Những Mảnh Đời

Lượt đọc: 8134 | 7 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
23 - Quan Niệm Hôn Nhân Xưa Và Nay

Gặp năm làng chia lại công điền, cứ ba năm chia lại một lần, là lúc các con trai tới tuổi 18 được vào số chia điền. Lúc này cũng là dịp bố mẹ nghĩ rằng con trai mình đã lớn, phải đi tìm vợ cho con, tìm người về đỡ đần công việc  trông coi nhà cửa.

Tìm vợ cho con đây là một việc quan trọng. Anh con trai nào cũng nghĩ muốn tìm người đẹp, nhưng quyền ở bố mẹ lại nghĩ khác. Đẹp càng hay nhưng theo ý bố mẹ con dâu phải là người hay làm, hiền thục, ngoan ngoản, dễ bảo, hiểu biết việc làm như đi cấy, làm  ruộng ngoài đồng, chăn tầm, hái dâu, se tơ, kéo chỉ ở nhà thêm nghề dệt cửi, buôn bán càng hay. Con người phải khỏe mạnh, có tướng sai con mắn đẻ, phải là con nhà khá giả, môn đăng hộ đối, giòng giống, họ hàng bề thế. Những ý kiến trên bố mẹ nói với bà mai, chuyên đi làm mối để tìm đám nào hợp ý với bố mẹ đàng trai, rồi mới đi nói với đàng gái.

Các cô thiếu nữ mới lớn lên đã có người dòm ngó. Cha mẹ thương con cũng muốn chọn được rể hiền và xuôi gia phúc hậu cho con mình ấm thân, đỡ khổ. Nhưng biết đâu mà kén cá chọn canh, hầu như mối lương duyên đã định từ tiền kiếp. Các cô biết vậy nên thường hay hát câu:

Thân em như tấm lụa đào,

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

Trông vào phần số may rủi, 12 bến nước, biết bến nào đục bến nào trong. Quanh năm ở trong nhà làm việc dưới sự chỉ dậy của mẹ, cũng được theo mẹ ra chợ mua bán. Một năm có đôi ba lần trong làng, hàng tổng mở hội đình đám hay ngày Tết các thiếu nữ mới có cơ hội được phép ra khỏi nhà, cũng là dịp các cậu đi tìm các cô, xa xa thấy bóng hồng nào dám nói gì. Cũng có một đôi khi có cặp táo bạo hẹn hò gặp lại. Chỉ có đằng trai mới dám về thưa với cha mẹ xin đi cưới vợ. Còn các cô chỉ biết yêu trộm, nhớ thầm, không bao giờ dám nói ra khỏi miệng, dù nói với mẹ cũng không dám.

Do bởi hủ tục quái đản “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng từ), bọn hủ nho thấy có lợi cho họ nên đã tuân theo bắt chước bọn đô hộ Bắc phương tròng lên đầu lên cổ người đàn bà, con gái phải cực khổ như thân nô lệ. Khi đi lấy chồng, bước ra khỏi cửa nhà mình sợ số mệnh đen tối đã phát khóc. Bà mẹ cũng khóc theo, một phần vì nhớ cha mẹ, anh chị em đang ở cùng nhà, nay phải đến ở một nơi xa lạ với những người chưa hề quen biết. Nhất là người chồng ngày cưới mới biết mặt. Còn đẹp, xấu, tính nết ra sao chưa rõ.

Gặp được nhà cha mẹ chồng hiền lành, tử tế, người chồng hiền hậu, có lòng bao dung, đi lấy chồng là gánh vác giang sơn nhà chồng. Gặp gia đình chồng hiền lành, không phải gồng mình mà gánh, ăn mặc đầy đủ, còn có lúc được nghỉ ngơi. Ngày giỗ Tết còn được phép về thăm cha mẹ và gia đình mình, được nở mày nở mặt với xóm làng rằng có phúc hơn người.

Người con gái nào không may, số phận hẩm hiu, than thở với bố mẹ thì lại nghe câu “đá gà bán cho người ta rồi, phải sao chịu vậy” thì ôi thôi, trăm đắng nghìn cay! Thức khuya dậy sớm hầu hạ bố mẹ chồng, ông bà chồng, các em chồng. Người xưa có câu: “Giặc bên  Ngô không bằng bà cô bên chồng.” Cứ cúi đầu mà nghe những câu chửi rủa, nhiếc móc của mẹ chồng vì tiếc của đã mất món tiền cưới nàng dâu về. Lỡ dại chống đối gì với các em chồng sẽ bị mẹ, em túm vào xúi giục chồng lôi ra đánh rất vô cớ.

“Mất tiền mua mâm thì đâm cho thủng

  Mất tiền mua gỗ thì bố lấy giăm.”

Người con gái bị hành hạ ngược đãi. Bố mẹ, anh em, họ hàng nhà người con gái dù có biết cũng ngậm đắng nuối cay, thương cho con cho cháu, phải làm lơ không can thiệp. Theo phong tục, con gái đã làm dâu nhà người ta là thuộc quyền sở hữu của nhà chồng rồi.

Đến khi sắp có con, không còn làm việc được nhiều, lúc bấy giờ bố mẹ chồng sợ phải nuôi thêm cháu mới cho vợ chồng con trai, con dâu ra ở riêng. Nhiều người phụ nữ đã thốt lên: “Ngày ra riêng là ngày hạnh phúc nhất đời tôi,” và bây giờ bố mẹ người con gái mới dám giúp đỡ con mình.

Cha mẹ các cô có khi chỉ vì một lúc hứng tửu trong bữa tiệc mà các ông chồng đã hứa gà con cho nhau khi hai bà vợ chồng mang bầu. Hai người cùng để con trai hay con gái thì thôi, nếu một bên đẻ con trai, một bên đẻ con gái vì lời hứa đã kết thành thông gia từ đây. Đợi khi lớn, cha mẹ cứ tự tiện lo làm lễ thành hôn cho đôi trẻ, bất kể chúng có bằng lòng hay không. Có bệnh tật bẩm sinh cũng mặc vì đôi bên cha mẹ đã hứa, nên đàng trai hay đàng gái vẫn phải cắn răng chịu đựng.

Đàng trai tuy vâng lời phải cưới vợ nhưng gặp phải người vợ không  vừa ý, họ phản ứng ngay bằng cách có quyền cưới thêm một cô vợ khác mà họ chọn, hay đi ngang về tắt cũng chẳng sao. Chỉ có đàng gái là thiệt, cắn răng mà chịu cảnh “đồng sàng dị mộng” một cách kín đáo. Có người phản ứng bằng cách bỏ nhà ra đi, tuy cũng sợ mang tiếng cho cha mẹ. Nhiều cảnh túng quẫn, tự hủy thân cho toát nợ đời. Ảnh hưởng khốc hại như vậy mà người đời vẫn không qui kết tội cho bố mẹ đôi bên.

Quan niệm hôn nhân ngày nay đã cởi mở nhiều. Tầm nhìn cùng sự hiểu biết thêm vào không khí tự do ở xứ này, các bậc cha mẹ không còn câu nệ câu “Nam nữ thụ thụ bất thân” như xưa. Trai gái đã được cắp sách đến trường học chung. Họ quen nhau khi đi học lúc nhỏ, lớn lên tìm hiểu nhau. Nhiều đôi giao tình đằm thắm năm bẩy năm sau mới làm đám cưới.

Đôi bên cha mẹ bằng lòng hay không cũng không cản nổi họ. Thời nay, lấy nhau rồi vì đời sống không cần dựa vào bố mẹ, họ sống tự lập kiếm nhà ở riêng, không có cảnh làm dâu, làm rể, hay phải hầu hạ bố mẹ chịu lụy đến các em chồng. Sự thăm hỏi, giúp đỡ tùy vào lòng hiếu thảo, không có sự bắp ép giả tạo của nàng dâu, chàng rể nữa.

Một số bậc cha mẹ vẫn tồn cổ, chưa chịu cởi mở theo thời, còn muốn thi hành quyền làm cha mẹ, bắt các con lấy chồng theo ý mình. Họ tự chọn cho con cái người có bằng cấp, có sản nghiệp lớn, với thâm ý sau này được nhờ và về danh tiếng, tiền bạc các con giúp đỡ. Họ không tính xa hơn vì dễ gì mà dâu rể đem danh lợi san sẽ cho bố mẹ? Gặp phải người xa hoa, cờ bạc, liệu họ có giữ được lâu như hiện tại không? Không được như ý là các cụ mắng chửi con bất hiếu. Vì áp lực của bố mẹ, nhiều cô cậu yêu nhau đành chờ thời gian để bố mẹ nghĩ lại.

Các thanh niên nam nữ ngày nay đều được đi học, sự hiểu biết về hôn nhân dưới con mắt của họ không phân biệt về tuổi tác cách biệt nhiều ít, không phân biệt bằng cấp, tiền bạc, giàu nghèo. Họ yêu nhau vì cùng lý tưởng, hợp tình hình. Về duyên dáng, hiền lành đức độ, vui vẻ ở người nữ hòa hợp với vẻ hùng tráng, cương quyết, bao dung và cởi mở ở người nam. Họ không quan niệm chữ trinh tuyệt đối vì có bao trường hợp như bị hiếp, bị tai nạn… đã xẩy ra trước đây. Một câu chuyện điển hình dưới đây như sau:

Bưởi còn nhỏ cũng được đi học, biết đọc biết viết, làm đủ bốn phép tính. Cha mẹ xem thế là tạm đủ, bắt Bưởi nghỉ học ở nhà giúp mẹ làm việc vặt. Lớn lên có nhan sắc dễ coi, rồi bà mai làm mối một đám nhà giầu lại con một. Hiếm hoi, tất nhiên họ quý người. Bố mẹ nàng bằng lòng vì nhà trai giầu có. Bố mẹ Bưởi chỉ nói qua loa cho nàng mới biết đã đến tuổi phải lập gia đình. Hôm làm lễ nàng mới biết mặt người chồng tương lai. Người đâu mà xấu trai quá, tóc quăn, da đen, mắt trắng dã, môi thâm xì, vẻ mặt thì lầm lì. Bưởi chán quá khóc với mẹ và không muốn lấy người này. Mẹ nàng còn dỗ ngon dỗ ngọt, nhưng bố nàng quắc mắt lên quát: “Đã nhận lễ rồi, không nói đi nói lại được nữa.” Mặc cho Bưởi khóc lóc, đám cưới cử hành với đầy đủ lễ nghi, có họ đưa họ đón vui vẻ.

Đưa chân họ hàng về hết. Hân, chồng Bưởi, nói:

-Em thay áo, xuống nhà thu dọn với anh, đừng để mẹ phải làm.

Và đến khuya Bưởi mới được đi ngủ. Hôm sau nhị hỷ, trước khi đi mẹ chồng nói:

-Vợ chồng con đi sớm ăn cơm rồi  về ngay còn phải đi trả đồ mượn hôm cưới các con.

Bưởi đã bước chân vào một nhà tù. Còn hơn thế nữa, nhiều việc quá nàng không làm kịp, ngoài hai bữa nấu ăn, nàng còn phải trông coi việc cho heo, gà ăn, tưới bón một vườn rau. Ở nhà với cha mẹ Bưởi cũng phải làm nhưng còn có mẹ và các em giúp cùng làm.  Ở nhà chồng không có ai giúp, một mình nàng làm không hết việc, còn bị mẹ chồng chửi mắng là lười biếng, không biết làm ăn, chỉ là đồ ăn hại. Mỗi lần nghe mẹ chồng chửi là mỗi lần người chồng nắm lấy vợ tay đấm chân đá, đánh túi bụi cho mẹ hắn hà tức. Lại còn cấm nàng kêu khóc và dọa nếu còn kêu khóc còn đánh thêm.

Được vài tháng, quá khổ sở sau một trận đòn như hằn như thù, những lời nhục mạ của mẹ chồng, của chồng. Bưởi đã không còn nhẫn nhịn được nữa, nàng nói:

-Không bằng lòng thì cho tôi về nhà cha mẹ tôi.

Sau câu nói của Bưởi, bà mẹ chồng bắt người chồng tàn nhẫn đuổi nàng ra khỏi nhà, đưa về trả cho bố mẹ Bưởi. Không những thế họ còn đòi tiền phí tổn đã cưới nàng.

Bưởi về nhà nhưng cha mẹ nàng không cho ở, bắt phải về lại nhà chồng. Quá nhục nhã, cay cực, nàng trốn đến ở nhà người bà con. May mắn có chuyến vượt biên, người bà con thương tình đưa nàng đi luôn tới Hoa Kỳ bình an.

Sang đến Hoa Kỳ, Bưởi được đi học, đi làm. Trong một bữa giỗ ở nhà người đỡ đầu, Bưởi gặp lại Bân, người quen ở cùng xóm đã tới Mỹ từ 1975. Cả hai đều mừng rỡ vì bạn quen từ nhỏ. Họ đã kể hết cho nhau nghe về cuộc đời họ đã trải qua. Từ tình bạn thắt chặt dần dần đã trở thành tình yêu. Những người quen biết ai cũng mừng cho đôi này sớm trở thành vợ thành chồng.

Sau đó không lâu bố mẹ Bân sang  được Hoa Kỳ đoàn tụ. Bân mừng gặp được bố mẹ nhưng khi Bân thưa với bố mẹ để xin cưới Bưởi, cha mẹ chàng gạt đi, không bằng lòng. Ông bà cho rằng Bưởi đã có một đời chồng rồi, không lấy được. Ông bà tìm đám khác cho Bân nhưng người nào Bân cũng từ chối. Chàng cương quyết nói: “Con không lấy người mà con không yêu. Bắt con lấy người ta về ‘đồng sáng dị mộng’, chẳng bao lâu sẽ bỏ nhau.” Thế là chàng đầu sông Tương, nàng ở cuối sông Tương.

Sắp sang thế kỷ 21 rồi mà vẫn còn những bậc cha mẹ cố chấp, thương con mà vẫn chưa hiểu được lòng con. Họ chưa theo kịp trao lưu tiến hóa, chưa phân biệt nổi sự lợi hại trong tâm hồn người có tình yêu chân chính.

« Lùi
Tiến »