Trên các đợt sóng lớn của đại dương, con tàu Đức “Blucher” chạy từ Hamburg đến New York chòng chành chao đảo. Bốn ngày lênh đênh trên đường, nó đã vượt qua bờ biển xanh của Ireland được hai ngày và bây giờ đang ra tới đại dương. Từ trên boong tàu, phóng tầm mắt ra xa chỉ nhìn thấy dải đồng bằng màu xanh xám, được cày thành từng luống, chòng chành nặng nhọc, đôi chỗ gợn sóng, ở phía xa càng lúc càng thẫm lại và hòa lẫn vào với đường chân trời phủ đầy mây trắng.
Bóng của các đám mây đôi chỗ hắt cả xuống nước và trên nền ngọc trai đó, thân tàu màu đen nổi lên rõ rệt. Con tàu này đang hướng mũi về phía tây, lúc thì bơi trên sóng một cách cần cù, lúc lại lao xuống thấp, giống như chìm nghỉm; đôi lúc biến mất khỏi tầm mắt, đôi lúc lại phơi mình trên đỉnh các con sóng lớn đến mức nhìn rõ cả đáy tàu và giờ đây nó vẫn đang tiến về phía trước. Sóng đánh vào nó, nó bơi vào sóng - và nó dùng ngực mình tách sóng ra. Bám theo sau nó là một vệt nước nổi bọt trắng phau giống như con rắn khổng lồ; vài con hải âu bay sau bánh lái, lượn đi lượn lại trên không trung và vừa lượn vừa kêu chíp chíp giống như chim te te của Ba Lan.
Gió khá lớn; tàu chạy một nửa bằng hơi nước, còn lại dùng buồm. Thời tiết càng lúc càng tốt hơn. Đôi chỗ giữa các đám mây màu thẫm nhìn thấy cả những khoảng trời xanh thẳm đang thay hình đổi dạng liên tục. Kể từ khi tàu “Blucher” rời khỏi cảng Hamburg, trời lúc nào cũng đầy gió nhưng không có bão. Gió thổi về hướng tây, nhưng đôi lúc cũng ngưng thổi: lúc bấy giờ những cánh buồm hạ xuống, để sau đó lại căng ra như ngực thiên nga. Các thủy thủ mặc áo len bó sát người, kéo dây buồm phía dưới của cột buồm lớn và vừa kéo vừa hô đều đều: “Ho-ho-o!”, họ cúi còng xuống và đứng thẳng người lên theo nhịp hát, còn tiếng hò của họ trộn lẫn cùng tiếng còi của viên sĩ quan hàng hải và nhịp thở nóng hổi của ống khói đang phun ra những làn khói đứt quãng hoặc những vòng tròn đen ngòm.
Lợi dụng thời tiết tốt, hành khách kéo đầy lên boong tàu. Ở phía đuôi tàu nhìn rõ cả những chiếc áo bành tô đen và mũ đội đầu của những hành khách hạng nhất; ở phía mũi tàu nổi lên đám dân đen di cư nhiều màu sắc đi tàu tầng dưới. Một số người trong họ ngồi trên những chiếc ghế dài, mồm ngậm tẩu thuốc ngắn, một số ngả lưng xuống nằm, một số nữa thì đứng tựa vào mạn tàu nhìn xuống mặt nước ở phía dưới.
Có cả vài người đàn bà bế trẻ con trên tay với những đồ dùng làm bằng sắt tây giắt ở thắt lưng; vài người trẻ tuổi đi lại dọc boong từ mũi đến cầu tàu, vừa đi vừa cố gắng giữ thăng bằng và thỉnh thoảng lại chao đảo. Những người ấy hát: Wo ist das deutsche Vaterland? * và có thể họ nghĩ rằng cái nước Đức đó họ sẽ chẳng bao giờ còn được nhìn thấy nữa, mặc dù vậy thái độ vui vẻ không biến mất khỏi khuôn mặt họ. Lọt thỏm giữa mọi người có hai kẻ buồn thảm nhất và giống như tách hẳn với toàn thể: đó là ông già và cô gái trẻ. Hai người đó không hiểu tiếng Đức và là những kẻ thực sự đơn độc giữa đám người xa lạ. Họ là ai - bất kì người nào trong chúng ta cũng dễ dàng đoán biết ngay từ cái nhìn ban đầu: đó là những người nông dân Ba Lan.
Wo ist das deutsche Vaterland (nguyên văn tiếng Đức): Đâu rồi nước Đức? - Lời bài hát dân ca Đức (ND).
Người đàn ông tên là Wawrzon Toporek, còn cô gái, Marysia, là con gái lão. Họ đi Mĩ và vừa rồi lần đầu tiên mạnh dạn bước ra khoang tàu. Trên khuôn mặt hốc hác tiều tụy vì bệnh tật của họ hiện rõ nỗi sợ hãi, đồng thời cả sự ngạc nhiên nữa. Bằng đôi mắt hốt hoảng họ nhìn những hành khách cùng đi, nhìn các thủy thủ, nhìn con tàu, nhìn ống khói đang tỏa khói một cách dữ dội và nhìn những đợt sóng dữ tợn phả bọt lên đến tận mạn tàu. Họ không nói gì với nhau, vì họ không dám nói. Lão Wawrzon nắm một tay vào lan can, tay kia giữ chiếc mũ lưỡi trai để gió không đánh bật của lão đi, còn Marysia thì giữ chặt ông bố và cứ mỗi lần con tàu lắc lư mạnh bao nhiêu thì cô lại bám chặt bấy nhiêu vào người cha, vừa bám vừa hét lên khe khẽ vì sợ hãi. Sau một khoảng thời gian, ông già phá vỡ sự im lặng:
- Marysia!
- Gì thế ạ?
- Con có nhìn thấy không?
- Nhìn thấy.
- Có ngạc nhiên không?
- Ngạc nhiên.
Nhưng cô còn thấy khiếp sợ hơn là ngạc nhiên; ông già Toporek cũng như vậy. Cũng may cho họ là sóng đã bớt mạnh, gió cũng ngừng lại và xuyên qua những đám mây mặt trời cũng ló ra. Khi họ nhìn thấy “vầng mặt trời yêu thương” thì họ cảm thấy nhẹ nhõm hẳn ra, vì họ nghĩ rằng “nó cũng giống hệt như mặt trời ở Lipince” quê họ. Có lẽ mọi thứ đối với họ đều lạ lẫm và không quen thuộc, chỉ có vầng mặt trời này, ánh sáng rạng rỡ này đối với họ mới là người bạn thân và người đỡ đầu quen biết xưa nay.
Mặt biển càng lúc càng phẳng lặng; sau một khoảng thời gian những cánh buồm cũng hạ xuống, từ chiếc cầu tàu trên cao vẳng đưa lại tiếng còi của thuyền trưởng và thế là đám thủy thủ lao đến ghim buồm lại. Hình ảnh đám người giống như đang treo lơ lửng trên không trung bên vực sâu hun hút lại khiến cho Toporek và Marysia ngạc nhiên lần nữa.
- Bọn con trai của chúng ta không làm nổi như vậy. - Ông già nói.
- Khi bọn người Đức leo được lên thì cả Jasko cũng sẽ leo được lên như vậy. - Marysia đáp lại.
- Jasko nào?... Sobkow ấy à?
- Sobkow là cái gì? Con đang nói về Smolak, người coi ngựa ấy.
- Nó cũng can đảm đấy, nhưng con phải loại nó ra khỏi đầu óc đi. Nó chẳng hợp với con, con cũng không hợp với nó. Con đi đây là để trở thành bà chủ, còn nó, nó sẽ chỉ là gã coi ngựa suốt đời thôi.
- Anh ấy cũng có đàn ngựa...
- Có, chỉ là ở Lipince thôi.
Marysia không nói gì nữa, cô chỉ nghĩ thầm rằng trời cho ai cái gì thì người đó được hưởng và thở dài đầy nhung nhớ, trong khi đó thì những cánh buồm đã được ghim lại, còn chân vịt bắt đầu khuấy nước mạnh đến mức cả con tàu rung lên do chính những chuyển động của nó. Rồi tình trạng chòng chành gần như ngừng hẳn lại. Ở phía xa mặt nước thậm chí đã gần như phẳng lặng và xanh thẫm. Ngày càng có nhiều nhân vật mới từ tầng dưới leo lên boong tàu: những người công nhân, nông dân Đức, những kẻ ăn không ngồi rồi, cư dân đường phố từ các thành phố ven biển khác nhau, đi đến nước Mĩ để tìm kiếm vận may chứ không phải tìm công ăn việc làm; đám đông chen lấn ở cầu tàu, vì vậy lão Wawrzon và Marysia, để khỏi làm vướng mắt người nào, liền ngồi lại chỗ thắt nút vòng dây ở góc sát ngay mũi tàu.
- Bố ơi, bao lâu nữa mình đi hết biển? - Marysia hỏi.
- Làm sao tao biết được. Hỏi ai cũng chẳng ai trả lời mình bằng tiếng của người Thiên Chúa giáo cả.
- Thế thì ở Mĩ chúng ta sẽ nói chuyện như thế nào?
- Người ta chẳng từng nói là ở đó người mình đông như kiến đó sao?
- Bố ơi!
- Cái gì?
- Ngạc nhiên thì có ngạc nhiên, nhưng ở Lipince vẫn tốt hơn.
- Mày đừng có nguyền rủa vô ích như vậy.
Sau giây lát, lão Wawrzon cũng nói thêm, giống như tự nói với mình:
- Đó là ý Chúa!...
Mắt cô gái ngấn đầy nước mắt, còn sau đó cả hai bắt đầu suy nghĩ về Lipince. Lão Wawrzon Toporek nghĩ tại sao mình lại đi Mĩ, và chuyện gì đã xảy ra khiến mình ra đi. Cái gì đã xảy ra? Nửa năm trước, vào mùa hè, người ta đã bắt con bò của lão ở cánh đồng cỏ ba chẽ. Chủ nhân bắt bò đòi ba mark* đền bù thiệt hại. Lão Wawrzon không đồng ý trả. Họ ra tòa. Vụ kiện kéo dài. Người chủ đòi không chỉ tiền chuộc con bò, mà là tiền chăm nuôi nó, mà tiền chăm nuôi nó mỗi ngày một tăng. Lão Wawrzon ngoan cố, vì lão tiếc tiền. Để theo vụ kiện, lão đã chi ra khá nhiều tiền, vụ kiện cứ kéo dài mãi. Chi phí ngày một tăng. Cuối cùng, lão Wawrzon thua kiện. Vì một con bò, chỉ có Chúa mới biết tốn kém bao nhiêu; cuối cùng thì lão không có gì để thanh toán, người ta giữ ngựa của lão, và vì sự ngoan cố kháng cự, người ta ra lệnh bắt giam lão. Lão Toporek oằn người như con rắn, đúng vào lúc đó là vụ thu hoạch lúa mì, do vậy cả sức lao động, cả sức kéo và xe cộ đều cần dùng cho công việc. Lão lần lữa kéo dài, sau đó lại là những ngày mưa; lúa mì của lão nằm từng đống ngoài đồng, lão nghĩ rằng chỉ vì một chút thiệt hại ở cánh đồng cỏ ba chẽ mà cả gia sản còm cõi của lão bị hoài phí, rằng lão đã mất chừng ấy tiền của, một phần gia súc, vụ thu hoạch của cả một năm và rằng đến mùa xuân, có lẽ hai bố con đành gặm đất mà sống hoặc phải đi ăn mày ăn xin.
Mark: một đơn vị tiền tệ của Ba Lan trước đây (BT).
Còn một điều nữa là trước đây, lão sống trong hoàn cảnh sung túc và lão ăn nên làm ra, vì thế lúc đó, lão cảm thấy vô cùng tuyệt vọng và bắt đầu uống rượu. Trong quán ăn, lão làm quen với một gã người Đức, kẻ đi khắp các làng xã như để đặt món hàng sợi lanh, còn trong thực tế là để gạ gẫm mọi người vượt biên ra nước ngoài. Gã người Đức kể cho lão nghe những điều kì diệu và khó tin về nước Mĩ. Hắn hứa cấp số ruộng đất lớn đến mức ở cả Lipince không có - và cùng với nó là rừng, và cả đồng cỏ, mắt người nông dân chỉ còn biết trợn tròn. Lão tin và không tin, nhưng gã Do Thái vào hùa với tay người Đức và nói rằng ở đó chính phủ cấp đất cho từng người, “ai muốn bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu”. Điều đó gã Do Thái biết được từ người họ hàng của hắn. Chính gã người Đức khoe tiền, số tiền lớn đến mức không chỉ mắt người nông dân sáng ra mà mắt các điền chủ cũng chưa từng nhìn thấy bao giờ trong đời. Người nông dân bị cám dỗ đến mức chấp nhận lời gạ gẫm. Còn ở lại đây làm gì nữa? Vì một chút thiệt hại mà lão mất số tiền có thể mướn một người làm công suốt đời. Liệu lão phải chịu mất mát mãi ư? Liệu lão có phải cầm cây gậy ăn xin đuổi chó và hát dưới nhà thờ “Hỡi Đức Mẹ đồng trinh, hỡi thần thánh Nhà trời”? - Từ đó sẽ chẳng có cái gì cả, lão nghĩ, lão giơ tay ra bắt tay gã người Đức, nguyện đi theo thánh Michas, mang theo con gái và thế là bây giờ bơi sang nước Mĩ.
Nhưng chuyến đi đối với lão không diễn ra tốt đẹp như mong đợi. Ở Hamburg, người ta đã lấy đi của họ rất nhiều tiền; trên tàu họ phải ở trong một căn phòng lớn chung đụng nhau tại tầng dưới. Sự chòng chành của con tàu và sự vô tận của biển khơi khiến họ khiếp đảm. Không ai có thể hiểu lão và lão cũng không hiểu ai. Người ta quăng quật hai người họ như quăng quật một món đồ vật; người ta xô đẩy lão như hất hòn đá bên đường. Những người Đức đồng hành đã chế nhạo lão và Marysia. Vào bữa trưa, khi mọi người cùng với bát đĩa trên tay chen nhau đến chỗ đầu bếp chia thức ăn, người ta đẩy họ ra phía cuối, khiến họ nhiều lần đành chịu đói. Trên tàu này, lão cảm thấy tồi tệ, đơn độc, xa lạ. Ngoài sự che chở của Chúa, lão không cảm thấy sự che chở nào khác đối với mình. Bên cạnh cô con gái, lão làm ra vẻ hài lòng, mũ lão đội lệch, lão lệnh cho Marysia phải ngạc nhiên và bản thân mình cũng ngạc nhiên trước mọi thứ, song không còn tin vào điều gì nữa cả. Đôi lúc lão cảm thấy lo sợ, rằng có thể bọn “tà giáo” đó, cách mà lão vẫn gọi những kẻ đồng hành, sẽ ném hai người họ xuống nước, có thể người ta bắt lão phải thay đổi tín ngưỡng hoặc phải kí vào một tờ giấy, thí dụ như giấy bán linh hồn cho quỷ chẳng hạn!
Chính con tàu, thứ đang ngày đêm tiến về phía trước trên đại dương bao la, thứ đang chòng chành, đang gầm thét, đang làm nước nổi bọt, đang hít thở như một con rồng, còn đêm đến kéo theo sau mình bím tóc dài làm từ những tia lửa nhỏ, lão cảm thấy đó là một sức mạnh nào đó đáng nghi và vô cùng bẩn thỉu. Nỗi sợ hãi thời trẻ con, mặc dù lão không chịu thừa nhận, đang xiết chặt trái tim lão; bởi đó cũng là một người nông dân Ba Lan, khi bị tách ra khỏi quê hương tổ ấm của mình, thật sự chỉ là một đứa trẻ bất lực và thực sự chỉ trông chờ vào ý nguyện của Chúa. Bên cạnh đó, tất cả những gì lão nhìn thấy, những gì bao bọc quanh lão, không thể chứa đựng hết trong đầu óc lão; vì vậy chẳng có gì đáng ngạc nhiên, khi lão ngồi đây, gần chỗ thắt nút vòng dây, cái đầu cúi xuống vì tiếng ngân vang của sự bấp bênh nặng nề và nỗi buồn rầu sâu lắng. Gió biển thổi ù ù bên tai lão và như nhắc lão từ “Lipince! Lipince!”, đôi lúc nó cũng rung lên như tiếng sáo ở Lipince; mặt trời nói: “Ông có khỏe không, ông Wawrzon ơi? Ông đang ở Lipince đấy à?”, nhưng chân vịt khoắng nước ngày càng dữ dội và ống khói cũng thở gấp gáp hơn, mạnh hơn, như thể hai con ác quỷ đang ra sức kéo lão ngày càng rời xa hơn Lipince.
Trong khi đó, bơi theo Marysia là những ý nghĩ và hồi ức khác, bơi theo sau cô như con đường làng đầy cát bụi hoặc như những chú chim hải âu bay sau con tàu. Thì đây những hồi ức đó, hôm đó là buổi tối mùa thu, cách ngày khởi hành không lâu, cô đi xuống giếng ở Lipince để lấy nước. Những ngôi sao đầu tiên đã lấp lánh trên bầu trời, cô kéo cần giếng và vừa kéo vừa hát: “Yasio cho ngựa uống nước - Kasia đi lấy nước” và cô cảm thấy nhớ nhung điều gì đó, giống như con chim én trước khi bay xa cất tiếng hót thảm thương... Sau đó từ sau rừng cây, từ trong bóng tối vang lên tiếng sáo kéo dài... Đó là Jasko Smolak, người coi ngựa, ra hiệu rằng đã nhìn thấy cây cần giếng đang bị kéo xuống và chốc nữa thôi từ trong bụi rậm anh ta sẽ đi đến. Mọi thứ hình như cũng sôi động hẳn lên, anh ta đến, nhảy từ trên yên ngựa xuống, lắc lư mái tóc dày như sợi gai, và giọng anh ấy nói với cô thì cô nhớ lại giống hệt như tiếng đàn. Cô nhắm nghiền mắt lại và có cảm giác rằng Smolak lại đang thì thầm với cô bằng giọng run rẩy:
- Khi bố em vẫn cứ ngoan cố, thì anh sẽ trả lại tiền cọc của chủ lâu đài, bán nhà, bán đàn gia súc và sẽ ra đi. Marysia của anh ơi, - anh nói - em đi đến chỗ nào thì anh sẽ biến thành con chim hạc bay trên không trung ở đó, sẽ thành con vịt bơi dưới nước, anh sẽ lăn như chiếc vòng vàng dọc đường làng, anh sẽ tìm em bằng được, người duy nhất của anh! Sao số phận anh lại phải sống thiếu em được? Em đến chỗ nào thì anh cũng sẽ đến đó; cái gì xảy ra với em thì cũng sẽ xảy ra với anh; chúng ta có cùng một cuộc sống và cùng một cái chết và anh thề với em trên miệng giếng này, nếu anh rời bỏ em thì Chúa sẽ từ bỏ anh. Marysia duy nhất của anh!
Vừa nhớ lại những lời nói đó, Marysia vừa như nhìn thấy cả giếng nước nọ, cả vầng trăng to đùng, đỏ tía nằm trên cánh rừng và cả Jasko như đang hiện ra trước mắt. Trong ý nghĩ đó, cô cũng cảm thấy nhẹ nhõm phần nào cùng một niềm vui lớn. Jasko là một thanh niên hăng hái, vì vậy cô tin rằng điều mà anh ta nói thì anh ấy sẽ thực hiện. Ôi, cô chỉ mong muốn rằng ngay giờ đây anh ở cạnh cô và cùng với cô nghe tiếng sóng biển. Được cùng ở với anh thì vui vẻ và sống động hơn nhiều, vì anh chẳng sợ ai và ở đâu cũng biết cách tự giải quyết vấn đề. Bây giờ anh đang làm gì ở Lipince, khi những bông tuyết đầu tiên đã rơi? Liệu anh có cầm rìu vào rừng, hay anh lo cho lũ ngựa, hoặc có thể người trong dinh đã phái anh đi đâu đó bằng xe trượt tuyết, hay đang khoét lỗ thủng trên băng ở hồ? Bây giờ anh đang ở đâu, hỡi người thân mến? Ở đây, cô gái nhìn rõ ràng Lipince như nó đang hiện ra trước mắt: tuyết kêu cót két trên đường, vầng đông đang ửng hồng giữa những cành cây khẳng khiu đen ngòm không lá, đàn quạ khoang kéo dài kêu quang quác từ cánh rừng đến tận làng, những đụn khói phát ra từ ống khói bay lên cao, cây đòn ở giếng nước đóng băng im lìm, còn ở phía xa là rừng cây, bắt đầu từ vầng dương đỏ thắm đến vùng đất ngập tuyết đằng kia.
Ôi! Bây giờ thì cô đang ở đâu, ý muốn của bố cô đã dẫn dắt cô đến đâu? Ở phía xa kia, khi hướng tầm mắt ra nhìn chỉ thấy nước là nước, chỉ thấy những đường nhăn nheo trên mặt đất xanh rờn và những luống cày gợn sóng, còn trên những cánh đồng nước vô tận nọ con tàu này như một cánh chim lạc lõng; bầu trời phía trên kia, cảnh trống vắng phía dưới này, tiếng ồn ào cực lớn giống như tiếng khóc của sóng, và cả tiếng hú gọi của gió, còn ở đằng kia, phía trước mũi tàu, có lẽ là mảnh đất thứ chín, có lẽ là tận cùng của thế giới.
Ôi anh Jasko khốn khó! Anh có theo kịp cô không, anh có là cánh chim đại bàng bay trên không trung, có là cá bơi dưới nước, ở Lipince anh có nhớ đến cô không?
Mặt trời từ từ ngả về phương tây và lặn xuống đại dương. Trên những lớp sóng nhăn nheo hiện ra một con đường mặt trời rộng lớn, kéo theo vệt vẩy vàng, thay đổi màu sắc, ánh lên, tỏa sáng, rực cháy và tắt ngấm ở đâu đó phía trời xa. Con tàu bơi vào dải băng sáng đó, bây giờ hình như đang đuổi theo vầng mặt trời trốn chạy. Làn khói bật ra từ ống khói trở nên đỏ lựng, những cánh buồm và những sợi dây ẩm ướt rực hồng, thủy thủ bắt đầu ca hát, trong khi đó thì quả cầu lửa mỗi lúc một lớn lên và mỗi lúc một rơi sâu xuống vực thẳm. Không lâu sau, chỉ còn nhìn thấy một nửa vầng mặt trời phía bên trên sóng, sau đó chỉ nhìn thấy những tia sáng, còn sau nữa trên cả phía trời tây chỉ còn lại một vầng ánh dương lớn và không còn nhận biết trong thứ ánh sáng đó, đến đâu thì kết thúc những lớp sóng ánh sáng, và bắt đầu bầu trời, không khí và nước, kể cả những thứ đã thấm ánh sáng, giờ đang tắt dần; đại dương chỉ gầm gừ bằng một thứ tiếng êm đềm, giống như đang thầm thì cầu kinh buổi tối.
Trong những giây phút ấy, tâm hồn như được chắp thêm đôi cánh và cái gì phải nhớ sẽ nhớ, cái gì cần yêu sẽ yêu say đắm, cái gì phải thương sẽ bay về với cái đó. Lão Wawrzon và Marysia cả hai đều cảm thấy rằng mặc dầu gió đưa họ về nơi ấy giống như đưa những chiếc lá khô, nhưng cái cây quê hương họ không phải là phương trời kia, nơi họ đang đi tới, mà là phương trời mà họ đã rời xa: đó là mảnh đất Ba Lan, mảnh đất sùng đạo, đung đưa cánh đồng, rậm rạp cánh rừng, tràn đầy lau sậy, đầy đồng cỏ với những khóm cúc vàng và nước lóng lánh bạc, đầy những đàn cò, chim én, những cây thánh giá ven đường, những lâu đài màu trắng nằm giữa rặng bồ đề; mảnh đất mà mỗi người khi lật chiếc mũ lưỡi trai xuống chân đều được chào mừng bằng câu: “Vinh danh Chúa!” và đáp lại: “Đời đời kiếp kiếp”, mảnh đất quyền quý, đó là người mẹ ngọt ngào nhất, người mẹ chính trực, người mẹ yêu thương hơn mọi thứ trên thế gian này. Vậy thì tại sao trái tim nông dân của họ trước đây không cảm nhận được, mà bây giờ mới thấy? Lão Wawrzon bỏ mũ xuống, ánh mặt trời chiều chiếu vào mái tóc bạc phơ; lão suy nghĩ, con người khốn khổ đó không biết liệu có nên nói cho Marysia điều mà lão cảm nhận được hay không; cuối cùng lão lên tiếng:
- Marysia ơi, bố thấy hình như có cái gì đó nằm lại đằng kia phía sau biển.
- Số phận nằm lại đó và tình yêu thương nằm lại đó. - Cô gái đáp lại nhỏ nhẹ, vừa nói vừa ngước cặp mắt lên như để cầu kinh...
Trong khi đó, trời đã tối thẫm. Hành khách bắt đầu đi xuống dưới boong tàu. Trên tàu lại diễn ra chuyển động khác thường. Sau buổi hoàng hôn đẹp không phải lúc nào cũng là một đêm tĩnh lặng, tiếng còi của sĩ quan chỉ huy liên tiếp vang lên, còn các thủy thủ thì không ngừng kéo sợi dây. Ánh hồng cuối cùng vừa tắt trên biển, cũng đồng thời ngay lúc đó từ dưới nước, làn sương mù dâng lên; những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời và biến mất. Sương mù dày đặc trước mắt, che lấp cả bầu trời, đường chân trời và cả con tàu. Chỉ còn nhìn thấy ống khói và chiếc cột buồm lớn ở giữa tàu; hình dáng các thủy thủ cũng thấy lờ mờ từ xa giống như những cái bóng. Một tiếng đồng hồ sau tất cả đều chìm ngập trong làn sương trắng, thậm chí cả chiếc đèn pha treo trên đỉnh cột buồm, cả những tia lửa do ống khói phun ra.
Con tàu hoàn toàn không còn lắc lư chòng chành nữa. Ai đó sẽ nói rằng sóng đã yếu đi và tràn ra dưới sức nặng của sương mù.
Màn đêm đã buông xuống hoàn toàn mù mịt và câm lặng. Bỗng nhiên giữa cảnh tĩnh mịch đó từ nơi xa tít tắp trên đường chân trời bỗng vang lên những tiếng rầm rì kì lạ. Nó giống như tiếng thở nặng nề phát ra từ một lồng ngực khổng lồ đang tiến đến gần. Đôi lúc, có cảm giác như ai đó đang lên tiếng gọi từ trong bóng tối, sau đó vang lên cả dàn hợp xướng những giọng nói xa vời, vô cùng ai oán và đang khóc lóc bi thương. Những âm thanh ấy phát ra từ bóng đêm và từ vô cực hướng về phía con tàu.
Những người thủy thủ khi nghe tiếng ồn ào ấy nói rằng đó là do bão đang triệu tập gió từ địa ngục tới.
Những lời cảnh báo đó hiện ra ngày càng rõ rệt. Thuyền trưởng mặc áo choàng bằng cao su có mũ trùm đầu đứng trên cầu tàu cao nhất; viên sĩ quan chiếm vị trí của mình phía trước chiếc địa bàn được chiếu sáng. Trên boong tàu không còn một hành khách nào. Lão Wawrzon và Marysia cũng đã đi xuống phòng chung ở tầng dưới. Quang cảnh trong đó lặng lẽ. Ánh sáng của những ngọn đèn lắp ở mái vòm thấp tỏa ra yếu ớt nhạt nhòa soi vào bên trong và soi vào đám dân di cư đang ngồi trên những chiếc giường kê cạnh tường. Căn phòng lớn tối tăm, đúng như phòng khách hạng tư. Trần của nó gần như nối với thành tàu, những chiếc giường lắp ở đầu mép giữa các lối đi trông giống chiếc hang tối hơn là giường ngủ, còn cả căn phòng tạo cho ta cảm giác đó là một căn hầm lớn. Không khí trong đó pha trộn đầy mùi vải đay khét lẹt, mùi những sợi dây cáp của tàu, mùi dầu máy và ẩm ướt. Làm sao mà so sánh được với những phòng đẹp đẽ hạng nhất! Đi trong những phòng đó dù chỉ hai tuần cũng làm cho phổi bị ảnh hưởng vì không khí độc hại, da mặt bị mốc trắng và thường sẽ dẫn đến bệnh hoại huyết. Lão Wawrzon và cô gái mới đi được bốn ngày, nhưng giá như ai đó so sánh cô Marysia làng Lipince xưa kia, khỏe khoắn, ửng hồng, với cô gái hốc hác vì bệnh tật hiện giờ, thì người đó sẽ không nhận ra cô. Ông già Wawrzon cũng trở nên vàng vọt như sáp nến, những ngày đầu tiên hai người họ hoàn toàn không đi lên boong tàu, họ nghĩ rằng không được phép. Mà thực ra họ cũng chẳng biết cái gì được phép làm, cái gì không. Họ gần như không dám nhúc nhích, hơn nữa họ cũng sợ rời xa đồ đạc của mình. Và giờ đây không chỉ họ ngồi, mà tất cả mọi người đều ngồi cạnh những người thân của mình. Những mối liên kết dân di cư đã gắn cả phòng lại với nhau, điều đó càng làm nôi bật sự hỗn độn và tình cảnh buồn thảm của căn phòng. Chăn đệm, quần áo, lương thực dự trữ, các đồ dùng khác nhau và nồi niêu xoong chảo để lẫn lộn với nhau, vứt thành từng đống lớn nhỏ trên khắp nền khoang. Trên đó, những người di cư ngồi, gần như toàn người Đức cả. Người thì hít thuốc lá, kẻ lại ngậm tẩu. Những làn khói hắt từ trần thấp xuống tạo thành những dải khói dài che lấp cả ánh đèn. Vài đứa trẻ khóc ở góc phòng, song tiếng ồn ào thông thường bỗng ngừng lại, sương mù đan vào lòng mọi người một nỗi buồn, nỗi lo sợ và sự bất an mơ hồ. Những người di cư dày dạn kinh nghiệm biết rằng sắp có bão lớn. Hơn nữa cũng không ai còn không biết rằng nguy hiểm, thậm chí cái chết đang đến gần. Lão Wawrzon và Marysia không thể đoán biết được bất cứ điều gì, mặc dù có khi ai đó trong giây lát hé mở cửa ra, có thể nghe thấy rất rõ rệt cả những giọng nói báo điềm dữ nọ từ xa, từ vô cực vọng đến.
Hai người họ ngồi phía cuối phòng, ở góc khuất nhất, vì vậy cách mũi tàu không xa. Sự chòng chành ở đó cảm nhận rất rõ, vì vậy những người bạn đường đã xô đẩy họ đến đó. Ông già đang nhai bánh mì mang theo từ Lipince, còn cô gái cảm thấy buồn vì không biết làm gì liền tết tóc để chuẩn bị đi ngủ.
Nhưng dần dần tất cả đều im lặng, chỉ còn tiếng trẻ khóc đứt quãng, điều đó khiến cô ngạc nhiên.
- Tại sao bọn người Đức hôm nay ngồi yên lặng như vậy nhỉ? - Cô lên tiếng hỏi.
- Làm sao tao biết được! - Lão Wawrzon trả lời như thường lệ - Chắc là ngày lễ của họ hoặc ngày gì đó...
Bỗng dưng con tàu rung động mạnh, giống hệt như giật nảy mình trước một cái gì đáng sợ. Nồi niêu xoong chảo nằm cạnh nhau kêu lên thảm khốc, ánh đèn nhảy rung lên và phát ra tia sáng mạnh hơn, vài giọng nói sợ hãi lên tiếng hỏi:
- Cái gì thế? Cái gì thế?
Nhưng không có câu trả lời. Lần rung động thứ hai, mạnh hơn lần trước làm con tàu chồm lên; mũi tàu bỗng nhiên nâng cao và cũng bỗng nhiên chìm xuống, đồng thời một làn sóng đánh mạnh vào chiếc cửa sổ tròn ở một bên thành tàu.
- Bão đang đến! - Marysia thì thầm bằng giọng sợ hãi.
Trong khi đó, có cái gì đó nổi lên ầm ầm ở gần con tàu, giống như cánh rừng già bỗng nhiên bị gió lốc nhai nghiến ngấu; một cái gì đó rống lên, giống như cả đàn chó sói cùng gầm rống. Gió đập lần một, rồi lần hai, đánh vào sườn tàu, sau đó xoay con tàu một vòng, nhấc nó lên cao và dìm xuống vực sâu. Các thanh dầm ngang bắt đầu kêu cót két, nồi niêu xoong chảo, tay nải đồ đạc, gói bọc và dụng cụ bay tứ tung trên nền, hất từ góc nọ sang góc kia. Vài người ngã xuống, lông chim trong các đệm gối bay khắp không trung, còn thủy tinh trong những chiếc đèn kêu lên rèn rẹt.
Nổi lên tiếng ồn ào, tiếng động ầm ầm, tiếng nước tràn qua khoang tàu, tiếng giằng xé của con tàu, tiếng thét của phụ nữ và tiếng khóc của trẻ con, tiếng đuổi theo các đồ vật, còn giữa những tiếng động hỗn độn và ồn ào ấy chỉ nghe thấy tiếng hú kinh hồn của gió và thỉnh thoảng tiếng bước chân chạy ầm ầm trên boong tàu của các thủy thủ.
- Ôi, Thánh đồng trinh Czestochowa! - Marysia thầm thì kêu.
Mũi tàu, nơi hai người đang ngồi bay lên cao, sau đó lại hạ xuống như một người điên rồ. Mặc dù đã nắm chắc vào thành giường, nhưng họ bị đánh bật đi đến mức nhiều lúc đập người vào tường. Tiếng gầm của sóng tăng lên, tiếng cót két của trần cũng trở nên kinh hoàng đến mức có cảm giác rằng chỉ chốc nữa thôi cả những thanh dầm và ván gỗ cũng sẽ vỡ toác ra kêu răng rắc.
- Hãy giữ chắc vào, Marysia ơi! - Lão Wawrzon hét to để át tiếng gầm thét của bão, nhưng ngay sau đó nôi lo sợ đã bóp nghẹt cả họng ông già và những người khác nữa.
Trẻ con không dám khóc, phụ nữ không gào; những lồng ngực chỉ còn biết hít thở vội vã, còn các bàn tay thì giữ chặt vào những đồ vật bất động khác nhau.
Sự điên cuồng của cơn bão tăng lên liên tục. Thiên tai hoành hành, sương mù trộn lẫn vào bóng đêm, mây pha trộn với nước, gió lốc với bọt; những đợt sóng đánh vào tàu giống như đạn đại bác và quăng quật nó sang phải, sang trái và ném nó từ trên mây xuống đến tận đáy biển. Đôi lúc những cái bờm đầy bọt của các làn sóng lớn trườn qua cả thân tàu; một khối lượng nước khổng lồ sôi lên hỗn độn kinh hoàng.
Những ngọn đèn dầu hỏa bắt đầu tắt trong phòng. Mỗi lúc một tối hơn, lão Wawrzon và Marysia có cảm giác rằng thời khắc tối tăm chết chóc đã điểm.
- Marysia ơi! - Người đàn ông bắt đầu bằng giọng nói ngắt quãng, do thiếu không khí để thở - Marysia ơi, hãy rời xa ta ra, vì ta đã làm con gục ngã. Giờ khắc cuối cùng của chúng ta đã điểm. Chúng ta sẽ không được nhìn thế giới bằng đôi mắt tội lỗi của mình nữa. Chúng ta không thể xưng tội, cũng không thể phỉ báng, không thể nằm xuống đất, từ dưới nước cũng không thể đi kiện ai, thật khốn khổ.
Còn khi lão nói như vậy thì Marysia hiểu rằng đã không thể cứu vãn được nữa rồi. Nhiều ý nghĩ khác nhau bay qua đâu óc cô, còn trong lòng thì có một cái gì đó đang gào thét:
- Jasko ơi, Jasko yêu quý ơi, ở Lipince anh có nghe thấy em không?
Và nỗi tiếc nuối dâng lên bóp nghẹt tim cô đến mức cô bắt đầu khóc nức nở rất to. Tiếng khóc nức nở vang lên trong căn phòng, nơi tất cả mọi người đều im lặng giống như trong đám tang. Một tiếng hét vang lên từ góc phòng: Still! *, nhưng lập tức khựng lại, giống như hoảng sợ chính tiếng nói của mình. Thủy tinh trên đèn lại rơi xuống đất, tia sáng tắt ngấm. Mọi thứ càng trở nên tối tăm hơn. Mọi người tụ tập lại một góc, để được gần nhau hơn. Mối lo ngại ngự trị khắp nơi, bỗng nhiên từ giữa sự tĩnh lặng vang lên giọng nói của lão Wawrzon:
Still (nguyên văn tiếng Đức): Im lặng (ND).
- Xin Chúa đoái thương.
- Xin Chúa Jesus đoái thương. - Marysia vừa đáp lại vừa nức nở.
- Chúa Jesus xin hãy nghe chúng con!
- Chúa từ trên trời ơi, Chúa ơi, hãy đoái thương chúng con! - Cả hai người đều cầu kinh. Trong căn phòng tối giọng của ông già và tiếng khóc đứt quãng của cô gái đáp lại vang lên một cách trịnh trọng hết sức lạ kì. Một số người di cư để lộ đầu mình ra. Dần dần tiếng khóc của cô gái ngừng lại, những giọng nói trở nên bình thản hơn, trong trẻo hơn. Từ bên ngoài đáp lại họ là tiếng bão gào thét.
Bỗng một tiếng thét vang lên giữa những người đứng gần cửa ra vào. Đợt sóng lớn ập vào cánh cửa và tràn vào căn phòng: nước sủi bọt tràn vào mọi ngóc ngách; phụ nữ bắt đầu kêu thét và giữ chặt lấy giường. Mọi người đều cho rằng đã đến giờ kết thúc.
Sau đó giây lát, viên sĩ quan trực với chiếc đèn pin trong tay bước vào, cả người ông ta ướt đẫm và ửng đỏ. Ông an ủi đám phụ nữ bằng vài lời giải thích rằng nước tràn vào chỉ là tình huống bất ngờ, sau đó bổ sung rằng tàu đang đi trên biển khơi, tình trạng bất an không phải là lớn. Tình trạng như vậy kéo dài một, hai tiếng đồng hồ. Bão gầm rú càng lúc càng dữ tợn. Con tàu kêu lên ken két, ngập mũi xuống, lật sang bên nọ bên kia, nhưng nó không chìm. Mọi người tương đối yên tâm; một số đi ngủ. Lại mấy tiếng đồng hồ nữa trôi qua; ánh sáng mờ nhạt bắt đầu len lỏi qua ô cửa sổ ở tầng trên rọi xuống căn phòng tối tăm. Ngày bắt đầu trên đại dương nhợt nhạt, như vẫn đang còn sợ hãi, buồn rầu, tối tăm; song cũng mang đến một sự động viên và hi vọng. Sau khi lầm bầm những đoạn kinh mà mình thuộc lòng, lão Wawrzon và Marysia bò lên giường mình và thiếp đi mê mệt.
Mãi đến khi nghe tiếng chuông gọi dậy ăn sáng, họ mới tỉnh giấc. Tuy nhiên họ không thể ăn nổi. Đầu óc họ nặng như chì; ông già cảm thấy khó chịu hơn cô gái. Trong đầu óc già nua của lão giờ đây không thể chứa đựng được bất cứ thứ gì. Gã người Đức, kẻ gạ gẫm lão đi Mĩ cũng có nói phải vượt biển, nhưng không bao giờ lão nghĩ rằng phải qua biển nước lớn đến như vậy, rằng phải đi chừng ấy ngày đêm. Lão nghĩ rằng sẽ đi bằng phà, giống như nhiều lần trong đời lão đã từng vượt qua. Giá như biết rằng biển lớn đến chừng ấy thì có lẽ lão đã ở lại Lipince. Ngoài ra còn một ý nghĩ nữa đang ngự trị trong lão một cách bất an: đó là liệu linh hồn lão và con gái lão có bị mất đi hay không, liệu đối với một tín đồ Công giáo ở Lipince có phải là tội lỗi khi làm náo động đến Chúa và đi xuống đáy sâu như vậy, qua đó phải đi đến ngày thứ năm mà chưa đến bờ bên kia, nếu như nói chung là có bờ ở bên kia? Những nỗi hoài nghi của lão và nỗi sợ hãi còn lớn lên hơn nữa trong suốt bảy ngày; cơn bão còn hoành hành điên cuồng thêm bốn mươi tám giờ nữa, sau đó rồi nó cũng chấm dứt. Lão lại cùng với Marysia mạnh dạn đi lên boong tàu. Khi nhìn thấy những đợt sóng lớn đen ngòm vẫn tiếp tục tràn lên, nhìn thấy những núi nước kéo đến đổ ập vào tàu và những vực thẳm sâu không đáy, lão lại nghĩ rằng có lẽ bàn tay Chúa hoặc một sức mạnh nào đó khác thường, chứ không phải sức người đã cứu họ thoát ra khỏi bờ vực thẳm.
Cuối cùng, thời tiết cũng đẹp trở lại. Ngày lại ngày trôi qua mà phía trước mũi tàu vẫn chỉ nhìn thấy vực thẳm và vực thẳm không đáy, đôi lúc có màu xanh lá cây, đôi chỗ màu da trời hòa lẫn với bầu trời. Trên bầu trời ấy đôi khi có những đám mây nhỏ trắng sáng lượn lờ, rồi buổi tối trở nên đỏ ửng nằm phơi mình ở phía tây xa thẳm. Tàu đuổi theo chúng trên mặt nước. Lão Wawrzon thực tình nghĩ rằng có lẽ biển hoàn toàn không bao giờ kết thúc, nhưng lão cũng dũng cảm và quyết định hỏi.
Một lần, lão bỏ chiếc mũ lưỡi trai xuống và sau khi nhún nhường cúi đầu trước chân người thủy thủ đang đi ngang qua và lên tiếng:
- Thưa ngài quyền quý, chúng ta còn đi lâu nữa không ạ?
Thật ngạc nhiên! Thủy thủ nọ không bật cười, mà còn đứng lại và lắng nghe. Trên khuôn mặt đỏ ửng nhăn nheo sóng gió của anh ta có thể nhận thấy anh đang cố nhớ lại và những hồi ức từ xa xôi ấy không thể ngay lập tức tạo thành một ý thức trong đầu... Sau giây lát, anh ta hỏi:
- Cái gì?
- Còn bao lâu nữa chúng ta sẽ đến đất liền, thưa ngài quyền quý?
- Hai ngày! Hai ngày nữa! - Người thủy thủ nhắc lại một cách khó khăn, vừa nói vừa giơ hai ngón tay ra.
- Cảm ơn ông vô cùng.
- Ông từ đâu đến?
- Từ Lipince.
- Lipince là cái gì?
Marysia, kẻ đi đến trong lúc cuộc nói chuyện diễn ra, đỏ ửng cả mặt mày, nhưng sau khi bẽn lẽn mở to đôi mắt ra nhìn người thủy thủ, liền lên tiếng bằng giọng nhỏ nhẹ, giống như các cô gái làng thường nói:
- Chúng tôi ở gần Poznan, thưa ngài...
Người thủy thủ bắt đầu vừa nghĩ ngợi, vừa nhìn lên đầu đinh bằng đồng thau nối giữa mạn tàu; sau đó nhìn lên cô gái, nhìn lên mái tóc sáng như lanh của cô và một cái gì đó, giống như sự mủi lòng hiện lên trên khuôn mặt nứt nẻ của anh ta.
Sau giây lát anh trịnh trọng lên tiếng:
- Tôi đã từng sống ở Gdansk... Tôi hiểu tiếng Ba Lan... Tôi là người Kashuba... người anh em của các bạn, nhưng đó là từ ngày xưa!... Jetzt ich bin Deutsch... *
Jetzt ich bin Deutsch... (nguyên văn tiếng Đức): Bây giờ tôi là người Đức... (ND).
Sau khi nói hết câu, anh ta nhấc đầu dây mà trước đây vẫn nắm trong tay lên, quay người lại và cất tiếng hò theo kiểu thủy thủ: “Ho! Ho! O!”, rồi bắt đầu kéo dây...
Kể từ đó, cứ mỗi lần lão Wawrzon và Marysia có mặt trên boong tàu, nhìn thấy họ, anh đều mỉm cười với Marysia với vẻ thân thiện. Họ cũng tỏ ra vô cùng vui mừng, vì đã có một tâm hồn sống để ý đến họ trên con tàu Đức này. Hơn nữa, con đường cũng không còn dài nữa. Sáng ngày thứ Hai, khi họ lên boong tàu, một cảnh tượng lạ đập vào mắt họ. Họ nhìn thấy từ phía xa một cái gì đó chòng chành trên biển, còn khi con tàu đến gần vật đó, thì họ nhận ra đó là một cái thùng phi lớn màu đỏ mà sóng đập vào êm dịu: ở phía xa lại có một thùng đỏ giống như vậy, rồi cái thứ ba và cái thứ tư nữa. Không khí và nước tương đối mờ mịt, nhưng không quá đáng, thường có màu bạc và êm dịu, nước không sâu lắm, không dào dạt, song khi hướng ánh mắt lên nhìn thì ngày càng thấy nhiều thùng phi dập dờn trên biển. Chim chóc cánh trắng và đen, từng đàn bay đến phía sau tàu và kêu lên inh ỏi. Cảnh tượng trên boong tàu nhộn nhịp hẳn lên. Thủy thủ mặc áo nẹp mới; người thì rửa boong, kẻ thì lau chùi những mối nối bằng đồng thau giữa mạn tàu và cửa sổ, trên cột buồm treo một lá cờ đuôi nheo trắng, còn ở đuôi tàu gắn một lá cờ khác lớn hơn.
Sự sôi động và niềm vui bao trùm lên mọi hành khách. Tất cả những gì còn sống đều chạy lên boong tàu; một số người mang cả lên boong các bao tải và bắt đầu tháo nút buộc ra.
Nhìn thấy tất cả những thứ đó, Marysia kêu lên:
- Chắc chắn chúng ta đã đến đất liền rồi.
Tinh thần phấn khởi rạo rực trong cô và lão Wawrzon. Cứ như thế cho đến lúc ở phương tây hiện ra trước tiên là đảo Sandy Hook và đảo thứ hai, với một tòa nhà cực lớn đứng sừng sững ở ngay chính giữa, còn ở đằng xa, hình như sương mù đang dâng lên dày đặc, cũng có lẽ là mây, hoặc khói gì đó bay thành từng dải trên mặt biển hỗn độn, không rõ ràng, xa tít tắp, đục ngầu, không hình dạng... Nhìn thấy cảnh tượng đó, mọi người đều ồn ào hẳn lên; tất cả đều chỉ trỏ bằng tay, con tàu cũng huýt còi thất thanh như tỏ ra vui mừng.
- Cái gì thế nhỉ? - Lão Wawrzon hỏi.
- New York. - Gã người Kashuba đứng bên cạnh đáp.
Ngay lúc đó, những làn khói bắt đầu như tản mát đi rồi mất hút, và trên nền các đám mây đó, khi con tàu xé làn nước bạc tiến tới, bắt đầu xuất hiện hình dáng những ngôi nhà, mái ngói, ống khói; những tháp nhọn hoắt càng lúc càng hiện lên rõ rệt trên nền xanh thẳm. Bên cạnh tháp là những ống khói cao ngất của các nhà máy, trên ống khói là các đám khói vật vờ như những chùm lông tơ trên cao. Ở dưới phía trước thành phố là một rừng cột buồm, còn trên đỉnh của chúng là hàng ngàn những lá cờ đuôi nheo sặc sỡ, đung đưa theo gió biển như những bông hoa trên đồng cỏ. Con tàu tiến ngày càng gần hơn, một thành phố tuyệt vời như nổi lên từ dưới nước. Một niềm vui lớn xen lẫn cả sự ngạc nhiên trào dâng trong lão Wawrzon; lão bỏ mũ xuống, mở to miệng và chăm chú nhìn, sau đó nói với cô gái:
- Marysia ơi!
- Ôi, Chúa ơi!
- Con có nhìn thấy không?
- Con nhìn thấy.
- Có ngạc nhiên không?
- Có ngạc nhiên.
Nhưng lão Wawrzon không chỉ tỏ ra ngạc nhiên, mà đã líu lưỡi. Khi nhìn thấy những bờ xanh rờn ở cả hai phía của thành phố và những vành thẫm màu của các công viên, lão nói tiếp:
- Ôi! Vinh danh Chúa! Giá như người ta cho chúng ta đất ngay gần thành phố với đồng cỏ này nhỉ, lúc ấy thì đi chợ thật gần. Khi chợ phiên tới: lùa bò, lùa lợn đến và thế là tha hồ bán. Dân chúng ở đây rõ thật là đông đúc. Ở Ba Lan mình là nông dân, còn ở đây sẽ là ông chủ...
Trong giây phút đó, công viên Dân tộc tuyệt vời, dài tít tắp đã hiện ra ngay trước mắt lão. Lão Wawrzon, sau khi nhìn thấy công viên nọ cùng các khóm cây, lại nói:
- Tôi xin cúi đầu trước ngài ủy viên hội đồng đáng kính, xin phép nói thẳng ra rằng, chỉ cần cho tôi hai mẫu rừng kia thôi, còn lại tôi sẽ gom đủ. Khi là của thừa kế thì đó là của thừa kế. Gã người làm cùng với cây cối sẽ được phái vào thành phố buổi sáng. Vinh danh Chúa tối thượng, bởi tôi thấy rằng gã người Đức không lừa dối...
Marysia cũng cảm thấy như có cặp vợ chồng đang mỉm cười và chính bản thân cô không hiểu tại sao lại nảy sinh trong đầu bài hát mà hồi ở Lipince các cô gái chưa chồng trong đám cưới thường hát cho các chàng rể nghe:
Anh đã làm gì, chàng rể?
Anh đã làm gi, chàng rể?
Cả gia tài thừa kế của anh
Cả mũ mãng và y phục kia.
Liệu cô có ý định hát một bài gì đó giống như vậy cho anh chàng Jasko khốn khổ nghe, khi anh đến đây với cô, và lúc đó cô đã là một bà chủ giàu có?
Trong khi đó, một tàu nhỏ ở bộ phận kiểm dịch bơi đến chỗ con tàu. Bốn, năm người leo lên boong. Họ bắt đầu các cuộc đối thoại và hỏi han. Sau đó không lâu, tàu thứ hai từ chính thành phố bơi đến, mang theo những nhân viên khách sạn và người cho thuê nhà, người dẫn đường, người đổi tiền, nhân viên đường sắt: tất cả đều hò hét váng trời, xô đẩy nhau, lượn lờ khắp boong tàu.
Lão Wawrzon và Marysia như lọt vào giữa chiếc cối xay bột và không biết phải làm gì.
Gã người Kashuba khuyên ông già đổi tiền và hứa là không để lão bị lừa, vì vậy lão Wawrzon đã nghe theo. Với những thứ mà lão có, lão nhận được bốn mươi bảy đô la bằng bạc. Trước khi mọi chuyện đó diễn ra, con tàu đã tiến gần tới thành phố đến mức không chỉ nhìn thấy những ngôi nhà, mà còn thấy người đứng trên các đại lộ, sau đó tàu cứ từng giây từng phút vượt qua các tàu lớn nhỏ khác nhau, cuối cùng tiến sát đến cầu tàu và vào bến hẹp của cảng.
Cuộc hành trình kết thúc.
Mọi người bắt đầu đổ ra khỏi tàu giống như đàn ong rời tổ. Trên chiếc cầu gỗ hẹp đặt giữa mạn tàu và bờ, đám đông đầy màu sắc lần lượt vượt qua: trước tiên là hạng nhất, sau đó hạng hai, cuối cùng là những người đi khoang dưới, người bốc vác hàng hóa. Khi lão Wawrzon và Marysia bị đám đông xô đẩy nhích gần tới mạn tàu thì gã người Kashuba cũng xuất hiện. Hắn xiết chặt tay lão Wawrzon và nói:
- Người anh em, chúc may mắn! Và cả cô nữa, cô gái! Chúa phù hộ cho các người.
- Thưa ngài, Chúa sẽ trả ơn ngài! - Cả hai cùng lên tiếng đáp, nhưng không có thời gian tiễn biệt nhau lâu.
Đám đông xô đẩy họ đến chiếc cầu gỗ nghiêng và giây lát sau, họ đã có mặt ở căn nhà hải quan rộng lớn.
Nhân viên hải quan mặc chiếc áo choàng dài màu thẫm với ngôi sao bạc khám xét đồ đạc của họ, sau đó hét to: All right, và chỉ ra phía cửa. Họ bước ra và đi trên đường phố.
- Bố ơi, thế chúng ta làm gì bây giờ? - Marysia lên tiếng.
- Chúng ta phải chờ. Gã người Đức nói là ngay sau đây sẽ có người của chính phủ tới và họ sẽ hỏi về chúng ta.
Vì vậy, họ đứng ở dưới chân tường chờ viên chức của chính phủ tới. Bao bọc xung quanh họ là tiếng ồn ào của thành phố rộng lớn, không quen biết. Chưa bao giờ họ nhìn thấy một cái gì giống như thế. Các đường phố chạy thẳng tắp, rộng thênh thang, còn dọc theo phố xá là những đám người đông như trong phiên chợ; ở giữa là các cỗ xe ngựa có mui, xe buýt, xe vận tải. Quanh họ là thứ tiếng nói kì quặc, lạ lùng, những tiếng hét của các công nhân và người mua bán. Thỉnh thoảng, đám người đen kịt với những cái đầu rất lớn và mái tóc xoăn tít đi ngang qua họ. Nhìn thấy đám người ấy, lão Wawrzon và Marysia làm dấu thánh giá. Thành phố này đối với bố con họ thật kì lạ, thật ồn ào náo nhiệt, đầy tiếng còi huýt của các đầu máy, tiếng ầm ầm của xe cộ và tiếng hò hét của con người. Mọi người ở đó đều chạy rất nhanh, giống như đang đuổi theo ai đó hoặc chạy trốn trước một người nào đó, cồn trong đám người đông như kiến ấy thì dân chúng ra sao, những khuôn mặt họ kì lạ thế nào; người thì đen, kẻ thì màu ô liu, kẻ lại đỏ au. Đúng ở chỗ họ đứng, gần cảng, người đi lại tấp nập hơn cả; từ những chiếc tàu này, người ta khuân đồ đạc xuống và mang chất lên những chiếc tàu khác, xe cộ chốc chốc lại vào ra, xe cút kít kêu ầm ầm trên cầu gỗ, sự hỗn độn và nhốn nháo diễn ra như ở nhà máy cưa.
Cứ như vậy, tiếng đồng hồ đầu tiên và thứ hai trôi qua, hai người họ vẫn đứng dưới tường chờ người của ủy ban đến.
Người nông dân với mái tóc dài trắng phau, trong chiếc mũ lưỡi trai hình chú cừu và cả cô gái làng Lipince, với chiếc áo màu xanh thẫm, chuỗi hạt đeo ở cổ đã trở thành hình ảnh lạ lùng trên bờ biển nước Mĩ, tại thành phố New York.
Nhưng mọi người đi qua họ thậm chí không thèm nhìn. Ở đó người ta không ngạc nhiên trước bất kì khuôn mặt nào cũng như cách ăn mặc nào.
Lại một tiếng đồng hồ nữa trôi qua. Bầu trời phủ đầy mây, bắt đầu có mưa tuyết, từ mặt nước một cơn gió ẩm và lạnh kéo đến...
Họ vẫn đứng chờ người của ủy ban.
Bản tính tự nhiên của người nông dân là kiên nhẫn, song có một cái gì đó nặng nề bắt đầu nảy sinh trong tâm hồn họ.
Ở trên tàu họ đơn độc, giữa những kẻ xa lạ và cảnh hoang vắng của nước, họ cảm thấy tồi tệ và sợ hãi. Họ cầu Chúa, mong Người dẫn dắt họ như những đứa trẻ lạc lõng vượt qua đáy biển sâu thẳm. Họ nghĩ rằng chỉ cần chân họ chạm vào mặt đất thì sự rủi ro của họ sẽ kết thúc. Giờ đây họ đã đến nơi, đang có mặt giữa thành phố khổng lồ, nhưng trong thành phố ấy, giữa cảnh tượng những con người ồn ào, họ bỗng cảm thấy mình trở nên cô đơn hơn và sợ hãi hơn khi còn ở trên tàu.
Người của ủy ban không đến. Họ sẽ bắt đầu thế nào nếu như người kia hoàn toàn không đến, nếu như gã người Đức đánh lừa họ?
Trước ý nghĩ lo sợ về điều đó, trái tim khốn khổ của người nông dân run rẩy. Họ phải làm gì đây? Chỉ còn cách chết.
Trong khi đó, gió lùa qua quần áo họ, mưa làm họ ướt sũng.
- Marysia ơi, con có lạnh không? - Lão Wawrzon hỏi.
- Lạnh lắm, bố ơi. - Cô gái đáp.
Đồng hồ của thành phố lại điểm thêm một tiếng nữa. Trời đã tối đen. Những chuyển động ở cảng đã dừng lại, trên các phố người ta đã thắp đèn đường: một biển ánh sáng rậm rạp sáng bừng lên trong toàn thành. Công nhân từ cảng cất giọng khàn khàn bài Yankee Doodle , và lũ lượt kéo thành từng đám người lớn nhỏ đi về thành phố. Đại lộ dần dần vắng hẳn người qua lại. Ngôi nhà hải quan đóng cửa.
Họ vẫn đứng chờ người của ủy ban.
Cuối cùng, màn đêm đã buông xuống và bến cảng trở nên lặng lẽ. Thỉnh thoảng chỉ có những ống khói đen ngòm của các con tàu kêu phì phì phun ra những luồng ánh sáng của các tia lửa rồi tắt ngấm trong màn đen, hoặc chỉ có tiếng sóng vỗ ì oạp vào đại lộ lát đá. Đôi lúc vang lên tiếng hát của một thủy thủ say đang trên đường trở về tàu, ánh sáng của những ngọn đèn trong sương mù tỏa ra yếu ớt. Họ vẫn chờ đợi.
Cho dù không muốn chờ nữa thì họ biết đi đâu, làm gì, xoay xở ở đâu, ở đâu có thể sưởi ấm những cái đầu mệt mỏi? Cái lạnh càng lúc càng tác động vào họ nặng nề hơn, họ bắt đầu bị cái đói hành hạ. Giá như có một mái nhà che đầu họ, vì họ đã bị ướt đến áo sơ mi. Ôi! Người của ủy ban không đến và sẽ không đến, bởi làm gì có những người của ủy ban như vậy. Gã người Đức là nhân viên của chiến dịch vận chuyển, đếm số người nhận hoa hồng và không biết gì hơn nữa.
Lão Wawrzon cảm thấy chân mình lung lay chới với, rằng có một sức nặng rất khủng khiếp đang đè lão xuống đất, rằng có lẽ cơn giận dữ của Chúa đang treo lơ lửng trên đầu lão.
Lão chịu đựng và chờ đợi, như một người nông dân cam chịu. Giọng nói của cô gái run rẩy vì giá rét đánh thức lão thoát khỏi cơn choáng váng.
- Bố ơi!
- Im đi nào! Không ai có lòng nhân từ đối với chúng ta!
- Chúng ta quay về Lipince đi...
- Mày đi xuống biển mà tự tử...
- Chúa ơi! Chúa ơi! - Marysia thầm thì khe khẽ.
Lão Wawrzon vợi bớt nỗi đau.
- Ôi, đứa con côi cút, ôi con người khốn khổ!... Con chỉ cần Chúa đoái thương đến đứa con của con thôi...
Nhưng cô đã không nghe được tiếng lão. Sau khi tựa đầu vào tường, cô nhắm nghiền mắt lại. Giấc mơ kéo đến, giấc mơ ngắt quãng, nặng nề, nóng bỏng, và trong giấc mơ như có bức tranh lồng trong khung kính hiện ra: làng Lipince và một cái gì đó như bài hát của anh chàng chăn ngựa Jasko:
Nàng đã làm gì, cô dâu?
Nàng đã làm gì, cô dâu?
Cả gia tài thừa kế của cô
Và vòng hoa cửu lí hương.
Ánh bình minh đầu tiên trên cảng New York hắt xuống nước, hắt lên các cột buồm và lên tòa nhà hải quan.
Trong ánh sáng nhợt nhạt đó có thể nhận ra hình dạng hai người đang ngủ dưới chân tường, với khuôn mặt nhợt nhạt tím tái, dính đầy tuyết, bất động giống như đã chết. Nhưng trong quyển sách số phận rủi ro của họ, đó mới chỉ là những trang đầu tiên được lật ra, số phận tiếp theo chúng tôi sẽ kể sau đây.
⚝ II ⚝
Ở NEW YORK
Từ đường phố rộng rãi Broadway ở New York đi về phía cảng theo hướng quảng trường Chattam và vượt qua hơn một chục phố kế tiếp, du khách sẽ bắt gặp phần thành phố càng lúc càng nghèo hơn, càng hoang phế và tối tăm hơn. Các đường phố càng lúc càng trở nên nhỏ hẹp hơn. Các ngôi nhà có lẽ được những người Hà Lan lập trại ấp xây dựng đã ngả màu và xiêu vẹo cùng với thời gian: mái nhà lồi lõm, vôi vữa lở từ trên tường xuống, chính các bức tường cũng ngập sâu xuống đất đến mức các cửa sổ ở tầng dưới chỉ hở ra phần trên so với mặt đường phố. Các đường cong kì lạ ở đây đã thay chỗ cho những đường thẳng được ưa chuộng ở Mĩ; các mái nhà và tường xây không được căng bằng dây tụ tập lại một chỗ và những viên ngói lợp nhà gợn sóng xếp thành tầng chồng chất lên nhau.
Vì phần thành phố này nằm trên bờ biển nên vũng nước ở các ổ gà trên đường phố hầu như không lúc nào cạn, còn các bãi đất nhỏ xây dựng kín xung quanh trông giống như những ao thả cá chứa đầy thứ nước đen thui, đặc quánh và tù đọng. Cửa sổ của các ngôi nhà hoang tàn ảm đạm soi bóng trên làn nước mà trên bề mặt dơ bẩn của nó nổi lên các mẩu giấy, bìa cát tông, mảnh thủy tinh, cây cối và tấm sắt tây của các hòm trên tàu; những mảnh vụn vứt đầy trên các đường phố và có lẽ bao phủ trên đó là cả một lớp bùn. Ở mọi nơi đều nhìn thấy sự bẩn thỉu, hỗn độn và cảnh nghèo khổ của con người.
Chính ở trong phần này của thành phố có các “căn hộ cho thuê”, tức là những nhà trọ, trong đó với giá hai đô la một tuần có thể nhận được chỗ ngủ và được nuôi dưỡng toàn bộ; ở đây cũng có các quán rượu, tức là các phòng uống, trong đó những chủ tàu săn cá voi tuyển lựa mọi hạng người lang thang không nghề nghiệp đưa lên tàu mình; có đại diện thương mại gian lận Venezuela, Ecuador và Brazil, mục đích là gạ gẫm đi khai khẩn vùng xích đạo và cung cấp cho bệnh sốt rét một số lượng nạn nhân kha khá; có những nhà hàng rẻ tiền nuôi khách của mình bằng thịt ướp mặn, những con hàu sò và cá ươn, mà chính nước biển hắt lên cát; có những căn nhà bí mật chơi xúc xắc, những tiệm giặt Trung Quốc, những chỗ nương náu khác nhau cho các thủy thủ; cuối cùng đây cũng là những hang động của tội ác, sự nghèo khổ, đói khát và nước mắt.
Và phần này của thành phố lại rất nhộn nhịp, vì toàn bộ là người di cư, những kẻ không tìm được dù chỉ trong giây lát chỗ ở trong các lán trại ở Castle Garden và không muốn hoặc không thể đến cái gọi là “nhà của người làm công”, tức là những ngôi nhà của công nhân, họ tụ tập ở đây, sinh hoạt, sống và chết. Mặt khác cũng có thể nói rằng nếu như người di cư là cặn bã của các xã hội châu Âu, thì những cư dân của các ngõ ngách nọ chính là cặn bã của dân di cư. Những người đó lang thang một phần vì không có công ăn việc làm, nhưng phần khác thì vì yêu thích cuộc sống đó. Ở đây, đêm đêm cũng thường vang lên tiếng nổ của súng lục, tiếng kêu cứu, tiếng thét phẫn nộ, giọng hát say rượu của người Ireland hoặc tiếng gào rống của đám người da đen đánh lộn nhau. Vào ban ngày, thỉnh thoảng cả một đoàn những kẻ lang thang, mũ trên đầu rách rưới, tẩu thuốc ngậm trong miệng, sẵn sàng nắm đấm trong tay, cá cược với nhau từ một đến năm xu cho việc đập vỡ kính một ô cửa sổ. Trẻ con da trắng và các cô gái nhỏ da đen tóc quăn tít, thay cho việc đến trường học lại đi lang thang ngoài phố, vừa đi vừa lúc lắc khúc xương sườn bò hoặc tìm trong vũng bùn những thứ còn lại của mớ rau, quả cam hoặc chuối; đám phụ nữ Ireland gầy còm chìa tay ra trước những người qua đường lành lặn, nếu như họ đi lạc qua đó.
Trong địa ngục của con người đó, chúng ta tìm thấy những người quen biết cũ của chúng ta: lão Wawrzon Toporek và con gái lão, Marysia. Của thừa kế mà họ mong đợi chỉ là giấc mơ và giấc mơ ấy đã tan ra mây khói, còn thực tế hiện ra trước mắt chúng ta là một căn phòng nhỏ hẹp, úp sát xuống đất, có một ô cửa sổ mà kính bị đập. Các bức tường của căn hộ đó mốc meo và ẩm ướt; cạnh tường có chiếc lò sưởi làm bằng sắt đã bị gỉ và thủng lỗ cùng chiếc bàn nhỏ ba chân; ở góc phòng có một ít rơm đại mạch dùng làm giường ngủ.
Đó là mọi thứ. Ông già Wawrzon vừa quỳ trước lò sưởi vừa tìm kiếm xem trong đống tro tàn còn sót lại củ khoai tây nào không và hôm nay đã là ngày thứ hai chốc chốc lão lại quay lại tìm kiếm một cách vô ích như vậy; còn Marysia thì ngồi trên ổ rơm và để hai tay bó sát đầu gối, cô nhìn với vẻ bất động xuống sàn nhà. Cô gái bị ốm và kiệt sức. Cũng vẫn là Marysia, nhưng đôi má hồng hào ngày nào của cô không còn nữa, da cô trở nên nhợt nhạt và bệnh tật, cả khuôn mặt cũng như trở nên nhỏ hơn ngày xưa, còn đôi mắt thật lớn và cứ nhìn không chớp. Rõ ràng là khuôn mặt cô bị không khí thối mục làm ảnh hưởng, nỗi ưu phiền và những món ăn tàn tệ. Họ chỉ được nuôi bằng khoai tây, nhưng đã hai ngày nay ngay cả khoai tây cũng không còn. Bây giờ họ hoàn toàn không biết phải làm gì và tiếp tục sống bằng cái gì. Đã là tháng thứ ba trôi qua kể từ lúc họ sống trên mặt đường và ở trong hang ổ này, vì vậy không có tiền. Ông già Wawrzon cố thử hỏi tìm việc, nhưng thậm chí người ta không hiểu lão muốn gì; lão đi đến cảng bốc vác hàng hóa và xúc than lên tàu, nhưng không có xe cút kít, hơn nữa những người Ireland đấm thẳng vào mắt lão; lão muốn mang rìu vào làm ở chỗ xây dựng bến tàu, người ta lại đánh vào mặt lão. Hơn nữa công nhân gì loại lão, khi mà không hiểu người ta nói gì với mình! Lão chạm tay vào đâu, muốn làm một công việc gì, định đi đến chỗ nào, người ta cũng đều cười nhạo lão, đẩy lão ra, cản đường lão, đánh đập lão; vì vậy lão không kiếm được đồng xu nào ở đâu và không cầu xin được ai. Tóc lão bạc trắng vì nỗi ưu phiền, vì đã cạn kiệt niềm hi vọng, cạn kiệt tiền nong, và bắt đầu đói.
Ở trong nước, giữa người mình với nhau, giá như lão bị mất tất cả, giá như bệnh tật đày đọa lão, giá như con cái đuổi lão ra khỏi nhà, thì... chỉ cần cầm chiếc xẻng trong tay, đứng trước cây thánh giá ở ngã ba đường hoặc bên cạnh cửa nhà thờ nào đó và hát câu: “Chúa rộng lòng nhân từ, hãy nhận tiếng khóc trào máu của con”, Chúa sẽ đến, có thể sẽ cho mười đồng bạc, bà chủ đi trên xe sẽ phái đứa trẻ mang tiền đến cho trong bàn tay hồng hào và mở to đôi mắt nhìn vào người ăn mày; người đàn ông có thể nhận được nửa ổ bánh mì, một mẩu mỡ lợn và có thể sống, mặc dù giống như con chim, không cần gieo hạt, không cần cày cấy. Hơn thế nữa, nếu cứ đứng dưới cây thánh giá thì lão sẽ được đôi vai Chúa bao bọc, ở trên cao là trời, xung quanh là cánh đồng và trong cảnh tĩnh lặng đồng quê nọ, Chúa sẽ nghe thấy tiếng hát của lão. Còn ở trong thành phố này ầm vang một cái gì đó thật kinh sợ, giống như trong cỗ máy khổng lồ, trong đó mỗi người đều cố xô lên phía trước, chỉ nhìn về phía trước, và không ai nhìn thấy nỗi khổ đau của kẻ khác. Ở đây thì đầu óc quay cuồng, đôi tay duỗi thẳng, mắt không chứa đựng được mọi thứ lọt vào trong đó, ý nghĩ này đuổi theo ý nghĩ kia. Ở đây mọi thứ đều kì quái, lạ lẫm, đẩy ra và xua đuổi đến mức mỗi người, dù có biết xoay xở trong chỗ nước xoáy đó thì do sức đẩy cũng phải bay vật ra khỏi bánh xe và vỡ tan ra giống như một chiếc bình sứ.
Chao ơi! Thật là khác nhau! Trong khi ở Lipince yên bình, lão Wawrzon là ông chủ, người có tài sản, có đất đai, được mọi người kính nể, mỗi ngày đều có cái ăn đầy đủ, Chủ nhật ra đứng trước bàn thờ với đèn nến sáng trưng; còn ở đây, lão là người cuối cùng giữa mọi người, giống như con chó lạc trên sân nhà lạ, nhút nhát, run rẩy, co tròn lại và đói khát. Trong những ngày đầu tiên gặp rủi ro, những hồi ức thường xuyên lên tiếng: “Ở Lipince mi sống tốt hơn nhiều”, lương tâm gào thét: “Wawrzon ơi, tại sao mi lại rời bỏ Lipince?” Tại sao ư? Bởi vì Chúa đã rời bỏ lão. Lão hoàn toàn có thể mang cây thánh giá của mình, có thể chịu đựng, nếu như phía trước lão, con đường đau khổ sẽ kết thúc ở đâu đó; nhưng lão biết rõ rằng, mỗi ngày tới sẽ càng thêm nhiều ách tai ương khắc nghiệt hơn và mỗi buổi sáng mặt trời sẽ càng đổ xuống nhiều nỗi nhọc nhằn hơn cho lão và con gái lão. Vậy thì làm gì đây? Lão phải xoắn dây thừng, lên tiếng cầu kinh và treo cổ ư? Người đàn ông không chớp mắt trước cái chết, nhưng cái gì sẽ xảy ra với cô con gái? Khi nghĩ về tất cả những điều đó, lão cảm thấy rằng không chỉ có Chúa từ bỏ lão, mà cả lí trí cũng rời xa lão. Không có chút ánh sáng nào trong màn đêm đen kịt mà lão nhìn thấy ở phía trước mình, còn nỗi đau đớn nhất thậm chí lão không biết gọi tên là gì nữa.
Nỗi đau lớn nhất đó chính là nỗi nhớ Lipince. Nỗi nhớ ấy hành hạ lão cả ngày và đêm, càng hành hạ khủng khiếp hơn vì lão không biết đó là cái gì, lão cần cái gì, tâm hồn nông dân trong lão khao khát hướng tới cái gì và vì cái gì đang quằn quại đau khổ: còn lão cần cánh rừng thông, cánh đồng và căn nhà tranh mái rơm, và những ông chủ, và những người nông dân, và cha đạo, và tất cả mọi thứ, những cái cần cho một mái ấm gia đình bám víu, còn cái mà trái tim khao khát, thì không thể tách ra được, khi tách rời nó ra thì sẽ rớm máu. Người đàn ông cảm thấy rằng có một cái gì đó đang nén lão xuống đất. Đôi khi lão cảm thấy vui vì có người nắm tóc kéo bay lên và đập đầu vào tường hoặc lao xuống đất, hoặc rống lên như chó bị xích, hoặc kêu gào như trong khi lạc - gọi ai? Bản thân lão không biết. Bây giờ đây, lão đang bị thối mục dưới gánh nặng không biết là cái gì này, đang rơi xuống, còn thành phố xa lạ này cứ gầm thét và gầm thét; lão rên rỉ và cầu xin Chúa Jesus, còn ở đây không có cây thánh giá, không ai lên tiếng trả lời, chỉ có thành phố gầm gào và gầm gào, còn trên giường cô con gái vẫn ngồi với đôi mắt nhìn chằm chằm xuống đất, cô đói khát, và cô im lặng chịu đựng. Một chuyện lạ! Hai người họ ngồi cùng với nhau và thông thường suốt cả ngày dài không ai nói với ai câu nào. Họ sống giống như đang có mối bất hòa lớn với nhau, sống như vậy thật tồi tệ và nặng nề, song họ biết nói gì? Những vết thương đang sưng mủ tốt hơn hết là không nên chạm vào. Chẳng lẽ nói rằng không còn tiền trong túi, không còn khoai tây trong bếp, không còn giải pháp nào trong đầu.
Họ cũng không nhận được sự trợ giúp từ bất cứ người nào. Người Ba Lan sinh sống ở New York rất nhiều, nhưng những người giàu có không ai định cư ở khu vực quảng trường Chattam. Tuần thứ hai sau khi đến đây, đúng ra họ có biết hai gia đình Ba Lan, gia đình thứ nhất đến từ Slask, gia đình thứ hai ở ngay gần thành phố Poznan, nhưng ngay cả họ cũng đã chết đói từ lâu. Gia đình Slask có hai đứa con chết đói, đứa thứ ba đang ốm, nhưng đã hai tuần nay vẫn ngủ cùng với bố mẹ trong hành lang có mái che dưới cầu, mọi người đều chỉ ăn những thứ tìm được ngoài đường phố. Về sau, người ta cũng đưa họ vào bệnh viện và không biết điều gì xảy ra với họ. Gia đình thứ hai cũng gặp chuyện tồi tệ, thậm chí còn khốn khó hơn, vì ông bố nghiện rượu. Marysia cứu giúp người phụ nữ cho đến khi có thể, còn bây giờ bản thân cô cũng đang cần cứu giúp.
Đúng ra hai người họ có thể đến nhà thờ Ba Lan ở Hoboken. Cha xứ chắc sẽ báo cho những người khác biết về họ, nhưng họ đâu có biết rằng có một nhà thờ như thế hoặc có một cha xứ như thế, đâu biết rằng họ có thể nói chuyện được với ai, hỏi han ai? Chính vì thế, mỗi đồng xu bỏ ra đối với họ coi như là một nấc thang dẫn xuống địa ngục bần hàn.
Giờ phút này họ đang ngồi, ông già bên cạnh bếp lò, còn cô gái trên ổ rơm. Một giờ, rồi hai giờ trôi qua. Trong căn phòng càng lúc càng tối tăm hơn, vì mặc dù đang là buổi chiều, nhưng sương mù từ dưới nước bốc lên, vì bây giờ đang là mùa xuân, sương mù nặng nề khủng khiếp. Mặc dù ngoài trời đã ấm lên, hai người họ ở trong phòng vẫn run cầm cập vì giá lạnh; cuối cùng, lão Wawrzon mất hết hi vọng không tìm thấy gì trong đống tro tàn ở bếp.
- Marysia ơi! - Lão lên tiếng - Bố không thể chịu đựng được nữa rồi và con cũng không chịu nổi nữa; bố sẽ xuống biển mò cây, ít nhất chúng ta sẽ có cái để đốt trong bếp, có thể bố sẽ tìm được cái gì đó để ăn.
Cô gái không nói gì, vì vậy ông già ra đi. Lão đã biết cách đi đến cảng và nhặt những mảnh gỗ ở các kiện và hòm trên tàu mà nước quăng lên bờ. Mọi người, những kẻ không có tiền mua than cũng làm như vậy. Nhiều khi ở đó người ta cũng cướp của lão mất một nửa, nhưng nhiều khi không; đôi lúc lão còn tìm được cái gì đó để ăn, những cọng rau thừa vứt từ trên tàu xuống chẳng hạn, trong trường hợp như thế, lão cứ đi trong sương mù và tìm kiếm, liệu mình có để rơi cái gì hay không, trong giây lát lão quên đi số phận hẩm hiu của mình và quên về nỗi nhớ vẫn hành hạ lão nặng nề nhất. Cuối cùng, lão đi đến mép nước, và vì đó là thời điểm bữa ăn trưa, vì vậy trên bờ biển đang có vài thằng bé chơi đùa, những kẻ đúng ra là ngay sau đó đã kêu la lão, ném bùn đen và vỏ sò vào người lão, nhưng không thể đánh lão. Khá nhiều tấm ván nhỏ khác nhau đang chập chờn dưới nước: một đợt sóng mang chúng đến gần, đợt sóng thứ hai lại cuốn chúng xuống sâu. Không lâu sau, lão đã vớt được một số tấm ván.
Có một đống gì đó màu xanh đang nổi chập chờn trên sóng; có thể trong đó có cái gì ăn được, nhưng vì quá nhẹ nên chúng không bị đánh giạt vào bờ, vì thế lão không thể nhặt được chúng. Các cậu bé đã ném dây thừng xuống và bằng cách ấy kéo chúng vào bờ; vì không có dây thừng, lão chỉ đứng nhìn với vẻ thèm thuồng, chờ cho đến khi bọn trẻ bỏ đi và lão tìm thêm một lần nữa trong đống đồ thừa, vừa đưa lên mồm nhai, vừa xem có cái gì có thể dùng để ăn được không. Về chuyện cô con gái cũng chưa được ăn, lão cũng không nghĩ đến.
Nhưng số phận mỉm cười với lão. Khi đi về nhà, lão đã gặp một chiếc xe lớn chở khoai tây, trên đường đến cảng bị sa lầy xuống ổ gà lớn và không thể nhúc nhích được. Lão Wawrzon ngay lúc đó đã nắm nan hoa xe và bắt đầu cùng với người đánh xe đẩy bánh xe lên. Thật nặng nhọc, thậm chí xương bả vai lão đau ê ẩm, song cuối cùng lũ ngựa cũng vùng lên, cỗ xe vượt ra khỏi ổ gà, và vì nó được xếp cao có ngọn, khá nhiều khoai tây văng ra khỏi xe và chìm vào bùn. Người đánh xe không nghĩ đến chuyện nhặt lại chúng, cảm ơn lão Wawrzon vì sự giúp đỡ, kêu to với lũ ngựa Get up! * và đi.
Get up (nguyên văn tiếng Anh): Lên nào, đi nào.
Ngay lập tức, lão Wawrzon lao vào chỗ khoai tây, nhặt nhạnh chúng một cách tham lam bằng đôi tay run rẩy, giấu nó dưới vạt áo và ngay sau đó, một lòng tin tốt đẹp hơn đã dâng lên trong tim lão. Trong cơn đói, một mẩu bánh mì tìm được chính là niềm hạnh phúc tìm lại được; vì vậy, người đàn ông trên đường về nhà vẫn lầm bầm nho nhỏ:
- Ôi, hãy tỏ lòng cảm ơn Đấng Tối thượng vì Người đã để mắt tới nỗi thống khổ của chúng ta. Có củi, con gái sẽ nổi lửa lên; củi nhiều lắm, có thể dùng để đốt hai lần. Chúa thật nhân từ. Căn phòng ngay sau đó sẽ sống động hơn. Con gái ta một ngày rưỡi nay chưa được ăn, vì vậy cũng sẽ vui mừng. Chúa thật nhân từ!
Vừa nghĩ ngợi như vậy, ông già vừa ôm đống củi bằng một tay, còn tay kia chốc chốc lại kiểm tra xem những củ khoai tây có tuột khỏi vạt áo hay không. Kho báu lão mang theo là rất lớn, vì vậy với lòng biết ơn, lão ngước mắt lên trời và lại thì thầm:
- Mình nghĩ sẽ phải đi ăn trộm - còn ở đây chẳng cần trộm cắp gì khoai tây từ xe rơi xuống. Các người không ăn thì chúng tôi sẽ ăn. Chúa thật nhân từ! Marysia ngay sau đây sẽ từ ổ rơm đứng dậy, khi biết rằng mình có củi.
Trong khi đó, từ lúc ông già đi ra ngoài, Marysia không hề nhúc nhích khỏi ổ rơm. Thông thường, vào buổi sáng, khi lão Wawrzon mang củi về, cô đã nhóm lửa trong bếp, đưa nước đến, ăn những thứ gì có để ăn, còn sau đó thì suốt hàng tiếng đồng hồ cô ngồi nhìn chằm chằm vào ngọn lửa. Có lúc cô cũng đi tìm việc làm. Người ta đã thuê cô vào làm việc tại một nhà trọ để cọ rửa nồi niêu và quét dọn, nhưng vì họ không thể nói được gì với cô, cô thực hiện nhiệm vụ một cách tồi tệ vì không hiểu họ, nên sau hai ngày, người ta đuổi cô. Sau đó, cô không tìm gì cả và không tìm được gì cả. Suốt ngày dài cô chỉ ngồi lì ở nhà, sợ không dám đi ra ngoài phố, do ở đó những người Ireland và bọn thủy thủ say rượu hay trêu ghẹo cô. Vì sự nhàm chán đó, cô lại càng bất hạnh. Nỗi nhớ gặm nhấm cô như gỉ sắt. Thậm chí cô bất hạnh hơn cả lão Wawrzon, bởi ngoài cái đói, ngoài mọi nỗi khổ tâm mà cô phải gánh chịu, ngoài việc tin chắc rằng họ hoàn toàn không còn sự cứu giúp nào, không có tương lai nào, ngoài nỗi nhớ khủng khiếp đối với quê hương, cô còn gánh thêm ý nghĩ nặng nề về chàng trai chăn ngựa Jasko. Đúng ra là anh ta có hứa hẹn với cô và từng nói: “Em ở đâu thì anh sẽ đến đó”, nhưng cô ra đi lúc đó là để thành bà chủ, thành người thừa kế, còn bây giờ mọi sự đã thay đổi thế nào rồi!
Anh là người làm công của lâu đài, anh cũng có ruộng đất do cha ông để lại, còn cô trở thành người nghèo khổ như vậy, đói khát như con chuột trong nhà thờ ở Lipince như vậy. Liệu anh có đến đây không? Mà dẫu rằng anh có đến chăng nữa thì liệu có ôm cô vào ngực, có nói: “Em khốn khổ của anh?” Hay lại bảo: “Cút đi, con gái người ăn mày!” Bây giờ, người ta gọi cô thế nào nhỉ? “Đồ giẻ rách.” Ngay cả chó ở Lipince cũng sẽ chạy sủa theo cô, tuy thế ở đó vẫn có một cái gì đó lôi kéo cô đến vậy, thậm chí tâm hồn cô sẽ vui mừng bay đến đó như con chim én liệng nhanh trên mặt nước và mặc dù có thể chết, cô chỉ cần được đến đó. Ở đó có anh, Jasko, dù vẫn còn nhớ hay đã quên, nhưng vô cùng đáng yêu; chỉ có bên anh thì sẽ yên bình và vui mừng, và sung sướng, trong tất cả mọi người trên thế gian này chỉ cần có riêng anh.
Khi có ngọn lửa trong bếp và cái đói không hành hạ như hôm nay thì ngọn lửa phun phì phì, bắn ra tia lửa, nhảy nhót, lập lòe đã nói với cô gái về Lipince và nhắc cô nhớ chuyện ngày xưa cùng các cô gái khác ngồi xổm bên con quay kéo sợi. Jasko vừa thò đầu qua gian xép vừa gọi: “Marysia ơi! Chúng ta đến gặp đức cha đi, bởi đối với anh em thật đáng yêu!” Còn cô trả lời anh rằng: “Im đi nào, đồ vô liêm sỉ!” Và thế là cô cảm thấy sung sướng, cảm thấy vui vẻ trong tâm hồn, cũng giống như lúc đó, khi anh dùng sức mạnh kéo cô vào nhảy ở giữa phòng, còn cô, sau khi lấy tay che mặt, nói thì thầm: “Cút đi, làm người ta ngượng!” Khi thỉnh thoảng ngọn lửa nhắc cô nhớ về điều đó thì nước mắt cô tràn đầy khuôn mặt; nhưng giờ đây giống như không còn ngọn lửa trong bếp, nước mắt cô cũng không còn, vì bao nhiêu nước mắt có trong người, cô đã tuôn hết ra mất rồi. Đôi lúc, cô cũng cảm thấy như nước mắt đã chảy tràn xuống ngực và bóp nghẹt cô ở đó. Cô cảm thấy vô cùng mệt mỏi và cạn kiệt, thậm chí cô không đủ sức để suy nghĩ; nhưng cô âm thầm chịu đựng, chỉ nhìn ra phía trước bằng cặp mắt lớn của mình, giống như chú chim mà người ta nhốt.
Bằng cách đó, bây giờ cô cũng đang nhìn lên khi ngồi trên ổ rơm. Trong khi đó, có ai đó đang động đậy ở cửa phòng. Trong chớp mắt, Marysia nghĩ đó là bố cô, cô không ngẩng đầu lên, mãi đến khi một giọng nói lạ vang lên:
- Look here!*
Look here! (nguyên văn tiếng Anh): Nhìn đây này.
Đó là chủ nhân khu nhà trọ mà họ đang ở, một người già da ngăm ngăm đen, có khuôn mặt tối tăm, bẩn thỉu, tàn tạ, với đôi má dính đầy mùi thuốc lá.
Sau khi nhìn thấy ông ta, cô gái vô cùng lo sợ. Họ phải trả một đô la cho tuần thuê tiếp theo, nhưng không có xu nào nữa. Cô chỉ có thể tỏ ra nhún nhường, vì vậy sau khi đi đến gần ông ta, cô quỳ dưới chân và hôn vào tay ông.
- Tôi đến để lấy một đô la! - Ông ta nói.
Cô hiểu từ “đô la” và vừa gật gật đầu, vừa pha trộn từ ngữ đồng thời nhìn với vẻ cầu khẩn, cố gắng tỏ cho người kia hiểu là họ đã chi hết tiền, rằng đã là ngày thứ hai họ không có gì ăn, rằng họ đang đói và mong ông rủ lòng thương đối với họ.
- Chúa sẽ phù hộ Ngài quyền quý. - Cô nói thêm bằng tiếng Ba Lan, do không biết nói gì và làm gì nữa.
Đúng ra là ngài quyền quý không hiểu, rằng mình là quyền quý, nhưng đoán được là sẽ không nhận được một đô la nào; thậm chí ông đoán biết được rõ ràng đến mức, sau khi dùng một tay nhấc túi đồ đạc của họ, tay kia kéo vai lôi cô gái hất nhẹ lên bậc cửa dẫn ra ngoài phố và ném bị đồ dưới chân cô, rồi với sự lạnh lùng không thay đổi, ông ta mở cửa căn phòng kề bên và lên tiếng:
- Này, Paddy, có phòng cho mày rồi đấy.
- All right! - Một giọng nói từ bên trong đáp lại - Đêm tôi sẽ sang ngủ.
Tiếp sau đó, người da ngăm ngăm đen mất hút ở hiên nhà tối tăm, còn cô gái một mình ở lại ngoài phố. Cô đặt túi đồ đạc ở bệ cửa sổ của căn nhà để tránh bị thấm bùn rồi đứng bên cạnh túi đồ, nhẫn nại chờ đợi giống như mọi khi và im lặng.
Những người Ireland say rượu qua đường lần này không chọc ghẹo cô. Trong căn phòng tối đen, nhưng ở ngoài phố nhìn thấy rất rõ và trong thứ ánh sáng đó khuôn mặt cô gái trông thật tiều tụy, giống như sau một cơn bệnh nặng. Chỉ có những sợi tóc sáng như sợi đay là vẫn như xưa, đôi môi cô tím bầm, đôi mắt cụp xuống và trơ như đá, xương trồi lên hằn rõ trên má. Trông cô giống như bông hoa héo hoặc như một cô gái sắp chết.
Những người đi ngang qua nhìn cô với ánh mắt thương hại. Một phụ nữ da đen già hỏi han cô, nhưng không nhận được câu trả lời liền đi tiếp với thái độ bực bội.
Trong khi đó, lão Wawrzon đi về nhà với một tình cảm tốt đẹp, thứ tình cảm mà ở những con người cực kì nghèo khổ được biểu hiện rõ rệt của lòng nhân từ của Chúa làm thức tinh. Đây này, lão đang có khoai tây; lão nghĩ họ sẽ ăn như thế nào, ngày mai lão sẽ lại đi gần các cỗ xe, còn về ngày kia thì trước mắt chưa nghĩ tới, vì bây giờ lão đang quá đói. Sau khi từ xa nhìn thấy cô con gái đứng trên đường trước cửa nhà, lão rất ngạc nhiên và càng vội vã bước nhanh hơn.
- Sao con lại đứng ở đây?
- Ông chủ đuổi chúng ta, bố ơi!
- Ông ấy đuổi?
Bó củi rơi khỏi tay người đàn ông. Thế thì quá lắm rồi. Đuổi họ trong giờ phút này, khi đã có củi và khoai tây ư! Bây giờ họ làm gì, họ chui rúc vào chỗ nào, họ sống bằng cái gì, họ sẽ đi đâu? Lão Wawrzon đá vào bó củi và vứt mũ xuống bùn.
- Jesus ơi! Jesus ơi! - Lão quay một vòng, mở miệng ra, đờ đẫn nhìn lên cô gái và nhắc lại lần nữa - Ông ta đuổi?...
Sau đó, giống như định đi đâu đó, nhưng lão lập tức quay lại, còn giọng nói của lão trở nên xa vắng, khàn khàn và dữ tợn, khi lại lên tiếng:
- Sao mày không cầu xin, đồ ngu ngốc?
Cô gái thở dài:
- Con đã cầu xin.
- Mày có quỳ dưới chân ông ấy không?
- Con đã quỳ.
Lão Wawrzon lại quay một vòng tại chỗ giống như con giun mà ai đó xoay tròn. Trước mắt lão, một màn đen kịt bao phủ.
- Đồ ngu ngốc vô dụng! - Lão hét to.
Cô gái nhìn lên lão với vẻ đau đớn.
- Bố ơi! Con đã làm gì sai?
- Đứng lại đây, không được nhúc nhích đi đâu. Tao sẽ đến cầu khẩn ông ấy, ít nhất xin cho đốt chỗ củi này.
Lão đi. Sau giây lát trong hiên nhà nghe tiếng động, tiếng giậm chân, những tiếng nói cao giọng, còn sau đó, lão Wawrzon bay ra ngoài phố, rõ ràng bị đẩy bằng một bàn tay mạnh mẽ.
Lão đứng một giây, sau đó nói cụt lủn với cô gái:
- Đi!
Cô cúi xuống túi đồ đạc để nhặt nó lên. Túi đồ tương đối nặng so với sức vóc đã cạn kiệt của cô, nhưng lão không giúp cô, giống như quên, giống như không nhìn thấy rằng cô gái cố gắng lắm mới có thể vác túi đó trên người.
Họ bước đi... Hai vóc dáng nghèo khổ của ông già và cô gái chắc hẳn làm người đi đường chú ý, nếu như những người đi đường đó ít chứng kiến cảnh đói nghèo. Họ có thể đi đâu? Họ có thể đến chỗ tối tăm nào nữa, chỗ rủi ro nào nữa, chỗ thống khổ nào nữa?
Nhịp thở của cô gái càng lúc càng trở nên khó khăn hơn, nặng nề hơn; chân cô đã lảo đảo lần thứ nhất, rồi lần thứ hai, cuối cùng cô lên tiếng đề nghị khẩn khoản:
- Bố ơi! Bố hãy cầm túi giẻ rách này, con không thể mang nó được nữa rồi.
Lão như chợt tỉnh giấc.
- Thế thì vứt nó đi.
- Biết đâu chúng sẽ còn có ích.
- Không có ích gì nữa đâu.
Bỗng nhiên nhìn thấy cô gái lảo đảo, lão quát lên tức giận:
- Vứt nó đi, nếu không tao sẽ giết mày!
Lần này thì cô sợ hãi nghe lệnh và họ tiếp tục bước đi. Người đàn ông còn nhắc lại vài lần: “Nếu đã thế thì cứ kệ như thế!” - sau đó im bặt, nhưng có một cái gì đó không tốt lành gì cứ hiện ra trước mắt lão. Vượt qua những con phố càng lúc càng lầy lội hơn, họ đi đến địa phận cuối cùng của cảng, rồi bước lên những cây cầu dựng trên cọc; họ đi qua ngôi nhà với dòng chữ “ Chỗ trú ngụ của thủy thủ ”, và đi tiếp đến tận mặt nước. Ở vị trí này, người ta xây dựng một bến tàu mới. Những giàn giáo cao dùng để đặt cọc nổi cao trên mặt nước, còn giữa các tấm gỗ và thanh dầm có nhiều người đang bận với công trình xây dựng. Marysia sau khi bước đến đống dầm liền ngồi xuống đó, cô không thể đi tiếp được, lão Wawrzon đứng im lặng bên cạnh cô.
Lúc đó đã bốn giờ chiều. Toàn cảng đang sôi sục hoạt động. Sương mù cũng đang phủ xuống, còn mặt trời thì hất ánh sáng và cái ấm áp nhân từ xuống hai con người khốn khổ nọ. Từ dưới nước, hơi thở mùa xuân táp vào mặt đất, sôi động, đầy sức sống, vui tươi. Xung quanh họ biết bao nhiêu màu xanh và ánh sáng, khiến mắt cứ phải chớp lia lịa vì quá nhiều thứ đó. Màu xanh thẫm của biển ở phía xa hòa trộn tuyệt đẹp với màu trời. Trong màu xanh da trời đó, gần trung tâm của cảng hơn có thể nhìn thấy rõ những cột buồm nổi lên hiền hòa, những ống khói và các cây cờ đuôi nheo phất phơ trong gió nhẹ. Trên đường chân trời, những con tàu đang tiến về phía cảng trông như đang leo ngược lên dốc hoặc đang chìm xuống dưới nước. Những cánh buồm đã được tháo gỡ hoặc buộc lại trên cột trông như những đám mây, tất cả chìm trong ánh sáng, sáng lên lóng lánh bởi màu trắng đến chói mắt nổi lên trên nền nước màu xanh da trời. Những con tàu khác đang bơi vào đại dương, kéo theo sau mình những đợt sóng trắng phau. Chúng đang đi về nơi có làng Lipince, đối với hai người họ đó là nơi niềm hạnh phúc đã mất, nơi có số phận tốt đẹp, nơi có sự yên bình. Cô gái nghĩ chắc họ phải phạm vào một tội gì đó rất kinh khủng, làm một điều gì đó chống lại Chúa trời, để cho Người, một đấng luôn yêu thương con người lại quay lưng với họ và bỏ quên họ giữa những kẻ xa lạ, và vứt bỏ họ trên bờ biển xa xôi này. Chỉ có trong tay Người thì hạnh phúc của họ mới quay trở lại. Biết bao nhiêu con tàu đã bơi về nơi ấy mà không mang họ về theo. Ý nghĩ mệt mỏi, khổ đau của Marysia lại một lần nữa bay về phương trời Lipince và bay về với chàng Jasko chăn ngựa. Liệu ở đó anh có nghĩ đến nàng hay không, liệu anh có nhớ đến nàng hay không? Nàng nhớ, vì chỉ trong hạnh phúc người ta mới lãng quên, ngược lại trong khổ đau, trong đơn độc, ý nghĩ sẽ bám chặt vào những người thân yêu như cây hoa bia quấn quanh cây dương. Còn anh? Có thể anh đã khinh bỉ những tình cảm yêu thương xưa kia và đã gửi lời cầu hôn đến ngôi nhà khác. Thậm chí, thật nhục nhã khi nghĩ đến cô gái nghèo hèn như thế này, cô gái mà ngoài vòng hoa, ngoài vòng cửu lí hương ra chẳng còn có gì nữa trên thế gian và nếu ai có gửi cho cô lời cầu hôn thì đó chỉ có thể là Thần Chết.
Vì cô đang bị ốm, cho nên cái đói không hành hạ cô ghê gớm lắm, nhưng cái mệt mỏi và sự yếu ớt lại đè nặng lên cô, khiến đôi mi mắt cứ nhắm nghiền lại, còn khuôn mặt trắng nhợt thì cúi thấp xuống đến tận ngang ngực. Chốc chốc, cô chợt thức và mở mắt ra, sau đó lại nhắm nghiền lại. Cô mơ thấy mình đang lạc giữa những khe núi và vực sâu, đã rơi xuống, hệt như cô Kasia trong bài dân ca nọ, rơi xuống “dòng Dunajec sâu thẳm” và ngay lập tức nghe thấy rất rõ những lời hát tiếp theo:
Từ trên đỉnh núi cao Jasko nhìn thấy,
Anh tuột theo sợi dây lụa đến với Marysia
Song sợi dây ngắn, chưa đến khuỷu tay:
Marysia khốn khổ đưa thêm bím tóc.
Đến đây Marysia chợt tỉnh, vì cô cảm thấy rằng mình không còn bím tóc nữa và rằng mình đang bay xuống vực sâu. Giấc mơ biến mất. Không phải Jasko ngồi cạnh cô mà là lão Wawrzon, và không phải nhìn thấy “Dunajec” mà là cảng New York, cầu tàu, các giàn giáo, cột buồm và ống khói. Lại có thêm những con tàu bơi ra biển khơi và chính từ những con tàu đó vẳng đưa lại tiếng hát. Một buổi chiều mùa xuân êm đềm, ấm áp, đẹp trời bắt đầu hắt ánh hồng lên mặt nước và bầu trời. Mặt biển sâu thẳm trở thành mặt gương phản chiếu, mỗi con tàu, mỗi cây cọc đều được phản chiếu như có một con tàu thứ hai, cây cọc thứ hai nằm ngay phía dưới và phong cảnh xung quanh thật tuyệt vời. Một niềm hạnh phúc và sự dịu êm to lớn tràn khắp không gian; có cảm giác rằng cả thế giới đang vui vẻ, chỉ có hai người họ là bất hạnh và bị lãng quên; những người công nhân bắt đầu ra về, chỉ hai người họ là không có nhà.
Càng lúc cái đói càng hành hạ lão Wawrzon như có bàn tay sắt cào cấu gan ruột lão. Người nông dân ngồi buồn bã và ảm đạm, nhưng có cái gì đó như một quyết định đáng sợ bắt đầu hiện lên trên nét mặt lão. Ai nhìn vào nó đều phải hoảng sợ, vì khuôn mặt đó có biểu hiện của loài dã thú và chim muông khi đói, đồng thời lại yên bình một cách tuyệt vọng, như khuôn mặt của một người đã chết. Suốt thời gian đó, lão không nói với cô gái lời nào, mãi đến khi màn đêm buông xuống, khi cảng đã hoàn toàn vắng lặng, lão lên tiếng bằng giọng lạ lùng:
- Chúng ta đi chứ Marysia!
- Chúng ta đi đâu? - Cô hỏi lại bằng giọng ngái ngủ.
- Đến chỗ cây cầu trên mặt nước. Chúng ta sẽ nằm trên ván gỗ và sẽ ngủ.
Họ đi. Trong màn đêm đen kịt, họ phải lần mò hết sức cẩn trọng để không rơi xuống nước.
Kết nối ván gỗ và dầm kiểu Mĩ tạo thành hàng loạt đường rẽ ngoặt giống như các hành lang gỗ, ở đoạn cuối của hành lang là một sàn ván gỗ, còn sau đó là chiếc búa dầm để đóng cọc. Sàn ván được che bên trên là lớp mái tránh mưa và người ta đứng trên đó để nện búa dầm, nhưng bây giờ ở đó không còn ai nữa.
Khi họ đi đến tận cùng, lão Wawrzon lên tiếng:
- Chúng ta sẽ ngủ ở đây.
Marysia ngã ngay xuống tấm ván chứ không phải là đặt lưng nằm và mặc dù ngay lập tức đàn muỗi lao đến tấn công, cô ngủ thiếp đi nặng nề.
Bỗng nhiên giữa đêm khuya, giọng của lão Wawrzon đánh thức cô:
- Marysia, dậy đi.
Có một cái gì đó ẩn chứa trong tiếng gọi khiến ngay tức khắc cô tỉnh dậy.
- Cái gì thế, bố?
Giữa im lặng và màn đêm đen kịt, giọng nói của người đàn ông vang lên khô khốc, kinh hoàng, nhưng lại bình thản:
- Con gái ơi! Bố sẽ không để cho con chết vì đói lâu hơn nữa. Con sẽ không đi quỳ gối dưới chân người ta để cầu xin miếng bánh mì nữa, con sẽ không ngủ ngoài trời nữa. Mọi người đã từ bỏ con, Chúa đã từ bỏ con, số phận hẹp hòi, thế thì hãy để cái chết ôm ấp con vậy. Nước ở đây sâu, con sẽ không phải mệt mỏi lâu đâu.
Trong màn đêm, cô không thể nhìn thấy lão, mặc dù mắt cô rộng mở vì hoảng sợ.
- Bố sẽ dìm con, đứa con khốn khổ, và bố sẽ tự tử ngay sau đó. - Lão nói tiếp - Không có gì cứu được chúng ta, không có lòng nhân từ nào đối với chúng ta. Ngày mai con sẽ không còn thèm ăn nữa, ngày mai con sẽ cảm thấy tốt hơn ngày hôm nay...
Không! Cô không muốn chết. Cô mới mười tám tuổi đời và tuổi trẻ gắn bó với cuộc sống, sợ hãi cái chết. Tâm hồn cô giật thót trước ý nghĩ rằng ngày mai sẽ chết, sẽ lạc vào màn đêm ở đâu đó, sẽ nằm trong nước, giữa các loài cá và bò sát, nằm ở dưới đáy đầy bùn. Không đời nào cô chấp nhận như vậy! Một sự ghê tởm không thể diễn tả nổi và sự sợ hãi đã bao trùm cô, còn người cha đẻ đang lảm nhảm trong đêm tối khiến cô liên tưởng tới một con quỷ kinh hoàng.
Trong lúc đó, hai tay lão đang đặt trên đôi vai gầy guộc của cô, còn giọng nói vẫn tiếp tục phát ra với sự bình tĩnh đáng sợ:
- Dù con có hét lên thì cũng không ai nghe thấy đâu. Bố chỉ đẩy con xuống và tất cả chỉ kéo dài không đầy hai khúc kinh cầu.
- Con không muốn, bố ơi, con không muốn! - Marysia gào to - Bố không sợ Chúa ư? Bố thân yêu ơi, bố quý mến ơi, hãy thương hại con! Con đã làm gì hại bố? Con có than vãn gì về số phận hẩm hiu của mình không, con có cùng gánh chịu cái đói và lạnh lẽo với bố không?... Bố ơi!
Nhịp thở của lão trở nên nhanh hơn, đôi tay như gọng kìm bóp chặt hơn... Cô gái càng lúc càng khiếp đảm hơn trước cái chết.
- Hãy thương hại! Hãy nhân từ! Hãy nhân từ! Con là con của bố mà, con đang khốn khổ, đang bệnh tật; con cũng chẳng còn sống bao lâu nữa trên thế gian này. Con tiếc! Con sợ!
Vừa rên lên như vậy cô vừa bám chặt vào vạt áo lão, miệng thì van xin và áp sát vào tay lão, đôi tay đang đẩy cô xuống vực. Nhưng mọi thứ đối với lão có vẻ như chỉ càng kích thích hơn. Sự bình thản trong lão đã trở thành điên cuồng: lão bắt đầu thở khò khè và ngáy khò khò. Đôi lúc giữa hai người họ xuất hiện tình trạng im lặng và nếu ai đó đứng trên bờ sẽ chỉ nghe thấy nhịp thở mạnh và tiếng giãy giụa, và tiếng kêu cót két của các tấm ván. Đêm sâu thẳm, đen kịt, và sự cứu trợ không thể đến từ bất cứ nơi nào, vì đây là đoạn cuối cùng của cảng, trên đó thậm chí ngay cả ban ngày ngoài đám công nhân ra không có người nào khác.
- Hãy thương tình! Hãy thương tình! - Marysia kêu lên hoảng loạn.
Trong giây phút ấy, một bàn tay kéo mạnh cô xuống mép giàn giáo, còn tay kia bắt đầu đánh vào đầu cô để dập tắt tiếng hét của cô. Nhưng dù thế nào đi nữa thì tiếng hét ấy cũng không gây ra bất cứ tiếng vang nào: chỉ có tiếng chó sủa từ đâu đó xa vắng vẳng lại.
Cô gái cảm thấy đã kiệt sức. Cuối cùng thì đôi chân cô đã chạm vào khoảng không, đôi tay chỉ còn bám vào người cha, nhưng cũng đã mất cảm giác. Tiếng kêu cứu càng lúc càng nhỏ dần, đôi bàn tay cuối cùng cũng buông rơi vạt áo và Marysia cảm thấy mình đang bay xuống vực.
Cô rơi từ trên sàn xuống, nhưng trên đường đã mắc vào tấm ván dày và treo lơ lửng trên mặt nước.
Người đàn ông cúi xuống và nói ra thật đáng sợ, lão bắt đầu tách tay cô ra khỏi tấm ván.
Một chùm ý nghĩ, giống như bầy chim náo loạn bay qua trên đầu tạo thành hình ảnh sáng lòa của làng quê Lipince, cây cần ở giếng nước, chuyến ra đi, con tàu, bão táp, lời cầu nguyện, sự khốn khổ ở New York; cuối cùng - cái gì xảy ra với cô thế này? Cô nhìn thấy một con tàu cực lớn với mũi tàu dâng lên cao, trên đó là đám đông người, và trong đám đông đó có hai bàn tay giơ ra hướng về phía cô. Ôi Chúa ơi! Chính là Jasko đang đứng đó, Jasko đưa hai bàn tay ra, còn phía trên con tàu và trên Jasko thì Đức Mẹ đồng trinh đang mỉm cười trong ánh sáng rực rỡ. Trước cảnh đám đông đứng trên bờ, cô hét to: “Đức Mẹ đồng trinh ơi! Jasko ơi! Jasko ơi!” Một giây nữa thôi... Lần cuối cùng cô giương mắt nhìn bố: “Bố ơi! Đức Mẹ ở đằng kia! Đức Mẹ ở đằng kia!”
Một giây nữa, chính đôi tay đã đẩy cô xuống nước bây giờ lại kéo bàn tay mềm oặt của cô lên và với sức mạnh siêu phàm đã kéo cô lên trên. Cô lại cảm thấy dưới chân mình sàn ván gỗ của giàn giáo, lại có đôi vai ôm chầm lấy cô, nhưng đó là đôi vai của người cha, không phải của kẻ sát nhân, và đầu cô áp vào ngực người cha.
Hoàn hồn khỏi cơn bất tỉnh, cô nhận ra rằng mình đang nằm bên cạnh người cha, mặc dù đang là đêm tối, cô cũng nhận thấy là lão đang nằm co quắp và ho khan, đau đớn, ngực lão chấn động rất mạnh và như bị toác ra.
- Marysia ơi! - Cuối cùng lão lên tiếng bằng giọng đứt quãng pha lẫn tiếng khóc - Con hãy tha lỗi cho bố, đứa con nhỏ bé...
Cô gái tìm trong đêm tối đôi tay của lão và sau khi áp sát đôi môi khốn khổ của mình vào đó, cô thì thầm:
- Bố ơi! Chúa Jesus cũng sẽ tha lỗi cho bố giống như con...
Trong ánh sáng mờ ảo phát ra trên đường chân trời, vầng trăng lớn, dịu dàng, đầy đặn ló ra, và lại có một cái gì đó kì lạ xảy ra. Đó chính là Marysia đã nhìn thấy từ vầng trăng kia hàng đoàn thiên thần nhỏ bé đang bay ra như thế nào, chúng giống như những con ong vàng, và chúng bay theo làn ánh sáng đó đến với cô, chúng vừa vỗ cánh sột soạt, vừa quay tròn, vừa lượn khúc và cất tiếng hát bằng giọng trẻ thơ:
- Ơi cô gái mệt mỏi, bình yên sẽ đến với cô! Ơi con chim yếu đuối, bình yên sẽ đến với mi! Ơi bông hoa đồng nội, bông hoa kiên nhẫn và lặng lẽ, bình yên sẽ đến với mi!
Vừa hát như vậy, chúng vừa rung rung trên cô những đài hoa huệ trắng tinh và những cái chuông bạc nhỏ, từ đó phát ra tiếng ngân:
- Giấc ngủ hãy đến với cô, cô gái ơi, giấc ngủ hãy đến với cô! Giấc ngủ ơi! Giấc ngủ ơi! Giấc ngủ ơi!
Và mọi thứ trở nên thật dễ chịu, thật sáng sủa, thật bình yên, khiến cô ngủ thiếp đi thật sự.
Đêm trôi qua và trời bắt đầu sáng ra. Ngày mới bắt đầu. Ánh bình minh rọi sáng mặt nước. Các cột buồm và ống khói bắt đầu nghiêng mình từ trong bóng tối ra và như trôi tới gần hơn; lão Wawrzon cúi lom khom phía bên trên Marysia.
Lão nghĩ rằng cô đã chết. Hình dáng thon gầy của cô nằm bất động; đôi mắt nhắm nghiền, khuôn mặt nhợt nhạt như mảnh vải đay, trông hơi tím tái, bình thản và như đã chết. Lão già lay lay vai cô một cách vô ích: cô không hề động đậy, không hề mở mắt ra. Lão Wawrzon có cảm giác rằng có lẽ cả mình cũng đã chết, nhưng sau khi đặt tay lên miệng cô, lão cảm thấy cô đang thở. Tim cô đang đập, mặc dù yếu; nhưng lão hiểu rằng có thể chốc lát nữa cô sẽ chết. Nếu như từ trong màn mây một ngày mới dịu dàng ló ra, nếu như mặt trời sưởi ấm cô, thì cô sẽ tỉnh dậy; ngược lại thì không.
Những con hải âu bắt đầu bay liệng phía trên cô, cứ như chúng đang lo lắng cho cô; một vài con còn đỗ xuống những cây cọc gỗ bên cạnh. Sương sớm từ từ tan ra trong cơn gió tây nhè nhẹ; đợt gió này là gió xuân, ấm áp, tràn đầy vị ngọt ngào.
Sau đó mặt trời dâng lên. Ánh mặt trời trước hết hắt lên đỉnh giàn giáo, sau đó, càng lúc càng bò xuống thấp hơn, hắt ánh vàng ươm xuống khuôn mặt đã chết của Marysia. Hình như những tia sáng đang hôn cô, đang vuốt ve âu yếm cô. Trong ánh sáng đó và trong vành hoa tóc ngời sáng, xõa ra trong cuộc vật lộn đêm qua và trong màn sương ẩm ướt, khuôn mặt cô trông thật thiên thần; bởi lẽ Marysia cũng đã gần như là thiên thần khi trải qua sự vất vả và khổ đau của mình.
Ngày tuyệt đẹp, hồng thắm bắt đầu được đánh thức từ dưới biển, mặt trời tỏa hơi ấm càng lúc càng mạnh hơn, gió thổi thân thiện lên cô gái; những con chim hải âu vừa bay xoắn đến tạo thành vòng hoa vừa kêu lên inh ỏi như muốn đánh thức cô. Lão Wawrzon cởi áo ngoài đắp lên chân cô và một niềm hi vọng bắt đầu lóe lên trong tim lão.
Hình như vết tím bầm cũng từ từ biến mất trên khuôn mặt cô, đôi má đã hơi hồng lên, cô mỉm cười một lần, rồi hai lần, cuối cùng thì cô mở mắt ra.
Lúc đó, ông già kia quỳ trên cây cầu, ngước cặp mắt nhìn lên trời và hai dòng nước mắt tuôn tràn theo gò má nhăn nheo.
Lão cảm nhận một cách vĩnh viễn rằng đứa trẻ này - giờ đây chính là con ngươi của mắt lão và là linh hồn của linh hồn lão, và như thần thánh được yêu thương hơn tất cả mọi thứ.
Cô không chỉ thức dậy, mà còn thức dậy khỏe khoắn hơn, lanh lợi hơn ngày hôm qua. Không khí trong lành trên bến cảng tỏ ra tốt hơn đối với cô so với bầu không khí độc hại trong căn phòng. Cô thực sự trở về với cuộc sống, vì sau khi ngồi lên tấm ván gỗ, ngay tức thì cô lên tiếng:
- Bố ơi, con rất muốn ăn.
- Con gái ơi, con hãy đi xuống biển, có thể tìm thấy thứ gì đó ăn được ở đó. - Ông già nói.
Cô đứng dậy không chút khó khăn và hai người cùng đi. Rõ ràng đó là một ngày vô cùng đặc biệt trong những ngày rủi ro của họ, bởi chỉ vừa đi được vài bước họ đã nhìn thấy ở ngay gần mình trên giàn giáo giữa hai tấm ván một chiếc khăn tay, trong đó có bọc bánh mì, ngô luộc và một miếng thịt ướp muối. Điêu đó có thể được giải thích rằng một công nhân nào đó làm việc trên giàn giáo ngày hôm qua giữ lại cho sáng nay phần thức ăn của mình. Những người công nhân ở đó thường có thói quen này; lão Wawrzon và Marysia giải thích cho mình còn đơn giản hơn nhiều. Ai để lại thực phẩm đó? Theo xét đoán của họ đó là Người luôn nhớ đến từng bông hoa, từng con chim, từng con dế trên đồng và cả những con kiến.
Đó là Chúa!
Họ cầu kinh, ăn hết ngay, mặc dù thứ đó không nhiều và đi tiếp xuống mép nước cho đến tận chỗ bến tàu chính. Một sức mạnh mới xuất hiện trong người họ. Sau khi đã đi đến ngôi nhà hải quan, họ quay ngược lên phố Water đi về phía Broadway. Cùng với những quãng nghỉ, họ phải đi mất vài tiếng đồng hồ, do đường khá xa. Đôi lúc họ ngồi trên những tấm ván hoặc những chiếc hòm rỗng của tàu. Họ đi, bản thân không biết vì sao, nhưng có một cái gì đó kêu gọi khiến Marysia nhất thiết phải đi đến thành phố. Dọc đường họ bắt gặp hàng loạt xe chở hàng kéo đến cảng. Trên phố Water, dòng người đi lại đã nhộn nhịp. Từ các cánh cửa mở rộng, mọi người bước ra ngoài và vội vã đến với những công việc hằng ngày. Giữa một khung cửa như vậy xuất hiện một người đàn ông quý phái cao lớn, tóc bạc trắng, có ria mép cùng với một bé trai. Sau khi bước ra, ông ta nhìn lên họ và nhìn lên quần áo họ, rồi vuốt ria mép; một sự ngạc nhiên hiện lên trên khuôn mặt ông ta, sau đó ông bắt đầu nhìn chăm chú với ánh mắt nhanh nhẹn hơn và nở nụ cười.
Một khuôn mặt mỉm cười thân thiện với họ ở New York này quả là một điều kì lạ, một phép màu, khi nhìn thấy điều đó, cả hai người họ đều tỏ ra ngạc nhiên.
Trong khi đó, người tóc bạc tiến đến gần họ và lên tiếng hỏi bằng tiếng Ba Lan hết sức chuẩn xác:
- Các người từ đâu đến?
Như có tiếng sét đánh ngang đầu họ. Thay vì câu trả lời, người nông dân mặt trắng bệch ra như bức tường và khuỵu đôi chân, không tin vào đôi tai, đôi mắt mình nữa. Marysia sau khi đưa tay ấp ngang ngực, lập tức quỳ xuống dưới chân người đàn ông lớn tuổi, giơ hai tay ra ôm lấy nó và bắt đầu kêu:
- Chúng tôi từ ngoại ô Poznan đến, kính thưa ngài quyền quý! Từ ngoại ô Poznan đến.
- Các người làm gì ở đây?
- Chúng tôi nghèo khó, đói khát và sống trong nỗi rủi ro ghê gớm, thưa ngài!
Đến đây Marysia không còn hơi để nói, còn lão Wawrzon thì lao đến dưới chân ông già quý phái như một lát bánh mì dẹt, sau đó bắt đầu hôn phần mép áo choàng của ông ta và vừa cầm giữ nó vừa nghĩ có lẽ đang nắm giữ một mảnh trời trong tay.
Đây chính là ông chủ... và là ông chủ của mình. Ông ta sẽ không để cho mình chết đói, ông ta sẽ cứu giúp, ông ta sẽ không để mình tàn tạ.
Cậu bé cùng đi với ông già tóc bạc giương to đôi mắt, mọi người bắt đầu kéo đông đến tụ tập, tròn miệng ra và nhìn chăm chú xem cảnh một người quỳ gối trước một người khác và hôn chân ông ta như thế nào.
Ở nước Mĩ đó là cảnh tượng chưa bao giờ xảy ra! Nhưng ông già bắt đầu cảm thấy tức giận trước những kẻ tò mò.
- Đây không phải là chuyện của các người, - ông nói với họ bằng tiếng Anh - hãy đi làm việc của mình đi!
Sau đó, ông nói với lão Wawrzon và Marysia:
- Chúng ta sẽ không đứng ở ngoài đường: hãy đi theo tôi.
Ông dẫn họ vào quán ăn gần nhất; tại đó, sau khi bước vào một căn phòng riêng biệt, ông đóng cửa lại cùng với họ và với cậu bé. Họ lại lao xuống quỳ dưới chân ông, ông tránh ra và làu bàu với vẻ tức giận:
- Hãy thôi ngay cách làm đó đi! Chúng ta là người đồng hương cơ mà, chúng ta là con cùng một... mẹ.
Đến đây rõ ràng khói thuốc xì gà mà ông hút bắt đầu gặm nhấm mắt ông, do ông phải dùng cùi tay lau mắt và lên tiếng hỏi:
- Các người đói hả?
- Đã hai ngày nay chúng tôi chưa được ăn gì, ngoài một chút thức ăn sáng nay tìm được ở bờ biển.
- Wiliam! - Ông nói với cậu bé - Hãy bảo người ta mang thức ăn tới cho họ.
Sau đó, ông hỏi tiếp:
- Các người ở chỗ nào?
- Không ở đâu cả, kính thưa ngài.
- Các người ngủ ở đâu?
- Trên bến nước.
- Người ta đuổi các người ra khỏi nhà à?
- Người ta đuổi.
- Các người không có đồ đạc gì ngoài những thứ mặc trên người ư?
- Chúng tôi không có gì.
- Các người không có tiền ư?
- Chúng tôi không có.
- Các người sẽ làm gì?
- Chúng tôi không biết.
ông già vừa hỏi nhanh gần như tức giận, vừa bỗng nhiên quay đầu lại phía Marysia:
- Còn cô bao nhiêu tuổi, cô gái?
- Đến ngày lễ Đức Mẹ đồng trinh thăng thiên năm nay cháu mười tám tuổi.
- Cô chịu đựng quá nhiều rồi phải không?
Cô không đáp lại câu nào, chỉ cúi đầu nhún nhường dưới chân ông.
Rõ ràng ông già lại bị khói gặm nhấm trong mắt.
Người ta mang đến bia và thịt nóng. Ông già ra lệnh họ ngay lập tức phải ăn, còn khi họ nói không dám làm như vậy trước mặt ông, ông nói với họ là họ rất ngu xuẩn. Bất chấp sự tức giận đó của ông, với họ ông vẫn là thiên thần từ trên trời bay xuống.
Khi họ ăn rõ ràng là ông cảm thấy hết sức vui vẻ. Sau đó, ông ra lệnh họ kể cho mình nghe đã đi đến đây như thế nào và trải qua những gì. Vì vậy, lão Wawrzon kể mọi chuyện cho ông nghe và không giấu giếm điều gì, giống như khi xưng tội với đức cha. Ông tức giận, quát mắng lão, còn khi nói đến chuyện lão Wawrzon muốn dìm chết Marysia thì ông hét to:
- Tôi muốn lột xác ông ra!
Sau đó, ông ta nói với Marysia:
- Hãy đi đến đây, cô gái!
Khi cô đến gần, ông dùng hai tay ôm lấy đầu cô và hôn lên trán cô.
Sau đó, ông nghĩ ngợi giây lát và nói:
- Các người đã vượt qua nghèo khổ. Đây là một đất nước tốt đẹp, mình chỉ cần biết tìm cách thích ứng.
Lão Wawrzon giương mắt lên nhìn ông ta: cái ông đáng kính và thông minh kia gọi nước Mĩ là đất nước tốt đẹp.
- Đúng như vậy, gã tối tăm ơi, - ông nói, sau khi nhận ra vẻ ngạc nhiên ở lão Wawrzon - đây là một đất nước tốt đẹp! Khi tôi đến đây, tôi không có gì, còn giờ đây tôi đã có mẩu bánh mì cho mình. Song các người, những người nông dân ơi, các người hãy giữ bổn phận của mình, không được phép phiêu bạt trên thế giới này. Khi các người ra đi thì ai là người ở lại? Ở đây các người chẳng làm được gì, đến đây thì dễ, quay trở lại mới khó.
Ông im lặng một lúc, sau đó nói thêm, như nói với chính mình:
- Hơn bốn mươi năm tôi sống ở đây, vì vậy ngay cả đất nước mình tôi cũng đã quên. Nhưng nỗi nhớ đôi lúc chợt quay về, đúng không? Wiliam phải đi đến đó, hãy để cho nó biết nơi ông cha nó đã sống... Đây là con trai tôi. - Ông nói, chỉ tay về phía cậu bé - Wiliam! Mang từ nhà đến đây cho cha mẩu đất vẫn gối dưới đầu sẽ để ở trong quan tài.
- Yes, father! * - Cậu bé trả lời bằng tiếng Anh.
Yes, father! (nguyên văn tiếng Anh): Vâng, thưa cha (ND).
- Và nhớ đặt nó lên ngực nhé, Wiliam! Đặt trên ngực nhé!
- Yes, father!
Ông già bắt đầu bị khói gặm nhấm trong mắt kinh khủng đến mức con ngươi lồi ra như thủy tinh.
Ngay sau đó, ông lại tức giận:
- Thằng nhãi ranh đó hiểu tiếng Ba Lan, nhưng thích nói tiếng Anh hơn. Ở đây phải như thế. Cái gì rơi xuống đây thì cái đó sẽ mất đi đối với những ngưỡng cửa ngày xưa. Wiliam! Hãy đi và nói với chị gái rằng chúng ta sẽ có khách bữa trưa nay và cả đêm nay.
Cậu bé nhanh nhẹn nhảy đi. Ông già trầm ngâm suy nghĩ và im lặng rất lâu; sau đó ông bắt đầu nói, như nói với chính mình:
- Dù có muốn đưa họ trở về thì phí tổn rất lớn, hơn nữa họ sẽ về đâu? Họ đã bán những thứ họ có: họ sẽ phải đi ăn xin. Cô gái làm nghề hầu hạ thì Chúa biết, chuyện gì sẽ xảy ra. Khi các người còn ở đây thì cứ phải thử tìm việc làm đã. Gửi họ đến một trại ấp nào đó, trong khi chờ đợi cô gái sẽ đi lấy chồng. Hai vợ chồng họ sẽ kiếm được tiền; muốn trở về thì có thể mang cả ông già đi cùng.
Tiếp đó, ông nói thẳng thừng với lão Wawrzon:
- Ông đã nghe nói về các trại ấp của chúng ta ở đây chưa?
- Tôi chưa nghe thấy, thưa ngài quyền quý.
- Mọi người ơi! Các người sống ở đây như thế nào? Ôi, Chúa yêu thương! Sau này các người sẽ phải chết ư? Ở Chicago, số người loại như ông phải có đến hai chục ngàn, ở Milwaukee cũng có chừng ấy, ở Detroit khá nhiều, ở Buffalo cũng nhiều. Người ta làm việc trong các nhà máy, nhưng nông dân thì làm ở đồng ruộng tốt hơn. Hay là gửi các người đến Radom, đến Illinois, hừm! Ở đó đất đai đã không còn dễ kiếm. Người ta đang lập một tỉnh Poznan mới ở các vùng thảo nguyên ở Nebraska, song đến đó thì xa. Tàu hỏa đi tốn kém. Panna Maria ở Texas cũng xa. Đến Borowina có lẽ tốt nhất, hơn nữa tôi có thể cho tiền mua vé, còn cái mà tôi đưa tay thì hãy giữ lấy để lập trại ấp.
Ông còn trầm ngâm thêm một lúc.
- Nghe này, ông già! - Bỗng nhiên ông lên tiếng - Hiện nay, người ta đang lập trại ấp Borowina mới ở Arkansas. Đó là vùng đất đẹp và ấm áp, mà đất thì hầu như còn chưa có người ở. Tại đó ông có thể nhận 160 mẫu đất và rừng của chính phủ không mất tiền, còn của đường sắt thì phải trả một khoản tiền nhỏ - ông hiểu không? Tiền lập trang trại tôi cho và cả tiền mua vé tàu hỏa nữa, tôi có thể làm điều đó. Các người đi tàu đến thành phố Little Rock, sau đó phải đi xe ngựa. Tại đó, các người sẽ tìm được những người khác cùng đi với các người. Hơn nữa, tôi sẽ viết thư cho các người mang theo. Tôi muốn giúp ông, vì ông là anh em của tôi; nhưng con gái của ông tôi thương gấp trăm lần ông. Ông hiểu chứ? Hãy cảm ơn Chúa vì các người đã gặp được tôi.
Đến đây, giọng nói của ông trở nên hoàn toàn nhỏ nhẹ:
- Nghe đây, cô bé! - Ông nói với Marysia - Đây là tờ giấy của tôi: hãy cất giữ nó thật cẩn trọng. Khi cháu gặp cảnh nghèo khổ, thí dụ như cháu trở nên đơn độc trên thế gian này và không có ai chăm sóc, thì cháu sẽ tìm ta. Cô bé nghèo khổ và hiền lành. Nếu như ta đã chết, thì Wiliam sẽ chăm sóc cháu. Đừng đánh mất tờ giấy này! Bây giờ thì đi đến nhà tôi.
Trên đường ông còn mua quần áo, kể cả đồ lót cho họ, và cuối cùng, ông dẫn họ vào nhà mình và thết đãi họ. Đó là một ngôi nhà toàn những người tốt, bởi Wiliam, và cả chị gái cậu ta, cô Jenny đều chăm sóc hai người như những người ruột thịt. Ngài Wiliam thậm chí còn đối xử với Marysia như với một con búp bê, điều này làm cho cô gái vô cùng ngượng ngùng. Buổi tối, vài cô gái trẻ để bờm tóc phủ ngang trán đến chơi với Jenny, họ ăn mặc tuyệt đẹp và rất tốt bụng. Họ dắt Marysia đến ngồi cạnh họ và tỏ ra ngạc nhiên rằng sao cô lại nhợt nhạt như thế, rằng cô xinh đẹp như thế, rằng cô có mái tóc sáng đẹp như thế, rằng cô lúc nào cũng cúi sát đến tận chân họ và luôn hôn tay họ, điều đó khiến họ rất buồn cười. Ông chủ cũng xuống cùng vui với đám trẻ, vò vò mái tóc bạc phơ, cằn nhằn, đôi lúc tức giận, nói lúc bằng tiếng Anh, lúc bằng tiếng Ba Lan, chuyện trò với Marysia và lão Wawrzon về miền đất quê hương xa xăm; nhớ lại, nhắc đến những chuyện cũ và đôi lúc rõ ràng khói thuốc xì gà lại gặm nhấm mắt ông, vì thường thấy ông lén lấy tay lau mắt.
Khi mọi người tản ra đi ngủ, Marysia không thể kìm giữ nổi nước mắt khi thấy rằng cô Jenny tự tay chuẩn bị cho cô chăn đệm. Ôi! Sao mọi người lại tốt như vậy, nhưng có gì đáng ngạc nhiên đâu! Bởi ông chủ cũng là người ở vùng ngoại ô Poznan mà.
Ngày thứ ba, lão Wawrzon và cô gái đã đi đến Little Rock. Người nông dân cảm thấy tờ một trăm đô la trong túi và đã hoàn toàn quên nỗi nghèo đói, còn Marysia cảm thấy trên đầu mình bàn tay của Chúa và tin rằng bàn tay ấy sẽ không để cô chết; rằng giống như đã từng dẫn dắt cô thoát khỏi số phận rủi ro, sẽ dẫn lối đưa đường cho cả Jasko đi đến nước Mĩ và sẽ quan tâm đến cả hai người họ, và sẽ cho phép họ trở về Lipince.
Trong khi đó, các thành phố và trang trại làng quê cứ lướt qua các ô cửa kính của toa tàu. Điều đó hoàn toàn khác với ở New York. Những cánh đồng và rừng rậm hiện ra ở phía đằng xa, và cả nhà cửa, cạnh đó là vườn cây um tùm; những cánh đồng lúa mì các loại hiện ra từng mảng lớn xanh bạt ngàn giống hệt như ở Ba Lan. Nhìn cảnh ấy, lão Wawrzon cảm thấy như có cái gì đó làm ngực mình nở ra khiến lão muốn hét lớn: “Ơi! Những cánh rừng và đồng xanh kia!” Trên các cánh đồng cỏ, những đàn bò và cừu được chăn thả; ở bìa rừng nhìn thấy cả người với rìu hái trên tay. Con tàu cứ thế lao đi và bay tiếp. Dần dần cảnh vật càng trở nên vắng vẻ. Các trang trại mất hút, và vùng đất mở ra thành thảo nguyên to rộng trống không. Gió trên đó thổi như sóng cỏ và lướt qua các bụi hoa. Đôi chỗ nổi lên những bờ vàng của các con đường phủ đầy hoa vàng rực rỡ, trên đó thỉnh thoảng có những cỗ xe ngựa chạy qua. Những lùm cây mọc trên thảo nguyên cao, hoa nhỏ và mang hình chóp nón cứ gật gật đầu như chào đón khách lữ hành. Những con chim đại bàng sải rộng cánh bay lượn trên thảo nguyên, vừa bay vừa chăm chú nhìn xuống cỏ. Con tàu lao lên phía trước như muốn bay đến nơi mà thảo nguyên mất hút giữa tầm mắt và hòa lẫn vào bầu trời. Từ các cửa sổ toa tàu có thể nhìn thấy hàng đàn thỏ và chó rừng. Thỉnh thoảng, những chiếc sừng hươu chập chờn trên đồng cỏ. Không ở đâu nhìn thấy đỉnh tháp nhà thờ, thành phố, làng mạc, nhà cửa, chỉ thấy các nhà ga; giữa các nhà ga và ở bên cạnh đường không có bất cứ người nào xuất hiện. Lão Wawrzon nhìn mọi thứ, lắc đầu và không thể hiểu nổi, rằng chừng ấy “thứ tốt đẹp”, như lão thường gọi đất đai, mà lại đứng trống không như vậy.
Một ngày và một đêm trôi qua. Buổi sáng, họ đi vào một cánh rừng rậm, nơi đó cây cối được những dây leo bao bọc, trông to như cánh tay người, điều đó làm cho cánh rừng trở nên rậm rạp đến mức có lẽ nếu bổ rìu vào thì không khác gì bổ vào tường. Những loài chim không quen biết hót líu lo trong các bụi cây xanh rờn. Có một lần, lão Wawrzon và Marysia có cảm giác như nhìn thấy giữa những khúc ngoặt và rễ cây chằng chịt đó những con chim có mào nhọn trên đầu và khuôn mặt đỏ au như mạ đồng. Nhìn thấy những rừng cây, thảo nguyên và những khu rừng rậm trống không ấy, nhìn thấy tất cả những thứ tuyệt diệu không được biết đến và những con người khác, lão Wawrzon cuối cùng không thể kìm giữ nổi liền lên tiếng:
- Marysia ơi!
- Cái gì thế, bố?
- Con có nhìn thấy không?
- Con nhìn thấy.
- Có ngạc nhiên không?
- Con có ngạc nhiên.
Cuối cùng, họ vượt qua một con sông rộng gấp hơn ba lần sông Warta, sau này họ được biết tên nó là Mississippi, và đêm khuya thì họ đến Little Rock.
Từ đây, họ phải hỏi đường đến Borowina.
Chúng ta hãy bỏ họ lại trong giây phút này. Giai đoạn phiêu bạt thứ hai vì miếng bánh mì của họ đã kết thúc. Giai đoạn thứ ba diễn ra trong rừng, giữa những tiếng rìu bổ và trong cảnh nặng nhọc vất vả của cuộc sống trại ấp. Liệu giai đoạn đó có ít nước mắt hơn, ít đau khổ và rủi ro hơn không - chúng ta sẽ biết ngay sau đây.
⚝ III ⚝
CUỘC SỐNG TRẠI ẤP
Borowina là cái gì? Đó là một trại ấp mới được lập ra. Rõ ràng là tên gọi dễ dẫn người ta tới sự nhầm lẫn, khi giả thiết rằng, nơi nào có tên gọi thì ở đó phải có đồ vật. Trước đây, các tờ báo Ba Lan, và thậm chí cả báo tiếng Anh, xuất bản ở New York, Chicago, Buffalo, Detroit, Milwaukee, Manitovok, Denver, Calumet, tóm lại là ở mọi địa phương, nơi có thể nghe thấy tiếng Ba Lan, đều quảng cáo cho urbi et orbi * nói chung, và dành cho những người Ba Lan lập trang trại nói riêng rằng ai trong số họ muốn khỏe mạnh, giàu có, hạnh phúc, muốn ăn ngon, sống lâu, và sau khi chết chắc chắn sẽ được cứu rỗi, thì người đó hãy ghi tên để nhận mảnh đất ở vùng thiên đường, tức là ở Borowina. Các quảng cáo đó nói rằng Arkansas, nơi có Borowina tọa lạc hiện là vùng còn bỏ trống, nhưng là vùng đất tốt cho sức khỏe nhất trên thế giới này. Đúng ra thì thị trấn Memphis, nằm trên ranh giới, ở phía bên kia của Mississippi, là hang ổ của bệnh sốt rét da vàng, tuy vậy, theo các quảng cáo thì chẳng có bệnh sốt da vàng nào, cũng như chẳng có chứng sốt rét nào có thể bơi vượt qua con sông như sông Mississippi được. Ở thượng nguồn sông Arkansas vẫn chưa mắc bệnh, bởi lẽ những người láng giềng, dân da đỏ Choctaw, sẵn sàng lột da đầu nó chẳng cần thương tiếc. Bệnh sốt rét run rẩy trước màu da đỏ. Hậu quả của tình trạng đó là dân định cư ở Borowina sẽ phải sống giữa bệnh sốt rét da vàng ở phương đông và bọn người da đỏ ở phương tây, sống trong dải đất hoàn toàn trung lập, và có ở phía trước mình tương lai là một nghìn năm nữa, Borowina chắc sẽ có khoảng hai triệu cư dân, còn đất đai, thứ mà hôm nay phải trả một đô la rưỡi cho một mẫu thì giá bán sẽ là khoảng một nghìn đô la cho diện tích mỗi chiều bằng một khuỷu tay.
urbi et orbi (nguyên văn tiếng Latinh): Thành phố và thế giới (ND).
Những lời hứa như vậy và viễn cảnh đó thực khó mà tin được. Đối với những người không thích làm láng giềng với Choctaw thì quảng cáo cam đoan rằng bộ lạc thiện chiến đó có cảm tình đặc biệt với người Ba Lan, vì vậy có thể tiên đoán những mối quan hệ vô cùng lịch thiệp. Hơn nữa, mọi người đều biết ở nơi mà xuyên qua các cánh rừng và thảo nguyên có đường sắt chạy qua và có các cột điện tín hình chữ thập, thì ở đó các cột chữ thập ấy nhanh chóng trở thành vật đặc biệt đứng trên các nghĩa trang da đỏ; còn đất đai ở Borowina được mua của đường sắt, vì vậy việc người da đỏ biến mất sẽ chỉ là vấn đề thời gian.
Đất đai đúng là được mua của đường sắt, điều đó đảm bảo cho dân lập ấp trại mối quan hệ với thế giới, đảm bảo tiêu thụ sản phẩm và sự phát triển tương lai. Các quảng cáo thực ra đã bỏ quên việc bổ sung rằng đường sắt này mới chỉ tồn tại trên thiết kế và rằng việc bán các phần đất được chính phủ phân chia cho đường sắt ở những vùng không có người ở nhằm đảm bảo, hay nói đúng hơn, nhằm bổ sung vào ngân quỹ cần cho việc xây dựng; việc quên đó dễ dàng được tha thứ khi thực hiện vụ làm ăn phức tạp như vậy. Hơn nữa, điều đó chỉ gây ra một sự khác biệt đối với Borowina là trại ấp lẽ ra tọa lạc trên tuyến đường sắt thì lại nằm trên vùng sa mạc hoang vắng, để đến được với nó phải dùng xe ngựa vượt qua các trở ngại hết sức lớn lao.
Do sự quên lãng ấy có thể sản sinh ra nhiều sự khó chịu khác nhau, song chỉ là những chuyện khó chịu tạm thời và sẽ biến mất khi tuyến đường sắt đi vào hoạt động. Hơn nữa, mọi người đều biết rằng các quảng cáo trên đất nước này không thể tin theo từng từ ngữ được, bởi lẽ mỗi loài thực vật gieo trồng trên đất Mĩ đều mọc lên cực kì um tùm, nhưng sẽ không có trái, cũng giống như vậy, quảng cáo trên báo chí Mĩ phình ra đến mức mà sự thật thì đôi khi thật khó tìm được qua những lời lẽ văn hoa đó. Bỏ qua toàn bộ chuyện trong các quảng cáo về Borowina có thể coi là bịp bợm đó, có suy nghĩ cho rằng trại ấp đó sẽ không tồi hơn hàng nghìn trại ấp khác mà sự ra đời của chúng cũng được quảng cáo không kém phần rùm beng.
Về nhiều phương diện, các điều kiện thậm chí còn tỏ ra hết sức thuận lợi, từ đó vô số người, thậm chí cả những gia đình Ba Lan sinh sống tản mát khắp nơi trên Hợp chúng quốc Hoa Kì, từ các vùng hồ lớn cho đến tận những cánh rừng cọ Florida, từ Đại Tây Dương đến tận vùng bờ biển California đều ghi tên vào danh sách cư dân trại ấp sắp ra đời. Người Phổ ở vùng Mazury, người vùng Slask, Poznan, Galicjan, người Litva ở Augustow và người Mazury ở gần Warszawa, những kẻ đã làm việc ở các nhà máy tại Chicago và Milwaukee cùng những kẻ từ lâu đã thở dài với cuộc sống mà người nông dân chính trực phải cam chịu, tất cả bọn họ đều nắm lấy vận may để thoát khỏi những thành phố ngột ngạt đầy khói bụi, sẵn sàng cầm cày cuốc và rìu hái làm việc trên các cánh đồng, rừng cây và thảo nguyên khoáng đãng của vùng đất Arkansas. Những người cảm thấy quá nóng bức ở Panna Maria tại Texas, hoặc quá lạnh ở Minnesota, hay quá ẩm ướt ở Detroit, hoặc quá đói ở Radom thuộc Illinois đều tham gia vào nhóm đầu tiên đến Arkansas, gồm vài trăm người, chủ yếu là đàn ông, nhưng cũng có khá nhiều các cô gái trẻ và trẻ em. Cái tên “Arkansas đỏ máu” có vẻ “đẫm máu” thật, tuy thế cũng không làm nhiều cư dân khiếp sợ. Nhưng nói đúng ra là vùng đất này từ trước đến nay chứa đầy dân da đỏ hung bạo, được gọi là những kẻ sống ngoài vòng pháp luật, tức là những tên tội phạm lẩn trốn trước pháp luật, sống trong các căn lều man rợ dựng bên dòng sông Đỏ, làm từ cây cối đẵn xuống bất chấp lệnh cấm của chính phủ, và những kẻ nổi loạn khác nhau hoặc các tội phạm trốn chạy trước án treo cổ; mặc dù từ trước tới nay, phần đất phía tây bang này vẫn nổi tiếng với những trận đụng độ dã man giữa thợ săn trâu người da đỏ và da trắng và vì điều luật khủng khiếp xử tội tại chỗ bởi dân chúng, rõ ràng là ai cũng có thể tự giải quyết mọi chuyện. Gã người Mazury, khi cảm thấy có cái gì đó ngứa ngáy trong tay, đặc biệt khi bên trái bên phải mình có một gã Mazury khác và đằng sau mình một gã Mazury nữa, thì không chịu nhượng bộ bất cứ ai, còn kẻ nào dám đứng ra cản đường hắn ta thì hắn sẵn sàng đứng ra quát:
- Đừng có làm ra vẻ, đừng lên mặt, sôi máu lên tôi sẽ nện cho anh què cẳng!
Vả lại cũng vẫn biết rằng những người Mazury thường thích ở chung với nhau và làm nhà cửa theo cách sao cho anh Maciek này trong bất cứ giây phút nào cũng có thể cầm cây gậy trong tay đến trợ lực cho anh Maciek kia khi cần thiết.
Điểm gặp gỡ tập trung đối với phần đông là thành phố Little Rock, nhưng từ Little Rock đi đến Clarcsville, trại ấp gần nhất có người ở, láng giềng của Borowina, cũng cách một khoảng xa hơn từ Warszawa đến Kraków, tồi tệ hơn nữa là phải đi qua sa mạc, vượt rừng cây và vùng ngập nước.
Có nhóm vài người, những kẻ không muốn chờ đợi toàn thể, đã đi một mình và mất tích biệt vô âm tín, nhưng đoàn chính đã may mắn đi đến đích và cắm trại giữa rừng như hiện nay.
Thực ra thì sau khi đến nơi, những người lập trại ấp đã tỏ ra vô cùng thất vọng. Họ nghĩ rằng sẽ được nhận tại chỗ các cánh đồng và rừng cây dành cho người lập trại, nhưng họ chỉ nhìn thấy toàn là rừng cây, nơi phải bắt đầu bằng việc phát quang. Những gốc sồi đen, những cây gỗ đỏ, gỗ bông, cây ngô đồng sáng sủa và cây hồ đào tối tăm đứng cạnh nhau tạo thành một khối. Rừng rậm ở đây không phải chuyện đùa, ở phía dưới đầy rẫy các loại cây chóp nhọn, còn bên trên là những dây leo chằng chịt nối từ cây này sang cây khác, tạo thành những cây cầu treo, như tấm màn che, như những dây tơ bám vào thân cây, dày đặc và chen chúc nhau kín mít đến mức mắt không nhìn được xa, không giống như trong rừng của chúng ta; ai đi sâu vào bên trong, kẻ đó không nhìn thấy bầu trời ở phía bên trên và buộc phải lạc lối trong bóng tối, và có thể sẽ không tìm thấy đường ra, và sẽ mất tích suốt đời. Những người Mazury hết kẻ này đến kẻ khác đã cảm nhận được điều đó lúc thì bằng nắm đấm của mình, lúc thì bằng cây rìu của mình, lúc thì thông qua những cây sồi chu vi lớn cỡ mấy chục sải tay và khiến cho không phải chỉ một người cảm thấy buồn rầu. Có được gỗ đó để làm nhà và làm củi đốt thì thật may mắn, nhưng nếu phải chặt rừng ấy trên diện tích 160 mẫu, rồi nhổ rễ cây, rồi làm đất và sau đó mới tính đến chuyện cày bừa, thì một người phải làm hàng vài năm.
Nhưng không còn công việc nào khác, vì vậy ngay từ ngày thứ hai sau khi đoàn người đặt chân đến thì người nọ bảo người kia, nhổ nước bọt vào lòng bàn tay, cầm rìu lên, rên rỉ, phẩy tay, đấm ngực và từ giây phút đó mỗi ngày đều nghe thấy tiếng rìu bổ trong rừng Arkansas, đôi lúc cả tiếng hát vang vọng tới:
Jasienko đi đến,
Đi đến từ lâu đài:
“Ơi Kasienka yêu mến,
Hãy cùng anh vào rừng,
Vào khu rừng tối tăm.”
Trại đặt dọc theo dòng suối trên khu rừng thưa khá rộng, các ngôi nhà đứng thành ô vuông bên rìa, còn ở giữa, dần dần người ta sẽ xây dựng nhà thờ và trường học. Tuy nhiên đến lúc đó thời gian còn dài; trước mắt ở đó đặt các cỗ xe dùng trong việc chuyên chở những gia đình lập ấp trại đến. Các cỗ xe đặt thành hình tam giác để đề phòng trường hợp bị tấn công có thể phòng thủ trong đó giống như các pháo đài. Phía sau các cỗ xe, trên diện tích còn lại của khu rừng thưa là chỗ để lũ la, ngựa, bò kéo xe, bò sữa và cừu đi lại, trông coi chúng là toán lính gác bao gồm những người trẻ tuổi được trang bị vũ khí. Mọi người ngủ trên các cỗ xe hoặc xung quanh các đống lửa được đốt lên trong khu vực đó.
Ban ngày, đám phụ nữ và trẻ em ở lại trong trại, còn sự có mặt của đám đàn ông chỉ được biết đến thông qua tiếng rìu đốn cây vang lên trên khắp khu rừng. Ban đêm, từ trong các bụi rậm những loài dã thú gầm rú vang lừng, đó là những con báo, những con sói vùng Arkansas. Những con gấu xám khủng khiếp, ít sợ ánh sáng của đống lửa, đôi khi mò đến khá gần các cỗ xe, vì thế nhiều lần giữa đêm đen vang lên tiếng nổ phát ra từ các khẩu súng trường và tiếng hô: “Hãy sẵn sàng chiến đấu với thú dữ!” Những người đến từ vùng hoang dã ở Texas phần đông thường là thợ săn có kinh nghiệm và họ dễ dàng săn bắn được cho mình và gia đình những con thú như sơn dương, hươu và trâu rừng; vì đó chính là thời điểm di chuyển mùa xuân của các con thú đi về phương bắc. Những kẻ còn lại của đám dân lập trại ấp sống nhờ vào lượng lương thực, thực phẩm dự trữ mua ở Little Rock hoặc Clarcsville, bao gồm bột ngô và thịt ướp muối.
Ngoài ra, người ta còn giết cừu và một phần thịt đó được các gia đình mua lại để dùng.
Tối tối, dọc theo các cỗ xe, người ta đốt lên những đống lửa lớn, thanh niên sau khi cầu kinh xong thay vì đi ngủ thường lao vào nhảy. Một người chơi nhạc đã mang theo mình cây vĩ cầm, anh ta chơi nhạc dân gian, còn khi tiếng đàn bị chìm nghỉm giữa tiếng ầm ào của gió rừng và trong không gian rộng lớn ngoài trời thì những người khác giúp người chơi nhạc theo kiểu Mĩ, tức là gõ đập vào các chậu sắt tây. Cuộc sống trôi qua trong công việc nặng nhọc khá ồn ào và hỗn độn. Việc đầu tiên phải làm là dựng nhà cửa; vì vậy, trong khoảng thời gian khá ngắn, trên mảnh đất xanh của khu rừng thưa đã mọc lên những bức tường nhà, bề mặt của tường được phủ bằng phoi bào, mùn cưa, các mẩu vỏ cây và những thứ thải ra của cây. Những cây gỗ đỏ rất dễ gia công, nhưng thường phải đi tìm khá xa mới có được. Một số người dựng cho mình những chiếc lán tạm thời bằng các tấm vải lột ra từ các cô xe. Những kẻ khác, đặc biệt là người không vợ con, không cần kíp phải có mái lợp trên đầu, thích lê la ở các quán rượu hơn thì bắt đầu cày ở những địa điểm nơi rừng sâu không rậm rạp lắm và nơi các cây sồi, hồ đào, hay còn gọi là cây gỗ sắt, mọc tương đối thưa thớt. Lúc đó, vì rừng Arkansas vốn là rừng sâu, lần đầu tiên vang lên ở đó những tiếng gọi nhau:
- Hây, cái gì, làm được chứ!
Nhưng nói chung thì vì khối lượng công việc lớn như vậy đổ lên đầu đám người lập trại ấp, khiến nhiều người không biết phải bắt đầu từ đâu: liệu trước tiên xây dựng nhà, hay khai hoang, hay săn thú rừng? Ngay lúc ban đầu đã vỡ lẽ ra rằng người có thẩm quyền thay mặt những người lập trại ấp mua đất đai từ công ti đường sắt chỉ trên cơ sở lòng tin và trước đó chưa hề có mặt tại đây; bởi vì nếu ông ta đã đến nơi thì không đời nào lại đi mua toàn rừng rậm hoang sơ như thế, đặc biệt là lúc đó có thể dễ dàng mua những mảnh đất thảo nguyên chỉ có rừng bao phủ một phần. Thực ra, cả ông ta lẫn người thay mặt đường sắt đã đến địa điểm này để đo đạc phân chia và chỉ các phần đất cho từng người, nhưng sau khi nhìn thấy tình hình thực tế, họ đã sục sạo ở đó hai ngày, sau đó bực tức ra đi, lấy cớ là để tìm dụng cụ đo đạc ở Clarcsville và không xuất hiện thêm lần nào ở trại ấp nữa.
Sau đó không lâu, mọi người mới biết là một số người lập trại ấp trả nhiều, những kẻ khác trả ít và điều tồi tệ hơn là không ai biết phần đất của mình nằm ở chỗ nào, làm thế nào đo đạc được phần đất thuộc quyền của hắn. Đám người lập trại ấp bị bỏ rơi mà không có sự chỉ dẫn nào, không có bất cứ chính quyền nào có thể giải quyết các vấn đề của họ và những tranh chấp đã xảy ra. Người ta cũng không biết phải làm việc như thế nào. Nếu là người Đức thì chắc hẳn họ sẽ kết hợp cả quần thể lại cùng chặt rừng và dọn quang toàn bộ khu vực, cùng nhau xây dựng nhà cửa, sau đó mới bắt đầu đo đạc đất đai chia cho từng nhà. Nhưng mỗi người Mazury lại muốn ngay lập tức chiếm lĩnh phần của mình, dựng nhà cửa và sau đó mới tiến hành chặt rừng trên phần đất đai của mình. Ai cũng muốn lấy địa điểm nằm sát trung tâm khu rừng thưa, nơi rừng có ít cây cối nhất và có nguồn nước ở gần nhất. Chính vì thế đã xảy ra mâu thuẫn, và mâu thuẫn đó ngày càng lớn lên khi cỗ xe của một ông tên là Grunmanski xuất hiện như từ trên trời rơi xuống. Cái ông Grunmanski đó, nếu ở Cincinnati chẳng hạn, nơi người Đức sinh sống, có thể mang cái tên ngắn hơn, thí dụ như Grunman, song ở Borowina hắn đã điền thêm chữ “ski” ở đuôi để buôn bán dễ dàng hơn. Cỗ xe của hắn có mái che bằng vải rất cao, trên đó ở mỗi bên thành xe hiện ra dòng chữ viết bằng chữ cái rất lớn: “Quầy rượu”, còn ở phía dưới là những chữ nhỏ hơn: “Brandy, whisky, dżin”.
Bằng cách nào cỗ xe đó vượt qua một cách nguyên vẹn vùng sa mạc nguy hiểm nằm giữa Clarcsville và Borowina, bằng cách nào những tên kẻ cướp vùng thảo nguyên không phá nát nó, tại sao những người da đỏ, những kẻ thường đi lang thang thành từng nhóm nhỏ nhiều khi rất gần Clarcsville lại không dùng dao mổ chặt đầu ông Grunmanski, đó là bí mật của ông ta, chỉ biết là ông ta đã đến đây và ngay ngày hôm đó đã bắt tay vào công việc làm ăn tốt đẹp. Nhưng cũng chính ngày hôm đó những người lập trại ấp bắt đầu cãi nhau. Cùng với hàng ngàn chuyện mâu thuẫn về phân chia đất đai, công cụ, về đàn cừu, về vị trí bên cạnh đống lửa, đã xảy ra những lí do thật sự vớ vẩn. Tự nhiên trong đám người lập trại ấp lại thức tỉnh một thứ tình cảm yêu nước hẹp hòi kiểu Mĩ. Những kẻ xuất thân từ các bang phía bắc bắt đầu ca tụng nơi ở trước đây của mình, coi thường những kẻ lập trang trại đến từ phương nam và ngược lại. Lúc bấy giờ có thể nghe thấy thứ tiếng Ba Lan kiểu Bắc Mĩ, pha trộn với những âm ngữ tiếng Anh, phát sinh ra do sự tách biệt lâu ngày với quê hương và sống giữa những người xa lạ.
- Chúng bay ca tụng mảnh đất phương nam của mình làm gì - người đến từ Chicago nói. - Ở chỗ chúng tao, ở Illinois, chỉ cần nhìn ra ngoài đã là cánh đồng lúa mì, còn đi xe lửa một dặm, thì gặp city *. Mày về nông thôn, muốn dựng nhà chẳng cần phải chặt rừng, chỉ cần mua gỗ tròn là được, còn ở chỗ bọn bay thì sao?
city (nguyên văn tiếng Anh): thành phố (ND).
- Ở chỗ chúng tao một hẻm núi còn có giá trị hơn cả cánh rừng gỗ của bọn bay.
- Mày, đồ thổ tả, sao gây sự với tao? Ở đó tao là ngài, ở đây tao cũng vẫn là ngài, còn mày là thằng nào?
- Câm miệng lại, tao sẽ cầm gậy nện, hoặc ấn đầu mày xuống suối, khi mày còn cáu giận. Không biết mày đến gặp tao vì chuyện gì?
- Mày coi thường tao à? Tao coi mày chẳng ra gì đâu!
•••
Trong đám dân cư đúng là đã xảy ra chuyện tồi tệ, vì cộng đồng đó giống như một bầy cừu không người chăn dắt. Những mâu thuẫn về phân chia đất đai ngày càng trở nên gay gắt. Đã xảy ra các cuộc đánh lộn, trong đó những người xuất phát từ thành phố hoặc làng xã này đứng lên chống những kẻ đến từ nơi khác. Những người giàu kinh nghiệm hơn, có tuổi và thông minh hơn, đúng ra là dần dần đã giành được sự nể trọng và quyền lực, nhưng không phải lúc nào họ cũng giữ vững được chúng trong tay. Chỉ trong những giây phút nguy hiểm thì bản năng tự vệ chung mới buộc người ta phải quên các mâu thuẫn. Một lần, vào buổi tối khi một toán giang hồ người da đỏ ăn trộm mười mấy con cừu thì những người nông dân cùng lao vào trận rượt đuổi, không cần giây phút đắn đo. Đàn cừu giành lại được, một gã mũi đỏ bị nện nhừ tử đến mức sau đó không lâu đã chết và sự đồng thuận đẹp đẽ nhất đã diễn ra ngày hôm đó, nhưng đến sáng hôm sau người ta lại bắt đầu đánh đấm nhau khi vỡ hoang. Sự hòa thuận cũng đã hình thành, khi tối tối người chơi nhạc bắt đầu chơi điệu không phải nhạc nhảy, mà là các bài hát khác nhau mà mỗi người đều đã từng nghe từ thời xa xưa, từ những ngày còn sống dưới mái nhà tranh. Những cuộc chuyện trò lúc đó bỗng nhỏ hẳn lại. Những người nông dân đứng bao quanh người chơi nhạc, tiếng ầm ào của rừng cây hòa đệm với người chơi, ngọn lửa trong các đống lửa phun ra phì phì và bắn ra những tia lửa nhỏ, còn họ thì vừa đứng vừa cúi đầu buồn bã và tâm hồn họ bay về phía bên kia biển cả. Nhiều khi vầng trăng đã dâng lên cao bên trên rừng cây mà họ vẫn còn nghe. Nhưng ngoài những giây phút ngắn ngủi đó ra, trong đám dân lập ấp trại mọi sự càng ngày càng trở nên tồi tệ. Sự lộn xộn ngày càng lớn, sự thù hận dâng trào. Đó là một xã hội thu nhỏ, bị bỏ rơi giữa rừng, gần như tách biệt hẳn với những người còn lại và bị những kẻ dẫn đường bỏ mặc, đám người đó không thể và không biết cách xoay xở.
Giữa đám người lập trại ấp ấy chúng ta gặp lại những nhân vật quen thuộc của chúng ta: ông nông dân già tên là Wawrzon Toporek và con gái lão Marysia. Sau khi đến Arkansas, tại Borowina họ cùng chia sẻ số phận với những người khác. Có lẽ lúc đầu họ gặp may mắn hơn. Đã là rừng cây thì không giống như con đường đá lát ở New York, hơn nữa tại đó họ không có gì, còn ở đây họ có cỗ xe, có một số vật nuôi mua rẻ được ở Clarcsville và một ít dụng cụ dùng để làm ruộng. Ở chỗ kia nỗi nhớ kinh hoàng hành hạ họ, ở đây công việc nặng nhọc không cho phép họ nghĩ đến gì khác ngoài chuyện ngày hôm nay. Người nông dân già từ sáng sớm đến tối mịt chặt rừng, lột vỏ cây và đẵn gỗ về làm nhà; cô con gái phải giặt ở suối, nhóm bếp, nấu ăn; nhưng mặc dù công việc cực nhọc, hoạt động và không khí rừng cây đã dần dần xóa sạch những dấu vết bệnh tật trên khuôn mặt mà cô mắc phải vì nghèo khổ ở New York. Làn gió nóng từ Texas đã làm da cô rám nắng và phủ một lớp lóng lánh vàng lên khuôn mặt nhợt nhạt của cô. Các chàng trai đến từ Sant-Antonio và từ vùng hồ lớn, những kẻ thỉnh thoảng lại xòe nắm đấm nhảy đến đánh nhau, chỉ thống nhất được với nhau ở một điểm là đôi mắt Marysia ngước nhìn lên từ dưới hàng mi sáng long lanh trông giống như đóa hoa đồng nội từ ruộng lúa mạch đen và đó là cô gái đẹp nhất mà mắt con người thấy được trên thế gian, sắc đẹp của Marysia cũng làm cho cả lão Wawrzon gặp thuận lợi. Bản thân lão đã chọn cho mình mảnh rừng thưa nhất và không ai chống lại lão, bởi tất cả các chàng trai đều đứng về phía lão. Nhiều người còn chặt cây cho lão và đẵn gỗ về làm nhà hoặc giúp lão làm hàng rào, còn ông già, vì vốn thông minh, biết chuyện gì xảy ra và thinh thoảng lại lên tiếng:
- Con gái tôi đi lại trên đồng chẳng khác nào đóa hoa huệ trắng, chẳng khác nào bà chủ, chẳng khác nào nàng công chúa. Tôi thích ai thì tôi sẽ gả cho kẻ đó, nhưng không phải ai tôi cũng ưng, vì nó là con gái một ông chủ. Ai cúi đầu thấp hơn và ngoan ngoãn hơn thì tôi gả cho kẻ ấy, không phải cho bất cứ kẻ lang thang nào đâu nhé.
Vậy thì ai giúp lão đều nghĩ là giúp đỡ chính mình.
Vì vậy, lão Wawrzon gặp thuận lợi hơn hẳn những người khác, và nói chung là lẽ ra lão hoàn toàn cảm thấy tốt đẹp, giá như đám người lập trại ấp ấy có tương lai sáng sủa ở phía trước. Nhưng ở đó, càng ngày tình hình càng tỏ ra tồi tệ hơn. Tuần đầu rồi tuần thứ hai trôi qua. Xung quanh khu rừng thưa người ta đã đẵn cây, mặt đất đã phủ mùn cưa, đây đó đã dựng lên những mảnh tường vàng; song cái mà mọi người làm được không thấm vào đâu so với những điều phải làm. Bức tường xanh của rừng chỉ lùi bước một cách chậm chạp trước những cây rìu. Đám người dấn sâu vào rừng rậm đã mang về những tin tức rất kì lạ, rằng khu rừng này hoàn toàn không có lối ra, rằng phía sau nó toàn là các bãi lầy kinh hoàng, là các hồ nước và mặt nước mơ màng dưới các hàng cây, rằng có những con quái vật sống ở đấy, những làn sương mù hình dáng như ma quỷ chuyển dịch giữa các bụi rậm, những con rắn phun phì phì, những tiếng nói nào đó vang lên: “Đừng có đến gần!”, những cây gai kì lạ cứ bám chặt vào quần áo không chịu buông ra. Một chàng trai đến từ Chicago còn nói là đã nhìn thấy quỷ hiện hình trước mắt, trông nó thật khủng khiếp, cái đầu lông lá ngẩng lên từ trong bùn và thổi phù phù vào hắn khiến hắn chỉ biết chạy trốn về đến trại. Đám người lập trại ấp đến từ Texas đã giải thích cho hắn rằng chắc hẳn đó là một con trâu rừng, nhưng hắn không chịu tin. Lại có thêm một điều mê tín dị đoan làm tăng tình trạng đáng sợ ấy. Vài ngày sau khi nhìn thấy con quỷ lại có chuyện khác xảy ra, đó là việc hai người can đảm đi vào rừng và sau đó không ai nhìn thấy họ nữa. Vài người bị ốm do làm việc quá sức, còn sau đó thì bệnh sốt rét tấn công họ. Những cuộc cãi cọ về việc phân chia đất đai tăng lên đến mức đã xảy ra những trận chiến đổ máu và có người bị thương. Ai không đánh dấu bò của mình thì những người khác không đứng ra làm chứng về quyền sở hữu cho họ. Doanh trại rạn nứt, người ta đặt các cỗ xe ở mọi ngóc ngách của khu rừng thưa để tách biệt hẳn với nhau càng xa càng tốt. Không biết ai đi canh gác trông nom đàn gia súc; đàn cừu bắt đầu bị mất. Trong khi đó, một vấn đề ngày càng trở nên rõ ràng hơn, đó là trước khi mặt trời mọc, sương mù tan; trước khi mầm gieo ở mép rừng bắt đầu mọc lên xanh tốt và cho thu hoạch thì dự trữ lương thực dần cạn kiệt và có thể dẫn tới nạn đói.
Sự tuyệt vọng bao trùm lên mọi người. Tiếng vang của rìu bổ cây trong rừng yếu đi, họ bắt đầu thiếu sự kiên nhẫn và lòng can đảm. Mỗi người có lẽ đều sẽ làm việc tiếp, nếu như ai đó nói với hắn ta rằng: “Đến đây là phần đất của anh.” Nhưng không ai biết chỗ nào của mình, chỗ nào không phải của mình. Những lời kêu ca oán trách bọn người dẫn đường tăng lên. Mọi người nói là đã bị đưa vào rừng sâu vứt bỏ để chết một cách vô ích. Dần dần, những ai còn có đồng tiền cuối cùng đều đã lên xe đi về Clarcsville. Nhưng đa số mọi người đều đã bỏ đồng xu cuối cùng vào vụ này, không còn gì để trở về nơi ở cũ. Những kẻ đó buông tay bất lực, biết chắc rằng mình đã thất bại.
Cuối cùng rồi những chiếc rìu cũng thôi không chặt cây nữa, còn rừng vẫn ầm ào, giống như đang nhạo báng trước sự bất lực của con người. “Hãy cứ chặt cây hai năm đi, để sau đó chết đói,” người này nói với người kia. Còn rừng thì vẫn rì rầm như đang nhạo báng.
Một buổi tối, lão Wawrzon đến chỗ Marysia và nói:
- Bố thấy rằng tất cả ở đây sẽ chết mòn mỏi và chúng ta cũng sẽ chết.
- Đó là ý Chúa, - cô gái đáp - nhưng Người đã từng nhân từ với bố con ta thì giờ đây Người cũng sẽ không bỏ rơi chúng ta.
Nói như vậy, cô ngước cặp mắt như đóa hoa đồng nội nhìn lên các vì sao và trong ánh sáng bập bùng của ngọn lửa trông cô như bức tranh thánh ở nhà thờ.
Còn các chàng trai đến từ Chicago và đám thợ săn vùng Texas khi nhìn cô đều nói:
- Và cả chúng tôi nữa sẽ không bỏ rơi em đâu, Marysia ơi, hỡi tia nắng bình minh đỏ thắm.
Cô gái nghĩ thầm rằng chỉ có một người như vậy, một người mà cô sẵn sàng cùng đi đến tận cùng trời cuối đất, chỉ một mình Jasko ở Lipince mà thôi. Nhưng người đó, mặc dù đã từng thề nguyện biến thành con vịt bơi vượt biển theo cô, thành con chim bay trên không trung, thành chiếc vòng vàng lăn trên đường làng, đã không bơi đến, không bay đến và chỉ một mình anh ta đã bỏ rơi cô, người con gái khốn khổ.
Marysia không thể không biết rằng trong trại ấp đang xảy ra những điều tồi tệ, nhưng cô đã từng rơi vào vực sâu như vậy, và Chúa đã cứu vớt cô từ vực sâu thẳm ấy, trong rủi ro, tâm hồn cô trở nên trong sáng đến mức lòng tin vào sự trợ giúp của thiên thần không ai có thể tước đi của cô được.
Hơn nữa, cô cũng nhớ lại rằng ông già ở New York, người đã giúp đỡ bố con cô thoát cảnh đói nghèo và đến được tới đây, đã trao cho cô tờ giấy của mình và nói rằng, khi cô gặp rủi ro thì hãy đến nhờ vả ông, ông sẽ luôn luôn cứu giúp cô.
Trong khi đó, đối với cư dân trại ấp mỗi ngày mới lại mang đến tai họa lớn hơn. Người ta chạy trốn khỏi nó đêm đêm và điều xảy ra đối với họ thì thật khó nói ra. Xung quanh họ, rừng vẫn rì rầm và vẫn nhạo báng.
Ông già Wawrzon cuối cùng cũng ốm do làm việc quá sức. Sau mỗi lần tụng kinh, cái đau lại hành hạ lão. Hai ngày đầu, lão không để ý đến nó, ngày thứ ba lão không ngồi dậy nổi. Cô con gái đi vào rừng lượm rêu trát lên những bức tường nhà đã hoàn thành, đang để trên bãi cỏ, cô đặt ông bố nằm trên rêu và nấu thuốc pha với rượu vodka cho ông.
- Marysia ơi! - Người đàn ông thì thầm - Cái chết đang luồn qua rừng đến với bố; con ở lại một mình trên thế gian này, ơi con gái mồ côi. Chúa bắt bố phải chịu tội vì những lỗi lầm của mình, vì bố đã dẫn con xuống biển và để mất con. Những phút giây hấp hối của bố thật nặng nề...
- Bố ơi! - Cô gái đáp - Chúa có lẽ sẽ trừng phạt con, nếu như con không cùng đi với bố.
- Bố không muốn để con lại một mình đâu, giá như được ban phúc lành cho con nhân ngày cưới thì bố chết cũng dễ dàng hơn. Marysia ơi, con hãy lấy cậu Đại Bàng Đen làm chồng đi: hắn là một nông dân tốt, hắn sẽ không rời bỏ con đâu.
Đại Bàng Đen, chàng thợ săn nổi tiếng đến từ Texas, nghe đến đó ngay lập tức quỳ xuống.
- Bố ơi! Bố hãy ban phước lành đi. - Hắn nói - Con yêu thương cô gái này như số phận mình. Con biết về rừng cây và sẽ không để cô ấy phải chết đâu.
Nói xong, với đôi mắt đại bàng, hắn nhìn lên Marysia như nhìn vào vầng cầu vồng, song cô gái, sau khi cúi mình sát chân ông già liền lên tiếng:
- Đừng ép buộc con, bố ơi! Con đã thề nguyền với ai thì con sẽ là của người ấy hoặc sẽ chẳng của ai.
- Em thề nguyền với ai, thì sẽ không thuộc về người đó, vì ta sẽ giết chết hắn. Em phải là của ta hoặc sẽ không là của ai. - Đại Bàng Đen lên tiếng - Ở đây tất cả sẽ chết mòn mỏi, kể cả em cũng sẽ chết mòn mỏi, nếu như ta không cứu giúp em.
Đại Bàng Đen không lầm: trại ấp đã chết dần chết mòn. Lại một tuần nữa, rồi tuần tiếp theo trôi qua. Dự trữ lương thực cạn kiệt. Người ta bắt đầu giết thịt đàn bò dùng làm sức kéo. Bệnh sốt rét cướp đi ngày càng nhiều nạn nhân mới, mọi người bắt đầu nguyền rủa rừng già, rồi lớn tiếng kêu trời đến cứu. Một ngày Chủ nhật, những người già cả, đám đàn ông, đàn bà và trẻ con, tất cả đều quỳ trên nền nhà và hát những lời khẩn nguyện. Hàng trăm giọng nói cùng lặp đi lặp lại: “Ơi Chúa trời, ơi Đức thánh vạn năng, Đức thánh bất tử, hãy thương xót chúng con!” Rừng cây ngừng đung đưa, không rì rào nữa và lắng nghe. Khi bài hát chấm dứt, rừng lại lên tiếng ầm ào, như nói một cách dữ tợn: “Ta ở đây là chúa tể, ta ở đây là chủ nhân, ta ở đây là mạnh nhất.”
Nhưng Đại Bàng Đen, kẻ am hiểu về rừng, lại ngước cặp mắt của mình nhìn chằm chặp vào đó, nhìn với vẻ đặc biệt lạ lùng, sau đó lớn tiếng:
- Thế à, thế thì hãy giữ lấy xương vai.
Mọi người lần này đều nhìn vào Đại Bàng Đen và một sự khích lệ xuất hiện trong tim họ. Những kẻ đã biết hắn từ hồi còn ở Texas thì có lòng tin lớn đối với hắn, vì đó là thợ săn nổi tiếng gần như toàn xứ Texas. Đó là người đàn ông thực sự hoang dã trên thảo nguyên và mạnh mẽ như cây sồi. Hắn dám một mình đi săn gấu. Tại Sant-Antonio, nơi trước đây hắn sinh sống, người ta biết rất rõ rằng, khi cầm cây súng trên tay đi vào sa mạc, chỉ vài tháng trong nhà không thấy mặt hắn, nhưng khi về hắn luôn khỏe mạnh và nguyên vẹn. Người ta gọi hắn là Đen, do làn da cháy nắng. Người ta thậm chí còn nói về hắn rằng trên vùng biên giới Mexico hắn đã làm loạn, nhưng điều đó không đúng với sự thật. Hắn chỉ mang da thú về, và đôi khi cả các mảng da đầu của bọn người da đỏ, cho đến khi cha xứ quản hạt địa phương không đe dọa đuổi hắn ra khỏi Giáo hội vì chuyện đó. Bây giờ, ở Borowina chỉ có hắn là không quan tâm đến chuyện gì và không thèm chú ý đến điều gì. Rừng cung cấp cho hắn cái ăn thức uống, rừng cho hắn cái mặc. Vì vậy, khi mọi người bắt đầu chạy trốn và mất tinh thần thì hắn bắt đầu nắm mọi việc trong tay và cầm quyền cai trị, giống như con ngỗng xám trên bầu trời, khi có cả đám người từ Texas đứng sau mình. Khi mọi người khẩn cầu rừng già, người ta thầm nghĩ rằng: “Chắc chắn hắn sẽ nghĩ ra được điều gì đó.”
Mặt trời lặn. Từ trên cao, len lỏi qua những tán lá hồng đào đen ngòm một chút ánh vàng còn phản chiếu xuống đất, sau đó tối dần lại và tắt lịm. Gió thổi về phương nam, trời đen kịt lại. Đại Bàng Đen cầm súng trong tay và đi vào rừng.
Màn đêm đã buông xuống, ở phía rừng xa mọi người nhìn thấy như có ngôi sao cực lớn màu vàng, giống như ánh bình minh đang lên hoặc như mặt trời đang phình ra với tốc độ nhanh khủng khiếp, gieo thứ ánh sáng đỏ thắm như máu xuống khắp mọi nơi.
- Cháy rừng! Cháy rừng rồi! - Người ta bắt đầu hô hoán trong doanh trại.
Hàng đàn chim chóc bay lên với tiếng động ầm ầm từ khắp mọi phía của khu rừng, chúng vừa kêu, vừa rít, vừa hót. Đàn bò trong trại bắt đầu rống lên thảm thiết, chó sủa ầm ĩ, mọi người hoảng sợ chạy tán loạn, chẳng biết liệu đám cháy có lan tới chỗ họ hay không, nhưng gió nam thổi mạnh chỉ có thể lùa ngọn lửa từ phía rừng thưa đi chỗ khác. Ở phía xa lại bừng lên ngôi sao đỏ thứ hai, sau đó là ngôi sao thứ ba. Rồi cả hai ngôi sao hòa nhập với ngôi sao thứ nhất và đám cháy gầm thét trên không gian mỗi lúc một lớn hơn. Ngọn lửa tràn ra như nước, cháy lan ra các nhành dây leo khô héo và những cây nho dại, làm cành lá rung chuyển. Gió lốc bứng đám lá đang cháy, đưa chúng bay như những con chim lửa xa dần, xa dần.
Trong ngọn lửa, những cây hồ đào nứt toác ra với tiếng nổ như tiếng đại bác. Những con rắn lửa bò lượn khắp cánh rừng đầy cây cối. Tiếng phì phì, tiếng ồn ào, tiếng cành cây gãy, tiếng gầm thét của ngọn lửa cùng với tiếng kêu náo loạn của chim muông và tiếng rú gào của các con thú ngập đầy không trung. Những cây cao ngất ngưởng run lên bần bật không khác gì cây cột gỗ hoặc cột nhà cháy. Các chùm dây leo chằng chịt văng ra khỏi cây và vừa chòng chành khủng khiếp không khác gì bả vai quỷ dữ vừa truyền những tia lửa và ngọn lửa từ cây này sang cây kia.
Bầu trời trở nên đỏ thắm, cứ như một đám cháy thứ hai xuất hiện trong đó. Trời trở nên sáng như ban ngày. Sau đó, mọi ngọn lửa đều hòa nhập với nhau tạo thành biển lửa và tràn qua khu rừng giống như hơi thở của Thần Chết hoặc sự nổi giận của Chúa.
Khói, sức nóng và mùi cháy khét lẹt tràn ngập khắp không trung. Mọi người trong doanh trại, mặc dù không gặp nguy hiểm, vẫn kêu to và gọi nhau í ới, bỗng nhiên từ phía đám cháy, trong cảnh hỗn loạn và ánh lửa xuất hiện gã Đại Bàng Đen.
Mặt hắn phủ đầy khói và trông rất dữ tợn. Khi mọi người đứng vây thành vòng tròn xung quanh hắn, hắn tựa người vào khẩu súng trường và nói:
- Các người không cần chặt cây nữa. Tôi đã đốt rừng. Ngày mai, các người sẽ có các cánh đồng từ phía bên này, muốn bao nhiêu thì lấy chừng ấy.
Sau đó tiến đến sát Marysia, hắn nói:
- Em phải là của ta, ta chính là người đã đốt rừng. Ai ở đây mạnh hơn ta cơ chứ?
Cô gái bắt đầu run rẩy toàn thân, vì ánh hồng chiếu vào mắt Đại Bàng Đen và cả người hắn hiện lên thật dữ tợn đối với cô.
Lần đầu tiên kể từ giây phút đến đây, cô đã cảm ơn Chúa vì Jasko ở cách xa, tít tận Lipince.
Đám cháy đang rời đi mỗi lúc một xa; ngày hiện ra đầy mây và dự báo trời sẽ mưa. Buổi sáng, một số người đã đi xem chỗ cháy, nhưng không thể đến gần vì sức nóng.
Ngày thứ hai, những đám bụi khí hình hạt sương treo lơ lửng giữa không trung khiến người này không nhìn rõ người kia ở khoảng cách mười mấy bước chân. Ban đêm bắt đầu có mưa, rồi nhanh chóng biến thành cơn mưa tầm tã. Có lẽ vì đám cháy đã nung nóng bầu khí quyển dẫn đến việc xua đuổi những đám mây, nhưng ngoài lí do đó ra thì lúc bấy giờ đang là mùa xuân, trong thời gian này ở hạ lưu sông Mississippi, cũng như ở ngã ba sông Arkansas và sông Đỏ thường có những cơn mưa lớn đổ xuống. Dẫn đến tình trạng đó còn phải kể đến cả việc nước bốc hơi, mà ở Arkansas, do bao phủ đầy mặt đất dưới dạng đầm lầy, hồ nhỏ và các dòng suối, nước phình ra vào mùa xuân vì tuyết tan trên các ngọn núi xa. Khắp vùng rừng thưa, đất mềm nhũn hẳn ra và dần dần tạo thành ao cá rộng mênh mông. Mọi người ướt lướt thướt nhiều ngày bắt đầu đổ bệnh. Một số người lại rời khỏi đám dân cư, muốn đi đến Clarcsville, nhưng sau đó không lâu lại quay trở về, mang theo tin là nước sông dâng cao và đường đi đã bị cản trở. Tình hình trở nên khủng khiếp, kể từ ngày những người mới quay trở lại đã một tháng trôi qua, lương thực dự trữ đã cạn, còn lượng hàng mới từ Clarcsville thì không thể đưa đến được.
Chỉ riêng lão Wawrzon và Marysia là ít bị cái đói đe dọa so với người khác, bởi đã có bàn tay mạnh mẽ của Đại Bàng Đen chăm sóc họ. Hằng ngày, sáng sớm hắn mang đến cho họ thịt thú rừng do hắn săn bắn hoặc đánh bẫy; bên tấm tường nhà, nơi lão Wawrzon nằm, Đại Bàng Đen đặt lều của mình để bảo vệ ông già và Marysia khỏi bị mưa gió. Cần phải tiếp nhận sự giúp đỡ của hắn, sự giúp đỡ gần như buộc phải nhận và chỉ phải tỏ lòng biết ơn, vì hắn không nhận tiền công, hắn chỉ muốn lấy Marysia làm vợ thôi.
- Tôi có phải là người con gái duy nhất trên thế gian này đâu cơ chứ? - Cô gái từ chối - Anh hãy đi đi, hãy tìm người con gái khác, bởi vì tôi thương yêu người khác.
Nhưng Đại Bàng Đen trả lời:
- Dù ta có đi đến chân trời cuối đất cũng không tìm thấy người thứ hai như em. Với ta, em là người duy nhất trên thế gian này và em phải là của ta. Em sẽ làm gì nếu ông già chết đi? Em sẽ đến với ta, tự em sẽ đến với ta, còn ta sẽ vồ lấy em như con sói vồ cừu non, mang em vào rừng, nhưng ta sẽ không ăn thịt em ngấu nghiến. Em là của ta! Em là người duy nhất! Ai phản đối ta điều đó? Ở đây ta sợ ai? Cứ để tên Jasko của em đến đây xem: ta muốn điều đó!
Với lão Wawrzon, Đại Bàng Đen tỏ ra ngoan ngoãn. Ông già bệnh mỗi ngày một nặng hơn, nhiều khi nóng hầm hập, lão thường nói về những tội lỗi của mình, về Lipince và về chuyện Chúa không cho phép lão về thăm lại nơi đó. Nước mắt Marysia tuôn chảy vì thương lão và thương cả mình. Việc Đại Bàng Đen hứa với cô là chỉ cần lấy hắn thì thậm chí hắn sẽ cùng cô quay về Lipince, đối với cô đó là nỗi đắng cay, không phải niềm vui. Trở về Lipince, nơi có Jasko và trở về là người đàn bà của người khác - không đời nào! Tốt hơn hết là chết ở đây, dưới bất cứ gốc cây nào cũng được. Cô nghĩ rằng mình sẽ chết như vậy.
Trong khi đó, điều bất hạnh mới lại đổ ập xuống ấp trại.
Mưa càng ngày càng lớn. Một đêm thanh vắng, khi Đại Bàng Đen đã đi vào rừng như mọi bữa, trong doanh trại bỗng nổi lên tiếng thét thảng thốt:
- Nước! Nước!
Khi mọi người giụi mắt tỉnh ngủ thì đã nhìn thấy ngút tầm mắt trong màn đêm một mặt phẳng trắng phau sủi bọt dưới làn mưa và chòng chành trong gió. Ánh sáng mờ ảo giữa đêm đen chiếu chập chờn trên những đợt sóng lăn tăn. Từ phía bờ, nơi những thân cây nhô ra và từ phía rừng đã cháy trụi nghe thấy rõ tiếng ầm ào và tiếng sóng vỗ của những làn nước đang chảy đến với tốc độ kinh hoàng.
Tiếng kêu thét nổi lên khắp doanh trại. Đàn bà và trẻ con bắt đầu ẩn nấp sau các cỗ xe, đàn ông thì chạy thục mạng đến phía tây khu rừng thưa, nơi cây cối không bị đẵn. Nước chỉ ngập đến đầu gối họ, nhưng dâng lên rất nhanh. Tiếng ầm ào từ phía rừng cây lớn dần lên và hòa lẫn với tiếng gào thét lo sợ, tiếng gọi nhau í ới và lời cầu xin cứu giúp. Sau đó không lâu, những gia súc lớn bắt đầu rút lui dần từ chỗ nọ sang chỗ kia trước sự tấn công của những con sóng lớn. Rõ ràng là độ mãnh liệt của dòng chảy mỗi lúc một tăng lên. Những con cừu trôi lềnh bềnh và kêu thảm thiết mong chờ cứu giúp cho đến khi mất hút vì bị cuốn trôi về phía rừng cây. Mưa đổ ào ạt từ trên trời xuống và càng lúc càng trở nên khủng khiếp. Tiếng rì rào từ xa vẳng đến đã biến thành tiếng ồn ào lớn và tiếng gầm thét của những đợt sóng dữ tợn. Các cỗ xe bắt đầu run rẩy dưới làn mưa lớn. Rõ ràng đó không phải là một cơn mưa thông thường, mà là do con sông Arkansas cùng mọi nhánh của nó đang đổ nước ra. Đó là cơn đại hồng thủy lật tung cây cối cùng cả gốc rễ, phá tan rừng, gieo rắc sự khủng khiếp, tạo nên tai ương, màn đêm và chết chóc.
Một trong các cỗ xe đứng gần khu rừng cháy nhất đã bị lật nhào. Nghe tiếng thét: “Cứu tôi với!” của những người đàn bà bị kẹt trong đó, vài người đàn ông từ phía rừng cây bổ nhào đến, nhưng sóng nước đã cuốn trôi những người đi cứu, xoay tròn và đưa họ vào rừng mất hút. Trên các cỗ xe khác, người ta bám lấy lớp mái vải thô. Mưa càng lúc càng lớn, màn đêm đổ xuống cánh đồng ướt đẫm càng lúc càng dày đặc. Đôi khi một thùng phi nào đó có người bám vào trôi lềnh bềnh, lúc dâng lên cao, lúc hạ xuống thấp, đôi khi bóng đen của một con vật hoặc con người xuất hiện, thỉnh thoảng từ dưới nước một cánh tay giơ lên cao, rồi chìm nghỉm trong đó mãi mãi.
Tiếng gầm thét của nước càng lúc càng hung hãn hơn đã đánh át mọi thứ, cả tiếng kêu của các con vật bị cuốn chìm, cả tiếng gọi: “Jesus! Jesus! Maria!” Trên đồng cỏ hình thành nên những chỗ nước xoáy và những vòng tròn, các cỗ xe biến mất...
Còn lão Wawrzon và Marysia thì sao? Tường nhà, trên đó ông già nằm, đặt phía dưới lều của Đại Bàng Đen đã tạm thời cứu thoát họ, vì nó trôi như một chiếc mảng. Sóng vần nó quay tròn quanh khu rừng thưa và đưa nó trôi về phía rừng, tại đó nó đập vào cây thứ nhất, rồi cây thứ hai và cuối cùng bị đẩy vào một dòng nước, trôi về phía xa và mất hút trong màn đêm.
Cô gái quỳ bên cạnh người cha, giơ đôi tay lên trời kêu cứu; nhưng chỉ có tiếng đập của những đợt sóng dưới làn mưa gió phũ phàng đáp lại cô...
Chiếc lều bị hất văng ra... và ngay cả chiếc mảng cũng có thể bị vỡ tan tành bất cứ giây phút nào, cả phía trước lẫn phía sau nó có những thân cây bị bấng ra từ các cây cối bật gốc trôi lềnh bềnh và chúng có thể đè bẹp hoặc làm mảng nát tan.
Cuối cùng, chiếc mảng trôi vào và mắc kẹt giữa các cành của một cái cây, mà cây đó chỉ còn nhìn thấy chỏm nổi lên trên mặt nước, nhưng chính trong giây phút ấy từ chỏm cây có tiếng người vọng đến:
- Hãy cầm lấy khẩu súng và di chuyển sang phía bên kia, để mảng khỏi bị lật nhào, tôi nhảy sang đó...
Ông già Wawrzon và cô gái vừa kịp làm theo lệnh đó thì một bóng người đã từ trên cành cây nhảy xuống mảng.
Đó là Đại Bàng Đen.
- Marysia ơi! - Hắn nói - Như ta đã nói với em, ta sẽ không rời bỏ em đâu. Thề có Chúa! Ta sẽ dẫn em thoát khỏi vực thẳm này.
Bằng chiếc rìu có sẵn ở bên mình, hắn đẵn từ trên cây một cành thẳng, vót nó trong chớp mắt, sau đó đẩy chiếc mảng thoát ra khỏi đám cành cây và bắt đầu chèo lái.
Sau khi đã ra được làn nước thích hợp, họ bơi nhanh như tên bắn. Đi đâu? Không biết, nhưng cứ bơi. Thỉnh thoảng, Đại Bàng Đen lại đẩy các thân cây, cành lá hoặc lái chiếc mảng để tránh cây đứng chắn. Sức khỏe siêu phàm của hắn như tăng lên gấp bội. Trong đêm tối, mắt hắn vẫn phát hiện ra từng mối hiểm nguy. Hết giờ này đến giờ khác trôi qua. Người khác có lẽ đã kiệt sức, song qua nét mặt hắn thậm chí không nhận thấy sự mệt mỏi. Trước khi trời sáng, họ đã vượt ra khỏi khu rừng, vì cho đến tận cuối đường chân trời không còn nhìn thấy bất kì ngọn cây nào cả. Thay vào đó là cả một vùng trông như biển mênh mông. Những chỗ xoáy khủng khiếp của dòng nước đục ngầu và sủi bọt réo lên vang rền khắp mặt đất trống không. Ánh sáng bắt đầu lộ diện càng lúc càng rõ nét. Đại Bàng Đen biết rằng không còn bất kì thân cây nào ở gần đó nữa, thôi không chèo mảng và quay lại phía Marysia lên tiếng:
- Giờ đây em là của ta, vì ta đã giằng em ra khỏi cái chết.
Đầu hắn để trần, còn khuôn mặt thì ướt nhèm và đỏ au vì mồ hôi, nóng rực bởi cuộc vật lộn với trận lũ, thể hiện một sức mạnh khiến cho Marysia lần đầu tiên không dám trả lời lại hắn là sẽ lấy người khác.
- Marysia ơi! - Chàng trai mềm mỏng lên tiếng - Marysia thân yêu ơi!
- Chúng ta sẽ bơi đi đâu? - Cô gái hỏi vì muốn chuyển đề tài câu chuyện.
- Đối với ta chuyện ấy có gì đâu! Miễn là được ở bên em... người yêu dấu...
- Hãy chèo lái khi cái chết vẫn rình rập chúng ta ở phía trước.
Đại Bàng Đen lại chèo lái. Trong khi đó, lão Wawrzon cảm thấy càng lúc càng thêm tồi tệ. Chốc chốc lão lại bị nóng, đôi lúc cơn sốt dừng, nhưng lão đã yếu lắm rồi. Đã xảy ra quá nhiều chuyện đau đớn đối với thân xác già nua, kiệt quệ của lão. Giờ phút tận số và an nghỉ cuối cùng, nỗi khuây khỏa vĩnh hằng đã đến. Giữa buổi trưa, lão tỉnh dậy và lên tiếng:
- Marysia ơi! Bố không thể chờ được ngày mai. Ôi, con gái, con gái nhỏ! Giá như ta không đi khỏi Lipince và không mang con theo cùng thì tốt biết bao. Nhưng Chúa có lòng từ bi! Ta đã chịu đựng nhiều rồi, vì thế Chúa đã tha tội cho ta. Hãy chôn ta nếu như các người có thể, còn con thì Đại Bàng Đen hãy dẫn đưa về chỗ ông già ở New York. Đó là một người tốt, ông ấy sẽ thương hại con và cho con tiền đi đường, con sẽ trở về Lipince. Ta không về được nữa. Ôi Chúa ơi, Chúa từ bi ơi, cho phép linh hồn con giống như cánh chim bay về nơi đó, dù chỉ để nhìn thấy nó thôi!
Đến đây cơn sốt nóng đã chiếm lĩnh toàn thân, lão bắt đầu nói: “Chúng con chạy khỏi sự bảo trợ của Người, hỡi Chúa kính yêu!” Rồi bỗng nhiên lão thét: “Đừng vứt ta xuống nước, bởi ta không phải là chó”; còn sau đó rõ ràng là lão đã nhớ lại mình định dìm chết Marysia vì đói nghèo như thế nào, vì lão lại hô hoán: “Con ơi, buông tay ra! Buông tay ra!”
Cô gái khốn khổ nằm ở đầu mảng, nước mắt đầm đìa... Đại Bàng Đen vẫn chèo lái và cố kìm nén nước mắt vào trong cuống họng...
Trời trở nên hiền hòa. Trong hoàng hôn, mặt trời đã xuất hiện phía bên trên vùng ngập nước và tạo thành một dải sáng vàng thẫm rất dài phản chiếu trên mặt nước. Ông già bắt đầu hấp hối. Nhưng Chúa đã thương tình lão và ban cho lão một cái chết êm dịu. Lúc đầu, lão thường nhắc lại bằng giọng ai oán: “Tôi đã rời khỏi Ba Lan, rời khỏi mảnh đất ấy”, nhưng sau đó trong lúc mê man vì cơn sốt nóng, lão tưởng như mình đã về lại quê hương. Thì đây, lão như nhìn thấy rằng ông già ở New York đã cho tiền lão về và mua lại đất đai, vì vậy cả lão và Marysia đang trên đường trở về. Họ đang có mặt trên đại dương, con tàu đang bơi ngày đêm, những người thủy thủ đang ca hát. Sau đó, lão nhìn thấy cảng ở Hamburg, từ đó lão ra đi, những thành phố khác nhau lần lượt lướt qua trong mắt lão, giọng nói tiếng Đức vang lên xung quanh, nhưng con tàu bay thẳng về phía trước, vì vậy lão Wawrzon cảm thấy rằng mình càng lúc càng tiến về gần nhà hơn, một niềm vui cháy bùng lên trong lồng ngực lão, một luồng không khí khang khác, đáng yêu ập đến với lão từ phía trời quê... Cái gì đây? Biên giới. Trái tim nông dân khốn khổ đập như búa gõ... Hãy đi tiếp đi! Chúa ơi, Chúa ơi! Đây đã là cánh đồng rồi, và cả những cây lê quê mình... mái nhà xám của họ và các nhà thờ. Ở đằng kia, một người nông dân trong chiếc mũ lông cừu đang cúi sau cây cày. Từ trên toa tàu, lão giơ tay ra phía ông kia vẫy vẫy. Ông chủ ơi, ông chủ ơi!... Không nói được thành lời. Họ đi tiếp. Kia là gì nhỉ? Thị trấn Przyreble, còn vượt qua Przyreble là Lipince. Lão và Marysia đi bộ trên đường và khóc. Đang là mùa xuân. Lúa mì đang trổ bông... những con bọ dừa kêu vo ve trong không trung... Ở Przyreble, chuông nhà thờ đang đổ gọi Thánh nhà trời... Jesus ơi! Jesus ơi! Vì sao một người tội lỗi như lão được hưởng chừng ấy hạnh phúc cơ chứ? Chỉ còn vượt ngọn đồi này nữa thôi, ở đằng kia là cây thánh giá và bảng chỉ đường, và ranh giới làng Lipince. Giờ thì họ thôi không đi nữa, mà họ... bay như cánh chim, đã ở trên đỉnh đồi, đã đến cây thánh giá, đến bảng chỉ đường. Người đàn ông quăng mình xuống đất và rống lên vì hạnh phúc, và lão hôn đất, và lão bò lồm cồm đến cây thánh giá, ôm nó bằng hai tay, thế là đã đến Lipince rồi. Đúng như vậy. Lão đã ở Lipince rồi, chỉ có thân xác đã chết của lão còn đang lạc lõng trên chiếc mảng giữa miền lũ lụt, còn linh hồn đã bay đến đó, nơi hạnh phúc và bình yên với nó.
Cô gái gọi một cách tuyệt vọng trên xác lão: “Bố ơi, bố ơi!” Cô Marysia khốn khổ, lão không quay về với cô nữa! Ở Lipince lão quá sung sướng.
Đêm buông xuống. Đại Bàng Đen đã để tuột cây sào khỏi tay vì chèo lái mệt mỏi và cái đói hành hạ. Marysia vừa quỳ trên xác bố vừa lầm rầm cầu kinh bằng giọng đứt quãng, xung quanh cho đến tận cuối đường chân trời chỉ nhìn thấy vực nước sâu thẳm.
Họ bơi vào lòng một con sông lớn, dòng chảy lại nhanh chóng nâng mảng lên cao. Không thể lái nó được nữa rồi. Nhưng có thể đó chỉ là chỗ nước xoáy phía bên trên chỗ eo lõm của thảo nguyên, vì họ thường xuyên bị nâng lên theo vòng tròn. Đại Bàng Đen cảm thấy sức lực đã cạn kiệt, bỗng nhiên hắn đứng bật dậy và hét lớn:
- Ôi Chúa ơi! Đằng kia có ánh sáng!
Marysia nhìn theo hướng tay hắn chỉ. Quả là ở phía xa có cái gì nổi lên như ngọn lửa, từ đó phát ra tỉa sáng phản chiếu xuống mặt nước.
- Đó là thuyền đến từ Clarcsville! - Đại Bàng Đen nhanh nhẹn nói - Những người Mĩ đã gửi nó đến cứu giúp. Chỉ mong họ không vọt qua chúng ta thôi... Marysia ơi, ta sẽ cứu em. Ôi! Ôi!
Đồng thời, hắn chèo lái với sự cố gắng lớn nhất. Ngọn lửa cũng lớn dần lên trong mắt họ, trong ánh sáng màu đỏ của nó đã nhìn thấy một cái gì đó hiện ra, giống như một chiếc thuyền cực lớn. Còn cách khá xa, nhưng mọi người đang tiến gần lại. Nhưng sau một lúc khá lâu, Đại Bàng Đen thấy rõ rằng chiếc thuyền không tiến lên phía trước.
Họ bơi vào một dòng nước rất rộng và cực lớn, đi ngược lại với chiếc tàu.
Bỗng nhiên, chiếc sào bị gãy do sức đẩy quá mạnh trong tay Đại Bàng Đen. Họ không còn cây sào chèo lái nữa. Dòng nước đưa họ đi mỗi lúc một xa, ngọn lửa nhỏ dần. May thay, sau mười lăm phút, chiếc mảng đã va vào một gốc cây đứng đơn độc trên thảo nguyên và bị kẹt vào giữa các cành cây đó.
Cả hai người bắt đầu la lên kêu cứu, nhưng tiếng ầm ào của dòng chảy đã đánh át giọng họ.
- Ta sẽ bắn, - Đại Bàng Đen nói - người ta sẽ thấy ánh lửa, người ta sẽ nghe được tiếng súng.
Vừa nghĩ như vậy, hắn liền nâng khẩu súng trường lên cao, nhưng thay cho tiếng nổ chỉ nghe thấy tiếng cát tút chạm vào ổ nạp đạn. Thuốc súng bị ướt.
Đại Bàng Đen nằm vật xuống mảng. Không còn cách nào cả. Trong giây lát, hắn nằm như chết; cuối cùng nhổm dậy và nói:
- Marysia ơi... Với một cô gái khác thì dù có đồng ý hay không ta đã bắt và mang vào rừng rồi. Ta cũng từng nghĩ là sẽ làm như vậy đối với em, nhưng ta không dám, vì ta yêu quý em. Ta đã lặn lội một mình trên thế gian này như một con sói và mọi người đều sợ hãi ta, còn ta thì ta lại ngại ngùng trước em, thế đấy, Marysia ơi, em hình như đã giao cho ta một cái gì... Nhưng em không chịu lấy ta, em thà chết còn hơn! Ta sẽ cứu được em hoặc ta sẽ chết; nếu như ta chết, thì em, ơi người yêu dấu, em hãy thương đến ta và cầu kinh cho ta. Ta có nợ gì em không?... Ta không làm gì hại em! Ôi! Marysia ơi! Marysia ơi! Em hãy gắng giữ lấy sức khỏe, em yêu thương của ta, mặt trời của ta...
Và trước khi cô hiểu ra hắn định làm gì thì hắn đã lao đầu xuống nước và bắt đầu bơi. Trong tích tắc, cô nhìn thấy trong màn đêm đầu và bờ vai hắn đang trườn trên mặt nước ngược với dòng chảy, người bơi tỏ ra rất can đảm. Nhưng sau đó không lâu, hắn đã mất hút trong mắt cô. Hắn bơi đến thuyền để gọi người đến cứu cô. Dòng nước chảy xiết cản đường hắn, như có cái gì đó níu hắn lại phía sau, hắn cố vẫy vùng và tiến lên phía trước. Nếu như có thể bơi vượt qua được dòng chảy ấy, giá như gặp dòng chảy khác, chắc chắn hắn sẽ bơi được đến đích. Trong khi đó, mặc dù đã mang hết sức lực siêu phàm của mình ra, hắn chỉ có thể chậm chạp tiến lên phía trước. Dòng nước vàng thẫm, đục ngầu thường hắt bọt vào mắt hắn, vì vậy hắn nhô cao đầu lên, lấy hơi và căng mắt ra nhìn trong đêm để biết con thuyền cùng ánh lửa ở chỗ nào. Đôi khi, một đợt sóng dữ dội hơn lại cuốn hắn lùi lại, đôi khi nâng hắn lên cao; hắn thở mỗi lúc một khó khăn, hắn cảm thấy đầu gối đã cứng lại. Hắn nghĩ: “Ta không bơi đến được”, nhưng ngay lúc đó, một cái gì đó đã thì thầm vào tai hắn, giống như giọng nói thân thương của Marysia: “Cứu em với!”, và hắn lại vung cánh tay ra cắt nước một cách tuyệt vọng. Hai má hắn nhô ra, miệng phun nước, mắt lồi ra ngoài... Giá như hắn quay trở lại, chắc chắn với dòng chảy hắn sẽ bơi đến được chiếc mảng, song hắn thậm chí không nghĩ đến điều đó, do ánh sáng của chiếc thuyền đã càng lúc càng gần. Thực ra là cả chiếc thuyền cũng đang bơi về phía hắn, vì bị cùng một dòng nước ấy cuốn, dòng nước mà hắn đang vật lộn bơi ngược lại. Bỗng nhiên, hắn cảm thấy đầu gối và chân hắn cứng đơ lại. Chỉ vài cú nhích nữa thôi... chiếc thuyền càng lúc càng gần... “Giúp tôi với! Cứu tôi với!...” Tiếng hét cuối cùng đã bị nước tràn qua cuống họng làm tắt ngấm. Hắn chìm xuống. Làn sóng trào qua đầu hắn rồi lại rút đi. Chiếc thuyền ngay sát đó. Đã nghe thấy tiếng ộp oạp và tiếng mái chèo vỗ vào mạn thuyền: lần cuối cùng hắn lên giọng thật to và gọi trợ giúp. Người ta đã nghe thấy tiếng hắn, bởi tiếng mái chèo đã khua nhanh hơn. Nhưng Đại Bàng Đen đã lại chìm nghỉm xuống. Một dòng nước xoáy khủng khiếp đã cuốn hắn đi... Trong tích tắc, hắn còn hiện ra đen ngòm trên sóng, sau đó chỉ còn nhìn thấy một cánh tay giơ lên trên mặt nước, rồi thấy cánh tay thứ hai, còn sau đó mất hút trong vực thẳm...
Trong khi đó, Marysia ở một mình trên mảng, cùng với xác của người cha, cô nhìn như điên dại vào ánh sáng phía xa.
Nhưng dòng nước lại đưa cô đến với chiếc thuyền. Con thuyền hiện dần lên chỉ cách cô vài chục bơi chèo, trong ánh lửa đỏ ngầu trông nó di chuyển như cẳng chân của con sâu khổng lồ, Marysia bắt đầu kêu lên một cách tuyệt vọng.
- Này, Smith ơi! - Một giọng nói bằng tiếng Anh vang lên - Hãy treo cổ tôi lên, nếu như tôi không nghe thấy tiếng kêu cứu và nếu như tôi không nghe lại một lần nữa.
Giây lát sau, đôi tay khỏe mạnh của Marysia dâng cao trên thuyền, nhưng Đại Bàng Đen không còn có mặt trên thuyền ấy nữa.
Hai tháng sau, Marysia rời khỏi bệnh viện ở Little Rock và nhờ khoản tiền quyên góp được của những người hảo tâm, cô đã đi đến New York.
Số tiền đó không nhiều. Một phần đường có lẽ cô phải đi bộ, nhưng cô đã nói được một ít tiếng Anh, biết xin với những người soát vé để họ cho cô đi không mất tiền. Rất nhiều người có lòng độ lượng với cô gái nghèo khổ, bệnh tật, đen đủi đó, cô gái có đôi mắt cực lớn màu da trời, trông giống cái bóng hơn là người và cầu xin lòng thương xót bằng nước mắt. Cũng không phải con người hành hạ cô, mà là cuộc sống tồi tệ bạc đãi cô. Trong chỗ nước xoáy ở đất Mĩ này, trong những phi vụ “làm ăn” lớn lao này, một bông hoa đồng nội vùng Lipince có thể làm được cái gì? Làm thế nào xoay xở được? Cỗ xe ở đó buộc phải trườn bánh qua người cô và nghiền nát thân xác mỏng manh của cô, giống như bất kì cỗ xe nào khác trườn qua các đóa hoa mọc trên đường đi của nó...
Bàn tay gầy gò, run rẩy vì yếu đuối bấm vào chiếc chuông trên phố Water ở New York. Đó là Marysia đi tìm sự trợ giúp ở chỗ ông già người vùng Poznan.
Mở cửa cho cô là một người lạ, không hề quen biết.
- Ngài Zlotopolski có nhà không ạ?
- Đấy là ai nhỉ?
- Ông chủ có tuổi. - Đến đây cô chìa tờ giấy ra.
- Ông ấy đã chết.
- Ông ấy đã chết ư? Thế còn con trai?... Cậu Wiliam?
- Đã đi khỏi đây.
- Còn chị Jenny?
- Cũng đi rồi.
Cánh cửa đóng lại trước mặt cô. Cô ngồi lại bậc cửa và bắt đầu lau mặt. Cô lại có mặt ở New York, một mình, không ai giúp đỡ, không ai chăm sóc, không tiền, chỉ trông chờ vào ý Chúa.
Liệu cô có ở lại đó không? Không đời nào! Cô sẽ đi về bến cảng, đến bến tàu của người Đức, quỳ gối trước các thuyền trưởng và nài xin để họ cho cô lên, nếu họ thương tình thì xin mẩu bánh mì đi nhờ qua nước Đức và về lại Lipince. Ở đó có Jasko của cô. Ngoài người đó ra, cô không còn ai khác trên thế gian bao la này. Nếu như anh ấy không chấp nhận cô, nếu như anh ấy đã quên cô, nếu như anh ấy xua đuổi cô, thì ít nhất cô cũng được chết gần anh ấy.
Cô đi đến cảng và bò lê dưới chân các thuyền trưởng người Đức... Họ có thể cho cô lên lắm chứ; nếu như trông cô có sức sống hơn một chút, có lẽ cô sẽ là một cô gái xinh đẹp. Có lẽ họ sẽ vui mừng, nhưng nói gì đây nhỉ? Luật pháp không cho phép... hơn nữa cô xấu quá... Vì vậy hãy để họ được yên.
Cô gái đi ngủ trên chính cây cầu nối mà tại đó một lần cô cùng ông bố đã nằm ngủ trong cái đêm đáng nhớ nọ, khi ông già muốn dìm chết cô. Cô được nuôi sống bằng thứ mà biển ném lên, giống như đã từng được nuôi sống cùng với ông bố ở New York trước đây. Cũng may đó là mùa hè... ấm áp...
Hằng ngày, trời chỉ vừa bừng sáng, cô đã có mặt trên những bến tàu của Đức để cầu xin lòng thương hại và ngày lại ngày đều vô ích. Nhưng cô có sự nhẫn nại của người nông dân. Trong khi đó thì sức cô đã hết. Cô cảm thấy nếu như ngay bây giờ không được lên tàu thì không lâu nữa sẽ chết, chết giống như tất cả những người mà số phận đã gắn bó cô với họ.
Một sáng nọ, cô gắng sức kéo lê thân xác với ý nghĩ rằng đó có thể là lần cuối cùng, vì ngày mai sẽ không còn sức nữa. Cô quyết định không cầu xin nữa, mà cố len được lên bất kì chiếc tàu nào đi châu Âu và sẽ ẩn nấp đâu đó trên đáy tàu một cách câm lặng. Khi người ta đã ra khơi và tìm thấy được cô, chắc họ sẽ không quăng cô xuống biển, và nếu có quăng thì điều đó cũng có sao đâu? Đằng nào với cô cũng vậy, chết như thế nào, nếu như phải chết. Nhưng trên cây cầu dẫn lên tàu, người ta kiểm soát rất kĩ hành khách và người gác đã đẩy cô xuống khi cô thử lên lần đầu. Lúc đó, cô ngồi ở cây cọc cạnh mép nước và nghĩ có lẽ cô bị sốt. Cô bắt đầu cười sằng sặc và lên tiếng càu nhàu:
- Em là bà chủ đây, anh Jasko ơi, nhưng em giữ vững niềm tin nơi anh. Cái gì thế, anh không biết em à?
Cô gái khốn khổ không phải bị sốt mà là bị điên. Từ đó trở đi, hằng ngày cô đều đi đến cảng để ngóng tìm Jasko. Mọi người đã quen với sự xuất hiện của cô và thỉnh thoảng còn bố thí cho cô. Cô cảm ơn một cách nhún nhường và cười như một đứa trẻ. Chuyện như vậy diễn ra khoảng hai tháng. Nhưng một lần nọ, cô không đến cảng nữa và từ bấy đến nay người ta không nhìn thấy cô lần nào. Ngày hôm sau, một tờ báo cảnh sát đưa tin ở cuối bến cảng, người ta tìm thấy xác một người con gái không biết họ tên và lai lịch.