Những Mảnh Đời

Lượt đọc: 8147 | 7 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
32- Theo Vết Lịch Sử

Tết, Tết, một âm thanh thiêng liêng, già trẻ lớn bé tất cả mọi người nam cũng như nữ, không ai nhắc ai, ở nhà quê đã xong mùa gặt hái, hết tháng 11 sang tháng Chạp, cũng như các nhà buôn, người làm công chức ở xa ở gần đã nghĩ sắp tới ngày Tết trong lòng rộn ràng, mỗi người có ý nghĩ tính toán công việc thu xếp thế nào cho gọn cho tiện, những người ở xa quê hương tìm về ăn Tết gặp gỡ đại gia đình, nhất là những người còn cha mẹ ở quê nhà, nóng lòng muốn về sơm trước Tết nhiều ngày càng tốt, vừa được vấn an, vừa muốn mua bán sắm sửa hợp ý cha mẹ.

Rộn rã như ba ngày Tết, mọi người đã đi mừng tuổi chúc Tết nhau, hết họ hàng bạn bè xa gần, rồi cũng qua mau, những người phải đi làm xa đã lên đường, người buôn bán các ngành, nghề ai vào việc nấy, chỉ còn bọn trẻ chúng tôi còn nuối tiếc, muốn hưởng thêm ngày vui bèn rủ nhau đi chơi thăm hang Từ Thức ở miền Nga Sơn, Thanh Hóa.

Như đã hẹn từ chiều hôm trước, mọi người tự túc mang theo giỏ thức ăn, dùng phương tiện xe đạp tập trung từ cầu Pháp Diệm và khởi hành từ hồi 8 giờ sáng. Mỗi đoàn thanh nên nam nữ trên 20 người đạp xe đạp theo hàng đôi vừa đi vừa hát, vừa nói truyện rất vui nhộn, khi tới cầu Điền Hộ nơi ranh giới giữa Bắc kỳ và Trung kỳ, ranh giới do thực dân Pháp cắt nước Việt Nam thành ba kỳ Bắc, Trung, Nam, chúng tôi bắt đầu đạp xe trên con đường đất trải đá giăm rất khó đi làm cho nhiều người bắt đầu ì ạch, phải chở nhau hay đẩy xe nhau, giúp những người bắt đầu thấy mệt, nhưng tới khu này là khu có nhiều vết tích lịch sử vì là cuối của dẫy núi Trường Sơn chạy ra biển trên cửa sông Càn.

Bên trái con đường tỉnh lộ là núi con Trâu, với một lô núi trọc trong đó có bãi Qua Châu, tục truyền nói rằng nơi đây ngày xưa là một hoang đảo nằm giữa bể và vào đời Hùng Vương, nơi xẩy ra câu truyện cổ tích Quả Dưa Đỏ do cụ Nguyễn Trọng Thuật viết và đăng trên tờ báo Nam Phong của cụ Phạm Quỳnh rằng ông An Tiêm là con nuôi của vua Hùng Vương giữ chức Đại phu, vì có tội bị vua đầy ra hoang đảo cùng với vợ là Thị Ba, họ sống cô quạnh không than vãn, trách móc, vợ chồng khuyến khích nhau tìm cách sống tự túc.

Đang sống trong nhung lụa đầy đủ, nàng Ba cùng chồng ngày ngày trèo lên núi trọc để hái trái sim, đào củ giong, củ sắn, theo dõi loài chim, nghĩ rằng hễ cây trái nào loài chim ăn được thì người cũng ăn được, cố tìm lấy hột hay lấy rễ mang về trồng trên khoảng đất đã được khai quang, nàng  Ba cũng đã tìm được các loại vỏ cây, đập thành sợi để bện thành quần áo che thân chống mưa chống nắng. An Tiêm cũng dùng kiếm vót tên làm cung để săn bắn chim muông và săn thú lấy thịt, hay cùng vợ xuống bể tìm hải sản làm thức ăn. Với ý chí nhẫn nại, họ đã có đủ vật dụng và thực phẩm dùng hàng ngày và tích trữ để phòng những ngày mưa lớn hoặc bão táp hay mùa đông lạnh lẽo.

Rồi một hôm vào mùa hè nóng bức, An Tiêm đeo kiếm đi về phía tây thám hiểm tới một nơi nghe động rồi thấy một đàn chim bay lên, cũng còn nhiều con tham ăn vẫn còn đang mổ ăn những trái cây rất lớn nằm lăn lóc trên mặt đất, chàng hí hửng chắc là một thứ trái ăn được nên đã tìm đến ăn, nên vội lấy kiếm bổ một quả, vỏ bên ngoài xanh thẫm, ruột bên trong rất đỏ có những hạt đen nháy như hàm răng cô gái Việt Nam đã nhuộm khi đến tuổi dậy thì.

Chàng ăn một miếng, nuốt đến đâu thấy mát rượi đến đó, thật là khoái khẩu, biết là một loại trái cây quý hóa chàng chỉ đủ sức vác được một cành về khoe với vợ, nàng Ba ăn thử thấy mát ruột giải nồng, hai vợ chồng lấy làm trân quý, vội ra rừng chuyển về những trái cây lớn, đẹp xếp đầy một nhà, bửa lấy hột phơi khô làm giống. Hai vợ chồng bàn nên đặt tên cho trái cây quý này, nhận thấy những hạt trong trái cây rất đen như răng cô gái Việt nên đặt tên là Việt Nga Qua tức là quả dưa hấu mà chúng ta hằng năm vẫn ăn.

“Khi  nên trời cũng chiều người.” Cứ về chiều, sau bữa ăn, hai vợ chồng rủ nhau ra đi bách bộ nơi bãi bể. Nhìn trông về cố quốc, và đón các thuyền buôn may ra được gặp người trên đất liền; chẳng bao lâu đã có thuyền buôn đi qua lại, nhiều thuyền bị sóng gió tạt vào bãi bể Qua Châu, liền được vợ chồng An Tiêm đón rước về nhà, họ trao đổi vật dụng lẫn cho nhau, trong các đồ trao đổi, thương nhân thích thú nhất món hàng Việt Nga Qua; ban đầu An Tiêm đem tặng cho mỗi chuyến ít trái, sau các thương nhân muốn mua nhiều đưa về đất liền, An Tiêm và nàng Ba nhận thấy đó là mối lợi nên ra sức khuếch truong sản xuất.

Một thương nhân đã dâng lên vua Hùng Vương một trái Việt Nga Qua, thấy trái cây lạ ngon, ngọt, vua liền hỏi xuất xứ và thương nhân tâu hết sự thật về trái dưa quý và tâu thêm là vợ chồng An Tiêm đang bị lưu đầy ở hoang đảo tiến dâng lên vua làm đồ lễ tỏ lòng hiếu kính. Nhà vua cảm động sai thị thần thẩm phúc lại bản án mới biết An Tiêm bị hàm oan, vua ra  lệnh đưa thuyền rồng đón vợ chồng An Tiêm về triều phục chức.

Cách bãi Qua Châu, xa xa là núi “con trâu” mà dân gian thường hát “Con trâu mà đứng giữa đồng, mẹ con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi”, nhiều người nói câu sấm này là của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và đã ứng nghiệm vì núi con trâu hiện nay đứng giữa cánh đồng bát ngát và vua Thành Thái và con là Duy  Tân bị thực dân Pháp đầy ra ngoại quốc. Nguyên cho tới đời Nguyễn Bỉnh Khiêm núi con Trâu vẫn còn nằm giữa biển khơi và dần dần phù sa của sông Hồng Hà đổ ra biển đông lắng xuống, bồi thành ruộng đất phì nhiêu; theo một bản khảo sát thời Pháp thuộc về đất phù sa của sông Hồng Hà mỗi năm đổ ra biển mở rộng thêm rất nhiều ruộng đất.

Cũng về bên tay phải của con đường tỉnh lộ Ninh Bình, Phát Diệm – Thanh Hóa vào sâu trong dẫy núi Hoàng Sơn là cửa Thần Phù, mà xưa dân gian thường hát “Lênh đênh qua cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”. Nguyên cửa Thần Phú trước đây là cửa biển sóng to gió lớn vì cửa sông Càn đổ ra biển xoáy nước rất mạnh và có nhiều hòn núi trông như vịnh Hạ Long nhỏ; thời Tàu đô hộ Việt Nam chúng có khắc trên tảng núi cao một chữ Thần Cao hơn 10 thước tay. Với ỷ nhờ Thần che chở trong khi vượt qua cửa biển này. Nay cũng do phù sa sông Hồng Hà bồi ra biển cửa Thần Phú nay cách xa biển Đông hơn 20 cây số.

Đi thêm một quãng đường khá xa nữa cũng trên dẫy núi Trường Sơn chúng tôi tới hang Tử Thức. Sau khi lặn lội đạp xe mồ hôi nhễ nhãi, chúng tôi vào trong cửa động ngồi nghỉ trên các phiến đá mát lạnh để chờ đốt đuốc vào xem trong hang, cảnh thật tuyệt vời qua ánh sáng lập lòe của ngọn đuốc, khi như xuống âm ty, lúc lên trời với muôn ngàn ánh chiếu lung linh của thạch nhũ rủ từ đỉnh hang xuống cũng như thạch nhũ mọc từ âm ty lên, ra tới ngoài cửa hang chúng tôi được nghe sự tích về hang Từ Thức này. Câu truyện như sau:

Một thanh niên đẹp trai, học thức, thích ngao du sơn thủy, một hôm lạc tới một vùng sơn thanh thủy tú, thông reo chim hót, hoa thơm cỏ lạ, một bầy tiên nữ múa khúc nghê thường, chàng mê mải đứng nhìn như ngây dại, không biết bầy tiên nữ đã giải tán từ lúc nào, từ đâu một âm thanh ngọt ngào như rót vào tai chàng, hỏi chàng đi đâu? Hay chờ đợi ai? Chàng quay lại thấy một tiên nữ mỉm cười nhìn chàng “Từ Thức, chàng là Từ Thức.” Như đã tiền định, cả hai tay nắm tay, mắt nhìn mắt, một tiên một trần, kết giải đồng tâm. Trên tiên giới không có ngày đêm, không phân năm tháng, chỉ có mùa xuân dạo chơi, múa hát, nhưng lòng trần chưa hết. Từ Thức nhớ nhà tỏ ý muốn về, cầm giữ chẳng đặng, tiên nữ đành tiễn chàng xuống núi, chỉ đường cho chàng trở về với câu vĩnh biệt.

Đi chẳng bao lâu, chàng theo lối cũ trở về nhà, thì một cảnh tượng khác lạ, còn đâu là nhà, làng xưa lối cũ; chàng đứng tần ngần, phân vân muốn tìm hỏi, thì kìa một cụ già râu tóc bạc phơ, chống gậy trúc từ trong xóm đi ra, chàng vái dài hỏi thăm tên làng tên xóm, tên cha mẹ chàng thì được cụ già trả lời: “Tổ tiên tôi nói cách đây một trăm năm trong họ có người tên Từ Thức vì thích ngao du hơn thủy có đi không có về.” Và chàng đã hiểu ngay một ngày trên tiên cảnh bằng một năm dưới trần, và người đời đã trách chàng Từ Thức vụng suy đã lên cõi thọ về chi cõi trần.

« Lùi
Tiến »