Khi tôi và Vandock tới biệt thự thì trời đã tối. Ánh đèn ở tầng trên rất sáng. Tôi nom thấy một bóng người bên cửa hàng rào. Chúng tôi tới gần hơn. Đó là bác Migli, và bác ta chăm chú nhìn chúng tôi. Con Kip rít lên vì mừng rỡ và lao về phía tôi.
- Chào chú mình, Kip, - tôi vuốt ve con chó.
Vandock cũng chào mừng con chó, hắn nhét cho nó một miếng ngon gì đó lấy ở trong túi ra.
- Anh đấy ư, Samuel thân mến? - Migli chìa tay ra, nói xúc động. - Thật mừng quá! Vậy mà ông Dobby lo cho anh quá đi...
- Tôi biết ông Dobby của bác là người thế nào rồi! - tôi bực tức trả lời, lạnh lùng chạm vào tay Migli.
- Càng hay, Samuel ạ. Lẽ ra anh phải biết từ lâu rồi chứ... - Sau đó bác ta để ý tới Vandock. - Anh đưa ai theo thế?
Với cái vẻ ngờ nghệch Vandock thở dài thườn thượt và trật mũ lưỡi trai ra khỏi đầu.
- Thưa xin chào ngài. Tôi là một thợ mỏ cũ ở Wesley. Chẳng là tôi đã đào bới được anh Samuel của các ngài từ dưới cái mỏ bỏ hoang lên, hôm qua nó đã bị sụp vì một trận động đất nhỏ. Phải đào mãi đấy ạ. Và không phải anh Samuel đưa tôi tới đây, mà tôi muốn đến trao lại con người trẻ tuổi này cho ông chủ của anh ấy và, nói thực lòng, tôi muốn được thưởng một chầu rượu trắng vì cái công đã cứu được con người chết trông thấy...
- Cần phải báo cáo về anh với ông Dobby! - Migli lẩm bẩm, mắt liếc nhìn cái bình đựng nước đang lắc lư bên thắt lưng Vandock. - Ông vô cùng lo lắng về Samuel...
- Thưa ngài, chẳng dám phiền ngài cất công đi báo cáo, - Vandock nghiêng mình nói với vẻ hết sức lịch sự. - Hình như ngài đang đợi ai ở đây thì phải?
- Phải, có lẽ, - Migli đáp lại rồi lại đưa mắt nhìn vào bóng đêm về phía đường cái bấy giờ đã khó phân biệt được ở phía dưới.
- Đó, ngài thấy không! Không nên để ngài phải rời bỏ nhiệm vụ, - Vandock nói giọng mềm mỏng. - Ngoài ra, hình như ông chủ ngài bị đau tim nặng và hiện giờ thần kinh không được ổn. Báo tin ngay cho ông chủ biết về chuyện cứu anh Samuel sẽ là thiếu thận trọng...
Migli nghĩ ngợi rồi gật đầu.
- Có lẽ, ngay cả trong việc này anh cũng đúng. - Bác ta thở dài. - Ê, bảo này! Thôi được. Samuel ạ, cứ đi qua bếp. Khóa cắm trong ổ...
Tôi cùng Vandock bước qua ngưỡng cửa hàng rào. Migli vẫn đứng lại ở cạnh đấy.
Khi tôi mở khóa cửa vào bếp, Vandock nghiêm giọng nói thì thầm:
- Nghe đây, dù sao cũng cần phải thương hại hắn. Việc anh bất thần xuất hiện trước mắt Rolls thực ra có thể giết chết hắn. Bởi vì hắn tin rằng đã vĩnh viễn thoát được anh. Hãy dẫn tôi vào phòng hắn... Tôi vào trước tiên. Tôi sẽ nói và chuẩn bị trước. Sau rồi thì cả anh có thể vào...
Điều đó tỏ ra hoàn toàn hợp lý.
- Được, - tôi đáp. - Anh đi lên trước đi.
Tôi bật điện ngoài hành lang. Chúng tôi đi tới bên cầu thang.
- Trên gác có ba phòng, - tôi nói. - Nếu không có hắn ở phòng thứ hai, thì tức là hắn ở phòng thí nghiệm...
Vandock lặng lẽ gật đầu. Hắn mở cửa vào phòng thứ nhất và lập tức đưa tay ra hiệu cho tôi. Tôi hiểu rằng ông chủ biệt thự đang ở phòng thứ hai.
- Migli, bác đấy ư? - giọng Dobby vang lên. - Hừm... Công việc ra sao rồi?
- Tuyệt lắm, thưa ông, - Vandock rất bình tĩnh đáp lại sau khi đã nói thầm bảo tôi ở lại trong phòng thứ nhất, còn hắn thì, cầm chắc mũ lưỡi trai trong tay, bước vào phòng Dobby.
Tôi nhích về phía cửa sao cho thật gần. Qua một khe cửa rộng tôi thấy rất rõ tất cả những điều tôi quan tâm.
Trong phòng làm việc lò sưởi cháy sáng rực. Dobby ngồi trước lò sưởi. Ông đã cạo râu nhẵn nhụi, chải đầu, mặc bộ quần áo đi đường màu xám và hút điếu thuốc cắm vào bót. Trước lúc Vandock xuất hiện, hình như ông cầm những thứ giấy tờ gì đó ở chiếc bàn con bên cạnh lên, trầm ngâm xé vụn chúng ra rồi ném vào lửa.
Giấy cháy bùng lên và chiếu sáng Vandock. Dobby hơi ngả người vào lưng ghế. Tôi thấy nét mặt ông thoáng lộ vẻ ngạc nhiên. Nhưng điều này chỉ diễn ra trong khoảnh khắc, và ông nhìn Vandock với cái vẻ gần như hờ hững.
Tôi không nhìn thấy mặt Vandock, nhưng nghe thấy giọng hắn nói.
- Chào ông, - Vandock nói sau khi đã tiến tới bên lò sưởi. - Chào ông, thưa tiến sĩ Rolls, - hắn nhấn mạnh.
- Chà, thế à! - Dobby đáp. Và trong cặp mắt ông thoáng ánh lên một nụ cười thù hằn. - Xin chào...
- Tôi nhận ra ông ngay, thưa tiến sĩ Rolls, - hắn đã bắt đầu ăn nói suồng sã hơn, tay cầm vào lưng ghế. Chẳng đợi mời, hắn ngồi xuống ở phía bàn bên kia, đối diện với Rolls Dobby.
- Phải, tôi đây, - ông trả lời, cũng vẫn với cái nụ cười ấy trong giọng nói. - Tôi cũng đã có thể nhận ra anh ngay, Vandock, mặc dầu chỉ là dựa vào cách cư xử của anh. Những ngày gần đây anh thường vẫn quanh quẩn quanh ngôi nhà này. Tôi phải thừa nhận rằng tôi vẫn chờ đợi, sớm muộn gì rồi anh cũng có đủ dũng khí và sẽ tới đây chơi cái trò công khai...
Vandock nhún vai.
- Lạ nhỉ!.. Tôi có những yêu cầu nghiêm chỉnh nhất đối với ông. Nhưng thôi được, nếu ông muốn - thì chơi! Ông đi trước, tiến sĩ Rolls!
Tiến sĩ cầm một vài tờ giấy ở trên bàn, xé ra, vứt vào lửa rồi buồn rầu nhìn ngọn lửa đang cháy lem lém vào chúng. Sau đó, nheo mắt lại, ông cười.
- Tôi sẽ không chịu trách nhiệm về việc mặt anh bị biến đổi đi. Trong chuyện này chính anh có tội. Và điều này thì anh biết rất rõ. Vandock, đến lượt anh đấy!
Vandock nhếch mép cười.
- Nhưng ông đã làm tôi có thể bị buộc tội trong cái vụ án mạng của ông...
- Nếu anh đã thoát khỏi bị buộc tội - tiến sĩ cười, - thì những yêu cầu đối với tôi là hoàn toàn không thực tế. Mọi việc đã đâu vào đấy rồi, - giả tảng thở dài, ông nói thêm.
Vandock lắc đầu giễu cợt.
- Chà, tiến sĩ Rolls! Tôi là con người thực hành. Nhưng tôi thiết tha yêu lý thuyết. Và tôi quan tâm tới một vài chi tiết. Do đó tôi đã làm phiền lòng ông vào cái giờ không định trước này. Xin ông thứ lỗi, nhưng tôi sợ đến muộn. Một vài hoàn cảnh đã buộc tôi phải vội vã... Hiện nay trời rất ấm. Ngay từ trong thành phố tôi cũng thấy được ống khói phía trên biệt thự nhả khói như ở một nhà thiêu xác. Và người hầu của ông đang nóng lòng chờ đợi một chiếc ô tô đã hẹn. Có lẽ sau đây một giờ thì tôi đã không bắt gặp ông tại chốn này.
Tiến sĩ Rolls đặt bót thuốc xuống và gõ gõ những ngón tay trên bàn.
- Hừ, đây lại là chuyện khác. Hừm... Tính chất cuộc nói chuyện đã thay đổi. Tôi vui mừng được nói chuyện cởi mở. Anh có biết tôi đã chán ngán anh đến thế nào không, Vandock? Từ khi anh bỗng nhiên xuất hiện ở Mazatlán và hạ mình cúi xin tôi cho vào làm người hầu hạ... Chính tôi đã biết, hừm... đã đoán được là anh muốn biết chỗ ở của chú tôi. Nhưng tôi đã giữ lời hứa với ông...
- Vậy ông không nói phỏng? - Vandock bực tức nói.
- Không. Ngay cả trường hợp anh dùng cái gì đấy đe dọa tôi. Tôi không phải là hạng nhát gan. Vandock ạ, trong ván bài anh đang chơi với tôi đây, quân bài trong tay anh không phải là con tẩy. Và trước khi anh kịp xỉa cái quân Mắt Bò Đực của anh ra thì tôi đã cho anh nếm quân bài sáu điểm. Tôi ngấy anh lắm. Anh đã quan tâm tới thư từ của tôi. Nhưng anh đã không vớ được một bức thư nào của chú tôi. Đúng không? Tôi đã nhận những thư từ ấy trong các hộp thuốc lá do thằng bé Pedro mang từ quầy bán đến... Mà anh còn nghiên cứu cả những mục thông báo trên các báo chí từ bưu điện gửi tới. Anh cũng đã tìm kiếm ý nghĩa bí mật trong các dòng chữ mà tôi đã dùng bút chì gạch dưới để cố tình trêu đùa anh. Hừm... Tôi buồn cười anh quá, Vandock! Nhưng anh đã phạm một sai lầm lớn khi bắt đầu lén lút theo dõi công việc nghiên cứu khoa học của tôi. Anh đã mò mẫm mở tủ thí nghiệm. Sau khi anh vào làm cho tôi được một tuần, anh nhớ chứ? Ở đấy anh đã làm vỡ một ống tiêm đựng virus, anh bị lây bệnh và bây giờ thì anh đang bị trừng phạt. Nếu anh giúp việc một nhà sinh vật học hoặc nhà hóa học thì anh phải vâng lời ông ta để tránh khỏi những trường hợp không may. Anh có tội với chính anh trong việc mắc bệnh này. Khi ra điều kiện cho anh về việc cạo râu là tôi đã nhìn thấy trước điều đó. Tôi đã tỏ ra là đúng, vì ngay khi biết chắc rằng anh làm hỏng bộ sưu tập virus của tôi và làm hỏng bộ mặt mình, tôi đã viện ra một lý do nào đấy đề nghị anh tiêm, nhưng anh đã từ chối.
Vandock ngồi lặng lẽ, còn tôi đứng sau cửa và nghĩ rằng cái anh chàng bẫy chim này hoàn toàn vẫn chưa phơi bày hết mọi điều khi nói chuyện với tôi ở nghĩa địa.
- Và bấy giờ tôi muốn trừng phạt anh, Vandock, bằng một hình phạt làm cho anh thấm thía nhất. Anh hiểu tôi chứ? - tiến sĩ hỏi với giọng đầy ý nghĩa.
- Chưa biết ai sẽ bị trừng phạt thực sự, - rướn thẳng người trên ghế, Vandock trả lời nhấn mạnh, với vẻ hết sức quan trọng. - Mặc dù chính tôi cũng chán ngán ông, nhưng tôi có thể phục vụ ông, nếu như về phần mình, ông giúp tôi gặp được chú ông.
- Tôi không cần đến sự phục vụ của anh, - tiến sĩ nói với vẻ bực tức và hình như hơi buồn.
- Ồ ông, xin đừng có sôi lên! - Vandock cười. - Và mong ông nói chuyện cho dễ dãi hơn. Hãy báo cho tôi biết địa chỉ, và tôi sẽ biến khỏi mặt đường ông đang đi.
- Thế nếu tôi không nói? - tiến sĩ cười rộ lên với vẻ không vui.
Vandock hơi nhỏm khỏi ghế.
- Thì tôi sẽ báo cho người cần phải báo, - hắn rít lên một cách bí ẩn, - rằng ông đã chôn vùi người hầu của mình là Samuel Pingle dưới mỏ.
Tiến sĩ chồm người khỏi ghế bành.
- Nói láo! Tôi đã đối xử tốt với người thanh niên ấy. Tôi không có một lý do gì để hành động như thế với anh ta.
Tim tôi như ngừng đập khi nghe thấy những lời nói ấy. Cơn giận của tôi đã tan biến đi như tuyết mùa xuân. Tiến sĩ đưa hai tay lên ôm đầu.
- Chà, chà!.. Nghĩa là anh Pingle chết à? Con người đáng thương thay! Tuy nhiên ông sẽ khó chối được cái tội mưu sát anh ta hơn là tôi chối tội giết người ở Mazatlán nếu như bấy giờ tôi rơi vào tay cảnh sát. Ái dà dà! Cầu Chúa hãy cứu vớt linh hồn kẻ quá cố! - Và Vandock đổi giọng: - Đưa địa chỉ ông chú ra, thưa tiến sĩ!
Nghe những lời nói ấy, tôi không thể nào kìm giữ được mình nữa nên đã bước nhanh vào phòng.
- Vandock, lừa dối tiến sĩ thế đủ rồi, - tôi nói. - Xin chào ông, - tôi nghiêng mình về phía tiến sĩ và rút cái tẩu trong túi ra. - Thưa ông, xin ông cho phép tôi trao lại cho ông cái vật nhỏ bé này.
Tiến sĩ dang rộng hai tay vì ngạc nhiên.
- Samuel? Anh đấy ư? Lạy Chúa, sung sướng quá! Anh đã trút bỏ cho lòng tôi một gánh nặng biết chừng nào.
Ông nắm lấy hai vai tôi. Đôi mắt lúc nào cũng nghiêm khắc của ông bây giờ hiền hậu và vui sướng, đẫm lệ vì xúc động.
- Phải... Chính là anh, chàng thanh niên! - Ông quay đầu về phía Vandock. - Đừng đùa như thế, con người độc ác! Hãy ngồi xuống và đừng hòng chuồn khỏi đây. Tôi sẽ không buông anh ra chừng nào... Hừm... Samuel, cả anh nữa cũng ngồi xuống và kể đi. Samuel ạ, tôi có tội với anh, tôi thừa nhận... tôi có tội là đã cho phép anh tụt xuống mỏ Vòi và rõ ràng là đã buộc nút dây thừng không tốt.
- Thưa ông, xin ông cứ yên tâm, - tôi nói. - Tôi chỉ muốn biết những công nhân đã tìm tôi theo con đường sườn nào.
- Đường sườn bên phải giếng chính, - tiến sĩ trả lời. - Những đường hầm rất rộng. Trước đây đã lâu toàn bộ than được khai thác từ đấy.
- Còn tôi thì thoát ra qua con đường bên trái, - tôi giải thích. - Ở đấy vẫn còn những lớp than dày rất tuyệt.
Tiến sĩ vui hẳn lên.
- Hay lắm... Anh kể lại toàn bộ đi, Samuel.
Nhưng tôi hất đầu về phía Vandock.
- Không, trước hết hãy để con người lịch lãm này kể lại cho ông nghe, ở Mazatlán hắn đã đẩy ai vào tay cảnh sát thay cho bản thân hắn.
Và tôi giật cái mũ lưỡi trai khỏi tay Vandock.
- Ngồi yên! Chớ có chạy! Hãy nói đúng sự thật.
Cặp mắt ranh mãnh của Vandock nheo lại.
- Nhưng kể lại chuyện ấy một lần nữa làm quái gì! Chà, tôi đã chuồn khỏi Mazatlán, thưa ông, còn Samuel thì phải chịu tội thay cho tôi...
- Sao? - tiến sĩ la lên. - Samuel không nói gì với tôi về việc ấy... Hối hận đi, Vandock! Anh đã đẩy anh Samuel vô tội vào tay cảnh sát thay cho anh như thế nào?
- Tôi đã hối hận, - Vandock nói lẩm bẩm đồng thời nhìn tôi để tìm kiếm một sự thông cảm. - Nhưng nếu...
Và Vandock đã kể lại mọi chuyện xảy ra với chúng tôi sau khi tiến sĩ Rolls biến khỏi Mazatlán; tôi đã bổ sung câu chuyện của hắn.
- Tiến sĩ Rolls ạ, chỉ có điều là ông đã hoài công đưa lên sân khấu một vụ án mạng của chính mình, - đã phần nào bình tĩnh lại, và vẫn với kiểu cười như trước, Vandock kết thúc câu chuyện.
Tiến sĩ gõ mạnh nắm đấm vào tay ghế.
- Đồ lười biếng! Bọn chúng đã đến muộn! Bởi vì tôi đã gọi điện cho del Aronzo và ông lãnh sự để kịp thời tóm lấy Carnero...
- Và ông đã phạm sai lầm, - Vandock chộp lời vẻ đắc thắng. - Ông nhắc tới Carnero để làm gì? Chỉ cần nhắc đến tên hắn là bọn cảnh sát ở đấy đã khiếp vía rồi. Ông biết không, bọn chúng chuẩn bị bao vây nhà ông ba tiếng. Còn đối với tôi thì việc đó hoàn toàn phù hợp. Tiến sĩ Rolls, nói thật, đáng lẽ tôi đã tóm được vạt áo ông ở gần Gurlwood rồi...
- Nếu như tôi đã không nhảy khỏi tàu ở cạnh cầu qua sông Mayspring, - tiến sĩ chữa lại. - Anh kém hiểu biết về tôi.
- Nhưng tôi đã đuổi kịp ông trên vùng Detroit, - Vandock cười.
- Không, anh đã đuổi kịp chuyến bay thứ mười một, còn tôi thì đã bay quá lên phương bắc, qua các hồ và Niagara, trên một chuyến máy bay thể thao thứ chín mươi chín... Ngay ở dưới mặt đất anh xử sự còn tồi tệ hơn. Cái thói gì lại đi xô đẩy nhau ở nơi bán vé hoặc quầy hàng? Lần cuối cùng, lúc thấy tôi anh đã chen lấn quá quắt trong văn phòng “South Line ”... - tiến sĩ nhăn mặt lại.
- Thế nhưng lần theo vết ông, tôi đã lấy được vé xuống tàu thủy “Alaska”, - Vandock cười khì khì. - Nhưng...
- Nhưng..., - tiến sĩ cười, - ngay từ trước lúc ấy chiếc vé đi tàu “Ketukki” đã nằm gọn trong túi tôi. Vandock, anh ngạc nhiên đi... Và chớ có há hốc miệng ra như vậy. Nhưng tôi muốn nêu ra với anh Samuel một câu hỏi. Samuel, tại sao anh không nói một lời nào về sự việc xảy ra ở Mazatlán? Anh đã nói nhiều như thế về chú tôi, vậy mà không nhắc gì tới người cháu của ông. Chính tôi, anh nhớ chứ, đã đề cập tới cái đề tài này.
Tôi nhớ lại câu chuyện của Dobby về người bạn trẻ. Bấy giờ ông ta đã khéo léo gợi ra chuyện này.
- Thưa ông, theo hợp đồng tôi đã cam đoan không được nêu ra những câu hỏi thừa, - tôi trả lời. - Và tôi cho rằng đó là một nghĩa vụ mà cả hai người đều phải thực hiện.
- Hừm... Anh nói đúng, - tiến sĩ trả lời và hất đầu về phía Vandock. - Anh đã nghĩ ra mọi chuyện chưa? Xem ra thì chưa. Anh cứ việc ngạc nhiên nữa đi... Vandock, ở trên bờ Ashworth này, lại một lần nữa tôi chán ngán anh. Tôi không phải là một hành tinh để hàng ngày người ta quan sát tôi qua viễn kính. Hừm... Việc anh lẻn vào đây lúc ban đêm đã làm cho bác Migli phúc hậu của tôi lo sợ quá chừng! Nếu hôm ấy tóm được không phải là Samuel mà là anh thì chúng tôi đã nện cho một trận nên thân rồi. Vào chính cái đêm ấy anh Samuel cũng bỗng có ý định đi dạo trong sân. Và anh ấy đã phải chịu những quả tống thay cho anh.
Phải thừa nhận rằng lúc ấy tôi muốn tống vỡ mặt Vandock. Và tôi đã giơ nắm đấm lên dọa hắn. Tiến sĩ vẫn nghiêm nghị nói tiếp:
- Hãy nói thẳng ra, tại sao anh theo dõi tôi? Muốn biết địa chỉ chú tôi à? Thôi im đi, tôi không cần anh phải trả lời nữa. Nhưng phải biết rằng nếu anh theo dõi tôi thì một người trung thành với tôi cũng đã theo dõi anh. Anh nghĩ sao, Samuel? Có thể nói cho anh ta biết địa chỉ hiện nay của chú tôi được chứ? Thế thì Vandock sẽ lao theo vết ông và để cho chúng ta ở lại được yên ổn?
Tôi nghĩ rằng không phải chỉ một mình Vandock bổ đi theo địa chỉ ấy mà có lẽ, cả tôi cũng sẽ bám theo hắn. Tôi muốn được gặp “giáo sư rắn” của tôi quá chừng và tôi sẽ nói để ông ấy rõ mọi chuyện!
❖ II ❖
- Vâng, thưa tiến sĩ, xin ông cứ nói rõ địa chỉ, - tôi đồng ý.
Vandock xoa hai tay vào nhau vì chắc mẩm vào thắng lợi sắp tới và dỏng tai lên nghe. Tiến sĩ Rolls hơi nhỏm người trên ghế và gật đầu.
- Hừm... Hỡi những con người lịch lãm, hiện giáo sư Milrois đang ngồi trước mặt các bạn.
Vandock rùng mình vì bất ngờ. Còn tôi thì ngạc nhiên và lòng tràn ngập nỗi vui mừng mãnh liệt nhất.
- Sao ạ, thưa giáo sư, chính là ông? Tại sao tôi không nhận ra ông? Hay là ông cũng đã làm thay đổi cả bề ngoài của mình? Tại sao trước đây ông không nói? - tôi kêu lên. - Thế thì mọi chuyện đã khác hẳn rồi...
- Samuel, hãy kiên nhẫn một chút, - Milrois trả lời. - Phải, những dòng suối lẽ ra phải chảy theo những lòng suối khác... Nhưng mạch đời lại gồm những khâu rất phức tạp. Hãy kiên nhẫn, Samuel. Tôi phải thanh toán với Vandock đã. - Milrois đứng dậy và tiến tới bên anh chàng bẫy chim đang ngồi lặng đi trên ghế. - Sao, thưa ngài đáng kính, ngài muốn biết sự thật ư? Ngài đã không ngừng theo dõi tôi kể từ cái phút ngài thấy tôi trên đường phố New York cách đây ba năm rưỡi.
- Đúng. Ông từ văn phòng “Lowgray Limited” đi ra, - Vandock thì thầm.
- Phải, phải rồi... Trước khi đi Miến Điện tôi đã ký với hãng ấy một hợp đồng nhận cung cấp nọc độc rắn cho nó. Nhưng ngay cả ở Miến Điện anh cũng làm tôi phát chán. Thật ra, tôi rất thích thú là vì anh đã không đếm xỉa đến quyền lợi của mình: đề nghị bán cho chúng tôi rắn jirr với giá ba paise một con, trong khi chính anh phải mua lại của dân địa phương với giá năm paise. Việc đó quả là thiệt cho anh. Anh đã làm việc đó không phải vì cặp mắt tuyệt đẹp của cô Liz Milton, mặc dù lúc đầu tôi có nghĩ như vậy: anh đã khúm núm trước cô Liz khi cô nhận hàng của anh. Nhưng khi có lần cô ấy gặp anh ở Rangoon, anh đã chuyển bức điện đánh đi bằng đường cáp biển theo một địa chỉ anh biết... và cả tôi... cũng biết...
Milrois nói dằn những tiếng cuối cùng, và Vandock cúi thấp đầu trước cái nhìn đăm đăm của giáo sư.
-... Thì tôi đã hoàn toàn thay đổi ý kiến về anh và hiểu rõ nghề của anh là cái nghề gì: anh hãy nhớ lại hành động của anh ở Bell Harbor. Ngay cả ở bãi biển anh cũng theo dõi tôi. Khi bơi giữa những người đang tắm tôi vẫn phân biệt được hình dáng anh ở trên bờ. Anh không rời khỏi tôi. Và bấy giờ tôi mới nảy ra ý nghĩ làm sao thoát khỏi anh. Nếu tôi giả vờ làm người chết đuối thì xuồng cấp cứu sẽ vớt tôi lên.
- Thưa giáo sư, ông không chết đuối thật à? - tôi hỏi và hồi tưởng lại cái khung cảnh mà tôi nhìn thấy lúc bấy giờ từ phía trên cầu nhảy.
- Phải, tôi không định chết. Nhưng Samuel ạ, anh đã túm chặt lấy tóc tôi khiến tôi suýt nữa kêu lên vì đau và bị uống nước. Samuel, xin cám ơn anh. Anh đã hết lòng giúp tôi. Trên xuồng không ai có chút mảy may nghi ngờ về việc tôi chết đuối thực sự. Nhưng làm sao mà chính anh lại leo lên đấy được nhỉ?
Tôi đã phải kể lại cho Milrois nghe về lần quen biết đầu tiên với Vandock: hắn đã đùa xỏ tôi trên bãi tắm như thế nào bằng câu chuyện bịa về Black Snake và bắt ép tôi lên cầu ra sao. Vandock cau mày nín lặng. Còn “giáo sư rắn” thì cười vang.
- Có lẽ bây giờ Vandock muốn biết rõ tôi đã gặp lại người cứu mình ở Miến Điện như thế nào? Thôi đã cởi mở thì cởi mở cho chót. Tôi phải đến Nabukhatra để mua một vài con chuột vàng dùng cho thí nghiệm. Ở đấy người ta thường bẫy chúng bằng những dây thòng lọng. Nhưng Vandock đã bám theo tôi. Ở đấy bấy giờ vừa phát sinh bệnh dịch hạch. Vandock, nếu như trong khi theo gót tôi mà anh nhảy vào đấy, vào Nabukhatra ấy, thì nhất định là anh đã lây bệnh dịch hạch rồi. Tôi đã tự tiêm chủng cho mình từ lâu cả hai loại thuốc chống waba và chống mari. Anh biết không, Vandock, nếu như tôi gặp anh ở cái làng dịch hạch ấy thì tôi sẽ chẳng cản anh bước sang thế giới bên kia làm gì. Trong lúc đi thăm một vài túp nhà bị dịch hạch tôi nhìn thấy một người ở trên đường và tôi nghĩ ngay rằng đó là anh. Tôi đã cảm thấy trước nỗi khoái trá được đối đáp tay đôi với anh, nhưng người đó hóa ra lại là Samuel, người đầy bụi, đang ngồi run rẩy và khiếp đảm trước cái chết. Con người ấy đã quên mình giúp đỡ tôi ở Bell Harbor. Chúng tôi đã nhận ra nhau. Cần phải cứu mạng anh ấy. Nhưng Samuel đã tiếp xúc với những người bệnh. Phải tiêm gấp, mà tôi chỉ mang theo có mỗi một ống huyết thanh chống waba. Samuel đã được tiêm. Thật may cho anh ấy, thì ra ở Nabukhatra đang hoành hành loại waba chứ không phải mari. Chúng tôi đã phải trải qua một chế độ cách ly nhỏ, và trung sĩ Boro, một con người hiểu biết, đã giúp tôi chuyển anh Samuel đã kiệt sức vì những chuyến đi và bị kích động mạnh tới trạm nghiên cứu, ở đấy tôi đã tiêm cho anh ấy cả huyết thanh chống loại mari.
- Một lần nữa xin cám ơn ông, - bất giác tôi thốt lên.
Nhưng Milrois nhăn mặt lại.
- Và dù sao tôi vẫn đang coi anh là người vô ơn, Samuel ạ. Khi ở công viên bắt đầu mất rắn jirr, mà sau đó Vandock, với cái vẻ một con người rách rưới, đến gặp cô Liz để bán lại rắn cho tôi, thì tôi quyết định phải bắt anh ta. Tôi và Liz đã đánh dấu đuôi tất cả mọi con jirr. Và bỗng nhiên vài hôm sau Vandock lại đem đến cho chúng tôi những con rắn đã đánh dấu đuôi! Samuel ạ, anh đã hành động không đúng khi bắt được kẻ cắp, tên ăn cắp kia kìa, trong công viên mà không báo động...
- Tôi thương hắn... - chỉ vào Vandock tôi nói lẩm bẩm. - Bấy giờ hắn đã phải nhịn đói trong bốn ngày...
Milrois cười vang lên với vẻ chân thật.
- Ha-ha-ha! Nhịn đói bốn ngày kia à! Hắn chén trong những hiệu ăn tốt nhất ở Rangoon thì có. Có lẽ hắn đã thuê lại một vài phòng ở những chỗ khác nhau - cả ở trong thành phố và ở những làng lân cận. Bấy giờ hắn có nhiều tiền hơn anh nhiều, anh quả là một cậu bé ngây thơ! Chúng tôi còn lần ra được cả những nguồn cung cấp tiền bạc cho hắn sống. Còn bây giờ thì anh phải hiểu rằng lúc ấy anh đã phạm một sai lầm trong công viên. Kẻ cắp là kẻ cắp. Đáng ra chúng ta đã phải gột rửa cho hắn lúc ấy, chứ không phải bây giờ...
- Ồ, ông nói đúng lắm! - tôi thốt lên, tự cảm thấy mình vụng về và đáng xấu hổ. Tôi căm tức nhìn Vandock.
- Tất nhiên là tôi đúng, - Milrois nói. - Hừm... chứ sao... Samuel ạ, và chỉ vừa nhận ra sự ăn ở hai lòng của anh là tôi đã hiểu ngay rằng không phải chỉ cần tự giải thoát khỏi Vandock, mà còn phải tránh cả anh nữa. Đúng, đúng thế. Không nên nuôi dưỡng những kẻ phản bội bên nách mình. Có lẽ đơn giản hơn là sa thải anh. Nhưng anh đã quen Vandock. Hắn rất tài giả vờ. Và hắn sẽ biến anh thành tay sai mất. Nhưng hắn chỉ quan tâm tới một số quyền lợi hẹp hòi. Còn ở anh, Samuel ạ, có những khả năng hết sức rộng lớn. Và tôi với cô Liz đã lập ra một kế hoạch. Tôi có một vài ống nghiệm đựng toàn virus “cây gai của những người Bushmen” mà anh đã biết. Những thí nghiệm trên động vật cho phép tôi có cơ sở để nghĩ rằng việc tiêm loại virus này vào người sẽ có ảnh hưởng đến hình dáng bên ngoài của nó, làm thay đổi những hình dáng ấy đi. Và tôi quyết định kiểm tra việc này ngay trên cơ thể mình, mặc dù cô Liz đã can ngăn tôi đừng làm thí nghiệm liều lĩnh. Tôi đã tiêm cho mình. Việc người cháu không có thật của tôi là tiến sĩ Rolls đến chỉ là một vở kịch. Mũi tiêm đã thực hiện cái nhiệm vụ của nó. Mặt mũi tôi đã biến dạng, nhưng virus còn tác dụng cả tới những dây thanh âm nữa. Giọng nói bị biến đổi đi, và lúc nào tôi cũng bị ho... Hừm... Tôi đã quyết định ra đi để thoát khỏi sự theo dõi của Vandock, để được làm việc yên tĩnh và chữa khỏi bệnh bằng những mũi tiêm huyết thanh chống virus. Tôi chọn một thành phố nhỏ lặng lẽ ở Mexico và đã từ biệt chú tôi, nghĩa là từ biệt chính bản thân mình, tới đó một cách bình an vô sự.
Vandock chồm dậy khỏi ghế và đi đi lại lại trong phòng, hắn xúc động đưa tay lên vò đầu.
- Tôi không thể nào tha thứ cho mình về điều này được! Sao tôi lại không nghĩ tới chuyện ấy nhỉ!
- Vandock, anh khiêm tốn quá, - Milrois vừa cười vừa đáp. - Anh đã nghĩ tới, nhưng muộn rồi, và anh đã không nghĩ cho tới cùng. Nhưng tôi nói tiếp. Tôi ra đi, để Samuel, một chàng thanh niên khá thông minh mà tôi mới đem lòng yêu mến ấy ở lại trạm. Cuộc sống phiêu bạt giang hồ chỉ mới bắt đầu làm hỏng anh ta, và phải hướng anh ta vào con đường thích hợp với một thanh niên đã tốt nghiệp cấp đệ nhất ở trường Dijan. Có lần tôi đã đưa cho anh xem một mảnh giấy ghi công thức để anh chuẩn bị dung dịch trong phòng thí nghiệm. Thế là Samuel đã làm quen với nét chữ của Liz, bởi vì công thức do Liz viết. Nhưng Samuel tưởng rằng đó là nét chữ của tôi. Việc này phù hợp với điều tôi mong muốn. Tôi cố gắng đưa anh ấy vào con đường khoa học. Anh ấy đã quan tâm tới cuốn sách về virus mà tôi trao cho. Và tôi đã đạt được đích. Tôi đã rời khỏi Miến Điện, nhưng Samuel lại tưởng rằng tôi phải nằm lại vì bệnh sốt vàng. Liz đã viết cho Samuel những mẩu giấy như thể của tôi gửi, nhưng tôi thì đã vượt Thái Bình Dương trên một chiếc tàu thủy...
“Ra thế đấy, - tôi nghĩ và hồi tưởng lại mọi chi tiết xảy ra lúc tôi sống ở trạm của “giáo sư rắn”. - Mọi việc đã được xếp đặt một cách rất khéo léo. Tưởng như giáo sư bị ốm, sau đó đã bình phục... Ông bắt đầu làm việc vào ban đêm... Hình bóng trên rèm cửa trông rất giống”.
Vandock cứ thở dài thườn thượt.
- Chà chà! Chính tôi đã nghĩ rất nhiều về “giáo sư rắn” và người cháu ông ta...
Tôi cắt đứt những lời than thở mà tôi đã thấy như có vẻ giả dối của hắn.
- Cả tôi cũng ngán anh lắm rồi, Vandock ạ. Bây giờ hãy trả lời tôi. Tại sao anh lại theo dõi giáo sư?
Milrois thêm:
- Và nói rõ cả chuyện ai đã cử anh đi theo dõi tôi? Anh do dự à? Đừng ngại. Làm quái gì những chuyện vặt ấy! Tôi hứa rằng tôi có thể đáp lại sự cởi mở của anh một cách hào phóng... A, anh sợ mất chỗ làm ăn nếu nói lộ bí mật à? Vậy hãy im lặng, và nếu như tôi nói đúng sự thật thì chỉ cần anh gật gật cái đầu thông minh của anh để tỏ ra là đồng ý. Samuel, hãy nhìn vào anh bạn của anh. Vậy thì, Vandock, anh đã gửi những báo cáo về Milrois theo địa chỉ: “Ashworth, phòng bưu điện, hòm thư lưu, S. S..”. Đúng không?
Vandock gật đầu như bức tượng trong vở vũ kịch của Mozart. Milrois ho, cầm chiếc tẩu mà tôi trao lại để trên bàn và nhồi thuốc lá. Vandock tỉnh người lại và vội đưa chiếc bật lửa đã bật cháy lên.
- Xin mời, thưa giáo sư...
Milrois cám ơn, khoái trá rít thuốc và tiếp tục đưa ra những câu hỏi:
- Nhưng anh không biết ai đã nhận những bức thư ấy à? Tôi sẽ nói cho anh rõ. Quan đại tụng Seyton ở Ashworth đã nhận những lá thư của anh. Và nếu không có tôi thì không bao giờ anh biết được ông ta cần những báo cáo ấy để làm gì. Điều thú vị là ở chỗ chính Seyton cũng không biết nội dung của những bức thư ấy. Nhưng Seyton quản lý công việc của ông chủ lâu đài Oldmount và ông ta đã chuyển lại cho ông chủ lâu đài những bức thư còn nguyên vẹn của anh. Anh không biết điều đó ư, Vandock? Anh không biết à? Anh, tên do thám nổi tiếng số bốn trăm hai mươi mốt của phòng do thám tư nhân ở Boston chứ gì? Chà, quả là một sai lầm lớn!
❖ III ❖
Vandock lao về phía góc phòng và thọc tay phải vào túi quần. Tôi cũng đã toan lao theo hắn, nhưng Milrois bình tĩnh mỉm cười ngăn tôi lại.
- Khẽ chứ, các vị... Tôi không định làm hại anh, số bốn trăm hai mươi mốt. Đôi lúc anh đãng trí, và nhờ đó tôi đã phát hiện ra biệt hiệu của anh. Anh đã ký dưới bức điện gửi từ Rangoon về Boston bằng cái biệt hiệu ấy. Liz đã nhìn thấy anh. Anh đã để lại dấu vết của số hiệu ấy trên tờ giấy thấm trong phòng điện báo. Liz đã báo cho tôi biết. Cô ấy được biết về mọi việc của tôi. Anh mới thật kỳ quặc, Vandock... Khi không còn nói vào đâu được nữa thì anh lại rờ đến khẩu revolver. Cứ để nó ở trong túi. Ngồi xuống, và hút đi.
Vandock trầm ngâm hút thuốc và lắc đầu.
- Quan hệ với một đối thủ như thế mới thật dễ chịu.
- Sự sáng trí và óc tưởng tượng sinh động bao giờ cũng sẽ giúp ta trong những tình huống khó khăn, nếu biết lợi dụng những phẩm chất ấy. Vandock, điều này thì anh biết rõ, - Milrois nói. - Tôi tưởng tượng thấy rõ ràng, là có một lần thủ trưởng phòng do thám gọi một trong những nhân viên khá nhất của mình đến và nói với anh ta: “Số bốn trăm hai mươi mốt thân mến. Có một nhiệm vụ có lợi. Hãy tìm kiếm giáo sư Milrois và theo dõi những hành động của ông ta. Chớ quản ngại gì về các khoản chi phí”. Thế chứ gì?
- Đại loại là như vậy, - Vandock buộc lòng phải đồng ý.
- Vandock, dường như là tôi nói hết rồi đây, hả? - Milrois cười thoải mái. - Anh có thể đi...
Vandock nhìn giáo sư, và lúc này lần đầu tiên tôi thấy cặp mắt hắn không có vẻ giảo hoạt. Hắn nhìn với cái nhìn giản dị và trong sáng của con người.
- Tôi đi đâu bây giờ? Ông nghĩ rằng tôi sẽ đến chỗ ông Seyton và nói với ông ta: “Thưa ông, ông hãy đến biệt thự ở cạnh tảng Hai Bông Hồng, và tự ông hãy làm quen với một con người tuyệt diệu, một con người đã dạy tôi biết kính trọng ông ta”. Không, tôi sẽ tới ngay chỗ thủ trưởng của tôi và nói: “Ông biết không, thưa ông chủ, tôi chán ngán cái công cuộc phiếm du vô nghĩa để rình mò lén lút này lắm rồi...”
Milrois ngắt lời hắn:
- Hoan hô, Vandock! Nhìn mắt anh tôi thấy rằng anh không lừa dối. Samuel, hoan hô anh ấy đi. Đó là điều may mắn lớn lao nhất trong đời tôi. Các bạn, chúng ta hãy uống mừng sự may mắn. Trong cuộc sống của chúng ta ít khi gặp may lắm, cho nên cần phải quý trọng nó. Samuel, hãy lấy trong tủ ra một chai gì đó. Tôi bị khan cổ. Ngay cả thuốc lá cũng chẳng giúp gì được.
Trong tủ có hai chai rượu nhẹ. Tôi lao như tên bắn từ trên gác xuống nhà ăn và chỉ một loáng đã đem về cái vặn nút chai và ba chiếc cốc lớn đặt trên khay.
- Nào, Samuel, - giáo sư nháy tôi, - hãy nhớ lại những nhiệm vụ của anh.
Tôi vặn nút và rót rượu đầy ba cốc.
Milrois đưa tay lịch thiệp.
- Xin mời, - và ông nâng cốc. - Chúng ta hãy cạn cốc mừng điều may mắn.
- Chúc sức khỏe ông, thưa giáo sư, - Vandock lịch sự đáp lời. - Chúc mừng những may mắn của ông!
Milrois uống cạn cốc và lập tức rót đầy cốc thứ hai.
- Còn bây giờ thì tôi muốn cạn cốc vì sức khỏe của anh, Vandock. Chúng ta uống, Samuel thân mến, vì việc Vandock nghĩ tới Milrois, nhưng thực tế lại là đã theo vết lord Pucklington.
Tôi tưởng như tấm sàn gỗ dưới chân tôi đang sụp đổ. Vandock chút nữa làm vỡ cốc.
- Đừng run lẩy bẩy thế, các bạn, - giáo sư nói rất sẽ. - Chính quan đại tụng Seyton chỉ là cái cầu chuyển đạt giữa Vandock với ông chủ hiện nay của lâu đài Oldmount là Merling, tức Pucklington ngày nay. Cho tới giờ phút này hắn vẫn quan tâm theo dõi xem lord Pucklington cũ, con người mà hắn đã vu khống, đã bị hắn tước đoạt mất lâu đài Oldmount và tất cả mọi thứ, đang làm gì.
- Mẹ kiếp! - Vandock lẩm bẩm. - Chính tôi đã được nghe câu chuyện này...
Lord đưa cốc của mình về phía tôi.
- Nhưng Pucklington cũ vẫn còn sống và bây giờ đây đang chạm cốc với Samuel Pingle, con người mà trước đây ông đã thu xếp cho học ở trường Dijan.
- Ông... Ngài... Đức ông... Lord Pucklington... - tôi lẩm bẩm, run rẩy vì cảm động và chìa cốc ra một cách vô ý thức.
Hai cốc chạm nhau, và tiếng kêu nhẹ của thủy tinh làm tôi trở về với thực tại.
❖ IV ❖
Pucklington uống cạn cốc rượu rồi chờ cho tôi với Vandock cũng uống cạn. Ông ngồi trong ghế bành và châm lại tẩu thuốc đã tắt.
- Phải, các bạn ạ, - ông nhắc lại. - Khi tôi mất tất cả thì chỉ có người thư lại già của tôi là Pingle và người hầu hạ trong lâu đài là Milton mà thời còn thơ ấu tôi vẫn quen gọi đơn giản là Migli vẫn nuôi mối cảm tình với tôi. Họ chỉ có thể lấy cái đó để đền đáp công ơn của tôi đã cho con cái họ được học hành, tức là anh, Samuel ạ, và cô Liz Milton. Cô ấy cũng đi học nhờ vào tiền của tôi. Vandock, anh hãy nhớ lại rằng ở Miến Điện cô ấy cũng vẫn mang cái họ là Milton. Anh đã báo về chuyện này trong những lá thư của anh. Nhưng hình như là Merling không chú ý tới chi tiết ấy. Hiện nay tôi thấy rằng chỉ có việc tôi giúp đỡ Samuel và Liz là điều tốt đẹp duy nhất mà tôi đã làm trong đời mình trước lúc gặp nỗi bất hạnh. Tôi đã hoàn toàn để tâm trí vào những chuyến du lịch và khoa học. Và khi Merling, cái con người không xứng đáng ấy, đã trở thành ông chủ của chức tước và lâu đài của tôi, thì tôi đã thề rằng nhất định tôi sẽ hoàn lại cho mình tất cả - danh dự, tài sản, tước vị, nhưng tôi sẽ không lấy tên là Pucklington nữa, mà là lord Ashworth. Và mục đích của đời tôi sẽ là chăm lo cho phúc lợi của thành phố này. Tôi sẽ xây New Mount, một lâu đài mới, giống y như lâu đài cũ của cha ông, cạnh tảng Lặng Lẽ, phía trên tảng Hai Bông Hồng, ở đấy tôi sẽ sống những giờ phút ngắn ngủi còn lại, nhưng đáng ghi nhớ, cho tới lúc chết... Tôi có cơ sở để đạt tới vinh quang và tước vị. Nhưng tôi không thể nào sống và hít thở thiếu khoa học. Và tôi muốn hoàn lại cho mình tất cả dựa vào những hoạt động khoa học của tôi. Chính tôi đã nghiên cứu bản chất của các virus thực vật trong hai mươi năm. Tôi thích ngành khoa học lớn. Những thành tựu của nó không phải chỉ ảnh hưởng tới các ngành riêng biệt của kỹ thuật và công nghiệp, mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ sinh hoạt đời sống của loài người, giải quyết được những vấn đề lớn lao nhất. Ngành khoa học lớn nghiên cứu những hiện tượng cơ bản của cuộc sống. Chỉ có nó mới đưa chúng ta tới gần sự nhận biết tự nhiên một cách sâu sắc nhất. Tôi không muốn trao sự nghiệp của mình cho một kẻ nào khác và tin chắc rằng con người phải tự tay làm lấy công việc của mình. Tôi không được phép làm những thí nghiệm liều lĩnh. Merling đã lợi dụng chính điều này. Thực ra tôi chỉ làm hai thí nghiệm liều lĩnh. Lên chính bản thân tôi ở Miến Điện và lên anh, Samuel ạ, ở đây. Và cả hai đã hoàn toàn thành công. Tôi đã làm những thí nghiệm ấy vì khoa học lớn và vì lợi ích của nhân loại. Những công trình của tôi, khi được đánh giá đúng, sẽ làm vinh dự cho tổ quốc chúng ta, các bạn...
- Thưa ông lớn, ông đã có một phát minh? - Vandock không thể không hỏi.
- Phải, tôi đã khám phá ra rằng virus là những chất đạm ký sinh. Những phân tử của chúng có tác dụng như những mầm lây, nhưng điều chủ yếu là...
- Bẩm đức ông! - Vandock thốt lên. - Cha tôi đã từng làm việc ở vườn thực vật ở Java. Tôi đã từng nghe ông nói một điều gì đấy về sự lây bệnh này.
- Hay lắm. Nghĩa là anh sẽ không ngáp trong lúc tôi nói chuyện. Các virus, hoặc như người ta còn gọi là các virus qua lọc, - cũng là một cả thôi - có thể cải tạo được. Các nhà vi khuẩn học biết cấy những vi trùng có phẩm chất cần thiết cho các thí nghiệm, cũng như các nhà thực vật cấy được các loại thảo mộc. Và ngay cả tôi, sau khi nghiên cứu cấu tạo phân tử của các chất đạm ký sinh đã bắt đầu cải tạo chúng bằng phương pháp hóa học. Với việc cải tạo nhân tạo, trong một số trường hợp virus dần dần mất tính tác hại của nó, còn trong những trường hợp khác chúng lại có thêm những đặc tính sinh vật mới. Tôi đã kiểm tra một đặc tính như thế lên cơ thể mình. Virus đã làm thay đổi nét mặt của tôi. Vandock đã đến với tôi như đến với tiến sĩ Rolls, anh ấy không biết rằng trước mắt anh ấy là Milrois, người mà anh ấy cần theo dõi. Và cả anh nữa, Samuel, không nhận ra Dobby chính là “giáo sư rắn” của mình. Chính virus ấy đã làm thay đổi ngay cả bản thân Vandock. Và từ đấy mới nảy ra một loạt các cuộc phiêu lưu mạo hiểm, không phải chỉ đối với Samuel. Một vài loại virus do tôi gia công và thuần hóa bằng phương pháp nhân tạo đã tỏ ra có khả năng cải tạo toàn bộ cấu tạo các chất đạm của cơ thể. Bệnh khảm sần của khoai tây, bệnh quăn lá của bông, việc lá biến thành có gai, sự biến đổi những dấu hiệu bên ngoài của cây mía - tất cả những cái đó anh đều đã biết phải không, Samuel?
Và người đỡ đầu của tôi đã kể về chuyện ông bị trục xuất và phải rời về phòng thí nghiệm cũ ở Miến Điện, nơi mà học trò quang vinh của ông là Liz, con gái bác Migli, đã sống và làm việc. Phòng thí nghiệm này cần được cung cấp thêm tiền để tiếp tục những thí nghiệm đã bị bỏ dở ở Oldmount. Ở Mỹ, trên đường sang Miến Điện, lúc nghỉ chân ở một khách sạn, Pucklington đã phạm một sai lầm: ông đã đăng ký với người gác cổng khách sạn bằng cái tên đầu tiên chợt nhớ ra. Đó là tên ông tổ xa xưa về đằng mẹ, tên là William Milrois, cụ sống vào chính cái thời đại cách mạng vĩ đại 17 tháng hai năm 1646 và đã bỏ phiếu tán thành bản tuyên bố của nước cộng hòa. Merling đã đoán được cái tên ấy, hắn chỉ cần đọc xong bản thông báo của thủ trưởng phòng do thám có kèm theo danh sách những người đã đến Tân Thế giới trong thời kỳ từ 6 tháng năm tới 6 tháng sáu năm 193... Người ta đã xác định được sự giống nhau giữa Milrois và Pucklington cũ. Phòng do thám đã nhận được một đề nghị có lợi, và từ giờ phút ấy bắt đầu công việc của Vandock. Những tiêu bản bào chế gửi từ trạm rắn đi tỏ ra là những tiêu bản tốt nhất trên thị trường thế giới, nhưng bí mật của sản xuất thì chỉ lord và Liz biết. Nhờ những nọc rắn, lord đã thu được món tiền lớn gấp đôi toàn bộ giá trị của lâu đài Oldmount. Sau khi nhận thấy sự theo dõi của Vandock, thoạt đầu Pucklington nghĩ rằng tên do thám ấy do các hãng cạnh tranh với ông phái đến với mục đích khám phá bí mật của sản xuất. Ông không thể cho phép điều đó...
- Samuel ạ, ngay cả anh tôi cũng đã kiểm tra, nhưng anh chỉ tỏ ra là một thanh niên hiền hậu và ham hiểu biết, và tôi đã gắn bó với anh. Chính tôi biết rằng anh không phải chỉ là Samuel, mà còn là Pingle... Do đó tôi rất muốn dạy anh làm quen với công việc ở trạm rắn.
- Tôi sẽ nhớ mãi cái trạm ấy, - Vandock nói. - Nhưng, tựu trung, cả tôi cũng nghĩ, không biết liệu mình có tìm ra được một cái trại như thế không. Nói cho trung thực thì, có lẽ, nuôi rắn jirr và các loại rắn khác còn có lợi hơn là nuôi lợn hoặc lừa. Chỉ có điều là trước hết phải có một cái đầu uyên bác, mà cái đó thì tôi không đủ. Bẩm xin lỗi đức ông, nhưng tôi muốn nghe cho đến đầu đến đũa về những con virus đáng nguyền rủa ấy. Chúng đã làm tôi thay đổi đến nỗi ngay cả Samuel cũng không nhận ra được. Nếu tôi có thò đầu về phòng do thám thì ông giám đốc cũng cho tôi là một kẻ mạo nhận.
- Anh Vandock ạ, còn có thể làm thay đổi các phân tử virus tới mức, - Pucklington nói, - chúng làm cho cơ thể không thụ cảm được với những loại vi trùng lây bệnh ghê gớm nhất. Sau khi đã được tiêm chủng ở Nabukhatra và ở đây thì anh, Samuel ạ, có khả năng tuyệt đối tránh mọi bệnh lây. Chó dại, chuột mang bệnh dịch hạch có thể cắn anh, muỗi sốt rét có để đốt anh, nhưng không bao giờ một virus, một vi trùng có thể thích ứng trong cơ thể anh nữa, Samuel ạ...
- Nhưng tôi sẽ vĩnh viễn bị biến dạng đi, - tôi nói thì thầm.
- Không, Samuel. Tôi chỉ tiêm vào người anh loại virus đã bị làm yếu đi. Nó chỉ có tác dụng nhất thời. Chẳng qua là anh quá sợ hãi đó thôi. Theo tôi thì đã chẳng còn lại một dấu vết nào của những biến đổi đã đến với anh. Hãy lấy chiếc gương trong tủ ra rồi nhìn xem.
Chiếc gương cho thấy rằng chẳng có chuyện gì ghê gớm xảy đến với tôi hết. Trong gương, một người trẻ tuổi với bộ mặt gầy, rám nắng và cương nghị đang nhìn tôi.
- A đúng là tôi rồi! - tôi reo lên sung sướng. - Ông đã chữa khỏi cho tôi rồi! Muôn vàn cảm ơn ông!
- Đưa gương cho tôi nào, - Vandock đề nghị. Hắn nhìn vào gương và chỉ phẩy tay. - Mẹ đẻ cũng không nhận ra mất! Lẽ nào chỉ nhận ra nhờ có vết sẹo ở sau gáy: trước đây có lần tôi đã đánh lộn với tụi trẻ ở ngoài phố, suýt nữa thì chúng đánh bể đầu tôi.
- Nếu muốn, tôi sẽ chữa khỏi cho anh? - Pucklington hỏi Vandock, nhưng hắn thận trọng đặt chiếc gương xuống bàn và lắc đầu từ chối.
- Xin cảm ơn ông. Việc đó không đáng để ông phải lo lắng. Trên đời này tôi chẳng còn ai thân thiết. Tôi sẽ sống đại khái cho qua ngày với cái hình dáng thế này cũng được. Nó có tồi tệ gì hơn những kẻ khác đâu?
Pucklington còn nói thêm một vài dự kiến đáng chú ý về virus nữa. Có lẽ đó là những tàn dư của các vi trùng, trong quá trình tiến hóa hàng chục triệu năm chúng đã quen với trạng thái ký sinh độc đáo như vậy và sau thời gian ấy chúng đã mất những đặc điểm chung vốn có của các vi sinh vật. Dù sao, những virus mà Pucklington nghiên cứu đã trở nên “dễ bảo” và bắt đầu tuân theo khoa học và ý chí của con người.
Trong khi kể cho chúng tôi nghe về bản thân và về virus, lord đã hào hứng lên. Một lần nữa “giáo sư rắn” thân yêu ngày trước lại ngồi trước mặt tôi, và đó cũng chính là người đã giúp đỡ tôi học tập ở trường Dijan, ở Miến Điện, và cả ở đây. Tôi thích thú nghe ông nói, và cảm thấy mỗi lời nói của ông đã làm cho tôi trở nên giàu có hơn.
❖ V ❖
Pucklington nói rằng nếu tách chất đạm từ những mô của một con chó ra và bằng phương pháp nhân tạo làm cho nó có khả năng sống ký sinh, rồi sau đó đưa nó vào cơ thể của một con mèo sống thì có thể gây nên sự cải tổ về cấu tạo của những chất đạm của mèo; điều đó sẽ làm cho mèo có những đặc tính của chó.
- Phải, Samuel ạ, ở phòng nuôi thú thí nghiệm của tôi chính anh đã thấy rằng chó đã bắt đầu có những biểu hiện như mèo và ngược lại.
Vandock vỗ tay vào trán đánh bộp.
- À phải rồi, có đúng là những con vật của ông đã bất ngờ xuất hiện ở Ashworth ngày hôm kia không? Những con mèo giống chó và những con chó kêu như mèo. Chà, cái chuyện buồn cười!
- Rất tiếc là Samuel đã để sổng khỏi chuồng, - Pucklington khẳng định.
- Chà, người ta không cám ơn ông vì việc ấy đâu, - Vandock lắc đầu và hướng về phía tôi. - Những mèo-chó ấy đã truyền bệnh đi khắp nơi. Bẩm ngài, chỉ cần ngài biết rằng quan đại tụng, ông thẩm phán và nhiều người khác đã mắc bệnh ra sao!
- Biết, biết chứ, - Pucklington trả lời. - Hừm... không đáng ngại. Những virus nhân tạo không đến nỗi bền vững như anh tưởng đâu. Người bán thuốc trẻ tuổi vẫn thường cung cấp thuốc thử cho tôi đã báo ngay cho tôi biết về một bệnh dịch bí ẩn và về những nỗi bận rộn do nó gây ra cho bác sĩ Fleet kính mến. Tôi đã được đọc những đơn thuốc của ông. Những đơn thuốc ấy rất đúng. Samuel, tôi thấy rõ là anh đang cười. Không khi nào nên cười về một việc mà anh còn chưa hiểu biết. Fleet đã già, và vì vậy ông là một bác sĩ rất có kinh nghiệm. Ông đã hiểu được vấn đề là ở đâu. Bằng cách hỏi han trò chuyện với các bệnh nhân ông đã điều tra được nguồn gốc của bệnh lây. Hôm nay tôi đã gặp ông. Chúng tôi đã hồi tưởng lại một chuyện cũ. Vào năm 1918 ở mặt trận xuất hiện một thứ bệnh kỳ lạ mà tất cả các bác sĩ đều thừa nhận là một “bệnh sốt còn chưa rõ nguồn gốc”, bởi vì họ còn chưa biết nó nên đã lẫn lộn trong chẩn đoán, một bác sĩ già đã tìm ra, ông ta chăm chỉ thăm khám có mười bệnh nhân và nói: “Các bạn đồng nghiệp thân mến, đây chính là một bệnh cúm thông thường”. Và ông ta, cái con người thực hành già dặn ấy, đã tỏ ra là đúng. Bệnh sốt không rõ nguồn gốc đã lan thành một bệnh dịch trên khắp hành tinh của chúng ta dưới cái tên “bệnh Tây Ban Nha” không gì khác là influenco gripo, tức là bệnh cúm, một thứ bệnh do virus gây ra, nhưng ở một dạng đặc biệt nặng. Những bệnh nhân của bác sĩ Fleet tất thảy đều sẽ khỏi và hiện đang khỏi.
Tôi muốn biết rõ là ở đây, ở phòng thí nghiệm này, Pucklington đã làm thí nghiệm gì lên bản thân tôi. Ông nói:
- Tôi phải trở về quê hương Ashworth sao cho không ai nhận ra mình. Tôi đã làm xong hầu hết các thí nghiệm, chỉ còn phải làm nốt một thí nghiệm cuối cùng nữa và tìm cách khôi phục lại tước vị cũ cho mình. Vandock ạ, tôi tưởng rằng ở Mazatlán tôi đã dứt khoát thoát khỏi anh. Milrois đã biến mất, Rolls cũng biến, và ở đây, ở ngoại ô Ashworth có một ông Dobby nào đó đến ở. Migli trung thành của tôi ở lại sống ở Wesley bằng tiền do tôi gửi qua con gái của bác là Liz, bác đã xây dựng ngôi nhà này với sự giúp đỡ của Isidore Pingle. Rất tiếc là Isidore đáng thương đã từ giã cõi đời, tôi đã không được gặp lại ông lúc còn sống. Samuel ạ, Migli sẽ kể lại cho anh nghe những giây phút cuối cùng của cha anh. Ông chết mà trên môi còn mấp máy gọi tên người vợ thân yêu và tên anh...
Nghe những lời nói ấy của Pucklington, bất giác nước mắt trào ra trên hai khóe mắt tôi.
- Migli là người bạn trung thành nhất của tôi, - Pucklington tiếp khi tôi đã bình tâm lại. - Chính là bác đã theo dõi Vandock ở đây, đã xác định rằng Vandock viết báo cáo của mình ở khách sạn “Neptune” rồi đem đến nhà bưu điện gửi đi theo địa chỉ “S.S.” Chính bác cũng lại đã biết rõ ai là kẻ thực tế nhận những bức thư đó.
Vandock thở dài.
- Ông trưởng phòng bưu điện hàng tuần vẫn được tôi biếu...
Pucklington gật đầu với vẻ đại lượng.
- Nhưng Migli đã biếu ông ta nhiều hơn. Tôi đã đến đây để làm gì? Tôi cần phải hoàn thành một thí nghiệm kiểm tra cuối cùng. Và phải là thí nghiệm lên con người. Ở Miến Điện thì tôi đã có thể thuê bất kỳ một người dân địa phương nào đấy, nhưng ở đây? Cần phải dùng loại virus “cây gai của người Bushmen” đã bị biến đổi để làm thay đổi ngay lập tức cấu tạo chất đạm trong cơ thể con người, rồi sau đó lại phải khôi phục lại trạng thái cũ. Tôi không thể làm hỏng công việc của cả đời tôi. Cần phải tìm một người đang thất vọng. Mùa thu năm ngoái, trên bờ kênh Wesley tôi đã gặp một thanh niên đang định nhảy xuống đáy kênh để thanh toán với cuộc đời. Nhưng khi tôi đưa anh ta về đây thì tôi nhận ra rằng trên đường tôi lại gặp anh, Samuel, con trai ông Pingle của tôi, học sinh của tôi ở Miến Điện, chính con người đã cứu giúp tôi ở Bell Harbor. Và bấy giờ lần đầu tiên lòng tôi thoáng thấy không yên.
- Ông đừng nghĩ rằng tôi đã cố tình gặp ông... - tôi đã toan nói vì nhớ lại những nỗi ngờ vực của ông về mối quan hệ của tôi với Vandock.
- Lúc ấy anh có cái vẻ của một con người sẵn sàng đón nhận cái chết tới mức tôi không còn nghi ngờ được nữa, - Pucklington nói một cách rất tự nhiên. - Tôi đã do dự rất lâu. Nhưng những quyền lợi của khoa học đã thắng. Anh bị đau đầu. Tôi nói rằng đó là do bệnh sốt vàng. Anh đã tin tôi. Tôi đã lấy cớ chữa bệnh để tiêm virus vào người anh. Và tôi đã định làm nốt những việc còn lại mà không để anh biết...
- A, bẩm đức ông! - Vandock vỗ tay đánh đét. - Nếu như ở Mazatlán tôi không làm ông nghi ngờ thì ông cũng đã tiêm cho tôi cái của ấy rồi đấy nhỉ? Do đó mà ông đã giấu gương đi và tự tay cạo râu cho tôi hai lần...
- Anh đoán giỏi đấy! - Pucklington cười. - Nhưng khi anh đánh vỡ ống nghiệm đựng virus thì chính là tự anh đã chăm lo đến bản thân mình. Khi Samuel lén tôi bỏ về Ashworth và không ai nhận ra mình thì anh ấy hầu như đã đoán được. Bấy giờ anh ấy đã làm ngậu xị lên, và tôi đã phải bịa ra kể cho anh ấy câu chuyện hoang đường về rắn jirr...
- Bây giờ thì chuyện đó đã qua rồi, - tôi đáp.
- Vậy thì chúng ta sẽ nói chuyện hiện tại, - Pucklington nói và cầm từ bàn lên một chiếc phong bì lớn có đóng dấu mang quốc huy. - Nghe đây, Samuel, - ông nói và nhìn vào mắt tôi, - một tháng trước đây tôi đã gửi bản thảo của mình cho Hội khoa học y học. Tôi đã mô tả lại toàn bộ những phát minh và thí nghiệm của tôi. Tôi chờ đợi thư trả lời quyết định số phận tôi. Nhất định tôi phải được phong tước vị vì những hoạt động khoa học của tôi. Nhưng tối hôm qua tôi đã nhận được thư trả lời. Anh đọc đi...
Trên tờ giấy mịn bóng, phía dưới quốc huy là những dòng chữ:
“Ông Dobby kính mến.
Dựa theo báo cáo của một ủy viên trọng trách của Hội phát minh và sáng chế về những thông báo chính thức của ông đề cập tới sự nhận thức bản chất của cái gọi là virus, ông được thưởng tiền trợ cấp danh dự suốt đời mỗi năm một đồng, trong giới các nhà bác học đây là phần thưởng cao nhất cho những công trình sinh vật học.
Trong khi gửi tới ông lời chào kính cẩn của cá nhân tôi cũng như của các bạn đồng nghiệp của tôi, tôi đồng thời vui mừng nhận thấy có bổn phận phải báo để ông rõ, rằng những tài liệu của ông về virus đã được gửi về ủy ban chuyên trách, còn quyết định về tiền trợ cấp danh dự thì gửi về Sở tài chính để làm thủ tục.
Mong ông hãy nhận ở tôi lời đoan chắc và vân vân...”
Vandock đứng dậy khỏi ghế và kêu lên:
- Tôi đánh cuộc là lord Pucklington... Nghĩa là Merling đã ký ở dưới!
- Không, - tôi trả lời. - Chữ ký không rõ ràng...
- Phải chăng cũng vẫn thế thôi? - Pucklington cười mỉa mai. - Rõ ràng là Dobby có thể gọi mình bằng bất cứ cái tên gì do ông nghĩ ra thì gọi: Milrois hoặc Rolls. Nhưng ông đã không bao giờ có thể trở thành lord ngày trước được nữa.
Vandock vuốt tóc ra sau gáy.
- Bẩm ông lớn, khó đấu tranh với bọn Merling lắm. Bây giờ thì tôi đã rõ hết mọi chuyện “như soi qua kính hiển vi” vậy, phải cái ông béo vẫn uống soda ở hiệu thuốc thì ông ta đã nói như vậy. Thôi này, Samuel... Ra khỏi đây một cái là anh cứ việc thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Hãy nện tôi đi. Tôi sẵn sàng nhận những quả tống mà anh đã phải chịu thay tôi. Và luôn tiện nện thêm cho tôi vài quả nữa. Tôi có tội vì đã giúp Merling.
Sự im lặng nặng nề kéo dài trong giây lát. Tôi đã hiểu rõ tất cả. Trông vẻ mặt lord Pucklington cũ lòng tôi tràn ngập một niềm xót thương sâu sắc.
Nhưng ông không buồn nản.
- Thôi nào, các bạn! - ông nói vui vẻ. - Hãy giúp tôi tống vào lửa cái huy hiệu của lord Ashworth. Trông này, tôi đã sáng tác ra cho mình cả cái hình huy hiệu. Trên cái mộc tôi đã viết một phương châm: “Truyền thống và niềm tin”. Nhưng chúng đã thua thành kiến và sai lầm, cứ mặc cho chúng bùng cháy lên...
Pucklington ném vào lửa bức thư về tiền trợ cấp danh dự, rồi những phong bì, những giấy tờ gì đó, bức ảnh một bà trẻ tuổi nghiêm nghị đeo những vòng ngọc trai quý trên cái cổ mảnh và dài, những quyển vở, những mảnh giấy nháp...
Bức tranh vẽ bằng thuốc nước trên bìa carton bị Vandock nhét vào lò cháy quăn lại thành than rất lâu và cuối cùng cháy bùng lên, một nửa biến thành tro.
- Lẽ nào ông muốn thiêu cháy cả những công trình của mình? - tôi nói lẩm bẩm, mắt nhìn đống lửa trong lò sưởi. - Nếu ông đã mỏi mệt và không muốn nghiên cứu khoa học nữa, thì hãy nhớ tới Liz... hãy nhớ tới tôi...
- Anh nói đúng, chàng trai ạ, - Pucklington nói với giọng sảng khoái. - Cả hai người đều là học trò của tôi. Và nhờ có hai người mà tôi cũng cảm thấy mình trẻ. Đừng lo, tôi sẽ không ngừng làm việc. Và đừng thương xót tôi. Cái quý nhất còn lại với tôi là khoa học của tôi. Và tôi không đơn độc: tuổi trẻ của các bạn là chỗ dựa của tôi, lực lượng hậu bị của tôi, với lực lượng ấy tôi sẽ tiến xa hơn nữa vào trận chiến đấu chống những thành kiến khoa học. Những cái mà tôi đốt ở đây chỉ là những chuyện nhỏ mọn, những công việc riêng. Còn những hồ sơ lưu trữ khoa học của tôi thì ở trạm rắn kia. Sáng nay tôi đã nhận được một bức điện đáng lo ngại của cô Liz. Cô ấy báo rằng có những nguyên nhân rất quan trọng buộc phải chuyển gấp trạm nghiên cứu và những hồ sơ lưu trữ của tôi từ Miến Điện về phía tây. Cô ấy đã tìm được một nơi thích hợp ở đâu đấy trong vùng Thượng Punjab. Cô ấy yêu cầu tôi đến ngay. Tôi đã đánh điện đi và đang đợi trả lời.
- Tôi đi với ông! - tôi la lên nài nỉ và im bặt ngay khi nhớ tới Edith.
Vandock đứng dậy và lễ độ nghiêng mình.
- Bẩm đức ông, hãy cho cả tôi đi. Hình như tôi thay đổi nghề nghiệp thế này là quá muộn rồi. Nhưng với tôi thì lũ jirr sẽ phải tăm tắp đâu vào đấy. Đức ông truyền lệnh đưa toàn bộ lũ rắn đi đâu tôi sẽ đưa đi đấy. Dù có phải đưa chúng lên những đỉnh Himalaya cũng được. Xin đức ông cứ yên tâm. Số bốn trăm hai mươi mốt bây giờ đã vĩnh viễn bị xóa khỏi danh sách những người dân sống trên hành tinh của chúng ta. Chỉ còn lại có Dick Vandock...
Hắn lắng tai nghe. Một chiếc mô-tô lao đi trên đường nhựa tiến tới gần biệt thự.
❖ VI ❖
Migli bước vào phòng, hai tay cầm chiếc khay nhỏ bằng bạc.
- Bẩm điện gửi đức ông, - bác ta nói với vẻ quan trọng.
Pucklington cầm bức điện trên khay lên, ông bóc ra đọc rồi vội đứng dậy.
- Migli!
- Bẩm dạ, - Migli kính cẩn nghiêng đầu.
- Gọi ô tô đến ngay đây! - Pucklington ra lệnh. - Đưa áo cho tôi mặc. Một người sẽ đi cùng tôi... - Pucklington nhìn Vandock, rồi nhìn tôi, rồi lại nhìn Vandock, - Vandock sẽ đi, - ông nói thêm với giọng dứt khoát. - Theo anh, đi đường nào ngắn hơn?
- Bẩm thưa đi ô tô tới sân bay ở bờ phía đông. Từ đó đi máy bay tới Lisbon. Đến Morocco. Đi máy bay dọc theo bờ biển bắc châu Phi, qua Ai Cập, qua kênh Suez, qua Ceyland, còn từ Colombo mất ba tiếng đi thủy phi cơ đến Rangoon.
- Đúng, - Pucklington nói. - Từ Lisbon chúng ta sẽ đánh điện báo cho Liz biết về chuyến bay của chúng ta. Còn anh, Samuel, đừng buồn nhé. Tôi không vĩnh biệt anh đâu. Tôi sẽ trở lại. Tôi biết rằng tôi cần cho nơi đây, cho quê hương tôi. Còn anh thì có biết bao niềm vui sướng lớn lao đang chờ đợi ở Ashworth. Anh sẽ ở lại đây với Migli, bác ấy sẽ cho anh ăn, còn sáng ra thì lên đường về nhà. Tôi để anh lại đây giúp Migli, cả hai người có trách nhiệm bảo vệ ngôi nhà này. Tôi sẽ trở lại và nhất định phải thấy được mọi việc đều đâu vào đấy.
- Xin ông cứ yên tâm! - tôi nhiệt tình kêu lên.
Như vẫn thường thấy trước mỗi chuyến đi vội vã, trong nhà bắt đầu cảnh chạy ngược chạy xuôi rối rít. Và tôi, trong lúc hăng hái giúp việc bác Migli, không nhận ra ngay có tiếng còi ô tô gọi ở phía ngoài cổng.
Tôi ngồi trong phòng ăn cho tới sáng. Bác Migli đãi tôi một bữa cơm tối thịnh soạn. Còn tôi thì phải kể lại cho bác nghe tất cả những gì tôi biết, tất cả những chi tiết về cô con gái Liz của bác. Bác cho tôi xem ảnh. Liz đứng trên gác sân của ngôi nhà trong bộ quần áo pijama kẻ sọc và cầm trong tay một con yigshu còn đang ngủ. Bức ảnh gây ấn tượng rất mạnh, nhưng Migli càu nhàu:
- Chụp với ai thì chẳng chụp. Lại chụp với rắn. Chỉ được cái khéo vẽ chuyện!
Bác Migli kể cho tôi nghe nhiều chuyện về lord Pucklington.
- Ông là người thích cô độc, và vì thế không có bạn. Nhưng đối với tôi, cha anh và với con gái tôi thì bao giờ ông cũng tốt bụng. Và cả anh nữa, Samuel ạ, ông cũng rất quý. Hơn nữa ông đã sai tôi mang gửi lương của anh vào nhà băng Ashworth, ghi tên anh, và ông còn ghi thêm một số tiền nữa. Samuel ạ, thế là anh đã có chút tiền nong để mua sắm những thứ cần thiết đầu tiên.
Tiếp theo, câu chuyện nói tới cha tôi và những giây phút cuối cùng của ông, và sau hết, khi Migli đã về phòng mình, tôi đã cho phép tôi tha hồ khóc. Tôi khóc thương người cha nghèo khổ của tôi thế là đã không được thấy niềm hạnh phúc chân chính trong đời mình, và đồng thời, chưa bao giờ như lúc này, tôi cảm thấy sâu sắc rằng hạnh phúc của tôi đang tới gần: chỉ cần đưa tay ra là với tới nó. Toàn bộ lòng ghen tức với Bob, nỗi buồn phiền và lo ngại đều đã tan biến đi theo dòng nước mắt của cái đêm hôm ấy.
Mệt mỏi, tôi ngủ thiếp đi trong chiếc ghế bành. Những tia nắng mặt trời đã làm tôi bừng tỉnh. Tôi đã tắm rửa, cạo râu, chải đầu. Bác Migli đưa cho tôi bộ quần áo. Và thế là tôi từ biệt người cha của Liz.
Tôi đi xuống thành phố thân thương và nghĩ. Chẳng việc gì mà vội. Cần phải đợi cho tới khi các cửa hiệu mở cửa đã. Tôi sẽ mang một vài món quà mọn cho bác, cho Olivia và cho...
Nhưng khi sờ đến các túi thì tôi mới rõ là chúng đều rỗng không. Tôi không còn lấy một xu. Điều đó làm tôi buồn bực. Nhà băng thì mãi đến mười hai giờ mới mở cửa.
Tôi lặng lẽ đi trên con đường lát đá. Đây kia, những vết tích còn lại của cây sồi bị cháy và tấm thảm hoa tím diễm lệ đang nở về sáng. Tôi hái một bó những bông hoa dịu dàng còn ướt đẫm sương đêm ấy. Tôi khoái trá hít ngửi hương thơm dìu dịu của chúng. Và cùng với hương hoa, không khí trong lành của quê hương thấm đượm vào mãi trái tim tôi. Như một cơn lốc, tất cả những kỷ niệm của tuổi thơ và thời đầu niên thiếu ùa vào tâm hồn tôi. Tôi cảm thấy như chưa bao giờ tôi rời khỏi nơi đây và lúc nào cũng ở tại chốn này...
Tôi dấn bước và gần như chạy lao xuống phía dưới đường nhựa, tôi cảm thấy mặt trời sáng lên một cách đặc biệt; dường như nó vui mừng chào đón tôi trở về. Tôi chạy qua chiếc cầu nhỏ rồi dừng lại để ngắm nhìn Ashworth. Nhưng tôi đã trông thấy Edith.
Cô đi ngược về phía tôi, đầu cúi xuống, xanh xao và trầm mặc.
- Edith!.. - tôi kêu lên và lao về phía cô.
Cô ngước nhìn tôi bằng cặp mắt to dè dặt. Và nụ cười trẻ con tràn trề hạnh phúc đã làm rạng rỡ khuôn mặt cô.
- Anh Samuel! Anh Samuel thân yêu! - cô nói thì thầm.
Chúng tôi nắm tay nhau.
- Edith, anh đã trở về. Em lớn quá mất thôi! Không nhận ra được nữa.
- Còn anh... còn anh chẳng thay đổi gì. Chỉ có... - cô nhìn xuống, - chỉ có... khá hơn lên.
- Em vẫn chờ anh chứ? - tôi hỏi và đưa tặng cô bó hoa tím.
- Cám ơn anh thân yêu, - cô thì thầm và đôi môi ấm áp của cô chạm vào má tôi trong giây lát. - Tất nhiên là em đợi.
Chúng tôi đi rất chậm theo đường nhựa. Trong đời chỉ có một lần có được những khoảnh khắc mà người ta muốn kéo dài mãi mãi.
- Lúc nào em cũng chờ đợi anh, - Edith nói. - Nhưng hôm kia anh đến bên quầy giải khát... Em làm việc ở đấy... Anh nói với Bob rằng chiếc thuyền đua của hắn trôi ra biển, nhưng rồi chính anh lại bỏ đi ngay...
- Lẽ nào em đã nhận ra anh? - tôi hỏi.
- Anh Samuel, sao em lại có thể không nhận ra anh? Em chỉ nghĩ rằng anh kiêu căng và bây giờ không muốn nhận em nữa. Và em đã quyết định cũng giữ thái độ như thế. Nhưng hôm nay... Chà, em cũng không biết nữa, nhưng có một cái gì đấy đã lôi cuốn em đi về phía cầu...
Chúng tôi nhìn vào mắt nhau và cùng cười.
- Em biết không, Edith... Anh đã trải biết bao nhiêu cuộc phiêu lưu, mà không thể nào kể lại ngay bây giờ được, - tôi nói. - Nhưng bây giờ anh chỉ nghĩ có một điều: “Anh có cần phải rời khỏi đây nữa không? Vì nếu là để tìm hạnh phúc, thì nó đây, đang ở cạnh anh...”
- Cần, anh Samuel ạ, - Edith trả lời nghiêm chỉnh. - Chúng ta đã suy nghĩ kỹ về tình bạn của chúng ta. Tình bạn ấy đã khác đi rồi, tốt đẹp hơn, bền vững hơn. Đừng cãi lại em, anh thân yêu. Em hiểu anh hơn cả bản thân anh.
Thế là chúng tôi đã về tới nhà. Bác tôi kêu lên khi nhìn thấy tôi:
- Ai chà, trời!! Cháu tôi! Samuel! Vẫn sống hử, thằng nhóc!..
U già Olivia vừa hôn tôi vừa khóc nức nở vì vui sướng.
- Vừa hay, Samuel ạ, - bác tôi vừa nói khi những giây phút mừng rỡ đầu tiên đã lắng xuống. - Có giấy gọi của văn phòng “Little Junior” gửi cho cháu...
- Của ngân hàng à? - tôi hỏi.
- Phải rồi... một ngân phiếu. Và chẳng hiểu viên chạy giấy còn nói luyên thuyên những gì nữa về một tổng số tiền mà bác không thể nào tin được...
- Phiếu chuyển ngân của địa phương ư? - tôi hỏi dò và nghĩ đến Pucklington.
- Hay là cháu hãy đến ngay đi, rồi sẽ biết, - bác tôi giục.
Sau khi đã bắt Edith phải hứa ở lại chờ, tôi đến nhà băng.
Vừa nghe thấy tên họ tôi viên chánh văn phòng đã chồm dậy khỏi ghế.
- Ông Pingle đấy phải không ạ? Ôi chao... ôi chao... Chúng tôi đã gửi giấy báo cho ông đến lần thứ ba rồi. Có một ngân phiếu gửi cho ông từ Hollywood. Và một lá thư... Thưa ông Pingle, chúng tôi hy vọng rằng ông sẽ mở một ngân khoản ở nhà băng chúng tôi chứ ạ?
- Cho xin lá thư! - tôi sốt tiết đề nghị.
Đây là những điều viết trong thư:
“Ông Pingle kính mến!
Xin cho phép tôi báo để ông rõ rằng... Không, Samuel thân mến, tôi không biết viết những lá thư trịnh trọng. Tốt hơn là tôi sẽ viết cho anh một cách mộc mạc như viết cho một học trò tài năng của tôi vậy. Clips của anh đang viết cho anh đây. Xin chào anh, chàng thanh niên ạ. Tôi hy vọng rằng cuối cùng thì anh đã về được tới cái thành phố nhỏ của mình. Luật sư Godwin của chúng tôi đã biết đích xác địa chỉ của anh nhờ một người bạn của mình là ông dự thẩm Greg. Godwin đã cho tôi biết địa chỉ ấy. Cả hai gửi tới anh lời chào nồng nhiệt, đặc biệt là Greg. Ông ta rất hài lòng với lời nhận xét của anh về hoạt động của ông ta do một tay Ben nào đấy mà tôi không biết truyền đạt lại. Tôi viết cho anh để nói rõ một vài chi tiết mà có lẽ anh muốn biết khi nhận được số tiền gửi đến. Anh có thấy chăng khi người ta giải anh ra tòa lần đầu tiên thì Harry Pimpernel của chúng tôi, ông vua của những nhà viết kịch bản, ngồi ở lô phóng viên. Nhưng số mệnh nào đã dẫn ông tới đó, ngay giờ đây ông cũng không thể giải thích được. Những miệng lưỡi độc ác đã khẳng định rằng động cơ đốt trong của ông chạy được thường là nhờ vào hơi rượu. Vậy là Harry của chúng tôi đã ngồi trong tòa và lòng thì ngao ngán. Ông đang bị lương tâm cắn rứt, vì ông đã nuốt hết số tiền tạm ứng cho một kịch bản mà người ta đặt ông viết, nhưng ông mới chỉ viết được một nửa phần thứ nhất. Và bỗng nhiên anh tuyên bố với tòa rằng anh là “Người nhẹ hơn không khí”. Và bấy giờ một tia sáng bỗng lóe lên trong óc Harry của chúng tôi, một cảm hứng sáng tạo thần thánh bắt đầu mọc lên trong đầu ông, như thể cái cây trên thiên đường phủ đầy quả vàng. Cái chủ đề, sắc nhọn như con dao nhíp Mexico, đã chuẩn bị xong vào chính giây phút ấy. Samuel ạ, chúng ta là những con người của một nếp công việc. Chỉ một phút sau Godwin đã được thuê cãi cho anh. Godwin đã phải vã mồ hôi, nhưng ông ta đã hoàn thành nhiệm vụ và thắng viên thẩm phán. Nói tóm lại thì kịch bản đã được viết xong sau một đêm. Còn sang ngày hôm sau thì ông vua màn bạc Charlie Beechcher đã được quay trước ống kính trong xưởng phim. Mọi việc đều làm giấu anh để anh khỏi lo lắng. Nhưng Charlie không dám liều mạng nhào lộn trong không khí. Anh ta là một vận động viên tồi. Và cái lõi của cuốn phim - là cú nhảy chết người - thì anh phải làm thay Charlie. Kết cục của cuốn phim được dự tính theo hai hướng. Một là hướng lạc quan, nếu anh lao đúng thùng đựng nước muối. Hai là hướng buồn thảm, nếu anh trượt ra ngoài. Chủ đề của cuốn phim không phức tạp lắm. Trước lúc quay báo chí cũng viết về nó theo những chiều hướng khác nhau. Tôi đã đóng vai cha anh, một nhà tỉ phú. Floria Get, một ngôi sao màn bạc đóng mẹ anh. Theo kịch bản thì bà ta phải năn nỉ anh đừng nhảy. Thế là bà ta nhảy xổ ra khi tôi với anh bước ra lễ đài. Nói tóm lại, mọi việc đều diễn ra hết sức tốt đẹp. Có thể là anh sẽ được thấy mình trên màn ảnh. Charlie hóa trang rất tốt nên trông giống anh lắm. Bây giờ thì người ta phải gửi trả tiền đóng phim cho anh. Mười nghìn dollar cho cú nhảy. Còn về tiền đóng phim thì cứ mỗi lời anh nói ra người ta trả một nghìn. Bởi vì anh đã nói năm từ, vì vậy, anh được trả năm nghìn. Tổng cộng lại ban giám đốc gửi cho anh mười lăm nghìn dollar. Khi nhận được anh hãy cho biết tin”.
Tiếp theo Clips đã tả lại một tiết mục mới gì đó của chương trình biểu diễn và nói rằng ông ta chưa mất hy vọng được gặp lại tôi trên vũ đài một lần nữa.
Vì đã mất hết khả năng biết ngạc nhiên nên tôi nhận tập séc mới rồi trở về nhà. Tôi ngồi vào chiếc ghế bành của cha ngày trước và kể lại cho mọi người nghe về cái ân huệ bất ngờ của số phận. Sau khi mọi người đã bàn tán ồn ào để biểu thị nỗi vui sướng, bác tôi hỏi:
- Hử, thế bây giờ cháu muốn gì?
Tôi ngắm nhìn những bức tường thân thiết, những cây cối quen thuộc dưới cửa sổ, những khuôn mặt thân yêu và trả lời:
- Cháu chẳng thiết gì những cú nhảy cầu, những công viên rắn, những cú nhảy chết người và những tập séc nữa. Cháu muốn lấy cô Edith Winters. Và cháu muốn lấy ngay, càng nhanh càng tốt.
Bác tôi tung chiếc tẩu của mình lên. U Olivia khóc, còn Edith thì đỏ bừng mặt.
Nhưng chúng tôi được sống trong cảnh gia đình yên ấm chẳng bao lâu. Thú vui hạnh phúc sống bên Edith của tôi cũng không được mấy chốc. Chiến tranh đã đến. Những linh cảm của bác tôi và của Pucklington - người đỡ đầu tôi - đã trở thành sự thật. Ở vịnh Ashworth đã xuất hiện những tàu ngầm của bọn phát xít. Những máy bay của chúng đã ném bom xuống những thành phố hòa bình của chúng tôi.
Ngay từ những giờ phút đầu tiên của chiến tranh, toàn thể chúng tôi đã đứng dậy bảo vệ tổ quốc. Bob Birdworth đã làm tới chức thuyền phó trên một chiếc tàu chiến và đã được tặng thưởng một loạt huân chương danh dự. Bác tôi đã tham gia vào đơn vị phòng không của địa phương và đã có nhiều đóng góp quý giá, vì ông đã huấn luyện quân sự cho thanh niên Ashworth. Tôi cũng đã mặc quân phục và vào phục vụ trong quân đội. Edith của tôi cùng với đứa con trai nhỏ mới ra đời của chúng tôi đã phải trải qua nhiều đau khổ. Nhưng Pucklington đã trở về và giúp đỡ vợ con tôi vượt qua những ngày tháng gian lao.
Chiến tranh kết thúc. Tôi làm người giúp việc cho Pucklington. Con trai tôi đã trưởng thành và hiện nay là một tiến sĩ sinh vật học. Trong thời gian đó tôi cũng vẫn là người được chứng kiến nhiều biến cố phi thường. Nhưng những cuộc phiêu lưu kỳ lạ nhất đã rơi vào số phận của Vandock. Có lẽ vào một buổi sáng đẹp trời nào đấy tôi lại sẽ cầm bút và viết tiếp những hồi ký của mình nếu người vợ thân yêu của tôi sẽ muốn như vậy...
Đến đây là chấm dứt những hồi ký của Samuel Pingle.