Những Mảnh Đời

Lượt đọc: 8108 | 7 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2- Chị Em

Năm 1978 là năm Cộng sản thu tiền các thương gia Tầu muốn xuất ngoại. Chỉ có người Tầu được đi bán chính thức, người Việt mình muốn đi phải tìm cách móc nối với người Tàu Chợ  Lớn để mua giấy, dĩ nhiên là giấy giả. Y phục phải mặc theo kiểu Tầu, bước lên xe ở Chợ Lớn, người nào không biết nói tiếng Tàu cứ ngồi yên rồi đi thẳng xuống tầu ra biển. Người Việt đi theo chỉ thấy người Tầu nói líu lo, không thấy ai nói tiếng Việt hay mặc y phục Việt nên không nhận ra nhau.

Tầu tới Mã Lai không được phép đổ bộ, vẫn thả neo gần bờ biển, mọi người chưa được lên bờ mà thực  phẩm mang theo đã gần cạn, bánh quả cho trẻ con đã không còn. Thằng Thăng con bà Vinh nhìn thấy đứa nhỏ có chiếc bánh nên nó quay lại đòi mẹ kiếm bánh cho nó, khóc nói tiếng Việt ầm ĩ, làm mấy bà người Việt chạy lại chỗ bà Vinh chào hỏi nhau mừng rỡ. Họ hỏi thăm nhau không dứt như gặp bạn thân lâu ngày không gặp.

Ồn ào lúc đầu rồi ai nấy về chỗ mình, họ còn lo cho ngày mai, chưa được bước chân lên bờ, sợ bị trả về Việt Nam. Bốn bà không có đàn  ông đi theo, chỉ đi với các con đều cùng một hoàn cảnh. Họ liên kết với nhau, có điều gì xảy ra hay ai biết thêm điều gì họ đều loan báo cho nhau biết, giúp nhau trên bước đường lữ thữ, bàn tính chuyện xa việc gần khi hằng ngày gặp nhau.

Cuối cùng tất cả mọi người trên tàu Hải Hồng đều được đi định cư tới các nước. Bốn bà được đi định cư ở Mỹ. Họ liên lạc với nhau, dần dà họ tìm cách ở gần nhau, rủ nhau đi học, đi tập lái xe, đi làm. Cuối tuần họ gặp nhau, ăn uống lần lượt mỗi nhà và tâm sự góp ý kiến với nhau để chia buồn vui. Hôm nay đến lượt chị  Vinh kể chuyện về cuộc đời của chị cho chúng tôi nghe:

-Tôi là con một thương gia có đồn điền cà phê ở Ban Mê Thuột. Sau khi thôi học tôi trông coi quán cà phê cho bố mẹ. Tôi gặp chồng tôi lúc bấy giờ đeo lon đại úy là vì ngày nào anh cũng lái xe Jeep đến quán tôi, bất kể giờ giấc. Có khi ngồi chưa nóng chỗ anh đã phải đi. Có tối ngồi lại rất khuya mới chịu về. Tôi vẫn nghi ngờ anh chàng người Bắc di cư, đeo lon đại úy vẫn nói chưa vợ, nhưng lâu dần nghe anh nói mãi cũng lọt tai. Bố mẹ tôi thấy anh ăn nói lễ phép nên các cụ cũng bằng lòng.

Sau đám cưới nhà tôi cứ nay đây mai đó đi hành quân luôn. Chồng tôi thấy vợ con ở gần mặt trận nguy hiểm nên bàn với tôi mua nhà ở Sàigòn để con cái đến tuổi đi học cho tiện.  Nhà tôi có dịp có giấy phép về Sài gòn thăm vợ con còn tôi trông nom con cái.

Rồi tin dồn dập xảy đến. Mất Phước Long. Mất Ban Mê Thuột. Đà Lạt chạy xuống, ngoài Trung chạy vào. Từng ngày, từng giờ hoang mang, người ta tìm cách xuất ngoại còn tôi cứ bồn chồn chờ tin tức chồng rồi sẽ liệu. Ngày 30 tháng 4, cổng Dinh Độc Lập bị xô đổ, dép râu dẫm khắp nẻo đường, mẹ con tôi chán ngán hết hy vọng gặp chồng gặp cha. Thấy người ta tìm đường ra ngoại quốc, tôi muốn đi lắm nhưng chưa được tin nhà tôi sống chết ra sao nên không đành lòng đi.

Gần một năm sau tôi dò la mới biết nhà tôi bị bắt đưa ra Bắc. Được giấy thăm nuôi, tôi mua đủ thứ thực phẩm, thuốc men đi cùng mấy bà bạn cũng thăm nuôi như tôi. Người nào cũng tay xách vai mang, lên tầu xuống xe còn sợ bị mất cắp, cướp giật, phải canh chừng cho nhau. Hết đường xe, chúng tôi phải đi bộ trèo đèo, lội suối mới tới nơi rừng sâu núi thẳm gặp được chồng, được cha.

Gặp nhau được mấy phút nhà tôi chỉ nói với tôi, hãy coi như anh đã chết, em về lo liệu cho tương lai các con, đưa chúng ra khỏi nước càng sớm càng hay. Tõi ừ ào cho qua. Với cái quán cà phê vỉa hè, tôi chỉ cầu ngày hai bữa cho năm mẹ con cũng khó đủ. Để dành  chút ít để đi tiếp tế thăm nuôi nhà tôi, lấy đâu ra vàng mua chỗ cho năm mẹ con đi ra nước ngoài.

Vào một buổi chiều trời mưa vắng khách, có hai ông bà dắt đứa con trai chừng 10 tuổi, quần nâu áo nâu đúng là người Bắc mới vô, tôi mời họ vào quán uống nước. Nhìn ông bà khách, tôi có linh tính như là người  quen mà mình chưa nhớ ra. Tôi vồn vã hỏi thăm quê ở đâu? Vào Nam có họ hàng hay có việc gì? Người đàn bà cũng chăm chú nhìn tôi. Bà ta nói:

-Chúng tôi ở làng Mông Hữu, Kiến Xương, Thái Bình. Tôi có người em trai vào Nam từ năm 1954, đi học sĩ quan Đà Lạt. Tôi vào đây cốt dò la tin tức em tôi còn sống hay chết.

Tôi không kìm nổi đột ngột hỏi ngay:

-Bà có phải là chị Hiển không?

-Phải, tôi tên cái là Hiển. Sao bà hỏi tên tôi?

-Vậy chị là chị Hiển, chị của anh Vinh chồng tôi!

Chúng tôi mừng quá ôm nhau khóc tức tưởi. Vì trước kia nhà tôi nói về gia đình ở ngoài Bắc có hai người chị.  Một đã lấy chồng, con chị Hiển ở nhà với bố mẹ, ở Mông Hữu, Kiến Xương, Thái Bình. Bây giờ nghe người nói đúng tên quê quán, tôi nhận liền không còn hồ nghi. Tôi mời anh chị về ở với tôi để tâm sự. Trong câu chuyện tôi phàn nàn về ý nhà tôi muốn đưa các cháu đi xuất ngoại để lo cho tương lai các cháu. Biết đến bao giờ tôi mới mua nổi chỗ đi, ít nhất mỗi đầu người phải có ba cây vàng, mà đã chắc gì đi một lần là được.

Ngày hôm sau anh rể tôi muốn dẫn con đi thăm người bà con trong Chợ Lớn. Chị Hiển kêu khó chịu muốn ở nhà. Chị nói hôm nay mợ nghỉ bán hàng một bữa, đợi các cháu đi học nhà chỉ còn hai chị em, chị muốn nói cho tôi biết nhiều điều không muốn cho anh biết. Chị kể:

-Ông bà Bá Lân, bố mẹ chị và Vinh, chồng em là người hiền lành hay giúp đỡ người nghèo. Gia đình nhà theo nghề nông, nuôi tầm, gặp thời phong đăng hòa cốc được mùa luôn mấy vụ, bố mẹ tậu thêm ruộng mua thêm vườn, trở nên giầu có tiếng trong vùng. Từ khi Việt Minh cướp chính quyền, không khí có vẻ ngột ngạt cho những nhà có bát ăn bát để, còn những nông dân chất phác hồ hởi như rồi ra sẽ được chia ruộng, chia nhà không ai phải đi làm mướn cho ai.

Vì chưa biết thời thế ra sao, với bản tính lo xa, bố mẹ bán dần đồ đạc, thóc lúa, bí mật đi mua vàng còn bề ngoài làm ra vẻ nhà sa sút. Cuối năm 1952, nhà nước thu thuế nông nghiệp, giảm tô, bố mẹ định đi Hà Nội sống qua ngày và ở gần Vinh đã lên học ở Hà Nội từ trước. Nhưng đã quá muộn, khi thấy bố mẹ bán từ cái nồi đồng, mâm thau, ủy ban trong làng đã cắt du kích canh chừng. Mỗi lần ra chợ cũng bị chúng theo dõi.

Cuối năm 1953, đội cải cách về làng, gần tới Tết  mà chẳng còn ai nghĩ đến sắm sửa ăn Tết. Mở mắt ra đã nghe tiếng trống ếch, một lũ thiếu nhi quàng khăn đỏ vừa hát vừa đi từ đầu làng đến cuối làng trong các xóm: “Cắt đứt là cắt đứt, dứt khoát là dứt khoát, không vương vấn giai cấp địa chủ, kiên quyết đánh đổ địa chủ”. Cả làng bao phủ một sự sợ hãi ngột ngạt.

Chị muốn quên cũng không quên nổi, buổi chiều hãi hùng 23 tháng Chạp năm đó. Xã cho triệu tập nhân dân đến hội trường để bàn về thuế công, thương, nông nghiệp, tới nơi mới biết là tòa án nhân dân đấu tố. Hội trường lập trên khoảnh đất trống đầu làng, bên trong đã có sẵn giây thừng, hèo, gậy và nhiều dụng cụ tra tấn khác. Những người thiếu thuế không kể thiếu nhiều hay ít đều bị bắt điều tra quỳ ở sân trước hội nghị để tra khảo. Chủ tịch cuộc họp chỉ hỏi có một câu: “Tại sao ngoan cố không chịu nộp thuế?” hoặc nếu nộp không đủ: “Ai xúi mày không nộp đủ thuế?”

Chúng đánh đập, cùm kẹp, tra tấn cho đến lúc nạn nhân chịu không nổi đuối sức gật đầu. Nếu không gật đầu, nạn nhân bị tra tấn suốt đêm cho đến chết. Đến lượt bố mẹ, bị tên đứng tố là tá điền nhà. Nó hỏi điều gì phải thưa, gọi nó bằng ông nông dân và xưng con với nó. Nó quát gọi bố bằng thẳng, rồi đánh đập túi bụi. Bố gục xuống chết trong đêm đấu tố đó. Mẹ ngất đi lúc lâu mới hồi tỉnh. Khi xin xác bố về nhà, tên chủ tịch ra lệnh chỉ được bó chiếu mà chôn. Nhà bị tịch thu, mẹ và chị bị đuổi ra đường, đứng nhìn sáu gia đình kéo tới chia nhau đồ đạc trong nhà.

Cuối cùng chúng cho xuống ở chuồng heo cuối vườn, chị phải cắt hàng rào lấy lối ra đường. Xin mãi chúng mới vất lại được cho đôi chiếu rách để mẹ nằm ngả lưng. Cũng may đã tính trước, mẹ đã giấu được dưới chuồng heo mấy bao gạo và một rương quần áo che bằng những đồ phế thải và củi nên được chúng cho ở chuồng heo là mừng rồi. Chị sau đó đi mò cua, bắt ốc, làm thuê sống qua ngày che mắt chúng.

Vừa nhục vừa buồn, thương chồng nhớ con rồi lo lắng cho chị đời sống sẽ ra sao, mẹ sinh bệnh rồi mất năm tháng sau ngày bố chết. Trước khi qua đời, mẹ có chỉ chỗ chôn giấu được ít vàng cũng ngay chỗ chuồng heo. Mẹ dặn sau này gặp được em lấy lên chia nhau làm vốn sinh nhai.

Chị lập gia đình lấy anh Sáu là con bác Hai Sinh người cùng xóm. Chỗ chuồng heo khi trước anh chị sửa sang thành ngôi nhà nhỏ, mua mấy thước đất chung quanh để cấy chút rau, nuôi gà, anh chị làm ăn cũng đủ sống.

Nghe mợ nói ý cậu Vinh muốn mợ đưa các cháu đi nước ngoài cho chúng học hành, chị sẽ trở về đào số vàng bố mẹ để lại lên để mua chỗ cho mợ và các cháu đi. Bây giờ chị tính thế này. Mợ ngỏ lời mời anh chị vào Nam làm ăn buôn  bán dễ thở hơn ở ngoài Bắc. Chúng ta chung nhau thuê căn phố mở hàng cơm bình dân. Có cớ rồi, anh chị trở về Bắc bán nhà, chị sẽ lấy sổ vàng bố mẹ chôn mang vào đây.

Sau mấy ngày ở chơi anh chị Sáu, Hiển trở về Bắc thu xếp bán nhà. Trở lại Nam, chị mang số vàng đào lên chia làm ba phần, chị lấy một phần, một phần chị đưa cho tôi để mua chỗ mà đi, một phần chị nói giữ lại để tiếp tế dần cho anh Vinh.

Chị em tôi bí mật thu xếp xong, tôi vào Chợ Lớn tìm mối đóng vàng để mua giấy rồi may áo Tàu cho mẹ con tôi. Lúc đi tôi đưa ra ba cây vàng chị Hiển đã giao cho tôi ra trước mặt anh Sáu nhờ anh chị tiếp tế thăm chồng thay tôi. Đi đến nơi bình yên, tôi sẽ đưa tin và gửi quà về. Anh chị đưa chân mẹ con tôi tới khi lên xe. Chị Hiển khóc hứa sẽ làm hết các điều tôi dặn. Tôi yên lòng tin vào tấm lòng thương em của chị. Bằng cớ dù túng thiếu đến đâu chị cũng không dám tiêu đến số vàng bố mẹ trối trăn lại, cũng không nói cho chồng biết, chờ khi tìm được em mới nói.

 

Tính chị em thương yêu nhau thắm thiết từ trong tâm. Dù ở dưới chế độ cộng sản đói rách, man trá, tham lam, người chị vẩn giữ một lòng thương em, không thay đổi. Và như thế mới biết rằng sự độc ác, điêu tàn, gian ngoa của cộng sản cũng không thể nào làm lay chuyển được bản tính tốt lành, chân thật của con người như tình gia đình yêu thương đùm bọc của chị Hiển đối với người em trong câu chuyện kể của chị Vinh.

« Lùi
Tiến »