Những Mảnh Đời

Lượt đọc: 8115 | 7 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
9- Con Nuôi

Cuối năm các cửa hàng buôn bán lớn nhỏ, các công ty đều tính sổ xem lời nhiều, lời ít, hòa hay lỗ vốn, kiểm kê hàng còn lại, rút kinh nghiệm cho biết thứ hàng nào bán chạy, được khách hàng ưa thích.

Cửa hàng bà Viết bán chạp phô linh tinh đủ thứ. Người ta đưa đến cửa hàng của bà gửi bán, bất cứ thứ gì bà cũng nhận bán lấy lời. Điều này cũng tiện cho những người làm thủ công nghệ tại gia hay nhà it người ăn không hết đưa các thứ rau đậu, hột gà, hột vịt v.v.. đến bán không phải nộp thuế. Hai bên mua bán chỉ cần kiểm điểm số lượng, giá bán rồi hẹn kỳ trả tiền vào ngày nào hoặc khi đưa hàng mới lấy tiền hàng cũ. Bà Viết giữ được sự tín nhiệm với mọi người nên việc làm kiểm kê sổ sách kết toán đối với bà dễ dàng. Mua bán sòng phẳng, đến đâu bà trả tiền hết luôn không thiếu chịu món hàng nào.

Cửa hàng chạp phô của bà Viết ở khu Hòa Hưng, sát Sàigòn. Gia đình ngoài bà chỉ có thêm một cậu con trai nhỏ và một người làm giúp việc. Đời sống nơi đây cũng bình thân nên ông Viết an tâm để vợ con ở hậu phương an toàn. Mỗi khi sau cuộc hành quân được nghỉ phép, ông Viết về thăm vợ con, cuộc sống rất hạnh phúc.

 Đang chú mục  vào cuốn sổ, nghe tiếng động, bà Viết quay ra nhìn. Ông Viết đã tiến vào tận bên bà, miệng cười tươi hỏi:

-Con đâu em?

Bà Viết mừng rỡ nhìn chồng. Bà hơi ngạc nhiên khi thấy tren tay ông bổng một đứa trẻ. Ông Viết một tay bế đứa bé, một tay nắm tay vợ âu yếm. Đứa trẻ ngủ say sưa trong tay ông Viết. Ông trao đứa nhỏ cho vợ và nói:

-Anh nhặt thằng nhỏ này về để em nuôi.

Bà Viết gọi người làm ra giúp bà cho đứa bé ăn và dục chồng đi rửa mặt, thay quần áo nghỉ ngơi để rồi còn chơi với thằng Nhân, con ông bà cũng trạc bằng tuổi đứa bé mà ông Viết vừa mang về.

Sau đó ông Viết thuật lại cho bà nghe lai lịch đứa nhỏ. Ông kể: Cách đây một tuần khi đi hành quân ở quận Bung-Hô, đến nơi chỉ thấy hoang tàn. Bọn Cộng sản trước khi rút lui đã đốt cháy cả làng, để lại nhiều  thây người chết. Bên cạnh những xác chết đó, một đứa trẻ đang bò, miệng khóc đã khàn tiếng, Nghĩ rằng bố mẹ nó đã chết hay đã chạy đi để thằng bé lạc lõng nơi này nên ông đưa về nuôi cùng với con mình cho nó có cha có mẹ.

Nghe chồng kể, bà Viết cũng thấy thương đứa bé và đặt tên cho nó là Đức. Bà cũng cho ăn mặc như thằng Nhân. Lúc mới về nhà bà, thằng Đức gầy gò, bẩn thỉu và xấu xa, nhưng ít lâu sau được sự chăm sóc của mẹ nuôi nó như lột xác và trắng trẻo hẳn ra. Hai má nó bụ bẫm, hồng hào và khỏe mạnh. Nó như cây mọc ở đất tốt. Cả hai trẻ Nhân và Đức cùng đi học với nhau. Ông bà Viết không phân biệt con nuôi, con đẻ, mà cũng không bao giờ nói với ai là có con nuôi.

Hai trẻ lớn lên được học hành dậy dỗ trong sự bao bọc của bố mẹ, tuy bà Viết hơi buồn khi hai đứa con mang học bạ về nhà, bao giờ thằng Đức cũng hơn điểm thằng Nhân. Nhưng chưa bao giờ Đức tỏ ra tự phụ là giỏi hơn anh Nhân. Nó vẫn kính trọng anh, nhiều luc bị anh bắt nạt, sai bảo hay mắng mỏ nó vẫn chịu phận làm em. Nhiều lần bà Viết phải can thiệp bảo Nhân không được bắt nạt em quá vậy. Càng lớn Đức càng to lớn, vạm vỡ. Nó tỏ ra lanh lợi khôn ngoan, ngoài giờ đi học về nhà còn giúp đỡ bà Viết làm lợi cho cửa hàng.

Từ khi sinh nở thêm bốn lần nữa, sức khỏe bà Viết trở nên yếu kém, Đức đã phải thay mẹ điều khiển cửa hàng, nhất là những lúc bà đau yếu nhiều. Trong khi đó Nhân cậy mình là anh cả, chẳng giúp việc gì trong nhà, chỉ nay xin tiền, mai xin tiền đi chơi với bạn bè.

 Chiến tranh đã mang lại sự đau khổ cho tất cả mọi người. Đau khổ trở nên một thứ định mệnh của nhân loại. Và định mệnh đó đã đến với gia đình ông bà Viết.

Ông Viết tỉnh lại ngơ ngác thấy chân tay băng bó, trong người thì đau đớn, mệt mỏi và chán chường. Ông nhìn quanh thấy Đức chứ không thấy vợ và các con khác đâu cả. Ông hỏi:

-Mẹ, anh Nhân và các em con đâu cả?

-Mẹ bị đau và mệt vì buồn rầu. Con xin mẹ ở nhà để con đi thay. Anh Nhân vừa đi ra ngoài, để con gọi anh. Anh vẫn đi đi về về đưa tin cho mẹ và lấy thêm đồ cần dùng. Tất cả nhà ở  đây khi người ta đưa bố tới bệnh viện. Bố cần gì đã có con.

Nhìn Đức, ông Viết buột miệng nói nhỏ: “Con nuôi mà tốt còn hơn con đẻ”. Dù ông nói sẽ nhưng Đức cũng nghe thấy. Chàng đứng lặng một lúc. Những nghi vấn đã có từ lâu chứ không phải đến ngày hôm nay mới có. Đã có lần sang nhà hàng xóm bên cạnh, ông chủ nhà khen chàng đẹp trai rồi nói với người đứng bên: “Con nuôi mà hiếm thấy có người được tốt lành nên ông ta coi như con đẻ.” Bây giờ hôm nay chính miệng ông Viết nói ra mình là con nuôi. Đức tự hỏi: “Bố mẹ mình ở đâu?” Còn sống hay đã chết? Tại sao mình lại là con nuôi?” Đức nhớ lại từ lúc hiểu biết thấy bố mẹ vẫn yêu quí mình như anh Nhân, như các em, có khác gì đâu. Chàng định khi nào bố mẹ hết đau yếu sẽ hỏi cho biết, bây giờ hãy chu toàn bổn phận đã.

Trong thời gian ông Viết nằm dưỡng thương Nhân và Đức thay phiên trông coi và hầu hạ ông Viết thay cho mẹ vì bà Viết còn phải trông coi cửa hàng và mấy con nhỏ. Mỗi ngày bà chỉ có mặt một lúc rồi về lo công việc.

Ông Viết trở về nhà trên chiếc xe lăn. Đời quân ngũ của ông chấm dứt. Còn đâu những lúc xông pha nơi trận chiến, hồi hộp tranh thủ từng mô đất, lựa chọn thế công thế thủ, bảo vệ được cứ điểm, chia ngọt xẻ bùi với anh em đồng đội, thuộc cấp rồi cuối cùng còn hiến cho tổ quốc một phần thân thể. Thực tế hiện tại thật phũ phàng! Còn giúp được gì vợ con, gia đình nữa? “Lực bất tòng tâm”. Hay chỉ đem lại cho vợ con một gánh nặng, một xót xa thương cảm.

Đang là một con người đầy năng lực, chí phấn đấu cao, ông không muốn ai tỏ ý thương xót ông trước những thương tật hiện tại nên không sao tránh khỏi sự cáu kỉnh, khó chịu. Bà Viết và các con bảo nhau phải cố sức chiều chuộng theo ý ông nhưng cũng không giải tỏa được sự buốn chán từ trong tâm hồn ông Viết.

Bà Viết nghĩ chỉ có Đức có thể làm ông nguôi ngoai nên bà hỏi con:

-Đức à, con nghĩ có cách nào làm cho bố bớt buồn khổ và bằng lòng với số phận đã an bài?

-Cho con ít tiền đi mua sách, con sẽ tìm cách làm bố khuây khỏa.

Chàng tìm tới hiệu sách chọn một sổ sách về tâm lý học, khảo cứu, tôn giáo, chính trị, đưa về để ông Viết xem. Khi có thì giờ rảnh, Đức thường bàn luận hay hỏi ông về những điều trong sách mà chàng chưa hiểu thấu đáo. Các em đi học về, Đức bắt các em vào kể chuyện trường học, chuyện học hành của chúng cho ông Viết nghe. Trong bữa cơm thì tìm những câu chuyện vui để cả nhà vừa ăn vừa nói chuyện.

Dần dần ông Viết chấp nhận tình trạng thương tật của mình và an phận. Bà Viết thầm cám ơn Chúa Trời đã cho bà người con nuôi hiếu đễ, giỏi giang. Mỗi khi bà gặp chuyện khó nghĩ phải hỏi Đức, nhờ Đức giải  quyết. Đứa con nuôi nay hơn hẳn những đứa con đẻ của bà về cả tinh thần lần thể xác.

 

Chiến tranh ngày một ác liệt và lan tràn khắp nơi. Nghe radio loan tin mất Phước Long, Ban Mê Thuột, triệt thoái Cao nguyên, là một cấp chỉ huy, ông Viết hiểu địa hình, địa thế, biết tình thế lâm nguy gần kề. Ở Sàigòn nơi ông ở, cứ nay xuống đường,  mai xuống đường phản chiến, tố tham nhũng những người chóp bu, ăn chơi hưởng thụ, không biết chia sẻ khổ đau với những người đem thân bảo vệ cho họ an hưởng.

Một đêm, ông Viết trải bản đồ ngồi tính toán. Quá nghĩ ngợi, sẵn chứng đau tim, ông gục ngủ vĩnh viễn bình an trên tấm bản đồ tổ quốc thân yêu.

Nhìn người cha nuôi khí phách, đầy lòng vị tha mà anh hằng kính yêu tuy những ngày cuối cùng của ông sống mà không giúp được vật chất gì cho gia đình nhưng ông vẫn là một quyền uy, một cột trụ cho gia đình nương tựa. Đức hiểu từ nay bổn phận chàng phải thay thế ông, vẫn là một phần nào vì bà Viết hay đau yếu, công việc hàng đã phải cáng đáng quá nhiều. Qua bậc đại học, Đức hiểu phải kiếm thêm tiền mới đủ cho gia đình chi tiêu vì  trông vào cửa hàng không đủ nuôi sáu con ăn học.

 Đến tháng 4, 1975, cuộc đổi đời ập đến. Mọi người hoang mang đi hay ở, đi đâu bây giờ? Ở lại chứng kiến kẻ thắng mà ngu xuẩn chỉ biết tàn phá như bầy thú hoang chứ không biết xây dựng, ăn gian nói dối, ức hiếp người ngay thẳng. Đức bàn với mẹ nuôi phải đi tìm tự do mới có tương lai. Bà Viết không chịu đi ngay lấy lý do bố mới nằm xuống chưa đủ trăm ngày, chưa ráo mồ, để ông Viết cô quạnh, không đành lòng đi. Bà cho rằng người ta sống được thì mình cũng sống được.

Đức không đành để mẹ và các em ở lại, vả lại không có chàng bà Viết sẽ lúng túng. Bà Viết chỉ biết bán dần đồ đạc nuôi các con. Đức học hỏi ở bà tài tháo vát, buôn đi bán lại, chàng nay như cột trụ của gia đình. Mọi người trong nhà trông vào tài tháo vát may rủi của Đức trong lúc mọi việc kiếm sống mỗi ngày một khó khăn hơn.

Trong lúc xông xáo đi mua bán, Đức vẩn để ý tìm đường vượt biên và để dành tiền mua vàng. Dịp may đến khi có phong trào bài Tàu, người Việt gốc Hoa tổ chức nhiều tàu lớn như chiếc Hải Phòng vượt biên, bảo đảm an toàn hơn. Đức bàn với bà mẹ nuôi. Bà Viết lo làm sao nổi mua chỗ cho cả nhà 7 người. Mỗi người phải mất 3 cây vàng, làm sao bà lo được? Cuối cùng còn thiếu bao nhiêu Đức phải làm giấy nợ để khi đến nơi an toàn đi làm trả sau.

Tới đất tạm cư, Đức đứng mũi chịu sào tìm nơi ở, tìm chỗ học cho các em, chỗ làm cho anh Nhân. Chỉ có mình bà Viết ở nhà lo cơm nước. Gia đình thật đầm ấm.

Năm tháng dần trôi, anh Nhân lấy vợ và tách ra ở riêng. Các em đã lớn vừa đi học vừa đi làm. Bà Viết vẫn nhắc nhở Đức về chuyện lập gia thất để cho bà yên lòng. Nhiều cô lui tới làm thân với các em gái Đức nhưng Đức chỉ xem họ như các em mình. Đức vẫn thường nói: “Khi tất cả các em tôi có gia dình hết cả, tôi sẽ rời khỏi nhà này, không ai phải lo cho tôi”.

Ngày người em cuối cùng lên xe hoa, Đức khuyên bà Viết nên lần lượt luôn phiên ở với các  con ít lâu vui hơn. Rồi  chàng mời tất cả anh em ăn bữa cơm trước khi từ giã. Chàng nói với mọi người, với bà Viết:

-Con là đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi trên đường. May mắn được bố bắt gặp, cưu mang, thương con và không quản vất vả đưa về cho mẹ nuôi. Mẹ cũng thương con như  bố và nuôi dưỡng không phân biệt con nuôi, con đẻ và cũng chẳng bao giờ cho ai biết con là con nuôi. Con biết được điều này từ ngày bố ở nhà thương, trong lúc nửa tỉnh nửa mê bố nói ra con mới hay. Con biết rõ nguồn gốc còn yêu quý và kính trọng bố mẹ hơn nữa.

Con học được ở mẹ tính thật thà, tháo vát, học ở bố lòng quảng đại và kiên nhẫn. Lòng vị tha của bố mẹ là tấm gương cho con học làm người. Công ơn nuôi dưỡng con chỉ mong báo đáp được chút nào. Nay tất cả chúng con đã lớn khôn, mẹ không cần phải lo cho con nào nữa. Con biết mẹ chỉ còn thắc mắc về con chưa lập gia đình. Mẹ đừng lo cho con, con đã ý thức phải tạo cho mình một lý tưởng, một mục đích để theo đuổi là tìm đến hạnh phúc chân thật và trường  cửu. Con nhận ra đời này chỉ là nơi tạm gửi, nơi thử thách. Con đã chọn một viện tu. Con xin bái biệt mẹ, chia tay với tất cả anh em.

Bà Viết thấy mắt mình nhòe đi. Bà không biết mình khóc vì thương cảm cho đứa con nuôi hiếu thảo hay mừng cho Đức đã tìm được hạnh phúc vĩnh cửu.

« Lùi
Tiến »