Những Con Tuấn Mã

Những Con Tuấn Mã

Lượt đọc: 456 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần I

Ánh nến phản chiếu le lói trong chiếc gương soi lớn và bỗng bất động khi cậu bước vào gian phòng rồi đóng cánh cửa lại. Cậu cởi chiếc nón và bước chầm chậm về trước. Sàn thềm bằng gỗ ván kêu ken két dưới đôi ủng rê bước của cậu. Trong bộ com-plê đen, cậu đứng trước mặt kính tối mờ, nơi những cành hoa huệ ngả nghiêng rũ rượi trong chiếc lọ thủy tinh cổ. Dọc theo hành lang lạnh lẽo phía sau cậu là những bức chân dung ông bà tổ tiên mà trong cậu chỉ là ký ức mơ hồ, tất cả được đặt trong những khung kính và được thắp sáng lờ mờ phía trên mặt ván ốp chân tường. Nhìn xuống cái tàn nến sắp sửa tắt, cậu nhấn ngón tay cái của mình vào chỗ sáp âm ấm chảy tràn xuống mặt gỗ sồi. Cuối cùng cậu nhìn vào khuôn mặt hõm sâu và khổ sở giữa những nếp gấp của chiếc khăn liệm, hàm râu úa vàng, mi mắt mảnh mai như lá liễu. Không phải đang ngủ.

Bên ngoài trời tối đen, lạnh cóng và lặng gió. Từ đằng xa vọng lại tiếng kêu oang oang của con bê. Cậu đứng đó với chiếc nón trong tay. Cả đời ông không bao giờ chải tóc như thế này. - Cậu nói.

Bên trong ngôi nhà không có âm thanh nào ngoại trừ tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ con lắc phía trên lò sưởi trong gian phòng trước. Cậu bước ra ngoài và đóng cửa lại.

Trời tối đen, lạnh lẽo và lặng gió, và một con đường xám xịt mờ mờ trải dọc theo rìa phía đông của địa cầu. Cậu bước ra ngoài giữa đồng cỏ bao la, đứng cầm chiếc nón như một kẻ cầu khẩn trong cái bóng tối dày đặc bao trùm, và cậu đứng đó một lúc lâu.

Khi bắt đầu bước đi, cậu nghe tiếng còi tàu. Cậu dừng lại và đợi. Cậu có thể cảm nhận chuyển động đó dưới chân mình. Con tàu lồ lộ từ hướng đông như một vệ tinh của mặt trời rạng sáng gầm rú ở xa xa và một vệt ánh sáng dài từ bóng đèn pha phía trước, di chuyển xuyên qua những vũng đầm lầy dây leo chằng chịt, hướng theo dãy hàng rào bất tận trong màn đêm sâu thẳm dẫn thẳng vào đường ray ưu tiên, và rồi lấy hơi tiếp tục từng chặng tiến sâu vào bóng đêm, để lại phía sau một cột khói hỗn độn và tan dần vào một chân trời mới xa xăm, âm thanh còi tàu vẫn vang vọng phía sau, và cậu đứng đó, hai tay vẫn giữ chiếc nón trong sự rung chuyển còn đọng lại của con tàu, cậu quan sát cho đến khi con tàu hoàn toàn biến mất. Rồi cậu quay trở lại căn nhà.

Khi cậu bước vào, từ nhà bếp bà ngước mắt nhìn và quan sát cậu từ trên xuống dưới trong bộ com-plê đang khoác trên người. - Chào buổi sáng ^ - Bà nói.

[1]

Cậu treo chiếc nón lên cái mắc bên cạnh cánh cửa ra vào giữa những chiếc áo mưa dài tay, áo bành tô và những bộ yên cương cũ kỹ rồi đến bếp lò, lấy cà phê và mang lại bàn. Bà mở nắp lò nướng và lấy ra một mẩu bánh ngọt mà bà đã làm sẵn rồi mang đến đặt trước mặt cậu cùng với một con dao cắt bơ. Bà đưa tay sờ phía sau đầu cậu trước khi trở lại bếp.

- Cháu thán phục cách thắp nến của bà đấy. - Cậu nói.

- Cái gì?

- Cây nến. Cây nến.

- Không phải tôi đâu. - Bà cụ nói.

- Bà ấy ư?

- Dĩ nhiên rồi.

- Bà ấy dậy chưa?

- Trước mặt tôi đây.

Cậu uống tách cà phê. Bên ngoài trời vẫn mờ tối và Arturo đang tiến về phía ngôi nhà.

Cậu gặp mặt cha mình trong buổi tang lễ. Đứng một mình bên kia con đường rải sỏi nhỏ gần hàng rào. Ngay lúc ông bước đến chiếc xe đang đậu trên đường, cậu quay trở lại. Một ngọn gió bấc dữ dội kéo đến mang theo những cơn mưa tuyết và tro bụi bão bùng trong khí trời giữa buổi sáng. Những người phụ nữ ngồi giữ chặt những chiếc nón của mình. Họ dựng một mái che phía trên phần mộ nhưng cơn gió hất ngang và vì vậy xem ra cũng chẳng ăn thua gì. Tấm vải bạt phần phật và lạch cạch liên hồi trong ngọn gió mạnh át lời tạ ơn của ông mục sư. Khi nghi lễ kết thúc cũng là lúc những người than khóc đứng dậy ra về, và những chiếc ghế họ ngồi thi nhau ngã nhào ngổn ngang giữa những tấm bia mộ.

Tối đêm đó, từ ngôi nhà, cậu đóng cương ngựa và phi thẳng về hướng tây. Ngọn gió đã dịu đi nhiều và trời lạnh cóng, mặt trời ngả màu đỏ rực rồi chuyển sang hình êlip dưới những áng mây màu máu trước mắt cậu. Cậu đi về nơi cậu muốn đến, về nơi khúc rẽ hướng tây của con đường Comanche già cỗi dẫn xuống từ địa hạt Kiowa về phía bắc, băng xuyên qua vùng cực tây của nông trại. Bạn có thể nhìn thấy dấu vết mờ mờ của nó ở hướng nam phía trên vùng đồng cỏ trũng thấp nằm giữa hướng bắc và ngã rẽ chính giữa của sông Concho. Vào cái giờ phút ấy, cậu luôn chọn lúc những chiếc bóng trải dài và con đường cũ mòn được định sẵn trước mặt cậu trong cái bóng xế tà đỏ rực như một giấc mơ của quá khứ, nơi những con ngựa bồng và người cưỡi từ một bộ tộc bị tước đoạt xuất hiện từ phương bắc với những khuôn mặt trát phấn và những mái tóc dài được bện thành lọn, mỗi người đều được trang bị cho cuộc chiến vốn là cuộc sống của họ, phụ nữ và trẻ em, và phụ nữ với những em bé đang ẵm trên tay, tất cả họ cùng thề đổ máu và chỉ có thể cứu chuộc bằng máu. Khi ngọn gió thổi từ hướng bắc, bạn có thể nghe tiếng họ; những con ngựa và hơi thở của chúng, móng chúng được đóng trong những đôi giày bằng da sống; tiếng lách cách lạch cạch của những cây thương; tiếng loạt xoạt không dứt trong cát của những cây cọc kéo gắn vào hông ngựa như tiếng băng ngang của loài bò sát khổng lồ nào đó; những thằng bé trần truồng trên những con ngựa hoang hí hửng như những người biểu diễn xiếc ngựa, và dùng roi thúc chúng tiến nhanh về trước; những con chó chạy lóc cóc phía

sau, nửa thân trần trụi, nặng nề, và hơn hết là tiếng ngâm trầm trầm của bài ca du hành mà họ cất lên khi cưỡi ngựa, tộc và hình bóng của bộ tộc...

Cậu cưỡi đi trong ánh mặt trời đỏ rực và ngọn gió mạnh thổi đến từ hướng tây. Cậu rẽ theo hướng nam theo con đường mòn và người ngựa leo lên đỉnh một ngọn đồi nhỏ. Cậu xuống ngựa, buông dây cương, bước đi đứng lại như một người đàn ông tìm đến điểm tận cùng của một cái gì đó.

Một cái sọ ngựa lâu năm trong bụi rậm, cậu ngồi xổm xuống và nhặt lên, lật qua lật lại trong hai bàn tay. Mỏng manh và dễ vỡ. Màu trắng giấy đã bạc màu. Cậu ngồi xổm xuống dưới một khe sáng trải dài và cầm nó, những chiếc răng lung lay ở các lỗ hốc. Những khớp nối trong chiếc sọ như một mối hàn rời rạc giữa các mảnh xương. Một nhúm nhỏ cát câm lặng đổ ra khi cậu lật chiếc hộp sọ.

Những gì cậu yêu ở ngựa cũng chính là những gì cậu yêu ở con người, máu và sức nóng của máu đã chảy trong chúng. Tất cả sự quý trọng của cậu, sự yêu mến và hiểu biết của cậu về cuộc đời mình tạo nên một sức sống mãnh liệt, chúng luôn luôn là như vậy và sẽ không bao giờ khác đi.

Cậu cưỡi ngựa quay lại trong màn đêm. Con ngựa tăng tốc. Những ánh sáng cuối cùng trong ngày từ từ tan dần trên đồng cỏ bao la phía sau cậu, và rồi thu về đến tận chân trời trong sự chán chường ảm đạm của bóng tối, màn đêm và lạnh lẽo, và một vài tiếng ríu rít của những chú chim khuất đâu đó trong cái bụi rậm mờ mờ. Cậu lại băng qua con đường mòn, thúc ngựa chạy lên đồng cỏ và hướng về nhà, nhưng các chiến binh sẽ tiếp tục trong màn đêm đó, hùng tiến bước với những khí cụ thời đồ đá của họ rồi dịu dàng hát lên với một tâm huyết và khát khao vượt qua những đồng cỏ bao la tiến về Mexico.

Ngôi nhà được xây dựng vào năm 1872. Bảy mươi bảy năm sau, ông ngoại cậu vẫn là người đầu tiên yên nghỉ nơi đây. Những người khác nằm trang nghiêm trong gian phòng đó đều được mang về trên một tấm ván che, hoặc được phủ bởi tấm phủ của xe ngựa, hoặc được chuyển đến trong một cái thùng bằng gỗ thông thô sơ với người cưỡi ngựa đứng ở cửa, tờ vận đơn trong tay. Những người đã ra đi. Một bức thư. Một bức điện tín. Trang trại nguyên sơ rộng 2.300 mẫu Anh theo hiệp ước Meusebach cũ về quyền cấp đất Fisher-Miller, ngôi nhà trước đó chỉ là một cái chòi nhếch nhác làm bằng gỗ vụn, phên liếp. Đó là vào năm 1866. Năm mà đoàn gia súc đầu tiên được lùa qua vùng đất mà giờ đây vẫn gọi là Địa hạt Bexar và băng qua vùng cực bắc của trang trại, đến Thành lũy Sumner và Denver. Năm năm sau, ông cố ngoại cậu đã gửi đi sáu trăm con bò đực thiến di chuyển qua cùng con đường mòn này và với số tiền có được ông đã xây dựng ngôi nhà; lúc ấy trang trại rộng 18.000 mẫu Anh. Vào năm 1883, họ dựng hàng rào kẽm gai đầu tiên. Khoảng năm 1886, toàn bộ trâu chết rụi. Cũng cái mùa đông ác nghiệt đó. Vào năm 1889 Thành lũy Concho bị tan rã.

Ông ngoại của cậu là anh cả trong tám người con trai và cũng là người duy nhất sống qua cái tuổi hai mươi lăm. Họ chết đuối, bị bắn hoặc bị ngựa đá. Họ bỏ mạng trong hỏa hoạn. Dường như họ sợ phải chết trên giường. Hai người cuối cùng thiệt mạng ở Puerto Rico vào năm 1898, và trong năm đó ông ngoại đã lấy vợ rồi mang cô dâu về nhà để trông nom trang trại, và hẳn ông đã muốn bước đi ra ngoài để đứng nhìn gia sản của mình và ngẫm nghĩ rất lâu về đường lối của Chúa, về luật thừa kế cho con trai cả. Mười hai năm sau khi vợ ông bị dịch cúm cuốn mất, họ vẫn chưa có đứa con nào. Một năm sau ông lấy bà chị gái của người vợ quá cố; một năm sau nữa mẹ của cậu bé ra đời và đó là đứa con duy nhất mà ông có. Cái tên Grady bị chôn vùi cùng với ông cụ vào cái ngày mà ngọn gió bấc thổi ngã những chiếc ghế trên bãi cỏ nghĩa trang. Tên của cậu bé là Cole. John Grady Cole.

Cậu gặp cha mình ở hành lang nhà thờ St Angelus và họ cùng bước trên con đường Chadbourne đến quán cà phê Chim Ưng, họ ngồi ở một góc phía sau. Một vài người đã đến trước đó ngừng nói chuyện khi thấy họ bước vào. Vài gã gật gù với cha cậu và có gã thốt lên cái tên của ông ấy.

Ả hầu bàn gọi mọi người là búp bê yêu. Ả tiếp nhận yêu cầu của họ và tán tỉnh cậu. Cha cậu rút ra gói thuốc và đốt một điếu, đặt gói thuốc lên bàn rồi đặt chiếc bật lửa Zippo Sư Đoàn Ba Bộ Binh lên gói thuốc, ngửa người về phía sau, hút thuốc và nhìn cậu. Ông nói rằng chú Ed Alison của cậu đã đến gặp mục sư sau khi tang lễ được tuyên bố và bắt tay ông ấy. Cả hai cùng đứng đó nắm chặt những chiếc nón trong tay và nghiêng người ba mươi độ trong ngọn gió giống như hai danh hài thuộc loại kịch vô-đơ-vin trong khi tấm vải bạt bay phần phật, va đập dữ dội, và những người dự tang lễ đuổi theo những chiếc ghế ngã đổ xuống mặt đất. Ông quay nhìn vị mục sư và nói lớn rằng thật là một điều tốt lành khi họ đã tổ chức việc an táng vào sáng hôm đó bởi

Tình hình này có thể chuyển thành một cú sốc thực sự trước khi ngày đó trôi qua.

Ông bố lặng lẽ cười. Rồi ông chuyển sang ho. Ông nhấp miếng nước, hút thuốc và lắc đầu.

- Một người bạn thân của cha, khi trở về từ vùng cạn sông, đã có lần nói với cha rằng nếu ở đó trời ngưng gió thì đàn gà sẽ chết.

Ả hầu bàn mang cà phê đến. Của các anh đây, những con búp bê yêu. - Ả nói. - Tôi sẽ xử lý tất cả yêu cầu của các anh chỉ trong vòng một phút.

- Bà ấy đã từng đến San Antonio. - Cậu nói.

- Đừng gọi là bà ấy.

- Mẹ.

- Ừ.

Họ uống cà phê.

- Con định làm gì?

- Về chuyện gì?

- Bất cứ chuyện gì.

- Bà có thể đi đâu bà muốn.

Chàng trai nhìn ông: Bố không nên hút thuốc nhiều như vậy.

Bố cậu bĩu môi, gõ những ngón tay lên bàn và ngước lên. Khi bố muốn hỏi con rằng bố sẽ làm gì đây thì con phải hiểu rằng con đủ lớn để nói cho bố biết. - Ông nói.

- Dạ, thưa bố.

- Con có cần tiền không?

- Không.

Ông nhìn chàng trai trẻ và nói: Con sẽ ổn thôi.

Ả hầu bàn mang bữa tối đến, những chiếc đĩa dày cộm bằng sứ với thịt nướng, nước xốt, đậu và khoai tây.

- Con sẽ ăn hết bánh mì của bố.

Ông bố nhét chiếc khăn ăn vào áo.

- Không phải con là người phải lo lắng. - Chàng trai nói. - Con có thể nói thế chứ?

- Ông bố cầm lấy con dao và cắt miếng thịt. Ừ. - Ông nói. - Con có thể nói điều đó.

Ả hầu bàn mang một rổ xúc xích đến, đặt lên bàn rồi bỏ đi. Họ ăn. Ông bố không ăn nhiều. Sau một hồi ông đẩy ngược chiếc đĩa lại bằng ngón tay cái của mình, với lấy một điếu thuốc khác, đưa lên miệng, dùng tay búng nhẹ vào chiếc bật lửa và đốt.

- Con có thể nói bất cứ điều gì trong đầu con. Quỷ thật. Con có thể chê bai bố về thói quen hút thuốc của bố nếu con muốn.

Chàng trai không trả lời.

- Đó không phải là điều bố muốn, con biết chứ?

- Vâng. Con biết điều đó.

- Con chăm sóc Rosco tốt chứ?

- Nó chưa thể cưỡi được.

- Tại sao chúng ta không đi vào thứ bảy?

- Được ạ.

- Con không nên đi nếu có việc khác phải làm.

- Con chẳng có gì để làm cả.

Bố cậu lại hút thuốc, ông nhìn cậu.

- Con không phải đi nếu con không muốn. - Ông nói.

- Con muốn.

- Con và Arturo có thể đón bố ở phố được không?

- Được ạ.

- Mấy giờ?

- Tùy bố?

- Bố sẽ đến đó.

- Chúng ta sẽ có mặt ở đó vào lúc tám giờ.

- Bố sẽ đến.

Chàng trai gật đầu. Cậu lại ăn. Ông bố nhìn quanh. Bố không hiểu con có thể gặp ai ở nơi này để mua một ít cà phê. - Ông nói.

Cậu và Rawlins tháo yên và thả ngựa ra trong màn đêm; cả hai nằm trên những tấm vải của yên ngựa và dùng chính những chiếc yên ngựa đó làm gối. Đêm lạnh và quang đãng, những tia lửa bắn lên từ đống lửa, nóng và đỏ rực giữa các vì sao. Họ có thể nghe tiếng những chiếc xe tải chạy trên đường và họ có thể nhìn thấy những ánh đèn của thành phố phản chiếu qua vùng đất hoang sơ mười lăm dặm về hướng bắc.

- Cậu định làm gì? - Rawlins nói.

- Tôi không biết. Chẳng gì cả.

- Tôi không biết cậu muốn gì. Gã lớn hơn cậu hai tuổi. Có xe riêng và mọi thứ.

- Chẳng có gì liên quan đến gã ấy cả. Chẳng hề.

- Bà ấy nói gì?

- Bà ấy chẳng nói gì. Nói gì ư? Chẳng có gì để nói cả.

- Ừ, tôi chẳng hiểu cậu muốn gì.

- Tôi không muốn gì cả.

- Thứ bảy này cậu có đi không?

- Không.

Rawlins lấy từ túi áo một điếu thuốc và ngồi dậy, gắp một que than từ đống lửa và đốt. Anh ta ngồi hút. Tôi không để bà ấy qua mặt đâu. - Anh ta nói.

Anh ta chặm đầu tàn thuốc vào gót của chiếc ủng.

- Bà ấy không đáng được như vậy. Không ai trong họ là đáng cả.

Im lặng một hồi. Rồi cậu nói: Phải, đúng vậy.

Khi trở về, cậu chải cho ngựa, đưa nó vào chuồng và bước thẳng xuống nhà bếp. Luisa đã đi ngủ và ngôi nhà trở nên tĩnh lặng. Cậu đặt bàn tay lên bình cà phê để kiểm tra, rồi lấy xuống một chiếc tách, đổ cà phê vào và bước ra ngoài đến gian phòng trước.

Cậu bước vào phòng của ông ngoại, đến bên chiếc bàn làm việc của ông, bật đèn bàn và ngồi xuống chiếc ghế xoay bằng gỗ sồi cũ kỹ. Trên bàn là một cuốn lịch nhỏ bằng đồng được gắn trên những chiếc bánh xoay, có thể thay đổi ngày tháng khi bạn lật ngược nó trên một cái giá cố định. Lúc này cuốn lịch vẫn để ngày 13 tháng 9. Một cái chặn giấy bằng thủy tinh. Một xấp giấy thấm ghi Palmer Feed & Supply. Bức ảnh tốt nghiệp trung học của mẹ cậu trong chiếc khung nhỏ bằng bạc.

Căn phòng thoáng mùi thuốc lá cũ. Cậu nghiêng người, tắt cây đèn nhỏ bằng đồng và ngói trong bóng đêm. Qua cánh cửa sổ phía trước cậu có thể nhìn thấy đồng cỏ đầy sao nghiêng dốc đột ngột về hướng bắc. Những hình thập giá màu đen của những trụ điện báo liên kết với nhau ngang qua chòm sao từ đông sang tây. Ông ngoại đã từng nói rằng người Comanche sẽ cắt những sợi dây điện đó và nối chúng lại bằng những sợi lông ngựa. Cậu ngả người ra sau, bắt chéo hai chiếc ủng lên bàn. Những tia chớp khô về hướng bắc, cách xa bốn mươi dặm. Chiếc đồng hồ ở căn phòng nằm bên kia gian phòng lớn điểm mười một giờ.

Bà bước xuống cầu thang và đứng ở cửa phòng, bật đèn được gắn sẵn trên tường. Bà mặc chiếc áo choàng và đứng khoanh tay, hai cùi chỏ nằm trong hai lòng bàn tay. Cậu nhìn bà và rồi nhìn ra cửa sổ.

- Cháu làm gì ở đây? - Bà hỏi.

- Ngồi.

Bà đứng đó một hồi lâu trong chiếc áo choàng của mình. Rồi bà trở ra, đi xuống gian phòng lớn rồi lên lại cầu thang. Khi nghe tiếng cửa đóng, cậu đứng dậy và tắt đèn.

Vẫn còn một vài ngày ấm áp cuối cùng và thỉnh thoảng, vào buổi chiều, cậu và bố cậu ngồi trong phòng khách sạn có nội thất màu trắng bằng liễu gai, cửa sổ mờ và bức màn mỏng được đan bằng kim móc bay phần phật vào trong; họ uống cà phê, ông bố đổ một ít whisky vào chiếc tách của mình, ngồi nhâm nhi, hút thuốc và nhìn xuống con đường.

Những chiếc ôtô của nhóm trinh sát giếng dầu đậu dọc theo con đường trông như đang nằm ở chiến trường.

- Nếu có tiền bố sẽ mua chứ? - Cậu nói.

- Bố có tiền nhưng bố không mua.

- Ý bố là tiền lương trả chậm trong quân đội?

- Không. Kể từ đó.

- Bố đã từng thắng được nhiều nhất là bao nhiêu?

- Con không cần biết. Học chỉ những thói quen xấu.

- Tại sao bố không chơi cờ vào một buổi chiều nào đó?

- Bố không có kiên nhẫn để chơi.

- Bố có kiên nhẫn để chơi bài poker.

- Đó là sự khác nhau.

- Khác ở chỗ nào?

- Tiền.

Họ ngồi xuống.

- Vẫn còn rất nhiều tiền ở khu đất dưới kia. - Ông nói.

Ông nhấp cà phê. Ông chồm xuống và lấy gói thuốc đã rơi xuống bàn, đốt một điếu, nhìn cậu con trai, rồi lại nhìn xuống đường. Sau một hồi, ông nói:

- Bố đã thắng hai mươi sáu ngàn đôla trong hai mươi hai giờ chơi bài. Ván cuối cùng đặt cược đến bốn ngàn đôla, ba người chơi. Hai gã từ Houston. Bố đã thắng chắc gã kia với ba con đầm.

Ông quay người nhìn cậu. Cậu ngồi với tách cà phê đang đưa lên miệng. Ông bật quay trở lại và nhìn ra ngoài cửa sổ. Bố không có một xu nào trong đó. - Ông nói.

- Thế bố nghĩ con nên làm gì?

- Bố không nghĩ có nhiều điều con có thể làm.

- Bố sẽ nói chuyện với mẹ chứ?

- Bố không thể nói chuyện với bà ấy.

- Bố có thể mà.

- Lần gặp nhau cuối cùng giữa bố và mẹ con là ở San Diego California vào năm 1942. Không phải lỗi của mẹ con. Bố không còn là bố trước đó. Bố mong mình như thế. Nhưng bố không phải như thế.

- Chính là bố. Vẫn là bố đấy thôi.

Ông bố ho. Ông uống tách cà phê của mình. Bên trong. - Ông nói.

Họ ngồi một hồi lâu.

- Bà ấy như trong một vở kịch hoặc một điều gì đó ở đằng kia.

- Vâng. Con biết.

Cậu cúi người nhặt chiếc nón của mình đang nằm trên sàn và đặt nó lên đầu gối. Thôi con về đây. - Cậu nói.

- Con hiểu bố nghĩ về thế giới của ông chứ?

Cậu nhìn ra ngoài cửa sổ. Vâng. - Cậu nói.

- Bây giờ đừng có mà khóc lóc với bố nữa.

- Con sẽ không.

- Tốt lắm.

- Ông không bao giờ nhượng bộ. - Cậu nói. - Ông là người cuối cùng bảo con đừng như vậy. Ông nói chúng ta sẽ không có một đám ma nào cho đến khi chúng ta có một cái gì đó để chôn.

Ông bố mỉm cười.

- Điều duy nhất hợp với bố là hai chiếc ủng.

- Ông luôn nghĩ bố mẹ sẽ quay lại với nhau.

- Ừ, bố biết là có.

Cậu đứng dậy và đội chiếc nón lên đầu. Tốt nhất là con về đây. - Cậu nói.

- Ông từng dính vào những cuộc ẩu đả vì bà. Ngay cả khi đã là một cụ già. Bất cứ ai nói động đến bà ấy. Nếu ông nghe được. Ngay cả phẩm hạnh con người cũng không ngăn được.

- Thôi con đi đây.

- Ừ.

Ông rút hai bàn chân khỏi ngưỡng cửa sổ.

- Bố cùng xuống với con. Bố cần đọc một tờ báo.

Họ đứng trong hành lang có lợp ngói, trong khi ông bố lướt nhanh qua các mục tin chính.

- Làm sao mà Shirley Temple có thể ly dị được chứ? - Ông nói.

Cậu nhìn lên. Ngoài đường, khung cảnh chạng vạng tối của mùa đông đến sớm. Có lẽ con phải đi hớt tóc đây. - Cậu nói.

Ông nhìn vào mặt cậu.

- Bố biết tâm trạng của con thế nào. Bố cũng vậy.

Cậu gật đầu. Ông bố lại nhìn vào tờ báo và gập lại.

- Kinh Thánh có chép rằng kẻ hiền lành sẽ được thừa hưởng đất đai và bố nghĩ có thể đó là chân lý. Bố không phải là người suy nghĩ độc lập, nhưng bố sẽ cho con biết điều gì. Phải mất rất lâu bố mới tin rằng tất cả đó là một điều tốt.

Ông nhìn cậu. Ông rút chiếc chìa khóa từ túi áo khoác và đưa cho cậu.

- Đi đến đó. Có một cái gì đó cho con trong buồng chứa đồ.

Cậu bé cầm chiếc chìa khóa. Cái gì vậy? - Cậu hỏi.

- Chỉ là một thứ gì đó bố mua cho con. Bố tặng nó cho con nhân dịp Giáng sinh nhưng bố mệt mỏi phải tới đó.

- Vâng.

- Dù sao trông con có vẻ như cần có một sự khích lệ nào đó. Cứ để chìa khóa ở bàn làm việc khi con đi xuống.

- Vâng.

- Hẹn gặp lại con.

- Vâng.

Cậu bước vào thang máy và đi xuống gian phòng lớn, tra chìa khóa vào cánh cửa rồi bước vào. Cậu đến buồng chứa đồ và mở ra. Trên sàn nhà, cùng với hai đôi ủng và một đống quần áo bẩn, là chiếc yên ngựa Hamley Formfitter mới cáu cạnh. Cậu nhấc chiếc yên ngựa lên, đóng cửa buồng lại rồi mang nó đến giường, xốc nó lên đó rồi đứng nhìn.

- Quỷ tha ma bắt. - Cậu nói.

Cậu để chiếc chìa khóa lên bàn và lẻn xuyên qua cánh cửa, đi xuống con đường với chiếc yên ngựa trên vai.

Cậu đi bộ xuống đường South Concho, thả chiếc yên ngựa xuống và đặt trước mặt mình. Trời mờ tối và đèn đường đã sáng. Phương tiện cơ giới đầu tiên trên đường là chiếc xe tải hiệu Model A Ford và chiếc xe thắng kít, dừng lại. Tay tài xế chồm người, kéo cánh cửa sổ xe xuống và ném cái nhìn vào mặt cậu trong một giọng nói sặc mùi whisky. Bỏ cái thứ đó lên thùng sau và lên xe đi, anh bạn ạ.

- Vâng, thưa ông. - Cậu nói.

Trời mưa suốt cả tuần mới dứt. Rồi lại mưa. Mưa trút nước lên những đồng cỏ phẳng thô ráp một cách không thương tiếc. Nước ngập cả chiếc cầu bắc qua xa lộ nằm ở Christoval và con đường phải đóng lại. Lũ tràn vào San Antonio. Trong chiếc áo mưa tay dài của ông ngoại, cậu cưỡi qua đồng cỏ Alicia nơi hàng rào phía nam bị ngập hoàn toàn trong nước. Bầy gia súc hỗn độn trong sự cô lập, nhìn chằm chằm một cách vô vọng vào người cưỡi ngựa. Con Redbo cũng nhìn bầy gia súc với cùng sự thất vọng chán chường đó. Cậu dùng hai gót ủng đập mạnh vào cạnh sườn con ngựa. Đi nào. - Cậu nói. - Tao không muốn nhìn thấy cảnh này, mày chẳng làm được gì đâu.

Cậu, Luisa và Arturo ngồi trong nhà bếp lúc bà ấy đi vắng. Thỉnh thoảng, sau bữa tối, cậu đi bộ xuống đường và quá giang xe vào thành phố, rồi đi dọc theo các con đường hoặc đứng bên ngoài khách sạn trên đường Beauregard nhìn lên căn phòng ở tầng bốn, nơi cái bóng hoặc vóc dáng của cha cậu đi qua đi lại phía sau những bức màn cửa sổ mỏng nhẹ tựa như một con gấu bằng lá sắt trong phòng tập bắn, chậm chạp hơn, gầy hơn và khổ sở hơn.

Khi bà ấy quay về, họ lại cùng ăn với nhau trong phòng ăn, hai người ngồi ở hai đầu đối diện của chiếc bàn dài làm bằng gỗ óc chó trong lúc Luisa phục vụ. Cô mang món ăn cuối cùng và ngoảnh lại ở cửa.

- Còn gì nữa không, thưa bà?

- Không, Luisa. Cảm ơn.

- Chào bà.

- Chào.

Cánh cửa đóng lại. Đồng hồ gõ tích tắc. Cậu nhìn lên.

- Tại sao mẹ không cho con thuê trang trại này?

- Thuê trang trại ư?

- Vâng.

- Mẹ không muốn thảo luận về chuyện này.

- Đây là một đề tài mới mà.

- Không, không phải.

- Con sẽ đưa cho mẹ tất cả tiền bạc. Con có thể làm bất cứ điều gì mẹ muốn.

- Tất cả tiền. Con không biết con đang nói gì đâu. Không có tiền nào cả. Nơi này đủ trả chi phí trong hai mươi năm. Kể từ trước chiến tranh, không có một người da trắng nào làm việc ở đây. Dù sao con chỉ mới mười sáu tuổi, con không thể cai quản trang trại.

- Không, con có thể mà.

- Con buồn cười thật. Con phải đi học.

Bà đặt chiếc khăn ăn lên bàn, đẩy chiếc ghế lùi lại và đứng dậy đi ra ngoài. Trên bức tường đối diện phía trên tủ búp phê là một bức tranh sơn dầu về ngựa. Sáu con đang lao xuyên qua cổng chuồng, bờm chúng dài và tung bay trong gió, mắt chúng hoang dại. Chúng được sao chép từ một cuốn sách. Chúng có cái mũi thuộc giống ngựa Andalusia và xương mặt chúng mang nét của giống Barb. Bạn có thể nhìn thấy thân sau của chúng, thuộc rất ít những giống ngựa có thân sau to khỏe nhất và đủ nặng để có thể làm ngựa chăn dắt. Có thể chúng mang một ít dòng máu Steeldust. Nhưng không có gì khác sánh được và không có con ngựa nào như thế cậu đã từng nhìn thấy. Có lần cậu hỏi ông ngoại đây là những con ngựa thuộc giống gì. Ông nhìn lên bức tranh từ cái đĩa đồ ăn của mình và nói rằng chúng là những con ngựa chỉ có trong sách tranh, rồi tiếp tục ăn.

Bước lên cầu thang đến tầng gác lửng và nhìn thấy cái tên Franklin được khắc theo hình vòng cung bên trên mặt kính thạch anh của cánh cửa, cậu lấy nón ra, xoay tay nắm và bước vào. Cô gái ngước mắt nhìn từ chiếc bàn làm việc.

- Tôi đến đây để gặp ông Franklin. - Cậu nói.

- Cậu có hẹn trước không?

- Không, thưa cô. Ông ấy biết tôi.

- Tên cậu là gì?

- John Grady Cole.

- Đợi một phút.

Cô gái bước vào căn phòng khác. Sau đó cô trở ra và gật đầu.

Cậu đứng dậy và bước đến căn phòng.

- Vào đi cháu. - Franklin nói.

Cậu bước vào.

- Ngồi xuống đi.

Cậu ngồi xuống.

Khi cậu nói những điều cậu phải nói, Franklin ngả người về sau và nhìn ra cửa sổ. Ông lắc đầu. Ông quay lại và chắp tay lên bàn. Trước hết. - Ông nói. - Ta thật sự không có quyền khuyên cháu. Đây được gọi là sự xung đột về quyền lợi. Nhưng ta có thể nói với cháu rằng đó là tài sản của bà ấy và bà có thể làm bất cứ điều gì bà muốn.

- Cháu không có quyền quyết định sao?

- Cháu là một người vị thành niên.

- Còn bố cháu thì sao?

Franklin lại ngả người về sau. Đó là một vấn đề khó khăn. - Ông nói.

- Họ chưa ly dị mà.

- Không, họ đã ly dị rồi.

Cậu bé nhìn lên.

- Đó là vấn đề được ghi chép công khai nên ta nghĩ nó không còn là chuyện riêng nữa. Nó đã được công bố trên báo chí.

- Khi nào?

- Lần cuối cùng cách đây ba tuần.

Cậu nhìn xuống. Franklin quan sát cậu.

- Lần cuối cùng trước khi ông cháu chết.

Cậu gật đầu. Cháu hiểu những gì ông đang nói.

- Đó là một thương vụ đáng tiếc cháu à. Nhưng ta nghĩ cách nó như thế thì nó sẽ như thế.

- Ông không thể nói chuyện với mẹ cháu sao?

- Ta đã nói với mẹ cháu.

- Ông đã nói gì?

- Chẳng có vấn đề gì về việc mẹ cháu nói cả. Mẹ cháu sẽ không thay đổi ý định của mình.

Cậu gật đầu, ngồi nhìn xuống chiếc nón của mình.

- Cháu à, không phải ai cũng nghĩ rằng cuộc sống trên một trang trại gia súc ở miền Tây Texas là điều tốt đẹp thứ hai để chết và về với Chúa đâu. Bà ấy không muốn sống ở đó, vậy thôi. Giá như nó gợi lên vấn đề lương bổng. Nhưng không phải thế.

- Điều đó có thể.

- Phải, ta không có ý định thảo luận về vấn đề này. Dù sao, bà ấy là một phụ nữ trẻ, và ta đoán là bà ấy muốn có một cuộc sống cởi mở hơn những gì bà đã từng quen thuộc.

- Mẹ cháu ba mươi sáu tuổi.

Vị luật sư ngả người ra sau. Ông xoay nhẹ người trong chiếc ghế, ông gõ ngón tay trỏ vào môi dưới của mình.

- Đó là cái lỗi chết tiệt của cha cháu. Ông ta ký vào bất cứ tờ giấy nào đặt trước mặt mình. Không bao giờ nhấc tay lên để tự cứu mình. Quỷ tha ma bắt, ta không thể nói ông ấy được. Ta bảo ông ấy lấy bằng luật sư. Hiểu không? Ta năn nỉ ông ấy.

- Vâng, cháu hiểu.

- Wayne nói với ta ông ấy từ bỏ việc đeo đuổi ngành y.

Cậu gật đầu.

- Vâng, cảm ơn vì thời gian của ông.

- Ta lấy làm tiếc vì không có tin vui cho cháu. Cháu cứ thoải mái mà trao đổi với bất cứ ai khác.

- Dạ được.

- Hôm nay nghỉ học cháu định làm gì?

- Cháu giết thời gian.

Ông luật sư gật đầu. Phải. - Ông nói. - Điều đó sẽ tự lý giải.

Cậu bé đứng dậy và đội mũ vào. Cảm ơn ông. - Cậu nói.

Ông luật sư đứng dậy.

- Một vài điều trên thế giới này không thể được cứu giúp. - Ông nói. - Và ta tin đây có thể là một trong số đó.

- Vâng. - Cậu bé nói.

*

Sau mùa Giáng sinh bà ấy thường xuyên đi vắng. John Grady, Luisa và Arturo ngồi trong nhà bếp. Luisa không thể nói về chuyện này mà không bật khóc, vì vậy họ không nói đến nữa. Thậm chí không ai nói với mẹ bà, người đã ở trang trại này kể từ trước đầu thế kỷ. Cuối cùng thì Arturo cũng phải nói với bà. Bà lắng nghe, gật đầu và ngoảnh mặt đi, và đó là tất cả.

Vào buổi sáng hôm ấy, cậu đứng bên lề đường từ lúc rạng đông với một chiếc áo sơmi sạch và một đôi vớ trong chiếc cặp đeo bằng da thuộc cùng với bàn chải đánh răng, dao cạo râu và chiếc chổi cạo. Chiếc cặp da đeo trên vai là của ông ngoại và chiếc áo khoác lông vịt nhồi bông mà cậu mặc là của cha cậu. Chiếc xe đầu tiên dừng lại. Cậu lên xe, đặt chiếc cặp xuống sàn và chà chà hai bàn tay với nhau giữa hai đầu gối. Người tài xế chồm người đóng cánh cửa và gạt cần số về số một. Họ khởi hành.

- Cửa xe đóng không đủ chặt. Cậu đi đâu?

- San Antonio.

- Ừ, tôi đến tận Brady Texas.

- Tôi cảm kích điều đó.

- Cậu là người mua gia súc à?

- Còn ông?

Người đàn ông gật đầu nhìn chiếc cặp với những sợi dây đeo và chiếc quai cầm bằng đồng.

- Tôi hỏi cậu có phải là người mua gia súc không.

- Không, thưa ông. Đó chỉ là vali của tôi

- Tôi tưởng cậu là người mua gia súc. Cậu đứng đó có lâu không?

- Chỉ vài phút.

Người đàn ông chỉ vào cái nắm tay bằng nhựa dẻo trên bảng chỉ dẫn sáng lên một màu cam mờ mờ: Trong đó là hệ thống sưởi ấm nhưng nó tỏa nhiệt không nhiều lắm. Cậu có cảm nhận được hơi ấm của nó không?

- Vâng, thưa ông. Tôi cảm thấy khá tốt.

Người đàn ông gật đầu nhìn vào cái bình minh xám xịt và hiểm ác. Ông cử động bàn tay ở cần gạt một cách chậm chạp phía trước mặt. Cậu có thấy vậy không? - Ông nói.

- Vâng, thưa ông.

Ông ta lắc đầu. Tôi căm ghét mùa đông. Tôi chẳng bao giờ nhìn thấy sự hữu ích nào trong mùa này thậm chí chỉ một thôi.

Ông nhìn John Grady.

- Cậu không nói nhiều, có phải thế không? - Ông hỏi.

- Không nhiều lắm.

- Đó là một đặc tính tốt cần có.

Chặng đường đến Grady mất khoảng hai giờ đồng hồ.

Họ lái xuyên qua thành phố và người đàn ông thả cậu bên kia đường.

- Cậu dừng ở đường Tám mươi bảy khi cậu muốn đến Fredericksburg. Đừng xuống đường Hai chín mươi, cậu sẽ luẩn quẩn ở Austin. Cậu hiểu chứ?

- Vâng, thưa ông. Tôi vô cùng cảm kích về sự tận tình của ông.

Ông đóng cửa xe, gật đầu và đưa bàn tay lên. Chiếc xe quẹo hình chữ U và chạy ngược lại. Chiếc xe tiếp theo dừng lại và cậu bước lên.

- Cậu định đi bao xa? - Người đàn ông nói.

Tuyết rơi trên thị trấn San Saba, vùng cao nguyên Edwards và trên các đỉnh đồi Balcones khi họ đi ngang qua,

đá vôi tuyết phủ trắng xóa và cậu ngồi nhìn ra ngoài cùng với những bông tuyết mờ mờ phủ khắp mặt kính chống gió theo vòng quét của hai chiếc cần gạt. Những màng tuyết rơi trắng đục bắt đầu hình thành dọc theo lề đường nhựa và băng phủ khắp mặt cầu bắc qua con sông Pedernales. Mặt nước xanh lững lờ trôi qua những hàng cây mọc dọc hai bên bờ trong màn đêm. Những bụi cây gai bên đường rậm rịt với loài tầm gửi trông tựa tựa như những ụ sồi xanh. Anh tài xế ngồi khom người trên chiếc vô lăng khe khẽ huýt sáo. Họ đến San Antonio vào lúc ba giờ chiều trong một trận bão tuyết dữ dội và cậu bước xuống xe, cám ơn người đàn ông rồi đi bộ xuống con đường bước vào quán cà phê đầu tiên mà cậu nhìn thấy và ngồi ở quầy bar, đặt chiếc cặp trên chiếc ghế cao bên cạnh mình. Cậu với tay rút tờ thực đơn từ chiếc hộp đựng, mở ra xem, rồi cậu nhìn chiếc đồng hồ con lắc trên bức tường màu đen. Cô hầu bàn đặt ly nước trước mặt cậu.

- Giờ giấc ở đây có cùng với San Angelo không? - Cậu hỏi.

- Tôi biết là cậu sẽ hỏi tôi một điều gì đó như thế. - Cô hầu bàn nói. - Cậu có vẻ mặt như thế.

- Cô không biết sao?

- Tôi chưa bao giờ ở San Angelo Texas.

- Tôi muốn một ít thịt băm phô mai và sữa sôcôla.

- Cậu đến đây để xem lễ hội đua bò?

- Không.

- Cùng giờ đấy. - Một gã ngồi ở cuối quầy bar nói vọng lại.

Cậu cám ơn gã.

- Cùng giờ đấy. - Gã lại nói. - Cùng giờ.

Cô hầu bàn cắm cúi ghi vào cuốn sổ nhỏ và nhìn lên.

- Tôi đi không vì chuyện gì cả. - Cậu nói.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của cormac mccarthy