“Chà, xong được cái hộp đó rồi.” Viola nói, như thể vừa hoàn thành một việc gì đó đáng ghê tởm, như thể vừa dọn đống rác bẩn thỉu của ai đó, trong khi tất cả những gì cô làm chỉ là xếp những món đồ thủy tinh sạch sẽ vào một cái hộp các tông. Cô đang cầm dụng cụ cắt băng dính như thể nó là một món vũ khí. Cô bắt gặp Sunny đang lắc điếu thuốc lá ra khỏi bao. Và trước khi cậu kịp quẹt một que diêm, cô quát lên với cậu “Dừng lại ngay!” như thể cậu sắp châm que diêm vào ngòi nổ của một quả bom thay vì một điếu thuốc lá Silk Cut. “Con mười chín tuổi rồi mà.” Sunny lẩm bẩm. “Con có thể bỏ phiếu bầu cử, kết hôn và chết vì đất nước mình (liệu thằng bé có làm bất cứ điều gì trong số đó không? Teddy tự hỏi) nhưng con không thể hút một điếu thuốc lá sao?”
“Đó là một thói quen đáng ghê tởm.”
Teddy định nói với Ursula “Trước kia con vẫn hút thuốc mà”, nhưng thấy rằng điều đó sẽ châm ngòi cho một “quả bom” khác. Thay vì thế, ông đi đun nước để pha trà cho mấy người thợ dọn nhà.
Sunny thả phịch người xuống xô pha. Cũng chung số phận với hầu hết những món đồ nội thất khác của Teddy, chiếc xô pha này đang bị tống khứ đi vì nó quá cồng kềnh, không phù hợp với căn hộ mà ông sắp chuyển tới. Nó được thay thế bởi một chiếc ghế đôi rẻ tiền nhỏ xíu. “Dành cho khách.” Viola nói khi đặt chiếc ghế ấy cho ông từ một cuốn ca ta lô. Về phần ông, ông có một thứ được gọi là ghế “nhô lên hạ xuống” (“phù hợp với người già”), ông buộc phải thừa nhận rằng nó thoải mái vô cùng. Ông không thích từ “già”, nó gây ra nhiều định kiến như từ “trẻ” trước đây vậy.
Phần lớn đồ đạc của Teddy sẽ được đưa đến các cửa hàng từ thiện. Ông đang bỏ lại nhiều thứ hơn những gì ông sẽ nhận được. Cả một đời tích lũy để rồi được gì chứ? Rõ ràng là chẳng có gì nhiều. “Ông ngoại có nhiều rác quá.” Lúc nãy Teddy đã nghe thấy Sunny nói với Viola như vậy, như thể ông đã vi phạm một vấn đề đạo đức ghê gớm lắm khi lưu trữ các bảng sao kê ngân hàng suốt một thập kỷ qua, hoặc một quyển lịch từ năm năm trước có những bức tranh vẽ hình chim chóc theo kiểu Nhật Bản mà ông giữ lại bởi vì chúng quá xinh đẹp. “Bố không thể mang theo bất cứ thứ gì trong số này, bố biết điều đó, đúng không?” Viola đã nói như thể ông là một đứa trẻ có quá nhiều đồ chơi. “Bố có bao giờ vứt đi thứ gì không vậy?”
Đúng vậy, từ một, hai năm trước, ông đã bắt đầu đánh mất thói quen tằn tiện mà ông từng có, ông trở nên mệt mỏi với những sự lựa chọn và quyết định không ngừng nghỉ mà thế giới vật chất yêu cầu. Sẽ dễ dàng hơn nếu cứ để mọi thứ chồng đống lên, chờ đợi cuộc sàng lọc quy mô lớn mà cái chết của ông sẽ mang đến. “Thế cũng tốt.” Ông nghe thấy con gái mình nói với Sunny. “Chúng ta sẽ chẳng phải dọn dẹp gì nhiều lúc ông qua đời.”
Cứ đợi đến lúc Viola già mà xem, ông nghĩ (“Già hơn ạ.” Bertie nói), sẽ đến lượt con cái nó dọn dẹp “rác” của mẹ chúng - những cái lưới bắt giấc mơ, những bức tượng Đức mẹ Đồng trinh phát sáng (“trớ trêu thay”), những cái đầu búp bê bị vặt rời ra (cũng “trớ trêu thay”), những quả cầu phù thủy “ngăn chặn tà ma xâm nhập vào nhà”.
Sunny có vẻ đã ngủ thiếp đi như thể mệt mỏi lắm, như thể cậu đã phải lao động vất vả chứ không phải chỉ di chuyển một vài cái thùng giấy. Mấy người thợ dọn nhà đã làm tất cả những việc nặng nhọc trong khi Sunny chỉ kiểm tra đống hồ sơ giấy má. Và cứ năm phút, cậu lại nói với Teddy “Ông có muốn giữ lại thứ này không? Ông có muốn giữ lại thứ này không? Ông có muốn giữ lại thứ này không?”, cứ như một con vẹt đang nhại tiếng người, cho đến khi Teddy phải lên tiếng: “Cứ để đó cho ông, Sunny, ông sẽ tự mình kiểm tra. Dù sao cũng cảm ơn cháu.”
Teddy đặt một đĩa bánh quy và hai cốc trà lên một cái khay. Đĩa, cốc và khay sau này đều sẽ được gửi đến Oxfam[80]. “Bố có tới bốn cái khay! Bốn cái đấy!” Viola nói, như thể Teddy phải đích thân chịu trách nhiệm cho sự thừa mứa lãng phí này. “Chẳng ai cần đến bốn cái khay cả. Bố chỉ có thể mang theo một cái thôi.” Ông chọn cái khay cũ nhất, một cái khay thiếc mòn vẹt và xước xát mà ông đã có từ lâu lắm. Nó là cái khay của bà lão vô danh đã sống và qua đời trong căn nhà tranh mà ông từng ở hồi mới cưới. Họ thường gọi bà là “bà lão” như thể bà là một hồn ma thân thiện.
“Thứ cũ kĩ đó ư?” Viola nói và nhìn cái khay với vẻ kinh hãi. “Thế còn cái khay bằng tre xinh đẹp mà con mua cho bố thì sao?”
“Nó có giá trị về mặt tình cảm.” Teddy quả quyết nói.
Ông mang trà ra chỗ mấy người thợ dọn nhà đang nghỉ ngơi. Họ đang ngồi ở đuôi thùng xe, hút thuốc và hưởng thụ chút ánh nắng mặt trời, mừng rỡ đón lấy cốc trà được mang tới.
Sunny chậm rãi mở mắt giống như một con mèo vừa ngủ dậy và nói: “Ông không làm gì cho cháu à? Cháu đang thèm uống thứ gì đó.” Teddy cho rằng Sunny kế thừa lòng vị kỷ từ cha mẹ cậu. Cả Viola và Dominic đều luôn coi mình là nhất. Ngay cả cách chết của Dominic cũng ích kỷ. Sunny cần được thuyết phục tự đứng trên đôi chân của mình, chiếm lấy một vị trí trong thế giới rộng lớn ngoài kia, và hiểu được rằng thế giới ấy còn vô vàn người khác, không chỉ có mình cậu.
“Ấm nước ở trong bếp ấy.” Teddy nói với cậu.
“Cháu biết rồi.” Sunny mỉa mai nói.
“Đừng có nói cái giọng đó.” Viola nói (Giọng điệu của mẹ nó chứ ai, Teddy nhận định). Cô khoanh tay vẻ hằn học, nhìn trừng trừng mấy người thợ dọn nhà ngoài cửa sổ. “Nhìn họ kìa, một cặp vô công rồi nghề nhận tiền công để ngồi uống trà.” Theo những gì Teddy còn nhớ, kể cả trước khi họ mất Nancy, Viola đã căm ghét niềm vui của những người khác, như thể niềm vui ấy đã rút bớt thứ gì đó khỏi thế giới này.
“Bố nhớ hình như con từng đứng về phía những người lao động mà.” Teddy ôn tồn nói. “Hơn nữa, bố mới là người trả tiền công cho họ. Họ là người tốt, bố sẵn lòng trả tiền cho họ để họ uống trà trong mười phút.”
“Thôi, con quay lại với cái việc phân loại bất tận này đây. Bố có biết bố có bao nhiêu món đồ thủy tinh không? Con đã đếm được tận tám cái ly để uống rượu brandy. Bố có bao giờ cần đến tám cái ly để uống rượu brandy không vậy?” Viola có một cuộc sống bừa bãi. Cuộc đời cô gặp hết thảm kịch này đến thảm kịch khác. Có lẽ việc được quyền phân loại các khay trà và ly uống rượu brandy đã tạo cho cô ảo tưởng rằng cô có quyền kiểm soát. Teddy ngờ rằng ông đang liều lĩnh tự coi mình là một chuyên gia tâm lý dù ông chẳng hiểu gì về lĩnh vực ấy.
“Bố chắc chắn sẽ không cần đến chúng ở nơi mà bố sắp đến đâu.” Cô nhấn mạnh. Nghe như cô đang nhắc đến thế giới bên kia chứ không phải việc ông chuyển đến khu cư xá dành cho người già, mặc dù ông cho rằng hai nơi đó đều như nhau cả. “Chẳng đời nào có chuyện có đến tám người ở trong căn hộ mới của bố và tất cả bọn họ đều muốn uống brandy cùng một lúc đâu.” Viola nói. Teddy nghĩ, có lẽ sau khi chuyển đến đó, ông sẽ tổ chức một tiệc rượu brandy, một bữa tiệc dành cho tám người, đương nhiên rồi. Sau đó, ông sẽ chụp ảnh làm bằng chứng để cho Viola xem.
“Chí ít bố cũng không có chó để phải tống khứ đi.” Cô nói.
“Tống khứ đi ư?”
“À, ở chỗ bố sắp dọn đến, họ không cho phép nuôi thú cảnh. Bố sẽ phải đem cho nó đi.”
“Hoặc con có thể nuôi nó.”
“Ồ, con không thể, con còn có lũ mèo mà.”
Tại sao họ lại đi nói về một con chó tưởng tượng, không hề tồn tại nhỉ? Teddy tự hỏi.
“May là Tinker chết rồi.” Cô nói. Cô thật tàn nhẫn!
Trước kia, Teddy không để ý, bây giờ ông mới nhận ra Tinker là con chó cuối cùng mà ông nuôi. Ông cho rằng ông đã nghĩ là mình sẽ nuôi một con chó khác - không phải chó con, ông không còn đủ sức nuôi chó con nữa, có lẽ là một con chó trưởng thành bị bỏ rơi ở trại chó. Ông và nó có thể sống những ngày cuối đời bên nhau. Tinker chết đã ba năm rồi. Vì ung thư. Bác sĩ thú y đã tới nhà ông để kết liễu cuộc đời nó trước khi căn bệnh quái ác khiến nó phải chịu nhiều đau đớn. Nó là một con chó tuyệt vời, có lẽ là con chó tuyệt vời nhất của ông. Một con chó săn cáo rất khôn. Teddy đã ôm nó trong tay lúc bác sĩ thú y tiêm cho nó, ông đã kiên định nhìn thẳng vào mắt nó cho đến khi đôi mắt ấy chẳng còn sinh khí. Ông từng làm vậy với một người đàn ông. Bạn của ông.
“Cháu thích Tinker, ngoại Ted ạ.” Sunny bất ngờ nói xen vào, đột nhiên cậu như trở lại là một cậu bé sáu tuổi. “Cháu nhớ nó.”
“Ông biết. Ông cũng vậy.” Teddy nói, vỗ vai cháu trai. “Cháu muốn uống trà không, Sunny?”
“Còn con thì sao? Con có phần không?” Viola nói với giọng điệu vui vẻ giả tạo mỗi khi cố gắng vờ như họ là một gia đình hạnh phúc. (“Gia đình bất bình thường thì có.” Bertie nói.)
“Đương nhiên là có chứ.” Teddy nói.
Họ dọn đến ngôi nhà ở York này vào năm 1960. Trước đó, sau khi rời khỏi Nhà Chuột, họ đã thuê một ngôi nhà trại (Ayswick), đó là nơi Viola sống những năm đầu đời. Khi họ chuyển tới York, việc mất đi vùng đồng quê giống như một vết thương đối với Teddy. Nhưng sau đó, ông còn có những vết thương lớn hơn nên đành cố gắng kiên trì ở lại York cho đến khi ông trở nên thích nó.
Đây là một ngôi nhà chung tường ở vùng ngoại ô. Trông nó giống hệt hàng nghìn ngôi nhà khác trên mảnh đất này - ốp tường bằng đá cuội, phong cách giả Tudor[81], cửa sổ lồi và cong với những ô kính nhỏ hình thoi, mảnh vườn lớn ở cả đằng trước và đằng sau nhà. Nó đã là nhà của Viola trong nửa quãng đời thơ ấu của cô - rõ ràng cũng là nửa quãng đời tồi tệ nhất - mặc dù cô luôn làm như nó chẳng có ý nghĩa gì với cô cả. Có lẽ cũng không phải là không có ý nghĩa gì. Suốt thuở thiếu thời đầy tủi hờn, cô đã nóng lòng muốn thoát khỏi sự giam hãm tù túng của nó (“u ám”, “cổ lỗ”, “bé như lỗ mũi”, vân vân). Khi cô cuối cùng cũng rời khỏi nhà để đi học đại học, có cảm giác như một bóng đen lớn đã rời khỏi ngôi nhà. Teddy biết Viola bất mãn với ông nhưng ông không rõ tại sao. (“Ông có bao giờ nghĩ ngược lại không?” Bertie nói. “Có thể chính mẹ cháu mới là người khiến ông bất mãn?” “Nước mắt không bao giờ chảy ngược, cháu ạ.” Teddy nói.)
Ông sẽ tới một nơi có tên là Fanning Court. “Một cư xá chở che cho những người già đã nghỉ hưu.” Từ “chở che” khiến bố có cảm giác đó là một nơi dành cho chó hoặc ngựa vậy. “Bố đừng lẩm cẩm thế!” Viola nói. “Đó là nơi ở an toàn hơn cho bố nhiều.” Ông chẳng nhớ nổi có lúc nào cô không coi ông là một mối phiền toái. Ông ngờ rằng ông càng già đi thì tình trạng này càng trở nên tồi tệ hơn. Bấy lâu nay cô cứ lèo nhèo nài ông chuyển đi để có người “để mắt đến bố”.
“Bố mới bảy mươi chín tuổi.” Teddy nói. “Bố có thể tự để mắt đến mình. Bố chưa lú lẫn đâu.”
“Lúc này thì chưa.” Viola nói. “Nhưng sớm muộn gì bố cũng sẽ phải chuyển đi mà, vậy thì thà sớm còn hơn là muộn. Bố không thể leo cầu thang và bố chắc chắn không thể làm vườn được nữa.” Ông nghĩ ông vẫn chăm sóc tốt cho mảnh vườn, với chút trợ giúp từ một người đàn ông tới mỗi tuần một lần để làm những công việc nặng nhọc và cắt cỏ vào mùa hè. Cuối vườn có mấy cây ăn quả và từng có một khoảnh vườn lớn để trồng rau. Teddy từng trồng mọi thứ - khoai tây, đậu Hà Lan, cà rốt, hành tây, đỗ, mâm xôi, lý chua đen. Cà chua và dưa chuột được trồng trong nhà kính. Ông đã xây một cái chuồng nhỏ để nuôi vài con gà, thậm chí ông còn nuôi cả một tổ ong trong vài năm. Giờ thì phần lớn mảnh vườn đã hóa thành thảm cỏ với những bụi cây và hoa dễ trồng - trong đó chủ yếu là hoa hồng. Ông vẫn trồng đậu hoa vào mùa hè và hoa thược dược vào mùa thu, mặc dù việc đó đang bắt đầu trở nên khó nhọc.
Ông sẽ khó lòng nguôi ngoai nếu mất đi mảnh vườn này. Lúc ông chuyển tới đây, ông đã nghĩ mảnh vườn sẽ chẳng thể xoa dịu cảm giác hụt hẫng trong ông khi mất đi vùng đồng quê hoang dã mà ông đã bỏ lại, nhưng hóa ra ông đã nghĩ lầm. Giờ thì thứ gì sẽ là nguồn an ủi của ông? Có lẽ là một vài chậu hoa trên ban công hay một bồn hoa ở cửa sổ. Trái tim ông chùng xuống.
Hàng năm trời nay Viola cứ lải nhải về thực phẩm hữu cơ và việc cô đã nuôi các con bằng một chế độ ăn lành mạnh, nhưng cô có vẻ không hiểu nổi ông khi ông nói rằng ông đã nuôi cô bằng thực phẩm hữu cơ - “thu hoạch ngay ngoài vườn”. Cô nói sao chúng có thể là thực phẩm hữu cơ được, cứ như trước thời của cô thì không có phân bón hữu cơ và lao động chân tay vậy. Hồi còn nhỏ, cô chẳng hứng thú gì với việc học nuôi ong, tỏ ra miễn cưỡng khi cho gà ăn hay nhặt trứng, và nói rằng mảnh vườn khiến cô bị dị ứng. Cô có còn bị dị ứng phấn hoa vào mùa hè không?
“Con vẫn bị dị ứng à?” Ông hỏi.
“Đáng lẽ con sẽ để bố sống cùng con.” Cô tiếp tục như thể ông chưa nói gì (“Để ư?” Teddy nghĩ.) “Nhưng nhà chật quá và, đương nhiên, bố sẽ không thể leo lên leo xuống cầu thang. Việc đó hoàn toàn không phù hợp với một người già.”
Vài năm trước, Viola đã rời York để tới Leeds. Ở York, cô đã làm việc cho một Đơn vị Trợ cấp Phúc lợi (Teddy không biết đó là gì), nhưng sau đó cô kiếm được việc làm trong Câu lạc bộ Thiền Gia đình ở Leeds. Đó cũng là một nghề có vẻ mơ hồ và nghe tên thì nó không phù hợp lắm với Viola. Đương nhiên, cuộc hôn nhân của cô với Wilf Romaine chính là nguyên nhân khiến cô chuyển đi. (“Chúng tôi đã lén lút kết hôn.” Viola vô tư nói trong một cuộc phỏng vấn với tờ Phụ nữ và Gia đình vào năm 1999. Teddy không chắc từ “lén lút” có còn phù hợp với cô không khi lúc đó cô đã hơn ba mươi tuổi và có hai đứa con nhỏ.)
Bây giờ cô đang sống ở Whitby nhờ trợ cấp phúc lợi, mặc dù họ không nói gì về chuyện đó nhưng ông vẫn có thể nhận ra. Cô đã mua một ngôi nhà chài cũ bằng số tiền nhận được từ cuộc ly dị với Wilf Romaine. Cô bốn mươi mốt tuổi và phần lớn cuộc đời chỉ sống nhờ số tiền mà những người khác cho cô - Teddy, gia đình Dominic (“một món tiền còm cõi”) rồi đến cuộc hôn nhân thảm họa với Wilf. “Nếu con nhận ra từ trước…” Cô giận dữ nói, như thể đó là lỗi của ai khác. “… Con sẽ bỏ qua việc yêu đương và sinh con mà tìm ngay một công việc khi con tốt nghiệp. Có lẽ bây giờ con đã là một kiểm soát viên ở đài BBC rồi, hoặc một chức vụ gì đó ở MI5[82].” Teddy chỉ ừ hữ cho qua chuyện.
Căn nhà ở Whitby chỉ có bốn căn phòng oằn mình chồng chất lên nhau. Teddy sẽ không ngạc nhiên nếu Viola cố tình cất công lặn lội tìm một nơi không phù hợp với một “người già”. Cứ làm như ông từng suy tính đến việc sống cùng cô vậy. (“Thế còn tệ hơn là chết nữa.” Bertie đồng ý.)
Viola nói là cô đang “viết”. Teddy không chắc điều này có nghĩa là gì nhưng chẳng muốn hỏi quá kĩ. Không phải vì ông không quan tâm mà vì Viola sẽ nổi cáu nếu ai đó bảo cô nói rõ chi tiết về bất cứ điều gì. Sunny cũng giống như vậy, cậu bực tức với cả những câu hỏi vô thưởng vô phạt nhất. “Gần đây cháu đang làm gì?” Teddy đã hỏi cậu cháu trai khi cậu tới - với vẻ miễn cưỡng - vào sáng nay để giúp ông chuyển đồ. Bất cứ câu hỏi nào liên quan đến những kế hoạch của Sunny cho tương lai đều nhận được một cái nhún vai và một tiếng thở dài cùng câu trả lời: “Việc này việc kia thôi.”
“Nó giống bố nó y sì đúc.” Viola nói. (Không, Teddy nghĩ, nó giống hệt mẹ nó.) “Con thất vọng vì nó. Nó chẳng trưởng thành gì cả, chỉ to xác hơn thôi. Đương nhiên, nếu nó là một đứa trẻ sống ở thời buổi này, có lẽ nó sẽ được chẩn đoán là mắc chứng khó đọc và tăng động. Và có lẽ cả rối loạn vận động nữa. Thậm chí là tự kỷ.”
“Tự kỷ?” Teddy nói. Thật nực cười khi con gái ông luôn cố gắng phủi trách nhiệm của mình. “Bố luôn thấy nó là một thằng bé khá bình thường.” Điều này không hoàn toàn đúng, Sunny đã phải chật vật bước những bước khó nhọc trên đường đời, loạng choạng, nghiêng ngả, va vấp, nhưng phải có ai đó bênh vực thằng bé tội nghiệp. Nếu Teddy buộc phải “chẩn đoán” về vấn đề mà cậu mắc phải thì đó chính là sự bất hạnh. Teddy yêu Sunny đến đau lòng. Ông lo sợ cho cậu, cho tương lai của cậu. Tình yêu Teddy dành cho Bertie thì đơn giản hơn, lạc quan hơn. Sự thông minh, sáng dạ của Bertie thi thoảng nhắc ông nhớ đến Nancy (một điều mà Viola không bao giờ có được). Cô cũng giống bà ở tính cách hoạt bát, vui vẻ, mặc dù có lẽ ở ngoài đời thực bà có thể không được hoạt bát, vui vẻ như những gì đọng lại trong ký ức của ông sau khi bà mất.
“Cái gì đây?” Nghe giọng Viola có vẻ phẫn nộ, như thể cái hộp các tông nhỏ hình chữ nhật chứa bằng chứng của một tội ác khủng khiếp. Trên cái hộp chưa khui có hình một cái máy xay cà phê.
“Máy xay cà phê.” Teddy ôn tồn nói.
“Đây là cái máy xay cà phê mà con biếu bố dịp Giáng sinh. Bố còn chưa dùng nó.”
“Ừ, bố chưa dùng.”
“Cái máy xay cà phê của bố cổ lỗ sĩ lắm rồi. Bố nói bố cần một cái mới.” Cô bắt đầu mở các cánh cửa tủ và nhìn vào các ngăn tủ bếp, cuối cùng lấy ra - “Một cái máy xay cà phê. Bố tự mua à? Con đã phải vay mượn để mua một món quà biếu bố đấy. Ồ, khoan đã.” Cô giơ một tay ra như thể đang cố ngăn một cỗ xe tăng. “Khoan đã. Ồ, dĩ nhiên…”
Sunny thơ thẩn vào bếp và càu nhàu: “Nữ hoàng kịch nghệ đang càm ràm cái gì vậy?” Viola chỉ cho cậu xem cái hộp đựng chiếc máy xay cà phê chưa được dùng đến. “Của Đức đấy!” Cô tuyên bố, như thể cô đang ở tòa án và vừa đưa ra một bằng chứng có tính quyết định.
“Thì sao ạ?” Sunny nói.
“Hãng Krupps.” Teddy nói.
“Thì sao ạ?” Sunny nói.
“Ông con không chịu mua đồ của Đức.” Viola nói. “Bởi vì cuộc chiến tranh ấy.” Cô nói từ “chiến tranh” một cách mỉa mai như thể cô đang tranh cãi với bố mình về độ dài chiếc váy, độ dày của lớp trang điểm trên mắt hoặc mùi thuốc lá trong hơi thở - tất cả những chủ đề gây ra những cuộc tranh cãi kịch liệt trong thời niên thiếu của cô.
“Gia đình Krupp ủng hộ quân phát xít.” Teddy nói với Sunny.
“Ồ, bài giảng về lịch sử lại bắt đầu rồi đấy.” Viola nói.
“Các nhà máy của họ sản xuất ra thép.” Teddy tiếp tục nói, lờ cô đi. “Thép là thứ quan trọng nhất của mọi cuộc chiến.” Ông đã ném bom (hoặc cố ném bom) các công trình của Krupps ở Essen vài lần. “Họ sử dụng nô lệ làm nhân công. Và người Do Thái từ các trại tập trung.”
“Cuộc chiến đã kết thúc gần năm mươi năm trước rồi.” Viola nói. “Bố không nghĩ đã đến lúc bố quên nó đi à? Hơn nữa…” - Viola lúc nào cũng phải chen thêm từ “hơn nữa” - “… Trong những nhà máy mà bố ném bom cũng có nhiều công nhân là nô lệ và cả người Do Thái nữa. Thật trớ trêu cho bố.” Cô đắc thắng nói. Vụ kiện khép lại. Bồi thẩm đoàn đã bị thuyết phục.
Chiếc ô tô đầu tiên của Viola sau “sự đào thoát” khỏi Dominic (và bốn lần thi lấy bằng lái) là một chiếc VW Beetle cũ. Khi Teddy làu bàu gì đó về việc “mua đồ của Anh”, cô đã phun trào những lời trách cứ về tính bài ngoại. Sau này, khi Teddy đã sống ở Fanning Court được vài năm, cái lò nướng rẻ tiền trong căn hộ của ông bị hỏng, Viola đã đặt mua một cái lò mới của hãng Siemens từ tiệm Currys mà không hỏi ý kiến Teddy. Khi nhân viên giao hàng mang cái lò đến, ông đã (rất lịch sự) đề nghị họ đưa trả nó về cho cửa hàng.
“Con cho rằng bố cũng đã ném bom họ?” Viola nói.
“Ừ.”
Ông nhớ Nuremberg (ông không bao giờ quên được), cuộc không kích cuối cùng trong cuộc chiến của ông. Trong buổi huấn thị trước chuyến xuất kích, sĩ quan tình báo - một người phụ nữ - nói với họ rằng nhà máy Siemens ở đó sản xuất đèn pha rọi, động cơ điện, “những thứ đại loại vậy”. Sau chiến tranh, ông mới biết rằng họ còn sản xuất lò thiêu cho các trại tập trung và ông tự hỏi liệu đó có phải là thứ nằm trong số “những thứ đại loại vậy” đó không. Trong chiến tranh, ông đã được giới thiệu với một người bạn của Bea tên là Hannie, một người tị nạn, và mặc dù ông biết bây giờ điều này có thể chẳng có ý nghĩa gì với Hannie, nhưng chính vì cô mà ông đã có hành động khá ti tiện này đối với tiệm Currys. Sáu triệu chỉ là một con số nhưng Hannie có một khuôn mặt, một khuôn mặt xinh đẹp, cô đeo đôi khuyên tai nhỏ bằng ngọc lục bảo (“Đồ giả đấy!”), biết thổi sáo, xức nước hoa Soir de Paris và có một gia đình bị kẹt lại ở Đức. Có ý kiến cho rằng Hannie vẫn còn sống khi bị ném vào những lò thiêu ở Auschwitz. (“Người ta rất muốn tha thứ cho họ.” Ursula từng nói từ lâu lắm. “Thế rồi người ta nghĩ đến Hannie tội nghiệp.”) Vì vậy ông không thực sự cảm thấy mình cần một lý do để biện hộ cho việc không mua một cái lò nướng của Đức. Hoặc việc ném bom họ đến tối tăm mặt mũi. Điều đó không hoàn toàn đúng, và ông có thể đã thừa nhận như vậy nếu ông không tranh cãi với một người cứng đầu cứng cổ như con gái ông. Ông đã giết phụ nữ, trẻ em, người già, những người mà đáng lẽ ông phải bảo vệ theo thế tục. Ở giữa trái tim thối nát của mỗi cuộc chiến là những người vô tội. Ngày nay, người ta gọi việc này là “tổn thất nằm ngoài dự kiến”, nhưng những thường dân đó không “nằm ngoài dự kiến”, họ chính là những mục tiêu. Chiến tranh đã thành ra như vậy đấy. Không còn là binh lính chém giết lẫn nhau mà là người này giết người khác. Bất cứ người nào.
Ông không đưa ra quan điểm giản hóa luận này với Viola, cô sẽ dễ dàng đồng ý với nó, sẽ không hiểu được sự thỏa hiệp đáng sợ mà chiến tranh buộc lương tâm ta phải chấp nhận. Sự đắn đo không có chỗ trong một cuộc chiến mà kết quả còn chưa ngã ngũ. Họ đã ở bên phe chính nghĩa, đứng về lẽ phải - ông vẫn tin như vậy. Suy cho cùng, còn lựa chọn nào khác chứ? Hãy nghĩ về hậu quả khủng khiếp của Auschwitz, Treblinka! Hãy nghĩ đến việc Hannie bị ném vào một cái lò thiêu!
Teddy nhìn Sunny đang khom người trước bồn rửa ở bếp, và biết rằng ông sẽ không bao giờ có thể tâm sự những điều này với cậu.
Rõ là lẩm cẩm, Sunny nghĩ khi cuộc cãi cọ trong bếp tiếp tục đưa qua đẩy lại như trò bóng bàn. Cậu thích bóng bàn (hay đúng ra là từng thích) hồi cậu còn là một đứa trẻ, mặc dù cậu không hoàn toàn tin mình từng là một đứa trẻ. Họ từng có một kỳ nghỉ hè - bao gồm cậu, Bertie và ngoại Ted - trong một ngôi nhà to lớn, cũ kĩ, xiêu vẹo ở đâu đó. Trong ga ra hoặc nhà kho gì đó của nó có một cái bàn đánh bóng. Đó là kỳ nghỉ tuyệt vời nhất trong đời cậu. Ở đó còn có lũ ngựa (“Lừa chứ.” Bertie cải chính) và một cái hồ (“Cái ao mà”).
Cuộc tranh cãi trong bếp vẫn ồn ào không dứt. Ha ha.
“Vì thế bố mới mua một cái máy xay cà phê hiệu Philips để thay thế cho nó?” Viola nói. “Và bố định nói với con rằng bàn tay của họ sạch sẽ trong cuộc chiến ấy? Trong chiến tranh thì chẳng có bàn tay nào sạch sẽ cả đâu.”
“Bàn tay của hãng Philips khá sạch.” Teddy nói. “Sau chiến tranh, Frits Philips đã được tuyên dương là “dân ngoại công chính[83]”. Điều đó có nghĩa là ông ấy đã giúp đỡ những người Do Thái.” Ông giải thích với Sunny.
“Hừ.” Viola khinh khỉnh nói, ám chỉ rằng cô đã thua trong cuộc tranh luận này.
Sunny ngáp và lủi ra khỏi bếp.
Viola lỉnh ra vườn. Mảnh vườn không còn ngăn nắp như trước kia nhưng nó vẫn tiết lộ bố cô là người kĩ tính. Những cây đỗ leo thẳng lên giàn, những cây hoa hồng vẫn chẳng có lấy một vết lốm đốm hay bị sâu đục. Trên quan tài của mẹ cô, bố cô không đặt một vòng hoa mà đặt một bó hoa hồng hái từ mảnh vườn này. Viola nhớ khi ấy cô đã nghĩ rằng mẹ cô xứng đáng với thứ gì đó sang trọng và cầu kỳ từ một bàn tay chuyên nghiệp hơn. Tự tay làm ra vẫn tuyệt hơn chứ, bố cô nói. Ngược lại thì có, Viola nghĩ.
Ông không thích hoang phí, trong khi Viola chẳng thể hiểu nổi tại sao sự hoang phí lại là một tội lỗi. Thứ gì vẫn dùng được thì không cần phải vứt đi. (Tiếng nói của Lý trí.) Ta có thể tái sử dụng hộp sữa chua và hộp thiếc để ươm hạt giống, dùng bánh mì chua và bánh ngọt để làm món pudding, xay nhỏ những mẩu thịt thừa. (Ai còn có máy xay thịt nữa?) Áo len chui đầu cũ được cắt ra để nhồi làm gối nệm. Bất cứ loại quả nào sắp hỏng thì được làm thành mứt hoặc tương. Khi ta ra khỏi một căn phòng, ta phải tắt đèn và đóng cửa. Nhưng Viola chẳng làm thế. Hồi còn nhỏ, cô không bao giờ có giấy để vẽ mà luôn phải vẽ vào những mảnh giấy dán tường còn thừa mà bố cô cho. (“Chỉ cần lật nó lại là có thể dùng tốt.”) Giấm và báo được dùng để lau cửa sổ. Tất cả những thứ khác được đem ủ phân hoặc dành cho lũ chim. Bố cô gỡ tóc rụng ở những cái lược để cho lũ chim lót tổ. Ông lúc nào cũng chăm lo cho lũ chim trong vườn.
Ông không keo kiệt, cô phải công nhận điều đó. Ngôi nhà luôn ấm áp - quá ấm là khác, hệ thống sưởi tập trung luôn được để ở nhiệt độ cao. Ông cho cô nhiều tiền tiêu vặt và để cô tự lựa chọn quần áo của mình. Thức ăn thì ê hề. Cô từng căm ghét chuyện gần như tất cả mọi thứ đều được lấy từ mảnh vườn: hoa quả, trứng, rau, mật ong. Thịt gà thì không, thịt gà thì ông mua ở hàng thịt. Ông không thể giết một con gà. Ông cứ để chúng chết già, điều này thật kỳ cục vì lũ gà già bắt đầu tràn lan trong mảnh vườn của ông.
Cô từng ở ngoài vườn hàng tiếng đồng hồ vào mùa hè như một người nông dân trên đồng, hai bàn tay dính nhớp vì hái quả lý chua đỏ, lý chua đen và mâm xôi. Cô bị những bụi lý chua lông cào xước, bị ong đốt, bị đám côn trùng ẩn mình trong cỏ cắn và cảm thấy ghê tởm những con sâu cùng sên trần. Tại sao họ không thể mua sắm trong những siêu thị đèn đuốc sáng trưng, chọn những gói thực phẩm màu mè, những loại rau quả bóng mẩy xuất xứ từ một nơi xa xôi do người khác hái chứ?
Giờ thì, nếu cô thành thực với chính mình - cô biết cô hiếm khi như vậy - cô thấy nhớ tất cả những bữa ăn mà cô căm ghét vào thời điểm đó. Bố cô đã trưng dụng những cuốn sách dạy nấu ăn cũ của Nancy và làm món thịt nướng ngày Chủ nhật, bánh táo, thịt hầm khoai tây và bánh hấp nhân đại hoàng. “Bố cháu siêu thật đấy.” Mọi người thường nói với cô như vậy. Các giáo viên của cô quý mến ông, một phần vì họ từng quý mến Nancy, nhưng cũng vì cái cách ông đảm nhiệm vai trò của người mẹ. Cô không muốn ông làm mẹ cô, cô chỉ muốn Nancy làm mẹ cô thôi.
(“Chúng tôi là những người sớm đi theo tiếng gọi của cuộc Cách mạng Xanh. Tôi được nuôi dạy trong một gia đình tự cung tự cấp, rất quan tâm đến môi trường sinh thái. Chúng tôi tự trồng các loại rau củ quả, tái chế tất cả mọi thứ, chúng tôi thực sự là những người đi trước thời đại trong vấn đề tôn trọng hành tinh này.” Teddy rất ngạc nhiên khi đọc được những dòng này trong một bài phỏng vấn ở phần phụ lục in màu của một tờ báo Chủ nhật, trước khi ông rời khỏi Fanning Court để tới nhà dưỡng lão không lâu.)
Bố cô đọc cuốn Mùa xuân tĩnh lặng khi nó mới được xuất bản, ngay sau khi mẹ cô mất. Dĩ nhiên là ông mượn ở thư viện. (Ông có bao giờ thực sự mua một cuốn sách không nhỉ? “Nhưng chúng ta nên ủng hộ các thư viện công cộng, nếu không chúng sẽ bị đóng cửa.”) Ông từng “tra tấn” cô bằng cách đọc to những đoạn văn. Đó là khi ông bị ám ảnh bởi lũ chim trong vườn. Hiện có vài con thuộc những loài khác nhau đang bâu quanh cái hộp đựng thức ăn cho chim. Viola chẳng phân biệt nổi con nào là chim gì.
Cô trở lại bếp - giờ trong bếp chẳng còn ai nữa, ơn Chúa - và bắt đầu lôi những cái đĩa ra khỏi tủ chén bát và cho chúng vào những cái hộp, chia riêng những hộp sẽ mang đến Fanning Court và những hộp sẽ mang đến cửa hàng từ thiện. (Ai cần đến bốn cái đĩa đựng rau có nắp đậy hoặc thậm chí là một cái liễn xúp chứ?)
Dường như tất cả mọi thứ trong bếp đều khơi lại ký ức. Những cái đĩa Pyrex gợi cô nhớ đến món khoai tây nghiền nướng với thịt băm và món pudding làm từ gạo. Những cái cốc vại khủng khiếp bằng thủy tinh màu xanh lá cây với hoa văn gồ ghề khiến tất cả mọi thứ đựng trong đó trông như bị nhiễm bẩn, đó chính là những cái cốc đựng sữa mà cô từng uống hằng đêm trước khi đi ngủ - kèm theo hai cái bánh quy Rich Tea, loại bánh quy cơ bản nhất, trong khi cô đang chết thèm thứ gì đó hấp dẫn hơn - chẳng hạn như bánh của hãng Club hay Penguin. Việc bố cô kiên quyết cho cô ăn loại bánh quy cơ bản vào giờ đi ngủ đã nói lên tất cả về sự hà khắc của ông. (“Bố đang nghĩ đến răng của con.”) Ồ, và đám bát đĩa bằng sành của hãng Midwinter mang lại cho người ta cảm giác sầu muộn kia nữa. Cả cuộc đời có thể được chứa trong mẫu hoa văn của một bộ bát đĩa. (Một câu văn hay ho. Cô cất kín nó đi.) Một ngày kia, toàn bộ chỗ này sẽ trở thành “đồ cổ” và Viola sẽ rất bực tức vì cô đã đóng hộp chúng để gửi tới Oxfam mà không thèm liếc lại lấy một lần.
Bố cô có vẻ quá cổ lỗ nhưng ông hẳn đã từng tân tiến. Lại một câu văn thú vị. Cô cũng cất kín nó đi để dùng sau này. Cô đang viết một cuốn tiểu thuyết. Nó nói về một cô gái trẻ thông minh, sáng dạ, già dặn, và mối quan hệ không được xuôi chèo mát mái của cô với người bố đơn thân của mình. Đây là một việc bí mật. Một việc cô không thể nói với ai. Viola cảm nhận được ở bên trong cô có một con người tốt hơn con người lúc nào cũng muốn trừng trị thế giới vì cách cư xử tồi tệ của nó (trong khi cách cư xử của cô cũng rất đáng trách). Có lẽ viết lách là một cách để đưa con người đó ra ánh sáng.
Cô làm rơi một cái cốc đựng sữa hiệu Midwinter khiến nó vỡ tan. “Khỉ thật!” Cô nói, khẽ khàng hơn cô định.
Teddy đã để Viola sắp xếp chuyển vài món đồ kềnh càng trong nhà tới một cuộc bán đấu giá và, theo cách nói của cô, họ đã thu về được “một món tiền rẻ mạt”. Cây đàn piano của Nancy, chiếc tủ búp phê của Gertie. Những đồ vật quý giá. Cây đàn piano đã bị lệch tông và bị bỏ xó vì bây giờ chẳng có ai chơi nó nữa. Viola bỏ chơi đàn (cô không có năng khiếu lắm) sau khi Nancy qua đời.
Khi Teddy nghĩ về Nancy, ông thường hình dung bà đang ngồi ở cây đàn ấy. Ông nghĩ về bà hằng ngày, như ông nghĩ về rất nhiều người khác. Người chết nhiều không đếm xuể và ông cho rằng việc nhớ về họ là một loại bổn phận. Không phải lúc nào cũng liên quan đến tình yêu.
Ông nhớ đến lần mình đi vào căn phòng này và nhìn thấy Nancy đang chơi piano - gần như là lần cuối. Nhạc của Chopin. Ông đã nghĩ đến một bức tranh của Vermeer trong Triển lãm Quốc gia - một người phụ nữ đang ở bên một cây đàn clavơxanh nhỏ trong một căn phòng - ông không thể nhớ chính xác, đã lâu lắm rồi ông không lên London. Người phụ nữ bị làm phiền khi đang chơi đàn piano, ông nghĩ khi ông nhìn thấy Nancy. Ông có thể tưởng tượng bà đang sống trong một căn phòng gọn gàng, lạnh lẽo trong tranh của Vermeer. Ông có thể tưởng tượng bà đang đọc thư, rót sữa. Ông có thể tưởng tượng ra lời yêu cầu của bà và mục đích của nó. Khi ông bước vào phòng, bà ngẩng lên từ cây đàn piano, tỏ ra kinh ngạc như thể bà đã quên mất sự tồn tại của ông, và mang vẻ mặt bí hiểm như thể bà đã chìm đắm trong chính bản thân bà, vẻ mặt mà thi thoảng bà vẫn mang. Nancy bí ẩn.
Lòng ông đã thắt lại khi những người thợ dọn nhà mang cây đàn piano đi. Ông đã yêu Nancy, nhưng có lẽ cách yêu của ông không phù hợp với bà. Có lẽ một ai đó ở thế giới rộng lớn ngoài kia sẽ khiến bà hạnh phúc hơn. Nhưng ông đã yêu bà. Không phải là kiểu tình yêu đầy đam mê mãnh liệt hay tình yêu bay bổng lãng mạn kiểu hiệp sĩ, mà là một kiểu tình yêu thiết thực, đáng tin cậy hơn.
Ông cũng buồn khi thấy cái tủ búp phê của Gertie bị khiêng đi mất. Nó vốn là đồ của nhà Shawcross và được kê ở phòng ăn của ngôi nhà Quạ Gáy Xám. Nó là một món đồ theo trào lưu Thủ công Mỹ nghệ của hãng Liberty, đã lỗi thời nhiều năm nhưng hiện đang được ưa chuộng trở lại, tuy nhiên quá trình ấy diễn ra không đủ nhanh đối với Viola, cô đã luôn coi nó là xấu xí và “thảm hại”. Mười lăm năm sau, vào năm 2008, khi Viola nhìn thấy người anh em song sinh của cái tủ búp phê của Gertie - mà có lẽ đó chính là nó - trên chương trình Antiques Roadshow và cái giá mà nó được định, Viola sẽ tức điên lên vì mình đã không “giữ lấy nó”. “Đáng lẽ mẹ phải giữ nó lại.” Viola nói với Bertie. “Nhưng ông ấy cứ khăng khăng đòi bỏ nó đi.” Teddy càng già, Viola càng hay gọi ông gọn lỏn là “ông ấy” hơn, như thể ông là một vị thần gia trưởng đã làm hỏng cuộc đời cô.
“Chiếc đồng hồ quả lắc cầm tay cũ của bố đâu rồi nhỉ?” Cô đột nhiên hỏi, quét mắt khắp căn phòng khách giờ đã gần như trống không. “Hình như con không nhìn thấy nó khi chúng ta đóng gói đồ đạc.” Đó là chiếc đồng hồ của Sylvie và trước đó là của mẹ bà. Nó đã rơi vào tay Ursula khi Sylvie mất và Ursula để nó lại cho Teddy, vì vậy nó đã đi theo một con đường ngoằn ngoèo trên cái cây gia phả. “Bố biết đấy!” Viola nói với vẻ thờ ơ giả tạo. “Nếu bố không muốn giữ nó nữa, con sẽ lấy nó về.” Cô là kẻ nói dối rất kém - rõ ràng lời nói dối của cô chẳng có tí chân thật nào, nhưng cô lại hoàn toàn tin tưởng vào khả năng lòe bịp của mình. Nếu cô cần tiền, tại sao cô không hỏi xin ông? Cô luôn trông chờ được người khác cho thứ gì đó, giống như một con chim cúc cu hơn là một con thú săn mồi. Như thể trong cô luôn có một nỗi thèm khát không bao giờ có thể thỏa mãn. Nó khiến cô trở nên tham lam.
Đó là một chiếc đồng hồ tốt do Frodsham[84] chế tác và khá giá trị, nhưng Teddy biết rằng nếu ông đưa nó cho Viola, cô sẽ bán nó, làm mất nó hoặc đánh vỡ nó, trong khi ông rất coi trọng việc giữ nó lại trong gia đình mình. Một món đồ gia truyền. (“Từ đó đáng yêu quá!” Bertie nói.) Ông hy vọng rằng chiếc chìa khóa vàng nhỏ bé được dùng để lên dây cót cho nó sẽ tiếp tục được xoay bởi bàn tay của một thành viên trong gia đình, một người là máu mủ của ông. Sợi chỉ đỏ. Nếu nó rơi vào tay Viola thì cô gần như chắc chắn sẽ làm mất nó. Vì vậy, ông đã đưa cái đồng hồ ấy cho Bertie vào lần cuối cô đến thăm ông. Đáng lẽ ông nên cho cô cả chiếc tủ búp phê của Gertie nữa, nó sẽ hợp với ngôi nhà theo trào lưu Thủ công Mỹ nghệ nơi cô sẽ sống sau này cùng hai đứa con song sinh và người đàn ông tuyệt vời mà cô đã lấy làm chồng - một bác sĩ mà cô tình cờ gặp trên cầu Westminster vào tuần lễ diễn ra Đại lễ Kim cương của Nữ hoàng[85]. Nhiều năm sau, sau khi Bertie kết hôn và chuyển tới ngôi nhà này ở East Sussex, cô đã đem cái đồng hồ đi định giá để bảo hiểm và phát hiện ra rằng nó trị giá đến ba mươi nghìn bảng. Mỗi lần Viola đến thăm cô, Bertie phải giấu tiệt “quả trứng vàng lót ổ[86]” nhỏ bé của cô đi và quấn chặt nó lại để bịt tiếng kêu của nó. Lúc đó Teddy đã nằm dưới đất được hai năm rồi và ông sẽ không bao giờ được nhìn thấy ngôi nhà theo trào lưu Thủ công Mỹ nghệ của Bertie, không bao giờ được nhìn thấy chiếc đồng hồ ấy tiếp tục đếm ngược thời gian trên mặt lò sưởi của cô.
“Bố đã đóng gói cái đồng hồ đó rồi à?” Viola hỏi với vẻ trách móc.
Teddy nhún vai vẻ ngây thơ và nói: “Có lẽ thế. Chắc là nó đang ở dưới đáy một cái hộp nào đó.” Ông yêu Viola như bất kỳ người cha nào yêu con mình, nhưng việc đó thật khó khăn.
“Có lẽ chúng ta sẽ phải sơn lại ngôi nhà này một chút trước khi rao bán nó.” Viola nói. “Nhưng nhân viên bất động sản nói rằng nó sẽ khá dễ bán.” (Con gái ông đã nói chuyện với nhân viên bất động sản sao? Sau lưng ông?) “Và rồi bố sẽ có một khoản tiền để sống nốt những ngày còn lại.” Đó chính là tình cảnh của ông kể từ bây giờ ư? Sống nốt những ngày còn lại. Đương nhiên, ông đã luôn ở trong tình cảnh như thế, ai cũng vậy, nếu may mắn.
“Nhà mới.” Viola nói. “Một sự khởi đầu mới. Việc đó sẽ…” Cô suy nghĩ để tìm một từ thích hợp.
“Đầy khó khăn?” Teddy ướm lời. “Đầy buồn tủi?”
“Con đang định nói là việc đó sẽ giúp bố trở nên tràn trề sinh lực.”
Ông không muốn một sự khởi đầu mới, và ông ngờ rằng Fanning Court sẽ chẳng bao giờ đem lại cho ông cảm giác thoải mái như ở nhà. Nó là một tòa nhà còn mới, vẫn rõ mùi sơn và mùi của những món đồ nội thất chống cháy. Căn hộ mà Teddy mua là một trong những căn hộ cuối cùng được bán của tòa cư xá này. (“Bố rất may mắn khi mua được nó đấy.” Viola nói.) Ít nhất ông không chuyển tới một căn hộ vừa có người chết. Những nơi thế này thuộc dạng “người này đi, người kia đến”, không phải sao? “Không, đây chỉ là một trạm nghỉ, Teddy.” Một trong (số ít) người bạn còn sống của ông là Paddy nói. “Những chặng đường thánh giá[87].” Cán cân thăng bằng của Teddy đã nghiêng lệch, bây giờ ông biết nhiều người chết hơn là người sống. Ông tự hỏi ai sẽ là người ở lại cuối cùng. Ông hy vọng đó không phải là ông. “Trạm nghỉ tiếp theo là nhà dưỡng lão.” Paddy nói. “Tôi thà tiêm một mũi tiêm nhân đạo để có cái chết êm ái như một con chó già còn hơn là đến một nơi như thế.” “Tôi cũng vậy.” Teddy đồng ý.
Những không gian công cộng ở Fanning Court được sơn màu hồng và màu be dịu mắt. Các bức tường ở hành lang được treo các bức tranh thuộc trường phái Ấn tượng dễ nhìn. Dường như chẳng có ai từng ngắm chúng cả. Nghệ thuật cũng chỉ như giấy dán tường. “Dễ thương quá, phải không bố?” Viola nói với vẻ lạc quan gượng ép khi họ lần đầu được dẫn đi tham quan một vòng. “Có cảm giác hơi giống một khách sạn bố nhỉ? Hoặc một con tàu du lịch?” Viola đi tàu du lịch bao giờ vậy? Cô đang hết sức quyết tâm làm cho ông phải thích Fanning Court.
Người dẫn họ đi tham quan khu cư xá là bà giám thị, một người phụ nữ có tên là Ann Schofield. Bà ta nói: “Hãy gọi tôi là Ann, Ted.” (Hãy gọi tôi là ông Todd, Teddy nghĩ.) “Giám thị”, nghe như trong truyện của Trollope vậy. Và bây giờ ông sẽ là một cư dân ở Fanning Court - một nhà tế bần thời đại mới. Nhưng Ann Schofield chẳng có điểm gì giống với Septimus Harding[88] cả. Bà ta to béo và có dáng vẻ hối hả. Giọng nói vùng trung du chậm rãi (“Giọng Brummie[89] đấy và tôi tự hào về nó”) không lột tả được sinh lực tràn trề của bà ta. “Ở đây, chúng tôi là một gia đình hạnh phúc.” Bà ta nhấn mạnh, cứ như Teddy có thể là một con chiên ghẻ[90].
Bà ta đi trước dẫn đường. Bà ta có cặp mông đồ sộ và Teddy tự quở trách mình vì sự thô lỗ của ông, nhưng nó cứ lồ lộ đập vào mắt khiến người ta không thể không chú ý đến. “Kiểm soát viên mập ú[91].” Bertie đã gọi bà ta như vậy khi cô lần đầu tới Fanning Court thăm ông. Cô đã rất yêu thích những cuốn sách Tàu hỏa Thomas, cô yêu tất cả các cuốn sách. Cô đang học năm đầu ở trường Oxford, nơi Teddy từng theo học - giờ nó dạy cả nam lẫn nữ. Cô cũng học ngành mà Teddy học ngày trước. Cô là người kế tục ông, là tạo vật ông truyền lại cho thế gian, là thông điệp của ông với nhân loại.
Họ đi tới phòng sinh hoạt chung trước, ở đó có một nhóm nhỏ đang chơi bài Bridge. “Bố nhìn kìa.” Viola thì thầm. “Bố thích chơi bài, đúng không?” (“Ờ…” Teddy nói.)
“Ồ, ở đây chúng tôi có đủ loại hoạt động.” Ann Schofield nói. “Bài Bridge này - như ông thấy đấy - rồi domino, sắp chữ, bóng thảm, kịch nghiệp dư, hòa nhạc, một buổi uống cà phê đàm đạo vào mỗi sáng thứ Tư...” Teddy bỏ ngoài tai. Chân ông như bị chuột rút, ông muốn về nhà, uống một tách trà và xem chương trình Countdown. Ông không phải người nghiện ti vi nhưng ông thích trò giải đố - những chương trình tử tế với đối tượng khán giả trung niên trầm tĩnh. Ông thấy chúng vừa có tính giải trí vừa có tính thử thách, mà ở tuổi của ông, như thế là quá đủ rồi.
Chuyến tham quan vẫn chưa kết thúc. Điểm dừng tiếp theo là một phòng giặt là nóng ẩm đầy những cỗ máy khổng lồ, và sau đó là “kho phế thải” (khá bốc mùi) với những thùng rác cỡ đại có thể nuốt chửng cả một “người già” nếu họ không cẩn thận. “Dễ thương quá!” Viola lẩm bẩm. Teddy liếc nhìn cô. Dễ thương ư? Ông nghĩ. Trông cô hơi quá khích. Tiếp đến là một “căn bếp nhỏ” nơi họ có thể tự làm cho mình “những loại đồ uống nóng” khi họ “giao lưu với nhau” ở sảnh sinh hoạt chung. Đi đến đâu họ cũng thấy người ta mỉm cười chào ông hoặc hỏi khi nào thì ông chuyển đến. “Những người bạn mới của bố đấy.” Viola rạng rỡ nói.
“Những người bạn cũ của bố chẳng có vấn đề gì cả.” Teddy nói, chân ông bắt đầu nặng như chì.
“Chà, ngoại trừ việc hầu hết bọn họ đều đã chết.”
“Cảm ơn con vì đã nhắc bố.”
“Ổn chứ ạ?” Ann Schofield nói, ngoảnh lại nhìn họ khi cảm nhận được mối bất đồng giữa hai người.
Một người phụ nữ tập tễnh đi dọc theo hành lang về phía họ với sự trợ giúp của một cái khung tập đi. “Xin chào, ông đến nhập hội với chúng tôi, phải không?” Bà ta vui vẻ nói với Teddy. Cứ như ông đến gia nhập một giáo phái nào đó vậy. Teddy nhớ đến một chương trình ti vi từ thập niên sáu mươi mà Viola từng thích xem. Tù nhân. Trái tim ông chùng xuống. Đây sẽ là nhà tù của ông, không phải sao? Một nhà tù có giám thị.
Họ gặp thêm nhiều bà lão nữa - thực ra đâu đâu cũng thấy những bà lão. Lúc Teddy chuyển đến đây, ông nhận ra rằng hầu hết “cư dân” ở nơi này là phụ nữ. Họ thích ông, phụ nữ luôn thích ông. Đương nhiên ông vẫn còn khá nhanh nhẹn, hoạt bát và tài cán. Và những người phụ nữ này thuộc về cái thế hệ có thể bị ấn tượng chỉ bởi vì một người đàn ông biết cách bật hoặc tắt công tắc ấm đun nước. Ông khiến cho một vài trái tim mong manh ở Fanning Court phải run rẩy, nhưng ông đã cố hết sức để khéo léo tránh chuyện yêu đương hay dan díu. Vì mặc dù bề ngoài của nơi này có vẻ hoàn toàn êm đềm, nhưng bên dưới lớp sơn màu be của nó vẫn đầy rẫy những chuyện ngồi lê đôi mách và thói ghen ăn tức ở. Teddy, vẫn là một người đàn ông đẹp lão ở tuổi tám mươi (đặc biệt là trong mắt một người phụ nữ ở độ tuổi bảy mươi), đã vô tình khơi lên đủ loại cảm xúc mãnh liệt.
“Ông cho rằng ở độ tuổi của ông không còn nhiều đàn ông nữa.” Ông nói, biện giải cho một vụ xích mích.
“Ở độ tuổi của cháu cũng vậy.” Bertie nói.
“Đi nào, Ted!” Ann Schofield nói. “Còn nhiều thứ để xem lắm.” “Nhiều thứ để xem” ấy là một mảnh vườn nhỏ trồng theo phong cách đô thị. Vài cái ghế băng. Một bãi đỗ xe.
“Ồ, tôi không nghĩ bố tôi sẽ mang theo xe hơi.” Viola nói.
“Ồ, tôi nghĩ là có.” Teddy nói.
“Thiệt tình, bố à, bố đã quá tuổi lái xe rồi.” (Ông cho rằng Viola muốn lấy chiếc xe của ông. Xe của Viola rất hay bị hỏng.) Viola thích tranh luận về những vấn đề như thế này ở khu vực công cộng, nơi có khán giả để họ có thể thấy được cô có lý thế nào, còn các thành viên khác trong gia đình cô vô lý ra sao. Cô từng làm thế với Sunny suốt, khiến cho cậu bé tội nghiệp tức điên lên. Đến giờ cô vẫn làm vậy.
“Ồ, nhiều cư dân ở đây vẫn có xe mà.” Ann Schofiled nói, khiến Viola thất vọng.
Căn hộ này vừa bằng phòng khách của bà nội ông ở Hampstead. Đã lâu lắm rồi Teddy không nghĩ về bà cụ Adelaide, và ông ngạc nhiên khi thấy trong đầu mình vẫn còn in rõ một ký ức về cụ, đó là hình ảnh cụ mặc chiếc váy dài màu đen thời Victoria - cho dù đó là thập niên hai mươi - và phàn nàn về những đứa cháu nội ồn ào. Thời ấy nay đã xa lơ xa lắc rồi.
Ông nhớ rằng có một lần, trong một chuyến viếng thăm cực kì tẻ nhạt, ông và Jimmy đã len lén lên gác để khám phá phòng ngủ của bà cụ, nơi họ vốn dĩ bị cấm bén mảng đến. Ông nhớ cái tủ quần áo của bà cụ to kềnh càng, bên trong được lót bằng lụa xếp ly, sực nức mùi long não, oải hương và phảng phát mùi mốc meo. Hai người họ đã trèo vào bên trong tủ, mặt họ quệt mạnh vào những bộ quần áo lỗi mốt lạ lùng của bà cụ Adelaide. “Em không thích ở trong này đâu.” Jimmy thì thầm. Teddy cũng không thích nên bước ra ngoài trước, chẳng may va phải cánh cửa khiến nó đóng sầm lại. Phải loay hoay mất một lúc họ mới mở được nó ra lần nữa, vì tay cầm của nó được thiết kế khá kỳ cục.
Khi Jimmy cuối cùng cũng nhào ra, những tiếng thét kinh hãi của cậu bé Teddy lúc ấy đã triệu tập cả nhà đổ xô tới. Cụ Adelaide vô cùng phẫn nộ (“Mấy thằng nhóc tai quái này, mấy thằng nhóc tai quái này”), nhưng ông nhớ rằng Sylvie đã đưa tay lên bịt miệng mình để cụ Adelaide không thể nhìn ra là bà đang cười. Kể từ đó, Jimmy tội nghiệp không bao giờ thích nổi những không gian tù túng. Jimmy từng là lính biệt kích trong chiến tranh, từng đặt chân lên bãi biển Sword và tham gia những cuộc đụng độ nho nhỏ trên mảnh đất châu Âu hoang tàn sau Ngày Đổ Bộ trước khi theo Trung đoàn Chống tăng số 63 miệt mài chiến đấu trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến. Hẳn là Jimmy phải căm ghét khoảng không gian chật chội trong lòng những cỗ xe chống tăng ấy lắm. Ông đã ở trong Trung đoàn 63 khi họ giải phóng trại tập trung Bergen-Belsen, nhưng ông và Teddy chưa bao giờ nói về chuyện đó, họ hầu như chẳng nói gì về chiến tranh. Teddy ước gì họ đã nói về vấn đề ấy.
Trước khi ông phát hiện ra bí mật về Jimmy vào một ngày bất ngờ ngay sau khi chiến tranh kết thúc, hình ảnh những người đồng tính trong mắt Teddy là những anh chàng xinh đẹp, ẻo lả mà ông nhìn thấy ở Soho. Ông đã không nghĩ rằng những người đàn ông như thế có thể can đảm, táo bạo như những gì Jimmy đã thể hiện.
Jimmy đã mất từ lâu ở độ tuổi năm mươi vì bệnh ung thư hạch bạch huyết tiến triển nhanh. Khi nhận được chẩn đoán, ông đã lái xe ra khỏi đường đi và lao qua một vách đứng. Sống khoa trương, chết cũng khoa trương. Đương nhiên, ông sống ở Mỹ mà. Teddy đã không tới đám tang của em trai mà tới một nhà thờ địa phương, ngồi lặng lẽ suy nghĩ vào lúc Jimmy được chôn cất ở phía bên kia bờ Đại Tây Dương. Vài ngày sau, một lá thư màu xanh dương mỏng manh được gửi đến hòm thư của ông qua đường hàng không, như thể nó là một chiếc lá hiếm lơ lửng bay vào trong đó. Trong lá thư ấy, Jimmy đã nói lời vĩnh biệt. Ông viết rằng ông đã luôn yêu quý, ngưỡng mộ Teddy và Teddy luôn là người anh tốt của ông. Teddy nghĩ điều này không hoàn toàn đúng. Ông đã khá lơ là bổn phận của một người anh. Ông chưa bao giờ hỏi về cuộc sống đồng tính của Jimmy (thực ra là ông không muốn biết), và đã luôn nghĩ rằng (bây giờ ông sẵn sàng thừa nhận là ông đã rất hợm hĩnh) nghề nghiệp của Jimmy - trong ngành quảng cáo - là khá tầm thường. Ông đã cảm thấy thất vọng tương tự khi Bertie cũng làm việc trong ngành quảng cáo, cái ngành mà theo ông thấy chỉ khuyến khích người ta tiêu số tiền mà họ không có vào những thứ mà họ không cần. (“Đúng vậy ạ.” Bertie đồng ý.)
“Chà, Jimmy đã có một cuộc chiến khủng khiếp.” Ursula nói vào lúc bấy giờ. “Chị nghĩ sự tầm thường là một liều thuốc giải tốt dành cho nó.”
“Chúng ta ai cũng có một cuộc chiến khủng khiếp.” Teddy nói.
“Không phải ai cũng vậy.” Ursula nói. “Em thì có, chị biết.”
“Chị cũng thế mà.”
“Chúng ta đều có một công việc phải làm.” Ursula nói. “Và chúng ta đã làm nó.”
Ôi, ông nhớ chị ông quá! Trong số tất cả mọi người, trong đám đông người chết nhiều không đếm xuể, trong hằng hà sa số những linh hồn đã ra đi trước ông, việc mất đi Ursula khiến ông đau đớn hơn cả. Bà đã bị đột quỵ, gần ba mươi năm trước. Một cái chết nhanh gọn, ơn Chúa, nhưng hồi đó bà còn quá trẻ. Và bây giờ, Teddy đã quá già.
“Bố ơi?”
“Ơi, bố xin lỗi, bố mải nghĩ đến mấy chuyện.”
“Bà giám thị - Ann - đang giải thích về những sợi dây báo nguy.” Ôi trời, Teddy nghĩ.
Trong mỗi căn phòng đều có những sợi dây đỏ mảnh mai treo lủng lẳng trên trần. “Vì vậy nếu ông bị ngã…” Ann Schofiled nói. “… Ông có thể kéo một sợi để gọi trợ giúp.” Teddy không buồn hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu ông không ở gần một sợi dây khi bị ngã. Ông hình dung Ann Schofield lạch bạch chạy tới chỗ ông dọc theo những hành lang sơn màu hồng và màu be, ông nghĩ ông thích nằm yên ở chỗ ông bị ngã và chầm chậm trút hơi thở cuối cùng với chút kiêu hãnh còn sót lại hơn.
Ann Schofield gọi tòa cư xá này là “Fanning”, do đó Teddy cảm thấy nó nghe như một khách sạn ở Mayfair, nơi ông từng qua đêm với một cô gái. Ông không thể nhớ nổi tên của cái khách sạn đó (Hannings? Channings?) nhưng ông khá chắc chắn tên cô gái là Ivy. Họ đã va vào nhau trong màn đêm đen kịt, cả hai đều đang tìm kiếm một chỗ để ngả lưng vào đêm đó. Cô đang tìm kiếm Câu lạc bộ Công giáo ở phố Chester, còn Teddy không thể nhớ lúc ấy ông đang tìm kiếm cái gì, nếu có. Ông đã say còn cô cũng khá chếnh choáng, và họ đã bổ nhào (theo đúng nghĩa đen) vào cái khách sạn ấy.
Những gì ở hiện tại trở nên nhòe mờ - và ông cho rằng càng ngày chúng càng mờ mịt hơn - nhưng quá khứ lại sáng dần lên. Ông có thể nhìn thấy những bậc thềm bụi bặm của cái khách sạn ở London đó, thấy mái cổng màu trắng và cái cầu thang hẹp dẫn lên căn phòng áp mái ở tầng năm. Ông gần như có thể cảm nhận được vị bia mà họ đã uống. Có một chỗ trú ẩn dưới tầng hầm nhưng khi còi báo nguy vang lên, họ không đi xuống đó mà thò đầu ra ngoài cửa sổ trong không khí lạnh giá của màn đêm, ngắm nhìn cuộc oanh tạc. Khẩu đội pháo cao xạ ở công viên Hyde đang gây ra tiếng ồn đáng sợ. Bấy giờ ông đang nghỉ phép sau khi trở về từ khóa huấn luyện ở Canada, là một viên phi công chưa nhuốm máu trong cuộc chiến.
Cô đã đính hôn với một lính thủy. Ông tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với cô. Chuyện gì đã xảy ra với anh lính thủy của cô.
Ông từng nghĩ về cô một lần, trong một phi vụ tới Mannheim, khi họ băng qua vành đai đèn rọi dày đặc bảo vệ vùng Ruhr. Ông đã nghĩ không biết tình hình thế nào ở dưới mặt đất kia, mảnh đất của kẻ thù, có lẽ ở đó có hàng trăm cô nàng Ivy - những cô gái dễ thương với hàm răng hô như răng hươu và có vị hôn phu đang ở trên tàu ngầm - điều khiển những khẩu súng cao xạ của Đức, tất cả tập hợp lại với nhau để cố gắng giết chết ông.
“Bố ơi? Bố? Thật là! Bố chú ý giúp con được không ạ?” Viola đảo mắt về phía Ann Schofield, cố gắng tỏ ra vừa vui vẻ vừa trìu mến, mặc dù Teddy ngờ rằng cô chẳng hề có cả hai cảm giác đó. Một ngày kia, con cũng sẽ già, ông nghĩ, ơn Chúa là ông sẽ không còn có mặt trên cõi đời này để chứng kiến điều đó. Và Bertie nữa, thật buồn khi nghĩ rằng một ngày nào đó con bé có thể trở thành một bà lão vịn vào cái khung tập đi, nặng nề lê bước dọc theo những hành lang tẻ ngắt. Người ta sinh ra để chuốc lấy khổ đau. Đó là thơ của Hopkins, phải không nhỉ? Và ta đang khóc thương Margaret. Những câu thơ đó đã luôn làm ông xúc động, ông nhớ…
“Bố!”
Ông cho rằng đó là lỗi của ông. Ông đã trượt chân trên một mảng băng phủ trên mặt đường ở gần nhà và biết ngay rằng đó là một điều tồi tệ. Ông nghe thấy mình rú lên đau đớn và ngạc nhiên vì bản thân có thể phát ra một âm thanh như thế, ngạc nhiên vì chính ông đã phát ra nó. Kết cục là ông nửa nằm nửa ngồi trên vỉa hè. Hồi chiến tranh, máy bay của ông từng bị bắn hạ và bao trùm trong lửa, ông đã nghĩ sẽ chẳng còn chuyện gì tồi tệ hơn có thể xảy ra với ông. Nhưng cú ngã này đau đến không thể chịu đựng nổi.
Có mấy người hoàn toàn xa lạ chạy vội đến giúp ông. Ai đó gọi xe cứu thương. Một quý bà tự xưng là y tá khoác chiếc áo choàng của mình lên vai ông. Bà cúi xuống bên cạnh ông, bắt mạch cho ông rồi nhẹ nhàng vỗ lưng ông, như thể ông là một đứa trẻ còn ẵm ngửa. “Đừng cử động!” Bà nói. “Vâng.” Ông ngoan ngoãn đáp, khá vui mừng vì lần đầu tiên có người bảo ông phải làm gì. Bà nắm tay ông trong lúc họ đợi xe cứu thương tới. Chỉ là một hành động giản dị nhưng ông ngập tràn cảm kích. “Cảm ơn.” Ông lẩm bẩm khi cuối cùng cũng được đưa lên xe cứu thương. “Không có gì.” Bà nói. Ông chưa bao giờ biết tên bà. Có lẽ, nếu ông biết tên bà, ông sẽ gửi cho bà một tấm thiệp hoặc một bó hoa.
Ông đã bị gãy hông và cần phải phẫu thuật. Bệnh viện khăng khăng thông báo cho “thân nhân” của ông, mặc dù Teddy đã đề nghị họ đừng làm thế. Ông muốn lết đi và chữa lành những vết thương trong yên bình, giống như một con cáo hay một chú chó. Nhưng lúc tỉnh dậy sau khi thuốc mê hết tác dụng, ông có thể nghe thấy tiếng Viola lẩm bẩm: “Đây chính là sự khởi đầu của kết thúc.”
“Bố gần tám mươi rồi.” Cô nói, dùng giọng nói “lý lẽ” của mình. “Bố không thể đi lang thang khắp nơi như trước đây nữa.”
“Bố đang đi mua sữa ở cửa hàng ngay gần đây.” Teddy nói. “Thế đâu phải là “đi lang thang”.”
“Kể cả như thế. Việc đó sẽ càng ngày càng trở nên khó khăn đối với bố. Con không thể cứ chạy long sòng sọc tới mỗi lần bố làm gì ngớ ngẩn được.”
Teddy thở dài, nói: “Bố có bảo con đến đâu.”
“Ồ, thế bố không bảo con đến thì con sẽ không đến chắc?” Cô nói lý. “Bố nghĩ con sẽ không đến giúp bố khi bố bị tai nạn sao?”
Sau khi ra viện, ông phải chịu đựng sự có mặt của cô trong ba ngày. Suốt lúc đó, cô cứ cáu kỉnh nhặng xị lên về việc phải bỏ mặc lũ mèo để tới chăm sóc ông. Còn nữa, cô nói cô “ghét ở trong ngôi nhà này”. “Bố nhìn xem, mấy chục năm rồi mà bố chẳng sửa sang gì cho nó cả. Nó quá cổ lỗ rồi.”
“Bố mới là người cổ lỗ.” Teddy nói. “Bố không nghĩ đó là điều tồi tệ.”
“Bố thật vô lý.” Viola nói, quấn một lọn tóc nhuộm màu nâu đỏ quanh ngón tay (một thói quen khiến người khác khó chịu mà ông đã quên mất.)
Viola gọi điện cho Sunny và nói với cậu rằng cậu sẽ phải “dành ít thời gian” để chăm sóc ông ngoại. Mỗi lần nghĩ đến Sunny là Viola lại hoang mang kinh hãi. Sunny đã từng thử tự tử. Nhưng cậu không quyết tâm lắm nên chưa thể tự kết liễu cuộc đời mình. Có phải thế không? Nhỡ cậu tự tử thật thì sao? Nỗi kinh hãi siết chặt trái tim Viola. Cô nghĩ cô sẽ ngất đi mất. Cô biết Sunny bất mãn với cô, nhưng cô không biết phải làm gì.
Nỗi kinh hãi khiến cô trở nên tàn nhẫn. “Dù gì con cũng chẳng có việc gì khác để làm.” Cô nói với cậu.
Về phần Sunny, cậu thích khoảng thời gian được trở lại nhà của ngoại Ted. Đó là nơi duy nhất cậu từng vui vẻ, hạnh phúc.
Teddy ngủ trên chiếc trường kỷ ở dưới nhà trong khi Sunny chiếm cái phòng ngủ ấm cúng ở mặt sau của tầng trên, vốn là phòng ngủ của mẹ cậu và sau đó là phòng của Bertie hồi cô sống ở đây. Đương nhiên Sunny cũng từng sống ở đây, mặc dù không lâu bằng em gái, vì cậu từng buộc phải chịu đựng một mùa hè dài khủng khiếp ở trang viên Jordan. Cậu tự hỏi liệu có bao giờ cậu quên được quãng thời gian kinh hoàng ấy không.
Cậu thích căn phòng bé nhỏ này. Đây là nơi em gái cậu từng ngủ. Trước kia, đêm nào cậu cũng sang phòng của Bertie. Em gái cậu đã cứu rỗi cậu theo cách cơ bản nhất - hơi ấm và ánh sáng - nhưng bây giờ con bé đã đi rồi. Tới trường Oxford, một thế giới xa lạ. “Chúng tôi gửi gắm hy vọng của mình vào con bé đó!” Viola từng nói với bạn bè mình về Bertie như vậy. Như thể đó là chuyện thú vị. Càng tệ hơn nữa khi họ đều nghĩ rằng phụ nữ là “giống loài ưu việt hơn” (lại còn cái chuyện tào lao gì mà “con cá đi xe đạp[92]” nữa). Sunny dường như là bằng chứng sống cho điều này.
Đêm nào mùi lá cháy khét lẹt cũng lùa ra từ phòng ngủ của Sunny, bay xuống cầu thang khi Teddy đang mơ màng ngủ. Cần sa, ông nghĩ, mặc dù ông chẳng biết gì mấy về nó.
Sunny vẫn sống ở Leeds, cậu bị Viola bỏ lại khi cô chuyển tới Whitby. Hiện giờ cậu đang sống trong một căn hộ bừa bộn nhếch nhác ở Leeds với vài cậu thanh niên cùng trang lứa, tất cả đều quá vị kỷ nên cậu không thể coi họ là bạn bè.
Cậu đã bỏ học đại học (Ngành Nghiên cứu Truyền thông - “Ồ, thật trớ trêu.” Viola nói), và bây giờ có vẻ chẳng làm gì cả. Cậu rất vụng về. Dường như cậu chẳng có kỹ năng cần thiết nào để vượt qua những thử thách đơn giản của cuộc sống thường nhật. Cậu chơi ghi ta trong một ban nhạc, cậu nói, hay đúng hơn là hét vọng ra từ căn bếp nơi cậu đang đun một hộp đậu hầm để ăn trong bữa trà.
“Tốt lắm.” Teddy hét vọng lại từ phòng khách. Ông khá chắc chắn ông có thể ngửi thấy mùi món đậu hầm đang cháy.
Họ thường xuyên ăn đậu đóng hộp và spaghetti đóng hộp. Cả cá tẩm bột rán và khoai tây chiên nữa, Sunny đích thân đi mua chúng ở cửa hàng gần đây. Nếu không thì họ sẽ gọi đồ ăn tối từ các nhà hàng ở khắp thị trấn, thậm chí là khắp nơi trên thế giới - đồ ăn Ấn Độ, đồ ăn Trung Hoa. Họ rất hay ăn pizza. Lúc đầu Teddy không biết điều này, ông cứ nghĩ chỉ có những người phụ nữ từ tổ chức WRVS[93] mới có chương trình giao thức ăn đến tận nhà. “Dạ?” Sunny nói.
“Ông đùa ấy mà.” Teddy nói.
“Dạ?”
Tất cả khiến Teddy phải tốn bộn tiền. (Buộc phải vậy, giọng nói của mẹ ông vang lên trong đầu ông.) Sunny hoàn toàn không biết nấu nướng. Viola cũng là một đầu bếp tồi, cô chỉ biết nấu những món khó tiêu từ gạo lứt và đỗ. Viola đã nuôi dạy cả hai con thành người ăn chay, Bertie giờ vẫn vậy, nhưng Sunny dường như sẵn lòng ăn bất cứ thứ gì. Teddy nghĩ nếu ông có thể nhúc nhắc đi lại được, ông có thể dạy cậu vài món đơn giản - xúp đậu lăng, thịt bò hầm khoai tây, bánh ngọt Madeira. Cậu chỉ cần được khuyến khích một chút.
Thì ra Sunny có bằng lái xe tạm thời. Teddy cố không tỏ ra ngạc nhiên, ông đã quen nghe Viola kể về sự kém cỏi và thiếu óc sáng kiến của Sunny. “Tốt quá!” Teddy nói. “Xe của ông đang bị bỏ xó ở trong ga ra đấy, cháu hãy đưa nó đi một vòng. Mấy tấm bảng thông báo xe tập lái cũ của Viola cũng ở đâu đó trong đây thôi.” Viola từng chống đối quyết liệt sự hướng dẫn của ông.
“Thật ạ?” Sunny ngờ vực nói. “Mẹ cháu không chịu ngồi chung xe để kèm cháu lái nữa. Mẹ cháu nói mẹ cháu muốn chết vì tuổi già.” Teddy không nghĩ việc ngồi kèm Sunny lái xe có thể sánh nổi với việc bay hết đêm tối tăm này tới đêm tối tăm khác vào sâu trong lòng địch - những kẻ chỉ có một khao khát duy nhất là giết chết ông - vì thế ông nói: “Nếu cháu không thực hành thì làm sao thành thạo được. Đi nào!” Phải có người tin tưởng thằng bé chứ, Teddy nghĩ. Họ nhét cái xe lăn mà NHS[94] cho ông mượn vào cốp xe rồi khởi hành.
Họ kết thúc cuộc hành trình ở Harrogate, một thị trấn mà Teddy yêu thích. Ông đã thường xuyên đến đó, cả trong chiến tranh lẫn khoảng thời gian sau này. Họ đỗ xe ở trung tâm thị trấn, mặc dù phải loay hoay rất lâu mới đỗ được xe vào đúng vị trí, vì Sunny có vẻ không phân biệt được sự khác nhau giữa trái và phải, tiến và lùi. Nhưng cậu lái xe không tồi - cậu lái chậm chạp và không dứt khoát, nhưng tinh thần cậu vững vàng hơn khi cậu nhận ra Teddy sẽ không quát mắng mình từ đầu đến cuối như Viola. “Trăm hay không bằng tay quen.” Teddy động viên cậu.
Họ ăn một bữa trưa ngon miệng ở tiệm Betty’s rồi đi vào Valley Gardens. Đây đó, những chồi non đầu tiên của mùa xuân đã nhú mình xuất hiện trở lại trên nền đất ẩm ướt, trấn an người ta rằng thời tiết lạnh giá sắp kết thúc. Sunny thường đẩy xe lăn hơi quá nhanh. Teddy ước gì ông cháu họ có thể đổi chỗ cho nhau một lúc để Sunny có thể trải nghiệm cảm giác không thoải mái khi chiếc xe lăn đi qua gờ đường và những chỗ gồ ghề, nhưng nhìn chung Teddy khá hài lòng với chuyến đi này. “Cháu có biết ông muốn làm gì trước khi chúng ta quay về không?” Ông nói khi họ quay đầu xe theo hình chữ U (hơi đáng sợ) và hướng về thị trấn của họ.
“Tới nghĩa trang ạ?” Sunny nói. Thì ra cậu chưa bao giờ tới nghĩa trang. Cậu đã không có mặt trong đám tang của bố cậu và cũng không có người quen nào khác bị chết cả.
“Stonefall.” Teddy nói với cậu. “Nghĩa trang Liệt sĩ của Khối thịnh vượng chung. Những người được mai táng ở đây chủ yếu là người Canada. Vài người Úc và Newzealand, một số ít người Mỹ và Anh.”
“Ồ!” Sunny nói. Thật khó để khơi gợi sự hứng thú của cậu.
Một cánh đồng dành cho người chết. Những hàng mộ chí màu trắng ngay ngắn - giống như những cái gối cứng trên chiếc giường xanh của họ. Các thành viên của một tổ bay được chôn cất cạnh nhau, kề vai sát cánh bên nhau trong thế giới bên kia giống như họ đã từng gắn bó ở thế giới này. Phi công, cơ khí viên, hoa tiêu, điện đài viên, xạ thủ, lính cắt bom. Hai mươi tuổi, hai mốt tuổi, mười chín tuổi. Bằng tuổi Sunny. Teddy từng biết một cậu bé khai man tuổi của mình để đủ điều kiện làm phi công trên một chiếc máy bay Halifax khi mới mười tám tuổi. Cậu chết khi tròn mười chín. Liệu Sunny có thể làm được điều mà cậu bé ấy đã làm không? Điều mà tất cả bọn họ đã làm? Ơn Chúa là cậu không phải làm vậy.
“Họ chỉ là những cậu trai trẻ.” Teddy nói với Sunny. Nhưng họ cứ như những người đàn ông trưởng thành, họ đã làm công việc của người đàn ông trưởng thành. Họ càng trẻ hơn trong mắt Teddy khi ông trở nên già đi. Họ đã hy sinh cuộc đời của họ để Sunny có thể sống cuộc đời của cậu - cậu có hiểu được điều đó không? Teddy cho rằng ta không nên mong đợi lòng biết ơn. Bản chất của sự hy sinh là cho đi chứ không phải nhận lại. “Hy sinh…” Ông nhớ Sylvie từng nói. “… Là một từ khiến người ta cảm thấy việc giết chóc là cao cả.”
“Đây không phải là những tổ bay bị bắn hạ trên lãnh thổ của kẻ địch.” Teddy nói với Sunny. Đây chỉ là (chỉ là!) những người chết trong các chuyến bay huấn luyện - tổng cộng hơn tám nghìn người. (Bố lại giảng về lịch sử rồi, ông nghe thấy giọng nói của Viola vang lên trong đầu.) “Có vài người trong số họ chết khi máy bay rơi xuống mặt đất trên đường trở về, hoặc chết ở bệnh viện Harrogate sau đó vì những vết thương mà họ trúng phải trong một cuộc không kích.” Nhưng Sunny đã cất bước thong thả dọc theo các hàng mộ. Vai nhô lên, đầu cúi xuống, cậu dường như không bao giờ thực sự nhìn vào thứ gì. Có lẽ cậu không muốn nhìn.
“Ít nhất họ cũng có mộ phần, ông cho rằng như thế cũng tốt rồi.” Teddy tiếp tục nói với Sunny cho dù cậu dường như đã ở ngoài tầm nghe. Đó là một mánh khóe mà ông biết được từ hồi Sunny còn nhỏ. Cậu có thể tỏ ra là mình không lắng nghe nhưng thính giác của cậu tinh nhạy như một chú chó, và Teddy luôn hy vọng cậu sẽ tiếp thu được kiến thức bởi sự thẩm thấu thay vì một quá trình xử lý thông tin diễn ra trong não bộ. “Hơn hai mươi nghìn tổ bay của những chiếc máy bay ném bom không có mộ phần.” Ông nói. “Ở Runnymede có một đài tưởng niệm.” Dành cho những người không có chiếc gối bằng đá để tựa đầu ngơi nghỉ, tên của họ được viết trên mặt nước, bị đốt trên mặt đất, bị tán nhỏ vào thinh không. Nhiều không đếm xuể.
Teddy đã tới thăm đài tưởng niệm ngay sau khi nó được Nữ hoàng trẻ tuổi khánh thành vào năm 1953. “Sao anh không cho em đi cùng nhỉ?” Nancy đã nói. “Chúng ta có thể coi nó là một kỳ nghỉ cuối tuần. Ở tại Windsor hoặc lên London.” Ông đã cố giải thích rằng đó là một chuyến hành hương chứ không phải một kỳ nghỉ. Rồi khi ông đi một mình thật, Nancy chẳng buồn chào tạm biệt ông. Bà nói ông đã “nhốt bà bên ngoài” cuộc chiến của ông, ông đã thấy điều này thật nực cười vì chính bà cũng giấu kín cuộc chiến của mình. Chưa kể, vào những dịp hiếm hoi họ gặp nhau trong chiến tranh, bà cứ liên tục giục ông quên đi chuyện chiến sự để họ có thể tận hưởng thời gian bên nhau. Bây giờ ông mới cảm thấy hối tiếc. Tại sao lúc đó họ không biến chuyến đi ấy thành một kỳ nghỉ cuối tuần?
“An toàn trong căn buồng thạch cao tuyết hoa.” Ông nói với Sunny khi cậu thơ thẩn quay lại.
“Dạ?” Sunny nói.
“Chẳng thứ gì có thể chạm đến, dù là buổi sáng hay buổi trưa, ngủ một giấc đến thời điểm phục sinh hẵng dậy, dưới xà nhà bằng xa tanh và mái nhà bằng đá. Thơ của Emily Dickinson. Thật buồn cười là chính mẹ cháu đã “giới thiệu” bà ấy với ông. Bà ấy là một nhà thơ.” Ông nói thêm khi Sunny tỏ vẻ ngơ ngác, như thể cậu đang thầm rà soát trong đầu danh sách người quen của Viola để tìm một bà Emily Dickinson. “Bà ấy mất rồi. Là người Mỹ.” Teddy bổ sung. “Khá dị, cháu có thể thích bà ấy. Tôi nghe thấy tiếng ruồi vo ve khi tôi chết.” Sunny ngẩng đầu lên.
“Ông sẽ đi bộ một chút.” Teddy nói. Sunny giúp ông đứng dậy và dìu ông tập tễnh bước chầm chậm dọc theo những dãy người chết.
Ông muốn nói chuyện với cháu trai về những người đàn ông này. Về việc họ bị lão cáo già Churchill[95] phản bội ra sao - ông ta thậm chí chẳng hề nhắc đến họ trong bài diễn văn mừng ngày Chiến thắng, việc họ chẳng được trao huân chương hay lập đài tưởng niệm, và việc Harris[96] bị bêu riếu vì một chính sách mà ông ấy không đề ra, mặc dù vào cuối cuộc chiến chính ông ấy đã thực thi nó bằng lòng nhiệt huyết đáng thương. Nhưng điều đó phỏng có ích gì? (Lại giảng về lịch sử rồi.)
“Vậy…” Sunny nói, cọ mũi giày lên một tấm bia mộ. Đôi giày của cậu lem luốc, xấu xí, trông như đôi giày của một người lính nhảy dù. “Vậy là ông đã nhìn thấy, ờ… những chuyện thực sự tồi tệ?”
“Những chuyện tồi tệ ư?”
Sunny nhún vai. “Rùng rợn.” Cậu lại nhún vai. “Khủng khiếp.”
Teddy không thực sự hiểu sức hút của mặt tối đối với giới trẻ ngày nay. Có lẽ vì chúng chưa từng trải qua nó. Chúng lớn lên trong một thế giới tươi sáng và có vẻ quyết tâm tự tạo ra bóng tối cho mình. Ngày hôm qua, Sunny đã thú nhận rằng cậu “rất thích” làm ma cà rồng.
“Gớm ghiếc.” Cậu nói thêm, như thể Teddy không hiểu ý nghĩa của từ “rùng rợn” và “khủng khiếp”. Teddy nghĩ về thầy hướng dẫn bay người Canada bị bay hết da thịt và tất cả những chuyện “khủng khiếp” đã xảy ra sau đó. Chúc anh may mắn. Một cái cánh quạt bay vun vút trong không trung. Tên của cô gái WAAF[97] đó là gì nhỉ? Hilda chăng? Phải, là Hilda. Cô ấy có dáng người cao ráo, khuôn mặt tròn trĩnh, bầu bĩnh. Cô ấy thường chở họ tới địa điểm lên máy bay. Cô ấy là một người bạn tốt của Stella. Stella là một điện đài viên, chủ nhân của giọng nói truyền cảm chào đón những tổ bay mệt mỏi trở về từ những phi vụ. Ông từng thích Stella và nghĩ rằng giữa họ có thể nảy sinh thứ gì đó, nhưng rốt cuộc chẳng có gì cả.
Hilda là típ người vui vẻ. “Chúc may mắn, các chàng trai!” Bây giờ ông vẫn có thể hình dung ra cô đang nói thế. Lúc nào cũng thấy cô đói. Khi họ trở về, nếu còn tí đồ ăn nào, họ đều đưa hết cho Hilda. Sandwich, kẹo, bất cứ thứ gì. Teddy bật cười. Quả là kỳ cục khi nhớ đến điều đó.
“Ngoại ơi?”
Chuyện xảy ra ngay trước khi chiến tranh kết thúc, trước trận Nuremberg. Khi ấy ông đã ra địa điểm lên máy bay và nói chuyện với một thợ lắp ráp về chiếc F-Fox, chiếc phi cơ của ông lúc bấy giờ. Họ cùng dõi theo một chiếc phi cơ khác đang tiến đến gần, một chiếc máy bay trở về rất muộn từ phi vụ đêm hôm trước. Nó có vẻ đã bị trúng đạn, chắc chắn nó sẽ bị rung lắc dữ dội khi hạ cánh. Và Hilda đang thong thả đạp xe dọc theo đường vành đai. Đó là một phi trường rộng mênh mông, mọi người đều đạp xe. Ngay cả Teddy cũng có một chiếc xe đạp cũ kĩ cọc cạch, mặc dù với tư cách trung tá không quân, ông được phép sử dụng một chiếc xe hơi của RAF. Ông đã tự hỏi Hilda đang làm gì ở ngoài đó. Ông sẽ không bao giờ biết câu trả lời. Chiếc máy bay bị trúng đạn gào rú lao về phía đường băng, nhưng Hilda chẳng thèm liếc nhìn nó. Cô nhìn thấy Teddy và giơ tay lên vẫy. Cô chẳng hề thấy chiếc cánh quạt trên máy bay bị bật tung, một lưỡi cánh quạt văng ra, lao đi vun vút trong không trung với tốc độ đáng kinh ngạc. Nó giống như hạt giống khổng lồ của một cây sung dâu, cứ liên tục xoay vèo vèo, nhanh đến nỗi cả Teddy lẫn người thợ lắp ráp đều chẳng kịp phản ứng. Họ còn chẳng kịp hét lên: “Coi chừng!” Hilda không nhìn thấy cái lưỡi cánh quạt ấy bay về phía mình, Teddy cho rằng đó chính là vấn đề. Đó là một vận xui, chỉ chệch đi vài phân và vài giây thôi thì Hilda đã thoát nạn. “Rủi là cô ấy quá cao.” Sau đó, người thợ lắp ráp nói, hoàn toàn thực tế.
“Ngoại ơi?”
Bị mất đầu. Lưỡi cánh quạt đã phạt đứt đầu của Hilda. Ông nghe thấy tiếng thét chói tai của một cô gái WAAF, to hơn cả tiếng ồn khủng khiếp của chiếc máy bay đang lồng lộn trên đường băng. Người lính cắt bom bị chết trong cú va chạm, hoa tiêu trên máy bay đã chết vì bị trúng đạn pháo của hỏa lực phòng không ở đâu đó trên bầu trời vùng Ruhr. Chuyện đó có vẻ chỉ là thứ yếu. Các cô gái WAAF chạy ào về phía Hilda, vừa la hét vừa gào khóc. Teddy yêu cầu họ giải tán, trở về chỗ nghỉ của họ rồi ông đi ra, nhặt cái đầu lên. Có vẻ sai trái nếu mong ai khác làm việc đó. Bánh xe đạp của cô ấy vẫn còn quay.
Đó chỉ còn là một cái đầu, không còn là Hilda nữa. Chẳng thể nghĩ nó liên quan gì với Hilda bầu bĩnh, vui vẻ. Đêm hôm sau, ông đưa Stella đến một buổi khiêu vũ ở phi đoàn bên cạnh, nhưng giữa họ chẳng có gì tiến triển.
“Ngoại ơi?”
“Trong chiến tranh có rất nhiều chuyện khủng khiếp xảy ra, Sunny ạ. Nhớ đến chúng chẳng ích lợi gì. Tốt hơn hết là nên tránh những ý nghĩ tăm tối.”
“Ông đang tìm ai à?” Sunny hỏi.
“Ừ.”
“Ở đây họ không có, ờ, bản đồ ạ?”
“Có lẽ là có đấy.” Teddy nói. “Nhưng nhìn kìa, ông tìm thấy ông ấy rồi.”
Ông dừng lại trước một tấm bia mộ viết “Trung sĩ Không quân Keith Marshall RAAF[98]. Lính cắt bom” và nói: “Chào Keith.”
“Ông ấy không được chôn cùng tổ bay của mình.” Sunny nói, xấu hổ vì đang ở cùng một người đàn ông nói chuyện với người chết, mặc dù trong nghĩa địa hiện chỉ có hai ông cháu họ.
“Ừ. Những người còn lại trong tổ bay vẫn ổn. Ông ấy chết khi bọn ông bị tấn công trên đường từ Thành phố Lớn quay lại phi trường - hồi ấy bọn ông thường gọi Berlin bằng cái tên ấy. Thi thoảng có những chiếc máy bay xâm phạm - của Đức - ẩn mình trong đội hình máy bay ném bom trên đường về nhà. Đó là một trò hèn hạ. Ông ấy là bạn của ông, một trong những người bạn tốt nhất mà ông từng có.”
“Ông còn muốn tìm ai nữa không ạ?” Sunny hỏi sau vài phút kìm nén sự nóng ruột một cách quả cảm.
“Không, không còn ai nữa cả.” Teddy nói. “Ông chỉ muốn cho Keith biết rằng có người đang nghĩ về ông ấy.” Ông cười với cháu trai và nói: “Về nhà thôi, James. Đừng buông tha lũ ngựa[99].”
“Dạ?”
Lúc này, trời bắt đầu tối và Sunny nói: “Cháu chưa bao giờ lái xe vào ban đêm.”
“Cái gì cũng phải có lần đầu tiên.” Teddy nói. Dĩ nhiên, đôi khi lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng. Hành trình trở về hơi rợn tóc gáy nhưng Teddy quyết tâm giữ vững bình tĩnh để khuyến khích sự tự tin của Sunny. Teddy ngạc nhiên khi Sunny hỏi: “Thế hồi trước ông làm gì? Ông lái máy bay ném bom à? Ông là phi công sao?”
“Ừ.” Teddy nói. “Ông là phi công của một chiếc máy bay ném bom Halifax. Những chiếc máy bay ném bom được đặt tên theo những thành phố của nước Anh - Manchester, Stirling, Wellington, Lancaster. Halifax. Dĩ nhiên, những chiếc Lancaster đã chiếm trọn vinh quang. Chúng có thể bay cao hơn và chở được khối lượng bom nặng hơn. Nhưng thực tế, vào giai đoạn cuối cuộc chiến, khi những chiếc Halifax được lắp động cơ Bristol, chúng có thể sánh ngang những chiếc Lancaster. Bọn ông yêu những chiếc “Halibag” cũ. Sau chiến tranh, những chiếc Lancaster trở nên nổi tiếng còn bọn ông cứ như những cô phù dâu vậy. Trong tình huống phải thoát ra ngoài khẩn cấp, khả năng sống sót của cháu sẽ cao hơn nếu cháu bay trên một chiếc Halifax. Máy bay Lancaster thì có cái xà dọc to tướng chết tiệt ở giữa và…” Sunny đột nhiên lạng xe qua hai làn đường. May là con đường gần như vắng tanh. (“Ối!”) Teddy không biết đó là vì Sunny đang cố tránh thứ gì hay vì cậu đã ngủ gật. Teddy cho rằng mình nên ngậm miệng lại. Giọng nói của Nancy từ nơi xa xăm vọng về với ông. Hãy nói chuyện gì đó thú vị hơn chuyện ném bom. Ông thở dài và lẩm bẩm: “Thermopylae”.
“Dạ?”
Khi họ cuối cùng cũng về đến nhà, Teddy nói: “Cháu đã làm rất tốt, Sunny. Cháu sẽ trở thành một người lái xe rất giỏi.” Tốt hơn hết là luôn khen ngợi thay vì chê bai. Vả chăng, cậu đã làm tốt thật. Sunny làm sandwich kẹp thịt xông khói (cậu đang tỏ những dấu hiệu tiến bộ nhất định trên mặt trận bếp núc) và họ vừa ăn vừa xem ti vi, mỗi người còn uống một ly bia để chúc mừng chuyến trở về an toàn. Lần đầu tiên trong hàng thập kỷ nay, Teddy nghĩ ông cần một điếu thuốc lá. Ông kháng cự lại sự cám dỗ ấy. Ông mệt lử và ngủ thiếp đi trên xô pha trước cả khi uống hết ly bia hoặc chương trình Bữa tiệc tại nhà của Noel kết thúc.
Đáng lẽ ông nên chuyển nhà về lại vùng đồng quê khi Viola đã đủ lông đủ cánh và đi học đại học. Một nơi nào đó không xa lắm, có lẽ là Hambledon Hills. Một ngôi nhà tranh nhỏ bé. (Ông trìu mến nghĩ về Nhà Chuột.) Nhưng thay vì thế ông đã ở lại đây và ì ạch lê bước, bởi vì thứ gì đó mách bảo ông rằng đây là cuộc sống mà ông phải sống. Và ông thích York, thích mảnh vườn của ông. Ông có bạn bè, ông tham gia vài câu lạc bộ. Ông là thành viên của một hội khảo cổ học và thường đi đào bới với họ. Rồi câu lạc bộ ngao du, nhóm nghiên cứu chim. Ông thích hoạt động đơn lẻ hơn, vì việc trở thành thành viên của một hội nhóm có vẻ khoác lên cho ông khá nhiều trách nhiệm, nhưng ông có thể làm tròn những trách nhiệm ấy và phải có ai đó làm thế chứ, nếu không thế giới này sẽ sụp đổ mất. Ông đã không nghĩ rằng làm việc cho một tờ báo tỉnh lẻ là công việc vất vả nhất trên đời, vì vậy, khi nghỉ hưu, ông vô cùng kinh ngạc khi thấy mình đột nhiên có nhiều thời gian rảnh rỗi. Có lẽ là quá nhiều.
“Còn những thứ này thì sao ạ?” Viola hỏi, chỉ vào cái giá sách cất giữ Những cuộc phiêu lưu của Augustus. “Bố nghĩ ta có thể bán lại chúng không? Ý con là chúng đã hết thời nhiều năm rồi. Chúng lại còn được đề tặng riêng cho bố nữa chứ - con cho rằng điều đó làm giảm giá trị của chúng. Nhưng bố có nguyên một bộ, vì vậy ai đó có thể hứng thú với chúng.”
“Bố chính là người có hứng thú với chúng.” Teddy nói.
“Nhưng bố chưa bao giờ thích chúng.” Viola nói. “Bố thậm chí chưa từng đọc chúng.”
“Có, bố đã đọc rồi.”
“Chúng vẫn còn nguyên như mới.”
“Đó là vì bố được dạy phải giữ gìn những cuốn sách.” Teddy nói. Đương nhiên là Viola cũng được dạy như vậy, nhưng cô là một độc giả cẩu thả. Khắp các trang sách của cô dây bẩn nào là đồ ăn, thức uống, bãi nôn của mèo và có Chúa mới biết là còn những gì nữa. Cô luôn đánh rơi chúng vào bồn tắm hoặc để quên chúng ngoài trời mưa. Hồi còn nhỏ, cô thường ném chúng vèo vèo như thể chúng là những quả tên lửa mỗi khi cô tức giận. Teddy từng bị sách của Enid Blyton va vào trán không chỉ một lần. Cuốn Vùng đất xa xăm suýt chút nữa đã làm gãy mũi ông. Ông sẽ không ngạc nhiên nếu cô vẫn còn thói ném đồ. Teddy cho rằng cô dễ tức giận như vậy bởi vì cô đã mất mẹ. Ông lại tự coi mình là một nhà tâm lý nữa rồi. (“Còn cháu thì tức giận vì cháu có một người mẹ.” Bertie nói.) Sylvie chưa bao giờ tán thành những lý thuyết về cú sốc thời thơ ấu. Bà nói con người ta sinh ra đã vậy, giống như một món quà được gói ghém hoàn thiện, chờ đợi được mở ra. Thế hệ của mẹ ông dường như không phải chịu đựng cảm giác tội lỗi.
Teddy đi lấy một cái hộp rỗng và bắt đầu bỏ các cuốn sách về Augustus vào trong đó. Đã lâu lắm rồi ông chưa mở ra cuốn nào. Izzie viết cuốn cuối cùng vào năm 1958. Chúng đã không còn được bán từ lâu lắm rồi, tính cho đúng ra là từ hồi chiến tranh. Thời hoàng kim của Augustus là khoảng thời gian giữa các cuộc chiến. Augustus Edward Swift sống vào quãng năm 1926-1939. Đương nhiên, Augustus tội nghiệp đã bị “khai tử” từ lâu trước khi Izzie qua đời vào năm 1974. Phiên bản của cậu ta trong suy nghĩ của Teddy thì vẫn còn tồn tại lay lắt, thi thoảng lại ngóc đầu dậy. Có phải bây giờ cậu ta đã là một ông già? Cậu ta có đang quẫy đạp và la hét vì bị lôi xềnh xệch tới một khu cư xá dành cho người cao tuổi, một điếu thuốc lá ngậm ở khóe miệng, chiếc quần lấm lem và cằm mọc đầy râu?
Teddy đã tới thăm Izzie trước khi bà mất vài ngày. Lúc đó bà đã khá lẫn. Bây giờ thật khó để hình dung về bà, chỉ còn lại những ấn tượng, cái miệng đỏ chót phàm ăn, nước hoa, những điệu bộ màu mè. Có lúc bà đã muốn nhận nuôi ông. Nếu ông làm con nuôi của bà, liệu cuộc đời ông có khác đi không hay nó vẫn sẽ y chang như cũ?
Trong di chúc, Izzie trao bản quyền những cuốn sách về Augustus cho Teddy. Nó hầu như chẳng có giá trị gì. Phần tài sản còn lại của bà, chủ yếu bao gồm ngôi nhà ở Holland Park, được trao cho “cháu nội tôi”, một người phụ nữ ở Đức mà họ chưa bao giờ nghe nói đến. “Để bù đắp.” Di chúc viết.
Pamela, Teddy và con gái của Pamela là Sarah đã kiểm kê mọi thứ trong ngôi nhà sau đám tang của Izzie. Một công việc giống như ác mộng. Họ đã tìm thấy một tấm huân chương Croix de Guerre dưới đáy hộp trang sức của bà. Quả là một chuyện khó tin. Hai bí mật này - cô cháu gái người Đức và tấm huân chương Croix de Guerre - đã nói lên bản chất bí hiểm không thể hiểu thấu của Izzie. Nếu Ursula vẫn còn sống, với tâm hồn của một thám tử, bà chắc chắn sẽ tìm hiểu tường tận cả hai chuyện đó. Còn Teddy bấy giờ chẳng thấy hứng thú (giờ ông mới hối hận). Chẳng bao lâu sau, Pamela bắt đầu lộ những triệu chứng của bệnh Alzheimer. Pammy tội nghiệp, bà đã phải sống phần đời còn lại trong cảnh ảm đạm. Thế là những bí ẩn đầy mâu thuẫn ở con người Izzie chẳng bao giờ được làm sáng tỏ, hẳn là bà cũng thích như vậy.
Ông gói bức chân dung chụp trong studio mà Cecil Beaton[100] đã chụp Izzie sau thành công rực rỡ đầu tiên của bà. Trong bức chân dung ấy, Izzie trông như một ngôi sao điện ảnh. Hình ảnh bà không được tự nhiên vì đã được xử lý kĩ lưỡng. “Nhưng quyến rũ.” Bertie nói. “Ừ, ông cũng nghĩ vậy.” Teddy nói. Ông đưa cho Bertie bức ảnh này khi cô tới Fanning Court thăm ông lần đầu tiên. “Nhưng mẹ ông mới là người đẹp.” Ông nói. Ông nhớ đến thi hài của Sylvie trong cỗ quan tài mở nắp để mọi người ngắm bà lần cuối. Những dấu vết của năm tháng đã rơi khỏi mặt bà và Bea đã bám chặt cánh tay ông, chỉ hai người họ, như thể họ đang ở một cuộc triển lãm riêng tư (ông cho rằng đúng là vậy). Tại sao lại là Bea nhỉ? Hôm đó Nancy đang ở đâu? Ông không thể nhớ nổi. Đương nhiên, Bea nay cũng mất rồi. Ông đã luôn quý mến bà, quý mến đến mức có lẽ chính bà cũng không ngờ đến. Lạy Chúa kính yêu, Teddy nghĩ, thôi nhớ về những người chết. Ông cất bức chân dung do Beaton chụp cùng chỗ với những cuốn sách về Augustus và dán băng dính để niêm phong cái hộp lại. “Bố sẽ mang chúng theo.” Ông quả quyết nói với Viola.
“Sunny đâu ạ?” Viola hỏi.
Ừ nhỉ, Sunny đâu rồi?
Dạo gần đây tôi đã đôi ba lần nhìn thấy một con cáo đực to lớn, nhưng hôm nay là một buổi chiều nóng nực nên hẳn là nó đang nằm dưới bóng râm y như hầu hết các sinh vật khác. Con cáo vốn mang tiếng xấu. Một tên trộm láu cá và thường là duyên dáng trong truyện ngụ ngôn và truyện cổ tích, cái tên của nó đại diện cho sự khôn lỏi (và đôi khi là thông minh). Một kẻ vô đạo đức, lừa đảo và thi thoảng tà ác. Nhà thờ Thiên Chúa giáo thường ví con cáo với quỷ sứ. Trong nhiều nhà thờ ở vùng này, bạn sẽ tìm thấy những hình ảnh về con cáo mặc áo chùng của thầy tu đang thuyết giáo cho một bầy ngỗng. (Có một bản khắc gỗ tuyệt đẹp trong thánh đường ở Ely.) Con cáo là một loài thú ăn thịt quỷ quyệt, gian xảo, vô đạo đức, vô lương tâm, còn bầy ngỗng là những kẻ ngây thơ…
Cậu đang ở trên tầng áp mái, thật không thể tin nổi, nơi này thậm chí còn nhiều hộp “rác” hơn. Không khí ở đây dày đặc sự hoang phế. Có một cái hộp chứa đầy thứ này - những tờ giấy pơluya mốc meo chi chít những hàng chữ đã phai màu được đánh máy kiểu cách dòng đơn. Có vài tờ cậu đọc mà chẳng hiểu gì, vì vậy Sunny kết luận có lẽ đó là thơ.
Căn phòng áp mái này giống như một viện bảo tàng bị quên lãng, phủ đầy bụi và gỉ sét. Sunny không thích bầu không khí trong các viện bảo tàng nhưng cậu thích ý tưởng sưu tầm, chẳng hạn như những khay bướm và côn trùng hay những cái tủ xếp đầy những viên đá. Cậu thích những cuốn sách về Augustus, mặc dù cậu sẽ không nói thế. Thứ cậu thích không phải nội dung bên trong mà chỉ là vẻ ngoài giống nhau của chúng. Mỗi quyển đều có một con số trên gáy, nếu ta xếp chúng thành hàng, ta có thể đếm được từ một đến bốn mươi hai. Hồi cậu còn bé, cậu sưu tầm đá, cuội và những hòn sỏi trên đường, bất cứ thứ gì. Đến giờ, thi thoảng cậu vẫn cảm thấy nỗi thôi thúc muốn nhặt một hòn đá và cho vào trong túi quần.
Mỗi lần cậu lấy những tờ giấy ra, một lớp bụi mỏng, giống như đá talc màu xám, lại lả tả trút xuống. Cậu đọc một cách chậm rãi, môi cậu mấp máy từng từ như thể cậu đang suy luận ý nghĩa của một thứ tiếng nước ngoài.
Chuồng ngựa nơi Thánh gia[101] đang trú ngụ trong đêm chỉ có một đống lửa nhỏ lập lòe chực tắt. Trong số nhiều sinh vật nhỏ bé tới đây để chia vui sự xuất hiện của Đấng Cứu thế, có một con chim cổ đỏ. Khi nhìn thấy đứa bé tím tái vì lạnh, nó bèn đến đứng trước ngọn lửa yếu ớt, dùng đôi cánh của mình để quạt cho ngọn lửa bùng lên. Trong lúc làm vậy, ngực của nó đã bị cháy và vĩnh viễn mang màu đỏ, dấu hiệu để người ta tưởng nhớ đến công ơn của nó.
Có rất nhiều bài viết như thế này. Ở cuối mỗi bài đều được đánh máy chữ “Agrestis”. Chẳng biết nó có nghĩa là gì. Mỗi bài viết là một chủ đề khác nhau - “lùng sục hoa anh thảo”, “sự trở lại đáng hoan nghênh của mùa xuân”, “sắc vàng rực rỡ của thủy tiên hoa vàng”, “con rái cá với bộ “quân trang” bóng nhẫy”, “bông hoa giọt tuyết với sắc trắng tinh khôi nhất”. Lũ thỏ rừng - “những sứ giả Celtic của Eostre, nữ thần mùa xuân” - đang đấm bốc trên một cánh đồng. Thỏ rừng đấm bốc ư? Sunny tự hỏi. Chúng thi tài với nhau hay sao?
Một cái hộp ẩm mốc khác đựng đầy nút áo và đồng xu cũ. Một hộp giày đựng các bức ảnh. Cậu hầu như chẳng nhận ra ai trong những bức ảnh ấy. Trong số chúng có rất nhiều tấm ảnh đen trắng nhỏ xíu mà Sunny có cảm giác là có từ thời tiền sử. Đến thập niên bảy mươi, chúng đã có màu. Có vài tấm ảnh vuông nhỏ xíu đã ngả vàng chụp cậu và Bertie trong mảnh vườn của Teddy. Họ mặc những bộ đồ xanh xanh đỏ đỏ trông như những chú hề. Cảm ơn, mẹ Viola, cậu cay đắng nghĩ. Thảo nào hồi nhỏ cậu bị bắt nạt. Có bức ảnh cậu và Bertie đang đứng trước một luống hoa với Tinker ngồi giữa họ. Trái tim cậu hơi thắt lại. Cậu đã khóc khi ông cậu nói với cậu rằng Tinker đã chết. Cậu lấy tấm ảnh ấy và nhét vào trong túi quần.
Có một cái hộp khác nhỏ và hoen gỉ. Khi mở nó ra, cậu thấy bên trong có những tấm huân chương. Có lẽ chúng là của ông ngoại cậu từ hồi chiến tranh. Ngoài ra còn có một con sâu bướm nhỏ bằng vàng. Một con sâu bướm ư? Một tấm thiệp nhỏ, đã mủn đi theo thời gian - một tấm “thẻ thành viên Câu lạc bộ Sâu bướm” viết rằng nó được dành cho “W/C[102] E. B. Todd”. Một tấm thẻ thành viên khác của “Câu lạc bộ Cá vàng” dành cho “P/O[103] E. B. Todd”. Những chữ cái bí ẩn này có nghĩa là gì? Ngoại Ted đã tham gia những câu lạc bộ kỳ quặc gì vậy? Cậu chỉ có thể nhìn thấy lờ mờ những chữ cái được đánh máy trên thẻ thành viên Câu lạc bộ Cá vàng: “Thoát chết nhờ sử dụng xuồng hơi khẩn cấp, tháng Hai năm 1943.”
Sunny nghĩ về chuyến đi của họ tới Harrogate, khi ngoại Ted bị thương ở hông. Tuy Sunny không nói ra nhưng cậu thích chuyến đi ấy. Cậu đã xúc động trước những nấm mộ ngay hàng thẳng lối ở nghĩa trang. Có lúc cậu đã phải đi ra chỗ khác và để mặc ngoại Ted ngồi trơ trên chiếc xe lăn bởi vì cậu cảm thấy nước mắt đang dâng lên. Thật buồn khi thấy tất cả những chàng trai đã chết ấy. Họ đều trạc tuổi cậu, và họ đã làm một việc cao cả, một việc anh hùng. Họ thật may mắn. Lịch sử đã được trao vào tay họ. Chuyện đó sẽ không xảy ra với cậu. Cậu sẽ không bao giờ được trao cho cơ hội để trở nên cao cả và anh hùng.
Điều đó khiến cậu giận dữ. Cậu lấy những tấm huân chương ra khỏi cái hộp thiếc và thả chúng vào trong túi cùng với bức ảnh lấy trộm khi nãy.
Chiến tranh thật sự thú vị, nhất là chuyện về những chiếc máy bay ném bom. Có lẽ Sunny sẽ đọc một cuốn sách về cuộc chiến ấy. Có lẽ khi đó cậu có thể nói chuyện với ngoại Ted về nó mà không cảm thấy mình giống như một thằng ngốc. Ông ngoại cậu cũng là một anh hùng, không phải sao? Ông đã có một cuộc đời đầy ý nghĩa. Sunny tự hỏi làm thế nào để cậu cũng có được một cuộc đời như vậy.
Cậu lóng ngóng trèo xuống cái thang bắc lên gác mái và thả phịch một cái hộp xuống sàn nhà. Viola làm ra vẻ là mình nghẹt thở vì bụi. “Con biết là mẹ bị dị ứng mà.” Cô giận dữ kêu lên.
“Trên đó còn cả mớ.” Sunny nói.
“Ôi, vì Chúa.” Viola nói với Teddy. “Bố đúng là kẻ chuyên tích trữ, bố ạ.”
Teddy lờ cô đi và nói với Sunny: “Cháu có tình cờ thấy cái hộp đựng huân chương của ông lúc ở trên đó không?”
“Huân chương ạ?”
“Từ hồi chiến tranh. Lâu lắm rồi ông không để mắt đến chúng. Ông đang định tới dự một bữa tiệc hội ngộ của RAF, ông nghĩ ông có thể mang chúng theo.”
Sunny nhún vai, nói: “Cháu không biết.”
“Chúng ta tiếp tục được chứ?” Viola nói.
“Tất cả mọi thứ đã được chất lên xe.” Viola nói. “Bố chỉ cần kiểm tra kiểu anh ngố trước khi nó đi.”
“Kiểm tra kiểu gì cơ?” Teddy nói.
“Kiểm tra kiểu anh ngố.” Viola lặp lại. “Bố biết đấy, nghĩa là nhìn ngó xung quanh một lượt, đảm bảo rằng bố không bỏ sót thứ gì.”
Chỉ còn cuộc đời của bố thôi, Teddy nghĩ.
Chu thich
[81] Kiểu kiến trúc theo trường phái lãng mạn, thân thiện với thiên nhiên.
[82] Cơ quan tình báo, phản gián và đảm bảo an ninh của Anh.
[83] Tên gọi danh dự mà quốc gia Israel đặt cho những người dân ngoại dám liều lĩnh hy sinh tính mạng để cứu mạng người Do Thái trong nạn diệt chủng Do Thái Holocaust.
[84] Charles Frodsham (1810 - 1871): một thợ chế tạo đồng hồ nổi tiếng của Anh.
[85] Đại lễ Kim Cương của Nữ hoàng Anh Elizabeth đệ nhị (Elizabeth II) là một buổi lễ được tổ chức vào năm 2012, đánh dấu 60 năm nữ hoàng trị vì ngai vàng.
[86] Theo nghĩa đen, quả trứng lót ổ là một quả trứng giả được nhét vào ổ của con gà để kích thích nó đẻ trứng. Theo nghĩa bóng, nó chỉ một khoản tiền để dành.
[87] Hàm nghĩa về những khó khăn, gian khổ người ta phải vượt qua để đến được Thiên Đường.
[88] Tên nhân vật chính trong truyện The Warden của Anthony Trollope.
[89] Giọng địa phương ở thành phố Birmingham, Anh.
[90] Nghĩa bóng chỉ thành viên làm ô danh một tập thể.
[91] Một nhân vật hư cấu trong The Railway Series, một xê ri của Reverend W. Awdry và con trai, Christopher.
[92] Một câu tuyên ngôn của những người đấu tranh cho sự bình đẳng của phụ nữ. Câu đầy đủ và đúng của nó là “Phụ nữ cần đàn ông như cá cần xe đạp”, ám chỉ rằng phụ nữ có thể sống hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào đàn ông.
[93] Viết tắt của Lực lượng Phụ nữ Tình nguyện Hoàng gia.
[94] Viết tắt của National Health Service (Dịch vụ Y tế Quốc gia).
[95] Winston Churchill (1874 - 1965): Thủ tướng Anh trong thời Chiến tranh Thế giới thứ Hai.
[96] Arthur Harris (1892 - 1984): Thống chế Không quân của quân đội Anh.
[97] Viết tắt của Women’s Auxiliary Air Force: Lực lượng Nữ Không quân Trợ chiến của Anh.
[98] Viết tắt của Royal Australian Air Force (Không lực Hoàng gia Úc).
[99] Câu nói thời xưa mà các hành khách dùng để giục người đánh xe ngựa cho xe chạy nhanh.
[100] Cecil Beaton (1904 - 1980): một nhiếp ảnh gia người Anh.
[101] Thánh gia hay Thánh gia thất, là từ để chỉ gia đình gồm ba thành viên, trong đó người cha là Joseph, người mẹ là Mary và người con trai là Jesus.
[102] Viết tắt của Trung tá Không quân.
[103] Viết tắt của Sĩ quan phi công.
[104] Các nhân vật trong một bài hát thiếu nhi của Anh.
[105] Tác giả lấy hình ảnh này dựa theo truyện Alice ở xứ sở trong gương, khi cô bé Alice bước qua tấm gương để đến một thế giới khác.