Nhan sắc

Lượt đọc: 686 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
GẬY THẦN, SÁCH ƯỚC...
viết tặng ng-h-tâm

Ngọn lửa vàng leo lét phật đi phật lại bởi những luồng gió luồn vách quán, dầu từ trong những hạt cây rừng bị đốt tỏa ra một mùi thơm thảo mộc kỳ lạ. Người chủ quán ngả lưng vào tường, nét mặt khô rắn, những đường nét bật rõ dưới ánh sáng phảng phất một vẻ gì vừa huyền bí, vừa thực, vừa giấu giếm, vừa biểu tỏ. Người khách chống khuỷu tay phải xuống khúc cây lớn, ngả người một chút ra sau, chiếc áo rộng để lộ ra một khoảng ngực trần khoẻ mạnh. Người chủ quán ngồi ngay trở lại, cúi người cầm bát rượu uống một hớp:

        – Ba năm rồi hôm nay mới được uống một bữa rượu vẫn chờ đợi.

        – Đạ tạ lão huynh.

        – Đã ba năm rồi, mới đó mà tưởng như mới hôm qua đây.

        – Đó là ngày lão huynh bỏ chốn phồn hoa, lánh cửa công quyền mà tới đây?

        – Không, đệ bỏ mọi điều đã trên mười năm nay, từ ngày đoạn tang nghiêm phụ. Trước đó, những ngày lang bạt, mộng tưởng... thật không ra thế nào. Ba năm, hồi đệ đã ở đây... Bữa rượu cuối cùng với một người bạn thiết...

        Người chủ quán ngừng lại, vẻ thẫn thờ, chừng như một quá khứ nào đó thức dậy, bát rượu đã cạn, người khách bưng chiếc bình sành lên giót đầy cho chủ rồi tự giót cho mình một bát nữa.

        – Người bạn thiết của lão huynh trở về dưới Kinh?

        – Không, sao tiên sinh lại nghĩ như vậy. Như tiên sinh biết, những ngả đường qua đây không phải chỉ dẫn tới Kinh, dẫn tới những thị trấn với đời sống nhung lụa dơ bẩn, ở đây cũng có những con đường vào núi, vào rừng, con đường dẫn tới phương Nam, đó là những con đường có sẵn. Vả lại sao tiên sinh không nghĩ tới cả những con đường khác; dẫn tới những nơi khác nữa, những con đường nào đâu phải tự nhiên có đó, ai ngăn cấm chúng ta len qua những cây cao, rừng lau sậy, đạp lên những núi đồi tạo thành những con đường mới… Phải chăng vậy tiên sinh?

       – Ý lão huynh muốn nói người bạn kia đã chọn một con đường khác.

        Người chủ quán khoát khoát tay, nhún vai, vẻ thất vọng.

        – Không phải vậy, người bạn đệ đã chọn một con đường có sẵn. Anh ấy đi vào trong núi, không biết giờ sống chết ra sao, dù vậy đệ nghĩ anh ấy đã hài lòng, dù thế nào, cuộc sống vốn đã phù du...

        Ngọn lửa vẫn bập bùng, tiếng gió xao động ngoài rừng cây thâm u của đêm trường, người chủ quán ngâm khe khẽ:

        « Yên hà thử khứ vô tung tích        

        Tử ngã tương kỳ cửu viễn khan ».

        Tiếng ngâm dật dờ thân thiết đầy tâm sự tiếng nói với một tri kỷ, tiếng nói không nhiều nhưng đủ nói bao nhiêu u uẩn, những tâm sự không cần diễn tả nhưng kẻ tri âm có thể nghe thấy, đó là thứ tiếng nói thiêng liêng kín đáo của tâm hồn. Cả hai trong giây phút như hai pho tượng đá phơi mình trên một ngọn núi cao trong buổi bình minh. Chợt người chủ quán với tay lấy ngọn đuốc cầm nơi tay soi vào vách quán.

        – Đó là hai câu kết trong bài thơ của đệ đọc cho người bạn thiết nghe trước khi chia tay trong một bữa rượu như hôm nay, bạn tôi đã dịch âm ra chữ nôm và viết lên vách quán đây, để tôi đọc tiên sinh nghe, cũng là một tâm sự.

        Người chủ quán xoay người vào vách, hắng giọng rồi đọc vừa đủ nghe, giọng trầm trầm đầy một hào khí:

        Suối trong thác biếc uống quen mui

        Danh lợi nhiêu khê chẳng bén mùi

        Hang đá bên mây mình dễ tếch

        Vòng trời dưới thế bước khôn lui

        Tỉnh mơ, ác lặn, non trơ trẽn

        Mỏi lắng canh khuya tuyết sập sùi

        Mây khói phen này đi biệt tích

        Còn nhiều gặp gỡ để chung vui (1)

(1) Thơ Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục, bản dịch của Bùi Xuân Trang.

        Người chủ quán để ngọn đuốc vào chỗ cũ ngồi lại, nhấp một hớp rượu, giọng hoài cảm xa xăm:

        – Còn nhiều gặp gỡ để chung vui, đệ không tin rằng có một ngày được như thế... Cách đây ít lâu đệ nghe nói tới một người tiều phu lâu lâu trở xuống thị trấn, uống rượu và hát ở dưới đó, một hôm kia gặp mặt đám vua quan nhà Hồ tới săn bắn trong vùng núi Na, khiến cho họ để ý, vua nhà Hồ thấy hành tung của người tiều phu có vẻ gì đáng chú ý nên đã phái người theo và thuyết ra giúp nước, người đó một mực không nghe, ẩn minh trong núi vì vậy vua nhà Hồ liền sai phóng hỏa cả khu rừng nhưng tuyệt nhiên không thấy một dấu tích gì về kẻ vô danh kia. Người ta nói trong lúc quân lính bao vây khu rừng chờ đợi, mọi người chỉ nhìn thấy một con chim hạc đen, cánh lớn bay lên không trung với tiếng kêu thảm thiết... Sau đó tại đây và trong cả vùng, mưa gió liên tiếp trong suốt ba tháng trời, sông ngòi ngập lụt, khi mưa bão dứt thì cây cỏ trong khu rừng của núi Na xanh tốt trở lại, tưởng như không có một biến chuyển nào... Một con chim hạc đen đã bay lên không trung, đệ nghĩ tới cánh chim đó mà không đậu được lòng, phải chăng đó là người bạn thiết... Anh ấy đã không dứt khoát, người ta chỉ có thể chọn một đường, không biết tiên sinh có nghĩ tới điều đó không, một con đường cô quạnh kiêu hãnh gạt bỏ mọi điều, một con đường chật chội những đua chen, đệ đã chọn con đường cô quạnh này còn tiên sinh...

        Người khách ngồi im không nói, những bát rượu đầy nhấp mãi trên môi, không khi như khô lại trong khoảnh khắc. Con đường cô quạnh. Con đường chật chội đua chen. Thái độ. Sống và những trách nhiệm ràng buộc. Sống và lý tưởng. Sống và thực tại. Con đường chật chội...

        – Lão huynh đã chọn con đường cô quạnh, nhưng sao lão huynh không cùng theo với người bạn thiết.

        – Đệ không theo nhưng không phải đệ chống lại con đường ấy, ý đệ muốn: người bạn phải chọn con đường khác, vì anh ấy còn trẻ, anh ấy hơn đệ, đệ muốn sống khác nhưng tự biết không đủ sức để chọn, bởi vậy đệ muốn kẻ khác chọn như mình nghĩ tham quá, khôn quá phải không, nào đâu phải chỉ đơn giản như vậy. Chắc tiên sinh hiểu đệ... Với quán nhỏ bên đường này, đệ nhìn thấy biết bao điều, nghe thấy bao nhiêu chuyện, nhìn thấy bao nhiêu người... Những lựa chọn, những hành động, nếu đệ còn trẻ, nếu đệ...

        Người chủ quán bỗng cười lớn, vẻ gì chua chát đau lòng. Chợt người chủ quán nghiêm mặt, giọng nhẹ nhàng trầm hẳn xuống:

        – Chắc tiên sinh ở Kinh tới đây.

        – Vâng, đệ có ghé qua đó, đệ nay đây mai đó...

        – Chuyện ở Kinh bây giờ ra sao?

        – Hóa ra lão huynh vẫn còn nhiều phiền lụy với đời sống, nhưng mà lão huynh cũng chẳng nên bận tâm làm gì. Từ bấy đến nay bao nhiêu là đổi thay, lão huynh rời khỏi nơi ấy đã lâu, hồi ấy chốn kinh thành có lẽ cũng chưa đến đỗi nào dù đã vào cuối thời của một triều đại. Còn đâu những bậc cái thế anh hùng của những chiến công hiển hách, những gương sáng chói lòa chiếu xuống đời sống quốc dân… Bánh xe của lịch sử làm sao mà chống lại được. Rồi xảy ra cuộc hưng phế, nhà Trần đã bị những kẻ tôi tớ thoán đoạt, triều đình chia năm xẻ bảy, những chia năm xẻ bảy ấy chẳng phải vì chính sách, đại cuộc, mà chỉ là những chia xẻ vì quyền lợi bổng lộc, tranh giành nhau miếng đỉnh chung, quyền hành nhỏ mọn, kỷ cương trong thiên hạ không còn giường mối chính truyền, tệ nạn mỗi lúc một gia tăng, kẻ ở ngôi thiên tử không có đức độ, kẻ sĩ thì nhu nhược, hèn nhát, bất chính... Trong cơ sự rồi đây chỉ đưa ta đến một đời sống đen tối... Bao nhiêu công lao gìn giữ, xây dựng, chống được giặc ngoài, yên được cõi trong e cũng không còn... Có kẻ đã lên đường đưa giặc vào nhà, nhận vai tôi tớ, tình cảnh khiến cho đệ không ngồi yên được...

        Người khách thở dài nhấp một chút rượu nữa. Người chủ quán nói:

        – Người bạn đệ bỏ kinh đô, rời khỏi quyền lợi danh vọng mà vào núi khi gặp đệ cũng nói: vận nước đã đến hồi suy. Đệ đã không chịu như vậy, đệ đã nghĩ tới ngày nay từ mười năm trước. Đệ đã nói với những người chung quanh: mình phải làm gì chứ, phải sửa soạn gì chứ... Lúc ấy không ai nghe, mỗi người những mưu toan riêng rẽ, phải chờ khi nước tới chân mới nhảy thì làm sao... Không ngồi yên được, phải, đệ cũng nghĩ như thế... Nhưng..

        Người chủ quán ngừng lại, nhìn thẳng vào mắt người đối diện, trong giây phút ngắn ngủi người chủ quán như nghe thấy một tiếng nói nào. Hai người nhìn nhau không động. Lúc sau người chủ quán mới nói:

        – Nhưng... Đệ còn nhớ như in đây, cũng tại chính nơi này đệ đã gặp một người đi từ núi xuống, người đó chừng như đã lên núi từ lâu nhưng nay tìm đường trở xuống, rời khỏi hang động trở lại với đời sống, người đó cũng ngang qua đây, trong câu chuyện đệ hiểu rằng người đó trở xuống với những mong ước thiết tha. Đệ hỏi: với tệ trang hiện nay, với cảnh thoán đoạt, với một xã hội phân tán tan rã mình có thể làm được gì mà vẫn giữ được hai bàn tay không bẩn. Người đó im không nói, nhưng anh ta cũng không tìm đường trở lại. Anh ta chỉ nói với đệ một cách dứt khoát, ngay thẳng, cương quyết: nếu không như vậy thì cần gì tới mình. Xưa kia thanh bình thịnh trị tôi lo tu luyện, tôi nghĩ tới lúc phải cần đến, nếu không tu luyện làm gì, bỏ đời sống, sợ tay mình dơ, đó chỉ là sự hèn nhát, đó chỉ là những thoái thác không đáng được nói đến. Phải tạo lại, phải làm ra một thời thế mới, tôi lựa chọn như vậy, ông hãy đốt bỏ quán này cùng tôi trở về dưới, kẻ có học, có nghĩ, còn chút lương tri mà lại nhắm mắt làm ngơ, giữ cho yên thân mình hay sao, như vậy còn sống làm gì nữa. Đệ đã không nói được một lời nào sau đó. Phái, trước ngọn lửa đồi bị đốt cháy, đệ thấy ở chính mình một điều gì không hợp lý, nhưng đồng thời cũng không hoàn toan vào những điều mà người kia đã nói và tin hành động, đệ lo âu một cái gì. Có những việc làm của người khác mình không tán đồng nhưng mình cũng không chối được. Đệ khổ tâm hết sức. Trong nhiều đêm một mình đối bóng, tiếng nói của người lạ lại làm đệ khổ tâm, chừng như mình có một tội gì đó. Tội gì? Sự bất lực? Sự ươn hèn? Ngại khó ngại khổ? Đệ lúng túng quanh quẩn trong vòng những suy nghĩ lao lung. Quả thật, giữa nghĩ và làm đã có những mâu thuẫn... đệ không biết phải làm sao. Điều mình muốn làm vẫn còn đó, nhưng sao đệ thấy mình cô quạnh quá muốn lánh đi cũng không được, muốn hành động thì chung quanh không có ai...

        Người chủ quản nói không ngừng mọi điều được chiếu rọi lên trước lương tâm. Người khách ngồi yên nghe không tỏ một dấu hiệu tán đồng hay phản đối.

        – Người bỏ đời sống trở vào hang động. Kẻ rời hang động trở lại đời sống… Hai con đường ngược chiều... Nhưng, như lão huynh nói, còn những con đường khác nữa?

       – Thưa tiên sinh, có vậy, sự lựa chọn này không phải của một người. Một hôm đệ gặp một đoàn người ngang qua đây, khi đó đệ đang thả mình dưới dòng suối. Đó là toán người vừa già vừa trẻ nhưng trông ai cũng khỏe mạnh, họ mang theo nhiều hành lý và có sửa soạn cẩn thận. Đệ ngạc nhiên không biết toán người định đi đâu. Khi hỏi, họ chỉ nói: vào núi. Chắc chắn họ không phải là những người vào đó để đi tu, nhưng có lẽ họ cũng không phải là những tên ăn cướp. Một người, chừng như làm trưởng nhóm có nói chuyện với đệ, người đó không nói rõ hành động của họ nhưng trong hàm ý cho thấy họ là những bầy tôi trung thành của nhà Trần, muốn khôi phục lại cơ đồ đã đổ vỡ, đệ hỏi: tiên sinh có phải thuộc dòng vua Nghệ Tông không.

        – Sao lão huynh lại nghĩ thế?

        – Kẻ hèn nghe tin có một kẻ nhận là Trần Thiêm Bình, dòng vua Nghệ Tông hiện đang có mặt trên đất Tàu xin nhà Minh trợ giúp để khôi phục lại nhà Trần, có phải tiên sinh ở trong mưu đồ đó không? Điều đó nào có chi là quấy?

        – Không có chi là quấy, nhưng theo thiền ý, trong câu chuyện chừng như lão huynh không hài lòng về điều này?

        – Hài lòng, điều đó do nơi tiên sinh, kẻ ẩn thân chốn hoang dã không dám luận bàn. Có điều chắc tiên sinh cũng nghĩ rằng: dễ gì để cho dân ta được sống trong tự chủ, việc hưng phế của một thời đại đâu phải trách nhiệm của riêng ai. Trong phạm vi nào đó tất cả chúng ta đều có bổn phận mà trong đó bổn phận giữ nền tự chủ đâu phải là nhỏ.

        – Đa tạ những lời vàng ngọc của lão huynh. Có điều kẻ hèn này xin đoan quyết cùng lão huynh rằng: chúng tôi không có liên hệ gì với kẻ nhận là con cháu Trần Nghệ Tổng trong mưu đồ của họ. Còn chúng tôi... Nhưng riêng tiên sinh nghĩ sao về kẻ cầm quyền hiện nay?

        – Đã lâu không còn liên lạc với đời sống, kẻ ở trong rừng không được rõ lắm, có điều chính sách học hành quân sự thì riêng kẻ hèn nhận thấy cũng là những điều hay, chỉ tiếc kẻ cầm quyền không có đức, không được lòng người, phải chi...

        – Nhưng lão huynh có nhận thấy là vua quan nhà Hồ đã theo nhiều chính sách của tiên vương không? Nào lập ngôi thái tử sớm, tìm cách ổn định với phương Bắc... Chính cái lòng dân như lão huynh nói nên chúng tôi... Chúng tôi muốn có một nhà Trần mới...

        Người chủ quán ngừng lại sau khi kể chuyện gặp gỡ những người vào núi trước đây. Người khách theo dõi câu chuyện một cách chăm chú:

        – Chuyện xảy ra đã lâu chưa lão huynh?

        – Cũng mới đây.

        – Từ đó đến nay lão huynh có nghe nói gì về chuyện này không, ý đệ muốn nói tới tung tích của những người này.

        – Không, không nghe nói gì cả. Đệ chỉ nghe phong thanh về một nhóm người ở trong Nam, không phải của những kẻ phù Trần diệt Hồ, hành tung không được rõ lắm...

        – Ở phương Nam? Như vậy họ có liên hệ gì với Chiêm thành không?

        – Đệ không được rõ chút gì, chỉ nghe nói họ mưu đồ một nước Việt mới, chờ đợi đánh đuổi quân xâm lược từ phương Bắc, chừng như họ thấy rõ mưu toan của giặc Bắc, họ cũng biết rõ thế nào nhà Hồ cũng bị diệt, vận nước sẽ bước vào một giai đoạn mới. Bao nhiêu là chuyện từ đó đến nay, kẻ xuôi người ngược, đệ nghĩ nếu có dịp để cho những người mà đệ đã gặp ngồi lại bên nhau thì không biết sẽ ra sao. Theo ai, chống ai. Ai phải, ai không phải. Mỗi kẻ một mưu đồ, một ý muốn. Chỉ có một điều mà mọi người đều đồng ý là thế nào cũng có một vận hội mới, dù chưa rõ vận hội ấy ra sao trong những ngày tới này.

        Người chủ quán giót thêm rượu, người khách vẫn ngồi im, tay chống lên khúc gỗ, mặt củi xuống trầm ngâm. Tiếng gió ngoài rừng cây tạo thành một âm thanh kỳ bí, trong đó chừng như còn lẫn tiếng thú rừng... Trong đêm khuya khoắt này ai còn thức, Tiếng nói một quá khứ nào đó như dội về. Càng khuya gió càng mạnh, chừng như một cơn bão, mưa nặng hạt đỗ xuống, chiếc quán nhỏ lay động cùng với lay động của tạo vật.

        Người khách vẫn ngồi im như một pho tượng đồng. Ngọn lửa trên vách có lúc muốn tắt trả cho quán khoảng đêm tối bịt bùng. Chợt cánh cửa bật tung. Người chủ quán nhỏm dậy. Không có một người nào, một vật nào. Sức gió đưa đẩy cánh cửa những tiếng động khô khan. Quá nửa đêm thì cơn bão ngớt, người khách vẫn ngồi, rượu giót mãi không ngừng trên chiếc bát sành. Chủ quán cũng ngồi đó, dựa lưng vào vách. Hai người ngồi đối ẩm cho tới lúc bình rượu không còn một giọt, người khách đứng lên, vươn vai, dáng điệu trầm tĩnh khoe khoắn khác thường. Người chủ quán nhìn người khách với sự ngạc nhiên, trong bao nhiêu năm trôi nổi, gặp gỡ không biết bao kẻ nghĩa khí, những kẻ ngang ngược, những tay tài tử nhưng chưa thấy ai là kẻ tửu lượng mạnh như người khách, uống đã nhiều mà xem chừng vẫn minh mẫn, không có chút gì tỏ ra đã đắm mình trong men rượu. Người khách bước đi trong lòng quán chật hẹp.

        Người khách nói:

        – Đệ muốn hỏi lão huynh, chẳng hay lão huynh nghĩ thế nào mà chọn nơi này dựng quán, phải chăng lão huynh chờ đợi tri âm.

        – Tri âm, ai là người mà không muốn gặp tri âm, nhưng e rằng đời nay không còn tri âm nữa Trong nhiều năm phiêu bạt chốn giang hồ, gặp gỡ không biết bao nhiêu kẻ tiếng tăm, nhưng cho tới nay đệ vẫn thấy mình cô đơn. Bao kẻ mà thiên hạ ngưỡng mộ, khi gặp, đệ chẳng thấy gì ngoài một thứ tiếng tăm hão, một thứ hư danh phù phiếm, đệ không còn tin vào những phán xét của người đương thời nữa. Kẽ sĩ chỉ còn lại hai chữ tùy thời và một cái vỏ liêm sỉ giả trá. Những tráo trở của thời đại như ngọn lửa thử vàng. Chỉ thay đổi một triều đại mới nhìn thấy ai là kẻ xu thời, ai là kẻ hèn hạ, ai là kẻ bất trung, ai là kẻ bất tài. Có bão lớn mới thấy đâu là ngọn cây cứng. Phải vậy chăng tiên sinh. Đệ tự nhận như một ngọn cỏ trong rừng thảo mộc, hèn yếu và khiêm tốn chẳng biết làm gì hơn là rời khỏi đời sống, tự mình sống cho mình, như vậy chắc tiên sinh hiểu đệ và rộng lượng cho.

        – Xin lão huynh chớ quá hạ mình, kẻ hèn này thật không đáng được nghe những lời chỉ dạy đó. Bao nhiêu điều...

        Người khách đi đi lại lại vẻ bồn chồn không yên, chừng như có điều gì muốn nói rồi lại thôi, người chủ quán nhìn lên với vẻ mong đợi:

        – Thưa tiên sinh, tiên sinh nghĩ, sống trong tình cảnh này, theo tiên sinh, mình có thể làm được gì?

        – Làm được gì? đó cũng là điều mà chính kẻ hèn này, muốn được hỏi lão huynh.

        – Với quán bên đường này đệ đã được nghe, được thấy những lựa chọn, những thái độ, tất cả đều có một phần nào đúng, một phần nào không đúng, chừng như đệ quá hoài nghi, thiếu tin tưởng và một nhiệt tình... Chính vì thế mà không thể quyết định hay hành động được gì. Đệ muốn hỏi tiên sinh: tiên sinh từ đâu đến, tiên sinh sẽ tới đâu trong cuộc hành trình?

        Người khách ngừng lại, ngồi xuống chỗ cũ, sửa lại ngay ngắn, dáng người chững chạc đường hoàng hai tay khoanh trước ngực, lúc đó trong người khách như một kẻ tham thiền nhập định, nhưng tất cả toát ra một sức mạnh. Giọng người khách trầm tĩnh, dõng dạc:

        – Thưa lão huynh, đệ là kẻ sinh ra trong một gia đình thanh bạch, sống xa chốn kinh thành, lớn lên với sự dạy dỗ của song thân, nhưng thân mẫu qua đời từ khi đệ còn tấm bé, nên sau đó chỉ còn nhờ vào sự trông nom của nghiêm phụ. Khi lớn lên đệ thấy nghiêm phụ sống như người ẩn dật, không nghe nói gì tới hai tiếng danh lợi. Trước khi nghiêm phụ qua đời có gọi đệ đến bên mà kể cho nghe một chuyện trước khi nhắm mắt. Đến nay đệ vẫn còn tưởng như hôm qua đây, câu chuyện vẫn còn ghi khắc trong tâm khảm, bây giờ đệ xin được kể lại hầu lão huynh. Nghiêm phụ đệ nói rằng tổ tiên của chúng ta thuộc dòng Lạc Việt. Vua Lạc Long lấy bà Âu Cơ sinh được một trăm người con, một nửa xuống biển, một nửa lên núi, một gốc chia hai dòng, cho nên từ trong nguyên thủy dân tộc ta đã khởi đầu một dòng chia rẽ. Điều ấy không quan trọng gì, bởi vì mỗi người đã được giao phó một nhiệm vụ trên con đường lập quốc và kiến tạo để cho có một nước Việt như hiện nay. Sự hưng vong của mỗi thời đại chỉ là những chu kỳ phải có trong vòng xoay chuyển của lịch sử nhưng có một điều mỗi người phải nhớ: Mỗi người con Việt có một cuốn Sách Ước và một chiếc Gậy Thần. Cha đệ nói, con cũng đang cầm trong tay một cuốn Sách Ước, như cha đã cầm, và như mọi người đều có trong tay, nhưng nó có hay không là tùy thuộc nơi sự nhận biết của người cầm nó. Bên cuốn sách ước đó con còn có một chiếc Gậy Thần, nó cũng hiện diện tùy theo sự nhận biết của con hay không. Sách ước, chắc con nghĩ tới những điều được ghi trong đó. Cha đọc thấy những điều đó và con cũng có thể đọc thấy, nhưng những điều được ghi đó như thế nào tùy con, Sách ước trong nguyên thủy ghi chép những điều giống nhau, nếu không nhận thấy những điều giống nhau là do nơi người cầm nó. Tất cả chỉ là một. Cũng như Chân Lý. Gậy Thần cũng vậy. Với cha, chiếc gậy rõ ràng cho thấy một Đầu Sinh, một Đầu Tử, điều quan trọng cho người sử dụng là biết phải cầm cái gậy ở chỗ nào. Gậy Thần và Sách Uớc gắn liền với nhau. không thể có cái này mà thiếu cái khác. Đó là điều con phải ghi nhớ...

        Người khách ngừng câu chuyện lại. Không gian lặng như tờ. Người chủ quán ngồi bất động. Đêm đã gần sáng. Rất lâu cả hai người bừng tỉnh khi tiếng gà rừng vẳng xa. Ngọn đuốc trên vách cháy đỏ và rực sáng hơn bao giờ. Người chủ quán nhìn người khách im như tượng: hai tay khoanh trước ngực, dáng đường bệ nghiêm trang, đôi mắt mở lớn nhìn thẳng về phía trước, khuôn mặt cương quyết với đôi mày rậm và xếch, mái tóc búi ngược bạc trắng. Người chủ quán nói:

        – Thưa tiên sinh, năm nay tiên sinh được bao nhiêu tuổi?

        – Thưa lão huynh, kẻ hèn này mới chẵn ba mươi...

        (1968)

NHAN SẮC

CỦA DƯƠNG NGHIỄM MẬU

DO VĂN XÃ ẤN HÀNH

BẢN IN MỚI XONG NGÀY 16-6-1969.

GIẤY PHÉP XUẤT BẢN SỐ:

1671/BTT/NHK/PHNT SAIGON

NGÀY 23-4-1969.

NGOÀI CÁC BẢN THƯỜNG

CÒN IN MỘT TRĂM

ẤN BẢN CHÍNH KHÔNG BÁN.

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang