Những Cuộc Phiêu Lưu Của Samuel Pingle

Lượt đọc: 333 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương ba
❖ i ❖

Tôi đã lên bờ ở Calcutta. Trên đầu tôi là mặt trời Ấn-độ, chói chang và nóng bỏng.

Số phận đã ném tôi lên đây sau những chuyến đi lang bạt với tính cách một diễn viên sân khấu hạng bét.

Giai đoạn cuối cùng của những chuyến phiêu đãng ấy là châu Phi, nơi tôi đã cùng một nhà kinh doanh vui tính đi lang thang tới khắp các khu nhà hội chợ ở những vùng xung quanh Cape Town. Thật cũng chẳng có gì là lạ khi ở đây tôi đã phải đóng vai một kẻ bị bệnh miên hành và cho phép nhà kinh doanh dùng những kim đan mảnh xuyên thủng hai má mình, phải nói rằng ông ta làm rất khéo. Vừa làm ông vừa thuyết phục người xem:

- Thưa các tiểu thư và công tử! Trước mắt các bạn là chàng Pam Single nổi tiếng thế giới, chàng ta đang ở trạng thái cứng giữ nguyên thế hoàn toàn.

Tôi nhắm mắt nhưng không tài nào ngủ được. Tôi thấy xấu hổ khi phải làm những công việc vô nghĩa và tính chuyện tìm một việc làm khác cho xứng đáng hơn. Tôi đã rơi vào quỹ đạo của cái bánh xe oan nghiệt và rõ ràng là nó đang cuộn tôi lao xuống vực thẳm. Nhưng may thay, có người đã kịp thời khuyên bảo tôi những lời xác đáng.

Ở khu trưng bày thú rừng của hội chợ có một người cao lênh khênh, gầy guộc và vụng về, anh ta làm nghề nuôi dậy thú dữ và trên những tờ quảng cáo anh lấy tên là: “Người sai khiến linh cẩu”. Anh có vẻ mặt hung dữ và diễn những trò quỷ thuật khiến người xem phải rợn tóc gáy. Anh có thể nuốt những thanh kiếm vào bụng, miệng ngậm dầu hỏa đốt cho cháy rồi phun lửa phì phì lên cao quá hai foot. Anh lại còn dám vật nhau tay đôi với gấu đen Himalaya nữa. Nhưng trong hậu trường thì đó lại là một người khiêm tốn, lặng lẽ hiếm có. Chính anh đã gợi ý khuyên tôi sang Ấn-độ.

- Samuel ạ, sang bên ấy làm ăn tốt hơn. Còn mình thì đã quen với những người Boers và những người lai Phi châu này rồi. Mình sẽ chết ở đất này thôi. Cậu có bằng, cuộc đời đang mở ra trước mắt cậu. Chỉ có ở bên ấy thì bằng cấp của cậu mới có tác dụng, chứ không phải ở đây, ở cái nơi tận cùng của thế giới này.

“Người sai khiến linh cẩu” đã giới thiệu tôi với người đại diện của hãng cung cấp khỉ Madagascar cho những vườn bách thú. Và tôi đã đi cùng anh ta từ phía nam Phi châu lên phương bắc. Nằm trong căn phòng nhỏ trên tàu thủy, anh chàng đại diện cùng đi với tôi ngủ say như chết và ngáy to đến nỗi người giúp việc của ông thuyền trưởng phải ngó nhìn chúng tôi mãi và nói:

- Hình như anh mang theo một con hà mã nuôi thì phải?

Tới đảo Mauritius tôi chia tay với người bạn đường. Anh ta đã chuyển tàu để đi hai ngày đường nữa đến Tamatave, một cảng trên bờ phía đông Madagascar. Con tàu của tôi vượt Ấn-độ-dương. Đi một mình, tôi thường nghĩ và so sánh giữa hai con người - Clips và “Người sai khiến linh cẩu”.

Clips thường nhắc đi nhắc lại một triết lý:

- Anh càng liều mạng bao nhiêu, người ta càng trả anh nhiều tiền bấy nhiêu.

Còn “Người sai khiến linh cẩu” thì thân ái bắt chặt tay tôi lúc chia tay, nói:

- Lên đường mạnh khỏe Samuel nhé. Chúc bạn không phải liều lĩnh vì tiền trong cuộc sống.

- Chà, trên đời có biết bao nhiêu con người khác nhau...

Trên quảng trường cạnh bến tàu Calcutta tiếng ồn ào pha tạp đủ các loại âm thanh của một thành phố lớn đã làm cho tai tôi ù đi. Tiếng tàu điện ầm ầm, tiếng còi ô-tô inh ỏi, tiếng hò hét í ới của phu khuân vác và những người bán hàng, tiếng sáo thổi chói tai của những tên lưu manh làm trò ảo thuật và tiếng cầu xin của những kẻ ăn mày đã làm tôi bàng hoàng kinh ngạc. Bởi vì tôi đã quen với sự lặng lẽ trên đại dương trong chuyến đi vừa rồi.

Vừa ngơ ngác vừa buồn phiền, tôi đứng xem những tờ quảng cáo của các khách sạn và suy tính xem mình sẽ đi đâu. Cần phải tiết kiệm số tiền ít ỏi còn lại sau chuyến đi vừa rồi. Toàn bộ hành lý của tôi chỉ còn một cái túi đi đường mà trong đó chẳng có gì đáng giá.

Một vài người bán hàng vây lại quanh tôi để chào hàng. Họ bám lấy tôi dai như đỉa, và tôi rất lấy làm mừng khi thấy một người ăn mặc cẩu thả nói với họ:

- Thôi này, buông tha người ta ra chứ!

Tôi hết sức ngạc nhiên thấy họ nghe lời và ngoan ngoãn bỏ đi.

Người vừa nói hỏi tôi:

- Anh đi đường chắc mệt lắm nhỉ?

Tôi đặc biệt không thích bắt chuyện với người mới gặp lần đầu nên im lặng. Hình như người ấy không muốn làm tôi mếch lòng, anh ta chỉ nói thêm vài câu:

- Nếu anh không có họ hàng thân thích, và cũng không quen biết ai ở địa ngục trần gian này thì hãy tìm đến số nhà một trăm linh một ở phố Delhi. Đó là văn phòng thương mại của “Helly và con trai”. Hãng ấy buôn bán nhiều loại lắm. Helly con sắp xếp cho việc gì cũng cứ nhận mà làm. Nhưng phải mà cả với họ như anh vẫn mà cả ở ngoài chợ ấy. Ông ta thường hay bắt nạt ma mới, chỉ cốt sao có lợi nhiều nhất.

Tôi cám ơn người lạ rồi đi tới phố Delhi. Cái nóng như thiêu đốt đã làm tôi kiệt sức, vì thế tôi như tỉnh người ra khi bước vào căn trường làm việc mát mẻ của ông chủ văn phòng thương mại. Trên trần nhà một chiếc quạt trần chạy rất êm. Những chiếc rèm cửa sổ đã làm giảm bởi ánh nắng gay gắt từ ngoài phố hắt vào. Tôi không nhận ra ngay một người đang ngồi bệ vệ trong chiếc ghế bành bọc da sau cái bàn làm việc to và rộng. Ông ta trông còn trẻ, to béo, có mớ tóc vàng hung và đeo kính gọng vàng.

Ông ta đưa tay ra bắt tay tôi qua chiếc bàn.

- Xin lỗi anh Pingle nhé, tôi không thể nào đứng dậy đón anh được. Cái nóng khốn kiếp này làm cho não như lỏng ra. Vả lại còn cái bệnh thống phong nữa, nó đang hành hạ tôi. Anh ngồi xuống đây. Anh đến Ấn-độ đã lâu chưa?

- Tôi mới đến.

- Từ đâu đến?

- Tôi từ Cape Town đến. Cái xí nghiệp mà tôi đã làm việc...

- Bị phá sản à? Tôi hiểu rồi. Nghĩa là anh tới đây để tìm một chỗ đứng dưới ánh mặt trời hạnh phúc của Ấn-độ chứ gì?

- Đúng thế, thưa ông Helly.

Ông ta ngước mắt nhìn lên ra vẻ mơ màng.

- Phải, sự đói khát cũng có sức mạnh như cơn bão cát trên sa mạc Sahara ấy, nó xô đẩy con người tới khắp mọi nơi trên trái đất. Những bài thơ ca ngợi hòn ngọc phương Đông của chúng tôi đã lôi cuốn anh phải không? Đúng, ở đây kiếm ăn được. Nhưng cần phải kiên cường và có nghị lực... - Helly nhìn cách ăn mặc của tôi với vẻ không hài lòng, nhưng ông vẫn say sưa nói tiếp bằng những lời lẽ văn hoa: - Trước đây một trăm linh sáu năm ông tôi là Jonathan Helly đã đến Calcutta và sáng lập ra hãng này. Khi mới đến trong túi cụ chi có ba shilling với một tờ chứng nhận của cha cố về lòng tin sắt đá của cụ đối với tôn giáo. Điểm thứ hai là chủ yếu, và ông tôi...

Tôi chẳng lấy gì làm thích thú khi phải nghe câu chuyện về cụ cố sùng đạo của Helly nên vội rút trong túi ra cái ví với tấm bằng của trường Dijan.

- Thưa ông Helly, đây là một ít tiền và tờ chứng nhận...

Helly nhẹ nhàng gạt cái ví sang bên rồi cầm lấy tấm bằng. Đọc được mấy dòng, ông thoáng nở một nụ cười dịu dàng.

- Trường Dijan à? Ồ, tôi biết cái sư tử vàng nổi tiếng này lắm! Anh đã tốt nghiệp đệ nhất cấp phải không? Tuyệt! Trước đây hai người em họ tôi cũng học ở đấy. Kiến thức rất đầy đủ. Lịch sử... Luật học... Hay lắm... Chà, lại cả thực vật học, hóa học và... những cái đó cũng chẳng có gì quan trọng. Vậy thì anh muốn gì nào?

- Việc làm.

Tôi nói rằng tôi muốn tiếp tục đi học, nhưng cần phải kiếm được tiền đã. Tôi còn nói là tôi muốn sử dụng kiến thức của tôi vào những việc có ích. Lúc ấy tôi nhớ đến vũ đài rạp xiếc mà lòng càng thêm ngao ngán.

Helly hỏi lại tôi:

- Việc làm ư? Hừ, thế thôi à! Rất thú vị. Nhưng anh đặt cho tôi một nhiệm vụ không thể thực hiện được. Không còn chỗ nào nữa. Kể ra thì cũng còn chỗ đấy, nhiều là khác, nhưng... nhưng những chỗ ấy không thích hợp với anh...

- Thưa ông Helly, tôi hoàn toàn không hiểu những điều ông vừa nói.

- Tôi cũng thấy rõ là anh hoàn toàn không hiểu. Trong việc này có nhiều mối quan hệ qua lại rất rắc rối. Có những việc người dân thổ địa và bán thổ địa có thể làm được thì người châu Âu lại không làm được, nữa là anh, người đồng bào của tôi. Anh người ở đâu nhỉ?

- Ở Ashworth.

- Trời ơi, ở Ashworth à!.. Thế mới phiền. Những người ở đây phải coi chúng ta là những con người có tư cách xứng đáng lúc nào cũng mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao và đối xử với dân địa phương thì lạnh lùng, cứng rắn nhưng không suồng sã. Chắc anh đã hiểu rõ điều này ngay từ khi còn học ở trường rồi chứ? Có như vậy anh mới thành công được.

Tôi thấy Helly nói luyên thuyên có ý lảng chuyện nên lạnh lùng và cứng rắn nói với ông ta:

- Thưa ông Helly, tôi mong ông nói vào đề cho...

Helly gật đầu.

- Văn phòng của chúng tôi có nhiều khả năng trong việc này lắm - ông ta cầm quyển sách dài ở trên bàn ngoài bìa đề “Quyển kê việc làm” rồi bắt đầu lật từng trang: người làm vườn, người gác cổng khách sạn... Anh thấy không? Gác cổng khách sạn... Tôi không thể để anh làm việc ấy được... Hừ, thiếu tá Savage cần tìm một đầu bếp... Tất nhiên tôi sẽ đưa đến cho ông ta một người Tàu, bọn ấy làm bếp thì tuyệt à, này... nhưng... - Helly từ từ đặt sách xuống bàn rồi nhẹ nhàng nói; - Hai mươi nhăm...

Tôi ngạc nhiên nhìn ông ta.

- Sao ạ?

Bộ mặt mũm mĩm của ông nở một nụ cười khoái trá.

- Hàng tuần anh phải trả hoa hồng cho văn phòng của chúng tôi hai mươi lăm phần trăm số lương của anh, thời hạn là một năm. Vì chúng tôi đã sắp xếp, bàn bạc, giới thiệu...

Tôi nhớ ra là cần phải mà cả nên vừa cười vừa nói cho giọng bớt cộc cằn:

- Mười phần trăm thôi, và trả trong ba tháng.

Helly không thuận, thế là chúng tôi bắt đầu cò kè. Tôi không nhân nhượng hắn và nghĩ rằng nếu không ngã giá được thì rồi cũng đến phải bỏ đi thôi, ở đây nào phải chỉ có một văn phòng của hắn. Nhưng Helly đưa ra đến hàng chục lý do, hắn đãi tôi một cốc nước đá rồi lại chứng minh thiệt hơn với tôi bằng những bài tính số học.

Giọng hắn nói ngọt sớt làm tôi đành phải nhượng bộ:

- Mười phần trăm, trả trong bốn tháng.

Helly cười.

- Anh Pingle ạ, anh bẩm sinh vốn đã là nhà thương mại rồi. Tôi cảm thấy rất dễ chịu được bàn bạc công việc với một người có phẩm chất như thế. Xin chúc mừng anh... Anh đã làm...

Tôi kêu lên:

- Tôi chưa làm đầu bếp bao giờ cả?

- Lạy chúa, anh coi tôi là người thế nào nhỉ! - Helly vung đôi bàn tay mũm mĩm.- Tôi không đưa anh tới chỗ ông thiếu tá Savage đâu. Nói riêng với anh, hắn là một lão già bẳn tính, đến người Tàu cũng không ở với hắn ta được. Không, ngay bây giờ anh sẽ vào làm việc cho ông Pollock, chủ một nhà máy thuốc lá. Ông ta đang cần một người trẻ tuổi, biết làm việc, để có thể tin cậy sai phái đến những đồn điền của ông. Rồi anh sẽ thấy thích thú công việc ấy.

Helly nhẹ nhàng bấm nút chuông. Tiếng chuông kêu leng keng đâu đấy ở phía ngoài, thế rồi bỗng đâu thấy mọc ngay lên ở cạnh cửa một người Ấn-độ trẻ tuổi mặc áo cánh trắng.

- Ali, đưa ông Pingle tới chỗ ông Bright, - Helly hơi nhíu lông mày lại, ra lệnh cho người hầu, rồi nhã nhặn hướng về phía tôi: - Tôi sẽ gọi điện bảo ông chánh văn phòng làm hợp đồng ngay cho anh. Anh đi nhé! Hy vọng một ngày gần đây anh lại tới thăm tôi và cho tôi biết anh đã làm ăn với ông Pollock ra sao...

Ô, lúc bấy giờ tôi là kẻ thiếu kinh nghiệm và hoàn toàn không hiểu con người. Tôi chỉ nghi ngờ ông Helly mỗi một điều về thái độ quá ân cần của ông đối với tôi, ông Bright làm hợp đồng cho tôi, ông là một con người khô khan và đứng đắn, vậy mà tôi vẫn phải trả tiền trước một tuần. Tôi mang theo giấy giới thiệu cửa văn phòng "Helly và con trai tới nhà máy thuốc lá của ông Pollock.

Những đường phố tôi đi qua đều bẩn thỉu và ghê tởm. Chúng chỉ là những cái khe hẹp giữa những dẫy nhà hai tầng. Tôi luôn luôn phải nhảy qua những vũng nước bùn. Vỉa hè cũng không có. Dưới những ban-công thấy treo lủng lẳng rặt những loại giẻ rách. Những đứa trẻ trần truồng da màu đồng đỏ đắm mình đùa nghịch trong cát bụi, chúng dùng mảnh sành để ném nhau. Bọn trẻ thì bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu cũng đều thế cả. Những người đàn bà thét lác bọn trẻ đền lạc cả giọng, đầu người nào cũng bịt khăn màu sặc sỡ trên mớ tóc đen chải mượt, còn bọn đàn ông thì mình trần trùng trục, họ ngồi xổm cạnh những bức tường và chẳng để ý gì đến tôi.

Nhà máy là một vài dẫy nhà ngói có hàng rào vây quanh. Tôi đi ngang qua những nhà kho để ngỏ cửa, ở đấy bọn trẻ con nam nữ Ấn-độ đang lựa chọn những bó thuốc lá.

Người ta chỉ cho tôi một ngôi nhà ở sâu mãi trong sân. Phía trước gác sân của ngôi nhà có hai tên hầu đang đứng giữ cương một con ngựa giống đẹp, cân đối, lông màu hạt dẻ sáng. Khi tôi tiến về phía ấy thì bỗng thấy một người cao và gầy bước ra gác sân. Ông ta mặc bộ quần áo chẽn sang trọng dùng để đi ngựa. Ông kẹp chiếc roi ngựa có tay cầm nạm bạc vào nách rồi gài khuy bấm trên chiếc găng tay bằng da mềm.

Đó chính là ông Pollock. Đọc xong bức thư, ông trắng trợn liếc nhìn tôi, rồi cái bộ mặt mày râu nhẵn nhụi của ông thoáng cười ranh mãnh.

- Anh sẽ làm nhân viên văn phòng thứ hai trong các đồn điền ở Vahraja. Mời anh vào văn phòng.

Bọn người hầu dắt con ngựa giống đến. Sau khi đã khéo léo nhảy lên yên, Pollock vụt ngựa bằng một động tác roi rất duyên dáng, con ngựa chạy nước kiệu trên sân tiến về phía cổng. Phải thừa nhận rằng tôi đã dõi nhìn theo người cưỡi ngựa đang khuất dần ở phía xa bằng con mắt thèm thuồng và ghen tức.

Trong văn phòng của nhà máy có đến một chục nhân viên đang miệt mài với những sổ sách kế toán. Qua ông chánh văn phòng, ông Kess, một ông già hói đầu nhỏ bé, tôi đã biết rõ mọi điều cần thiết.

Ông già Kess nheo cặp mắt đã kém lại nhìn tôi.

- Chiều nay Jim Harl cũng đi đấy, hắn làm việc ở Vahraja đã lâu rồi. Anh hãy đi cùng với hắn. Anh đi mà tìm hắn, ở quanh đâu đây thôi.

Tôi chưa kịp đi thì bỗng nghe thấy tiếng chuông rung lên inh ỏi, cả văn phòng vui vẻ, sinh động hẳn lên. Bàn ghế bị xô đẩy, tiếng ngăn kéo đóng sầm sầm, tiếng nhân viên chuyện trò rầm rĩ ở phòng bên, những nữ nhân viên đánh máy đang đi ra, họ reo đùa cười nói váng lên.

Một người nhỏ bé, tóc hơi hung hung đỏ đóng ngăn dưới giá sách lại, anh ta đội chiếc mũ rơm lên đầu và vừa lúc ấy ngoảnh nhìn về phía tôi.

- A-lô, - anh ta ra hiệu tay để chào. - Hình như anh là người mới phải không? Nào ta làm quen với nhau đi. Tôi là Harl...

- Anh Jim Harl phải không? - tôi hỏi và bắt tay anh ta. - Tôi đang đi tìm anh. Tôi được giao làm nhân viên văn phòng ở đồn điền...

Chỉ trao đổi vài lời với nhau là chúng tôi hiểu ngay mọi vấn đề.

- Nào bây giờ thì chúng ta phải chuồn khỏi đây cho nhanh để lão Kess khỏi trông thấy, - Jim giục tôi. Tôi còn chưa viết xong đoạn cuối của một văn bản, rất có thể lão già ấy sẽ giữ tôi lại. Mà tôi thì đang đói chết đi được như con hổ trước lúc mặt trời lặn. Coi bộ anh cũng đang thèm ăn. Tôi biết nơi ăn tốt. Có một hiệu ăn vừa lịch sự lại vừa rẻ. Ăn xong chúng ta sẽ trở về nghe lão Kess dặn dò, rồi ta đi ra ga.

Trên đường đi đến hiệu ăn và trong khi ăn Jim hỏi tôi đủ mọi chuyện.

- Làm sao anh tìm được đến chỗ Pollock? Qua lão Helly à? Hắn là thằng bịp bợm ghê tởm. Những tên tay chân của hắn trong khi đi chiêu khách luôn luôn tỏ ra vô tư và thậm chí còn báo trước cho anh biết là cần phải mà cả số tiền hoa hồng. Hắn cúp của anh bao nhiêu phần trăm?

- Mười phần trăm trong bốn tháng.

- Trả hắn sáu phần trăm cũng là đủ quá rồi. Tổng cộng là hai phần trăm trong một năm lợi tức như thế là vừa phải. Pingle ạ, anh còn thiếu kinh nghiệm, - Jim nói với vẻ trang trọng. - Hãy nghe lời tôi. Anh cần phải nắm được những phong tục tập quán và tính tình của dân địa phương. Không thế thì chỉ có đổ...

Những lời Jim nói làm tôi nghĩ đến Helly và cái hệ thống câu khách tinh quái của hắn.

❖ II ❖

Thế là tôi đã đến Vahraja, một nơi xa xôi hẻo lánh nằm sâu trong những khu rừng rậm của vùng Trung Punjab. Một vài làng xóm nghèo xơ xác nằm tụ tập bên bờ một con sông, còn xung quanh là những cánh đồng nhỏ của nông dân và những đồn điền mênh mông của ông Pollock. Từ gác sân căn nhà tôi với Jim ở nhìn ra, có thể thấy rõ những túp lều của làng Ranbir ở gần đây. Những mối quan hệ về ruộng đất ở đây cực kỳ phức tạp. Ruộng đất thuộc quyền sở hữu của tên địa chủ Danbi-Ganj, hắn sống trong ngôi nhà hai tầng nằm giữa một vườn cây ăn quả phong phú. Ngôi nhà của hắn trang trí thật kỳ dị, từ viên đá cho tới những thanh gỗ, chỗ nào cũng thấy có hình chạm trổ. Danbi-Ganj nuôi nhiều đầy tớ và một tên quản trị tên là Seth-Nagr. Tên này thường cưỡi một con ngựa nhỏ đi đến các làng để thu tô. Pollock thuê các đồn điền rồi trao cho một người tâm phúc tên là Walson cai quản. Ông này chỉ huy cả một loạt những người làm nhiệm vụ giám sát công nhân đồn điền và các kho tàng.

Một chiều, Jim hỏi tôi trong khi anh ta nằm dài trên chiếc võng và hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác để đuổi muỗi từ bờ sông bay lên:

- Pingle này, tôi không hiểu anh đến cái đất khốn kiếp này làm quái gì nhỉ? Anh gặp tai họa gì trong cuộc sống chăng?

Tôi đã kể cho anh ta nghe về thành phố quê hương, nhưng không kể tỉ mỉ về đời tư của tôi.

Jim nói lẩm bẩm:

- Ra thế đấy, tưởng gì chứ, làm nhân viên văn phòng của một nhà máy thuốc lá thì ngay bên chính quốc anh cũng có thể thu xếp được. Như tôi thì lại khác, tôi không thể thò mũi sang đấy được. Cảnh sát chỉ hơi nghi ngờ một chút là tôi đã phải cuốn gói...

- Dù sao tôi cũng vẫn hy vọng vào những điều tốt đẹp hơn - tôi nói và lắng tai nghe tiếng hát đơn điệu từ làng bên vẳng đến.

Jim đáp:

- Pingle ạ, hiện nay anh còn có gì nữa đâu mà hy vọng. Vả lại nguồn hy vọng rồi cũng sẽ cạn đi rất nhanh. Vòng tròn khép lại, và thường là người ta sẽ tìm cái đinh thật chắc trên tường để treo cổ mình lên bằng những dải đeo quần.

- Anh là một con người bi quan, - tôi nhăn mặt lại.

- Anh cứ tự suy xét xem. Tôi đã để mẹ và em gái ở lại Crownton, tưởng rằng rồi sau sẽ giúp đỡ họ được. Thế mà đã bốn năm rồi, tôi không tài nào dành dụm được lấy một xu. Cuộc đời là quý giá, nhưng tôi không thông đồng với tên chủ thầu. Tâm hồn tôi nhất định sẽ trở nên nghèo nàn nếu tôi không giữ lại cho mình chút lòng ngay thẳng làm cho đầu óc tôi sảng khoái, mong anh hiểu cho.

Jim kể cho tôi nghe về ông Pollock bằng những lời lẽ rất độc ác:

- Khi mới gặp hắn anh thấy thế nào, hắn cưỡi con Tolly trông ra dáng đấy chứ? Hắn vẫn thường đi tiêu khiển như thế. Cuộc đời Pollock quá sung sướng, đến nỗi hắn điềm báo trước ghê gớm của sự già nua, hắn kinh tởm khói thuốc, mặc dù chính hắn trồng thuốc để kiếm lời. Sáng sáng hắn đều cặp nhiệt độ. Thứ bảy nào bác sĩ cũng ăn trưa ở nhà hắn và kê đơn ăn kiêng cho hắn trước một tuần.

Sau đó Jim chỉ trích những thói quen của ông Walson, người cai quản các đồn điền.

- Nếu anh muốn trở thành một tên cướp mặc smoking thì cứ việc nhắm mắt mà thực hiện tất cả những mệnh lệnh của hắn. Và nếu như anh không sợ dịch tả và bệnh sốt vàng, cái thứ bệnh đã tàn hại cơ thể tôi, thì thế nào ở đây anh cũng sẽ câu được cá vàng, rồi tới lúc già đem về Ashworth rán lên mà ăn...

Jim đã kể cho tôi nghe nhiều điều kỳ lạ về cái mảnh đất này, nơi sinh sống của bốn trăm triệu người thuộc tám trăm dân tộc và nói bằng hàng trăm thứ tiếng khác nhau.

Jim khuyên tôi:

- Pingle ạ, học nói tiếng Urdu đi. Đó là một thứ “tiếng Pháp” chân chính của Ấn-độ pha lẫn nhiều từ ngữ Ba-tư và A-rập. Tên gọi của ngôn ngữ này bắt nguồn từ chữ “Urdu-e-muelle” Đó là tên một cái chợ cổ xưa nằm cạnh cung điện nhà vua ở Delhi. Trong những ngày hội chợ tưng bừng những người buôn bán ở khắp các nẻo đều tụ tập về đây. Tôi cho rằng thứ ngôn ngữ này được sáng tạo ra ở đây. Bất cứ người dân Ấn-độ nào cũng biết tiếng Urdu chẳng khác nào những nhà ngoại giao của các nước đều biết tiếng Pháp vậy. Anh muốn học không, tôi sẽ giúp?

Tôi chỉ còn biết cám ơn Jim và thật là sung sướng, chẳng bao lâu sau tôi đã nói được ít nhiều, đã có thể ra lệnh cho những người hầu:

- Chaa-bana-oh! (Pha chè nhé!) Pani pilanala-oh! (Đưa nước lại đây!)

Tất cả những nhân viên phục vụ trong các đồn điền đều biết từ ba đền năm thứ tiếng địa phương, không kể tiếng Urdu. Những giám thị người địa phương làm tay chân cho ông Walson trong việc đầu cơ những mặt hàng khác nhau mua được qua bọn cho vay nặng lãi ở nông thôn. Ở trường Dijan người ta không dạy tôi những điều ấy cho nên cả chuyện sau đây tôi cũng cho là mới lạ ở nông thôn có những người “kamia” nông dân mắc nợ bọn cho vay nặng lãi và suốt đời phải cùng vợ con làm nô dịch cho chúng, nghĩa là làm nô lệ thực sự với đầy đủ ý nghĩa của từ này.

❖ III ❖

Người cai quản đồn điền, ông Walson, một con người mảnh dẻ có cặp chân ngắn, đang khổ sở vì nóng bức, ông tìm đến một gốc xoài tương đối mát mẻ rồi ngồi xuống uống giải khát bằng thứ nước soda pha lẫn whiskey.

- Tôi rất vui mừng thấy anh quan tâm nhiều đến ngôn ngữ, - ông Walson nói vừa nhìn tôi qua cặp kính đeo trễ. - Sự hiểu biết các thứ tiếng nói mở rộng tầm hiểu biết của con người. Anh sẽ làm việc dễ dàng hơn. Tôi rất ghét những kẻ ăn thì tham mà làm thì nhác.

- Anh Harl đang dậy tôi tiếng Urdu, - tôi nói.

- Rất tốt. Cứ mỗi khi tôi kiểm tra thấy anh biết thêm được một thứ tiếng nói của dân địa phương thì tôi lại thêm cho anh mười phần trăm lương. Về khoản chi này tôi đã được lệnh của ông Pollock. Anh hãy luyện tập nói các thứ tiếng địa phương trong những đồn điền... À mà phải... anh là một bác học, đã tốt nghiệp trường Dijan này, lại biết cả thực vật học... - ông cười nhưng không có ác ý. - Anh Pingle này, nếu anh đến vùng trồng thuốc bốn mốt giúp cho thì tốt quá, việc này vừa có lợi cho anh, vừa có lợi cho công việc. Ở vùng ấy trước đây nông dân gieo một loại đại mạch là bajra, hiện nay chúng ta trồng thuốc lá, anh hãy nghiên cứu xem thuốc lá của chúng ta đang gặp di họa gì ở đó. Thực ra tôi gọi anh đến chính là vì việc này đây. Tôi muốn đào luyện anh sau này trở thành người cai quản của một trong những đồn điền. Anh đi ngay sớm mai cho nhé. Tôi biết có chuyện gì xảy ra rồi, nhưng anh cứ tự mình nghiên cứu xem sao...

* * *

Những hàng thuốc lá chạy dài tít tắp trên cả một vùng. Đó là một trong những loại thuốc lá giống Ai-cập quý nhất. Những công nhân mình trần, da đen nhẫy vì bị thiêu đốt dưới ánh nắng mặt trời đang chăm sóc thuốc lá, họ vun luống và rẫy cỏ dại.

Một giám thị sau khi đã kiểm tra xong việc rẫy cỏ quay lại đưa tay lên trán và lên ngực chào tôi và chỉ cho tôi xem một luống thuốc lá:

- Ông xem, thuốc lá đang bị bệnh.

Thực vậy, những cây thuốc của vùng bốn mốt trông rất thảm hại. Ở vùng bốn hai bên cạnh, thuốc lá đã nở hoa và tỏa hương thơm ngát trong bầu không khí nóng hừng hực. Còn ở đây thì những cây thuốc như bị ghìm lại. Vóc dáng của chúng chỉ bằng nửa vóc dáng thông thường mặc dù một bảng nhỏ cắm trên luống cho thấy rằng nó được trồng cùng một lúc với những cây thuốc ở các vùng ba mươi tám đến bốn mươi sáu. Chỉ thấy lác đác ở một vài cây có hoa nở yếu ớt.

- Ông xem này, - người giám thị ngắt một vài lá rồi đưa cho tôi.

Tôi xem xét những tầu lá ấy. Người giám thị chỉ cho tôi thấy những chỗ đáng lưu ý trên tầu lá. Rõ ràng những đường gân giữa của lá không phát triển được. Do đó toàn bộ tầu lá có hình dạng nhăn nhúm kỳ dị. Ở những lá khác lại thấy nổi rõ những vành khuyên cá biệt, kép đôi kép ba và có màu đen thẫm, ngoài ra trên một lá còn có những đường sần sùi rất lạ lùng. Toàn bộ màu sắc dị thường ấy cho thấy rõ cây bị bệnh, chẳng khác nào sự phát ban trên da đứa trẻ chứng tỏ nó bị bệnh sởi hoặc bệnh tinh hồng nhiệt.

Đúng, những cây thuốc bị bệnh nghiêm trọng. Người giám thị bảo tôi lưu ý đến những thân cây. Khác với những thân cây bình thường, chúng đã bị tê cứng lại. Người giám thị dùng dao nhọn rạch dọc theo trên thân cây, tôi thấy trên mô lớn của cây có những vệt thẫm, gần như bị đen lại vì mô đã chết.

Chúng tôi đi chậm dọc theo các luống, đâu đâu tôi cũng thấy cảnh tượng thảm hại như thế của cây bị bệnh và cây đã chết. Toàn bộ lá trên một vài cây đã úa vàng, nhăn nhúm lại và rũ xuống sát đất. Chúng đang chết, dường như có ngọn lửa bên trong nào đó đang thiêu đốt chúng. Một vài cây khác thì đã chết hẳn.

Người giám thị tiếc rẻ lắc dầu và nói với tôi:

- Thuốc lá không lớn được. Hỏng mất thôi. Ông chủ sẽ thiệt hại nặng.

Tôi lựa một số cây bị bệnh và bị chết bỏ vào giành, ghi số những luống có cây bị bệnh vào sổ tay, tổng cộng có đến hơn ba nghìn rưởi cây ốm không rõ nguyên nhân, rồi trở về báo cáo lại với ông Walson.

Trên dường về tôi suy nghĩ mãi về những điều đã thấy.

Tôi nhớ lại một vài điều thú vị trong những bài giảng về thực vật ở trường. Giả thử rằng tất cả những hạt giống của một cây kỳ nham thông thường mọc và phát triển tự do, không bị những điều kiện bên ngoài hạn chế thì chỉ sau năm năm toàn bộ lục địa trên hành tinh của chúng ta sẽ bị những cây này phủ kín. Ai cũng có thể tin được điều đó sau khi đã đặt một vài con tính trên mảnh giấy nhỏ. Việc tính toán rất đơn giản. Một cây kỳ nham sẽ cho khoảng mười nghìn hạt trong một năm. Năm năm sau, với điều kiện là những hạt ấy lại cho một thế hệ hậu sinh y như vậy, ta sẽ được mười triệu tỷ cây kỳ nham. Bề mặt lục địa trên hành tinh của chúng ta là một trăm ba mươi sáu nghìn tỷ mét vuông, mà trên mỗi mét vuông có thể mọc được không quá bảy mươi hai cây loại này.

Tôi nhớ rằng dựa vào cây rau diếp người ta có thể xác định được bốn phương trời. Rau diếp là loại cây địa bàn. Nó có hình dáng tưởng như người ta cố tình tạo ra như vậy để kẹp vào giữa những tờ giấy rồi ép khô dùng làm mẫu. Bề mặt của các lá rau diếp bao giờ cũng nằm dọc theo đường kinh tuyến từ bắc xuống nam.

Nhưng trong các bài học về thực vật người ta không nói gì tới bệnh tật của cây cối cả. Vì thế việc tôi nóng lòng chờ đợi xem ông Walson sẽ nói gì sau khi nghe tôi báo cáo, cũng chẳng có gì là lạ.

- Thế ra ở trường anh chưa được học về điều này à? Và anh không hiểu như vậy là thế nào phải không? Anh Pingle ạ, này nhá. thuốc lá ở vùng bốn mươi mốt bị bệnh khảm. Công nhân không được phép dùng kéo đã cắt những lá thuốc bị bệnh để cắt lá những cây còn lành. Vậy mà chỉ cần người giám thị quay mặt đi ngáp nột cái thôi là họ liền làm ngay theo ý họ.

- Nhưng kéo thì có liên quan gì tới chuyện này?.. - tôi hỏi.

Ông Walson ngắt lời tôi:

- Chất dịch của cây bị khảm làm lây bệnh. Kéo có tác dụng truyền virus ở cây thuốc bị khảm sang cây lành. Virus là gì, có lẽ vẫn chưa ai biết rõ. Đó là một tên gọi khoa học. Theo nghĩa Latin thì virus là nọc độc - nói chung nó là nguồn gốc của mọi thứ bệnh lây. Ông Ivanovsky ở nước Nga xa xôi đã khám phá ra virus của bệnh khảm thuốc lá. Đó là tất cả những gì tôi đã biết. Ở những phòng thí nghiệm của Ấn-độ, nơi đang nghiên cứu cái bệnh khốn kiếp đã đem lại bao nhiêu thiệt hại to lớn cho các đồn điền thuốc lá ấy người ta đều biết rõ tên tuổi ông ta. Anh thử xét xem, vì cái bệnh khảm ấy mà năng suất lẫn chất lượng thuốc lá đều giảm xuống. Những lá thuốc bị bệnh trở thành phế phẩm, không dùng vào sản xuất được.

- A, ra thế! - kinh ngạc trước những lời giải thích của ông Walson, tôi bật thốt lên.

- Phải. Anh Pingle ạ, nếu anh không muốn ngồi ngán ngẩm trong văn phòng với những sổ sách kế toán thì hãy chú ý quan sát những công việc ở đồn điền. Anh bạn Harl của anh chỉ ưa ngồi bàn giấy thôi. Kệ anh ta. Việc làm của anh hôm nay ở đồn điền làm tôi rất hài lòng. Người ta đã kể lại cho tôi biết. Cho nên ngay bây giờ anh hãy chọn ba mươi người và cùng họ tới đấy. Anh sẽ chỉ huy họ nhổ tất cả những cây thuốc bị lây bệnh rồi đốt đi. Phải tiêu diệt nguồn lây từ gốc. Anh cứ việc phê bình bọn giám thị thật nghiêm khắc. Tôi sẽ trừng phạt những kẻ có tội.

Ngoài ra, tôi sẽ viết thư cho ông Pollock để ông báo cho phòng thí nghiệm virus ở Calcutta biết.

❖ IV ❖

Buổi trưa, mọi sinh vật trên đồn điền đều lẩn tránh cái nắng gay gắt của mặt trời Ấn-độ. Cây cối không tỏa bóng vì tia nắng chiếu thẳng xuống mặt đất. Tôi nằm dưới mái một chiếc lán con dựng qua quít để trú chân ở phía cuối rừng cọ và chờ đợi mặt trời xế bóng.

Công nhân đã hoàn thành việc cày lại khu trồng thuốc hỏng và đã trở về lán nghỉ ngơi. Tôi đã làm quen với nhiều người trong đám công nhân, và họ đã sẵn lòng kể cho tôi biết những tin tức mới của địa phương. Sắp tới sẽ có hai vị sư được kính trọng từ Benares tới các làng lân cận.

Nông dân đang chuẩn bị xây một ngôi đền thờ thần Hannu-Mann, một ông thần có đầu khỉ, ở trên bờ sông. Có một người tới làng Ranbir để tuyển công nhân vào nhà máy, nhưng nông dân làng này không muốn bỏ công việc của đồn điền vì ông Walson trả tiền công hậu.

Tôi rất thích những con người ấy. Và tôi không rõ vì sao Jim Harl lại có thái độ bi quan với cuộc sống ở đây. Tôi nhìn ra con đường chạy dài cạnh phía sau hàng rào.

Tôi thấy Seth-Nagr cưỡi con ngựa nhỏ đang di về hướng Ranbir. Hắn mặc áo trào dài màu đen, quần rộng màu đỏ quấn ngang lưng một tấm khăn bằng tơ màu da cam có viền vàng thẫm. Đầu hắn quấn khăn, còn những ngón tay hắn thì đeo tuyền những nhẫn bạc dầy. Đôi chân ngắn cũn của hắn đi giày vàng, thằng đuỗn ra về hai phía. Seth-Nagr dùng gót giầy nện vào hai bên bụng no căng của con ngựa nhỏ.

Và kìa, một người đàn bà da rám nắng đang đi gánh nước, hai đứa trẻ khóc rống lên bám theo áo bà ta.

Lại kia nữa, một người đang cưỡi ngựa. Khỉ thật, đúng là Jim Harl rồi! Sao hắn không ở văn phòng mà lại tới đây, tới đồn điền không đúng lúc thế này? Rõ ràng là hắn đang tìm tôi. Có chuyện gì xảy ra làm hắn bực mình chăng?

Ông Walson cho rằng Harl là bạn tôi. Thực ra tôi đúng như vậy. Tôi đã gắn bó với cái con người linh lợi và nói sâu cay ấy. Ngoài ra tôi thấy thương anh ta. Jim đang bất hòa với ông Walson và vì thế tính tình vốn vẫn không vui vẻ của anh thời gian gần đây càng trở nên buồn bã.

Sau chuyến đi thứ nhất của tôi tới đồn điền, khi tôi cùng anh ngồi trên gác sân ngắm nhìn mặt trời lên đang tỏa ánh vàng xuống đỉnh những cây cọ, Jim nói với tôi có ý mỉa mai:

- Anh đã trở thành người được Walson yêu quý, nhưng tôi cũng chẳng tị nạnh gì với anh đâu, Pingle ạ. Giá ở vào địa vị anh, tôi đã cố chuồn cho nhanh khỏi cái nơi khỉ ho cò gáy này rồi. Tôi chán nơi này lắm. Walson đối xử với tôi không tốt. Hắn là con người lỗ mãng, tôi không sao chịu nổi những lời lẽ của hắn. Thế nào rồi cũng có lúc, hắn mà làm tôi nổi khùng lên thì tôi sẽ cho hắn biết tay.

Biết tính tình của Jim như thế, tôi đâm lo cho anh bạn hay tự ái và dễ cáu bẳn của tôi. Than ôi, tôi hãy còn hiểu biết lòng dạ con người quá ít.

Và bây giờ tôi đang lo ngại ngồi nhìn Jim đi tới.

- Có chuyện gì thế, Jim? Trông anh có vẻ bực dọc.

- Tôi sẽ rời khỏi đây, - Harl tuyên bố - Tôi đã chửi nhau với Walson kịch liệt. Đáp lại những lời nhận xét đứng đắn của tôi về quá trình công việc, hắn đã gọi tôi là đồ nhãi con vô học.

Tôi giận sôi lên, Walson lúc nào cũng đối xử lịch sự với tôi. Rõ ràng là cái bằng trung học của tôi đã có tác dụng với hắn. Nhưng nếu Jim Harl không có khả năng học tập nghiêm chỉnh đi nữa thì đâu phải là chuyện cái lão Walson béo mỡ và tự phụ ấy có quyền khinh miệt anh ta.

- Thế thì tồi tệ quá. Harl ạ, tôi rất hiểu anh. Nhưng anh định đi đâu mới được chứ?

- Đi đâu mà chẳng được. Đối với tôi thế là đủ rồi. Tôi đang xin thôi việc. Tôi đã nói thẳng vào mặt Walson. Có điều là phải để cho hắn thấy thấm thía trong chuyện này. Giá như không phải chỉ có mình tôi bỏ đi thì hay biết bao! Nếu anh là bạn tôi, anh hãy ủng hộ tôi.

Tôi thương Harl quá. Trông anh ta thật khổ sở. Và chính sự thô bạo của người cai quản đồn điền đã làm tôi phẫn nộ

Tôi lặng lẽ bắt tay Jim.

* * *

Sáng hôm sau tôi tuyên bố với ông Walson là tôi xin thôi việc. Con người to béo ấy ngạc nhiên, nhún vai rồi cố ghìm mình nói:

- Tùy anh...

Buổi tối tôi báo cho Jim biết về việc này. Anh ta cám ơn tôi rối rít.

- Pingle ạ, anh là một người bạn trung thực, quả là tôi đã không lầm. Anh cừ lắm. Ngày mai chúng ta sẽ cùng nhau lên đường đi tìm hạnh phúc.

Nhưng sáng hôm sau tôi không tìm thấy Harl ở nhà. Những công nhân nói anh ta đã đi Ranbir. Tôi xách va-li tới thẳng đấy, hy vọng sẽ gặp anh ta trên đường cái cạnh bến xe ô-tô chở thư. Tôi đã đợi Jim ở đấy rất lâu và đã bắt đầu thấy sốt ruột. Cuối cùng Harl cũng tới, nhưng không mang theo hành lý gì, anh ta mỉm cười, có vẻ thỏa mãn.

Anh ta nói với giọng hết sức nhã nhặn:

- Tôi vội đến để báo cho anh biết rằng xe sẽ tới muộn hai tiếng. Seth-Nagr nói với tôi như vậy. Anh biết không, tôi vừa hòa giải với cái lão Walson ấy. Hắn khẩn khoản đề nghị tôi cai quản một đồn điền, và tôi đã nhận lời ở lại. Anh chịu khó ra đi một mình ấy…

Tôi mỉm cười nhìn thẳng vào mặt tên bịp bợm.

- Harl, anh đã khôn khéo loại trừ được đối thủ của anh trong công việc làm ăn. Bây giờ thì tôi đã nhìn thấy tâm can anh. Tâm hồn anh thật ti tiện, và nó đang bị nhiễm loại virus lừa bịp.

Hắn toan cãi lại, nhưng tôi lạnh lùng ngắt lời hắn:

- Tôi chán lắm rồi, thưa ngài. Tôi không muốn chuyện trò với ngài nữa.

Tôi quay đi. Harl trở về vùng đồn điền Vahraja.

❖ V ❖

Tôi không đợi ô-tô và cũng không trở về thành phố. Tôi đi bộ về phía đông, tới Miến-điện để hiểu rõ hơn nữa cuộc sống chân thực ở đây. Rừng rậm và hổ báo không hề làm tôi sợ hãi. Ở Vahraja tôi đã thấy rõ con người còn tham lam và quỷ quái hơn hổ báo nhiều.

Những người phương Đông đối xử với tôi bằng tấm lòng mến khách đặc biệt, ngay sau khi họ biết rõ tôi không phải là người đi thu thuế. Tôi hồi tưởng lại một cánh đồng nhỏ cây đại mạch với một vài cây dừa cân đối đứng tư lự trên nền của khu rừng nhiệt đới. Ở đây có một ngôi nhà nông dân đẹp như tranh vẽ. Tôi vào xin nước uống. Ông chủ nhà thân ái nói:

- Rồi tôi sẽ đãi anh.

Ông chỉ lên ngọn một cây dừa nặng trĩu những quả to như ấm giỏ.

Tôi nghĩ: cao thế thì ông ta làm sao mà lấy được?

Nhưng ông ta vừa huýt nhẹ một tiếng sáo thì tôi đã thấy ngay một con khỉ lớn mũi dài nhảy từ mái nhà xuống đất. Ông chủ chỉ tay ra lệnh rồi nói một vài lời gì đó. Nhanh như chớp con khỉ trèo lên cái thân cây nhẵn nhụi và hơi nghiêng.

- Chúng ta sắp được ăn của ngọt, - ông chủ nói và mỉm cười.

Tôi ngẩng đầu nhìn xem con khỉ được sai phái lên đấy đang làm gì. Nhưng, lạ thay, nó chẳng nghĩ gì tới chuyện hái dừa. Nó ngồi yên trên ngọn cây và đang vạch lông bắt bọ chét, không thèm để ý gì đến chúng tôi.

- Nó thường không nghe lời, - ông chủ nói như muốn xin lỗi rồi thét con khỉ:

- Battu... Battu... nhanh lên!

Con khỉ vẫn mải mê bắt bọ. Nó dùng răng nhọn nhằn bọ rồi nhổ vào chúng tôi. Ông chủ muốn gào thét gì nó cũng mặc. Tôi định xua con Battu, nên bỏ mũ ra rồi ném lên Battu chú ý nhìn và nhe răng ra như cười. Tôi ném lại lần thứ hai. Nó dõi nhìn theo cái mũ rồi bỗng nhiên chồm dậy, ngắt một quả dừa và lấy hết sức tung lên.

May mà tôi tránh kịp sang bên, nên mới thoát được cái quả đạn trái phá có thể làm bể đầu người ấy. Ông chủ thì núp vào dưới mái nhà.

Bỗng con Battu nhớ đến nhiệm vụ của mình, nó tụt xuống, mang theo một quả dừa khác rồi đặt ngay cạnh cửa.

Ông chủ dùng dùi chọc một lỗ qua vỏ, ông rót nước dừa vừa ngọt vừa mát vào bát rồi đưa mời tôi uống. Sau đó ông đóng cái chêm gỗ vào lỗ thủng rồi bửa đôi quả dừa ra.

Lớp cùi ở trong trông trắng nõn và ngon lành. Tôi đã thưởng thức cái món đặc sản nhiệt đới ấy một cách khoái trá. Battu cũng được phần, nó liền mang ngay lên mái nhà.

* * *

Tôi đã nhiều lần phải ngạc nhiên vì không hiểu sao số phận lại quá hào phóng đổ lên đầu một người đủ các loại tai họa khác nhau, đồng thời để những người khác sống bình thản và tẻ ngắt. Thực ra những lần nhào lộn trên vũ đài rạp xiếc và những chuyến đi trong rừng chỉ là những chuyện vặt so với những cái đang chờ đợi tôi ở tương lai.

Vì đi bộ nên đôi khi tôi phải tìm vào ở nhờ nhà nông dân trong các làng xóm. Tôi đã quen ngủ trên đất không và thỏa mãn với mẩu bánh ngô thay cho bữa cơm chiều.

Có khi tôi còn phải nghỉ ngoài trời nữa.

Có một lần tôi bị lạc đường và không sao tìm ra cái làng người ta đã chỉ cho. Vì quá mệt mỏi tôi ngã khuỵu xuống mặt đường đá rồi nằm đấy và sợ hãi nghĩ tới sự bất lực bi thảm của mình. Nước trong bầu chỉ còn lại vẻn vẹn hai hớp.

Một con kiến xanh to tướng vừa đảo cặp mắt màu lam đục vừa bò trên mặt đất khô cứng tiến về phía tôi định đốt vào mặt. Tôi nín thở giơ nắm tay lên đập nát bét con kiến.

Việc này nhắc tôi nhớ rằng tôi là một con người.

Trời đã tối. Loài bò sát bò sột soạt dưới những cây dương xỉ. Tiếng báo gầm lên trong rừng sâu trên núi. Tôi bò về một phía và đụng ngay phải con suối, tôi đã uống cho thỏa con khát. Đêm đến tôi phải ngủ trên cây để tránh những tai họa bất ngờ. Giấc ngủ đã làm tôi tỉnh táo lại và mặc dù dạ dày trống rỗng như cái túi đi đường, tôi vẫn cố tập trung sức lực còn lại để đi ra đường cái.

Ở quãng rừng thưa rộng, nơi con đường dẫn tôi đến, có một làng nhỏ gồm những ngôi nhà làm bằng sậy. Tôi huýt sáo miệng theo điệu bài hành khúc của các cầu thủ bóng đá trường Dijan rồi sảng khoái, ít ra là tôi tự cảm thấy như vậy, tiến bước vào làng.

Tôi ngó vào ngôi nhà đầu tiên. Một ông già Ấn-độ gầy gò như một bộ xương ngồi cạnh lò và đang sốt run lên. Hai chân xù xì bẩn thỉu của ông khẳng khiu như những cái que, một tấm khăn, nói cho đúng hơn là một tấm rẻ rách, che trên cặp đùi.

- Chào ông chủ, mong cho hạnh phúc sẽ đến với gia đình ông, - tôi nói bằng tiếng Urdu.

Ông già lẩm bẩm trả lời rồi ho lên sù sụ.

“Có lẽ ông lão thảm hại ấy bị sưng phổi nên chẳng để ý gì đến mình”, tôi nghĩ thế rồi bỏ sang ngôi nhà khác.

Image

Trong ngôi nhà thứ hai tôi thấy một vài người đang nằm trên những chiếc chiếu rách nát và người nào cũng ho. Trong ngôi nhà thứ ba tôi cũng lại thấy những người ho nằm ngồi ngổn ngang. Một người đàn bà đưa bát nước cho một trong số những người nằm và sợ hãi cất tiếng hỏi khi thấy tôi vừa ló đầu vào nhà:

- Anh ta cần gì thế không biết?

Tôi bước vào nhà và hỏi bà ta:

- Các bác ở đây bị cảm lạnh à? Tháng rét đã qua lâu rồi, mưa gió cũng không còn nữa mà sao các bác lại bi sưng phổi. Cần phải làm những gạc nóng.

Ở trường trung học có lần tôi đã nghe nói đến việc chữa bệnh bằng gạc. Bây giờ tôi thấy thương những con người bất hạnh này. Họ thở nặng nhọc vì bị đờm kéo lên đầy cổ. Giá như có bác sĩ Fleet của chúng tôi ở đây nhỉ! Ông ta biết cách chống đỡ với cái tai họa của loài người là sự khó thở.

Người đàn bà đang ngồi xổm gật đầu.

- Ồ, chúng tôi thấy ngay anh là người tốt! Còn như ông bác sĩ già thì đã thôi không chuyện trò với chúng tôi nữa rồi. Sáng nay ông ta từ đồn đến đây, nhưng vừa thấy Sakhavet chồng tôi ho, tức thì ông ra khỏi nhà, nhảy lên ngựa và phi mất. Còn anh thì lại khác, anh thật tốt bụng. Cầu trời cho anh sống lâu muôn tuổi…

Sakhavet, chồng bà ta, nắm trên chiếu thở nặng nhọc, ông ta cố quay đầu về phía tôi và nói thêm bằng một giọng khàn khàn:

- Cầu trời cho anh thêm nhiều rupee trong ví. Đi đi anh thanh niên ơi! Đừng đứng nhìn chúng tôi chết làm gì.

Chẳng thể nào mà nghĩ tới chuyện ăn uống và nghỉ ngơi trong căn nhà ấy được. Bước vào căn nhà thứ tư tôi lại vẫn chạm trán với một cảnh tượng y như thế: toàn bộ người trong nhà - đàn ông đàn bà và trẻ con - đều nằm la liệt và ho rũ ra. Tôi cho rằng đây là cái làng có bệnh lao, chẳng nên ở lại làm gì, tốt hơn là hãy đi tiếp, tìm đến một cái lô cốt nào đấy xin nghỉ nhờ. Cuộc hành trình làm tôi mệt lử, và tôi đã toan trở về phía bờ sông để rồi lại tìm kiếm việc làm ở một nơi nào đấy trên những đồn điền. Dù sao thì địa vị một nhân viên văn phòng vẫn đảm bảo cho tôi mẩu bánh mì và một nơi nương náu.

Và thế là tôi, một con người bơ vơ bất hạnh, ra khỏi làng. Mặt trời đã lên cao, và tôi có thể đến được chỗ lô cốt trước khi trời tối như người ta đã nói với tôi. Nhưng tôi đi khỏi làng chưa được một dặm thì thấy phía trước mặt, sau những bụi cây, xuất hiện hai người lính cầm vũ khí, ăn mặc theo kiểu quân đội thực dân của chúng ta, họ tiến thẳng về phía tôi:

- Quay trở lại!

- Có chuyện gì ạ? - tôi giơ hai tay lên và cầu khẩn. - Tôi xin tuân lệnh...

- Quay trở lại! Nếu không chúng tao bắn. - Một giọng nói nghiêm khắc tiếp theo.

Tiếng một viên đạn rít lên, bay vèo qua đầu, khiến tôi không kịp suy nghĩ gì hơn nữa. Tôi cắm cổ bỏ chạy không kịp phân biệt đường lối. Một mũi tên có kèm theo mẩu giấy bay vọt về phía trước mặt tôi. Nó từ từ cắm xuống bãi cỏ phủ đầy bụi đã bị cháy xém vì mặt trời thiêu đốt. Tôi tháo mảnh giấy ra rồi đọc những dòng chữ viết bằng bút chì, những dòng chữ ấy đã làm cho máu trong người tôi như muốn đông cứng lại: “Ở Nabukhatra có dịch hạch. Ai vượt khỏi vùng cắm cờ vàng sẽ bị bắn chết. Boro, chỉ huy đội canh phòng”.

Những lính tuần tiễu đứng ở đầu rừng cách tôi mấy trăm mét, không hiểu họ vừa xua tay vừa kêu thét những gì. Tôi tiến lên một bước, hai người lính tiến bắn luôn. Với tâm trạng hoàn toàn thất vọng và chán ngán vì điều bất ngờ xảy ra, tôi uể oải quay trở lại Nabukhatra. Đạn hay dịch hạch cũng vậy thôi, đường nào cũng chết. Nhưng ở lại có một mình thì thật là khủng khiếp. Không dám liều mạng bước vào những ngôi nhà mà lúc nào cũng vang lên tiếng ho sù sụ, tôi bước xuống con đường đấy bụi rồi ngồi xuống đấy đến một tiếng đồng hồ, hai mắt nhắm nghiền lại. Tôi ghê sợ không muốn nhìn vào cái thế giới kinh tởm này nữa. Nghe thấy một vài phát súng nổ ở phía xa nhưng tôi không buồn nhúc nhích. Mặc cho một viên đạn nào đó cứ việc xuyên vào người tôi...

Sau đó tôi nghe thấy có tiếng bước chân người.

- Ngồi giữa đường thì quả là không lịch sự chút nào, - một giọng nói điềm đạm vang lên bên tai tôi, và tôi mở mắt.

Một người đội mũ có vành màu trắng, đeo kính đen, mặc áo khoác rộng, đeo hai cái túi chéo qua vai, đang đứng chăm chú nhìn tôi.

- Chẳng lẽ tôi làm phiền ông sao? - tôi hỏi, cố làm ra vẻ xẵng giọng.

- Trong làng có dịch hạch. Tôi khuyên anh chớ ngồi đây mà hít bụi, - ông ta trả lời không để ý gì đến câu hỏi sẵng của tôi. - Đứng dậy đi, chúng ta cùng vào chỗ khuất ngồi. - ông hơi mỉm cười - Đừng ương bướng nữa, anh hãy nghe lời những người lớn tuổi...

Đó là những lời rất chí tình, khiến tôi phải ngoan ngoãn vâng lời.

Khi chúng tôi đã vào ngồi dưới bóng của một hàng rào thấp bằng đá, người lạ lấy khăn tay lau mặt và nói:

- Thật là rủi. Có lẽ anh đi về phía Gend rồi bị lạc đường và bọn lính tuần tiễu đe dọa anh phải không. Nào, hãy tỉnh lại mà trả lời đi. Cái bọn ngu ngốc ấy dọa bắn anh chứ gì?

- Vâng.

- Chà, làm thế nào được. Phải chờ đợi cái điều không thể tránh được thôi. Khi nào những người trong vùng cắm cờ vàng chết hết thì bọn lính sẽ tưới đầu vào làng Nabukhatra rồi đốt cho cháy sạch.

Một phát súng nữa ở phía xa vọng lại.

- Bọn lính bắn những con chó chạy từ vùng dịch hạch ra đấy.

- Thế còn người?

- Những người ốm đang nằm liệt hay là ngồi yên như chúng ta.

- Rồi sau thì sao? - tôi hỏi.

- Sau đó người ta sẽ cày đất lên, bỏ bả chuột ở hang của chúng và rắc calci chlorure lên khắp vùng. Một năm sau người lại có thể đến ở cùng với...

Nỗi thất vọng tràn ngập tâm hồn tôi. Thế là hết, chúng tôi đã bị vây chặt. Ở đây chúng tôi đang bị những con quỷ dịch hạch, những vi trùng cắn xé. Chúng còn ghê gớm hơn hổ báo nhiều. Phía sau những lá cờ vàng kia là những viên đạn đang chờ đợi.

- Người ta không cho ai chạy thoát vùng này, mà dịch hạch thì không có cách nào chữa khỏi.

Tôi liếc nhìn người đang nói chuyện với mình, bộ mặt đã cạo nhẵn nhụi và có một vài nếp nhăn nhỏ của ông trông thật bình tĩnh, cặp mắt xám tinh nhanh chăm chú nhìn tôi.

- Hình như ông đang xét đoán diện mạo tôi thì phải - tôi cố gượng cười vì không muốn để con người sắp chết này thấy tôi sợ dịch hạch.

- Đúng thế, - ông ta trả lời. - Nếu tôi không nhầm thì anh đã từng đến Bell Harbor.

- Tôi mới đến có một lần, - tôi lầm bầm trả lời.

- Anh tha lỗi cho nhé, vì tôi cứ hỏi lôi thôi, - ông nói tiếp. - Có lần anh đã nhảy từ trên cầu xuống để cứu một người chết đuối phải không?

Câu chuyện phiêu lưu ở Bell Harbor như sống lại trong trí nhớ tôi, tôi nói:

- Ở địa vị tôi ai cũng sẽ hành động như thế. Tôi đã nhảy xuống biển khi thấy một người đang chết chìm. Nhưng nào tôi có biết người tôi đã cứu là ai.

Ông ta đứng dậy và bắt tay tôi.

- Cho phép tôi được cảm ơn anh. Nghĩa là người đã cứu tôi là anh. Xuồng cấp cứu đã vớt tôi lên từ trong tay anh rồi nhanh chóng đưa tôi về thành phố.

- Tôi rất vui mừng được thấy ông khỏe mạnh, - tôi nói để đáp lại cái bắt tay. - Chỉ tiếc rằng chúng ta lại gặp nhau trong một hoàn cảnh như thế này...

- Chúng ta không nên để những ý nghĩ đen tối ám ảnh nữa. Tôi là nhà sinh vật học... đối với tôi, thiên nhiên không đến nỗi quá ghê gớm và bí mật như đối với những người khác. Họ của tôi là Milrois, tôi sẵn sàng giúp đỡ anh.

- Tôi là Samuel Pingle, - tôi lễ phép nghiêng mình như những học sinh Dijan có lễ độ.

- Anh Pingle, tốt lắm, - Milrois nói với về trầm ngâm, sau đó vội nói thêm:

- Nào trước hết hãy ăn một chút đã, rồi sau sẽ nghĩ cách.

Milrois lấy bánh mì khô và đồ hộp trong túi ra.

- Nếu cho thêm một vài giọt rượu rum vào nước uống thì rất tốt, - ông nói rồi rót rum đựng trong ve vào một cốc nhỏ. - Pingle ạ, uống hết cái này đã rồi hãy ăn.

Ông lắng nghe những tiếng ho từ trong những ngôi nhà nông dân vẳng lại.

- Bệnh dịch hạch phổi tiêu... Do một loại vi trùng đặc biệt gây ra. Loại bọ chét sống trên cơ thể loài gặm nhấm như là chuột, sóc marmot, chuột nhảy jerboa. Ở đây người ta dùng bẫy để bắt chúng. Một người đi săn địa phương nào đó đã làm lông và lột da những con vật bẫy được, chúng bị lây bệnh và kết quả là như vậy đó.

Rum của Milrois quả là một trong những loại rượu nặng. Uống vào tôi thấy lòng nhẹ nhõm hơn đôi chút, và tôi thử nói đùa:

- Thưa ông Milrois, hình như bệnh dịch hạch có phần kiêng nể ông?

Nhà sinh vật học đăm chiêu nhìn những đầu ngón tay của mình.

- Ở những vùng này thấy có hai loại dịch hạch. Một loại gọi là “waba” loại này giết hại tất cả, không trừ một ai: người mắc bệnh loại này chết rất nhanh. Loại thứ hai là “mari”. Loại này cũng làm chết người được, nhưng chậm hơn... Sao anh không ăn đi, Pingle?

Tôi không sao nuốt trôi được mẩu bánh, những lời ông Milrois nói làm người tôi phát sốt phát rét lên. Phải cố gắng lắm tôi mới bình tĩnh lại được. Thế mà cái con người đứng trước mặt tôi nói về bệnh dịch hạch với thái độ quá bình thản.

- Anh Pingle ạ, bây giờ thì anh chú ý nghe nhé. Tôi nghiên cứu dịch hạch đã nhiều năm rồi và từ lâu tôi đã tiêm chủng cho tôi bằng một thứ thuốc kháng độc tố, thuốc này làm cho cơ thể tôi miễn dịch với cả hai loại “waba” và “mari”. Mang ơn thì phải trả ơn. Tôi muốn giúp anh. Nhưng hiện giờ tôi chỉ mang theo có một loại kháng độc chống “waba”.

Nếu anh còn chưa bị bệnh này thì có thể hy vọng rằng sau khi tiêm chủng nó sẽ không dám đụng đến người anh nữa. Còn nếu hiện giờ quanh chúng ta là bệnh “mari” thì... - Milrois lo lắng nhìn tôi, - khoa học cũng đành bó tay, không giúp anh được.

- Có nghĩa là ngay cả bệnh “waba” cũng không chắc có thoát được? - tôi nói thì thầm. - Nhưng, thưa ông Milrois, tôi rất muốn sống.

- Anh đưa tay đây, và quay mặt đi nhé. Tôi làm gì cũng đừng có nhìn, - Milrois nói.

Một phút sau tôi cảm thấy một mũi kim đâm vào cánh tay trái và nghe thấy nhà sinh vật hỏi:

- Thế nào, Pingle?

- Rất dễ chịu, - tôi nói lắp bắp, lòng cảm thấy bực tức kỳ lạ.

- Không sốt chứ?

- Không, không, - tôi nói khẽ. Hai hàm răng đánh vào nhau lập cập, còn quai hàm thì như bị co giật rất khó chịu.

Milrois cầm tay tôi bắt mạch.

- Pingle, hãy tỉnh lại nào. Thần kinh bị kích thích đôi chút, rồi sẽ hết ngay thôi. Nào, để tôi giúp anh chuyển chỗ ngồi cho thuận hơn...

Chúng tôi ngồi trên những tảng đá dưới gốc cây.

Milrois nói:

- Để tôi đi thăm dò xem, còn anh cứ yên tâm ngồi đây nhé.

Tôi thấy mừng khi ông ta bỏ đi. Cái con người lắm lời ấy làm tôi bực mình. Trăng màu đỏ thắm đã lên. Ở phía những bụi xa tiếng chó rừng rít lên. Ở cạnh cửa rừng phía bên kia vang lên tiếng huýt sáo và tiếng gọi nhau của lính tuần. Một vài phát súng nổ rền. Phải chăng người ta đã bắn chết Milrois ở cạnh những lá cờ vàng? Chắc ông ta định chạy thoát cái nơi địa ngục trần gian này.

Sau đấy, trên nền xanh nhợt nhạt của bầu trời trước lúc rạng đông tôi thấy xuất hiện bóng dáng một người Trung-quốc đang cúi xuống nhìn tôi. Bóng người Trung-quốc biến đi, và ông Walson đang niềm nở mỉm cười với tôi.

Tôi mở mắt thì thấy Milrois dang đứng trước mắt tôi và hỏi:

- Pingle, anh không ho chứ? Tốt lắm. Nếu muốn ho thì nằm úp mặt xuống dưới nhé. Như vậy sẽ dễ chịu hơn.

Mặt trăng đỏ tía treo lơ lủng trên đỉnh khu rừng âm u. Tiếng ho của những người ốm và tiếng súng nổ thưa thớt xua động sự tĩch mịch lạnh lùng của một đêm nhiệt đới.

Milrois lắng tai nghe ngóng.

- Họ đã giết hết lũ chó và một người đàn bà. Bây giờ thì bất kể trường hợp nào họ cũng bắn. Họ biết tôi. Tuy vậy, có lẽ họ vẫn sợ chúng ta mưu toan thoát khỏi nơi đây. Tất nhiên, về phía chúng ta, nếu chạy khỏi đây là không tốt. Tại sao chúng ta lại chia sẻ sự trừng phạt mà chỉ chúng ta đáng phải chịu cho những người khác.

Những lời nói ấy làm tôi nổi khùng lên.

- Tôi chẳng làm gì mà đáng phải trừng phạt. Ông chỉ nên nói những điều ấy cho riêng bản thân ông thôi. Ông Milrois, nếu ông muốn biết thì tôi nói để ông rõ rằng lẽ ra tôi chẳng việc gì phải bỏ nhà ra đi. Nhưng cần phải sống...

Mặt trời mọc. Cái khát ghê gớm giày vò tôi. Nước trong các bình đựng đã uống hết. Nước trong nhà dân đã bị nhiễm trùng, còn giếng có nước sạch lại ở ngoài phạm vi cắm cờ vàng. Milrois nói:

- Nếu anh cứ hít một bụi vào thì rất hại. Cần phải thở chậm và chỉ thở bằng mũi thôi. Như vậy mới ngừa được...

Ông đeo lên mũi và mồm tôi một khẩu trang làm bằng vải băng. Tôi không phản đối và để ông buộc những đầu dây ở phía sau gáy.

Đất đá bị nung bỏng lên dưới ánh nắng. Chúng tôi ngồi im lặng cạnh cái hàng rào đã nghiêng và thận trọng hít không khí nồng nặc qua hai lỗ mũi. May cho chúng tôi trời không có gió. Những con sâu có rêu màu xám trông giống như con sâu nhậy vội vã bò đi bò lại trên hàng rào. Những con thằn lằn tinh ranh đứng im như chết trên những tảng đá nóng bỏng và chớp chớp cặp mắt long lanh bé nhỏ của mình một cách vô tư lự. Chúng thật sung sướng dưới ánh nắng mặt trời. Bệnh dịch hạch không động đến sinh vật nhỏ bé ấy của trái đất.

Milrois nói:

- Cần phải chống lại sự suy sụp của cơ thể.

Tôi nhìn thấy, như qua một lớp sương mù, ông ta khéo léo dùng lòng bàn tay chộp lấy một con thằn lằn rồi đưa lên miệng ăn. Ăn xong, ông ta lại càng hay nói:

- Ở Nabukhatra có mười chín nóc nhà. Hình như tất cả mọi người trong mười một nhà đã chết hết.

Ngày dài như vô tận. Sự yên ắng khắc nghiệt như số phận đang chậm rãi và hống hách trùm xuống cái làng khốn khổ đã bị quên lãng này. Tiếng ho trong các ngôi nhà lặng dần. Milrois bỏ vào làng xem xét tình hình. Tôi không tin vào những mũi tiêm chủng của ông nên cho rằng thế nào ông ta cũng bỏ xác ở đây. Nhưng ông ta đã trở lại.

- A-lô, Pingle, anh còn sống đấy chứ? Chà, anh biết không, ông già Mukhham ở căn nhà cuối cùng vẫn chưa chết, tôi vừa ở chỗ ông ta ra.

Hình như cơn ác mộng này không bao giờ chấm dứt, - tôi nói thều thào qua cặp môi hơi mấp máy. - Waba hay mari? Chẵn hay lẻ? Cửa sinh hay cửa tử?

Trong trạng thái hoàn toàn mất trí, tôi nhắm nghiền mắt lại.

… Một người Ấn-độ trần truồng râu cằm bạc trắng đang ngồi mải mê thổi chiếc sáo kêu the thé bên ngưỡng cửa một ngôi nhà, dưới ánh nắng xiên của mặt trời đang xế bóng. Thỉnh thoảng ông ta ho lên rồi khạc nhổ xuống cát. Hai con rắn thân dài, mình vằn đầu nhẵn có viền đang từ dưới một phiến đá tím trườn ra, chúng đuổi những con thằn lằn vô tội chạy nháo nhác, lao vụt qua bên tôi về phía ông già. Chúng vươn thẳng người lên trước mặt ông ta uốn cong lại rồi bắt đầu đu đưa người một cách nhịp nhàng, hai bên mang phùng bạnh ra.

Nhưng có lẽ đấy chỉ là cảnh tôi tưởng tượng ra trong cơn mê hoảng khủng khiếp chăng?

Lại một đêm đầy lo âu nữa đã qua. Những ngôi sao đã biến đi trên bầu trời xám của buổi bình minh. Mặt trời nóng bỏng và thờ ơ lại từ từ mọc trên cái làng lặng ngắt của những người đã chết. Tôi không bị ho. Khát đến cháy cổ. Milrois đánh thức tôi dậy, ông đứng lặng lẽ và dướn người lên như đang chuẩn bị hành quân.

- Pingle, xin có lời chúc mừng anh. Anh vẫn còn lành lặn là nhờ đã tiêm chủng: dịch hạch ở Nabukhatra là thuộc loại “waba” và mọi người đã chết. Bây giờ thì chúng ta phải rời khỏi đây... - ông giơ tay lên. - Gió trên núi thổi xuống rất trong sạch... Tuyệt lắm. Chúng ta sẽ nhen lửa đốt bó sậy ở cạnh cái lán gỗ kia. Cần phải đi qua lửa. Những người Ấn-độ nói rằng cái chết không dám đụng đến những vật đã được tẩy uế qua lửa... Pingle, chúng ta hãy thử xem sao?

Có lẽ Milrois cũng nói mê, nhưng tôi không phản đối cái việc điên rồ đó. Ông loay hoay mãi bên bó sậy và những cây củi, cuối cùng thì một ngọn lửa đùng đục và khét lẹt đã bốc lên. Lớp khói dầy đặc che mờ cả mặt trời. Milrois nắm tay tôi, và chúng tôi bước vào trong đụn khói. Ngọn lửa liếm vào mặt tôi làm cháy xém cả tóc và quần áo. Đầu óc tôi choáng váng... Tôi nín thở theo bản năng và nghĩ: “Sẽ ngã xuống rồi chết cháy thôi...”

Thực ra tôi cho rằng thà ngã xuống và chết cháy trong cái địa ngục này còn hơn là phải sống trong cái thế giới dịch hạch ghê tởm một lần nữa.

Nhưng cánh tay mạnh mẽ của Milrois đã nâng đỡ và nhanh chóng dắt tôi vượt qua ngọn lửa đang bốc cháy đùng đùng sang phía bên kia. Cái lạnh bất ngờ của làn không khí ẩm ướt trong lành đã ve vuốt tôi. Qua lớp không khí trong suốt như pha lê của buổi sớm mai lành tôi nhìn thấy những đỉnh núi trắng như tuyết ở phía sau đường viền mờ xanh của khu rừng, tôi kêu lên một cách yếu ớt rồi ngã gục xuống bất tỉnh.

« Lùi
Tiến »