học, những vườn hoa, những nhà thương, những phòng đọc sách, những nhà ăn công cộng, với những con người từ đây vĩnh viễn làm chủ đời mình, những con người lao động mà cha ông đã đổ mồ hôi xây dựng, đã rỏ máu chiến đấu cách mạng và kháng chiến, và con cháu mình đương lớn lên dần dần vào các nhà máy, xưởng thợ và chia nhau đi các công trường, nông trường toàn đất nước. Tôi đã trở về Hải Phòng với một tuổi bốn mươi và một tâm hồn thấy trẻ, thấy khỏe, rạt rào chưa từng thấy.

Tất cả những nhân vật, những cuộc đời, những chuyển biến và những cuộc chiến đấu mà tôi nghiền ngẫm kia, đã nhuần nhuyễn đến độ mỗi lúc tôi tưởng tượng ra thì lại hiện lên roi rói thành xương thành thịt hoạt động lên ở trước mắt tôi, nâng đỡ ngòi bút tôi, thì thầm kể lể, và thôi thúc ngòi bút tôi phải viết. Tôi đã viết xong Sóng gầm, một giai đoạn chuyển biến của những nhân vật, những công nhân, những dân nghèo thành thị và những tiểu trí thức sống trong những phong trào Mặt trận bình dân từ năm 1935 đến 1939.

1958 tôi đi thực tế ở Nhà máy xi măng, thời gian ấy tôi đã hoàn toàn dành cho công việc xây dựng Sóng gầm. Tôi rất ít ghi chép tài liệu về những đời sống và những sự việc. Tôi chỉ hỏi và nghe. Tôi chỉ nhìn ngắm và suy nghĩ. Tôi chỉ hồi hiện và phác tả. Tôi chỉ tưởng tượng và tưởng tượng. Ngay trong khi tôi xếp gạch cờ-lanh-ke ở lò nung, hay đẩy goòng, hay lái xe cày, ngay trong khi tôi làm việc, hội họp, chuyện vui, ăn uống, đi chơi với những bà con anh chị em công nhân ở đây, tôi đều không thấy mình là nhà văn và là nhà văn đi lấy tài liệu, tìm tài liệu gì cả. Tôi chỉ là một con cháu của đất Hải Phòng, sống với những bà con thân thuộc của mình; dĩ vãng của họ, lịch sử của họ gắn với dĩ vãng và quá trình trưởng thành của tôi như chính là dĩ vãng và lịch sử của cha ông tôi, của con cháu tôi. Từng mảy may ý tình của những anh chị em công nhân chung quanh tôi, của gia đình công nhân nơi tôi ăn ngủ và đi lại, mà tôi được nghe họ thổ lộ, tôi đều không thấy xa lạ một chút nào và chỉ làm tôi càng thấm thía, làm tôi càng thấy rạt rào, càng thấy thêm bao nhiêu sự sâu xa, yêu mến của con người. Tôi sống một sự sống rất hàng ngày với tất cả những diễn biến bình thường của nó. Nhưng khi xây dựng cốt truyện, khi xây dựng lại những nhân vật, khi đề lên những vấn đề của những nhân vật, thì lại là những phút cao độ nhất, quyết liệt nhất, mê man nhất của tôi trong một sự hủy diệt và tái tạo phức tạp nhất. Tôi thật làm nhà văn. Tôi phải sáng tạo. Tôi phải chịu những trách nhiệm đặc biệt. Sự sống của văn học đòi hỏi tôi phải vui trước, đau trước, hy vọng trước, thấy tương lai trước; tôi phải dựng lên cho mặt đất những con người , những cuộc sống có phần nhuần nhụy, tươi rói, sinh động còn hơn cả những cuộc sống, những con người đã có mặt trên mặt đất với tôi. Nếu không được thế, thì cái nợ, cái ơn tình, cái nghĩa sống mà họ đòi hỏi ở nơi tôi, lòng tin cậy của họ đối với tôi, chức năng mà họ đặt cho tôi, vinh dự và tình yêu của họ choàng ấp cho tôi, tất cả những điều đó, tôi không trả được không đền đáp được! Tôi không xứng đáng một chút nào hết.

Tôi đã viết Sóng gầm không ở Hải Phòng mà ở Yên Thế, quê hương chiến đấu của anh hùng Hoàng Hoa Thám. Trong khi viết Sóng gầm, tôi lại sống với những người nông dân ở chung quanh tôi, những con người sau đây rồi tôi lại phải trả nợ trong cuốn tiểu thuyết lịch sử về Yên Thế và Hoàng Hoa Thám. 1959 tôi đã viết xong năm chương đầu Sóng gầm. Năm chương ấy tôi lại bỏ đi. Tôi viết lại toàn tập Sóng gầm cho đến tháng chín 1960 thì lại đi thực tế.

Lần này tôi về Cảng Hải Phòng. Lối làm việc của tôi lần này cũng như lần về Nhà máy xi măng. Tôi không sửa chữa gì Sóng gầm trong thời gian này cả. Tôi chỉ đọc lại, mỗi ngày đọc một đoạn, và tôi đọc thêm các sách lịch sử, tôi đi tìm những dấu vết di tích, những chuyện của các cuộc chiến đấu chống xâm lăng, của phong trào cách mạng, của kháng chiến. Đi thực tế về, tôi vào bàn viết ngay. Tôi lại về Yên Thế. Tôi lại viết trên cái giường tre cũ, giải chiếu ngồi dưới đất, mắt trông ra những ngọn đồi, những cánh đồng, những cụm rừng, những dòng suối vẫn còn như đầy đủ những con người và không khí chiến đấu của Hoàng Hoa Thám trước đây, và của cả chín năm kháng chiến vừa qua. Tôi lại viết và thấy như vẫn còn Nguyễn Huy Tưởng ngồi ở trước mặt tôi bên cái bàn mà các con nhỏ tôi vẫn nhắc: "Bàn bác Tưởng viết đấy!" chuyến anh lên nhà tôi sửa và viết lại Bốn năm sau.

Gian đây có sẵn một bếp củi nhỏ. Đọc xong, tôi nhóm lửa lên sưởi và đun nước uống, ăn khuya rồi đi ngủ. Giấc ngủ của tôi thường là sự hoạt động, diễn biến mới của những nhân vật sắp tới. Nhưng tôi không vì thế mà thấy mệt nhọc. Sự yên tĩnh và cái không khí khoáng đãng của bầu trời khuya đã gội tắm cho giấc ngủ của tôi. Vừa phần tôi thấy tôi yên tâm, vui sướng hơn và tin cậy hơn khi hết một chương và bắt đầu thêm chương mới. Nhưng gần đến những chương cuối và bước vào mùa bức thì dần dần, tôi thành một đô vật. Tôi lại phải viết cả tối, nhiều trưa không ngủ. Đỉnh đầu tôi đã nhiều lúc mỏi tê, khi gội đầu tôi không dám cào mạnh vì đụng tay vào thì làm nhức chói ghê gớm.

Nhưng rồi Sóng gầm đã tới đoạn chót. Thêm một đứa con của tôi gửi vào cuộc đời! Thêm một phần máu thịt của tôi trả lại cho cuộc sống. Đúng vào mùa thu 1940 đây, trên trại giam tập trung ở Hà Giang, tôi đương viết Xóm Cháy. Xóm Cháy đã bị thủ tiêu, đã bị bỏ dở, đã chết đi sống lại qua hơn hai mươi năm kia.

Tôi đã viết xong Sóng gầm với trọn vẹn tấm lòng tin yêu ở cuộc sống mà Đảng đã gắn chặt đã soi sáng cho tôi, mà quần chúng cách mạng đã là một nguồn kích động vô cùng thấm thía của tôi. Xong Sóng gầm, tôi lại trở về Hải Phòng và đi những vùng quê xưa của tôi ở Nam Định và những vùng quê Thái Bình, Hưng Yên mà tôi đã được nghe bà tôi, mẹ tôi kể những chuyện hồi tôi còn nhỏ.

Tôi chuẩn bị viết tập Thời kỳ đen tối trong bộ Cửa Biển.

CON NGƯỜI VÀ TRÍ TUỆ, VỐN SỐNG, TINH THẦN LAO ĐỘNG VÀ LÒNG YÊU NGHỀ CỦA NHÀ VĂN

Một trong những nhân vật và những câu chuyện đã làm tuổi trẻ tôi mê say nhất là Na Tra tam thái tử trong tiểu thuyết Phong thần. Na Tra là con thứ ba của Lý Tĩnh, người ta thường gọi là Tháp tháp Lý thiên vương. Na Tra ít tuổi, nhỏ người, nhưng rất nghịch. Một hôm Na Tra cùng các bạn trẻ con đi ra sông tắm, vùng vẫy bơi lội chán thì đem giặt khố. Dưới sông bỗng nổi phong ba bão táp, Thủy tinh cung rung rinh nghiêng ngả, thủy quái choáng ngất bị chết, xác nổi lên đầy mặt sông. Long vương kinh hãi, cho thủy thần lên bờ xem thì thấy một thằng bé trần truồng đương tắm giặt. Thủy thần thét giận, sai quân hỏi xem con cái nhà ai để bắt giữ. Na Tra bèn xưng danh ngay là con thứ ba Tháp tháp Lý thiên vương và xông lại đánh. Cả thủy thần và quân lính đều bị thương, tả tơi chạy hết cả xuống long cung.

Long vương cả giận truyền đem chiếu chỉ lên bắt Lý Tĩnh. Lý Tĩnh cả sợ, gọi Na Tra để cùng đi tạ tội thì Na Tra lại đi chơi. Lý Tĩnh cho người đi tìm, Na Tra nghe gọi cũng mặc. Lý Tĩnh phải sai Kim Tra, Mộc Tra đem mấy người nhà đi tróc Na Tra về. Na Tra không những không chịu về, còn đánh đuổi cả hai anh và bọn gia nhân. Lý Tĩnh giận quá, thân đi bắt Na Tra, Na Tra không để cho cha bắt. Lý Tĩnh đuổi đánh Na Tra. Na Tra cứ chạy, không chịu nhận tội, không chịu theo cha đi tạ tội. Na Tra bị đuổi đánh rát quá, lại chạy ra sông. Đến bờ sông, Na Tra gạt vũ khí của cha đi, vừa khóc vừa lạy cha và tự tay mình lóc hết da thịt xương cốt của mình trả lại cho cha rồi chết bên sông.

Phật tổ Như Lai đi qua thấy thế bèn đưa hồn Na Tra về Tây Phương, lấy ngó sen làm gân cốt, lá sen, cánh sen làm da thịt, hương nhụy làm khí huyết, dựng Na Tra lại, thổi nguyên khí vào cho Na Tra hoàn sinh.

Một Na Tra mới ra đời, vẫn bé nhỏ nhưng tươi đẹp, khỏe mạnh phi thường. Tay cầm Càn khôn quyển, chân đạp Phong hỏa luân, Na Tra lại trở về với cha, phù Khương Tử Nha đi đánh Trụ vương, ra trận chiến đấu muôn người khôn địch.

...Na Tra với Phong thần, tôi đã đọc cách đây ba mươi nhăm, ba mươi sáu năm hơn, ngày tôi chưa đầy mười tuổi. Không biết tôi có nhớ đúng hết không nhưng cảm xúc và hình ảnh đã rung động cả tuổi thơ tôi, từ bấy đến nay vẫn còn tươi rói trong tâm trí tôi. Không biết bao nhiêu lần tôi đã muốn được là Na Tra, sau những trận cha tôi đánh mắng vì tôi đã trốn học đi bắt cá, tìm rễ tìm cây, đuổi bướm, săn ong, hay bỏ cả sáng chủ nhật đi lễ nhà thờ mà phạm vào những tội trên kia chứ chẳng có đi tắm sông tắm biển, giặt khố giặt quần, làm nổi phong ba bão táp, động đến long cung, làm chết thủy quái, và đánh lại thủy thần nào cả.

Một nhân vật và một câu chuyện tôi xin phép kể lại với trí nhớ đã mỏi nhiều của tôi.

Và tôi xin phép được kể thêm một nhân vật và một câu chuyện nữa đã làm mê đắm tuổi thơ của tôi không kém là Tôn Ngộ Không trong tiểu thuyết Tây du. Tôi vui say tung hoành với Tôn Ngộ Không bao nhiêu thì cũng cùng Tôn Ngộ Không đau khổ, bực giận bấy nhiêu. Đau khổ, bực giận vì trong cuộc trường hành thiên san vạn thủy đi lấy kinh với Đường Tam Tạng, Tôn Ngộ Không cứ phải đi bộ. Thậm chí đến những trường giang, mênh mông sóng dữ, đầy yêu ma, mặc dù có thất thập nhị huyền công, bảy mươi hai phép thần thông biến hóa, Tôn Ngộ Không muốn cõng, muốn dìu Đường Tam Tạng bay qua cũng không được. Cả từng quả núi Tôn Ngộ Không di chuyển cũng chỉ nhẹ như không, cây thiết bổng của Tôn Ngộ Không nặng hàng bảy ngàn tám trăm cân, Tôn Ngộ Không cầm thấy chỉ nhẹ như chiếc lông, vậy mà khi cõng Đường Tam Tạng trên lưng, nghĩa là mang một thứ xương thịt của loài người trên mình, thì Tôn Ngộ Không thấy nặng vô cùng, không tài nào dìu nó cùng mình cất bay lên khỏi mặt đất được, càng cố càng trĩu xuống, càng hoàn toàn bất lực.

Sao lại như thế?

Còn sự đau khổ bực giận của Tôn Ngộ Không da diết tôi nữa là mỗi khi Đường Tam Tạng thấy Tôn Ngộ Không cưỡng lời mình suy nghĩ và định làm những điều gì mà Đường Tam Tạng không cho phép, Đường Tam Tạng chỉ niệm chú một câu tức thì cái mão kim cô chụp trên đầu Tôn Ngộ Không liền thắt lại, khiến Tôn Ngộ Không nhức nhối hết thần kinh, không sao chịu nổi, liền phải ngoan ngoãn vâng nhời.

⚝ ✽ ⚝

Bốn mươi nhăm năm qua...Bốn mươi nhăm tuổi, tôi vẫn thấy tôi là một đứa trẻ và không gian tôi đương sống vẫn đương là của một mùa xuân... Trong mùa xuân của chế độ xã hội chủ nghĩa này, tôi đã từng thấy có những con người, những tâm hồn, những tư tưởng, giữa sự ruồng bỏ xô đuổi của cuộc đời, đã bỏ trốn và tự lóc xương lóc thịt mình ra đổi lấy một sự sống khác với một xương thịt và tinh thần khác. Sức sống của những con người, những tâm hồn, những tư tưởng kia đã tươi trẻ, khỏe mạnh khác thường. Trong số những con người, những tâm hồn, những tư tưởng ấy, tôi thấy có không ít của những văn nghệ sĩ. Những văn nghệ sĩ này đã được Cách mạng đắp thịt, dựng xương, thổi linh hồn mới vào cho, rồi lên đường với thứ võ khí càn khôn, với đôi bánh xe bay như gió như lửa của mình là: Sáng tạo.

Những ai đã từng được nghe một sức sống mới lạ, một linh hồn mới lạ dào dạt cuồn cuộn trong cảm xúc, trong tinh thần mình như một làn nước phù sa mát lạnh mênh mông tràn ngấm?

Tôi đã nghe thấy.

Tôi còn được nghe thấy từ xương thịt và tâm hồn tôi những xương thịt và tâm hồn khác đã nẩy ra, từ từ đứng dậy, lớn lên đi vào cuộc đời với một đời sống mới lạ, riêng biệt của nó. Những con người và tâm hồn này, cũng giữa những trói buộc xô đuổi ruồng bỏ, đã phải tự chiến đấu để giữ lấy tên tuổi bóng hình và tiếng nói của nó. Nó đóng góp thêm vào sự sinh động, phong phú, mới lạ của cuộc đời. Nó đặt cho cuộc đời thêm những suy nghĩ về thương yêu; nó gợi nhắc thêm cho cuộc đời những đau xót, căm giận, tin tưởng, trách nhiệm và ý nghĩa của sự sống chiến đấu.

Không có gì hồi hộp sung sướng bằng những phút giờ này.

Không có gì đánh đổi được những phút giờ này.

⚝ ✽ ⚝

Và trong cuộc đời, trong quá trình đấu tranh và sáng tạo, tôi còn thấy giữa con người-con người bằng xương bằng thịt đi trên mặt đất của sự sống này-và trí tuệ, óc tưởng tượng của con người không còn bị ngăn cách, trĩu nặng nữa.

Óc tưởng tượng và trí tuệ của nhân loại đã mang chở con người xương thịt của mình bay lên vũ trụ rồi. Bay lên vũ trụ rồi nhìn trở lại trái đất xanh xanh, đặt thêm nữa những bài tính về sự chinh phục vũ trụ, gợi thêm ra, đi sâu nữa vào những cuộc khám phá về sự sống, và sáng tạo nữa. Bay lên vũ trụ sảng khoái, hào hùng, hồi hộp, suy nghĩ rồi lại quay về mặt đất, càng sảng khoái, hào hùng hơn, càng yêu thương, vui tin hơn, mồ hôi da thịt càng rỏ giọt, mồ hôi ở trí não càng rỏ giọt...

Những con tàu Phương Đông một, Phương Đông hai, Phương Đông ba, Phương Đông bốn vừa nối tiếp nhau cất cánh kia, trên bầu trời mây xanh hay lung linh trăng sao, mỗi lúc tôi ngước mắt nhìn lên vẫn thấy như còn có những đôi mắt, những nụ cười và những vầng trán của những Gagarin, Titốp, Papôvích và Nicôlaép hiển hiện lấp lánh với bốn đường ánh sáng kết bằng cánh thiên thần và hoa hồng, dòng dòng hương thơm của trí tuệ và tư tưởng cộng sản, vù vù bay trong vũ trụ. Hay dùng một hình ảnh khác, thì tôi thấy cũng vẫn dưới bầu trời mây xanh bát ngát ban ngày, và lung linh trăng sao ban đêm, trên mặt trái đất của con người vút lên một cây nến thần kỳ, quấn cờ búa liềm xuyên qua các lớp khí quyển, cháy sáng một búp lửa, dọi tia đi các vì sao. Đó là những tia sáng của búp lửa trí tuệ và tư tưởng cộng sản.

Phải! Trí tuệ và tư tưởng không còn cực nhọc vì mang chở con người của nó nữa. Con người đã thật được sung sướng, thật được tin tưởng ở trí tuệ và óc tưởng tượng của mình trong việc thực hiện những giấc mơ hàng ngàn năm nay đã làm mình nhức nhói cả cảm xúc và tâm hồn...

Và nếu như đã có những giấc mơ hàng ngàn năm nay đã làm con người nhức nhói tất cả cảm xúc và tâm hồn, thì tôi cũng đã mang một phần nào sự nhức nhói chung ấy. Làm tôi nhức nhói đó là những nhân vật. Những nhân vật bấy lâu chập chờn trong óc tưởng tượng của tôi; lúc tan biến, lúc kết tụ; lúc thì thầm, nhắc nhủ, thôi thúc, lúc lạnh lẽo thờ ơ. Những nhân vật mà tôi nhiều lúc thấy cơ hồ mãi mãi chỉ là những ý niệm, chỉ là những vấn đề ấp ủ trong sự suy nghĩ mơ tưởng của mình thôi, khó mà dựng lên được thành xương thịt, đưa nó ra ánh sáng của mặt đất.

Sự lo lắng ấy của tôi đã được giải quyết.

Với kinh nghiệm của cuộc sống, với kinh nghiệm của cuộc sống soi chiếu dưới ánh sáng của duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, với kinh nghiệm của sự sống kết đúc lại dưới ánh sáng thần kỳ ấy tạo thành một sự hiểu biết về con người, về các mối tương quan của nó trong đời sống xã hội, về những mâu thuẫn nằm ở chính ngay bản thân nó, về quá trình phát triển của nó... Phải! Chính chỉ có hiểu biết, có nắm được những qui luật trên kia, đồng thời có được những lá sen, ngó sen, nhị hương sen của sự sống kia, mà tôi đã thực hiện được những ước mơ sáng tạo của mình. Trí tuệ tôi không phải chịu sự bất lực cực nhọc trước những đối tượng con người nữa. Trí tuệ của tôi đã cho phép sức sáng tạo của tôi mang những nhân vật ẩn từ những lớp bùn đất, quặng rắn và gai góc phức tạp vô cùng của vật chất ra hẳn mặt đất, nhấc bổng nó lên cho nó hiển hiện, cất bay trong vũ trụ.

Nếu như trí tuệ và trí tưởng tượng của nhân loại đã chở những Gagarin, Titốp, Papôvích, Nicôlaép là xương thịt và óc não của mình du hành trong vũ trụ, thì trí tuệ và trí tưởng tượng của một số nhà văn cũng đã tự chở mình và những nhân vật của cuộc đời du hành trong vũ trụ. Một thứ vũ trụ của sự suy tưởng, của cảm xúc, cũng vô cùng vô tận, nhờ ánh sáng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và nhờ nhiệt tình chiến đấu và sức sáng tạo của mình phục vụ cách mạng, phục vụ dân tộc, phục vụ quần chúng lao động.

Và cái mão kim cô mà trước đây tôi lo ngại sẽ thắt lấy ý muốn và sức sáng tạo của tôi không còn là một ám ảnh nữa!

Quy luật của sự sống... mối liên hệ giữa tôi với xã hội, với quần chúng... nhận thức về chức năng của mình, về công việc tôi phải đóng góp, về vị trí và vinh dự nhân dân dành cho tôi, về trách nhiệm tôi phải làm tròn... nhận thức về tiền đồ của dân tộc, của nhân loại... đó là phạm vi của sự tự do, của sức vùng vẫy, của những khát vọng, của những lo lắng, vui tin, đau buồn, sung sướng của tôi... đó là phạm vi của sức sáng tạo của tôi.

Ý thức của tôi tự thắt hay nới cởi cái mão kim cô của trí tuệ và lòng khát muốn của tôi. Ý thức của tôi trong kỷ luật của sự sống của cách mạng. Kỷ luật này tôi phù hợp được thì chỉ làm tôi thêm sức mạnh, mũi nhọn của sức sáng tạo của tôi càng nặng, càng bén, càng tung hoành, và những khát muốn của tôi càng như ngọn lửa trên ngàn độ được tập trung vào những vật chất cần phá vỡ, cần đúc kết, hay càng như sức đẩy của hỏa tiễn và tốc độ vũ trụ có lái hướng của con tàu vũ trụ vậy...

⚝ ✽ ⚝

Nếu như Cách mạng đã đắp thịt, tiếp máu và thổi vào tôi một linh hồn tươi trẻ, và nếu như công việc của tôi chỉ có thể xứng đáng với hai chữ sáng tạo khi nào thật tôi cũng đắp thịt, tiếp máu và đưa vào cuộc đời một linh hồn, nghĩa là một sự sống, một sức mạnh, thì ý nghĩa của sự tu dưỡng càng thêm khẩn thiết, quan trọng và thật là chính yếu.

Tới đây tôi xin phép được đề cập đến sự trau dồi vốn sống, tinh thần lao động nghệ thuật và lòng yêu nghề của văn nghệ sĩ.

Tôi thấy như ta có được máu thịt mới của cách mạng bồi đắp cho thì chính là ta đã chuốc lấy cũng bằng máu thịt, bằng mồ hôi trán và hơi thở cường độ nhất của một sự lột xác, của một cuộc chiến đấu lâu dài và triệt để trong tâm hồn và tư tưởng ta vậy. Cũng như ta muốn đưa vào cuộc sống thêm những con người mới, những linh hồn, những tư tưởng mới, truyền cho cuộc sống những tình cảm, những tư tưởng mà ta muốn lấp lánh những ánh đặc sắc của sự sáng tạo của ta, thì những con người mới, những linh hồn tình cảm và tư tưởng mới đó phải từ trái tim, từ tinh thần ta lấy những mảng da thịt và óc não của ta mà dệt nên, mà đắp vào cuộc sống.

Địa vị của ta, những cái gì mà ta được hưởng, được trả lại đều do đó mà quyết định. Tôi xin phép được dẫn ra một ví dụ rất thông thường của đời sống hàng ngày, và tôi xin trở lại gần cận với đời sống hàng ngày đó. Chúng ta như là những người bỏ ống và mua họ của bà con hàng xóm, hay của anh chị em trong công đoàn cơ quan. Phải! Chúng ta chỉ là những người bỏ ống và mua họ một cách thông thường trong xã hội. Nếu như ta muốn có một cái Mốtcôvít của đời sống thì ta phải bỏ tiền tiết kiệm, rồi lấy xe về với một món tiền ba hay bốn ngàn đồng. Hay ta muốn có một xe đạp Thống nhất đàn ông hay Hữu nghị đàn bà để cả ta, vợ ta, con gái lớn, con trai nhỡ chúng ta đi được thì theo thời giá ta phải bỏ hai trăm tám mươi hay hơn ba trăm đồng. Nhưng nếu ta chỉ có một ngàn đồng mà cứ nhất định lấy Mốtcôvít hay một trăm đồng mà cứ lấy "Thống nhất", "Hữu nghị" thì ta phải đi vay, đi mượn; Vay mượn hay giật lửa của bạn thì không phải chịu lãi, vay của ngân hàng thì phải trả lãi, nghĩa là vẫn phải trả bằng tiền mình làm ra... Còn như nếu ta không bỏ tiết kiệm một đồng nào, hay chỉ vay mượn rồi quỵt, mà cứ bệ Mốtcôvít và "Thống nhất", "Hữu nghị" về thì lập tức ta sẽ được nhiều sự can thiệp của xã hội.

Hoặc giả như muốn xây một cái nhà thì ai kia phải có gạch, ngói, xi măng, gỗ, sắt v.v... Còn như chỉ có nước bọt mà muốn có nhà xây thì đó là làm quỉ thuật. Hơn nữa, lại đem cái nhà hư cấu, cái nhà ma mị ấy mà bán lại, nhường lại cho chung quanh rồi lấy tiền, dù công việc ấy có được người chứng nhận hay dấu triện nào đóng cho, thì cũng sẽ được nhiều sự can thiệp của xã hội.

Trong văn học nghệ thuật, trong sự sáng tạo nghệ thuật, để có một số vốn sống, để xây dựng một công trình, để đem đến thị trường xã hội đổi lấy và đem về của xã hội, của quần chúng một cái gì, tôi xin phép được ví dụ và so sánh một cách nôm na lẩn thẩn như trên.

Và tôi nghĩ để có vốn sống xây dựng một cái gì, để trả lại bát họ của cuộc đời đã đóng cho mình, để được có một cái gì là mồ hôi và sự quý mến tin cậy của quần chúng, tôi thấy chỉ phải bằng mồ hôi và đem mồ hôi mà đóng góp, mà đền chuộc. Tôi muốn như con chim bồ câu, ngày lại ngày từng phút, từng phút tha rác làm tổ; từng canh từng canh thay phiên nhau ấp trứng, thâu đêm một mình đứng ở cửa chuồng nghe động tĩnh của trời đất, rồi đi nhặt từng hột thóc hột gạo, hột đỗ, hột muối cho chim non nó rúc vào mỏ mà nhay mà hút cho đến khi chim con ra giàng dìu díu bay chuyền, rồi bay thật cao, bay thật xa vào trời mây, đồng ruộng của sự sống...

Chim bồ câu có được một cái tổ và đẻ đôi trứng chỉ bằng hai hòn cuội trắng nhỏ phải đi tha từng cọng rơm vương, từng chiếc lá rụng, và chim câu nuôi được chim non từ là núm xương thịt mọng mọng phập phồng thoi thóp cho đến khi chim non bay vút lên và bay xa vạn dặm, phải đi nhặt từng hột thóc, hột đỗ, hột muối.

Có những bọng mật ngọt sắc và thơm say, con ong phải đi chọn kiếm từng giọt phần trăm ly khối nhụy hoa.

Tôi đặt sự cần cù ấy trước lương tâm và tất cả mọi phút suy nghĩ về sáng tạo của tôi. Tôi thấy tôi phải cần cù như thế, hãy chỉ như thế trước đã trong công việc sáng tạo. Đó chỉ là những công việc của bản năng và hình thái sống của man sơ, thì tôi xin cứ lấy đó là một sự nhắc nhủ, một châm ngôn cho sự sáng tạo của mình, cho tinh thần trách nhiệm và ý nghĩa việc làm của mình.

Cuối cùng, về tình yêu nghề của văn nghệ sĩ, tôi cũng xin phép được kể một chuyện nọ. Có một đồng chí đảng viên của Đảng ta bị ốm nặng, nằm đã lâu trong bệnh viện. Tổ chức đã hết sức chăm sóc, chữa chạy rất nhiều thuốc thang, nhưng đồng chí ấy không khỏi. Gần đến ngày hấp hối của đồng chí ấy, bác sĩ bệnh viện và các đồng chí trong chi bộ có hỏi đồng chí ấy cho biết nguyện vọng của mình. Đồng chí ấy đáp:

- Bác sĩ và các đồng chí hỏi nguyện vọng cuối cùng của tôi. Nguyện vọng cuối cùng của tôi, tôi nhờ bác sĩ và các đồng chí nói giúp tôi với Đảng: nếu tôi chết mà có phép gì làm tôi sống lại, thì kiếp tái sinh của tôi, tôi chỉ xin sẽ lại làm đảng viên, lại làm việc trong hàng ngũ Đảng.

Tôi xin phép được lấy mấy câu đó nói thay cho mấy anh em văn nghệ sĩ và cả cho tôi:

- Kiếp tái sinh của chúng tôi, chúng tôi được phép gì làm sống lại, một khi chúng tôi lại thấy mùi đất ẩm, thấy không khí, thấy ánh trời, thì khi ngồi dậy chúng tôi sẽ lại cầm ngay lấy bút mà viết, mà vẽ, cầm ngay lấy đàn mà đánh, lên cao giọng mà hát, mở rộng ngay cánh tay mà múa. Nghĩa là chúng tôi lại làm văn nghệ sĩ và làm đảng viên văn nghệ sĩ của Đảng, của dân tộc, của quần chúng, chúng tôi lại tiếp tục làm những công việc hàng ngày để xây dựng đất nước, Tổ quốc Việt Nam và tương lai rực rỡ của nhân loại.

Là vì:

Hồn còn mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Thưa tác giả Truyện Kiều thật là thơ, thật là tiểu thuyết, thật là trữ tình, thật là lãng mạn, thật là hiện thực, thật là một niềm tự hào của dân tộc, thật là một tác phẩm nhân đạo và bất tử của dân tộc, đây là lần thứ bao nhiêu của năm tứ bao nhiêu rồi, hậu thế lại lấy thơ của cụ nói thay cho mình, chắc cụ mỉm cười, gật đầu cho phép...

1962

« Lùi
Tiến »