Mười tám giờ 32 phút tối ngày 12 tháng 9, tại khu Tường Hinh Uyển.
Buổi chiều cuối hạ, trời vẫn còn chưa tối hẳn. La Phi đến trước một tòa nhà khu cư dân, anh nhìn lên tấm biến ở lưng tòa nhà: tòa 12.
Đúng rồi, chính là ở đây.
Nơi sẽ đến là đơn nguyên 406. La Phi không vội lên lầu, anh bước tới một chỗ đất trống gần đó. Đây là vị trí trung tâm của cả khu, cũng là sân chơi của cư dân.
Tường Hinh Uyển là một khu tái định cư, các hộ dân ở đây phần lớn đều vốn là dân làng Phương Hồ ở ngoại ô phía đông thành phố, nên họ biết rất rõ về nhau. Sau khi La Phi, một người ngoài bước vào khu vực này, lập tức thu hút sự chú ý của mấy người hay hóng chuyện. Họ cứ nhìn anh và thầm đoán ý định của vị khách không mời này.
La Phi không để ý đến điều đó. Anh dừng bước, đưa mắt nhìn mấy lượt như muốn tìm ai đó để nói chuyện. Đúng lúc đó, có người chủ động hỏi: “Anh tìm ai?” Người hỏi câu đó là một phụ nữ chừng 60 tuổi, bà ta đang ngồi trên chiếc ghế đá ở cạnh bồn hoa hóng mát với vẻ nhàn tản.
La Phi bước tới ngồi xuống đầu ghế bên kia, chào và hỏi: “Chào bác, chắc bác ở đây lâu rồi phải không?”
“Đúng thế.” Người phụ nữ nhìn La Phi chăm chú một lượt, mắt ánh lên vẻ tự hào là chủ nhân ở đây, sau đó hỏi bằng vẻ cảnh giác: “Chắc anh không phải người trong khu này?”
La Phi rút tấm thẻ ngành đưa đến trước mặt người phụ nữ và giới thiệu: “Tên tôi là La Phi, tôi là cảnh sát.”
“Cảnh sát?” Người phụ nữ hơi ngây người, rồi lập tức trở nên nghiêm nghị, “Khu của chúng tôi xảy ra chuyện gì à?”
“Bác đừng căng thẳng, không có chuyện gì đâu.” La Phi mỉm cười, rồi hỏi: “Tên bác là gì ạ?”
“Tôi họ Vương.”
“À, bác Vương…”, La Phi đưa mắt nhìn tòa nhà phía trước bên trái sân chơi. “Tôi đến đây là muốn tìm hiểu một chuyện trước đây. Là chuyện xảy ra ở khu này, từ hồi lâu rồi.”
“Chuyện gì, anh hỏi xem.” Bà Vương ngồi thẳng dậy, vẻ đầy tự tin, “Chỉ cần là chuyện của khu này, tôi khẳng định là nhớ được. Anh đừng thấy tôi lớn tuổi, trí nhớ của tôi vẫn tốt lắm!”
La Phi đưa tay chỉ: “16 năm trước, trong tòa nhà ở trước mặt kia…”
“Tòa 12?” sắc mặt của bà Vương đột nhiên thay đổi, dường như chợt nhớ ra điều gì đó: “Ý anh muốn nói tới hai đứa bé đó?”
“Vâng, hai đứa bé đó…” Nói đến từ “đứa bé”, La Phi chợt thấy lòng nặng trĩu.
“Sao lại nói đến chuyện đó? Thảm lắm… Rất thảm.” Bà Vương lắc đầu than thở như không muốn nhớ lại chuyện cũ đó.
“Đúng là rất thảm…”, La Phi im lặng một lúc, rồi quay lại hỏi: “Bác có nhìn thấy hai đứa bé đó không?”
Bà Vương thở dài: “Có nhìn thấy.”
La Phi gật đầu, anh mở túi tài liệu mang theo, lấy một tấm ảnh từ bên trong ra, “Bác nhìn xem, đứa bé này là đứa lớn phải không?”
Bà Vương đón lấy tấm ảnh, rồi ghé đến chỗ có đèn đường nhìn kỹ một hồi. Trong bức ảnh là một bé gái mặt mày thanh tú chừng ba, bốn tuổi. Sau khi xem xong, bà Vương nói với vẻ đắn đo: “Có phần hơi giống, nhưng không nói chính xác được. Một là thời gian lâu quá rồi, hai là cô bé trong ảnh mặt mũi sạch sẽ, còn khi tôi nhìn thấy đứa bé ấy, thì nó không còn ra hồn người nữa. Vì vậy, thật sự không dễ nhận ra.”
“Không còn ra hồn người nữa?” La Phi đoán: “Là khi cuối cùng đứa bé được cứu ra phải không ạ?”
Bà Vương lắc đầu: “Lần đó tôi không nhìn thấy, ý tôi nói đến lần trước đó.”
“Trước đó còn có lần nữa?” Chuyện này nằm ngoài điều mà La Phi biết.
“Đúng vậy. Trước đó hai đứa bé này cũng đã từng bị nhốt một lần rồi. Lần đó là tự đứa lớn mở cửa chạy ra, đi tha thẩn trong khu. Một cô bé xinh xắn mà trông hệt như một đứa ăn mày. Hôm đó trời còn lạnh, chúng tôi đều mặc áo len, thế mà đứa bé ấy không mặc áo, chỉ mặc một chiếc quần bông, trên quần còn dính đầy phân và nước đái, tóc tai cũng rối bù lên.” Bà Vương tả một hồi, sau đó nói tiếp: “Chúng tôi nhìn thấy thương nên đến gần hỏi: Này, con cái nhà ai thế? Sao lại không có người trông thế này? Con bé nói mẹ không có nhà, sau đó chỉ gào lên là đói. Mọi người đưa nó đến chỗ bảo vệ, còn mua mấy chiếc bánh bao nhân thịt cho nó ăn. Nó ăn ngấu nghiến, hệt như chưa bao giờ được ăn một bữa no.”
La Phi nhíu mày, hỏi: “Lần đó mấy đứa trẻ bị nhốt mấy ngày?”
“Nghe nói hai, ba ngày gì đó. Nếu dài hơn nữa thì chắc bọn trẻ không trụ nổi.”
La Phi “vâng” một tiếng rồi hỏi: “Sau đó thì sao ạ?”
Bà Vương nói: “Sau đó chị Đặng của tòa 20 đến phòng bảo vệ, nhận ra đứa bé ấy ở cùng đơn nguyên với mình và ở tầng trên. Chị Đặng nói, nhà đó có lẽ còn có một đứa bé nữa. Mọi người nghe vậy đều hoảng, vội chạy đến tòa 20. Kết quả phát hiện ra cửa bị khóa, đứa lớn khi ra khỏi cửa đã tiện tay sập lại. Thế là mọi người gọi điện báo cảnh sát, cảnh sát mang theo thợ khóa đến mở cửa ra. Chúng tôi vào bên trong thì thấy quả nhiên còn một đứa bé nữa, lúc đó nó đang nằm úp mặt vào bồn xí, không động đậy, toàn thân toàn là phân. Lúc đầu, mọi người tưởng là đứa bé đã chết, nhưng khi kêu tên thì nó ngẩng đầu lên nhìn. Chị Đặng vội chạy về nhà pha một bát sữa bột mang sang. Đứa bé vừa ngửi thấy mùi sữa, bèn há mồm đòi uống. Uống hết bát sữa, nó bắt đầu cất tiếng khóc oang oang. Lúc đó mọi người mới thở phào và biết là đã cứu được đứa bé.”
“Lần đó bác có nhìn thấy mẹ của đứa bé không?”
“Không. Sau đó cảnh sát đưa hai đứa bé đến bệnh viện để điều trị, nên tôi không đi theo. Nghe nói tối hôm đó mẹ của chúng cũng đến bệnh viện nhưng tôi không nhìn thấy.” Bà Vương ngừng một chút, rồi nói tiếp: “Thực ra, tôi vẫn rất muốn nhìn thấy người đàn bà đó, xem rút cục làm mẹ kiểu gì mà có thể để cho con của mình ra nông nỗi ấy. Đáng tiếc là, tôi chưa bao giờ gặp chị ta ở khu này cả. Chỉ có sau này mới nhìn thấy trên tivi.”
La Phi vốn định nói chuyện với bà Vương về người phụ nữ đó, nhưng vừa nghe nói vậy liền biết là không còn chuyện để nói, bèn đổi sang mục tiêu khác: “Vừa rồi bác nói đến chị Đặng, vậy chị ấy còn sống ở đây không?”
“Có. Anh muốn nói chuyện với chị ấy à?” Bà Vương nói với vẻ vui vẻ: “Anh không cần tìm chị ấy đâu, trước 7 giờ rưỡi, chị ấy nhất định sẽ xuống sân này.”
“Thế ạ. Bác chắc chắn như thế chứ?”
“Tất nhiên rồi. Buổi tối hàng ngày sẽ có một nhóm chị em lớn tuổi thường tập nhảy múa ở đây. Chị Đặng rất mê môn này, nên dù mưa gió cũng xuống tập!”
Bà Vương nói quả không sai, hơn 7 giờ, các chị em lớn tuổi lần lượt xuống tập hợp ở sân. “Chị Đặng” mà La Phi muốn gặp cũng ở trong số đó.
“Chị Đặng” năm nay đã 65 tuổi, thân hình hơi béo, mặt mũi phúc hậu, vừa nhìn đã biết là người rất nhiệt tình. Sau khi biết thân phận của La Phi, bà nhận lời yêu cầu của La Phi rất thoải mái. Hai người tìm một chỗ tương đối yên tĩnh nói chuyện.
“Đúng vậy, nhà đó ở trên tầng nhà tôi, nên chuyện của họ từ chân tơ kẽ tóc tôi là người hiểu hơn ai hết. Nói theo lời của các cụ thì đúng là tạo nghiệp!” Cho dù là ai, khi nhớ lại chuyện cũ đó thì cũng đều kèm theo một tiếng thở dài nặng nề.
La Phi đi thẳng vào vấn đề: “Cho nên bác cũng rất biết về người đàn ông của nhà đó đúng không ạ?”
“Biết chứ. Trước đây ở cùng một làng mà. Tên cậu ta là Lý Quân, chúng tôi đều gọi là Tiểu Quân Tử.”
“Anh ta là người như thế nào?”
“Thằng bé đó bản chất không xấu, đáng tiếc chỉ vì kết bạn lung tung nên mới vậy.”
“Nói cụ thể ra thì là những người bạn như thế nào ạ?”
“Thì là những tên du côn trong xã hội ấy. Hồi còn nhỏ, Tiểu Quân Tử học không tốt, nên chưa hết cấp hai thì đã bỏ học đến làm thợ học việc trong xưởng sửa chữa xe, kể từ đó dần dần tụ tập cùng với những người bạn xã hội đen. Sau đó, cả bọn cùng đi ăn trộm đồ, bị bắt và giam trong tù một năm.”
“Hồi đó mọi người chưa chuyển đến đây, đúng không?”
“Chưa, hồi đó còn ở làng. Chuyển đến khu tái định cư là chuyện sau khi Tiểu Quân Tử ra tù. Hồi đó nhà họ được phân hai căn, nhưng bán đi một căn. Vì lúc đó bố của cậu ấy bị ung thư, ngoài ra việc hoàn thiện nội thất cũng phải cần đến tiền.”
“Bị ung thư? Vậy thì khó chữa khỏi được lắm.”
“Thì không chữa khỏi mà. Không hiểu nhà họ phong thủy không tốt hay là có vấn đề gì mà cả bố mẹ Tiếu Quân Tử đều bị ung thư, cố gắng cầm cự được một hai năm, tiền tiêu hết mà người thì vẫn không cứu được. Tiểu Quân Tử chỉ còn lại một mình. Bởi vì cậu ta từng ngồi tù, hàng xóm láng giềng cũng chẳng mấy quan tâm. Anh nghĩ mà xem, cả ngày cậu ta cô đơn như vậy, liệu tâm trạng có tốt được không? Thế là lại tụ tập với đám bạn xã hội ấy. Không chỉ ăn trộm đồ, còn hút hít ma túy nữa. Mà, ma túy thì ai cũng biết, không nên dính vào, nếu dính vào thì là hỏng cả đời.” “Chị Đặng” vừa nói vừa lắc đầu, vẻ rất buồn và lấy làm tiếc.
Tình hình về Lý Quân coi như cũng đã hiểu được không ít, La Phi bắt đầu chuyển sang một góc độ khác: “Bác hãy nói về người phụ nữ ấy đi ạ. Chị ta tên là Tần Yến đúng không? Chị ta và Lý Quân đã quen nhau như thế nào?”
“Cũng là quen ở bên ngoài, quá trình cụ thể tôi không biết, chỉ thấy đưa về đây. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy cô ta là vào mùa đông, nên mặc rất nhiều quần áo, nhưng cái bụng thì phình ra, nhìn qua là biết ngay đang có bầu. Hai người cũng chẳng làm thủ tục gì mà ở với nhau luôn. Thanh niên bây giờ mà, nên tôi cũng chẳng chú tâm đến những chuyện đó. Đến mùa hè năm sau thì đứa bé ra đời, là con gái, trông xinh xắn. Tiểu Quân Tử đặt tên nó là Lý Mộng Nam. Nhìn vẻ phấn khởi của cậu ta cứ như thể nó là con đẻ không bằng.”
La Phi ngắt lời bà. hỏi: “Sao thế a? Đứa bé đó không phải là con đẻ của anh ta?”
“Không phải, khi hai người quen nhau Tần Yến đã có bầu rồi.”
“Vậy, đứa bé đó là con của ai?”
“Chị Đặng” lập tức nói ngay ra hai từ: “Không biết.” Từ ngữ khí của bà mà suy đoán thì không chỉ là bà nói bà không biết, mà còn ý nói: “Không có ai biết.”
La Phi “ồ” một tiếng, cảm thấy rất ngạc nhiên.
“Chị Đặng” giải thích: “Trước đó Tần Yến làm việc ở phòng trà, qua lại với không ít đàn ông. Sau đó, bụng to rồi thì không đi làm nữa và mới theo Tiểu Quân Tử về đây. Đứa bé đó rút cục là con ai đến cả cô ta cũng không biết chính xác.”
“Chuyện này bác nghe ai nói vậy?”
“Tiếu Quân Tử nói mà.” “Chị Đặng” biết La Phi có phần bán tín bán nghi, nên càng nói với giọng chắc chắn hơn, “Chuyện này khẳng định là không sai! Anh nghĩ mà xem, một người đàn ông đã trưởng thành, có ai lại vô duyên vô cớ tự cắm sừng cho mình như vậy?”
Nếu là Lý Quân tự nói ra thì đúng là không sai fôi. La Phi lắc đầu bất lực, anh cũng có thể coi là người quen nhiều hiểu rộng, nên không thể không thấy ái ngại trước kiểu sinh sống như vậy. Sau đó anh lại hỏi: “Còn đứa bé sau này thì là con của Lý Quân chứ?”
“Chẳng lẽ đứa nào cũng không phải là con đẻ được sao?” “Chị Đặng” nhìn La Phi một cái, ý như muốn nói: anh cũng suy diễn quá rồi đấy!
La Phi mỉm cười tự chế giễu, còn “chị Đặng” thì nói tiếp: “Tiểu Quân Tử tâm thiện, thích trẻ con. Nhưng đứa lớn không phải là con đẻ của cậu ta, cậu ta có phần không cam tâm, nên hai năm sau đòi đẻ đứa thứ hai. Lần này cũng lại là con gái, còn xinh hơn cả đứa lớn. Tên cũng là do Tiểu Quân Tử đặt, là Lý Mộng Kiều.”
“Nhà đã có hai đứa con, họ làm thế nào để nuôi chúng?”
“Tiểu Quân Tử làm bảo vệ ở bên ngoài, lương tháng một ngàn tệ, cố gắng chắt bóp để sống qua ngày. May mà cũng còn có cái nhà nên mới cầm cự được.”
“Tần Yến không đi làm à?”
“Ôi dào!” “Chị Đặng” thở dài một cái rồi hỏi lại bằng giọng không vừa lòng: “Cô ta thì có thể làm được gì? Mẹ của hai đứa con rồi, chả nhẽ lại đến phòng trà làm tiếp tân?”
“Cũng phải, nếu đã không tìm được công việc phù hợp thì thà là ở nhà trông con còn hơn.”
“Chị Đặng” càng lắc đầu: “Anh còn mong chờ cô ta chăm sóc bọn trẻ ư? Nếu cô ta biết chăm sóc bọn trẻ thì đã không xảy ra chuyện như thế rồi.”
“Vậy, ai chăm sóc bọn trẻ?”
“Tiểu Quân Tử. Cậu ta vừa làm cha vừa làm mẹ. Không những đi làm ở ngoài, về đến nhà lại cơm nước, giặt giũ.” Chị Đặng ngừng lại một lúc, rồi nói tiếp với giọng kết luận: “Nếu không có cậu ấy cầm cự thì cái nhà đó đã tan rồi.”
La Phi lặng lẽ thở dài. Thực ra, ngay từ 16 năm trước, hiện thực đã dùng cách thức tàn khốc nhất để chứng minh cho nhận xét của “chị Đặng”.
Năm đó, cuộc sống của cả một gia đình gắng gượng qua ngày nhờ sự cố gắng của Lý Quân. Nhưng sau đó xảy ra một chuyện đã phá tan sự cân bằng mong manh đó.
Khoảng hai tháng trước khi Lý Mộng Kiều ra đời, một người bạn của Lý Quân đưa một người đến ở nhờ nhà anh ta, những người này đã sử dụng ma túy trong suốt ba ngày liền. Sau đó, hai người kia đã gây chuyện ở quán bar sau khi sử dụng xong ma túy và bị cảnh sát bắt. Bọn họ đã khai ra là sử dụng ma túy tại nhà Lý Quân. Thế là cảnh sát đến đưa Lý Quân đi. Do Tần Yến sắp đến ngày lâm bồn nên Lý Quân được tạm tha chờ xét xử.
Sau khi về nhà, Lý Quân tưởng chuyện đó coi như là xong. Không ngờ, một năm sau, anh ta bất ngờ nhận được triệu tập của tòa án. Chuyện thật ra không lớn, có thể nộp tiền phạt để được xét xử tạm giam trong thời gian ngắn hoặc là quản chế. Nhưng Lý Quân không có tiền, cuối cùng tòa xử phạt giam có thời hạn trong 6 tháng với tội danh chứa chấp người sử dụng ma túy.
Trước khi đến, La Phi đã nghiên cứu các tài liệu có liên quan, nên không hỏi thêm về quá trình Lý Quân vào tù nữa. Điều mà anh quan tâm là chuyện khác.
“Bác hãy nói về chuyện sau khi Lý Quân ra tù đi a.” Giọng của La Phi trở nên trầm xuống, “Tôi vừa nghe nói, Lý Mộng Nam đã từng có lần chạy ra khỏi nhà mình.”
“Đúng vậy, lần đó nếu nó không chạy ra ngoài thì có lẽ cả hai đứa đều đã chết rồi.”
“Chuyện đó đã xảy ra một lần rồi, làm sao lại còn có thể xảy ra lần thứ hai?”
“Chà, có cách nào đâu? Người làm cha đã vào tù, còn người làm mẹ thì chẳng quan tâm, chăm sóc, như thế liệu có thể không xảy ra chuyện được không?” Giọng của “chị Đặng” lộ vẻ bất lực.
La Phi lắc đầu, thực ra là anh muốn hỏi tại sao mọi người lại không giúp hai đứa bé ấy? Nhưng, nếu vậy thì lại có vẻ chất vấn, nên anh đành tìm cách nói uyển chuyển hơn.
“Chị Đặng” cũng đã thấy được ý của La Phi, bèn chủ động nói: “Thực ra, tôi cũng đã giúp chúng.”
“Vậy à?” La Phi tỏ vẻ muốn nghe chi tiết.
“Chị Đặng” nói: “Sau khi xảy ra chuyện lần đầu, tôi đã chủ động gặp Tần Yến, tôi đề nghị cô ta lần sau có đi vắng thì đừng khóa cửa, như thế hàng xóm mới có thể trông giúp bọn trẻ. Kết quả, Tần Yến nói ngay là cháu gửi bác một chiếc chìa khóa. Tôi nghĩ, thế cũng được, nên đã cầm một chiếc chìa khóa từ cô ta. Buổi chiều, trước khi chuẩn bị đi, Tần Yên nói với tôi: cháu ra ngoài một chút, cháu sẽ về trước 6 giờ tối. Đến hơn 5 giờ, tôi mang bát cơm sang cho bọn trẻ ăn, mở cửa ra nhìn thì thấy Tần Yến đã về. Lúc đó, tôi đã lấy làm mừng, nghĩ bụng, ít ra cũng còn chút lương tâm của người mẹ. Nhưng, tiếc là chuyện đó chẳng kéo dài được bao lâu, lần thứ hai cô ta ra ngoài, cũng nói là một lát sẽ về, cuối cùng mấy ngày trời cũng không thấy đâu. Mấy ngày đó, ngày ngày tôi mang cơm cho bọn trẻ ăn, mệt một chút cũng không sao, có điều áp lực trong lòng thì quá lớn, đêm nào tôi cũng không ngủ được.”
La Phi gật đầu, tỏ ý thông cảm. Lần đi đó của Tần Yến chẳng khác gì đổ trách nhiệm sang cho đối phương. Hai đứa trẻ còn nhỏ như vậy, nếu có mệnh hệ nào thì “chị Đặng” đúng là khó mà gánh vác nổi.
“Vì thế mà sau này bác không tiếp tục nữa?”
“Đúng thế, chờ Tần Yến về, tôi trả lại chìa khóa cho cô ta. Không phải là tôi không muốn quan tâm đến hai đứa trẻ đó, mà là không quan tâm được.”
La Phi đưa mắt nhìn về tòa 20 phía xa, tưởng tượng ra cảnh tượng bi thảm đã từng xảy ra ở đó. Đối với hai đứa trẻ, điều bất hạnh lớn nhất là có một cặp cha mẹ không đáng trông cậy. Còn người ngoài, cho dù có cố gắng thế nào cũng khó mà thay đổi được số phận bi thảm của chúng.
Lát sau, La Phi lại lên tiếng, anh giữ lại câu hỏi quan trọng nhất vào lúc sau cùng: “Bác có biết Hắc Oa không?”
“Hắc Oa?” “Chị Đặng” ngây người một chút, không nghĩ ngay ra câu trả lời.
“Đúng. Tôi nghe nói Lý Mộng Nam rất sợ Hắc Oa, nhưng tôi không biết Hắc Oa là ai.”
“À….” chị Đặng kéo dài giọng, “Tôi nhớ ra rồi! Hắc Oa là con chó mực mà nhà đó nuôi!”
2
Tòa nhà cũ xây từ 20 năm trước, bóng đèn chiếu sáng trong hành lang hình như không thể sáng hơn được nữa. May mà còn có chút ánh sáng chiếu qua cửa thoát khí vào trong, nên hành lang nhỏ không đến mức tối thui.
Không khí ẩm thấp, mùi ẩm mốc xộc vào mũi. La Phi chợt nhận ra cảm giác này đã từng được biết đến, anh nhíu mày suy nghĩ một lát và lập tức biết được cảm giác đó đến từ đâu. Mấy hôm trước, khi đến nhà tìm Lục Phong Bình, nơi ở của anh ta cũng cũ kĩ, rách nát như thế này.
Một người về kinh tế không đến mức eo hẹp sao lại lựa chọn một nơi ở tồi tàn như vậy?
Có lẽ vì nơi đó có một số thứ mà người ta không thể vứt bỏ được chăng?!
Vừa đi vừa nghĩ, La Phi đã lên đến tầng bốn rồi sau đó dừng chân ở phía bên trái.
Trước mặt là một cửa vào bằng sắt. Lớp sơn trên cửa đã hoen gỉ, biển nhà trên khung cửa cũng bám đầy bụi, nhưng vẫn lờ mờ đọc được mấy số “403”.
Chính là cánh cửa này đã từng tạo nên sự cách biệt giữa bên trong với bên ngoài thành hai thế giới. Chỉ một khoảng cách tầm khoảng chục phân mà đã cắt ngang giữa sự sống và cái chết.
La Phi đứng bên cửa một lát, cố nắm bắt lấy một trạng thái đang bồng bềnh giữa quá khứ và hiện tại. Một lát sau, anh đưa tay phải lên, gõ hai tiếng lên cánh cửa.
Trong nhà có tiếng người đáp: “Ra đây.” Nghe tiếng thì thấy người đó ở một chỗ không xa lắm. Quả nhiên, cánh cửa nhà nhanh chóng được mở ra. Một người đàn ông xuất hiện ở sau cửa, anh ta nhìn La Phi rồi ngây người ra, sau đó lại mỉm cười nói: “Ồ, sao anh lại đến đây?”
Người đó chính là Dương Hưng Xuân.
La Phi cũng đáp lại bằng nụ cười nhẹ, nhưng không trả lời câu hỏi của đối phương.
Dương Hưng Xuân nép người về phía sau nhường lối, rồi nói: “Vào nhà ngồi đi.”
La Phi bước vào trong nhà.
Đó là một căn hộ hai phòng kiểu cũ, vừa vào cửa là phòng khách. Trang trí và đồ dùng trong nhà đều mang phong cách cũ, một cảm giác cũ kỹ nhiều năm xộc ngay đến.
Phía đông của phòng khách nối liền với bếp ăn, một chiếc bàn ăn bốn người dựa sát vào tường. Trên bàn ăn bày ba chiếc bát đĩa: một chiếc đĩa đựng khoai tây xào, một bát canh to và một bát cơm nhỏ.
La Phi quay đầu lại hỏi chuyện: “Đang ăn cơm à?”
“Phải.” Dương Hưng Xuân đóng cửa, hỏi lại: “Anh đã ăn chưa?”
La Phi lắc đầu: “Chưa.”
“Vậy thì ăn cùng đi.” Dương Hưng Xuân chạy đến bên bàn ăn, kéo chiếc ghế gập dưới gầm bàn, “Nào, ngồi xuống đây, để tôi làm thêm một vài món.”
La Phi đáp: “Không cần phiền phức thế đâu.”
Dương Hưng Xuân kiên quyết: “Anh đến chỗ tôi mà lại để bị đói à? Có điều, chỗ tôi khá đơn giản, anh đừng có chê đấy.”
Nghe Dương Hưng Xuân nói vậy, La Phi bèn ngồi xuống. Dương Hưng Xuân lấy từ trong tủ lạnh ra một số thứ rồi tất bật bên bếp một hồi. Cũng không phải là món gì cao sang, mà chỉ là một đĩa lạc rang, một đĩa cà chua xào thịt gà và một đĩa lạp xưởng.
Dương Hưng Xuân đưa bát đũa cho La Phi, rồi quay đi lấy một chai rượu trắng đến. Anh ngồi xuống đối diện với La Phi, vừa mở nút chai rượu vừa nói: “Chẳng có rượu ngon đâu, uống tạm loại này.”
“Không, hôm nay tôi không uống rượu được,” La Phi đưa tay ngăn trước chiếc ly thủy tinh.
Chai rượu dừng lại lưng chừng, Dương Hưng Xuân đưa mắt chăm chú nhìn La Phi.
“Đúng là không được uống mà”, La Phi tỏ ra kiên quyết, “Uống là vi phạm kỷ luật.”
Dương Hưng Xuân dường như đã hiểu ra điều gì đó, anh “Ồ” một tiếng, “Có công chuyện à? Vậy thì không được uống rượu thật.”
“Có thể thay bằng nước trà hay gì đó khác cũng được.”
“Được, vậy tôi sẽ uống trà với anh.” Dương Hưng Xuân lại đứng lên vào bếp pha ấm trà. Khi quay lại, tay phải anh cầm ấm trà, tay trái cầm một chiếc túi màu đen. Anh rót trà cho La Phi trước, rồi để chiếc túi màu đen kia ở mép bàn sát tường.
La Phi cầm tách trà trong tay, nói với vẻ cảm khái: “Chúng ta quen nhau đã nhiều năm như vậy mà đây mới là lần đầu đến nhà anh.”
“Nhà ư?” Dương Hưng Xuân lắc đầu, “Không, đây không phải là nhà tôi.” Nói rồi, anh cũng rót cho mình một tách trà.
La Phi thốt lên: “Ố?” Anh cứ đinh ninh rằng chỗ này là nhà của Dương Hưng Xuân, chỉ có điều không biết tại sao đối phương lại phủ định chuyện đó.
Dương Hưng Xuân đưa mắt nhìn quanh một lượt, vẻ buồn bã. Sau đó anh lại thu ánh mắt về nhìn La Phi, giải thích: “Đây chỉ là chỗ ở của tôi. Mà chỉ có chỗ ở thì không được gọi là nhà. Phải có phụ nữ, có trẻ con thì mới gọi là nhà.”
La Phi ngây người, rồi mỉm cười đau khổ vẻ đồng cảm. Bụng thầm nghĩ: thì ra mình cũng là người không có nhà.
Dương Hưng Xuân cầm tách trà lên nhấp một ngụm, hỏi La Phi: “Anh có biết câu nói đó do ai nói không?”
La Phi hỏi lại: “Chẳng phải do anh nghĩ ra sao?”
“Không.” Dương Hưng Xuân đặt tách trà xuống, nhìn La Phi, đáp: “Người nói câu đó là chủ nhân trước đây của căn nhà này.”
“Lý Quân?”
“Phải, là Lý Quân. Anh ta từng là người có nhà, anh ta cũng biết cái tốt của nhà, nên mới nói ra câu đó.” Sau khi ngừng lại một chút, giọng của Dương Hưng Xuân chợt trở nên nuối tiếc: “Đáng tiếc thay, anh ta lại không biết trân quý nó.”
La Phi nheo mắt nhìn Dương Hưng Xuân rồi đột ngột hỏi: “Nên anh đã bắn chết anh ta?”
Dương Hưng Xuân bị câu hỏi của La Phi đâm trúng, mặt anh đanh lại, không biểu lộ. Một hồi lâu sau, anh cố nặn ra nụ cười, rồi mời La Phi với tư thế của chủ nhà: “Sao cứ nói chuyện mà không ăn thế? Nào, nếm thử tài nghệ của tôi đi.”
La Phi cầm đũa lên, gắp một hạt lạc đưa vào miệng, nhai như không nhai. Mắt anh vẫn chăm chú nhìn đối phương.
Chó săn một khi đã cắn được con mồi thì quyết không dễ dàng buông ra.
Dương Hưng Xuân không nhìn lại La Phi nữa, ánh mắt của anh tập trung vào những món ăn trên bàn và anh chỉ chú ý gắp món ăn. Khoai tây thái chỉ xào, lạc, gà xào, lạp xưởng… mỗi món đều thử mấy lần, rồi vừa ăn vừa tự đánh giá.
“Khoai tây chỉ phải thái thật nhỏ, khi ăn thì mới giòn.”
“Lạc là do tôi rang, lửa vừa đủ. Anh biết không, nếu mà không đủ lửa thì lạc sẽ không thơm, nếu quá lửa thì lại bị cháy.”
“Vừa ăn là biết ngay, đây là gà quê chính cống, gà công nghiệp sẽ không cho ra cái vị này đâu.”
“Lạp xưởng là tôi mua ở thị trấn Công Đạo phía đông thành phố đấy, đó là loại lạp xưởng ngon nhất ở Long Châu. Mấu chốt ở đâu có biết không? Ở việc sử dụng nguyên liệu cho tinh tế. Anh nếm thử đi, càng nhai lại càng thấy thơm!”
Cuối cùng, La Phi không nén được nữa, lên tiếng: “Không ngờ, anh cũng nghiên cứu kỹ về cách chế biến món ăn như vậy.” Câu nói đó không lạnh lùng cũng không vồn vã, cũng không biết là có thật lòng khen đối phương hay là cố ý ngắt lời đối phương hay không nữa.
Dương Hưng Xuân ngẩng lên nhìn La Phi, nói: “Người đàn ông biết nấu ăn, thường rất chú tâm đến gia đình.”
La Phi cười khan một tiếng, không trả lời đối phương.
“Tôi biết là anh cười gì.” Dương Hưng Xuân bĩu môi, “Chắc là anh đang nghĩ: đến cả nhà anh cũng không có, thế mà còn nói đến chuyện chú tâm đến nhà gì chứ? Thực ra, không phải là tôi tự khen đâu, mà đó là lời nhận xét của vị hôn thê của tôi.”
“Anh có vị hôn thê à?”
“Có chứ, chuyện nhiều năm trước rồi, cho nên anh không biết.” Dương Hưng Xuân tựa người vào ghế, môi khẽ nhếch lên, “Cô gái đó thực sự rất tốt, người cũng xinh đẹp, tính nết thì nhu hòa. Điều quan trọng nhất là cô ấy rất ủng hộ công việc của tôi. Hồi đó, tôi thường xuyên phải trực đêm, nên ngày nào cô ấy cũng mang đồ ăn đêm cho tôi. Có lúc là cháo trắng, có lúc thì bát mì vằn thắn, có lúc lại là bát mì sợi. Dù cho trời lạnh thế nào thì những món ăn đó khi mang đến cho tôi cũng vẫn còn nóng. Cách nhiệt của bình bảo ôn hồi ấy vẫn còn chưa tốt, cô ấy bèn ôm nó vào lòng, sau đó đạp xe mang đến đồn cho tôi. Ôi, những món ăn đêm nóng hôi hổi đó đưa vào miệng ngon biết bao nhiêu!”
Nghe đối phương nói vậy, La Phi cũng cảm thấy cô gái đó đúng là rất tuyệt. Nhưng một câu thắc mắc chợt nảy ra: “Một cô gái tốt như thế, sau này sao…”
“Suýt nữa thì đã cưới rồi. Nếu hồi đó cưới thì bây giờ tôi cũng là một người có nhà rồi.” Dương Hưng Xuân nhắm mắt lại, chìm đắm trong giấc mơ tốt đẹp, nhưng rồi anh lại mở bừng mắt ra, vẻ buồn bã, “Đáng tiếc, mọi thứ sau đó đều thay đổi.”
La Phi hỏi dồn: “Tại sao?”
“Vì căn nhà này.” Dương Hưng Xuân ngẩng đầu lên từ từ nhìn bốn phía xung quanh, vẻ mặt của anh mỗi lúc một nặng nề thêm, sau cùng anh thở dài, nhìn La Phi rồi nói: “Anh có biết không, nơi đây thực ra là một nấm mồ.”
Đối phương nói với vẻ rất nghiêm túc khiến La Phi bất giác có một cảm giác ớn lạnh. Anh biết, căn nhà này đã từng xảy ra chuyện cũ đáng sợ, nhưng vì thế mà gọi nó là nấm mồ thì hình như có phần hơi thái quá.
Dương Hưng Xuân im lặng một lát, rồi bổ sung một câu: “Nấm mồ của hai gia đình.”
Hai gia đình? Một là chỉ Lý Quân, một gia đình khác có lẽ chỉ chính Dương Hưng Xuân. Câu chuyện của Lý Quân thì anh đã biết, còn Dương Hưng Xuân thì sao? Nhà của anh ấy tại sao lại cũng bị chôn vùi ở đây?
Dương Hưng Xuân cũng đã thấy được những suy nghĩ của La Phi, bèn chủ động nói: “Tôi sẽ kể cho anh nghe chuyện của tôi và căn nhà này.” Vừa nói, anh ta vừa đặt đôi đũa trong tay xuống, cầm tách trà lên nhấp một ngụm.
“Được.” La Phi tỏ vẻ sẵn sàng lắng nghe.
Dương Hưng Xuân nhấp nước trà để làm mềm cổ họng, một hồi lâu sau mới nuốt xuống bụng, câu chuyện mà anh muốn kể đó dài và khá quanh co.
3
Lần đầu tiên tôi biết căn nhà này có lẽ là 16 năm về trước. Lúc đó, tôi vừa rời khỏi quân đội và được điều về làm cảnh sát địa phương ở đồn Cao Lĩnh. Tôi nhớ lúc đó là cuối tháng 3, vừa mới vào xuân, thời tiết vẫn rất lạnh. Hôm đó, tôi nhận được điện thoại điều động của trung tâm chỉ huy, nói rằng trong khu vực quản lý có trẻ nhỏ bị khóa ở trong nhà nên tôi phải tới xem. Chuyện này trước đó tôi cũng đã từng gặp, thường là cha mẹ ra ngoài một lát để làm các việc như đổ rác chẳng hạn, vì vậy không mang theo chìa khóa nên đã nhỡ tay khóa trái cửa lại. Chuyện như thế cũng không có gì phiền phức, chỉ cần gọi một thợ khóa đi cùng, ba đến năm phút sau là sẽ giải quyết được. Đến hiện trường….”, Dương Hưng Xuân giơ tay chỉ về phía cửa, “Chính là bên ngoài cánh cửa kia - thì mới biết tình hình không thông thường như vậy. Có hai đứa bé bị nhốt trong nhà, người lớn thì không biết đi đâu. Sau đó, đứa lớn - một đứa bé gái hơn 3 tuổi mở cửa chạy ra ngoài, nhưng khi nó chạy ra thì lại khóa cửa lại, và trong nhà vẫn còn một đứa bé hơn.”
La Phi gật đầu vẻ đã hơi hiểu ra. Rất rõ ràng là Dương Hưng Xuân đang nói đến chuyện lần đầu tiên Lý Mộng Nam từ trong nhà chạy ra. Chuyện này La Phi vừa nghe bà Vương kể, nhưng anh không biết, người cảnh sát chạy đến hiện trường lúc đó thì ra lại chính là Dương Hưng Xuân.
Dương Hưng Xuân tiếp tục kể: “Lúc đó, đứa bé lớn đứng bên cửa. Trời lạnh như vậy mà nó cởi trần, chiếc áo khoác to đùng trên người, nhìn thì biết ngay là của ai đó tốt bụng mới khoác lên cho. Trên người đứa bé toàn phân là phân, đầu tóc toàn chấy rận, trông không còn ra hồn người nữa. Nhìn điệu bộ ấy thì biết có lẽ nó đã không được chăm sóc nhiều ngày rồi.
Lúc đó tôi cũng không kịp hỏi nhiều, vội bảo thợ khóa mở cửa ra. Người thợ khóa rất giỏi nên chỉ sau vài ba động tác là mở được ngay. Chúng tôi chạy vào nhà tìm đứa bé còn lại. Lúc đầu không thấy đâu, cuối cùng thì cũng đã tìm thấy nó. Anh có biết nó ở đâu không? Ở trong nhà xí! Đứa bé đó nằm sấp trên bệ xí, trong tư thế cúi xuống uống nước trong bồn xí.
Nói đến đây, Dương Hưng Xuân cố ý dừng lại nhìn La Phi một chút. La Phi bất giác thè lưỡi, uống nước ở bồn xí? Chi tiết này lúc trước bà Vương không nhắc đến, bây giờ mới nghe thấy nên anh không khỏi thấy rùng mình.
Dương Hưng Xuân cũng thở dài một cái rồi nói tiếp: “Lúc mới đầu cứ tưởng là đứa bé đó đã chết rồi, nhưng đưa tay sờ thì thấy vẫn còn thở! Tôi vội bế nó lên, đầu tiên cho nó uống chút nước, sau đó có một cô hàng xóm mang sang cho một bát sữa nóng. Đứa bé uống ừng ực hết bát sữa mới dần lấy lại sức sống. Tôi vội gọi xe cấp cứu đưa bọn trẻ đến bệnh viện kiểm tra. Dọc đường, tôi luôn bế đứa bé ấy. Theo lý thuyết thì trẻ hơn một tuổi đã bắt đầu biết lạ, nhìn thấy người lạ sẽ khóc tướng lên đúng không? Nhưng đứa trẻ đó lại đưa bàn tay nhỏ tí xíu của mình ra nắm chặt lấy tay tôi không chịu rời một phút.” Nói đến đây, Dương Hưng Xuân hơi nheo mắt lại, lộ vẻ vô cùng bối rối, anh ta thở dài: “Hôm ấy, tôi mới thực sự hiểu được thế nào gọi là chết đuối vớ được cọc. Đứa bé đó nắm chặt tay tôi, giống như nắm chặt lấy tia hy vọng cuối cùng trong đời. Tôi có thể cảm nhận thấy mong muốn được sống của nó, đó là bản năng nguyên thủy nhất của mọi loài sinh vật.”
La Phi biết tại sao Dương Hưng Xuân lại bối rối, vì đứa bé đó cuối cùng vẫn chưa thoát khỏi kiếp nạn đáng sợ. Còn Dương Hưng Xuân là người đã từng cứu nạn, nên chắc chắn càng có cảm xúc rất sâu về bi kịch đó.
Sau một hồi xúc động, Dương Hưng Xuân trở lại với hồi ức: “Đến bệnh viện, sau khi kiểm tra xong, hai đứa trẻ đều được kết luận là suy dinh dưỡng nghiêm trọng, nhất là một tuổi rồi mà chỉ mới biết bò, mông nó chỉ bằng bàn tay. Đứa lớn cũng không khá gì hơn, phần dưới người nó có nhiều chỗ lở loét, đó là kết quả của việc lâu ngày không được thay tã gây ra.
Tôi nhớ, lúc đó có một hộ lý tắm rửa cho hai đứa bé, cô ấy vừa làm vừa chảy nước mắt. Sau đó, cô ấy nói riêng với tôi rằng: trong miệng của bọn trẻ cũng có phân. Vì là đàn ông, không dễ khóc như phụ nữ, nhưng nghe vậy trong lòng tôi cũng thấy rất thương xót. Nói thật, từ trước đến lúc đó, tôi chưa thấy đứa trẻ nào tội nghiệp đến thế. Tôi thực sự không biết kiểu cha mẹ nào lại có thể để con ra nông nôi ấy.
Sau đó, qua tìm hiểu hàng xóm xung quanh, được biết đứa lớn tên là Lý Mộng Nam, còn đứa bé tên là Lý Mộng Kiều. Bố của bọn trẻ tên là Lý Quân, mẹ là Tần Yến. Lúc đó Lý Quân đang trong trại giam vì tội chứa chấp người sử dụng ma túy, anh ta bị phạt giam 6 tháng. Còn Tần Yến thì mất liên lạc, nghe nói tới hai ba ngày rồi mà chưa thấy có mặt ở khu.
Tôi báo cáo tình hình với đồn, đồn cử người đi thăm dò tin tức của Tần Yến. Đến chiều muộn, cuối cùng thì cũng tìm được cô ta trong một quán net ở đường Thu Vũ. Đồng nghiệp của tôi đưa Tần Yến đến bệnh viện. Người đàn bà đó, nói thế nào nhỉ? Nhìn bề ngoài thì không có vẻ là một người xấu. Ăn mặc cũng bình thường, chỉ có điều mắt chẳng có hồn gì cả, phản ứng cũng có phần chậm chạp. Lúc đó, tôi hỏi Tần Yến, tại sao cô lại bỏ lũ trẻ ở nhà không chăm sóc? Tần Yến trả lời tôi rằng, đến bản thân mình cô ta còn không tự chăm sóc được thì làm sao chăm sóc được cho bọn trẻ?
Sau đó, tôi còn nghe nói người đàn bà đó không biết nấu cơm, không biết giặt quần áo, không biết làm gì cả. Có lần, cô ta xin được của hàng xóm hai quả trứng gà về cho con ăn, loay hoay một hồi không biết luộc thế nào, cuối cùng đành mang trứng sang để hàng xóm luộc hộ cho.”
La Phi lắc đầu tự nhủ: một người phụ nữ mà đến cả luộc trứng cũng không biết thì làm sao có tư cách trở thành mẹ của hai đứa trẻ được nhỉ?
Dương Hưng Xuân cũng mỉm cười bất lực: “Đối với người phụ nữ đó, tôi cũng không biết nói thế nào cho được, đành đưa cô ta đến phòng bệnh thăm bọn trẻ. Nhìn thấy hai đứa trẻ, Tần Yến cũng khóc, một tay bế đứa bé, một tay ôm đứa lớn, xem ra cũng rất đau lòng. Tôi đứng bên thầm nghĩ: dù thế nào thì người làm mẹ cũng vẫn cứ thương con, bây giờ, chủ yếu là cuộc sống không được ổn định, khả năng tự chăm sóc lại kém, sau này có lẽ sẽ khá hơn. Hừ, sự thật sau này chứng minh, tất cả chỉ là những suy đoán trong mơ của tôi mà thôi.
Bệnh viện lẽ ra muốn giữ hai đứa trẻ lại để tiếp tục điều trị, nhưng Tần Yến kiên quyết đòi mang chúng về, vì cô ta là người giám hộ hợp pháp của chúng, nên chúng tôi cũng không có quyền phản đối. Có điều, chuyện bọn trẻ chạy ra ngoài tự cầu cứu lần này khá lớn, nên tổ dân phố và đồn cảnh sát cũng bắt đầu quan tâm. Tối hôm đó, mọi người cùng đưa ba mẹ con cô ta về, tổ dân phố còn đưa tiền để nhờ bốn bà lớn tuổi đến quét dọn trong ngoài nhà một lượt. Bởi vì ở đó toàn cứt đái, chẳng có vẻ gì là nơi ở của con người.
Tất nhiên, sự giúp đỡ của mọi người với ba mẹ con họ không chỉ đơn giản ở việc quét dọn vệ sinh, cân nhắc đến chuyện Lý Quân vẫn đang ở trong tù, gia đình đó hoàn toàn không có nguồn kinh tế, tổ dân phố còn quyết định trợ giúp kinh tế cho họ. Hồi đó, khoản tiền trợ cấp quy định là mỗi tháng 800 đồng” Dương Hưng Xuân ngừng một lát, anh ngẩng đầu lên nhìn La Phi với ý tứ sâu xa, sau đó kể tiếp: “Và nhiệm vụ phát tiền cứu trợ được giao cho tôi.”
“Ồ”, La Phi gật đầu hiểu ý, rồi nói: “Đây là một việc cũng gai góc đấy.”
“Đúng thế.” Dương Hưng Xuân đưa đầu ngón tay, khẽ gõ lên mặt bàn mấy cái, “Nhiệm vụ của tôi không phải đơn giản là phát tiền, điều quan trọng hơn là tôi phải giám sát Tần Yến, đảm bảo rằng số tiền đó được dùng vào sinh hoạt hàng ngày của mấy mẹ con, chứ không phải bị cô ta tiêu linh tinh cho mình.”
“Tất nhiên rồi. Nếu như chỉ là phát tiền, thì trong tổ dân phố có nhiều bà già lớn tuổi như vậy, ai phát mà chẳng được? Cần gì phải giao cho một cảnh sát?”
“Đội trưởng La đúng là rất hiểu người khác!” Dương Hưng Xuân ngừng một chút, rồi nói tiếp: “để hoàn thành nhiệm vụ này, tôi phải cố nghĩ ra một cách cấp tiền đặc biệt, đem khoản trợ cấp cấp làm bốn lần. Cũng có nghĩa là mỗi tuần cấp một lần, mỗi lần 200 đồng. Như vậy, mỗi tuần đến kỳ cấp tiền, tôi lại đến nhà Tần Yến xem một lần, để đảm bảo rằng cuộc sống của bọn trẻ vẫn bình thường. Tôi nghĩ rằng, như thế có thể kiểm soát được Tần Yến, thúc đốc cô ta chăm sóc tốt cho bọn trẻ.”
La Phi tỏ ý tán thành: “Cách đó rất tốt.”
“Nhưng anh biết không, chuyện đó cuối cùng làm tôi đổ bể đấy.” Dương Hưng Xuân hơi nhếch mép lên, để lộ nụ cười đau khổ. Nụ cười đó ẩn chứa sự tự trách và bất lực.
La Phi “ồ” một tiếng, chờ nghe tiếp.
“Thực ra, lúc mới bắt đầu, kết quả cũng khá tốt.” Dương Hưng Xuân tựa người vào ghế, ngước mắt nhìn lên, tỏ vẻ tự an ủi, “Từ tháng 3 đến tháng 6, tổng cộng tôi cấp 11 khoản trợ cấp, tổng số là 2200 đồng. Trong thời gian đó, cuộc sống của ba mẹ con xem ra cũng khá tốt. Mỗi lần tôi đến cấp tiền, cả hai đứa trẻ đều có ở nhà và nhà cũng được dọn sạch sẽ. Sau đó, tôi đưa Tần Yến đi mua những nhu yếu phẩm cần thiết cho cuộc sống, giúp cô ta mang về nhà rồi mới ra về.”
La Phi xen vào: “Thời gian anh đến cấp tiền đều vào ngày cố định trong tuần à, hay là vào những lúc anh rỗi?”
“Chủ yếu là xem lúc nào tôi rỗi. Vì bình thường công việc của tôi cũng rất bận rồi, không xác định được thời gian chắc chắn, do vậy phải áp dụng cách làm tương đối linh hoạt. Trước lúc tới, tôi đều gọi điện cho Tần Yến. Gần như chúng tôi đã thỏa thuận bảo Tần Yến ở nhà chờ.”
“Nếu như vậy…”, La Phi nhắc Dương Hưng Xuân, “thì tình hình anh nhìn thấy mỗi lần chưa hẳn là trạng thái cuộc sống đích thực của bọn trẻ.”
“Ý của anh là…”, Dương Hưng Xuân trầm ngâm, “vì trước khi đến tôi đều thông báo cho Tần Yến, nên cô ta đã có thể chuẩn bị trước để tạo ấn tượng tốt cho tôi, và có thể lấy được số tiền trợ cấp một cách thuận lợi?”
“Đúng thế. Hơn nữa, trạng thái cuộc sống thực của ba mẹ con ngày thường, có lẽ anh đã không nhìn thấy được.”
“Đúng là tôi đã không để ý đến vấn đề này.” Dương Hưng Xuân thở dài, nói tiếp: “Bây giờ nghĩ lại, thực ra một số việc đã có manh nha, nhưng đáng tiếc là lúc đó tôi lại không coi trọng.”
“Thế sao? Ví dụ?”
“Ví dụ bà ngoại của Tần Yến đã báo cảnh sát, nói rằng cô ta lại nhốt bọn trẻ trong nhà không chăm sóc.”
“Bà ngoại của Tần Yến?” La Phi hơi ngạc nhiên.
“Đúng vậy. Sao thế ?”
“Cô ta có người thân à? Tôi cứ tưởng…”
Dương Hưng Xuân hiểu rõ ý của La Phi: “Anh tưởng rằng cô ta là trẻ mồ côi không có người chăm sóc? Không phải đâu. Có điều, cũng chẳng khác gì trẻ mồ côi.”
“Thế à? Nói thử xem.” La Phi thấy hứng thú với gia cảnh của người phụ nữ này.
“Mẹ của Tần Yến có bầu trước khi lấy chồng, bố của cô ta là ai, có lẽ đến cả chính bà ấy cũng không rõ. Sau khi đẻ Tần Yến, bà ta bỏ đi với một người đàn ông khác, bây giờ đã lấy chồng và sinh con ở Tứ Xuyên rồi và hầu như không liên hệ gì với người trong gia đình. Từ nhỏ, Tần Yến đã ở với ông bà ngoại, không biết bố đẻ ở đâu và cũng chưa gặp lại mẹ lần nào. Anh nói xem, như vậy thì có khác gì trẻ mồ côi?”
La Phi khẽ thở dài, rồi nói: “Thảo nào.” Trước đó, anh cứ lấy làm khó hiểu rằng là một phụ nữ mà sao Tần Yến lại thiếu luân lý làm người như vậy? Từ nhỏ, cô ta đã không có được tình yêu thương của mẹ thì làm sao biết dùng tình yêu của người mẹ để quan tâm chăm sóc cho những đứa con của mình?
Thắc mắc này đã được giải đáp, La Phi vội quay lại với vấn đề hiện tại: “Được rồi, anh nói tiếp đi, về chuyện bà ngoại của Tần Yến báo cảnh sát.”
“Bà cụ đó đã báo cảnh sát hai lần, nhưng lần đầu thuần túy là một sự hiểu lầm.” Dương Hưng Xuân nhấp một ngụm trà, rồi kể chi tiết: “Tôi nhớ lúc đó vào tháng 4, bà cụ liên lạc với Tần Yến mấy lần mà không được, không yên tâm, bà đã chạv đến khu Tường Hinh Uyển để thăm các chắt. Gõ cửa một hồi lâu nhưng trong nhà không có ai trả lời. Bà cụ cuống lên, nghi là Tần Yến lại bỏ đi, hai đứa trẻ bị nhốt trong nhà lâu có khi đã xảy ra chuyện. Thế là bà cụ gọi điện đến đồn cảnh sát. Nhận được điện thoại xong, tôi cũng thấy rất lo, vội gọi thợ khóa đến để mở cửa. Chúng tôi tức tốc chạy ngay vào trong nhà, đến khi vào phòng ngủ thì thấy Tần Yến và hai đứa trẻ đang ngủ rất say. Tần Yến tỉnh dậy cứ mắng bà ngoại, trách bà làm mất giấc ngủ của mình. Chúng tôi đứng bên, nghe thấy vậy cũng rất khó chịu. Anh thấy đấy, chuyện đó thật là khó xử.”
“Như vậy… đúng là muốn tốt lại thành ngược lại.” La Phi trầm ngâm một lát rồi nói: “Thực ra, bà cụ cũng có thể cầm một bộ chìa khóa, như thế chẳng phải có thể thường xuyên đến thăm các chắt sao? Sau này, có gặp phải chuyện tương tự cũng không đến nỗi tạo ra kinh động lớn.”
Là hàng xóm, chị Đặng cũng đã từng giữ một bộ chìa khóa để chăm sóc hai đứa trẻ, thì người là cụ càng không nên từ chối việc này mới phải. Hơn nữa, bà cụ là quan hệ máu mủ với bọn trẻ, nên sẽ không phải lo liên lụy giống như chị Đặng nếu như có việc gì xảy ra.
Dương Hưng Xuân chìa tay nói: “Chúng tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng bà cụ lại không chịu.”
“Tại sao?”
“Trước đó bà cụ cũng đã từng giữ một bộ chìa khóa, nhưng sau đó Tần Yến cứ nói thiếu cái này, mất cái kia, rồi cứ trách móc bà cụ. Bà cụ không chịu được oan ức ấy, đem trả lại chìa khóa cho Tần Yến. Khúc mắc ấy chưa được giải quyết, thái độ của cô ta với bà cụ lại tệ hại như vậy thì liệu bà cụ có cầm chìa khóa được không?”
“Như vậy… đúng thật là…”, La Phi nói đến nửa chừng thì không nói nữa, vì anh không biết nên đánh giá thế nào. Ai cũng biết nhà nào cũng có chuyện, nhưng chuyện nhà họ quả là hiếm thấy và khó hình dung. Thôi, hãy đưa câu chuyện trở về với sự việc chính vậy.
“Vì việc báo cảnh sát lần đầu xảy ra hiểu lầm, nên đến lần thứ hai khi bà cụ lại báo cảnh sát, thì các anh không coi trọng nữa, đúng không?” La Phi đoán.
Dương Hưng Xuân gật đầu.
“Anh có đến đó không?”
“Không.” Dương Hưng Xuân im lặng một lát rồi nói: “Nhưng tôi vẫn điều tra.”
La Phi cười khì một tiếng: “Không đến thì điều tra thế nào?”
“Tôi hỏi bà cụ, có nghe thấy tiếng trẻ con đập cửa trong nhà hay kêu khóc gì không. Sau đó, tôi lại hỏi mấy hàng xóm cùng đơn nguyên, thì họ nói mấy ngày đó không thấy tiếng gì khác thường. Tôi thì nghĩ: đứa trẻ đó đã ba, bốn tuổi, nếu gặp phải chuyện chẳng lành nghiêm trọng, hẳn sẽ tạo ra tiếng động trong nhà.”
“Vì vậy, thấy trong nhà không có tiếng động thì anh nghĩ rằng bọn trẻ không có chuyện gì?”
“Đúng thế.” Dương Hưng Xuân giải thích: “Lần trước, Tần Yến nhốt bọn trẻ trong nhà, hàng xóm đã nghe thấy tiếng Lý Mộng Nam đập cửa và kêu khóc. Vì vậy tôi nghĩ: lần này có lẽ mấy mẹ con lại nằm ngủ trong nhà thôi, hoặc là Tần Yến đưa chúng ra ngoài chơi.”
“Phán đoán như vậy cũng phù hợp logic, chỉ có điều…”, La Phi lắc đầu, “Chuyện này liên quan đến an nguy tính mạng của hai đứa trẻ, nếu chỉ dựa trên suy đoán logic e rằng có phần cẩu thả.”
“Anh nói rất đúng.” Dương Hưng Xuân bất giác cúi đầu, như muốn lẩn tránh điều gì đó.
La Phi biết được là đối phương đang tự trách mình, bèn hỏi với vẻ rất nhạy cảm: “Chính là chuyện đã xảy ra trong lần này?”
“Không phải thế.” Dương Hưng Xuân ngẩng đầu lên, tiếp tục nhớ lại, “Thực ra, sau lần thứ hai bà cụ báo cảnh sát, ít nhiều tôi cũng thấy không yên tâm, vì thế mấy ngày sau lại hẹn Tần Yến để đến cấp tiền. Khi tôi đến nhà, thấy người lớn và trẻ con đều khỏe. Vì vậy, việc báo cảnh sát lần thứ hai có lẽ cũng là một lần hiểu lầm.”
“Có thể…”, La Phi nhún vai, cảm thấy rất không vừa lòng với cách dùng tù đó, sau đó anh cố gắng nói: “Dù thế nào, thì nếu lần thứ hai mà anh cũng không tới thì lần thứ ba bà cụ sẽ không báo cảnh sát nữa. Vì vậy, khi mà cuối cùng bọn trẻ gặp chuyện, chúng đã mất đi kênh thông qua cụ ngoại để cầu xin giúp đỡ.”
“Đúng vậy… Chính là vì sự suy đoán chủ quan của tôi nên mới gây ra hậu quả đáng tiếc đó.” Dương Hưng Xuân cười buồn bã thừa nhận. Một lát sau, anh ta nói thêm: “Thực ra, ngòi nổ dẫn đến việc xảy ra chuyện sau đó cũng là do tôi châm lửa.”
“Ồ?” La Phi nheo mắt, nhìn đối phương bằng ánh mắt xem xét.
Dương Hưng Xuân thở dài, chậm rãi nói: “Lúc đó là tháng 6, qua một tháng nữa là Lý Quân mãn hạn tù. Tôi luôn mong ngóng đến ngày đó, bụng thầm nhủ chỉ cần kiên trì đến ngày Lý Quân ra tù, thì trách nhiệm của tôi sẽ được trút bỏ. Nhưng, ông trời lại không chiều theo lòng người. Đầu tháng 6, trong khu vực của chúng tôi xảy một vụ cướp của giết người. Ảnh hưởng của vụ án đó rất xấu, lãnh đạo thành phố ra lệnh phải phá được vụ án đó trong một thời hạn. Loại vụ án không có manh mối kiểu này chắc anh cũng biết, việc phân tích tình hình vụ án cơ bản không có tác dụng, chỉ có thể lấy hiện trường vụ án làm trọng điểm để điều tra loại trừ. Hồi đó, đường phố cũng không có nhiều camera như bây giờ, việc điều tra chủ yếu là dựa vào chiến thuật biển người. Trong hai ngày, tôi đi khắp ba dãy phố, tìm hỏi từng cửa hàng ven đường, từng người qua đường, chân mỏi rã rời tưởng như muốn gãy. Như thế vẫn chưa hết, về đến đồn lại phải chỉnh lý lại hàng chồng bút lục… Tóm lại là mấy hôm đó tôi bận tối mắt tối mũi, thực sự không còn sức đâu mà lo đến những việc khác nữa.”
La Phi hỏi: “Có phải anh đã quên cấp tiền trợ cấp cho Tần Yến không?”
“Chuyện đó thì không. Chỉ là thực sự không có thời gian đến nhà, nên tôi gọi điện cho Tần Yến, bảo cô ta đến đồn để lấy tiền.”
La Phi gật đầu, giải quyết như vậy thì cũng không có gì là không được.
“Sau khi Tần Yến đến, tôi mới hỏi cô ta: bọn trẻ thế nào? Cô ta trả lời: đều ổn, đang ở nhà.” Dương Hưng Xuân im lặng một lát, sau đó mỉm cười tự châm biếm với vẻ lạnh lùng: “Tôi đã tin vào lời của cô ta.”
“Cô ta đã lừa dối anh?”
“Thực ra, đã hai ngày rồi cô ta không về nhà.”
“Thế sao?”
Dương Hưng Xuân nhìn La Phi, cười buồn bã: “Vừa rồi anh nói không sai, tình hình mà tôi nhìn thấy trong mấy lần đến cấp tiền lúc trước đều không thật, đều là do Tần Yến cố tạo ra để tôi thấy. Cô ta vẫn thường xuyên ra ngoài, vứt hai đứa trẻ ở nhà mà không nhòm ngó đến. Mỗi lần biết tôi sắp đến là cô ta lại về nhà dọn dẹp sẵn.”
“Lần đó anh không đến nên cô ta không cần phải về nhà nữa?”
“Đúng thế.” Dương Hưng Xuân ủ rũ, “Chính là vì lần thiếu trách nhiệm này nên cuối cùng mới xảy ra chuyện đó.”
La Phi trầm ngâm một lát, mày hơi nhíu lại, nói: “Tôi vẫn không hiểu lắm… chỉ vì một lần anh không đến nhà mà dẫn đến bi kịch sao? Không lẽ trước đó chỉ khi anh đến thì Tần Yến mới về nhà? Mà mỗi tuần anh cũng chỉ đến có một lần thôi mà. Nếu như vậy thì hai đứa trẻ đã sớm không qua khỏi rồi chứ?”
“Không phải là cô ta một tuần mới về một lần, đại khái vài, ba ngày về một lần. Mỗi lần trước khi đi cũng để lại cho bọn trẻ một ít nước uống và đồ ăn. Điều quan trọng là, tuần nào tôi cũng đến thì trong lòng cô ta cũng có một chút áp lực, nên thỉnh thoảng lại về nhà xem bọn trẻ, nếu không sẽ không biết ăn nói thế nào với tôi. Và, một khi mà tôi không đến thì điều mà cô ta cảm thấy là áp lực sẽ đột nhiên biến mất. Vì vậy, hôm cầm được tiền đó cô ta đã không về nhà, mà là đi chơi đâu đó cho thoải mái.”
Khi Dương Hưng Xuân nói đến hai chữ “thoải mái”, giọng anh đặc biệt nhấn mạnh, dường như muốn nhấn mạnh điều gì đó. La Phi chú ý đến chi tiết này, lập tức tức hỏi dồn: “Thoải mái thế nào?”
Dương Hưng Xuân cười khan, đáp: “Cô ta tới sàn nhảy disco ngầm và dùng số tiền cứu trợ vừa có được mua một ít ma túy…”
Ma túy? La Phi lặng lẽ lắc đầu. Nói chuyện đến đây thì cũng không cần hỏi gì nữa, anh đã nhìn thấy rất rõ số phận bi thảm sắp đến của hai đứa trẻ.
Dương Hưng Xuân cũng im lặng. Anh ta cầm chiếc túi đen ở mép bàn lên, lấy một bao thuốc từ trong túi ra, sau đó đưa mắt nhìn La Phi, dốc hộp thuốc, ý hỏi: có làm một điếu không?
La Phi xua tay: “Tôi không hút.” Tiếp đó, anh nhấc chén trà trước mặt lên, nhấp một ngụm lấy lệ.
Dương Hưng Xuân lấy ra một điếu rồi tự châm lửa. Anh ta rít một hơi dài, giữ lại trong giây lát rồi mới từ từ nhả khói qua mũi. Cùng với làn khói thuốc bay ra là một tiếng thở dài. Xong hơi thuốc đó, anh ta tiếp tục kể.
“Mấy ngày sau, vụ án cướp của giết người phá xong, cuối cùng chúng tôi cũng được xả hơi một chút. Lúc đó, tôi nhớ đến chuyện mấy ngày chưa nhìn thấy bọn trẻ, bèn gọi điện cho Tần Yến, hẹn thời gian đến thăm. Nhưng, điện thoại của cô ta không liên lạc được. Tôi thấy hơi lo, nên hết giờ làm tôi đến thẳng đó. Tôi đứng ngoài gọi cửa một hồi lâu mà cũng không thấy tiếng người trả lời. Sau đó, hàng xóm đối diện đi về, cho tôi biết là đã hàng tuần rồi không thấy Tần Yến. Tôi vừa nghe thì biết là không ổn rồi. Mấy hôm trước, khi đến lấy tiền, Tần Yến đã nói rằng hai đứa trẻ đều ở nhà, còn cô ta thì đã một tuần rồi không thấy bóng dáng, điều đó có nghĩa là gì? Tôi chẳng kịp nghĩ đến chuyện hiểu lầm hay không mà lập tức gọi ngay thợ khóa đến mở cửa.
Cửa vừa bật ra, một mùi hôi thối xộc đến. Tôi chợt thấy lòng nặng trĩu như rơi xuống đáy vực. Lần vào nhà ba tháng trước cũng thấy rất hôi thối, nhưng đó là mùi phân và nước đái. Nhưng mùi hôi thối lần này thì khác. Là một cảnh sát, tôi quá biết mùi hôi thối đó là gì…”
Dương Hưng Xuân đưa điếu thuốc lên môi rít tiếp. Lần này, anh ta rít liên tục. Dường như muốn dùng khói thuốc để xua tan đi cái mùi hôi thối cứ quẩn quanh trong ký ức, nhưng mọi cố gắng đều vô ích, thứ mùi đó đã in đậm vào sâu trong tâm hồn anh, mãi cũng không thể tiêu tan.
Việc làm có ý nghĩa nhất, đó là dốc hết can đảm để nhìn thẳng vào đoạn ký ức đó.
“Tôi đi từng bước vào trong nhà, và thấy rõ mùi hôi thối đó tỏa ra từ phòng ngủ. Cửa của phòng ngủ cũng đóng, nhưng nhìn qua khe ván cửa và khung cửa thì thấy cửa không khóa, mà chỉ là khép hờ. Tôi đưa tay đẩy ra, nhưng không đẩy được. Thấy lạ, tôi nhìn kỹ thì phát hiện ra khe cửa có nhét một miếng giẻ lau to, chính miếng giẻ đó đã kẹt vào giữa cánh cửa với khung của, khiến cho cánh cửa rất chặt. Khi tôi chú ý đến chi tiết đó, tôi chợt thấy lòng đau thắt lại. Tôi đã hiểu ra, tại sao mấy ngày nay, Tần Yến thường xuyên ra ngoài không về mà không có ai ở ngoài nghe thấy tiếng kêu khóc của bọn trẻ.”
“Vì Tần Yến đã dùng giẻ chèn làm cho cửa phòng ngủ kẹt chặt, khiến hai đứa trẻ không thể nào ra khỏi phòng ngủ được. Chúng chỉ có thể kêu khóc và đập cửa trong phòng ngủ, và những tiếng kêu khóc ấy không thể nào vượt qua phòng ngủ và lọt ra ngoài được.” Khi La Phi nói ra sự thật tàn khốc đó, lòng anh cũng đau thắt, anh không nén được, hỏi dồn: “Nhưng, tại sao cô ta lại làm như vậy?”
“Vì cô ta không muốn bọn trẻ chạy ra ngoài, cũng không muốn người khác nghe thấy tiếng kêu gào của bọn trẻ. Cô ta cảm thấy chuyện đó khiến mình rất mất mặt.”
“Cô ta không bén mảng về nhà, làm thế chẳng phải là cố ý dồn bọn trẻ vào đường chết ư?”
“Có thể lúc ra khỏi cửa cô ta vẫn nghĩ là mình sẽ về nhà, nhưng khi đã đi rồi thì không kìm được bản thân nữa. Nhất là sau khi đã hít ma túy.”
La Phi lắc đầu, cảm thấy không thể nào tưởng tượng nổi, nhưng anh biết: những chuyện đó chính là sự thật đã từng xảy ra, rồi anh lại nghĩ đến: nơi anh đang ở đây chính là hiện trường xảy ra sự kiện đó! Điều đó khiến anh bất giác quay đầu lại, nhìn về phía phòng ngủ cách đó không xa.
Cánh cửa đó vẫn khép hờ, và La Phi dường như mơ hồ nghe thấy tiếng đập cửa dồn dập và tiếng kêu khóc thảm thiết. Anh thu ánh mắt lại như chạy trốn, đồng thời khẽ nói: “Thảm quá!”
“Đúng vậy, rất thảm.” Dương Hưng Xuân cũng nhắc lại, rồi trong hàng chục giây sau đó, anh ngồi yên bất động, giống như một bức tượng xuyên không. Cuối cùng, anh từ từ quay đầu lại, mắt cũng nhìn về phía cánh cửa phòng ngủ, và ký ức của anh cũng theo đó bước vào nơi kiêng kỵ cuối cùng.
“Tôi ra sức đẩy cánh cửa kia, tiếp đó nhìn thấy một thảm cảnh như dưới địa ngục. Đứa bé tên là Lý Mộng Kiều đáng yêu xinh xắn ấy lúc này đã nằm chết trên giường trong tư thế vô cùng đáng sợ, thân hình không còn nguyên vẹn của nó đã bắt đầu phân hủy và bốc ra mùi hôi thối.”
Nói đến đây, Dương Hưng Xuân đau khổ nhắm mắt lại, như muốn cố thoát ra khỏi đoạn ký ức đó.
La Phi im lặng chờ đợi trong giây lát, sau đó hỏi: “Thế còn Lý Mộng Nam thì sao?”
“Lý Mộng Nam…”, Dương Hưng Xuân mở mắt nhìn La Phi, “Có lẽ anh đã biết, nó đã may mắn sống sót.” Hơi ngừng một chút, Dương Hưng Xuân bổ sung: “Khi tôi vào nhà, đứa bé đó đang nằm bên cửa phòng ngủ, thoi thóp, mê man. Tôi đoán, nó đã cố sức mở cửa phòng ngủ để chạy ra ngoài. Nhưng cánh cửa đó đến cả người lớn đẩy từ bên ngoài cũng còn mất sức, nó làm sao có thể kéo ra được từ bên trong?”
Lý Mộng Nam dù sao cũng lớn hơn Lý Mộng Kiều ba tuổi, đã tương đối có khả năng hành động độc lập. Còn Tần Yến trước khi ra khỏi nhà cũng để lại một ít đồ ăn và nước uống, nên Lý Mộng Nam mới có thể sống sót trong bi kịch đó.
Nhưng, còn có một tình tiết, tại sao Dương Hưng Xuân từ đầu đến giờ không nhắc đến? La Phi đành chủ động hỏi: “Thế còn Hắc Oa?”
“Hắc Oa?” Dương Hưng Xuân có vẻ không hiểu La Phi đang nói gì.
“Nhà Tần Yến nuôi một con chó. Anh không thấy nó ở hiện trường à?”
“Anh nói đến con chó đen bé đó chứ gì?” Dương Hưng Xuân rít một hơi thuốc, nói: “Tôi biết rồi, đó là con chó mà Tần Yến mang về từ đầu tháng 5, tên nó là “Hắc Oa”. Thực ra, tôi không ủng hộ lắm việc họ nuôi chó. Nhưng Lý Mộng Nam hình như rất thích, tôi thấy con bé chơi với con chó rất vui, nên cũng đồng ý. Bây giờ nghĩ lại thì thấy đó là một sai lầm. Nếu như không có con chó đó, thì Kiều Kiều cũng không đến nỗi thảm như vậy.”
“Sao thế ?”
“Có một số chi tiết tôi vốn không định nói, nhưng nếu anh đã hỏi…”, Dương Hưng Xuân do dự một lát, cuối cùng cũng nói ra: “Khi tôi vào phòng ngủ, thì con chó đó dường như đang ăn thi thể của Kiều Kiều.”
Thì ra là như vậy, La Phi hít một hơi sâu. Thảo nào Dương Hưng Xuân đã dùng mấy từ “không còn nguyên vẹn” để nói về thân thể của cô bé, thảo nào mà hai chữ “Hắc Oa” trở thành ác mộng trong ký ức của Lý Mộng Nam!
“Bây giờ thì anh đã có thể hiểu tâm trạng của tôi rồi chứ? Khi tôi bước vào căn nhà này lần đầu, Kiều Kiều đã dùng đôi bàn tay bé nhỏ của nó nắm chặt lấy tay tôi, như thể tôi trở thành Chúa cứu thế của nó. Nhưng cuối cùng tôi đã không thể cứu được nó. Sau đó, khi tôi ôm xác của nó đi, tôi nhớ cảm giác đó, nhẹ bẫng, hầu như không có trọng lượng. Nhưng nó đã từng là một sinh mệnh! Cô bé đã thật sự tồn tại trong thế giới này. Tất cả mọi thứ của cô bé đã bị chôn vùi trong căn nhà này.” Dương Hưng Xuân nói với vẻ hết sức đau lòng, cuối cùng, anh ta giơ tay chỉ không gian xung quanh, nhìn La Phi và nói: “Anh nói đi, đây có đúng là một nấm mồ không?”
“Đối với gia đình Tần Yến mà nói thì là đúng. Nhưng với anh thì tại sao lại như vậy?” La Phi nhìn vào mắt Dương Hưng Xuân, “Câu chuyện của anh, có phải mới chỉ kể một nửa không?”
Dương Hưng Xuân hút nốt mẩu thuốc cuối cùng, vẻ mặt anh dần dần thay đổi. vẻ đau buồn lúc trước tan biến, thay vào đó là vẻ kiên quyết và cương nghị. Anh ấn đầu thuốc xuống bàn, dụi tắt lửa. Lúc này, đột nhiên anh cất tiếng cười rồi hỏi lại La Phi: “Thực ra, anh đang thấy hứng thú với nửa câu chuyện khác, đúng không?”
4
“Hôm đó, tôi đẩy cửa phòng ngủ, bước vào ngôi nhà này. Trong nhà có hai đứa trẻ. Lý Mộng Kiều đã chết, Lý Mộng Nam vẫn còn sống. Đứa bé đã chết tất nhiên rất thảm, còn đứa còn sống thì sao? Hừ, cũng chưa hẳn đã hạnh phúc.” Dương Hưng Xuân nhấc chén trà lên, uống ừng ực mấy ngụm. Chén trà đó đã nguội, nhưng anh ta vẫn uống một mạch. Có lẽ, anh ta không có ý thưởng thức hương vị của nó, mà chỉ vì nói nhiều nên cần phải uống cho đỡ khát.
La Phi hiểu ý của đối phương, anh cũng gật đầu, đáp: “Còn nhỏ mà đã gặp phải chuyện như thế , chắc chắn là sẽ gây ra vết thương tâm lý nghiêm trọng cho Lý Mộng Nam.”
“Ảnh hưởng của vết thương đó, e rằng đến hết đời cũng không tan biến hết.” Dương Hưng Xuân ngừng lại một chút rồi nói: “16 năm trước, chính tôi là người đầu tiên phát hiện ra sự tồn tại của ảnh hưởng đó.”
“Thế sao?”
Dương Hưng Xuân nói chi tiết hơn: “Sau khi sự việc đó xảy ra, cảnh sát nhanh chóng bắt Tần Yến, cô ta đã bị xử 10 năm tù giam về tội sai lầm dẫn đến chết người. Khi Tần Yến bị bắt, Lý Quân vẫn chưa ra tù, thế là nhiệm vụ chăm sóc Lý Mộng Nam lại rơi xuống đầu tôi. Chắc hẳn anh sẽ lấy làm lạ, chuyện đó sao lại giao cho tôi? Đúng vậy, giao cô bé Lý Mộng Nam cho tôi chăm sóc đúng là không được thích hợp. Thực ra, lúc đầu tổ dân phố cũng định tìm một đồng chí nữ. Nhưng Lý Mộng Nam lại cứ theo tôi. Chỉ cần tôi rời đi là cô bé lại khóc ầm lên. Nghĩ đến việc cô bé đã chịu cú sốc quá lớn như vậy, tinh thần vẫn chưa ổn định, nên mọi người không dám ép cô bé.”
La Phi xen vào: “Tại sao Lý Mộng Nam lại theo anh như vậy?”
“Vì cô bé biết là tôi cứu nó.” Dương Hưng Xuân nheo mắt, một lần nữa lại chìm vào ký ức, “Hôm đó, khi tôi tới hiện trường, tôi phát hiện ra là Lý Mộng Nam vẫn còn thở, tôi vội gọi xe cấp cứu, rồi ôm nó chạy xuống tầng. Khi ra đến ngoài tòa nhà, có lẽ bị ánh mặt trời chiếu vào nên cô bé đã tỉnh lại, nó mở mắt nhìn tôi một cái. Mãi mãi tôi cũng không thể quên ánh mắt ấy, nó chứa đầy nỗi sợ hãi và tuyệt vọng. Khi ánh mắt đó nhìn vào tôi, nó giống như những chiếc gai sắt móc vào trái tim tôi, khiến tôi đau đớn vô cùng. Tôi không biết phải đối diện với ánh mắt đó như thế nào, chỉ còn biết ôm nó thật chặt, rồi cố an ủi nó: “Chú đã đến đây rồi, mọi chuyện sẽ ổn thôi, mọi chuyện sẽ ổn thôi”. Nói ra thì cũng lạ, mặc dù Lý Mộng Nam còn nhỏ lại đang yếu ớt như vậy, nhưng nó hiểu lời nói của tôi. Tôi thấy rõ sự thay đổi trên mặt của nó, nó đưa tay nắm chặt lấy áo tôi, sau đó từ từ nhắm mắt lại. Đôi môi của nó không còn mím chặt như lúc trước nữa, vẻ rất an toàn, rất vừa lòng. Tôi tin là mấy giây ngắn ngủi đó đã khiến Lý Mộng Nam nhớ rõ tôi, cho nên nó mới không chịu rời tôi ra.”
La Phi gật đầu, tỏ ý hiểu tình cảm đó. Có điều, anh vẫn thấy thắc mắc: “Cho dù thế nào thì việc để cho một người đàn ông đơn thân như anh chăm sóc một đứa bé gái nhỏ như vậy cũng vẫn không tiện lắm, đúng không?”
“Tôi cũng không hoàn toàn là đơn thân.” Dương Hưng Xuân nói bằng giọng nhắc nhở: “Anh quên rồi à, tôi có vị hôn thê. Lúc đó, chúng tôi đã sống chung. Sau khi xảy ra chuyện đó, tôi và vị hôn thê bàn với nhau, cô ấy cũng thấy cô bé đó thật đáng thương, nên đồng ý giúp tôi chăm sóc nó. Như thế chẳng phải là tiện hơn rồi sao? Vì vậy mà cuối cùng nhiệm vụ đó vẫn giao cho tôi.”
Dương Hưng Xuân một lần nữa lại nhắc đến vị hôn thê. Từ giọng nói thì thấy, anh luôn giữ một tình cảm tốt đối với cô ấy.
La Phi rất muốn biết, tại sao cuối cùng căn nhà này đã phá tan cuộc sống giữa Dương Hưng Xuân và người yêu, nhưng anh cũng không muốn phá vỡ mạch của câu chuyện, do vậy anh kìm lại không hỏi mà quay trở lại vấn đề hiện tại: “Vừa rồi anh nói, chính anh là người đầu tiên phát hiện ra sự tồn tại vết thương tâm lý của Lý Mộng Nam, vậy cụ thể có những biểu hiện gì?”
Dương Hưng Xuân đáp: “Nó trở nên trầm lặng, hầu như không bao giờ chủ động nói chuyện với người khác. Tính cách của nó cũng khác hẳn với những đứa trẻ khác, rất nhút nhát và rất nhạy cảm. Ngoài ra, còn có một điểm rất lạ nữa là nó không bao giờ dám ở một mình trong nhà.”
“Chứng sợ hãi không gian đóng kín.” La Phi gật đầu, chậm rãi nói: “Việc trải qua cảnh ngộ bi thảm đó chắc đã trở thành ác mộng không thể quên suốt đời nó.”
“Chuyện này cũng khó nói.” Dương Hưng Xuân nhìn La Phi, nói nước đôi, “Thực ra chuyện này vừa khó quên lại cũng dễ quên.”
“Sao vậy?” La Phi nhíu mày, tỏ vẻ không hiểu lắm.
“Sau khi đứa bé đó được tôi cứu ra, nó hôn mê suốt hai đêm một ngày ở bệnh viện, mãi đến buổi sáng ngày thứ ba mới tỉnh lại. Và sau khi tỉnh lại thì dường như quên hết những điều đã trải qua.”
“Thật à?”
“Lúc đó, sự việc này đã được lập thành chuyên án hình sự rồi, nên chờ khi Lý Mộng Nam tỉnh lại, người của đội cảnh sát hình sự lập tức đến ghi lại lời khai của nó. Nhưng khi hỏi đến chuyện xảy ra trong mấy ngày đó, thì cô bé không nhớ được gì.” Dương Hưng Xuân ngừng một lát rồi bổ sung: “Lúc đó, mắt của nó rất hoang mang, đúng là không nhớ thật, chứ không phải cố tình lẩn tránh.”
“Chứng mất trí nhớ vì nguyên nhân tâm lý.” La Phi lại đưa ra từ chuyên môn, sau đó anh hỏi với vẻ kiểm chứng, “Kiểu mất trí nhớ này có lẽ là có lựa chọn nhỉ?”
“Đúng vậy. Cô bé chỉ quên những chuyện bị khóa trong nhà, còn những chuyện khác thì vẫn nhớ. Điều thú vị là, cô bé vẫn nhớ được bố mẹ, nhớ được bác hàng xóm, nhưng không nhớ được em gái và cả con chó cùng bị nhốt trong nhà.”
“Đó không phải là mất trí nhớ thực sự, mà chỉ là bản năng tự bảo vệ mình, giấu đi những ký ức đáng sợ. Những ký ức đó tồn tại trong tiềm thức của cô bé chứ không mất đi. Vì vậy, cô bé mới mắc chứng hoảng sợ không gian đóng kín.”
“Đúng.” Dương Hưng Xuân đưa ngón tay, tỏ ý rất tán thành, “Tôi nói rằng vừa khó quên lại vừa dễ quên là với cái ý đó.”
La Phi phân tích thêm: “Cô bé đã che giấu những ký ức đau khổ, chỉ duy nhất ấn tượng về anh là sâu. Chính anh đã cứu cô bé khỏi cảnh tuyệt vọng và cô bé đã gửi gắm cảm giác an toàn vào anh.”
“Vì vậy mới nói, tôi chính là người thích hợp nhất để chăm sóc cô bé.”
“Ừ. Lúc đó, mọi người sống cùng tốt chứ?”
“Không phải là tốt, mà là rất tốt. Cô bé rất nghe lời tôi, giống như anh nói, tôi có thể mang lại cảm giác an toàn cho nó. Ngoài ra, vị hôn thê của tôi cũng là một người rất cẩn thận, luôn chu toàn đối với mọi vấn đề của cuộc sống.” Dương Hưng Xuân hơi nhắm mắt lại, môi nở nụ cười ấm áp, như đang nhớ về một đoạn hồi ức đẹp đẽ. Một lát sau, anh nói với vẻ tự tin, “Thậm chí, tôi có thể nói rằng, hai tháng ở cùng với chúng tôi là những khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời Lý Mộng Nam.”
“Chỉ tiếc là hạnh phúc đó quá ngắn ngủi. Sau khi Lý Quân ra tù, mọi thứ đều thay đổi, đúng không?”
“Đúng.” Dương Hưng Xuân chìa tay, vẻ bất lực, “Lý Quân là cha của Lý Mộng Nam, chúng tôi phải trả cô bé về cho anh ta.”
“Tôi nghe nói, Lý Quân đối với cô bé cũng rất tốt.”
“Chuyện đó phải nói thế nào nhỉ? Nếu so với Tần Yến thì tất nhiên là tốt hơn nhiều. Đơn giản nhất, nếu Lý Quân ở nhà thì hai đứa trẻ ít nhất cũng được ăn no. Nhưng nếu so với những người bình thường thì, hừ…”, Dương Hưng Xuân cười khan mấy tiếng, nhắc La Phi: “Anh phải biết, bản thân Lý Quân cũng hút ma túy.”
La Phi thở dài, anh hiểu việc sử dụng ma túy là như thế nào đối với một gia đình: “Hãy nói về chuyện sau đó đi.”
Dương Hưng Xuân cầm bao thuốc ở bàn lên và lại dốc ra một điếu. Vừa châm lửa, anh ta vừa nói với vẻ không rõ ràng: “Lý Quân đón Lý Mộng Nam, nhưng anh ta không về nhà.” Châm lửa xong, rít một hơi dài, Dương Hưng Xuân ngẩng đầu lên nhìn bốn xung quanh rồi nói: “Căn nhà này xảy ra chuyện tham như vậy, là một người cha, đúng là khó có thể đối diện.”
La Phi đoán: “Họ đã tìm một nơi ở khác?”
“Ừ, thuê một căn nhà mái bằng, ở khu cũ, có tới mấy gia đình chung một cái sân ấy. Rẻ mà.”
“Vì vậy mà anh đã mua lại căn nhà này?”
Dương Hưng Xuân thở ra một hơi khói, cười đau khổ: “Tôi không mua thì ai dám mua?”
La Phi “ồ” một tiếng.
“Lúc đó, Lý Quân vừa ra tù, một mình nuôi con, chắc chắn là rất khó khăn. Tôi vừa không thấy yên tâm, lại cũng thấy nhớ con bé nên thường xuyên đến thăm. Có một lần, Lý Quân bảo tôi. “Tôi muốn bán căn nhà, để có chút tiền cho cuộc sống đỡ khó khăn. Tôi nhờ người hỏi thăm một lượt, căn nhà này không có ai dám mua.”
La Phi lặng lẽ gật đầu. Căn nhà đã từng xảy ra sự việc bi thảm như vậy, rõ ràng là một nơi ở dữ, ai mà dám mua?
Dương Hưng Xuân tiếp tục nói: “Lúc đó, chẳng phải là tôi chuẩn bị cưới vợ sao? Trong tay có tiền dùng để chuẩn bị mua nhà. Thấy tình hình đó, tôi liền nghĩ: thôi được, thế thì mình mua căn nhà đó vậy.”
“Chuyện này…”, La Phi nhíu mày, “vị hôn thê của anh cũng đồng ý sao?”
Dương Hưng Xuân rất thẳng thắn: “Tất nhiên là không đồng ý rồi. Anh nghĩ xem, có người phụ nữ nào lại muốn mua một căn nhà dữ? Cho dù là người phụ nữ có hiểu biết đến mấy cũng không thể chấp nhận được. Nhưng tôi vốn là người rất cố chấp, chỉ cần tôi thấy được thì không ai có thể làm tôi thay đổi ý kiến. Chính là vì chuyện này, chúng tôi đã cãi nhau một trận lớn.”
La Phi đoán: “Hai người đã vì chuyện đó mà chia tay?” Trước đó, Dương Hưng Xuân đã nói rằng căn nhà này là “nấm mộ” của hai gia đình nên anh mới hỏi như vậy.
Dương Hưng Xuân lắc đầu: “Không đến mức ấy. Mặc dù vị hôn thê không đồng ý cho tôi mua căn nhà này, nhưng cô ấy cũng hiểu cho lòng tôi cũng vẫn là vì cô bé ấy. Đó là vào cuối tháng 8, Lý Quân hết tiền, Lý Mộng Nam không đi mẫu giáo được nữa, cô ấy biết chuyện này cũng sốt ruột. Tôi rất hiểu cô ấy, đó là một người lương thiện ăn vào máu. Cãi nhau thì mặc cãi nhau, phụ nữ mà, chỉ cần sau đó dỗ một chút là ổn thôi. Nếu nói rằng vì căn nhà này mà cô ấy bỏ tôi thì không phải.”
“Về giá cả thì hẳn căn nhà này sẽ rẻ hơn chứ?”
“Không rẻ hơn bao nhiêu.” Dương Hưng Xuân dụi tàn thuốc, nói với vẻ kiêu hãnh: “Tôi không muốn lợi dụng sự khó khăn của người khác. Hơn nữa, chúng ta là cảnh sát, vốn cũng không tính toán nhiều. Lúc đó, tôi đã trả 120 ngàn tệ, 16 năm trước mà, trả hết một lần.”
“Trả hết một lần?” La Phi tặc lưỡi, “Như thế không thỏa đáng lắm.”
Dương Hưng Xuân “ừm” một tiếng, “Tôi biết anh muốn nói gì, lại bị anh nói trúng rồi! Tôi nên giữ khoản tiền đó trong tay, chia làm mấy lần để trả, giống như kiểu cấp tiền trợ cấp cho Tần Yến lúc trước. Đáng tiếc là, lúc đó tôi rất muốn cải thiện cuộc sống của hai cha con họ. Hơn nữa, tôi cảm thấy, dù sao Lý Quân cũng là một người đàn ông, cũng có tinh thần trách nhiệm hơn nên đã không cân nhắc nhiều. Bây giờ nghĩ lại, với một người dùng ma túy, trong tay lại có 120 ngàn tệ thì chuyện này đúng là không tin tưởng được.”
“Sau đó thì thế nào?”
“Sau đó? Sau đó, tôi bị anh ta hành cho một trận.” Dương Hưng Xuân đưa tay lên gãi gãi da đầu, nói bằng giọng tự chế nhạo: “Tôi nhớ hồi đó cứ vào mỗi cuối tuần tôi lại đến thăm Lý Mộng Nam, mang theo cho nó ít đồ chơi hay quà vặt gì đó. Lúc mới đầu, thực sự không phát hiện ra điều gì không ổn. Căn nhà mái bằng đó tuy hơi cũ, nhưng đồ đạc trong nhà rất đầy đủ, tôi cảm thấy cuộc sống của hai cha con không có vấn đề gì. Lý Quân nói muốn tìm một công việc, mọi việc đều tốt đẹp. Tinh thần của Lý Mộng Nam cũng ổn. Có lần tôi đến vừa đúng lúc Lý Quân mua cho nó bộ quần áo mới, nó mặc vào trông rất xinh và còn múa một bài mới học được ở lớp mẫu giáo. Anh thấy đấy, rất ok.”
“Nhưng thực tế có vấn đề?”
Dương Hưng Xuân kẹp điếu thuốc giữa ngón tay, nói bằng ngữ điệu nhấn mạnh: “Có vấn đề rất lớn!”
La Phi chăm chú nhìn, vẻ chờ đợi.
Dương Hưng Xuân rít một hơi thuốc, nói tiếp: “Khi tôi phát hiện ra là lúc đã gần đến mùa đông. Cuối tuần đó, tôi đến thăm con bé như thường lệ. Vào đến cửa, tôi nhìn thấy Lý Mộng Nam ngồi ở góc tường trong cùng, vẻ đờ đẫn. Tôi gọi mấy tiếng, toàn thân nó run bật lên, như thể gặp chuyện rất đáng sợ. Tôi bước tới hỏi con bé tại sao. Con bé vẫn không nói gì mà chỉ chảy nước mắt. Tôi cảm thấy có chuyện không ổn, bèn đi tìm Lý Quân. Lúc đó Lý Quân đang hút thuốc ở ngoài nhà. Tôi hỏi anh ta, con bé sao lại vậy? Hình như nó đang sợ chuyện gì đó? Lý Quân giải thích với tôi, nói rằng tối hôm qua anh ta làm ca đêm, lúc đi đã khóa cửa nhà lại, đến nửa đêm, Lý Mộng Nam tỉnh dậy, bèn mở cửa sổ trèo ra khỏi nhà, trên người nó chỉ mặc chiếc áo cánh mỏng và đứng ngoài sân suốt hai tiếng đồng hồ.
Tôi nghe vậy thì thấy rất lo, tôi nói anh không biết con bé đã phải chịu đựng những gì rồi à, sao vẫn nhốt nó một mình trong nhà? Lý Quân bèn kể khổ, nói rằng chẳng còn cách nào, vì tôi là người từng có tiền án ngồi tù, công việc thì khó kiếm, chỉ có thể đi làm ban đêm. Anh nghĩ xem, tôi thì phải đi làm, đêm hôm chỉ có một mình con bé ở nhà, không khóa cửa thì có yên tâm được không?
Lời nói của anh ta đúng là cũng có lý. Thế là tôi bèn nói sẽ giúp anh ta tìm một công việc vào ban ngày. Nhưng Lý Quân không có gì là hào hứng, nói nào là làm thế thì phiền anh quá, nào là con bé không thể cứ như thế mãi, cần phải rèn luyện dần dần, nhiều lần như vậy thì sẽ không còn nhát gan nữa.”
La Phi không khỏi giật mình, bất giác tiếp lời: “Như thế sao được?” Anh biết, cô bé ấy đã quên đoạn ký ức đáng sợ đó, nhưng kiểu “rèn luyện” này chẳng phải lại đẩy cô bé trở lại vực sâu đau khổ sao?
“Tất nhiên là không được.” Dương Hưng Xuân đồng ý với La Phi, giọng nói trở nên lạnh lùng: “Có điều, những điều đó không phải là trọng tâm của sự việc, trọng tâm nằm ở chiếc đồng hồ đeo tay.”
“Đồng hồ đeo tay?” La Phi có vẻ không hiểu đầu đuôi. Chủ đề câu chuyện hình như bị chuyển đổi quá nhanh rồi.
“Trong lúc nói chuyện với Lý Quân, tôi nhìn thấy anh ta đeo một chiếc đồng hồ.” Dương Hưng Xuân vừa nói vừa giơ tay trái lên, dùng ngón tay của bàn tay phải chỉ vào chỗ đeo đồng hồ trên cổ tay, “Chính là chiếc đồng hồ đó đã khiến tôi nhận ra tính chất nghiêm trọng của vấn đề.”
La Phi xòe bàn tay, vẻ hoang mang: “Tôi không hiểu.”
Dương Hưng Xuân mỉm cười, bắt đầu giải thích: “Thời gian tôi và Lý Quân nói chuyện là chiều ngày thứ 7. Trong khi đó, buổi sáng ngày hôm đó tôi vừa nhận được nhiệm vụ phối hợp điều tra về vụ án trộm cắp liên tiếp xảy ra trên địa bàn Cao Linh, thủ phạm nhân lúc đêm tối trèo tường vào nhà dân để lấy cắp đồ. Trọng tâm trong thông báo phối hợp điều tra có nhắc đến một số đồ vật bị lấy cắp, trong đó có một chiếc đồng hồ nam nhãn hiệu Thiên Thoa.”
“Ồ?” La Phi nheo mắt, “Là chiếc đồng hồ Lý Quân đeo trên tay?”
“Đúng thế.” Dương Hưng Xuân tựa người vào lưng ghế, phân tích bằng những suy nghĩ có sẵn, “Từ trước đến lúc đó, Lý Quân chưa bao giờ đeo đồng hồ, tại sao bây giờ lại đeo? Chiếc đồng hồ đó cũng mang nhãn hiệu Thiên Thoa, hơn nữa nhìn thì thấy là không còn mới. Điều này khiến cho tôi rất nghi ngờ. Thế là tôi bèn hỏi thăm dò: “Này, vừa mới mua đồng hồ à?” Lý Quân sững người, sau đó vội trả lời: “Đúng, tôi làm đêm, có chiếc đồng hồ thì sẽ tiện để xem thời gian.” Tôi lại hỏi: “Bao nhiêu tiền vậy?” Lý Quân ấp úng, một lúc rồi mới trả lời cho qua chuyện: “À, mua lại của bạn, hàng dùng rồi, chẳng đáng bao nhiêu tiền. “Hỏi hai câu ấy xong, tôi đã rõ: chiếc đồng hồ đó chắc chắn là đồ không sạch rồi.”
La Phi gật đầu đồng ý. Mặc dù không tận mắt nhìn thấy, nhưng từ những lời kể của Dương Hưng Xuân thì thấy phản ứng của Lý Quân đúng là rất phù hợp với đặc trưng tâm lý của người có tật giật mình.
Dương Hưng Xuân cười lạnh lùng tổng kết: “Cái gọi là làm đêm của anh ta thì ra là đi ra ngoài ăn trộm.”
La Phi đoán: “Nói như vậy, lúc đó anh ta đã tiêu hết tiền bán nhà rồi?”
Dương Hưng Xuân “ừ” một tiếng, “Sau đó tôi tìm người và điều tra riêng về anh ta thì mới biết, Lý Quân không chỉ sử dụng ma túy mà còn đánh bạc nữa. Tiền bán nhà chỉ trong có mấy tháng đã hết sạch.”
“Người đáng thương thì cũng có chỗ đáng ghét.” La Phi bình luận một câu, sau đó lại nhìn Dương Hưng Xuân, hỏi: “Chắc anh thất vọng về anh ta lắm, đúng không?”
Dương Hưng Xuân lúc lắc cái đầu, đáp: “Từ trước đến lúc đó, tôi chưa bao giờ hy vọng ở anh ta thì có gì phải thất vọng? Chỉ là tôi lo cho Lý Mộng Nam thôi.”
“Anh lo Lý Quân không có khả năng chăm sóc cho nó?”
“Kinh tế chỉ là một mặt…”, Dương Hưng Xuân xoay xoay điếu thuốc đã hút hết một nửa trong tay, “điều tôi lo hơn cả là Lý Quân có thể đánh thức cơn ác mộng của Lý Mộng Nam.”
“Ồ?”
“Lý Mộng Nam đã quên chuyện bị nhốt trong nhà rồi. Vừa rồi anh cũng đã nói, đó là một kiểu tự vệ. Xuất phát từ góc độ đó, tôi mong muốn cô bé mãi mãi cũng không khôi phục lại trí nhớ về nó. Nhưng còn Lý Quân thì sao? Anh ta đã lại nhốt nó trong nhà một mình, lại còn tìm cho hành động vô trách nhiệm ấy một lý do rất đàng hoàng. Nói nào là rèn luyện dần dần. Như thế chẳng phải rất vô trách nhiệm hay sao? Anh ta hoàn toàn không nghĩ đến cảm nhận của cô bé!” Dương Hưng Xuân càng nói càng kích động, anh đập tay xuống bàn, phẫn nộ: “Anh nói xem, đối với loại người như vậy, làm sao tôi yên tâm giao cô bé cho anh ta?”
“Vậy thì anh có thể tạm giam anh ta.” La Phi đưa ra đề nghị, “Chẳng phải anh ta lấy trộm đồ sao? Đưa anh ta về trại giam, sau đó anh có thể tiếp tục chăm sóc Lý Mộng Nam.”
“Đó cũng là một cách, nhưng…”, Dương Hưng Xuân nói “đó chỉ là chữa ngọn chứ không chữa tận gốc. Đối với những vụ án trộm cắp tài sản, giá trị tài sản không lớn thì dù có bắt cũng chỉ giam nửa năm. Đến lúc ra trại, chẳng phải lại giao lại cô bé cho anh ta sao? Cứ ra ra vào vào như vậy không giải quyết được vấn đề thực tế, chỉ tội cho cô bé mà thôi.”
“Ừm” La Phi uống một ngụm trà, nhìn đối phương: “Vậy, anh muốn làm thế nào?”.
Dương Hưng Xuân trở bàn tay, ngửa lòng bàn tay lên trên, nói: “Lúc đó tôi đã đề nghị, làm cho Lý Quân từ bỏ quyền nuôi nấng Lý Mộng Nam.”
“Như thế không được. Cho dù Lý Quân đồng ý cũng không hợp pháp.” Dù sao cũng là cha đẻ, nếu từ bỏ việc chăm sóc con cái thì sẽ phạm vào tội vứt bỏ trong luật hình sự.
Dương Hưng Xuân lại nói: “Hợp pháp chứ. Anh có biết không, Lý Quân thực ra không phải là cha đẻ của Lý Mộng Nam.”
“Đúng rồi.” La Phi cũng nhớ ra, “Tôi đã nghe nói về chuyện này.”
“Vì vậy tôi mới đưa ra đề nghị đó. Chuyện đó không những hợp pháp, thậm chí còn hợp lý nữa. Nhưng đáng giận thay, Lý Quân không đồng ý. Anh ta còn cãi nhau với tôi, nói rằng Lý Mộng Nam là người thân duy nhất của mình, đừng ai nghĩ đến việc cướp nó đi.” Nhớ lại chuyện đó, Dương Hưng Xuân vẫn giận đến mức nghiến chặt răng.
“Nếu anh ta đã không phải là cha đẻ của đứa bé, lại không thực hiện tốt nghĩa vụ chăm sóc nó, vậy có thể can thiệp bằng hành chính, tước quyền giám hộ của anh ta không?”
“Vốn là có thể được, vì Lý Mộng Nam vẫn chưa được nhập khẩu, giữa cô bé và Lý Quân không tồn tại quan hệ cha con về mặt luật pháp. Nhưng trước đó, vì cô bé phải đi học mẫu giáo nên tổ dân phố và đồn cảnh sát đã chiếu cố nhập hộ khẩu cho nó. Như vậy, về mặt luật pháp đã thừa nhận Lý Quân là cha của Lý Mộng Nam. Nếu muốn chứng minh là không phải thì phải làm giám định cho hai cha con. Và giám định này không thể bắt ép Lý Quân làm được. Cho nên, chỉ cần Lý Quân không chịu từ bỏ Lý Mộng Nam thì chuyện, này chẳng có cách nào làm được.”
“Đúng”, La Phi nhìn Dương Hưng Xuân với vé suy nghĩ, “vì thế anh đã nghĩ ra cách khác?”
“Đúng thế.” Dương Hưng Xuân lấy chén trà, đổ một ít nước trà vào chiếc bát trống bên cạnh, sau đó dụi điếu thuốc vẫn chưa cháy hết vào trong bát. “Xèo” một tiếng khẽ, mẩu thuốc hoàn toàn tắt ngấm. Dương Hưng Xuân mỉm cười, ngẩng đầu lên nói với vẻ rầu rầu: “Đó là một biện pháp tốt, có thể giải quyết triệt để vấn đề.’
Một làn hơi lạnh vô hình tràn đến, khiến La Phi im lặng không nói.
Dương Hưng Xuân bắt đầu kế về cái gọi là biện pháp tốt: “Tôi rời khỏi nhà Lý Quân. Tôi không vạch tội anh ta là một tên ăn trộm, vì tôi không muốn làm anh ta kinh động. Sau đó tôi về đồn, chủ động đề xuất làm thêm ca đêm, phụ trách việc tuần tra trong khu vực. Đó là một công việc vất vả, bình thường mấy ai muốn làm? Đồn trưởng rất mừng, khen tôi một hồi, bảo tôi tích cực phấn đấu, những người trẻ tuổi nên làm như tôi. Thế là tôi tới phòng thiết bị lĩnh một khẩu súng ngắn, bắt đầu đi tuần từ tối hôm đó. Nói là đi tuần, thực ra tôi không tới những nơi khác mà chỉ chốt ở ngoài sân nhà Lý Quân. Anh ta đã hết tiền, bây giờ muốn hút ma túy và muốn đánh bạc nếu không ra ngoài ăn trộm thì còn làm thế nào?
Tôi chờ như vậy trong ba ngày, quả nhiên đã chờ được. Hơn 12 giờ đêm hôm đó, Lý Quân ra khỏi nhà một mình, anh ta lấm lấm lét lét đội một chiếc mũ lưỡi trai to, nhìn thì biết ngay là sẽ đi làm việc không tốt. Tôi lặng lẽ đi theo sau anh ta đến một khu khác gần đó. Lý Quân đi một vòng và tìm được một mục tiêu ra tay. Đó là một ngôi nhà hai tầng có cửa sổ ban công không đóng, dưới tầng một có lắp đặt cửa phòng chống trộm ban công. Lý Quân leo lên tầng hai bằng cửa sổ chống trộm. Tôi nhìn chắc rồi bèn chuyển sang một con ngõ bên cạnh nhà. Sau khi lấy được đồ mà muốn chạy thì con ngõ đó là lối thoát nhất định Lý Quân phải đi qua.
Tôi chờ không lâu thì thấy tiếng chân chạy từ xa đến gần, biết là Lý Quân đã đến. Đúng lúc anh ta rẽ vào ngõ, tôi bèn quật ngã anh ta từ phía sau. Lý Quân không chút đề phòng, lại cũng không dám kêu, nên chỉ còn biết giãy giụa mấy cái. Tôi quật hai tay anh ta ra sau tra vào còng, đồng thời lên tiếng: “Cảnh sát đây! Hãy ngoan ngoãn một chút!”
Lý Quân nghe thấy tiếng tôi, vội nghẹo đầu lại hỏi: “Anh Dương, có phải là anh không?” Tôi giả vờ, hỏi lại: “Lý Quân?” Anh ta bèn như chết đuối vớ được cọng rơm, nói: “Anh Dương, là tôi đây, anh hãy nhanh thả tôi ra đi!” Tôi nói: “Như thế đâu được, tôi là cảnh sát, còn anh là kẻ trộm, tôi phải đưa anh về đồn để thẩm vấn”. Lý Quân bèn cầu xin, anh ta cũng biết điều mà tôi quan tâm nhất là Lý Mộng Nam nên nói thẳng: “Anh Dương, anh không thể bắt tôi được, nếu tôi mà lại vào tù, thì con bé sẽ lại không có người chăm sóc”. Tôi nghe vậy, giả vờ do dự. Lý Quân lại lên tiếng van vỉ. Cuối cùng tôi nói: “Nếu thả anh ra ngay là không được. Ở ngã tư phía trước có một chiếc camera, vừa rồi tôi đi theo anh, đều đã được camera ghi lại. Anh đội chiếc mũ lưỡi trai to thì không thấy mặt anh. Còn tôi lại mặc thường phục, hình ảnh rất rõ. Nếu để anh đi mất thì tôi biết nói thế nào?” Lý Quân cũng hiểu nên lập tức nói: “Phải làm thế nào, anh nói đi”. Tôi tháo còng ra, để Lý Quân đứng dậy rồi hỏi anh ta: “Anh có mang theo dao không?” Lý Quân lắc đầu nói không mang, tôi nghĩ thầm: đúng là đồ nhát gan, đi ra ngoài ăn trộm mà không mang theo vũ khí. May mà tôi đã có chuẩn bị trước, nên lấy từ trong túi ra một con dao díp đưa cho anh ta. Con dao đó hồi ấy rất thịnh hành, là vũ khí mà bọn du côn thường mang theo mình. Sau đó, tôi dẫn theo Lý Quân đi một đoạn đến chỗ phía dưới của chiếc camera kia. Đầu của chiếc camera hướng ra ngoài khu, chỗ chúng tôi đứng không nằm trong phạm vi của nó, nhưng nếu đi về phía trước mấy bước thì sẽ lập tức bị quay. Lúc đó, tôi nói với Lý Quân: “Hãy mở dao ra, đâm tôi đi”. Lý Quân giật mình sợ hãi, xua tay lia lịa: “Anh Dương, anh đừng đùa nữa, tôi không dám đâm anh đâu?” Tôi bèn mắng anh ta: “Mẹ kiếp, anh không đâm tôi, thì tôi làm sao có thể tha cho anh đi? Anh đâm một nhát, rồi sau đó chạy về phía camera, tôi đuổi theo mấy bước để camera quay được, như vậy việc anh chạy trốn không phải rất hợp tình hợp lý sao?” Lý Quân nghe vậy cũng thấy dao động, nhưng vẫn không dám, cứ do dự hỏi: “Đâm thật à?” Tôi nói: “Phí lời, tất nhiên là đâm thật. Đâm vào cạnh bụng, không chết được đâu” Lý Quân vì mong chóng được thoát thân nên nghiến răng cầm dao đâm thật. Tôi sợ anh ta run quá, nên còn cố tình đưa người đón mũi dao. Kết quả là mũi dao đó đâm rất sâu. Anh nhìn xem, đây là vết sẹo ấy đấy.”
Nói đến đây, Dương Hưng Xuân vén vạt áo lên, để lộ một vết sẹo ở bên trái bụng. Mấy ngày trước La Phi cũng đã nhìn thấv vết sẹo này rồi, nhưng anh không ngờ nguồn gốc của nó lại như vậy. Anh cũng không biết nên bình luận thế nào, đành mỉm cười ái ngại.
Dương Hưng Xuân tiếp tục kể: “Anh ta đâm tôi xong thì ngây người ra một lúc và hỏi: “Anh Dương, anh không sao chứ?” Tôi cáu: “Anh đúng là đồ ngốc, vẫn còn chưa chạy đi, còn chờ gì nữa?” Lý Quân như sực tỉnh, vội quay người chạy. Tôi cố nén đau, đuổi theo mấy bước, ước chừng đã đến phía dưới của chiếc camera rồi, bèn lấy súng ngắn ra bắt đầu ngắm. Anh biết đấy, tôi rời quân ngũ về nên khả năng bắn súng không cần phải nói. Còn anh ta thì lại cứ chạy theo một đường thẳng, chẳng khác gì một chiếc bia sống. Tôi bắt đầu nổ súng. Lý Quân không kịp kêu lên tiếng nào, ngã lăn ngay xuống.”
Câu chuyện đã kể xong, Dương Hưng Xuân châm điếu thuốc thứ ba, khóe môi hiện lên nụ cười.
La Phi nhìn Dương Hưng Xuân, vẻ nghiêm nghị. Hai người cứ nhìn nhau như thế trong im lặng. Một lát sau, La Phi trịnh trọng nhắc đối phương: “Cố nhiên là Lý Quân có sai, nhưng tội không đến mức phải chết. Anh làm vậy là cố ý giết người.”
“Đúng thế , tội của Lý Quân không đến mức phải chết. Tôi làm như vậy hoàn toàn vì đứa bé thôi.” Dương Hưng Xuân chậm rãi rít thuốc, dường như đó là một lý do vô cùng đầy đủ, “Chỉ khi Lý Quân chết đi thì Lý Mộng Nam mới có cơ hội được hưởng cuộc sống hoàn toàn mới.”
“Một cuộc sống hoàn toàn mới, anh đặt ra cho cô bé à?” La Phi hỏi lại, “Anh có quyền gì mà làm như vậy?”
“Tất nhiên là tôi có quyền!” Dương Hưng Xuân đột ngột vươn người về phía trước, mắt sáng quắc, “Là tôi đã đưa con bé ra khỏi địa ngục, chỉ có tôi mới biết nỗi đau khổ mà nó đã trải qua! Anh cần phải hiểu, khi đứa bé đó dùng bàn tay bé nhỏ túm lấy áo tôi, khi nó từ từ nhắm mắt lại, khi nó từ sợ hãi trở nên yên lòng, khi nó thể hiện ra sự quyến luyến chưa từng có với tôi. Bắt đầu từ giây phút ấy, thì chúng tôi đã không thể nào chia cắt được. Tôi, chính là người bảo vệ cho nó suốt cuộc đời!”
Những lời đó được nói ra với vẻ chân thật và sâu sắc, nên La Phi cũng khó mà nói lại được. Anh im lặng một hồi lâu, rồi hỏi lại: “Nếu đã như thế , thì sao sau đó anh lại không nuôi nó?”
Dương Hưng Xuân nhìn La Phi chăm chú một hồi, cuối cùng thốt ra hai chữ: “Vì anh.”
“Vì tôi?” La Phi hoàn toàn không hiểu- 16 năm trước, anh còn công tác tại đồn Nam Minh Sơn, công việc cũng như cuộc sống của anh chưa hề có bất cứ mối liên quan nào với Dương Hưng Xuân.
Dương Hưng Xuân thu người lại, thôi tư thế công kích. Anh ta rít một hơi thuốc, thả lỏng mình, rồi bắt đầu kể với một sự tưởng tượng: “Đúng thế , nếu như tôi có thể nhận nuôi đứa bé ấy thì sẽ tốt biết bao? Anh có biết không? Lúc đó, mọi điều kiện dường như rất hoàn mỹ. Lý Quân đã chết, tôi còn được lập công, tương lai sự nghiệp rất tốt. Vị hôn thê lại tìm đến tôi, cô ấy đã nghĩ thông, không những chấp nhận sự thật tôi mua căn nhà này mà còn chủ động đưa ra ý kiến cùng tôi nhận nuôi Lý Mộng Nam. Hãy tưởng tượng mà xem, nếu như tôi và người yêu quay lại với nhau, ngoài Lý Mộng Nam chúng tôi còn có thể có một đứa con của mình. Bốn người chúng tôi sẽ sống với nhau, tôi và vợ sẽ dần già đi, hai đứa trẻ sẽ dần dần lớn lên. Đó mới là cuộc sống, đúng không? Khi anh ngồi ở đây, anh sẽ nhìn thấy một gia đình thật sự, chứ không phải là một căn nhà lạnh như băng giá.”
“Đúng thế ” Đối diện với sự tưởng tượng tốt đẹp đó, La Phi không thể nào phản bác được, nhưng anh vẫn thấy thắc mắc: “Vậy tại sao lại không được?”
Dương Hưng Xuân nhìn La Phi: “Anh thực sự không hiểu?”
La Phi lắc đầu.
Dương Hưng Xuân thở dài nặng nề, vừa thất vọng vừa buồn bã, sau đó khẽ nói: “Vì tôi biết rằng, anh sẽ đến đây, sẽ ngồi trước mặt tôi và nói với tôi: “Anh là một tội phạm giết người, anh sẽ phá hủy gia đình tôi, phá hủy tất cả những gì mà tôi từng có.”
La Phi đã hiểu, từ “anh” trong lời của Dương Hưng Xuân không phải là chỉ riêng La Phi, anh ta muốn nói tới sự tôn nghiêm và chặt chẽ của luật pháp. Lưới trời lồng lộng, sẽ không có chỗ hổng. Dương Hưng Xuân hiểu điều đó hơn ai hết.
“Vì vậy, không phải là anh không muốn mà là không dám?”
“Đúng vậy, tôi không dám. Nếu nhà này cuối cùng sẽ bị hủy diệt, thì cần gì phải để cho nó tồn tại? Nếu như tôi không phải là người cân nhắc đến hậu quả sau này, thì giữa tôi và Tần Yến, Lý Quân có gì là khác nhau? Vì vậy, tôi đã từ chối người yêu, tôi nói lời chia tay với cô ấy. Cảm giác đó vô cùng đau khổ, cô ấy đau khổ, tôi còn đau khổ hơn. Nhưng dù thế nào tôi cũng không được làm liên lụy đến cô ấy. Sau này, cô ấy có cuộc sống mới rất hạnh phúc. Đến bây giờ, chúng tôi vẫn là bạn của nhau, tôi mừng cho cô ấy.” Nói đến đây, vẻ mặt vốn đau buồn của Dương Hưng Xuân hé nở một nụ cười an ủi.
La Phi im lặng. Cuối cùng anh đã hiểu “nhà” thuộc về Dương Hưng Xuân đã bị hủy diệt như thế nào. Dương Hưng Xuân đã bóp chết nó khi còn đang trong nôi, vì anh ta không muốn nó cuối cùng bị hủy hoại bởi tay của người khác. Một lát sau, La Phi lại hỏi: “Thế còn Lý Mộng Nam? Anh đã sắp đặt cuộc sống cho nó như thế nào?”
“Tôi nghĩ ra một cách có thể làm cho nó hoàn toàn thoát khỏi ác mộng.” Dương Hưng Xuân lại rít một hơi thuốc, điều chỉnh trạng thái một lúc rồi kể: “Lúc đó Lý Quân đã chết, Tần Yến thì còn phải tiếp tục cuộc sống trong tù 10 năm nữa. Lý Mộng Nam chỉ có thể coi là trẻ mồ côi để đưa vào cô nhi viện. Thủ tục giao nhận là do tôi làm. Nói ra thì cũng thật may, đúng ngày hôm đó, khu vực của tôi cũng có một đứa bé bị bỏ rơi, đứa bé đó cũng trạc tuổi Lý Mộng Nam, tên thân mật là Nam Nam. Khi tôi và người quen nhắc đến Nam Nam thì thường có người nghe thành Lý Mộng Nam, vì tên của hai đứa đọc lên không có gì khác nhau. Điều này đã cho tôi một gợi ý rất hay.”
Dương Hưng Xuân ngừng một chút, như cố ý vòng vo. Nhưng La Phi đã nhìn thấy trước điều đó, bèn xen vào: “Anh đã tráo đổi thân phận của hai đứa.”
“Đúng vậy.” Dương Hưng Xuân thẳng thắn xòe bàn tay ra, “Lúc đó, cả hai đứa bé đều được đưa đến cô nhi viện, mọi thủ tục bàn giao với bên đó đều do tôi làm. Tôi đã đổi hồ sơ của hai đứa, Lý Mộng Nam biến thành Nam Nam, Nam Nam biến thành Lý Mộng Nam. Như vậy, sẽ không có ai biết những điều kinh khủng mà Lý Mộng Nam đã trải qua. Khi tuyệt đối không có ai nhắc đến thì cơn ác mộng mới thực sự được quên.”
“Một biện pháp hay, đó có thể coi như là một sự dối lừa thiện chí. Có điều…”, La Phi đổi giọng, “Tần Yến cuối cùng cũng sẽ ra tù, và sau khi ra tù, nhất định sẽ đi tìm con của mình.”
“Đúng vậy.” Dương Hưng Xuân cười “hừ” một tiếng lạnh lùng, “Vì vậy, tôi cứ ở lại đồn Cao Linh, không chấp nhận bất cứ sự điều động nào. Vì, tôi phải tận tay bảo quản hồ sơ đưa vào cô nhi viện hồi đầu, tôi đang chờ Tần Yến trở về.”
“Cuộc chờ đợi ấy đã kéo dài 10 năm?”
“Đúng vậy, 10 năm.”
“Là để giết chết cô ta ư?”
“Giết người hoàn toàn không phải là sự lựa chọn số 1 của tôi, tôi cũng không phải là kẻ cuồng sát.” Dương Hưng Xuân nhìn La Phi vẻ trách móc, như muốn trách anh là đã hiểu lầm mình.
“Vậy, anh nói đi, sự lựa chọn số 1 là gì?”
“Sau khi Tần Yến ra tù thì đến đồn cảnh sát để tìm hiểu về tin tức của con gái. Tôi đưa cô ta lên tỉnh, vì Nam Nam trong hồ sơ được một cặp vợ chồng trên tỉnh nhận nuôi. Tần Yến đến nhà họ, gặp mặt ba người trong nhà đó. Tôi cứ ngỡ cô ta sẽ không nhận ra con gái của mình, vì dù sao thì cũng đã 10 năm rồi, cô bé 4 tuổi lúc trước giờ đã là một học sinh trung học. Nhưng sự việc không như tôi nghĩ, Tần Yến vừa nhìn đối phương đã lập tức nghi ngờ là tôi nhầm, nói đứa bé này chắc chắn không phải ruột thịt của cô ta. Tôi đã phản bác lại, hỏi cô ta tại sao, cô ta cũng không nói được rõ ràng mà bảo là cảm thấy không đúng. Hừ, chuyện này kỳ lạ thế đấy, có lẽ là vì chung máu mủ nên mới có những linh cảm như thế. Tóm lại là, Tần Yến kiên quyết đòi tra lại tài liệu hồ sơ năm đó, thậm chí cô ta hỏi tôi, lúc đó có phải là có hai đứa bé và chúng tôi đã làm lẫn lộn không? Đã như vậy rồi, tôi chẳng còn cách nào khác. Nên nhớ, lúc đó Lý Mộng Nam đã sống với thân phận Nam Nam được 10 năm rồi, cô bé đã thoát hoàn toàn khỏi cuộc sống trong quá khứ, tôi không thể để cho Tần Yến làm xáo trộn.”
“Vì vậy, anh đã giết cô ta, còn cắt bỏ hai tay và đầu cô ta?”
Dương Hưng Xuân rít một hơi thuốc dài, đáp: “Đó cũng chỉ là việc làm bất khả kháng, tôi không thế để cho phía cảnh sát tra ra thân phận của người chết.”
“Vậy thì anh đã đạt được mục đích của mình rồi. Vụ án xác phụ nữ không đầu 6 năm trước cho đến nay phía cảnh sát tỉnh vẫn chưa điều tra ra nguồn gốc của cái xác.” La Phi hơi ngừng lại, rồi nói tiếp: “Nhưng phía tỉnh vẫn lưu giữ tài liệu xét nghiệm ADN của nạn nhân, chỉ cần đối chiếu với kết quả xét nghiệm ADN của Lý Mộng Nam thì nhân thân của xác phụ nữ không đầu sẽ được làm rõ.”
“Các anh đã lấy mẫu của Lý Mộng Nam rồi?”
“Đúng vậy, kết quả đối chiếu sẽ có trong ngày mai, ngày kia.”
“Các anh đã nói với cô bé đó như thế nào?” Dương Hưng Xuân liếm môi, vẻ hơi căng thẳng.
“Thì nói rằng chúng tôi đã giúp cô bé tìm cha mẹ đẻ, cần phải có mẫu ADN của cô thì mới xác nhận được.”
“Những chuyện khác không nói?”
“Không. Vụ án vẫn đang trong giai đoạn điều tra trinh sát, những nội dung có liên quan đến vụ án đều thuộc cơ mật, điều này hẳn anh cũng rõ.”
“Phải, tôi hiểu.” Dương Hưng Xuân thở phào một hơi.
“Nhưng chỉ cần là sự thật…”, La Phi nói bằng giọng nhắc nhở, “thì sẽ có ngày được vạch trần.”
Dương Hưng Xuân nhìn La Phi chăm chăm một lúc, rồi đột nhiên nói với ý tứ xa xôi: “Nếu vụ án này mãi mãi cũng không điều tra ra thì sao nhỉ?”
La Phi đáp với vẻ dứt khoát: “Không thể như vậy.”
Dương Hưng Xuân cười “hì” một tiếng: “Anh đúng là rất tự tin. Có điều, đúng là anh có cơ sở để tự tin. Nói thật lòng, hôm anh hẹn tôi đi ăn cơm rồi hỏi thăm về gia cảnh của Lưu Ninh Ninh, kể từ lúc đó tôi đã có một linh cảm không lành. Tôi không ngờ anh lại đến nhanh như vậy. Xem ra, biện pháp ứng phó của tôi trước mặt anh hoàn toàn không có hiệu quả.”
“Biện pháp ứng phó… ý anh muốn nói đến việc lấy trộm hồ sơ của Nam Nam trong cô nhi viện?”
“Đúng thế. Vì nhân thân của Lưu Ninh Ninh là giả mà, nên hoàn toàn không qua nổi sự xem xét. Chắc chắn anh sẽ hoài nghi hồ sơ trong cô nhi viện có vấn đề và quay trở lại để xem xét hồ sơ là một việc rất có thể xảy ra. Nếu như anh đọc thấy năm đó, có hai đứa bé gái đồng thời được đưa đến cô nhi viện và đều có tên thân mật là Nam Nam, hơn nữa thủ tục đều là do tôi làm thì anh sẽ nghĩ gì? Vì vậy, tôi đã tới cô nhi viện ngay trong đêm và lấy hồ sơ của Nam Nam mang đi.” Dương Hưng Xuân đưa tay búng tàn thuốc, rồi hỏi lại: “Nhưng tôi đã giải quyết rất sạch sẽ, làm sao anh vẫn phát hiện ra?”
La Phi kể lại chuyện mình đã phát hiện ra việc thiếu mất một bộ hồ sơ như thế nào, rồi sau đó phác họa lại chân dung dựa theo trí nhớ ra sao hết một lượt. Dương Hưng Xuân nghe xong vô cùng kinh ngạc: “Anh chỉ vô tình nhìn qua mà đã có thể dựa vào trí nhớ phác họa lại ảnh trong hồ sơ?”
“Đúng vậy.”
Dương Hưng Xuân thán phục: “Vậy thì tôi thua anh cũng không oan!”
La Phi khẽ mỉm cười, nói tiếp: “Sau đó, tôi nhờ đến nhà thôi miên, kích hoạt hồi ức của viện trưởng. Chúng tôi biết đứa bé bị mất hồ sơ tên là Nam Nam, năm đó được đưa đến cô nhi viện cùng lúc với Lưu Ninh Ninh. Lúc đó, bố của Nam Nam đã chết, mẹ thì vẫn đang trong tù. Sau đó, Nam Nam được một cặp vợ chồng nhận nuôi và chuyển đến sinh sống ở trên tỉnh. Biết được tình hình đó, tôi lập tức liên tưởng đến vụ án xác phụ nữ không đầu. Nhiều năm qua, cảnh sát trên tỉnh vẫn đang điều tra nhân thân của xác người phụ nữ đó, nhưng không tìm được người phụ nữ nào có đặc điểm tương tự trong số những người bị mất tích. Tôi bèn suy đoán: nếu như xác chết đó là của một người phụ nữ chỉ có một mình, vừa mãn hạn tù thì sao nhỉ? Người như vậy, cho dù có bị mất tích thì cũng không ai quan tâm. Suy đoán này sẽ giải thích tại sao hung thủ lại hủy hoại xác của nạn nhân. Rất rõ ràng, mục đích của người ấy chính là muốn che giấu nhân thân của nạn nhân. Vì những người bị tù đều để lại hồ sơ có dấu vân tay, vì vậy không những phải loại bỏ đầu mà còn phải loại bỏ cả hai tay.”
Dương Hưng Xuân gật đầu nhận xét: “Hợp lý.”
La Phi tiếp tục nói: “Việc điều tra sau đó rất thuận lợi. Chúng tôi đã tra ra tên của Nam Nam là Lý Mộng Nam, mẹ của cô là Tần Yến, đã mãn hạn và ra tù 6 năm trước, sau đó thì không thấy tin tức gì. Và thời gian mà cô ta ra tù trùng với thời gian xảy ra vụ án xác phụ nữ không đầu. Điều thú vị hơn là, bố của Lý Mộng Nam tên là Lý Quân, người này cũng đã bị cảnh sát bắn chết khi đi ăn trộm đồ, và người bắn chết anh ta chính là anh Dương Hưng Xuân.”
“Tất cả mọi manh mối đều nhằm vào tôi.” Dương Hưng Xuân tỏ vẻ bất lực, “Cho dù là đồ ngốc cũng có thể nghĩ ra được là tôi đã tráo thân phận của hai đứa bé, và để che giấu bí mật đó, tôi đã lần lượt giết chết vợ chồng Lý Quân và Tần Yến.”
“Đúng là rất dễ nghĩ được như vậy. Nhưng lúc đó chỉ là không hiểu được vì sao anh lại làm như vậy.”
“Bây giờ thì biết rồi chứ?”
La Phi gật đầu: “Đều là vì cô bé ấy, anh muốn thay đổi quỹ đạo cuộc đời của cô bé.”
Có được sự thông cảm của đối thủ, Dương Hưng Xuân nở nụ cười an ủi, anh ta tiếp tục giải thích: “Đứa bé đó thật đáng thương. Nó đã đầu thai nhầm. Đối với đời người mà nói, thì đó là sự bất hạnh lớn nhất. Là tôi đã tạo ra cơ hội tái sinh cho nó, tôi sẽ bảo vệ cuộc sống mới của nó bằng mọi giá.” Nói xong, Dương Hưng Xuân đưa điếu thuốc hút gần hết lên môi và rít liên tiếp.
La Phi chờ cho đối phương hút xong điếu thuốc thì hỏi tiếp: “Vậy còn Cao Vĩnh Tường? Cũng là anh giết à?” Những chuyện lúc trước đều là những vụ án cũ, cái chết của Cao Vĩnh Tường mới là chuyện La Phi thực sự quan tâm lúc này.
Dương Hưng Xuân hỏi lại với vẻ không giấu giếm: “Anh cảm thấy còn có thể là ai được nữa?”
La Phi hỏi: “Tại sao?”
Dương Hưng Xuân ném đầu thuốc vào chiếc bát trống, cười lạnh lùng: “Vì anh ta đe dọa đến cuộc sống mới của cô bé.”
“Nói kỹ xem nào?”
“Nếu muốn nói kỹ….”, Dương Hưng Xuân trầm ngâm, “thì phải kể bắt đầu từ 6 năm trước. Tại sao lại là thời điểm đó? Vì 6 năm trước, tôi với cô bé đó mới liên lạc lại với nhau.”
“Ồ?” Câu nói này khiến La Phi không khỏi ngạc nhiên, “Không lẽ trước đó hai người không liên lạc gì?”
“Không. Kể từ lúc tôi đưa cô bé đến cô nhi viện là không liên lạc nữa.” Dương Hưng Xuân hơi ngừng một chút rồi giải thích: “Vì cô bé không còn là Lý Mộng Nam nữa mà là Nam Nam. Tôi không muốn để cho bất kỳ chuyện cũ nào làm ảnh hưởng đến cuộc sống mới của cô bé. Bản thân tôi cũng là một phần thuộc về quá khứ.”
La Phi hiểu điều đó, anh hỏi thêm: “Vậy, sự thay đổi 6 năm trước là do Tần Yến gây nên à?”
Dương Hưng Xuân đáp: “Đúng vậy. Sau khi tôi giết Tần Yến xong, một dạo tôi đã rất lo lắng. Nếu chẳng may cảnh sát tỉnh điều tra ra nhân thân của nạn nhân, rồi theo đó điều tra tiếp thì chẳng mấy chốc mà tìm đến cô bé. Tôi phải có đề phòng trước tình huống đó. Thế là, tôi tìm đến cô bé, lúc đó nó đã có một nhân thân mới, tên là Lưu Ninh Ninh. Tôi hỏi nó có nhận ra tôi không? Cô bé lắc đầu nói là không. Dù gì thì cũng đã 10 năm trôi qua rồi, ký ức từ hồi 4 tuổi đã không còn tồn tại nữa. Tôi lại nói, tôi không phải là người xấu. Cô bé đáp: cháu biết. Tôi hỏi: sao cháu lại biết? Trước đây chúng ta không quen nhau cơ mà. Cô bé nói: cháu vừa nhìn là biết. Khi cô bé nói những lời đó mắt sáng long lanh, dường như có một tinh thần rất mạnh ẩn giấu trong đó, nhưng lại không diễn đạt ra được.”
Có lẽ, đó cũng là một cảm ứng tâm hồn. Mặc dù đối phương không nói thẳng ra, nhưng La Phi cảm nhận được ý tứ trong lời nói đó.
Dương Hưng Xuân nói tiếp: “Trước khi gặp mặt, tôi mua hai chiếc di động, số di động đều là mới, không đăng ký tên thật. Tôi đưa một chiếc cho Lưu Ninh Ninh, còn chiếc kia thì giữ lại. Tôi nói với cô bé liên lạc với tôi qua chiếc di động đó, đây là bí mật giữa hai chúng tôi, không được nói cho bất cứ ai biết. Lưu Ninh Ninh hỏi: liên lạc gì cơ? Tôi nói: nếu sắp tới mà có người lạ tìm đến cháu, hỏi cháu những chuyện lạ lùng, thì cháu hãy gọi cho chú. Khoảng một tuần sau đó, cô bé gọi điện đến, hẹn gặp tôi. Lúc đó tôi đã giật mình, cứ tưởng rằng cảnh sát tỉnh đã điều tra ra. Nhưng khi gặp thì mới biết rằng, chỉ là cô bé bị giáo viên phê bình, muốn gặp tôi để kế. Hôm đó, tôi đã ngồi ở góc sân thể thao nghe cô bé kể các chuyện vặt về cuộc sống và học tập. Tôi không hề cảm thấy một chút phiền phức nào, thậm chí từ đáy lòng còn cảm thấy vui. Vì tôi cảm thấy rất rõ sự tin cậy và dựa dẫm của cô bé đối với tôi, cảm giác đó rõ ràng là sự tiếp tục nào đó của 10 năm trước. Tôi tin chắc là cô bé vẫn còn nhớ, chỉ là bản thân cô bé không biết mà thôi.
Sau đó, cô bé còn gọi cho tôi mấy lần nữa, chúng tôi đã gặp nhau, trò chuyện như những người bạn thân. Cảm giác đó rất tuyệt, thậm chí, tôi còn cảm thấy mình thực sự có một cô con gái. Nhưng tôi cũng ý thức được rằng, tôi không được xen vào cuộc sống của cô bé quá nhiều. Vì, tôi đến từ thế giới quá khứ của cô bé, tinh cảm giữa chúng tôi gần gũi quá sẽ có thể đánh thức những ký ức đã được bụi thời gian bao phủ. Vì vậy, tôi bắt đầu kiềm chế số lần gặp mặt cô bé. Tôi nói với cô bé, chỉ khi xảy ra tình huống vô cùng đặc biệt thì mới tìm cô bé. Sau đó, mỗi khi Lưu Ninh Ninh gọi điện đến, tôi đều hỏi rõ là chuyện gì, có thể không cần gặp thì sẽ không gặp. Mấy lần gì vậy, cô bé dần dần cũng điều chỉnh, không còn gặp một vài chuyện vặt là lại tìm đến tôi nữa. Tôi cảm thấy như vậy thì khá an toàn.
Năm ngoái, cô bé thi đỗ đại học, liên lạc giữa chúng tôi càng ít hơn. Cô bé cũng đã lớn, đã có cuộc sống của mình, tôi cũng thấy mừng cho cô bé. Nghe nói, cô bé còn có cả bạn trai nữa, hà hà, con gái là như vậy, lớn rồi thì không giữ được nữa.”
Dương Hưng Xuân thốt ra những lời đó, giống như mộf người cha đang nói về đứa con gái yêu quý của mình.
La Phi có thể hiểu được tình cảm của đối phương, nhưng anh cảm thấy không còn đủ kiên nhẫn, bèn hỏi bằng giọng giục giã: “Cái chết của Cao Vĩnh Tường rút cục là như thế nào?”
“Anh đừng vội. Tôi đang định nói đến đây.” Dương Hưng Xuân nhìn La Phi một cái, vẻ không vừa lòng và tỏ ý đối chọi. Tiếp đó, anh ta lại châm một điếu thuốc, chậm rãi rít mấy hơi rồi mới tiếp tục kể: “Chiều ngày hôm đó, đột nhiên tôi nhận được điện thoại của cô bé. Trước đó, có tới mấy tháng cô bé không liên lạc với tôi. Tôi vừa nghe thì đã cảm thấy có chuyện không ổn, vì không nghe thấy cô bé nói gì mà chỉ thấy tiếng khóc. Tôi vội hỏi có chuyện gì? Tôi hỏi mấy lần cuối cùng cô bé mới lên tiếng, nhưng chỉ lặp lại hai từ: cháu sợ. Tôi hỏi, tại sao lại sợ, thì cô bé lại không nói nữa mà tiếp tục khóc. Thế rồi, từ trong điện thoại vọng lại tiếng của một người đàn ông. Người đó hỏi: anh là người giám hộ cho Lưu Ninh Ninh à? Tôi trả lời: phải. Người kia nói: Lưu Ninh Ninh có chút vấn đề, tốt nhất anh đến đây đi. Sau đó ông ta đọc địa chỉ cho tôi là khu nhà ở của trường Đại học Long Châu. Tôi không dám chậm trễ, lập tức chạy ngay đến đó.
Đến nơi nhìn thì thấy trong nhà có hai người, một là Lưu Ninh Ninh, còn người đàn ông kia là Cao Vĩnh Tường. Đầu tiên tôi hỏi cô bé có chuyện gì? Cô bé lắc đầu nói không nhớ gì cả, chỉ cảm thấy sợ. Tôi quay sang hỏi Cao Vĩnh Tường, không ngờ Cao Vĩnh Tường lại muốn hiểu rõ về nhân thân của tôi. Tôi nói mình là bạn thân của cô bé, sau đó chìa tấm thẻ cảnh sát ra, lúc đó Cao Vĩnh Tường mới kể lại sự việc cho tôi nghe.
Thì ra, ông ấy là nhà điều trị tâm lý của bệnh viện Đại học Long Châu. Mấy hôm trước, Lưu Ninh Ninh đến bệnh viện nhà trường xin được giúp đỡ, qua thăm khám ban đầu, Cao Vĩnh Tường chẩn đoán cô bé mắc chứng sợ không gian đóng kín. Vì thế, ông ấy đã bố trí một mật thất trong căn nhà đó định bắt đầu chẩn trị cho Lưu Ninh Ninh bằng liệu pháp bạo phá. Không ngờ, trong quá trình điều trị, cô bé có phản ứng tinh thần rất dữ dội vượt qua mức độ mà Cao Vĩnh Tường dự liệu. Cao Vĩnh Tường tin rằng nguồn gốc bệnh của Lưu Ninh Ninh có liên quan đến những điều trải qua thời thơ ấu, ông mong muốn nhận được sự phối hợp của gia đình, nên đã bảo Lưu Ninh Ninh gọi điện cho bố mẹ, thế là cô bé đã gọi vào di động của tôi. Vì lúc trước, Cao Vĩnh Tường cứ nghĩ tôi là bố của Lưu Ninh Ninh, nhưng biểu hiện của tôi sau khi vào nhà không giống như vậy nên ông ta mới yêu cầu tôi nói rõ thân phận.
Vừa nghe tôi đã thấy lo, thì ra ông ta muốn tìm ra nguồn gốc bệnh của Lưu Ninh Ninh! Điều đó làm sao có thể được? Đầu tiên tôi cố gắng bình tĩnh, đưa ra một số câu hỏi đi thẳng vào vấn đề. Tôi được biết trước đó Cao Vĩnh Tường đã nhốt Lưu Ninh Ninh trong mật thất, trong lúc hoảng sợ đến cực độ, cô bé đã nói ra từ “Hắc Oa”, sau đó thì ngất đi. Khi tỉnh dậy, cô bé đã quên mất quá trình điều trị, thậm chí không biết mình đã đến căn nhà đó bằng cách nào.
Rất rõ ràng là, khi ở trong mật thất, cô bé đã nhớ ra những chuyện trước kia. Sau đó, Cao Vĩnh Tường bảo cô bé gọi điện cho bố mẹ, tại sao cô bé lại gọi cho tôi? Vì tiềm thức của cô biết rằng, chỉ có tôi mới cứu được cô ra khỏi cảnh tuyệt vọng. Có điều, trong tình hình cực kỳ hoảng sợ, cơ chế tự bảo vệ của cô đã khởi động lại, khiến sau khi tỉnh lại cô lại quên mất quá trình điều trị.
Tôi thở phào, nếu chuyện này kết thúc ở đây thì cuộc sống của cô bé cũng sẽ không chịu ảnh hưởng quá lớn. Nhưng tôi không ngờ, Cao Vĩnh Tường đã trở thành nỗi phiền phức lớn. Ông ta cứ đòi phải gặp bố mẹ của Lưu Ninh Ninh để tìm hiểu tình hình và còn muốn tiếp tục điều trị cho cô bé. Tôi đã thử khuyên mấy câu nhưng nhận thấy không được. Ông già đó rất cố chấp, cứ như thế nhất định phải lo bằng được chuyện đó. Tôi chẳng còn cách nào khác. Chuyện liên quan đến cuộc đời của cô bé, không cho phép bất cứ sai sót nào, chỉ còn cách giải quyết dứt điểm.”
Giải quyết dứt điểm, bốn từ này nghe rất đơn giản, nhưng đằng sau đó là sự biến mất của một mạng người. La Phi lặng lẽ thở dài: “Chính là vì điều này mà anh đã giết ông ấy?” Trước đó, Dương Hưng Xuân đã giết chết Lý Quân, Tần Yến, mặc dù cũng là phạm tội, song nạn nhân dù sao thì cũng có những sai lầm không thể phủ nhận. Còn cái chết của Cao Vĩnh Tường thì hoàn toàn khác, ông ta vô tội.
“Đúng vậy. Tôi không còn sự lựa chọn khác. Đúng là ông già đó có chút oan uổng.” Dương Hưng Xuân rít một hơi thuốc, nói. “Có điều, tôi cũng đã có sự bù đắp.”
“Bù đắp gì?”
“Toàn bộ số tiền tích cóp được của tôi, tổng cộng 630 ngàn tệ đã chuyển vào tài khoản của Cao Vĩnh Tường. Người nhà của ông ta sẽ được hưởng số tiền đó.”
630 ngàn. Xét từ góc độ bồi thường kinh tế thì con số đó đã đủ. Nhưng bồi thường kinh tế không thể nào miễn được trách nhiệm đối với tội ác của người gây ra nó, vì vậy, La Phi vẫn muốn tìm hiểu sâu hơn nữa. Anh bắt đầu hỏi vào một số chi tiết: “Anh đã giết ông ấy như thế nào?”
“Siết cổ, bằng dây điện thoại ở phòng khách.” vẻ mặt của Dương Hưng Xuân vẫn rất bình thản.
La Phi nhíu mày: “Trước mặt cô gái đó?”
“Anh cảm thấy là tôi rất quá đáng?” Dương Hưng Xuân cười khan, “Thực ra, tôi đã làm một việc càng quá đáng hơn.”
“Ý anh muốn nói…”
“Tôi tìm thấy một chiếc cưa trong nhà, bèn loại bỏ đầu và hai tay của nạn nhân. Chuyện này tôi làm không hề giấu giếm Lưu Ninh Ninh, cô bé sợ đến phát ngất.”
La Phi rất không hiểu: “Tại sao?”
“Tôi muốn làm cho cô bé sợ.” Dương Hưng Xuân xoay điếu thuốc trong tay, nhìn La Phi với ý tứ sâu xa, “Anh quên rồi sao? Cô bé có một khả năng đặc biệt - nếu trải qua sự việc cực kỳ kinh hoàng, thì sẽ quên một cách có chọn lọc.”
Thì ra là như vậy! Dương Hưng Xuân muốn dùng nỗi sợ hãi để xóa đi ký ức đối với hiện trường của Lưu Ninh Ninh.
Dương Hưng Xuân nói tiếp: “Sau đó, tôi lại đuổi Lưu Ninh Ninh vào trong mật thất và khóa trái cửa lại. Việc làm này cũng có chung mục đích. Cô bé sẽ trải qua một quá trình đau khổ, nhưng sau khi tỉnh lại, sẽ không còn nhớ gì nữa, như vậy chẳng phải là một kết quả tốt nhất sao?”
La Phi không còn tâm trạng để nói với đối phương về tốt xấu của kết quả. Trong vụ án này, có quá nhiều nhân tố hết sức phức tạp đan xen vào nhau, khiến cho luân lý và tình cảm đã không còn phân biệt được nữa. Anh cảm thấy mình cần phải tập trung chú ý để tiếp tục quan tâm tới những chi tiết thiết thực có liên quan đến vụ án.
Thế nên, La Phi hỏi: “Anh nói là tìm thấy chiếc cưa trong nhà?” Theo như phản ánh của người nhà nạn nhân trước đó thì hiện trường xảy ra vụ án không có những dụng cụ như cưa đục.
“Đúng thế. Chính là ở trong căn buồng nhỏ được cải tạo thành mật thất. Dưới cửa sổ có một chiếc túi dụng cụ, bên trong không chỉ có cưa mà còn có cả búa, đinh…”
“Ồ”, La Phi đã hiểu. Những dụng cụ đó có lẽ đã được Cao Vĩnh Tường dùng khi bưng kín cửa và cửa sổ, nên người nhà của ông đã không biết. Vì trong lúc khám nghiệm hiện trường, cảnh sát không tìm thấy túi dụng cụ nào, vì vậy, vấn đề tiếp theo đã nảy ra: “Túi dụng cụ đó đã được anh mang đi à?”
“Phải”, Dương Hưng Xuân đáp, “Tôi cho hai bộ phận thân thể kia của Cao Vĩnh Tường vào trong chiếc túi đó rồi mang đi.”
“Chiếc túi đó bây giờ ở đâu?”
“Đã bị tôi ném xuống sông Trường Giang.” Khóe môi của Dương Hưng Xuân hơi nhếch lên, lộ một nụ cười đắc ý, “Phải rồi, tôi còn nhét đầy các mảnh xi măng vào đó, chắc chắn sẽ không thể nào nổi lên được.”
La Phi chau mày. Thành phố Long Châu nằm bên bờ sông, đoạn sông Trường Giang chảy qua thành phố khá rộng và nước chảy xiết, nếu muốn mò một chiếc túi dụng cụ nhỏ bé ở đó lên thì đúng là còn khó hơn cả lên trời.
Dương Hưng Xuân đọc thấy được những điều La Phi nghĩ: “Anh lo không tìm được vật chứng chứ gì? Không sao, tôi đã để lại cho anh.” Nói xong, Dương Hưng Xuân đứng dậy đi về phía phòng ngủ, khi ra trên tay cầm một vật, đó chính là một chiếc cưa gia đình.
Trương Hưng Xuân ngồi xuống chỗ của mình, đặt chiếc cưa đó lên bàn, hất cằm về phía La Phi: “Nhìn đi, đây là chiếc cưa tôi đã dùng để phân xác. Bên trên không chỉ có dấu vân tay của tôi mà còn dính cả máu của Cao Vĩnh Tường nữa. Chứng cứ vô cùng đầy đủ.”
Quả nhiên, trên chiếc cưa có vết máu loang, lặng lẽ cho thấy cảnh tượng đáng sợ ở hiện trường lúc đó.
“Nhưng…”, La Phi không hiểu, “Tại sao anh lại giữ lại chiếc cưa này?” Dương Hưng Xuân đã ném chiếc túi dụng cụ có đựng đầu và hai tay của nạn nhân đi, thế mà lại giữ chiếc cưa lại, có nghĩa là sợ cảnh sát không tìm được chứng cứ ư?
Quả nhiên, Dương Hưng Xuân đã đưa ra đáp án như vậy: “Tôi sợ các anh không tìm thấy chứng cứ.”
“Sao?” Ở đâu mà lại có tội phạm như vậy, chủ động lo chuyện chứng cứ cho cảnh sát?
Dương Hưng Xuân lo lắng thật, anh ta hỏi lại La Phi: “Tôi hỏi anh, khi anh bước vào căn nhà này, anh đã có những chứng cứ gì về các tội ác của tôi?”
La Phi im lặng không nói.
Trước đó chỉ là tra ra thân phận thật của Lưu Ninh Ninh, tiếp theo suy đoán ra Dương Hưng Xuân chính là hung thủ đằng sau của một loạt vụ án. Có điều, những chứng cứ xác đáng thì chưa có. Cũng chính vì như vậy, nên La Phi mới không trực tiếp bắt giam Dương Hưng Xuân, mà là đến thăm nhà đối phương trước, định thông qua việc đối diện trực tiếp sẽ tìm ra được một vài manh mối. Ai ngờ, ngồi xuống chưa nói mấy câu thì Dương Hưng Xuân đã nói tuồn tuột tất cả quá trình phạm tội của mình, bây giờ lại tự tay đưa ra cả chứng cứ quan trọng nhất. Không hiểu rút cuộc anh ta muốn gì?
Dương Hưng Xuân nhìn La Phi một lúc rồi hỏi: “Anh cảm thấy điều mà tôi sợ nhất là gì? Thân bại danh liệt? Bị giải ra pháp trường?”
Câu hỏi này không khó trả lời, “Không, điều mà anh sợ nhất không phải là những điều đó. Anh sợ nhất là việc cô bé kia biết rõ thân thế của anh.” La Phi vừa nói vừa nheo mắt lại, tiếp tục đoán dụng ý của đối phương.
“Không sai. Vì vậy, tôi không thể để cho anh điều tra vụ án. Vì quá trình điều tra vụ án sẽ liên lụy đến cô bé. Bên cạnh anh lại có nhà thôi miên rất lợi hại, nếu anh cung cấp thông tin bối cảnh cho anh ta, thì anh ta sẽ có thể đánh thức toàn bộ ký ức đã được chôn vùi của cô bé. Đó là việc mà tôi lo lắng nhất.” Dương Hưng Xuân chăm chú nhìn vào mắt của La Phi, “Cho nên, tôi thà là nói hết tất cả cho anh, chỉ xin anh đừng làm phiền cô bé đáng thương ấy.”
La Phi cảm thấy vẻ van nài trong lời nói của đối phương, nhưng anh đành lắc đầu bất lực: “Anh có thể che giấu được một lúc, nhưng không thế che giấu được mãi. Cho dù quá trình điều tra không làm phiền đến cô bé đó, thì khi kết thúc và xử vụ án, cô bé ấy vẫn phải xuất hiện với tư cách là nhân chứng.”
Dương Hưng Xuân chìm mình vào sự im lặng hồi lâu. Điếu thuốc kẹp giữa hai ngón tay dần dần cháy hết, để lại một đoạn tàn thuốc dài. Sau khi đoạn tàn thuốc đó rơi xuống, Dương Hưng Xuân đột nhiên cất tiếng cười, rồi rầu rầu nói với La Phi: “Nếu mãi cũng không kết thúc được vụ án thì sao?”
“Điều đó làm sao có thể được?” Mắt của La Phi nhìn về phía chiếc cưa trên bàn, lời khai và vật chứng đầy đủ, nhân chứng tiềm ẩn cũng đã có, làm sao không thể kết thúc được vụ án?
Dương Hưng Xuân đưa tay ra đầu bàn đằng kia. Ở đó đặt một chiếc túi màu đen, anh ta vớ lấy chiếc túi đó, bàn tay phải thò vào trong túi, đồng thời nói: “Đội trưởng La, hình như anh đã bỏ qua mất một việc.”
“Gì cơ?” Bỗng dưng La Phi có một dự cảm không lành.
“Nếu tôi đã biết sớm muộn gì anh cũng sẽ tìm đến cửa, hơn nữa còn dành sức chờ sẵn, thì làm sao tôi lại có thể không có bất cứ sự chuẩn bị nào?” Khi bàn tay anh ta rút ra khỏi chiếc túi, trong tay đã nắm một khẩu súng ngắn nặng trịch.
La Phi giật mình sửng sốt, anh nhanh chóng bật dậy, nhào về phía Dương Hưng Xuân. Nhưng dù động tác của anh có nhanh hơn đi nữa thì cũng không thế nào nhanh hơn viên đạn được.
“Pằng!” Tiếng súng vang lên. Trước mắt La Phi tối sầm. Anh cảm thấy như bị giáng một nhát búa mạnh, cả người ngã vật ra phía bên phải.