Những Truyện Ngắn Kinh Điển Ba Lan

Lượt đọc: 972 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHỮNG TỘI LỖI TUỔI ẤU THƠ

Tôi sinh ra vào thời đại mà mỗi người đều phải có biệt danh, mặc dù biệt danh đó không hoàn toàn đúng.

Chính vì lí do ấy, bà chủ đất của chúng tôi được gọi là bà công tước, bố tôi là người đại diện của bà, còn tôi rất hiếm khi là Kazio hoặc Lesniewski, mà thường xuyên bị gọi là “trẻ ranh” - khi tôi còn ở nhà, hoặc “con lừa” - khi tôi đã đi học ở trường.

Nếu ai đó muốn tìm tên họ bà chủ chúng tôi trong quyển từ điển các dòng họ quý tộc thì thật uổng công, vì thế tôi có cảm tưởng rằng ánh hào quang của tấm vương miện công tước của bà không vươn ra xa hơn danh hiệu đại diện toàn quyền của người cha đã quá cố của tôi. Thậm chí, tôi nhớ lại rằng danh hiệu công tước là cách thức để kỉ niệm, khi người cha quá cố của tôi tổ chức ăn mừng nhân dịp được tăng lương hằng năm thêm một trăm zloty. Bà chủ chúng tôi nhận danh hiệu dành tặng mình trong im lặng, còn vài ngày sau đó, cha tôi được thăng tiến từ người quản lí lên đại diện toàn quyền và thay cho văn bằng, đã nhận được một con lợn đực cực lớn, sau khi bán nó đi, cha đã mua cho tôi đôi giày đầu tiên.

Cha tôi, tôi và em gái Zosia của tôi (tôi không còn mẹ) sống cùng với nhau trong ngôi nhà ngang xây gạch, nằm cách dinh vài chục bước, sống trong dinh là bà công tước cùng cô con gái Lonia của bà - một người cùng tuổi với tôi, cô gia sư của cô bé, cùng với bà quản gia già Salusia, cũng như một số lượng lớn người làm vườn và các cô gái phục vụ. Các cô gái đó suốt ngày chỉ may vá, từ đó tôi đi đến kết luận, rằng những người chủ lớn sinh ra chỉ để làm hỏng quần áo, còn các cô gái thì được dùng vào việc sửa chữa chúng, về những phẩm giá khác của các bà lớn và các cô gái nghèo, tôi không có khái niệm, đó là ưu điểm duy nhất của tôi trong mắt cha tôi.

Bà công tước là một bà góa trẻ, mà người chồng sớm chìm đắm trong nỗi buồn khôn nguôi. Nếu như theo truyền thống mà tôi biết được thì người xấu số không hề được phong là công tước và ông ta cũng không hề phong ai làm người đại diện toàn quyền. Ngược lại, những người láng giềng với một sự nhất trí thật kì lạ ở nước ta, đã gọi ông là người ngớ ngẩn. Ít nhất thì ông cũng là kẻ không bình thường. Ông thường cưỡi ngựa giẫm lên những hạt giống của nông dân khi đi săn, còn với láng giềng thì ông thách đấu vì lũ chó và những con thỏ. Trong nhà ông hành hạ vợ vì ghen tuông, còn khi đi làm thì ông hủy hoại cuộc sống bằng việc thường xuyên ngậm tẩu thuốc. Sau khi chết, những con ngựa độc đáo của ông đã được đưa đi chở phân, còn lũ chó thì phát tán cho mọi người. Thế gian còn nhận lại sau khi ông mất một cô con gái nhỏ và người vợ góa trẻ tuổi. Ôi! Tôi xin lỗi, bởi còn có thêm một bức tranh sơn dầu vẽ chân dung người quá cố với cái nhẫn khắc gia huy trên ngón tay và - cái tẩu thuốc nọ, mà vì sử dụng không đúng mức, nó đã bị cong lại giống như một thanh kiếm Thổ Nhĩ Kì.

Dinh thì hầu như tôi không được biết. Thứ nhất là vì tôi thích chạy nhảy trên cánh đồng hơn là ngã trên tấm lát sàn trơn tuột, thứ hai, là vì đám người hầu không cho tôi vào đó, do lần đầu tới thăm, tôi đã không may làm vỡ một chiếc bình hoa Saxon lớn.

Với cô con gái công tước, trước khi đến trường, chúng tôi chỉ cùng chơi đùa với nhau có một lần, lúc đó cả hai mới chưa đầy mười tuổi. Hôm đó, tôi muốn dạy cô nghệ thuật trèo cây và tôi đã đặt cô ngồi trên hàng rào cây cao đến mức cô bé bắt đầu sợ hãi hét váng trời, khiến gia sư của cô nện cho tôi một trận bằng chiếc ô che nắng và nói tôi có thể làm cho Lonia suốt đời trở thành cô bé bất hạnh.

Kể từ lúc đó, tôi cảm thấy ghê tởm bọn con gái nhỏ, không một đứa nào trong số đó có khả năng kể từ trèo cây, đến tắm ao với tôi, kể từ cưỡi ngựa, đến bắn cung hoặc bắn súng cao su. Còn trong trận đánh - mà thiếu chúng thì trò chơi còn ý nghĩa gì nữa! - gần như đứa con gái nào cũng khóc ầm ĩ và chạy đến ai đó để mách.

Với những đứa con trai trại ấp, cha tôi lại không cho phép tiếp xúc, còn em gái tôi thì hầu như suốt ngày chỉ tha thẩn chơi ở trong dinh, vì vậy tôi lớn lên và tự nuôi sống mình như một con chim non hoang dã mà bố mẹ nó vứt bỏ. Tôi tắm ngay dưới cối xay hoặc bơi trên chiếc thuyền thủng dọc ao. Trong công viên, với sự nhanh nhẹn của mèo, tôi đuổi theo những con sóc trên cành. Một lần, thuyền của tôi bị lật và suốt nửa ngày tôi phải ngồi trên cồn đất di động chỉ nhỏ bằng chiếc chậu gỗ. Một lần, qua ống khói tôi lần mò vào mái dinh, nhưng không may đến mức người ta phải buộc hai cây thang vào để đưa tôi từ đó xuống dưới. Hôm khác, suốt một ngày đêm tôi lạc trong rừng, còn lần khác nữa, con ngựa già của ông chủ quá cố, nhớ lại thời vàng son xưa kia, trong một giờ liền đã mang tôi qua cánh đồng và cuối cùng - chắc là không chủ ý - làm tôi ngã gãy chân, cũng may là cái chân đó đã nhanh chóng lành trở lại.

Không biết sống cùng ai, tôi sống với thiên nhiên. Trong công viên, tôi biết từng tổ kiến; trên cánh đồng, tôi biết từng hang chuột; trong vườn cây, tôi biết từng lối mòn của chuột chũi. Tôi biết về các tổ chim và bọng cây, nơi những chú sóc con được nuôi lớn. Tôi phân biệt được tiếng rì rào của từng cây bồ đề mọc cạnh nhà và biết hát theo tiếng gió ngân trên cành cây. Nhiều lần tôi nghe được tiếng động gì đó lạo xạo ở trong rừng, mặc dù tôi không biết đó là tiếng của cái gì. Tôi ngắm nhìn những ngôi sao nhấp nháy; tôi nói chuyện với màn đêm tĩnh mịch, và vì không có ai để hôn, tôi hôn lũ chó trên sân. Mẹ tôi đã yên nghỉ từ lâu dưới đất. Thậm chí trên tảng đá đè bà đã hình thành một lỗ hổng ăn sâu xuống gần tới giữa mồ. Một lần, khi tôi bị điều gì đó hành hạ, tôi đã đi đến đó gọi bà, tôi đặt tai lên nghe xem liệu bà có đáp lại hay không... Nhưng bà không trả lời. Rõ ràng là bà đã chết thật rồi.

Trong thời gian ấy, tôi có những khái niệm đầu tiên về con người và về quan hệ của họ. Thí dụ trong tưởng tượng của tôi, người đại diện toàn quyền chắc chắn phải là người tương đối béo, có khuôn mặt đỏ au, ria mép quăn, lông mày to trên cặp mắt màu bạc, giọng trầm và ít nhất cũng có khả năng quát to như cha tôi. Những người gọi là nữ công tước tôi không thể tưởng tượng ra người nào khác ngoài một phu nhân cao, khuôn mặt đẹp và đôi mắt buồn, lặng lẽ đi lại dọc công viên trong bộ váy trắng dài quét đất.

Nhưng về người mang danh hiệu công tước thì tôi không có khái niệm nào. Giả sử có một người giống như thế tồn tại thì tôi vẫn có cảm giác rằng người này chẳng có ý nghĩa gì so với bà công tước, thậm chí hoàn toàn vô tích sự và không lịch sự. Theo quan điểm của tôi, chỉ có trong bộ váy rộng rãi với đuôi váy dài thì mới đủ chứa một thân thể oai phong quyền quý; còn mọi loại quần áo ngắn, bó sát người, đặc biệt là bao gồm hai phần, thì chỉ dùng cho những người thư kí kế toán, người nấu rượu và cùng lắm là người đại diện toàn quyền.

Đó là chủ nghĩa chính thống của tôi dựa trên những lời giáo huấn của cha tôi, người không ngừng bảo tôi phải yêu và tôn kính bà công tước. Hơn nữa, giá như tôi có quên những quy định ấy thì chỉ cần nhìn lên chiếc tủ màu đỏ trong văn phòng cha tôi, nơi bên cạnh những hóa đơn và sổ sách ghi chép có treo trên đầu đinh bản khuôn phép năm điều, thể hiện các nguyên tắc của trật tự xã hội. Đối với tôi, văn bản ấy trở thành một loại bách khoa từ điển, khi nhìn vào đó tôi lại nhớ đến việc không nên làm rách giày, kéo ngựa con thì cần nắm đuôi, rằng mọi quyền hành đều phát sinh từ Chúa v.v...

Cha tôi là người làm việc không biết mệt mỏi, hết mực lương thiện, thậm chí vô cùng dịu dàng. Với nông dân và những người phục vụ, ông không bao giờ động chạm tới dù chỉ bằng một ngón tay, chỉ có điều ông quát tháo rất kinh khủng. Nếu như có nghiêm khắc đôi chút đối với tôi, thì chắc chắn không phải không có lí do xác đáng. Người chơi đại phong cầm của chúng tôi (mà một lần tôi đã rắc vào thuốc lá của ông một chút bột đen gây ho, hậu quả là suốt buổi lễ Misa, thay cho việc hát ông đã ho liên tục và luôn nhầm lẫn khi chơi đàn) vẫn thường nói nếu như có một đứa con trai giống như tôi thì ông sẵn sàng bắn vỡ sọ nó.

Tôi nhớ rõ câu nói đó.

Cha tôi gọi bà công tước là thiên thần của lòng tốt. Đúng là như vậy, trong làng của bà không có người đói, người rách và người bị xúc phạm. Ai bị đối xử tồi tệ đều đi đến chỗ bà để tố cáo; ai bị ốm đau đều lấy thuốc ở dinh; ai sinh con đều đề nghị bà làm mẹ đỡ đầu. Em gái tôi cùng học với con gái bà công tước, bản thân tôi, mặc dù né tránh các mối quan hệ với nhà quý tộc, song vẫn có dịp để củng cố lòng tin vào sự dịu dàng vô cùng tận của bà công tước.

Cha tôi sở hữu vài loại vũ khí, mỗi loại dành cho một mục tiêu khác nhau. Khẩu súng hai nòng lớn dùng để giết chó sói, những con thú làm hại lũ bê của bà chủ chúng tôi; khẩu súng lục dùng để bảo vệ những tài sản khác của bà công tước, còn cây gươm quân sự dùng để bảo vệ thanh danh của bà. Tài sản và thanh danh của mình cha tôi chắc là sẽ bảo vệ bằng cây gậy cá nhân, bởi toàn bộ số đồ quân dụng nọ cứ vài tháng lại được bôi mỡ và đặt ở chỗ nào đó trong một góc trên mái nhà kín đến nỗi thậm chí tôi cũng không thể tìm được.

Bằng cách của mình, tôi vẫn biết về số vũ khí đó và tôi rất thèm khát chúng. Nhiều lần tôi mơ thấy rằng mình sẽ thực hiện một sứ mạng cao cả và vì thế cha tôi cho phép bắn bằng khẩu súng lục lớn, còn thực ra lúc đó - tôi lẩn trốn vào nhà người coi rừng và học cách “phun ra” các cuộc quyết đấu kéo dài, các cuộc ấy có đặc tính là khi bắn chỉ gây thiệt hại trực tiếp cho hàm răng của tôi mà không động chạm đến bất kì một sinh linh nào.

Một hôm, khi lau dầu khẩu súng hai nòng dùng để bắn chó sói, khẩu súng lục bảo vệ tài sản và thanh gươm bảo vệ thanh danh của bà công tước, tôi đã đánh cắp được của cha tôi một ít thuốc súng, loại mà theo tôi biết thì vẫn chưa định dùng làm gì. Khi cha tôi đi vào cánh đồng, tôi lấy được chùm chìa khóa lớn của kho chứa lương thực, chiếc chìa khóa có rãnh giống như nòng súng và cũng có một lỗ nhỏ ở bên cạnh, và thế là tôi đi săn.

Chìa khóa lớn dùng để đi săn được tôi nhồi thuốc súng, đổ một dúm cúc áo bị gãy vụn lấy ra từ những bộ quần áo không dùng nữa vào, nhồi thật chặt bằng xơ đay như cần thiết, còn để gây tiếng nổ tôi cầm sẵn một hộp diêm.

Tôi vừa mới đi khỏi nhà đã nhìn thấy mấy con quạ khoang đang săn lùng lũ vịt con của lâu đài. Gần như ngay trước mắt tôi, một con thú gây hại đã quắp được chú vịt con, nhưng vì không thể dễ dàng nâng nó lên, liền đậu xuống chuồng bò. Nhìn thấy cảnh tượng đó, dòng máu ông cha từ thời ở thành Vienna sôi sục. Tôi nhảy đến sát chuồng bò, quẹt diêm, ngắm bằng mắt trái vào chiếc chìa khóa, nín thở, châm ngòi... Một tiếng nổ như sét đánh vang lên. Từ trên nóc chuồng bò, con vịt tắt thở lăn đùng xuống đất, con quạ khoang hoảng sợ thoát chết lẩn trốn lên cây bồ đề cao nhất, còn tôi thì ngạc nhiên nhận thấy rằng trong tay tôi chiếc chìa khóa lớn chỉ còn lại có một mẩu sắt,thay vào đó, từ mái rạ của chuồng bò bốc lên một làn khói không lớn lắm, giống như ai đó hút tẩu thuốc.

Mấy phút sau, chuồng bò trị giá khoảng năm mươi zloty chìm trong lửa.

Mọi người chạy đến, cha tôi cưỡi ngựa phi nước đại đến, sau đó với sự trợ giúp của tất cả đám người dũng cảm và lương thiện, bất động sản “đã cháy đến tận lòng đất” - nói như ông thợ nấu rượu.

Trong thời gian đó, với tôi đã xảy ra những điều không thể diễn tả nổi. Trước tiên, tôi chạy về nhà và treo mẩu chìa khóa còn lại đúng vào chỗ cũ. Sau đó, tôi chạy đến công viên với ý định dìm mình trong ao cá. Một giây sau, tôi thay đổi dự định, quyết định nói dối như gã thư kí kế toán, chối phăng chuyện bắn vào chuồng bò. Nhưng khi người ta tóm được tôi - thì tôi lập tức nhận tất cả mọi chuyện.

Người ta dẫn tôi đến dinh. Trên hàng hiên, tôi nhìn thấy cha tôi, bà công tước trong chiếc váy quét đất, cô công tước nhỏ mặc váy hơi ngắn và em gái tôi, cả hai đang khóc; sau đó - bà quản gia Salusia, người coi phòng, người hầu, cậu bé bê đồ ăn, ông đầu bếp, nữ phụ bếp và toàn bộ bọn hầu phòng; bọn làm vườn và các cô gái. Giá như tôi quay mặt lại phía sau lưng, tôi đã nhìn thấy ở sau nhà những chóp xanh của đám bồ đề, và xa hơn một chút, cột khói màu vàng thẫm, như cố tình dâng lên trên chỗ cháy.

Lúc đó, tôi nhớ lại lời của người chơi đại phong câm, kẻ nói về sự cần thiết phải bắn vỡ sọ tôi, và tôi đi đến kết luận, rằng nếu chuyện đó xảy ra thì chính ngày hôm nay cái chết dữ dội sẽ đến với tôi. Tôi đã làm cháy chuồng bò, làm hỏng chìa khóa kho lương thực; em gái tôi đang khóc, toàn bộ đám người hầu đứng đầy đủ trước dinh, điều đó có nghĩa là gì đây?... Tôi chỉ nhìn xem liệu ông đầu bếp có cầm khẩu súng săn của mình hay không - bởi vì nhiệm vụ của ông ta là bắn những con thỏ cũng như những gia súc bị bệnh sắp chết.

Người ta dẫn tôi đến trước mặt bà công tước. Bà nhìn tôi với cặp mắt buồn rầu, còn tôi, sau khi đặt hai tay ra phía sau (tôi thường làm việc đó theo thói quen khi đứng trước mặt cha tôi), liền ngước đầu lên, vì bà rất cao.

Trong vài giây, chúng tôi đã nhìn nhau như vậy. Đám người hầu im lặng, trong không trung cảm thấy như có cái gì sắp cháy.

- Thưa ông Lesniewski, tôi thấy rằng cậu bé này vô cùng thích hoạt động, đúng không? - Bằng giọng du dương, bà công tước hướng về phía cha tôi lên tiếng.

- Thằng khốn nạn!... Thằng đốt nhà!... Nó đã làm hỏng của tôi chìa khóa kho lương thực! - Cha tôi trả lời, sau đó nói thêm rất nhanh - Quỳ xuống dưới chân bà công tước, thằng đểu!...

Và ông đẩy nhẹ tôi lên phía trước.

- Các người phải giết con thì giết đi, song con sẽ không quỳ gối trước bất cứ một ai! - Tôi trả lời, không rời mắt khỏi bà, người đã đưa đến cho tôi một cảm tưởng rất kì lạ.

- Ôi!... Jesus ơi!... - Bà Salusia sợ hãi vừa rên rỉ vừa khép tay lại.

- Hãy bình tĩnh lại, cậu bé của tôi, ở đây không ai làm gì tổn thương đến cậu đâu - Bà chủ lên tiếng.

- A ha! Không ai... Cứ làm như con không biết rằng các người sẽ bắn vỡ sọ con... Rõ ràng là người chơi đại phong cầm đã nói với con như vậy mà! - Tôi đáp.

- Ôi!... Jesus ơi!... - Người quản gia lần thứ hai lại kêu lớn.

- Thật nhục nhã cho tuổi già của tôi! - Cha tôi lên tiếng - Tôi sẵn sàng lột xác thằng đê tiện này ra đem ướp muối, xin bà công tước đừng đứng ra che chở nó.

Ở góc hàng hiên, ông đầu bếp lấy tay che miệng và cười to đến nỗi mặt tím bầm lại. Tôi không thể nhịn được và thè lưỡi ra với ông ta.

Đám người hầu ồn ào hẳn lên vì ngạc nhiên, còn cha tôi, vừa nắm lấy vai tôi vừa thét:

- Mày lại làm cái gì thế?... Trước mặt bà công tước mày thè lưỡi ra như vậy à?...

- Con thè lưỡi ra với ông đầu bếp, bởi vì ông ấy nghĩ rằng sẽ bắn chết con giống như bắn con ngựa già...

Bà công tước lại tỏ ra buồn rầu hơn. Bà vuốt mớ tóc xõa xuống trước trán tôi, nhìn sâu vào mắt và nói với cha tôi:

- Ông Lesniewski ơi, ai biết được cái gì sẽ đến với thằng bé này?...

- Giá treo cổ! - Cha tôi lo lắng đáp lại gọn lỏn.

- Không biết thế nào đâu. - Bà chủ vừa trả lời vừa lấy tay xoa mớ tóc lông nhím của tôi.

- Phải gửi nó đến trường học, ở đây nó sẽ biến thành kẻ hoang dã mất.

Và sau đó, khi đã về đến phòng khách, bằng giọng nhỏ nhẹ bà nói:

- Nó có phẩm chất một con người, ông Lesniewski ạ... Chỉ cần dạy dỗ nó.

. Sẽ thực hiện theo ý nguyện của bà công tước! - Cha tôi vừa trả lời vừa nện nắm đấm vào gáy tôi.

Từ hành lang mọi người đều tản đi, nhưng tôi còn ở lại, đứng bất động như hòn đá, nhìn chằm chằm vào cửa ra vào, nơi bà chủ của chúng tôi khuất bóng. Bây giờ tôi mới tiếc nuối nghĩ rằng tại sao mình không quỳ gối trước mặt bà - và tôi cảm thấy có cái gì đó dâng lên làm tức ngực. Giá như bà ra lệnh, tôi sẵn sàng đặt mình nằm xuống nền chuồng bò và nướng xác mình trên đó. Không phải bởi vì bà ra lệnh cho đầu bếp bắn hoặc giết chết, mà vì bà có giọng nói ngọt ngào và cái nhìn buồn rầu đến như vậy.

Kể từ hôm đó, tôi ít tự do hơn. Bà công tước không muốn mất thêm trong ngọn lửa phần nhà cửa của mình, cha tôi thì tiếc nuối đã không thể tính toán giải quyết với tôi vụ chuồng bò bị cháy, còn tôi phải tự mình chuẩn bị đến trường. Người chơi đại phong cầm và ông thợ nấu rượu thay nhau dạy tôi học. Thậm chí người ta còn nói, một môn nào đó sẽ do cô gia sư của dinh trực tiếp dạy. Cô gia sư đó, sau khi làm quen với tôi, phát hiện ra rằng trong túi tôi đầy rẫy các loại dao, đá sỏi, đạn chì và ngòi thuốc nổ thì đã sợ hãi đến mức không muốn nhìn thấy tôi lần thứ hai nữa.

- Bọn kẻ cướp như vậy tôi không dạy đâu. - Cô nói với em gái tôi.

Nhưng trong thời gian đó, tôi đã đĩnh đạc lên rất nhiều. Chỉ một lần tôi muốn thử treo cổ. Thế nhưng sau đó phải làm việc gì đó khác, vì vậy tôi không gây ra điều gì tồi tệ cả.

Cuối cùng thì vào đầu tháng Tám, người ta dẫn tôi đến trường học.

Tôi đã thi đậu nhờ những bức thư của bà công tước, sau đó cha tôi bố trí cho tôi ở trọ có phụ đạo thêm, có sự thăm nom của cha mẹ và mọi tiện lợi khác với giá hai trăm zloty và năm thúng lúa mì mỗi năm, đồng thời - cấp cho tôi bộ đồng phục của trường.

Bộ quần áo mới khiến tôi quan tâm đến mức vì không thể mặc nó vào ban ngày để làm đỏm, tôi lặng lẽ thức dậy vào ban đêm, trong bóng tối mặc vào người chiếc áo sơ mi cổ đỏ, đội lên đầu chiếc mũ sọc đỏ và dự tính sẽ ngồi như vậy vài phút. Nhưng vì đêm đó nhiều mưa, từ cửa ra vào có chút gió, còn tôi ngoài bộ đồng phục và mũ ra lại mặc cả quần áo trong nhà, vì vậy tôi đã nhắm mắt thiu thiu một chút và đã ngủ quên trong bộ đồng phục cho đến sáng.

Phương pháp ngủ đêm như vậy đã làm cho bọn bạn tôi bật cười thú vị, nhưng ông chủ nhà trọ lại nảy ra sự nghi ngờ, rằng trong nhà đang có một đứa nhãi ranh không bình thường. Ông chạy thật nhanh đến khách sạn, nơi xe của cha tôi vẫn còn đang đỗ và nói rằng bằng bất cứ giá nào cũng không muốn cho tôi ở trọ, nếu như cha tôi không trả thêm năm thúng khoai tây mỗi năm. Mặc cả khá lâu ngã giá ở ba thúng, song về phía cha tôi, ông đã tạm biệt tôi và biểu lộ thái độ khó chịu đến mức tôi không tỏ ý luyến tiếc khi ông rời xa, và không nhớ nhung căn nhà, nơi tôi có thể gặp sự đón tiếp tương tự như vậy nhiều hơn.

Quá trình giáo dục tôi ở lớp Một không gặp phải bất cứ tình huống đặc biệt nào đáng kể. Hôm nay, nhìn lại thời quá khứ xa vời đó, với khoảng cách đủ lớn, như mọi người biết, để đưa ra nhận định khách quan, tôi thừa nhận rằng, nhìn tổng quát cuộc sống của tôi thay đổi không nhiều. Ở trường, tôi thường ngồi lại trong phòng kín lâu hơn, về nhà - chạy nhảy nhiều hơn ở ngoài trời thoáng đãng. Tôi đã thay bộ quần áo thông thường bằng bộ đồng phục, còn những người làm phận sự chăm lo cho sự phát triển thể lực và tinh thần của tôi, thay cho các bản quy định ki luật, đã dùng đến roi vọt.

Và mọi chuyện chỉ có vậy.

Trường học, như mọi người đều biết, nhờ đặc tính tập thể của mình, đã chuẩn bị cho các cậu bé cuộc sống trong xã hội và cung cấp cho họ những khả năng mà họ không có được khi sống tách biệt từng cá thể. Về sự thật đó, tôi được thuyết phục một tuần sau khi có mặt tại trường, nơi tôi học cách phân phát pho mát,việc làm đòi hỏi sự tham gia của ít nhất ba người, có nghĩa là không thể tồn tại ngoài phạm vi xã hội.

Bây giờ, tôi mới phát hiện ra tài năng đích thực này của mình, thứ mà thiên nhiên đã bảo vệ tôi trước những nghiên cứu lí thuyết và đẩy tôi về hướng các hoạt động tập thể. Tôi là người chơi bóng gậy gỗ hàng đầu, là bậc thầy trong các cuộc đánh trận giả, là người tổ chức các cuộc tham quan dã ngoại bên ngoài trường lớp, thường được gọi là trò lột xác, tôi điều khiển việc giậm chân tập thể hoặc trò kêu be be hàng sáu chục người trong lớp, thứ trò tiêu khiển mà chúng tôi thỉnh thoảng lại tổ chức để giải lao. Ngược lại, tôi là kẻ đơn độc trước các bài học về quy tắc ngữ pháp, các ngoại lệ, sự biến cách và cách chia động từ, những môn cơ bản tạo thành cơ sở của tư duy triết học, ngay tức khắc, tôi cảm thấy trong lòng một sự trống rỗng, mà từ sâu thẳm của sự trống rỗng ấy nổi lên - sự buồn ngủ.

Do đó, nếu tôi trả lời được tương đối lưu loát các bài học, thì chỉ bởi vì tôi có thị giác rất mạnh, cho phép đọc sách từ khoảng cách xa tới hai hoặc ba hàng ghế. Đôi khi xảy ra trường hợp tôi nghĩ hoàn toàn khác so với bài bị hỏi, lúc đó tôi lẩn trốn tới cách thức biện minh quen thuộc thường dùng trong trường hợp như vậy. Thí dụ như tôi nói rằng tôi không nghe thấy câu hỏi hoặc rằng “run quá”.

Nói chung, tôi là học trò của tương lai, không chỉ vì tôi gây ra sự bất mãn ở những học sinh từng trải và thiện cảm ở những học trò trẻ tuổi, mà còn là bởi vì những điểm số tốt từ các môn học và đồng thời với chúng là hi vọng được lên lớp, tôi chỉ thấy trong giấc mơ, khác xa so với hiện thực.

Quan hệ của tôi với các giáo viên cũng khác nhau.

Giáo sư môn tiếng Latinh cho tôi điểm không quá tồi vì tôi chăm học ngữ pháp, môn học cũng do ông dạy. Cha đạo hầu như không cho điểm tôi, vì tôi đã đưa đến cho cha những câu hỏi khó chịu, để đáp lại, câu trả lời duy nhất của cha là: “Lesniewski, hãy quỳ xuống!” Thầy giáo dạy vẽ và viết chữ đẹp thì khen ngợi tôi là một người biết vẽ, song lại chê tôi với tư cách người viết chữ đẹp; nhưng vì trong suy nghĩ của ông, nghệ thuật viết là môn học quan trọng nhất trong trường học, nên khi đánh giá về tôi thì vấn đề viết chữ đẹp vượt lên trên và cho tôi điểm 1, thỉnh thoảng là điểm 2.

Môn Số học tôi hiểu rất tốt, vì bài giảng dựa trên phương pháp tổng quan, tức là “đánh vào tay” nếu không chú ý. Thầy giáo môn tiếng Ba Lan tiên đoán ở tôi một tương lai xán lạn, do một lần nhân ngày sinh

của ông, tôi đã làm một bài thơ ca ngợi sự nghiêm khắc của ông. Cuối cùng, điểm các môn học khác của tôi phụ thuộc vào việc liệu các láng giềng của tôi có nhắc tốt cho tôi, hoặc quyển sách nằm ở ghế phía trước tôi có được mở đúng chỗ hay không.

Tuy nhiên, quan hệ gần gũi nhất là quan hệ giữa tôi và viên thanh tra. Người này quen với việc đuổi tôi ra khỏi lớp trong giờ học và gặp tôi sau giờ đến nỗi cảm thấy lo lắng, khi trong tuần nào đó tôi không gợi cho ông nhớ đến mình.

- Lesniewski! - Một ngày nọ, ông gọi sau khi phát hiện ra rằng tôi đang đi từ lớp học về nhà - Lesniewski!... Tại sao cậu không ở lại?...

- Nhưng mà con có làm gì đâu. - Tôi đáp lại ông.

- Sao lại thế, cậu không bị ghi tên trong sổ hằng ngày à?...

- Có cha con chứng giám, đúng là như vậy!

- Thế cậu có thuộc bài không?...

- Nhưng hôm nay hoàn toàn không ai bắt con lên bảng cả!...

Viên thanh tra đắn đo.

- Có chuyện gì đó ở đây! - Ông thầm thì- Cậu biết không, Lesniewski, cậu ở lại đây một chút đã.

- Thưa ông thanh tra vàng bạc của con, con hoàn toàn không phạm tội gì! Thề có cha con!... Thề có Chúa!...

- A ha... Cậu thề à, con lừa?... Đến đây ngay bây giờ cho tôi!... Nếu thực sự cậu không bịa đặt thì - tính cho cậu lần sau!...

Nói chung, tôi có ở viên thanh tra mối nợ công khai, điều đã làm tôi trở nên khá nổi tiếng ở trong trường, đặc biệt ở chỗ là không ai cạnh tranh nổi.

Giữa đám mấy chục học sinh lớp Một, có đứa đã cạo râu bằng dao cạo thứ thiệt, ba đứa suốt ngày chỉ đánh bài dưới gầm ghế, còn những đứa khác đều khỏe như lính tráng, có một đứa tàn tật - Jozio. Đó là cậu bé gù, lùn so với tuổi, tiều tụy, với cái mũi nhỏ xíu màu tím, đôi mắt nhợt nhạt và mái tóc phẳng lì. Cậu ta yếu ớt đến mức đi từ nhà đến trường phải ngồi nghỉ giữa đường, và nhát gan đến nỗi khi người ta gọi lên trong giờ học, cậu sợ đến mất tiếng không nói được câu nào. Không bao giờ cậu đánh nhau với ai, chỉ xin với những đứa khác đừng đánh cậu. Một lần, người ta đưa cho cậu một con cá măng với bàn tay khô như que củi - cậu ngất xỉu, song khi tỉnh lại, cậu không tố cáo ai.

Cậu có cả bố lẫn mẹ, ông bố đã đuổi bà mẹ ra khỏi nhà, giữ Jozio bên cạnh với ý muốn tự mình chăm lo giáo dục cho con. Ông muốn tự mình đưa con đến trường, cùng con đi dạo, dạy thêm cho con, nhưng không làm điều đó vì không có thời gian, thứ mà ông để mất nhanh chóng một cách kì lạ trong việc buôn bán rượu và bia kiều mạch của hãng Moszek Lipa.

Như vậy là Jozio không có bất kì sự bảo trợ nào, còn tôi đôi khi có cảm giác rằng đối với thằng bé như vậy, thậm chí Chúa cũng không muốn từ trên trời nhìn xuống.

Tuy vậy, Jozio vẫn có tiền, mỗi ngày được sáu hoặc mười xu. Với số tiền đó, nó mua hai bánh mì tròn và một khúc dồi nhân thịt trong giờ giải lao. Mọi người để ý theo dõi nó, do vậy, muốn được an toàn, nó mua năm bánh mì tròn và mang chia cho những đứa khỏe nhất, mong chúng tỏ lòng độ lượng với nó.

Món thuế đó không giúp nó được bao lâu, vì ngoài năm đứa được ăn, còn có gấp ba số đứa như vậy không được ăn. Chúng không ngừng gây sự với nó. Đứa này véo nó, đứa khác nắm tóc nó kéo, đứa nữa chọc vào người, đứa thứ tư đấm vào tai, còn đứa ít can đảm nhất thì ít nhất cũng gọi nó là thằng gù.

Jozio chỉ cười trước những trò đùa bạn bè kiểu ấy, đôi lúc nó nói:

- Xin các cậu để yên cho mình!... - Và đôi khi, nó chẳng nói gì, chỉ tựa người trên đôi tay gầy còm và ho.

Lúc đó bọn bạn lại kêu:

- Hãy nhìn kìa! Cái lưng gù của nó rung lên kìa!... - Và bọn chúng lại càng chọc ghẹo nó hăng hái hơn.

Lúc đầu, tôi cũng không chú ý nhiều tới cậu gù, tôi cho rằng nó là đứa buồn chán. Nhưng một lần, đứa bạn to lớn, cạo râu bằng dao cạo, ngồi sau lưng Jozio và bắt đầu búng vào hai tai cậu. Cậu gù sắp khóc, còn lớp học thì rung lên vì cười. Lúc bấy giờ, một cái gì đó nhói lên trong tim tôi. Tôi vơ lấy con dao nhíp đã mở sẵn và đâm vào tay thằng cao lớn đã búng vào tai cậu gù, vừa đâm vừa hét to, rằng tôi sẽ làm như vậy với bất cứ đứa nào động đến Jozio dù chỉ bằng một ngón tay!...

Máu tuôn ra từ thằng cao lớn, mặt nó trắng nhợt như bức tường và có cảm giác rằng nó sẽ ngất xỉu. Cả lớp bỗng nhiên ngừng cười, và sau đó bắt đầu kêu to: “Nó xứng đáng bị như vậy, đừng có bắt nạt người tàn tật!...” Đúng lúc đó, giáo sư bước vào, sau khi biết chuyện tôi đánh bạn bị thương, muốn gọi viên thanh tra mang cây gậy và roi đến. Nhưng tất cả đều cầu xin cho tôi, thậm chí bản thân thằng cao lớn bị thương cũng xin; vì vậy đầu tiên là tôi và thằng cao lớn ôm hôn nhau, sau đó là nó và Jozio, sau đó Jozio và tôi - và thế là chúng tôi đã thoát khỏi hiểm họa.

Tôi để ý thấy cả giờ học, thằng gù cứ quay đầu về phía tôi và mỉm cười, chắc chắn là vì trong thời gian đó nó không bị thêm một cái búng nào. Giờ giải lao cũng không ai gây sự với nó, vài đứa còn tuyên bố sẽ bảo vệ nó. Cậu ta cảm ơn bọn họ, rồi chạy đến chỗ tôi và muốn cho tôi một chiếc bánh mì tròn phết bơ. Tôi không nhận, vì vậy cậu hơi ngượng, sau đó nói khẽ:

- Lesniewski, cậu biết không, tớ sẽ kể cho nghe một bí mật.

- Nói đi! - Tôi đáp - Nhưng nói nhanh lên...

Thằng gù tỏ ra bồn chồn, sau đó lên tiếng hỏi:

- Cậu có bạn thân chưa?...

- Điều đó mang lại cái gì cho tớ?...

- Cậu thấy đấy, nếu cậu muốn tớ sẽ trở thành bạn thân của cậu.

Tôi nhìn nó từ trên cao. Nó càng tỏ ra bối rối hơn và một lần nữa lại hỏi bằng giọng thật nhỏ nhẹ và bị dồn nén:

- Tại sao cậu lại không muốn làm bạn với tớ?

- Vì tớ không chơi với loại người ăn bám như cậu!...- Tôi trả lời.

Cái mũi thằng gù lại tím hơn thường ngày. Nó đã muốn bỏ đi, nhưng một lần nữa quay đầu về phía tôi nói:

- Thế cậu có muốn tớ ngồi cạnh cậu không?... Cậu thấy đấy, tớ cho rằng, điều mà giáo viên hỏi, tớ có thể đưa ra lời giải cho cậu... Tớ biết cách nhắc bài tốt...

Lập luận này đối với tôi thật là quan trọng. Sau giây phút suy nghĩ, tôi nhận thằng gù vào cùng ghế, và cậu láng giềng của tôi cũng chấp thuận nhường chỗ của mình cho nó với giá năm chiếc bánh mì tròn.

Ngay buổi chiều, Jozio đã chuyển đến chỗ tôi. Đó là đứa trợ giúp thành thật nhất của tôi; người đáng tin cậy và cũng là kẻ khen ngợi tôi nhiều nhất. Cậu ta chọn từ và làm bài dịch, cậu ghi chép các ví dụ đưa ra, mang lọ mực, bút và bút chì cho cả hai chúng tôi. Cậu nhắc bài mới tuyệt làm sao!... Trong thời gian tôi học ở trường, nhiều đứa đã nhắc bài cho tôi, thậm chí một số đứa còn phải quỳ vì chuyện đó, nhưng trong nghệ thuật đó không đứa nào sánh bằng Jozio. Trong việc nhắc bài thằng gù là bậc thầy, nó biết nói với hàm răng mím chặt và khi làm điều đó nó vẫn giữ vẻ mặt hồn nhiên đến mức không một giáo sư nào tỏ ý nghi ngờ...

Mỗi lần tôi bị nhốt giam thằng gù đều lẻn mang bánh mì và thịt từ bữa trưa của mình cho tôi. Còn khi tôi gặp chuyện không hay gì đó lớn hơn thì với nước mắt đầm đìa nó cam đoan với các bạn rằng tôi sẽ không để mình bị tổn thương.

- Hô! Hô! - Nó nói - Kazio rất khỏe. Nếu túm được cây gậy ở sau lưng thì sẽ ấn nó xuống đất như túm lông. Đừng có sợ!...

Đương nhiên là các bạn tôi không sợ, chỉ có nó, thằng bạn khốn khổ, sợ hãi thay cho cả hai đứa chúng tôi.

Nếu trong giờ học nào đó thằng gù không phải chú ý canh chừng thì lúc bấy giờ nó ra sức tán dương tôi:

- Chúa ơi!... Giá như tớ mạnh mẽ được như cậu!... Chúa ơi!... Giá như tớ có năng lực như cậu... Cậu biết không, nếu như cậu muốn thì chỉ một tháng nữa cậu sẽ trở thành học trò đứng đầu lớp...

Một hôm, hoàn toàn bất ngờ, thầy giáo môn tiếng Đức bắt tôi đứng ra giữa lớp. Jozio kinh hãi chỉ kịp nhắc tôi rằng tất cả các danh từ giống cái đều thuộc về biến cách thứ tư, thí dụ như từ: die Frau - bà...

Tôi hăng hái bước ra và với sự chắc chắn lớn lao, tôi tuyên bố với giáo viên rằng tất cả các danh từ giống cái đều thuộc về biến cách thứ tư, thí dụ như: die Frau - bà... Nhưng đến đó kết thúc vốn hiểu biết của tôi.

Giáo sư nhìn vào mắt tôi, lắc đầu và ra lệnh dịch. Tôi đọc trôi chảy và rất to bài tiếng Đức một lần, sau đó thêm lần nữa đọc còn trôi chảy hơn, song khi bắt đầu đọc lần thứ ba cũng vẫn đoạn đó thì thầy giáo ra lệnh tôi về chỗ.

Trên đường về ghế, tôi để ý thấy rằng Jozio rất chăm chú theo dõi nét bút chì của giáo sư và nó có vẻ mặt buồn rầu.

Tôi hỏi thằng gù một cách vô tư:

- Cậu có biết thầy cho tớ điểm gì không?

- Tớ biết nói thế nào?... -Jozio nín thở.

- Nhưng cậu cảm thấy thế nào?

- Tớ, - thằng gù nói- tớ sẵn sàng cho cậu điểm 5, mà thôi, điểm 4, nhưng ông ấy...

- Ông ấy cho tớ điểm mấy?- Tôi hỏi.

- Hình như cho - cây gậy... Nhưng đó là con lừa, ông ta thì biết gì!...- Jozio đáp với giọng tin tưởng một cách sâu sắc.

Mặc dù yếu ớt, cậu bé đó rất chăm chỉ và nhanh nhẹn. Trong lớp, tôi thường đọc tiểu thuyết, còn nó thì nghe giảng và sau đó nhắc lại cho tôi.

Một lần, tôi hỏi nó:

- Thầy giáo môn Động vật học của chúng ta nói về cái gì?

- Cậu biết không, nói về điều,- thằng gù đáp với vẻ mặt bí hiểm- rằng cây cối cũng giống như các con vật.

- Ông ấy là đồ ngu ngốc. - Tôi trả lời.

- Thế nhưng... - thằng gù nói - ông ta có lí. Tớ cũng đã hiểu ông ấy đôi chút.

Tôi bắt đầu cười và nói:

- Nào, nếu như cậu thông minh như vậy, thì hãy nói cho tớ nghe: cái gì ở cây liễu giống với con bò?

Thằng bé nghĩ ngợi một chút rồi từ tốn lên tiếng:

- Cậu thấy đấy... con bò lớn lên, còn cây liễu cũng lớn lên...

- Còn cái gì tiếp theo?

- Cậu thấy đấy... con bò ăn cỏ và cây liễu cũng hút nước từ đất...

- Tiếp nữa?...

- Con bò thuộc giống cái, còn cây liễu cũng thuộc giống cái. -Jozio giảng giải.

- Nhưng con bò vẫy đuôi! - Tôi nói với nó.

- Thì cây liễu vẫy cành! - Nó đáp.

Tổng thể các biện minh ấy làm ảnh hưởng đến niềm tin của tôi vào sự khác nhau giữa các con vật và cây cối. Bản thân quan điểm ấy làm tôi thích thú, và từ lúc đó trong tôi được đánh thức tình yêu đối với môn Động vật học được viết tóm tắt trong quyển sách của Pisulewski. Nhờ những bằng chứng của thằng gù, tôi bắt đầu đạt được những điểm 5 từ môn học đó.

Một hôm, Jozio không đến trường, trước giờ trưa ngày hôm sau, mọi người nói rằng có ai đó gọi tôi ra ngoài. Tôi chạy ra hành lang với tâm trạng tương đối bất an, giống như trong những trường hợp tương tự, nhưng thay vì viên thanh tra, tôi nhìn thấy một người đàn ông to béo, khuôn mặt đỏ tía, cái mũi màu tím và đôi mắt đỏ ngầu.

Người lạ lên tiếng bằng giọng khàn khàn:

- Có phải cậu là Lesniewski hay không?

- Vâng.

Ông ta giẫm chân nọ lên chân kia, giống như đang lảo đảo và nói tiếp:

- Cậu hãy ghé thăm thằng Jozio con trai tôi, cái thằng gù ấy, cậu biết không? Nó bị ốm, vì ngày hôm kia người ta cán xe vào nó...

Ông ta lại lảo đảo, nhìn tôi bằng cặp mắt đờ đẫn và đi ra, vừa đi vừa giậm mạnh lên nền nhà. Tôi như bị ai đó giội nước nóng vào người. Tôi có cảm giác rằng kẻ bị xe cán phải là tôi mới đúng, chứ không phải là thằng gù khốn khổ, nó là đứa tốt bụng và yếu ớt như thế...

Buổi chiều được nghỉ học. Tôi không về nhà ăn trưa mà chạy đến chỗ Jozio.

Hai bố con họ sống ở cuối thành phố, trong căn hộ hai buồng của một nhà tầng. Khi bước vào nhà, tôi nhìn thấy thằng gù đang nằm trên chiếc giường ngắn. Nó ở một mình, chỉ có một mình. Nó thở nặng nhọc và run rẩy vì lạnh, bởi lò sưởi không đốt. Con ngươi mắt nó mở rộng đến nỗi lộ ra cặp mắt gần như đen ngòm. Trong căn phòng nhỏ cảm thấy rất ẩm ướt, còn từ trên mái những giọt tuyết tan chảy rơi xuống.

Tôi cúi xuống giường và hỏi:

- Cậu làm sao thế, Jozio ơi?...

Nó tươi tỉnh hẳn lên, mở miệng như muốn cười, nhưng lại chỉ lắp bắp. Nó cầm tay tôi bằng đôi tay gầy còm của mình và bắt đầu nói:

- Chắc là tớ sẽ chết... Nhưng tớ sợ... một mình như vậy... vì vậy tớ muốn cậu đến... Điều đó... cậu thấy đấy... sẽ đến nhanh thôi, lúc đó tớ sẽ vui hơn một chút...

Chưa bao giờ Jozio trở nên như vậy đối với tôi giống hôm nay. Tôi có cảm giác rằng từ một đứa tàn tật, cậu ta bỗng lớn lên thành gã khổng lồ.

Cậu bắt đầu rên rỉ to và ho vật vã, đến nỗi miệng cậu sùi bọt mép đỏ lòm. Sau đó, cậu nhắm mắt và thở nặng nề, đôi khi hoàn toàn ngừng thở. Nếu như không cảm nhận được hơi ấm từ cái xiết của đôi bàn tay nóng bỏng của cậu, chắc tôi nghĩ rằng cậu đã chết.

Chúng tôi ngồi như vậy một tiếng, hai tiếng, ba tiếng - ngồi lặng lẽ. Tôi gần như mất khả năng suy nghĩ. Jozio thỉnh thoảng lắm mới lên tiếng và lên tiếng với sự cố gắng lớn lao. Nó nói với tôi rằng từ phía sau có một chiếc xe đi tới, khiến nó vô cùng đau đớn ở sống lưng, nhưng đã hết đau, rằng hôm qua cha nó đuổi người hầu, còn hôm nay đi tìm người khác...

Sau đó vẫn nắm chặt lấy tay tôi, nó đề nghị tôi cầu nguyện cho nó. Tôi đọc kinh, còn khi bắt đầu câu: “Khi vầng đông thức dậy”, nó ngắt lời tôi:

- Hãy tiếp đi- nó bảo: - “Tất cả mọi việc làm hằng ngày của chúng ta...”. Ngày mai chắc tớ sẽ không thức dậy nữa...

Mặt trời đã tắt, màn đêm xám xịt kéo đến, sau lớp mây, ánh trăng chiếu sáng. Trong nhà không có nến, hơn nữa - thậm chí tôi không nghĩ đến việc thắp nó. Jozio càng lúc càng bình thản hơn, thường mê sảng và chỉ tỉnh lại chốc lát.

Đã muộn rồi, ngoài phố xe ngựa lăn bánh kêu ầm ĩ. Qua sân ai đó đi vào và vừa huýt sáo vừa mở cửa ra vào phòng chúng tôi.

- Bố đấy à? - Thằng gù lắp bắp.

- Bố đây, con trai của bố! - Người mới tới đáp lại bằng giọng khò khè - Con thấy thế nào rồi? Chắc khá hơn chứ!... Phải như vậy thôi!... Luôn luôn vểnh tai cao lên, con trai của bố...

- Bố ơi, không có ánh sáng... - Jozio nói.

- Ngu ngốc, ánh sáng làm gì!... Còn ai đây hả?... - Ông kêu lên khi chạm vào tôi.

- Cháu đây mà... -Tôi đáp.

- A ha! Lukaszowa ư? Tốt rồi!... Hôm nay hãy ngủ đi, ngày mai tôi sẽ cho cô biết mưu mẹo... Tôi là thống đốc!... Rum-Jamaica! ...

- Chúc bố ngủ ngon, bố ạ!... Chúc bố ngủ ngon!... - Jozio thì thầm.

- Chúc ngủ ngon, chúc ngủ ngon, con của bố!... - Người mới đến đáp và sau khi nghiêng người xuống giường, hôn vào đầu tôi.

Tôi biết rằng dưới nách ông có một chai rượu.

- Hãy ngủ đi, - ông nói thêm - ngày mai mày phải đến trường!... Hãy đều bước!... Rum-Jamaica! ... - Ông đóng cửa đánh rầm và bỏ sang phòng thứ hai.

Ở đó ông ngồi xuống một cách nặng nề, rõ ràng là ngồi lên hòm, đập đầu vào tường, còn giây lát sau - vang lên tiếng sủi bọt nhịp nhàng, như ai đó đang uống.

- Kazio ơi!... - Thằng gù thì thầm - Nếu như đến nơi đó... thì cậu thỉnh thoảng ghé thăm tớ nhé. Cậu hãy nói cho tớ biết ở lớp học người ta dạy bài gì...

Trong phòng thứ hai, người mới tới thét to:

- Chúng ta chúc sức khỏe ngài thống đốc!... Hoan hô!... Tôi là thống đốc!... Rum-Jamaica! ...

Jozio bắt đầu cảm thấy run rẩy và nói càng lúc càng bất an hơn:

- Có cái gì đó đập vào tớ!... Có phải cậu ngồi lên người tớ hay không, Kazio ơi? Kazio ơi!... Ôi, đừng đánh tớ nữa!...

- Rum!... Rum-Jamaica! - Người ở phòng thứ hai lại hét lên. Lại có cái gì đó sủi bọt, và sau đó - chai rượu đập xuống nền nhà kêu to khủng khiếp.

Jozio kéo tay tôi đưa lên miệng, dùng răng ngậm vào các ngón tay và - bỗng nhiên buông ra. Nó đã ngừng thở.

- Ông ơi! - Tôi lên tiếng gọi - Ông ơi! Jozio chết rồi!...

- Mày lảm nhảm cái gì thế? - Giọng gầm gừ vẳng đến từ phòng thứ hai.

Tôi bật dậy khỏi giường và đứng ở cửa ra vào, vừa đứng vừa nhìn vào bóng tối.

- Jozio chết rồi!...- Cả người run rẩy tôi nhắc lại.

Người đó lao xuống chiếc hòm và hét to:

- Cút khỏi đây ngay, thằng khốn!... Tao, bố nó, tao biết rõ hơn việc nó có chết hay không!... Hoan hô ngài thống đốc!... Rum-Jamaica! ...

Tôi cảm thấy lo ngại và chạy khỏi đó.

Suốt cả đêm tôi không thể ngủ được, tôi run lên bần bật, những cơn mơ khủng khiếp kéo đến hành hạ tôi. Sáng hôm sau, chủ nhà trọ của chúng tôi nhìn tôi, nói rằng tôi bị sốt và rằng chắc tôi bị lây từ thằng Jozio bị xe chẹt, và ra lệnh cho tôi phải đặt mười hai ống giác dọc lưng. Sau khi dùng thuốc đó, như chủ nhà nói, đã xảy ra tình trạng khủng khiếp đến nỗi tôi phải nằm một tuần liền trên giường.

Tôi không có mặt trong đám tang Jozio. Cả lớp tôi cùng với các giáo viên và cha xứ đứng đầu đưa tiễn nó. Người ta nói với tôi rằng nó có cỗ quan tài đen bọc nhung, nhỏ như cái hộp đựng đàn violon.

Bố nó khóc rất khủng khiếp, còn trên nghĩa trang ông đã vồ lấy quan tài và muốn mang nó chạy trốn. Nhưng người ta vẫn chôn cất Jozio, còn bố nó được viên chỉ huy cùng một cảnh sát dẫn ra khỏi nghĩa trang.

Khi tôi trở lại trường học, người ta nói cho tôi biết rằng có ai đó hằng ngày đều đến hỏi về tôi. Khoảng mười một giờ hôm ấy người ta tìm tôi.

Tôi bước ra ngoài - sau cánh cửa, bố của Jozio vừa chết đang đứng. Ông có khuôn mặt tím tái và chiếc mũi màu tro. Ông hoàn toàn tỉnh táo, chỉ có cái đầu và đôi tay là run rẩy.

Người ấy ôm tôi vào ngực và nhìn rất sâu vào mắt tôi, sau đó bỗng nhiên lên tiếng:

- Mày đã bảo vệ thằng Jozio, khi mọi người trong lớp bắt nạt nó phải không?...

- Liệu ông già này có điên hay không nhỉ?- Tôi nghĩ, nhưng không nói gì với ông.

Ông ôm cổ tôi bằng cả hai tay và hôn mấy lần lên đầu tôi, vừa hôn vừa thì thầm:

- Chúa hãy ban ơn cho mày... Chúa hãy ban ơn cho mày!...

Ông buông tôi ra và lại hỏi:

- Mày có mặt lúc nó chết phải không?... Hãy nói thật cho tao biết, nó có mệt lắm không?...

Ngay sau đó, ông ta lùi lại và nói nhanh:

- Nhưng thôi, đừng nói gì cả!... Ôi, không ai biết, tôi bất hạnh đến thế nào!...

Từ đôi mắt, những giọt nước mắt ông bắt đầu chảy. Ông đưa hai tay lên ôm đầu, quay lại phía tôi và vừa chạy đến bậc cầu thang vừa hét:

- Tôi thật khốn khổ!... Khốn khổ... Khốn khổ...

Ông hét to đến mức các giáo sư bước cả ra hành lang. Họ nhìn theo ông, lắc đầu và ra lệnh cho tôi quay vào lớp.

Gần tối, một người trung gian mang đến nhà trọ cho tôi một cái hòm khá to và tờ giấy với dòng chữ: “Của Jozio khốn khổ - kỉ niệm”.

Trong hòm có rất nhiều sách đẹp của Jozio quá cố, trong đó có: Sách về thế giới, Lịch sử Hoàng đế Canto, Don Quixote, Phòng triển lãm ở Drezden và nhiều sách khác. Những quyển sách đó đánh thức trong tôi niềm ham muốn say mê đọc một cách nghiêm chỉnh.

Cũng may là mùa xuân tôi đã đến mộ Jozio lần đầu tiên. Đó là một ngôi mộ nhỏ và võng xuống, giống như bản thân cậu ta. Tôi để ý thấy rằng ai đó đã cắm những cành lá xanh xung quanh đó. Cách đó vài bước, giữa vạt cỏ, tôi tìm thấy mấy cái chai với dòng chữ: Rum-Jamaica . Tôi ngồi khoảng một tiếng đồng hồ, nhưng tôi không nói cho Jozio nghe cái gì đã được giảng ở trong lớp, bởi vì bản thân tôi cũng không biết và cậu ta cũng không hỏi.

Một tuần sau, tôi lại đi đến nghĩa trang. Tôi lại nhìn thấy các cành cây xanh mới cắm vào mộ Jozio, và giữa vạt cỏ - tôi lại tìm thấy vài cái chai còn nguyên vẹn và một số đã bị đập vỡ.

Đầu tháng Năm, có một tin đặc biệt được lan truyền trong thành phố. Đó là ngay sáng sớm, bên cạnh mộ của Jozio người ta tìm thấy xác chết của bố cậu ta. Bên cạnh đó nằm chỏng gọng một chai đã vơi nửa với dòng chữ: Rum-Jamaica .

Các bác sĩ nói rằng người ấy chết vì chứng phình mạch máu.

Biến cố ấy tác động đến tôi hết sức đặc biệt. Kể từ đó, mối quan hệ với bạn bè đối với tôi trở thành gánh nặng và những trò đùa ồn ã của họ làm tôi chán ngấy. Lúc đó, tôi chìm đắm vào việc đọc sách, những cuốn mà Jozio để lại cho tôi, hoặc tôi trốn ra khỏi thành phố, chui vào các bụi rậm và vừa luồn lách trong đó vừa nghĩ ngợi lung tung, chỉ có Chúa biết tôi nghĩ gì. Nhiều lúc tôi tự hỏi, tại sao Jozio lại chết một cách nhạt nhẽo như vậy và tại sao cha nó lại cô đơn đến nỗi phải ôm ấp nấm mộ con trai. Tôi cảm thấy rằng nỗi bất hạnh lớn nhất là sự bị bỏ rơi và tôi hiểu tại sao thằng gù lại tìm kiếm bạn thân.

Tôi cũng cần có bạn thân bây giờ. Nhưng trong số các bạn học không một ai khiến tôi vừa ý. Tôi nhớ đến em gái. Không!... Em gái không thể thay thế bạn thân được.

Các bạn nói về tôi, rằng tôi đã trở thành hoang dã, còn ông chủ nhà trọ của chúng tôi thì tin chắc rằng tôi sẽ trở thành một tên tội phạm cỡ lớn.

Đã đến thời điểm trọng đại, khi viên thanh tra thông báo cho toàn thế giới rằng tôi nhận được chứng chỉ lên lớp Hai. Trường hợp này làm tôi ngạc nhiên vui sướng. Bỗng nhiên, tôi cảm thấy rằng dù trường có những lớp học cao hơn, song không lớp nào tuyệt vời hơn lớp Hai. Tôi cam đoan với các bạn học rằng học trò các lớp còn lại, kể từ lớp Ba đến lớp Bảy, chỉ học lại những điều mà họ đã học được ở lớp Hai, còn trong thâm tâm, tôi lo sợ rằng sau kì nghỉ hè, các giáo sư phát hiện ra rằng cho tôi lên lớp Hai là một sự nhầm lẫn và lại rút tôi xuống lớp Một.

Ngày hôm sau, tôi đã làm quen trong chừng mực nhất định với niềm hạnh phúc của mình, còn khi về nhà nghỉ hè thì suốt dọc đường tôi chỉ giải thích cho người đánh xe rằng tôi là đứa duy nhất trong lớp có được chứng chỉ lên lớp xứng đáng và rằng bản đánh giá học lực của tôi là tốt nhất. Tôi đưa ra cho ông ta những biện minh không thể phủ nhận được, khiến ông thậm chí phải ngáp dài. Khi tôi im lặng, tôi sợ hãi nhận thấy rằng chính bản thân mình lại đầy nghi vấn.

Ngày hôm sau, khi về đến nhà, trên đường về tôi gặp em gái Zosia chạy ra đón tôi. Ngay lúc đó, tôi báo cho nó biết rằng tôi đã lên lớp Hai và bạn thân Jozio của tôi đã chết, do người ta cán xe vào nó. Còn em tôi thì nói rằng rất nhớ tôi, rằng con gà mái đẻ mười gà con, rằng một ông nào đó đến thăm bà công tước mỗi tuần hai lần, rằng họ có cô gia sư yêu ông thư kí và rằng Jozio quá cố chẳng khiến cho nó - tức là Zosia - quan tâm gì, vì nó là một đứa gù. Nhưng dù sao nó cũng tỏ ra thương tiếc cậu ta.

Khi nói điều đó, nó làm ra vẻ một cô gái lớn.

Buổi chiều tôi mới gặp cha tôi. Ông đón tôi rất nhiệt tình và nói rằng suốt kì nghỉ hè sẽ cho tôi cưỡi ngựa và cho phép tôi bắn súng lục. Sau đó, ông nói thêm:

- Ngay sau đây con hãy đến dinh chào bà công tước, mặc dù...

Đến đây ông phẩy tay.

- Chuyện gì đã xảy ra thế, thưa cha?... - Tôi lên tiếng hỏi như một người lớn đến mức đã tỏ ra lúng túng trước sự mạnh dạn của mình.

Không ngờ cha tôi đáp lại không hề giận dữ, chỉ với một chút cay đắng:

- Bà ta bây giờ không còn cần người đại diện già này nữa. Không lâu nữa ở đây sẽ có ông chủ mới và ông ấy tự mình cũng có khả năng...

Ông ngừng nói và quay lưng lại lầm bầm qua kẽ răng:

- Thua bạc mất cả gia tài...

Tôi bắt đầu đoán ra rằng trong lúc tôi không có mặt đã xảy ra những thay đổi lớn lao. Mặc dầu vậy, tôi vẫn đến chào bà công tước. Bà đón tiếp tôi một cách nhã nhặn, còn tôi để ý thấy rằng cặp mắt đượm buồn của bà hôm nay đã có biểu hiện hoàn toàn khác.

Khi ra về, tôi gặp cha tôi ở sân trong và nói rằng bà công tước tỏ ra vui vẻ như chưa từng thấy bao giờ. Ông xoay người, vỗ hai tay vào nhau, hoàn toàn giống như các cô hầu phòng của bà.

- Chà chà! Mỗi người đàn bà trước đám cưới đều vui vẻ cả... - Cha tôi đáp như nói với chính mình.

Trong giây phút đó, cỗ xe nhỏ đi đến trước dinh, từ trong xe bước ra người đàn ông cao lớn với bộ râu cằm đen và đôi mắt như ngọn lửa. Hình như bà công tước chạy ra sân, vì tôi nhìn thấy qua cửa ra vào đôi tay chìa ra phía ông kia.

Cha tôi đi trước tôi, cười nhỏ và lầm bầm:

- Ha ha!... Tất cả đàn bà đều điên rồ!... Bà chủ bị một kẻ lịch sự quyến rũ, còn gia sư thì bị gã thư kí làm mê mệt... Đối với Salusia chỉ còn mình và cha xứ quản hạt... Ha ha!...

Tôi đã mười hai tuổi và đã nghe nói nhiều về tình yêu. Đứa bạn học, kẻ cạo râu và học đúp ba năm ở lớp Một, nhiều lần nói với chúng tôi về tình cảm của nó dành cho một cô gái mà nó nhìn thấy mỗi ngày vài lần trên đường phố hoặc qua cánh cửa sổ. Hơn nữa,

chính tôi cũng đọc vài tiểu thuyết rất hay và còn nhớ kĩ những nhân vật chính đã làm tôi đau đớn đến thế nào.

Chính vì lí do đó, những lời buột miệng của cha tôi đã gây ra cho tôi những cảm giác đáng buồn. Tôi cảm thấy có thiện cảm với bà chủ đất của chúng tôi, thậm chí với cả cô gia sư mặc dù không thích ông có râu và viên thư kí. Không bao giờ tôi lớn tiếng nói về điều đó (thậm chí còn không dám nghĩ về nó một cách rõ ràng), nhưng tôi cảm thấy rằng cả bà chủ của chúng tôi, cả cô gia sư nữa sẽ hành động đúng đắn hơn nhiều nếu như tỏ ra mong muốn tôi.

Trong vài ngày tiếp theo, tôi đi vòng quanh làng, công viên, các chuồng trại, tôi cưỡi ngựa, bơi thuyền, nhưng - ngay sau đó, tôi phát hiện ra rằng mình bắt đầu cảm thấy buồn chán. Đúng ra thì cha tôi càng lúc càng hay nói chuyện nhiều hơn với tôi như với một người lớn, ông nấu rượu mời tôi đến uống rượu lúa mạch đen, còn ông thư kí kế toán đưa ra đề nghị làm bạn và thậm chí còn hứa sẽ kể về những nỗi đau đớn mà ông gánh chịu vì cô gia sư, nhưng - tôi không thấy vui về điều đó. Cả rượu lúa mạch đen của ông nấu rượu, lẫn những lời thổ lộ của ông thư kí tôi sẵn sàng xin đổi lấy một người bạn tốt. Thế nhưng khi suy nghĩ phải chọn lựa giữa những đứa bạn cùng kết thúc

lớp Một với mình, thì tôi tin chắc rằng không đứa nào thỏa mãn những ham muốn hiện nay của tôi.

Đôi khi từ trong sâu thẳm tâm hồn tôi, bỗng nổi lên bóng dáng buồn bã của Jozio quá cố và nó đã kể cho tôi nghe về những điều lạ lùng bằng giọng nhỏ hơn tiếng xào xạc của cơn gió mùa hè. Lúc bấy giờ, một sự ngọt ngào khó tả chiếm lĩnh tôi và tôi bỗng nhớ, nhưng bản thân mình không biết nhớ cái gì... Một lần, do ảnh hưởng của những ý nghĩ trừu tượng như vậy, tôi đi lang thang dọc theo những con đường cỏ mọc um tùm trong công viên, bỗng nhiên em gái tôi Zosia chạy ngáng đường tôi và hỏi:

- Tại sao anh không chơi với chúng em?

Tôi cảm thấy nóng người.

- Chơi với ai?...

- Thì với em và Lonia.

Sẽ là một câu hỏi không thể giải đáp được, tại sao trong giây phút ấy cái tên Lonia lại khiến tôi liên tưởng đến hình bóng Jozio và tại sao tôi lại ngượng đến mức mặt đỏ gay và mồ hôi xuất hiện đầy trên trán.

- Cái gì thế?... Anh không muốn chơi cùng chúng em à? - Em gái tôi ngạc nhiên hỏi- Hôm lễ Phục sinh, một học sinh lớp Ba đến đây và hoàn toàn không lên mặt như anh. Suốt ngày anh ta đi theo chúng em.

Và cũng lại không biết tại sao tôi cảm thấy căm thù đứa học trò lớp Ba nọ, đứa mà chưa bao giờ tôi nhìn thấy. Cuối cùng, tôi đáp lại Zosia bằng giọng khàn khàn, mặc dù trong tim không hề có ác cảm đối với cô gái ấy:

- Anh không biết cô Lonia ấy.

- Sao lại không biết cơ chứ? Anh không nhớ là vì nó mà cô gia sư đã đánh anh à? Thế anh có nhớ Lonia đã khóc như thế nào vì anh và xin mọi người đừng làm gì hại anh khi... cái chuồng bò nọ bị cháy hay sao?

Dĩ nhiên là mọi chuyện tôi đều nhớ, và đặc biệt là bản thân Lonia; nhưng tôi phải thú nhận rằng khả năng làm hồi phục trí nhớ của em gái tôi khiến tôi bực mình. Tôi cảm thấy là câu chuyện không hợp với giá trị bộ đồng phục của tôi, rằng người ở thôn quê và đặc biệt là các cô gái mới lớn có trí nhớ tốt như vậy.

Do ảnh hưởng của những cảm giác như vậy, tôi đáp lại như một kẻ vũ phu:

- Ê hê, hãy để cho anh yên cả với em, cả với cái cô Lonia của em nữa...

Và tôi đi sâu vào trong công viên, tỏ ra không hài lòng vì những lời nhắc nhở không đúng lúc của em gái cũng như vì tôi không chơi với bọn con gái. Hơn nữa, bản thân tôi cũng không biết mình muốn gì, song tôi cáu giận đến mức khi gặp Zosia ở trong nhà, tôi cũng không muốn nói chuyện với nó.

Em gái tôi buồn rầu cố tránh khỏi ánh mắt của tôi, tôi vừa tìm em vừa nghĩ rằng mình đang thiếu một cái gì đó, rằng chuyện chơi chung tôi đã quyết định hoàn toàn sai lầm. Vì vậy để cải thiện tình thế, khi Zosia buồn rầu bắt tay vào mạng quần áo, tôi vớ ngay quyển sách đặt ở ngoài cùng và sau mấy phút lật giở các trang sách, tôi vứt nó xuống bàn và nói như đang nói với chính mình:

- Tất cả bọn con gái đều ngu ngốc cả!...

Tôi cho rằng cách ngôn đó là vô cùng thông minh. Nhưng vừa mới nói xong, tôi cảm thấy trong đó có một cái gì không ổn. Tôi thấy thương em gái, và ngượng nữa... Không nói gì thêm, tôi chỉ hôn hai má Zosia và đi vào rừng.

Chúa ơi, sao ngày hôm đó tôi lại bất hạnh như vậy! Tuy nhiên, đó mới chỉ là khởi đầu những nỗi buồn phiền của tôi.

Tôi không muốn giấu giếm điều gì. Suốt cả đêm, tôi nằm mơ thấy Lonia, và từ đó thay cho thằng bạn gù khốn khổ, bóng dáng của cô gái ấy hiện lên trong tưởng tượng của tôi. Tôi cảm thấy rằng chỉ một mình cô có thể trở thành người bạn thân mà tôi cần bấy lâu nay. Trong mơ, tôi nói chuyện với cô lâu và thú vị đến mức giống như người ta miêu tả trong tiểu thuyết, còn tôi thì lễ độ giống như một quan biên trấn. Còn trong thực tế, thậm chí tôi không dám đánh bạo đi vào công viên khi ở đó các cô gái nhỏ đang chơi đùa, nhưng tiếng cười của họ hòa lẫn những lời nhắc nhở của cô gia sư, tôi vẫn nghe thấy từ ngoài hàng rào vẳng đến.

Tôi nhớ rất rõ chỗ đó, nơi người ta vứt rác từ trong dinh ra và mọc đầy những bụi cây cao, cây ké. Tôi nhô ra đó hàng chục phút chỉ để nghe được vài lời nói không rõ ràng, tiếng giày nện ầm ầm trên đường mòn và nhìn chiếc váy lấp loáng của Lonia khi cô nhảy dây.

Chẳng mấy chốc, mọi thứ trong công viên lại câm lặng và lúc đó, tôi cảm thấy cái nóng cháy bỏng của mặt trời, và nghe thấy tiếng kêu vo vo không ngừng nghỉ của lũ ruồi bay từng đàn trên đống rác. Sau đó lại vang đến tai tôi tiếng cười và tiếng đuổi nhau, qua khe hở hàng rào lại thấp thoáng tấm váy, rồi nổi lên tiếng rì rào của cây cối, tiếng hót líu lo của chim chóc, cái nóng và lũ ruồi kinh tởm bay đến gần như sát tận miệng tôi.

Bỗng nhiên vang lên giọng nói từ dinh:

- Lonia ơi!... Zosia ơi!... về phòng ngay...

Đó là cô gia sư. Tôi chắc chắn sẽ căm thù cô ta, nếu như không biết rằng cô cũng đang buồn.

Một lần đi dạo ở dưới hàng rào, tôi biết được rằng tôi không hề cô đơn. Từ trên gò, tôi nhìn thấy giữa những chỏm xanh của đám bụi gai thấp thoáng chiếc mũ rơm cũ màu xám xịt mà qua đỉnh của nó nhìn rõ mái tóc màu tro sáng lộ ra, do chiếc mũ bị thủng.

Khi đi thêm vài bước về phía ấy, mái tóc và chiếc mũ ngẩng lên trên những bụi cây gai và hiện ra một cậu bé bảy, tám tuổi gì đó, trong chiếc áo sơ mi dài bẩn thỉu, thắt bằng sợi dây ở dưới cổ. Tôi nói với nó vài lời, nhưng cậu bé bật dậy và chạy thẳng về phía cánh đồng, nhanh như một con thỏ. Chiếc cổ áo đồng phục màu đỏ và những chiếc cúc mạ bạc nói chung đã tạo ra những ấn tượng rất mạnh đối với trẻ con nông thôn.

Tôi từ tốn đi về phía trại ấp, và đồng thời, cậu bé cũng tiến dần tới hàng rào. Khi tôi trốn ở sau tòa nhà, thì nó lẻn vào đống rác và cũng đưa mắt nhìn qua chính khe hở mà qua đó tôi nhìn vào vườn cây. Tôi rất nghi ngờ không hiểu nó nhìn thấy gì, nhưng nó vẫn cứ nhìn.

Ngày hôm sau, tôi đi đến vị trí đó để theo dõi trò chơi của các cô gái nhỏ, tôi lại phát hiện thấy giữa bụi cây gai chiếc mũ rơm màu xám, trên đó là mái tóc màu tro sáng, và dưới bộ cánh rách rưới, một cặp mắt nhìn chằm chằm vào mình. Mặt trời nóng bỏng, vì vậy cậu bé lặng lẽ ngắt một chiếc lá to và che lên người như chiếc ô. Lúc bấy giờ, tôi không còn nhìn thấy cả cái mũ lẫn mái đầu, chỉ còn chiếc áo sơ mi xám hé lộ trên ngực nó.

Khi tôi bước khỏi đó, cậu bé lại chạy đến đống rác và cũng giống như hôm qua, đưa một mắt nhìn vào khe hở, chắc chắn nó nghĩ rằng lần này nữa tôi vẫn không quan sát được hết tất cả những điều thú vị diễn ra ở trong công viên.

Vào giây phút đó, tôi hiểu được sự khôi hài của những hành động của mình. Tôi sẽ ăn nói thế nào, nếu như cha tôi hoặc ông nấu rượu, hoặc thậm chí chính Lonia nhìn thấy rằng tôi, một học sinh lớp Hai, trong bộ đồng phục, lại đứng dưới hàng rào trên đống rác thay phiên nhau với một đứa tập sự trở thành gã mục đồng, kẻ tôi không biết đã mặc chiếc áo sơ mi giặt sạch sẽ bao giờ chưa.

Nỗi ngượng ngùng bao trùm tôi. Có lẽ tôi không được quyền công khai đi vào vườn và ẩn nấp trong các góc khuất như thằng bé đội mũ rách kia?...

Đống rác và khe hở trên hàng rào làm tôi ghê tởm, song cũng đánh thức sự tò mò: cái thằng bé kia là dứa nào nhỉ? Trẻ con ở tuổi nó đã phải chăn ngỗng, còn nó để uổng phí cả tuổi trẻ đẹp nhất của mình lang thang sau trại ấp, nhìn trộm những việc không phải của mình, còn khi bị hỏi thì thay cho việc trả lời, nó lại chạy trốn như con thỏ trước người lạ.

“Hãy đợi đấy - tôi nghĩ - mày sẽ không nhìn thấy tao ở đây nữa, nhưng tao sẽ theo dõi mày để xem mày là đứa nào!”

Tôi nhớ là trong tiểu thuyết, bên cạnh những nhân vật nam và nữ chính cũng có những kẻ lạ mặt bí ẩn, mà đứng trước bọn chúng cần đề phòng và vô hiệu hóa kịp thời mưu kế của chúng.

Vài ngày tiếp đó, không hỏi ai tôi đã biết mọi chuyện về kẻ lạ mặt bí hiểm. Đó không phải là một kẻ gian. Đó là Walek, con trai bà rửa bát của dinh, mọi người đều biết nó, nhưng không ai quan tâm đến nó. Vì vậy, cậu bé có nhiều thời gian rỗi và như tôi được biết thì nó dùng thời gian đó vào những việc không mấy dễ chịu đối với người khác.

Walek không có cha, ngược lại, tất cả mọi người đều làm khổ mẹ nó, một người đàn bà hơi có máu nhục dục. Đối với những lời cạnh khóe của bọn hầu, người đàn bà rửa bát đáp lại bằng tiếng thét và những lời bịa đặt, nhưng điều đó vẫn chưa làm bà thỏa mãn, những thứ còn lại bà đổ cả lên đầu Walek.

Thằng bé còn bò lê bằng cả hai chân, hai tay và mặc áo sơ mi thắt nút ở gáy (điều đó làm cho người ta nghĩ rằng nó hoàn toàn không mặc áo). Người ta đã gọi nó là đứa trẻ bị bỏ rơi.

- Mày là thằng bé nhặt được ư?... - Người mẹ hỏi và hét tiếp - Ôi xin Chúa trừng phạt các người vì tổn thất của tôi!... Bẻ què chân tay các người đi!... Ôi mày chết đi thằng chó!...

Lời rủa cuối cùng đổ xuống đầu Walek, kẻ ngay sau đó nhận được cú đá bằng chân vào dưới nút áo sơ mi nọ. Thằng bé khi còn ngốc nghếch chỉ đáp lại trước hành động đó bằng tiếng khóc nức nở. Nhưng khi đã khôn hơn, chuyện đó cũng đến khá nhanh, lúc bấy giờ, nó chỉ câm lặng như con thỏ và lẩn xuống dưới tràng kỉ, đằng sau chiếc máng lớn, nơi người ta cho lợn ăn. Rõ ràng là nó không muốn bị dội nước sôi như có lần đã xảy ra với nó.

Cũng có lúc Walek ngồi suốt hàng giờ đồng hồ như vậy dưới tràng kỉ, cho đến khi mọi người chưa tản đi chỗ khác để ăn bữa trưa hoặc bữa tối. Đôi khi, nhìn thấy chỏm đầu đứa bé ló ra dưới tràng kỉ và đôi mắt, trong đó còn đọng những giọt nước mắt do trận đòn vừa mới nhận được, vì tò mò những người làm công hỏi mẹ nó:

- Bà không cho đứa bé bà nhặt được trong đống khoai tây ăn à?

- Hãy để cho nó gặm đất cùng với mày! - Người đàn bà nổi cáu đáp lại và mặc dù trước đó đã có ý định cho Walek ăn, giờ đây không cho nó ăn nữa.

- Không thể làm như vậy được, không thể để thằng bé, dù là đứa bị bỏ rơi, chết đói được. - Những người đàn bà khác nói vào.

- Đúng thế, nó sẽ chết vì tính khí thất thường của các người đấy!...

Và bởi vì bà ngồi quay lưng lại tràng kỉ, trên chiếc thùng tưới, nên Walek lại được nhận một cú đá gót vào hàm răng.

Lúc bấy giờ, để chọc tức người mẹ, những người làm công lôi thằng bé ra khỏi chỗ nấp và cho nó ăn.

- Nào, Walek, - một người nói- mày hãy hôn vào đuôi con chó Burek thì sẽ được ăn mì ống.

Thằng bé tuân lệnh một cách nghiêm chỉnh và vì thế được nuốt chửng đĩa mì ống lớn, thậm chí không nhai.

- Nào, bây giờ mày đấm vào mặt mẹ mày một cái thì sẽ được uống sữa...

- Ôi, hình như các người ngứa tay rồi hả! - Người đàn bà rửa bát kêu to, còn thằng bé thì lẩn vào sau máng lợn của mình.

Đôi khi không quần áo, hoảng sợ, nó chạy một mạch vào sân trong và ẩn nấp trong bụi rậm ở phía đối diện dinh. Và khi nước mắt đã khô, nó nhìn thấy ở gian tiền sảnh một chiếc bàn nhỏ đẹp đẽ, bên cạnh là hai chiếc ghế nhỏ, trên đó Lonia và em gái tôi ngồi, được cô hầu phòng buộc khăn lau miệng dưới cằm, bà Salusia rót sữa, còn bà công tước nói:

- Hãy thổi cho nguội đi, bọn trẻ, đừng để bị bỏng, đừng đánh đổ ra ngoài... Hay chưa đủ ngọt hả?...

Ngay khi bọn người làm rời khỏi công việc và ở bếp không còn ai, bà rửa bát đi ra sân và gọi:

- Walek ơi!... Walek ơi... Vào đây đi...

Nghe cách gọi ấy, thằng bé hiểu là có thể đi ra và nó chạy về phía bếp. Ở đó, nó nhận được từ người mẹ mẩu bánh mì, một chiếc thìa gỗ và một ít xúp củ cải đỏ đựng trong chiếc chậu lớn, dành cho sáu người ăn.

Nó ngồi trên mặt đất, mẹ nó đặt chiếc chậu giữa hai chân nó rồi sửa lại áo sơ mi trên vai nó và nói:

- Mày mà còn hôn đuôi chó, thì tao sẽ đánh gãy xương mày. Hãy nhớ đấy!

Sau đó, bà đi rửa nồi niêu bát đĩa.

Ngay sau đó, từ dưới đất xuất hiện một con chó nhà không biết ở đâu chui ra và nó ngồi chồm hỗm trước mặt thằng bé. Ban đầu, nó nhe răng ra đớp ruồi, rồi ngáp và liếm mép. Sau đó, nó ngửi xúp củ cải đỏ lần thứ nhất rồi lần thứ hai và thận trọng thò lưỡi vào liếm. Walek xua đuổi nó, dùng thìa nện vào đầu nó. Con chó rút lui, rồi lại ngáp và thò lưỡi liếm vài hớp mạnh dạn hơn. Thằng bé liên tục dùng thìa gõ vào đầu nó tùy ý, nhưng con chó thấy miếng ngon, không cách gì hất được mõm nó ra khỏi chậu xúp. Cả Walek cũng đã cân nhắc rằng kẻ nào ăn hết trước kẻ đó sẽ thắng và thế là nó ra sức ăn đến không kịp thở ở một bên chậu, còn con chó vục tung tóe ở mép bên kia.

Nếu như người mẹ vui vẻ, và Walek đang ở trong tầm tay, thì lúc đó nó sẽ được cho thêm thức ăn ở bàn của dinh.

- Này ăn đi, rồi đi chơi. - Người rửa bát vừa nói vừa đưa cho nó mẩu bánh thừa, chiếc đĩa đầy nước xốt, cái đầu cá, mẩu cánh gà chưa gặm hoặc cốc nước mà ở đáy vẫn còn một chút cà phê và cặn đường chưa tan hết. Khi nó đã nốc sạch mọi thứ từ trong cốc hoặc đã liếm sạch đĩa thì bà mẹ hỏi nó:

- Thế nào, có ngon không?...

Walek chống sườn giống như những người đầy tớ thường làm sau bữa trưa, hít thở sâu và hất chiếc mũ của mình chếch lên một chút, rồi đáp:

- Con người được ăn một bữa no nê, thật cảm ơn Chúa!... Cần phải đi làm thôi...

Nó rời nhà bếp và đi đâu đó suốt nửa ngày.

Nó bày những trò chơi giống như những người lớn làm việc. Trong thời gian cày ruộng, nó lấy từ dưới sông lên một sợi dây, nhặt một chiếc cọc nhỏ bất kì trong bùn, cầm lên tay hoặc một rễ cây bị đổ và cày suốt hàng tiếng đồng hồ, dĩ nhiên vừa gật gật đầu tại chỗ vừa quát:

- Vắt, vắt, đi, đi!...

Nếu người ta bắt cá thì nó tìm giữa đống rác một cái lưới thủng và với sự kiên trì không gì lay chuyển được, nó ngâm mình dưới nước. Có lúc nó lại ngồi trên cây gậy và đi xe đến giếng cho ngựa uống nước. Một lần, tìm được cạnh chuồng cừu chiếc dép đi trong nhà đã cũ làm từ thớ cây bồ đề, nó vứt xuống nước và giả vờ bơi thuyền - dĩ nhiên là trong tưởng tượng.

Tóm lại, nó chơi đùa rất tuyệt vời, chỉ có điều không bao giờ cười. Khuôn mặt trẻ con của nó luôn biểu hiện một cái gì đó quan trọng không hề lay chuyển, cái mà đôi khi chỉ sự sợ hãi mới làm nới ra đôi chút. Trong đôi mắt to của nó chứa đựng sự sửng sốt giống như ở những người mà suốt tháng năm dài chỉ nhìn những vật chưa hề thấy.

Walek biết cách khéo léo chuồn khỏi nhà suốt cả ngày. Và những người đầy tớ sẽ không ngạc nhiên, nếu như một buổi sáng nào đó người ta tìm thấy nó trong đống rơm hoặc dưới gốc cây trong rừng. Nó cũng có thể đứng giữa cánh đồng suốt vài phút không động đậy giống như cây cột xám và với cái miệng há hốc không biết nhìn vào đâu. Tôi đã để ý nhìn thấy nó một lần trong tư thế ấy và khi ở cách nó tương đối gần, tôi đã nghe thấy nó thở dài như thế nào. Tôi không biết tại sao cái thở dài của thân hình bé nhỏ như vậy đã làm tôi hoảng sợ. Tôi cảm thấy một nỗi buồn thương nào đấy, không biết thương ai và trong giây phút ấy, tôi bỗng yêu mến Walek. Nhưng khi tôi mạnh dạn bước thêm vài bước lại gần nó thì thằng bé bừng tỉnh và chạy trốn vào bụi rậm với sự nhanh nhẹn không thể hiểu nổi.

Lúc đó, trong đầu tôi nảy ra một ý nghĩ đặc biệt, rằng Chúa, người vẫn thường nhìn đứa bé như vậy, phải có một tâm hồn phiền muộn. Tôi cũng hiểu tại sao trong những bức tranh thánh, Người luôn nghiêm nghị và tại sao ở nhà thờ phải nói nhỏ và đi rón rén.

Con người nhỏ nhoi xấu xí đó đã làm được một chuyện là thay cho việc lẩn trốn đằng sau hàng rào,tôi quyết định đi đến công viên, sau khi đã tuyên bố trước với Zosia rằng từ nay trở đi sẽ chơi cùng - với nó và với Lonia.

Dĩ nhiên là em gái tôi rất thích dự kiến đó.

- Anh hãy có mặt ở công viên lúc hai đứa chúng em ra đi dạo. - Zosia nói- Anh hãy chào cả cô gia sư, người luôn đọc sách ở nhà hóng mát; nhưng đừng nói chuyện với cô lâu, vì cô ấy không thích bị ai cản trở. Còn sau đó thì anh sẽ thấy chúng ta chơi vui thế nào!

Cùng ngày hôm ấy, khi ăn trưa, em nói với tôi với vẻ mặt bí ẩn:

- Anh đến lúc ba giờ nhé; em đã nói với Lonia rồi, rằng anh sẽ có mặt. Khi chúng em đi từ dinh ra em sẽ ho...

Em gái tôi lao vào làm việc gì đó, còn tôi, dĩ nhiên, tôi đi ra ngoài, thực ra tôi không bao giờ muốn giam mình ở trong phòng. Tôi vừa ra tới sân thì Zosia chạy theo tôi.

- Kazio ơi! Kazio ơi!...

- Cái gì thế?...

- Khi em ho thì anh biết điều đó có nghĩa là gì chứ?...- Con bé nói với vẻ trịnh trọng.

- Anh hiểu mà.

Nó quay lại phòng, song còn gọi tôi qua cửa sổ:

- Khi em ho... Anh nhớ đấy!

Và tôi còn biết đi đâu nếu như không phải là công viên, mặc dù đến giờ hẹn còn những hơn một tiếng rưỡi đồng hồ nữa. Tôi đăm chiêu suy nghĩ đến mức không hề biết hôm đó chim trong vườn hót thế nào, thông thường nó hót rất say sưa. Tôi chạy vòng quanh công viên vài lần, rồi ngồi trên thuyền buộc sát bờ và vì không thể bơi, ít nhất tôi cũng đung đưa nó để khỏi buồn chán.

Tôi đặt kế hoạch củng cố lại mối quen biết với Lonia. Điều đó phải được tiến hành như sau: Khi Zosia ho, tôi sẽ cúi đầu và từ lối mòn bên cạnh đi ra đường chính. Lúc bấy giờ, Zosia sẽ nói:

- Lonia ơi, hãy nhìn kìa, đó là anh trai mình, anh Kazimierz Lesniewski, học sinh lớp Hai, bạn thân của Jozio xấu số mà mình đã kể cho bạn nghe nhiều lần.

Lonia lúc bấy giờ sẽ cúi chào, còn tôi, sau khi bỏ mũ xuống, sẽ nói:

“Đã từ lâu tôi có ý định...” Không, như vậy sẽ không hay... “Đã từ lâu tôi mong muốn làm quen với cô nương...” Ôi, không! Tốt hơn sẽ thế này: “Đã từ lâu tôi muốn tỏ lòng kính trọng đối với cô nương.”

Lúc đó, Lonia sẽ hỏi:

“Đã từ lâu anh làm khách ở chỗ chúng tôi à?...” Không, cô ta sẽ không nói như vậy, mà là: “Tôi rất hân hạnh được làm quen với anh, người mà tôi đã được nghe rất nhiều từ Zosia...” Còn sau đó thì sao?... Sau đó sẽ là: “Anh không cảm thấy buồn khi ở chỗ chúng tôi chứ?... Anh đã quen sống ở thành phố lớn mà.” Còn tôi sẽ đáp: “Tôi đã buồn chán khi không có cô nương đồng hành...”

Trong giây phút đó, dưới mặt nước, một con cá măng to cỡ nửa khuỷu tay lướt qua... Với tình hình thực tế đó, mơ ước của tôi tan biến. Ở đây trong ao có những con cá như vậy, mà tôi - lại không có cần câu!...

Tôi bật dậy khỏi thuyền vì muốn tìm xem trong nhà có lưỡi câu không và - suýt chút nữa tôi đụng phải Lonia, khi cô đang sắp nhảy qua một sợi dây đỏ.

Những con cá, những chiếc lưỡi câu, kế hoạch làm quen một cách trịnh trọng - mọi thứ lập tức lẫn lộn trong đầu tôi. Đây là hậu quả của - cá măng!... Thậm chí tôi quên không cúi chào Lonia, còn tồi tệ hơn nữa - tôi quên không nói gì. Nhưng cá măng là cái quái gì cơ chứ!...

Lonia là cô gái có mái tóc hạt dẻ rất đẹp, với làn môi rõ nét, chốc chốc lại thay đổi theo một kiểu cách khác nhau, nhìn tôi từ trên cao xuống và sau khi hất ngược những lọn tóc dày ra phía sau, cô liền hỏi tôi không rào đón gì:

- Có phải chính anh là chàng trai đã khoét thuyền của chúng tôi?

- Tôi ư?...

- Ông làm vườn nói với tôi như vậy, bây giờ mẹ tôi không cho phép chúng tôi bơi và ra lệnh buộc thuyền vào bờ, còn mái chèo thì cất đi.

- Ôi, thề có cha tôi, tôi đâu có đục thủng thuyền như vậy!- Tôi giải thích như đứng trước viên thanh tra.

- Liệu có chắc chắn như vậy không? - Lonia hỏi và nhìn nhanh vào mắt tôi - Chuyện này rất giống việc làm của chàng trai...

Giọng nói của cô gái khiến tôi không ưa. Đồ quỷ sứ! Dù là đứa bạn khỏe nhất cũng không nói với tôi theo kiểu như vậy.

- Khi tôi nói rằng không phải, thì điều đó là chắc chắn!...- Tôi đáp lại, vừa đáp vừa nhấn mạnh những từ cần thiết.

- Như vậy thì ông làm vườn nói sai. - Lonia nói và chau mày.

- Ông ta làm đúng đấy,- tôi đáp - bởi vì các cô gái nhỏ không biết bơi thuyền.

- Thế chàng trai biết bơi ư?

- Tôi biết cả bơi thuyền, cả bơi tay, còn biết bơi ngửa và bơi đứng nữa.

- Thế chàng trai có chở chúng tôi không?

- Nếu như mẹ cô nương cho phép thì tôi sẽ chở.

- Vậy thì chàng trai xem thử thuyền có bị thủng không.

- Không bị.

- Thế thì nước ở đâu lọt vào đó.

- Nước mưa.

- Nước mưa ư?

Cuộc nói chuyện bị gián đoạn. Nhưng tôi đã mạnh dạn nhìn Lonia, còn cô ta, nếu như hôm nay nghĩ lại chuyện đó thì thấy rằng cô ta không làm gì động đến tôi. Dĩ nhiên cô ta không chuyển chỗ đứng và bắt đầu nhảy dây, thỉnh thoảng lại nghỉ và nói chuyện với tôi.

- Tại sao chàng trai không chơi với chúng tôi?

- Bởi vì tôi bận.

- Chàng trai làm cái gì?

- Tôi học.

- Nhưng vào kì nghỉ hè có ai học đâu.

- Trong lớp chúng tôi cần phải học thậm chí cả vào kì nghỉ hè.

Lonia nhảy hai lần qua dây và nói:

- Adas học lớp Bốn, nhưng vào dịp lễ cũng không học. A, đúng rồi!... Chàng trai không biết Adas.

- Ai nói với cô là tôi không biết? - Tôi hỏi với vẻ tự hào.

- Bởi vì chàng trai vừa học hết lớp Một, còn anh ta học lớp Ba...

Lại hai lần nhảy qua dây... Tôi nghĩ rằng có chuyện gì đó kì lạ xảy ra với mình.

- Với tôi thậm chí lớp Bốn cũng chẳng là cái gì. - Bị chọc tức, tôi liền đáp.

- Thế nào cũng vậy thôi, vì Adas học ở Warszawa, còn chàng trai... Chàng trai học trường nào?... Ở đâu?...

- Ở Sieldce. - Tôi chỉ kịp đáp lại bằng giọng yếu ớt.

- Còn tôi cũng sẽ đi Warszawa. - Lonia giải thích và nói tiếp:

- Có lẽ chàng trai về nói với Zosia rằng tôi đã ở đây rồi...

Và không chờ sự đồng ý hoặc phản đối của tôi, cô nàng chạy về phía nhà hóng mát, vẫn vừa chạy vừa nhảy.

Tôi choáng váng; không thể ngờ được cô gái ấy lại đối xử với mình như thế.

“A ha, hãy để tôi được yên với trò chơi của các cô - tôi thật sự tức giận nghĩ. - Lonia không phải là đứa con gái lễ phép và tế nhị, mà chỉ là đứa nhãi ranh!...”

Nhưng những ý nghĩ ấy không cản trở việc tôi chấp hành mệnh lệnh của cô tức thì. Tôi nhanh chóng đi về nhà, có thể còn quá nhanh chóng nữa, chắc chắn đó là do hậu quả sự nổi giận bên trong.

Zosia đã cầm ô để đi vào vườn.

- Này, em biết không, - tôi nói và quăng mũ vào một góc - anh đã làm quen với Lonia rồi.

- Và thế nào? - Em gái tôi tò mò hỏi.

- Chẳng sao cả... cũng được!... - Tôi đáp, không nhìn vào mắt nó.

- Đúng là cô ta thật tốt, thật đẹp phải không?...

- Ôi, anh chẳng quan tâm. Đúng ra là cô ấy đề nghị em hãy ra đó.

- Thế còn anh không đi à?...

- Không.

- Tại sao? - Vừa hỏi, Zosia vừa nhìn thẳng vào mắt tôi.

- Hãy để cho anh yên!... - Tôi vùng vằng - Anh không đi, vì không thích...

Trong giọng nói của tôi phải bật ra một cái gì đó rất cương quyết, bởi lẽ em gái tôi đã không hỏi thêm gì nữa và bước ra ngoài. Nhìn thấy nó gần như đang chạy, tôi gọi nó qua cửa sổ:

- Zosia ơi, chỉ có điều em đừng nói gì ở đó nhé... Em bảo... anh hơi bị đau đầu.

- Thôi, thôi, anh đừng lo, em không làm hại anh đâu.

- Hãy nhớ nhé, Zosia ơi, nếu như em còn yêu anh chút xíu.

Dĩ nhiên rồi, chúng tôi đã từng hôn nhau vô cùng chân thành cơ mà.

Hôm nay thật khó mà bới lại trong trí nhớ thứ tình cảm đã giằng xé tôi sau khi Zosia đi khỏi đó. Cái cô Lonia dám nói chuyện với tôi bằng cách thức như vậy ư?... Đúng ra thì các giáo viên, và đặc biệt là viên thanh tra, cũng đối xử với tôi khá suồng sã, - nhưng đó là những người cao tuổi. Tuy vậy, giữa những người bạn trong lớp Một (bây giờ đã là lớp Hai), tôi vẫn được tôn trọng. Còn ở đây, trong làng quê - xin hãy nghe, cha tôi nói chuyện với tôi như thế nào, những người đầy tớ cúi chào tôi ra sao, bao nhiêu lần viên thư kí nói: “Thưa cậu Kazimierz, cậu có thể cho phép tôi mời cậu đến chỗ tôi hút thuốc chứ?”. Tôi đáp lại ông: “Cảm ơn ông, tôi không muốn tập hút.” Còn ông ta nói: “Ôi, sao cậu thật là may mắn, cậu có nghị lực đối với bản thân... Cậu không chịu thua cả cô gia sư nữa...”.

Ứng phó với hành động của những người lớn tuổi, tôi cũng tỏ ra nghiêm nghị. Ngay cả cha xứ quản hạt cũng nói với cha tôi: “Thưa ân nhân, ngài Lesniewski kính mến, hãy nhìn xem, đó là điều mà nhà trường làm được đối với cậu bé. Cái cậu Kazio năm trước vẫn còn là thằng nhóc con lêu lổng, còn hôm nay, thưa ân nhân, đã là một người đứng đắn, đã là Metternich*...”

Metternich (1773-1859): Hoàng thân, chính trị gia người Áo và là một trong những nhà ngoại giao nổi bật nhất thế kỉ 19.

Mọi người đánh giá tôi như vậy... Phải là trường hợp đặc biệt, để một con dê nào đó, đứa không học qua lớp nào, dám nói với tôi rằng: “Điều đó rất giống với việc làm của chàng trai!...” Chàng trai?... Cái cô gái làm ra vẻ người lớn ấy là cái gì đối với tôi cơ chứ! Rằng cô ta biết cái gã Adas nào đó mà đã vội lên mặt. Cái gã Adas ấy là cái gì? Mới học xong lớp Ba, còn tôi đang vào lớp Hai. Khác nhau có là bao! Nếu nó ngu như cừu thì tôi sẽ đuổi kịp, thậm chí còn vượt qua nữa. Hơn thế nữa, thêm vào mọi chuyện, lại còn ra lệnh cho mình đi gọi Zosia nữa, cứ như mình là người hầu của cô ta ấy. Cứ đợi đấy, liệu lần thứ hai nữa tôi có nghe lời không!... Tôi thề rằng, nếu như lúc nào đó cô còn lên giọng với tôi như vậy, thì đơn giản - tôi sẽ đút tay vào túi và trả lời: “Chỉ đề nghị cô không tự cho phép mình làm như vậy nữa!”. Có thể thậm chí còn tốt hơn: “Thưa cô Lonia của tôi, tôi thấy rằng cô chưa học qua lễ độ...”. Hoặc thậm chí như thế này: “Cô Lonia của tôi, nếu cô muốn để tôi còn quan tâm đến cô...”

Tôi cảm thấy rằng câu trả lời tốt đẹp không đến với mình, và điều đó càng lúc càng khiến tôi tức giận hơn. Thậm chí nét mặt tôi đã thay đổi đến mức bà quản gia của chúng tôi, bà già Wojciechowska hai lần bước vào phòng tôi và cúi nhìn tôi, cuối cùng lên tiếng:

- Ôi Chúa ơi, tại sao Kazio lại rầu rĩ như thế?... Hay Kazio bị làm sao, hay có thể điều gì đã xảy ra với cậu?...

- Cháu không làm sao cả.

- Tôi đã nhìn thấy, rằng không phải thế, không cái gì có thể qua mặt tôi được. Nếu cậu làm gì đó sai thì hãy đến chỗ cha cậu và thú nhận ngay đi.

- Cháu không làm gì cả. Cháu chỉ hơi mệt, có thế thôi.

- Nếu cậu mệt như vậy thì hãy nghỉ ngơi và ăn cái gì đó. Chốc nữa tôi sẽ cho cậu bánh mì với mật ong.

Bà đi ra ngoài và sau đó quay trở lại cùng với một khoanh bánh mì to, trên đó mật ong còn đang rỏ giọt.

- Cháu sẽ không ăn đâu, cho cháu được yên!...

- Cậu phải ăn. Cầm lấy nhanh lên, mật ong chảy đầy tay tôi rồi đây này. Hãy ăn đi, chỉ chốc nữa cậu sẽ vui vẻ ngay thôi. Con người ta buồn rầu nếu đói, nhưng nếu ăn một chút vào thì sau đó đầu óc sẽ thông thoáng ngay... Nào, cậu cầm lấy đi!

Tôi buộc phải cầm vì sợ bà rỏ giọt mật ong lên đầu tóc hoặc bộ đồng phục. Tôi ăn một cách máy móc mà không suy nghĩ gì và thực sự điều đó làm tôi cảm thấy vợi bớt ở trong tim. Tôi nghĩ rằng chắc mình sẽ tự giải quyết được bằng cách nào đó với Lonia và cũng nên mời thằng bé khốn khổ Walek cùng ăn, bởi chắc chắn nó ít có dịp được ăn mật ong, hơn nữa tôi cũng đã cảm thấy - thích nó.

Theo đề nghị của tôi, bà Wojciechowska, nhìn thấy tác dụng thần diệu của thuốc, đã cắt thêm cho tôi khoanh bánh còn to hơn lần trước và không tiếc mật ong. Tôi thận trọng cầm gói lương khô lên tay và đi ra ngoài tìm thằng bé.

Tôi tìm được nó ở gần nhà bếp. Người ta đang nói chuyện với nó, hai người đầy tớ vừa mang củi từ rừng về vừa tươi cười.

- Nếu một lần nữa mẹ mày đánh mày,- một người nói - thì hãy mang quần áo ra đi. Sao, mày có đi vào thế giới không?...

- Nhưng cháu không biết đi như thế nào.-Walek đáp lại.

- Hãy thọc gậy vào giày, chỉ cần qua rừng. Bên kia sẽ là cả thế giới.

- Nhưng cháu không có giày.

- Thế thì chỉ mang gậy theo thôi. Với cây gậy và không cần giày mày cũng đi được...

Nhìn thấy tôi, thằng bé chạy về phía bụi cây.

- Sao các anh nói với nó như vậy?- Tôi hỏi những người đầy tớ.

- Không có gì. Chỉ là chúng tôi chế nhạo nó chút thôi. Bình thường giống như với một đứa ngốc ấy mà.

Cảm thấy rằng mật ong bắt đầu chảy trên các ngón tay, tôi không nói chuyện tiếp với họ nữa mà đi tìm Walek. Nó đứng giữa bãi cỏ và nhìn tôi.

- Walek ơi! - Tôi gọi- Mày có bánh mì với mật ong ở đây này.

Nó không nhúc nhích.

- Nào, đến đây... - Và tôi tiến lên vài bước.

Thằng bé bắt đầu chạy.

- Ôi, sao mày ngu thế?... Này, mày có bánh mì, tao đặt nó ở đây cho mày nhé...

Tôi đặt trên hòn đá và rời đi. Khi tôi nấp ở góc nhà bếp, thằng bé tiến đến chỗ hòn đá, bắt đầu thận trọng nhìn khoanh bánh mì và cuối cùng - đã ăn, có vẻ rất ngon lành.

Một tiếng đồng hồ sau, khi đi về phía rừng, tôi đã thấy thằng bé đi phía sau cách tôi một khoảng. Tôi dừng và nó cũng đứng lại. Khi tôi quay về nhà, nó nhảy sang bên cạnh và nấp trong bụi rậm. Nhưng chỉ sau giây lát, nó lại chạy theo tôi.

Ngày hôm ấy, tôi đã cho nó bánh mì lần thứ hai. Nó cầm từ trên tay, nhưng vẫn còn e ngại và ngay sau đó chạy trốn. Thế nhưng kể từ buổi đó, nó bắt đầu đi sau tôi, nhưng luôn cách một khoảng nhất định.

Ngay từ sáng sớm, thằng bé đã quanh quẩn dưới cửa sổ nhà chúng tôi như con chim đã được bàn tay thân thiện rải hạt cho ăn. Buổi tối, nó ngồi dưới nhà bếp và nhìn về phía nhà ngang của chúng tôi. Khi đèn tắt, nó đi ngủ trên tấm khăn choàng đặt phía sau lò sưởi, nơi những con dế gáy ngay trên đầu.

Sau cuộc gặp lần đầu với Lonia, do sự nài nỉ của Zosia, tôi đi cùng nó đến công viên.

- Anh biết không, - em gái tôi đảm bảo - Lonia rất quan tâm đến anh. Lúc nào cũng nói về anh, giận dỗi, rằng lúc đó anh không quay lại và hỏi khi nào anh đến.

Chẳng có gì đáng ngạc nhiên rằng tôi đã nhượng bộ, hơn thế nữa, bản thân tôi cũng cảm thấy có gì đó cuốn hút mình đến với Lonia. Tôi có cảm giác rằng nỗi nhớ nhung của tôi do cái chết của Jozio chỉ được kết thúc khi tôi bắt đầu đi bên cạnh Lonia và nói chuyện nghiêm túc với cô. Nói về cái gì đây? - Cho đến hôm nay tôi vẫn không biết. Tôi chỉ cảm thấy rằng tôi muốn nói thật hay, nói thật nhiều và - có người nghe duy nhất là Lonia.

Cứ nghĩ đến chuyện cùng nhau đi dạo, tôi đã cảm thấy có gì đó nóng ran ở ngực giống như bị bỏng và lấp lánh như ánh mặt trời trên giọt sương. Nhưng thực tế không phải lúc nào cũng thỏa mãn những ước mơ. Chính vì thế, khi em gái dẫn đến, tôi gặp lại Lonia và lên tiếng với ý định bắt đầu cuộc nói chuyện hoàn hảo nọ:

- Cô nương có thích bắt cá không?

Trong lúc đó, các cô gái nắm tay nhau, bắt đầu thầm thì, rồi chạy dọc theo con đường nhỏ và cười như điên dại. Tôi ngây người xoay xoay cần câu trên tay, cây cần mà để làm ra nó, suýt nữa thì tôi đã bị một cú đá hậu của con ngựa vì tôi đã bứt một nhúm lông ở đuôi nó.

Tôi đã định bỏ đi vì bị xúc phạm thì các cô gái quay lại, còn Zosia nói:

- Lonia đề nghị anh gọi cô ấy bằng tên.

Tôi cúi đầu, bối rối im lặng, còn họ lại cười và chạy về phía ao cá.

- Chàng trai biết... - Lonia bắt đầu nói, nhưng lập tức sửa lại - Biết không, Zosia ơi, mẹ nghiêm cấm chúng ta bơi thuyền. Tớ nói rằng anh trai cậu sẽ chở chúng ta, song mẹ vẫn...

Cồ thầm thì vào tai Zosia một lúc khá lâu; còn tôi ngay lập tức đoán ra họ nói về chuyện gì. Chắc chắn bà mẹ sợ rằng tôi để các cô gái bị chìm dưới ao, tôi, một người bơi lội và là học sinh lớp Hai mà lại thế ư!...

Tôi ngượng ngùng. Lonia phát hiện ra điều đó và bỗng nhiên nói:

- Chàng trai hãy... - Cô sửa lại -Zosia ơi, cậu nói với anh trai, hãy hái cho chúng ta ít hoa huệ dưới nước. Những bông hoa đó đẹp như vậy mà tớ chưa bao giờ được cầm nó trong tay.

Tôi cảm thấy phấn chấn tinh thần. ít nhất bây giờ tôi cũng làm cho biết, tôi biết gì.

Rất nhiều hoa huệ mọc dưới ao, nhưng không gần bờ, chúng ở cách bờ đôi chút. Tôi bẻ một cành cây và bước xuống chiếc thuyền đang chòng chành.

Những bông hoa huệ như có thân co giãn. Móc được bằng cây gậy kéo đến gần, nhưng ngay sau đó,chúng lại bơi ra xa. Tôi bẻ cành cây dài hơn, có cái móc nhỏ ở đầu. Lần này thì tôi làm tốt hơn. Bông hoa huệ bị kéo mạnh đã bơi gần đến nơi, chỉ cách chút xíu nữa thôi... Tôi đưa tay trái ra, vẫn còn khá xa. Tôi quỳ trên mỏm thuyền, vươn người ra và sắp sửa ngắt được bông hoa thì bỗng nhiên - rơi tõm xuống nước, cây gậy tuột khỏi tay, còn bông hoa huệ lại bơi ra xa.

Các cô gái hét... Tôi kêu:

- Không việc gì! Không việc gì! Ở đây nông lắm!...

Tôi đổ nước ra khỏi mũ, đội nó lên đầu và lội đến thắt lưng trong ao, bùn ngập đến đầu gối, hái một bông hoa huệ, hai bông, ba bông, bốn bông...

- Kazio ơi! Cầu Chúa, hãy quay lại!... - Em gái tôi khóc gọi.

- Đủ rồi, đủ rồi!... - Lonia đệm theo.

Tôi không nghe. Tôi hái bông thứ năm, thứ sáu và thứ mười, còn sau đó thì hái lá.

Tôi lên khỏi ao, ướt lướt thướt từ bàn chân đến tận đầu, bùn ngập trên đầu gối và tay áo. Trên bờ, Zosia khóc lóc, Lonia không nhận những bông hoa, còn phía sau họ là thằng bé Walek mặt xanh lét hoảng sợ đang ẩn nấp.

Tôi nhìn thấy rằng Lonia cũng rơm rớm nước mắt, nhưng bỗng nhiên bật cười:

- Zosia, nhìn này, anh ta trông thế nào?...

- Chúa ơi, bố sẽ nói gì?... - Zosia gọi - Kazio của em, ít nhất anh cũng rửa mặt đi, người anh bẩn cả rồi.

Tôi vô ý đưa bàn tay đầy bùn lên quệt mũi. Lonia cười đến nỗi ngồi cả xuống cỏ. Zosia cũng vừa cười, vừa lau mắt, thậm chí Walek há hốc mồm và phát ra tiếng gì như tiếng kêu be be.

Bây giờ, đám con gái mới phát hiện ra thằng bé.

- Cái gì thế? - Zosia hỏi - Nó chui ra từ đâu thế nhỉ?

- Nó đến đây theo anh trai cậu.- Lonia trả lời - Tớ đã nhìn thấy nó khi nó nấp giữa bụi rậm.

- Chúa ơi! Nó có cái mũ thế nào kìa!... Nó muốn gì ở anh, Kazio ơi?... - Em gái tôi nói.

- Nó đi theo anh từ mấy ngày nay.

- A ha! Chắc là Kazio chơi với nó, khi chạy trốn chúng mình rồi...- Lonia mỉa mai lên tiếng - Hãy nhìn kìa, Zosia ơi, trông hai người họ thế nào: một người ướt lướt thướt, còn người thứ hai không tắm rửa... Ôi, tôi buồn cười quá!...

Việc so sánh với Walek làm tôi không thích.

- Thôi, Kazio ơi, hãy đi tắm đi và về nhà thay quần áo, còn chúng em trong lúc ấy sẽ đến nhà hóng mát.-Zosia nói, và nâng Lonia dậy, cô ta vì quá vui suýt nữa thì bị chứng kinh giật.

Họ rời đi. Ở lại chỉ còn tôi, Walek và - chùm bông huệ nằm trên cỏ mà không ai nhặt lên.

Một phần thưởng như vậy dành cho sự hiến thân của tôi ư?- Tôi cay đắng nghĩ và cảm thấy bùn đầy trong miệng. Tôi bỏ mũ xuống. Thật đáng sợ, cái gì đã xảy ra với nó?... Nó giống với cái giẻ lau, còn chỗ lưỡi trai sắp bị rời ra. Bộ đồng phục, cái áo ghi lê, áo sơ mi thì sũng nước. Nước cũng đầy trong giày, thậm chí kêu xèo xèo khi tôi bước đi. Tôi cảm thấy từ vải đay biến thành dạ, từ dạ biến thành vỏ cây, từ vỏ cây biến thành gỗ. Ở đằng kia, từ phía nhà hóng mát, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng cười của Lonia, người đang kể về cuộc phiêu lưu của tôi cho cô gia sư nghe.

Chốc nữa họ sẽ đến đây. Tôi muốn tắm, song chưa tắm xong thì đã phải chạy, họ đang đi đến!... Tôi đã nhìn thấy váy của họ trên đường, đã nghe tiếng nói của cô gia sư. Họ cắt ngang đường về nhà của tôi, tôi phải quay ra đường khác để đến chỗ hàng rào.

- Cậu ta đâu rồi? - Cô gia sư hét lên hỏi.

- Ôi, đằng kia, đằng kia!... Hai người họ đang chạy. - Lonia đáp.

Bây giờ, tôi nhìn thấy rằng Walek cũng đang chạy ngay sát sau tôi. Tôi đã lao vào tới hàng rào, nó ở phía sau tôi. Tôi leo lên cái sào gỗ, nó cũng vậy. Và khi hai người, mặt đối mặt nhau, chúng tôi ngồi trên hàng rào giống như trên mình ngựa, thì trong bụi rậm xuất hiện Lonia, Zosia và cô gia sư.

- A ha! Và cả đứa bạn thân nữa!... - Lonia kêu to và cười.

Tôi nhảy từ trên hàng rào xuống và chạy thẳng qua cánh đồng về phía nhà ngang của chúng tôi, còn Walek vẫn theo sát tôi. Rõ ràng nó thích trò rượt đuổi này, vì miệng nó mở ra và phát ra tiếng kêu be be, biểu thị sự hài lòng.

Tôi đứng lại - phát điên lên vì giận dữ.

- Anh bạn yêu dấu, mày muốn gì ở tao?... Tại sao mày cứ theo sau tao như thế?... - Tôi nói với thằng bé.

Walek ngạc nhiên.

- Mày tránh xa tao ra, cút đi!... - Tôi nói và nắm tay lại - Mày làm tao ngượng, mọi người đều cười tao... Nếu còn tiếp tục cản đường tao thì tao sẽ giết mày...

Dứt lời, tôi bỏ đi, còn thằng bé dừng lại.

Khi tôi đã đi cách chỗ đó hơn chục bước, quay đầu nhìn lại thì vẫn thấy nó đứng nguyên ở chỗ đó. Nó nhìn tôi và khóc rất to.

Tôi bước vào nhà bếp của chúng tôi như một con ma, và bất cứ chỗ nào tôi đến đều để lại dấu nước. Nhìn thấy tôi, lũ gà kêu lên quang quác và sợ hãi vỗ cánh bay đến cửa sổ, các cô hầu bắt đầu cười, còn bà Wojciechowa thì đấm tay vào nhau.

- Lời nói trở thành thể xác!... Còn cậu thì sao?... - Bà già hét to.

- Bà không nhìn thấy à?... Cháu bị ngã xuống ao, thế thôi!... Bà Wojciechowska hãy mang cho cháu quần áo, giày, áo sơ mi... Chỉ có điều nhanh lên nhé.

- Thật khổ với cái cậu Kazio này! - Wojciechowska đáp.

- Chắc hẳn khuy ở áo khoác ngoài còn chưa đơm xong... Kaska, nhanh lên, đi tìm giày!

Bà bắt đầu tháo giày và cởi bộ đồng phục cho tôi với sự trợ giúp của người hầu thứ hai. Mọi chuyện cũng tạm ổn, nhưng còn với giày thì gặp trắc trở. Cả về bên trái lẫn bên phải đều không nhúc nhích được. Cuối cùng, người ta gọi người giữ ngựa đến trợ giúp. Tôi phải nằm lên tràng kỉ, bà Wojciechowska cùng các cô hầu giữ ngang vai, còn người giữ ngựa thì tháo giày. Tôi nghĩ rằng họ bẻ chân tôi. Nửa tiếng đồng hồ sau, tôi đã giống như một con búp bê - sạch sẽ, ăn mặc và chải chuốt đàng hoàng. Zosia chạy đến và khâu khuy áo cho bộ đồng phục vải đay của tôi. Bà Wojciechowska giặt bộ quần áo ướt, mang lên phơi trên mái và - im lặng.

Cha tôi sau khi về đến nhà cũng đã biết mọi chuyện. Ông nhìn tôi vẻ chế nhạo, lắc đầu và nói:

- Ôi, con, mày là đồ con lừa, con lừa!... Con bây giờ đến ngay chỗ Lonia để nó may cho chiếc quần lót mới.

Ngay sau đó, ông nấu rượu xuất hiện và ông nhìn tôi, bật cười. Tôi nghe lén được chuyện ông nói với cha tôi trong văn phòng:

- Một cậu bé nhanh nhẹn! Dám lao vào lửa vì các cô gái... Giống như chúng ta thời trai trẻ, ông Lesniewski nhỉ?

Tôi đoán rằng cả trại ấp đều biết về sự lễ độ của tôi đối với Lonia và tôi vô cùng ngượng.

Buổi tối, bà công tước, Lonia và cô gia sư đến, và, thật lạ! Mỗi người họ đều mang theo bên váy mình - một bông huệ nước... Tôi muốn chui xuống đất ẩn nấp, muốn chạy trốn, nhưng người ta đã gọi tôi và tôi đứng trước mặt các bà.

Tôi nhận thấy rằng cô gia sư nhìn tôi vô cùng thân thiện. Còn bà công tước thì vuốt ve bộ mặt đỏ lựng của tôi và cho tôi mấy cái kẹo.

- Cậu bé của tôi, - bà nói - thật là đẹp, vì cậu lễ độ như vậy, nhưng mong cậu đừng bao giờ chở các cô gái nhỏ bằng thuyền, được không?...

Tôi hôn tay bà và lầm bầm gì đó.

- Bản thân cậu cũng đừng bơi. Cậu hứa như vậy với tôi chứ?

- Cháu sẽ không bơi.

Sau đó, bà quay lại phía cô gia sư và nói gì đó bằng tiếng Pháp. Tôi nghe thấy mấy lần nhắc lại từ: hero . Cũng may là cha tôi nghe thấy và lên tiếng:

- Ôi, bà công tước có lí đấy. Herod , đúng là Herod !...

Các bà mỉm cười, còn sau khi họ rời khỏi đó, thì Zosia đã giải thích cho cha tôi rằng hero viết là héros , trong tiếng Pháp không có nghĩa là ông Herod, mà là anh hùng .

- Anh hùng? - Cha tôi nhắc lại - Nó anh hùng như vậy, thậm chí ướt cả đồng phục và rách cả quần lót, còn tao phải mất với gã Szulimow đến hai chục zloty. Thế thì để quỷ tha ma bắt thứ anh hùng đó đi, thứ mà người khác phải trả tiền vì nó!

Quan điểm tầm thường của cha tôi khiến tôi rất buồn. Tôi cảm ơn Chúa, rằng chuyện chỉ kết thúc ở đó.

Từ đó trở đi, tôi gặp Lonia không chỉ ở công viên, mà ở cả trong dinh. Vài lần tôi đã ăn trưa ở đó, điều này gây cho tôi nhiều phiền toái, và hầu như hằng ngày đều ăn bữa đệm buổi chiều, trong đó người ta mang ra hoặc là dâu rừng hoặc phúc bồn tử cùng với đường và váng sữa.

Tôi thường nói chuyện với các bà cao tuổi. Bà công tước ngạc nhiên trước sức đọc của tôi, điều mà tôi đạt được nhờ thư viện của thằng gù, còn cô gia sư, tên là Klementyna, đơn giản là tỏ ra say đắm tôi. Mối cảm tình đó tôi có được không chỉ nhờ sự thông thái của mình, mà nhờ vào những cuộc nói chuyện về ông thư kí, người mà tôi được biết đang phải coi sóc công việc ở đâu và nghĩ gì về cô Klementyna. Cuối cùng, con người thông thái đó thú nhận với tôi rằng cô hoàn toàn không có ý định sẽ lấy ông thư kí làm chồng mà chỉ muốn nâng đỡ tinh thần của ông ta. Cô tuyên bố với tôi rằng theo quan niệm của cô thì vai trò của đàn bà trên thế giới này là để nâng đỡ đàn ông và bản thân tôi sau này, khi lớn lên, tôi cũng phải gặp trong đời người đàn bà có khả năng nâng đỡ mình.

Những bài giảng đó làm tôi rất thích. Càng lúc tôi càng sốt sắng đưa những tin tức về ông thư kí đến cho cô Klementyna và tin về cô cho ông ta, đổi lại tôi được lòng cả hai.

Đến hôm nay, tôi còn nhớ rằng trong dinh cuộc sống rất riêng tư. Đến với bà công tước cứ vài ngày lại có người chồng chưa cưới của bà, còn cô Klementyna mỗi ngày vài lần lại đến những góc kín của công viên,nơi từ đó cô nhìn thấy ông thư kí và ít nhất thì - như cô nói - nghe được tiếng của ông ta, chắc là lúc la mắng bọn đầy tớ. Về phần mình, cô hầu phòng cũng nhiều lần khóc trong các cửa sổ khác nhau vì nhớ chính ông thư kí đó. Những cô gái chưa chồng còn lại, học theo người phụ trách, cũng phân chia tình cảm của mình giữa đám trai hầu, cậu bé bưng bát đĩa, anh bếp, phụ bếp và người đánh xe ngựa. Thậm chí, trái tim bà già Salusia cũng không được rảnh rang. Làm chủ trái tim bà là những con gà tây, ngỗng, vịt, gà và gà thiến, cũng như những giống có cựa và hình dạng khác nhau tương tự mà ở giữa chúng suốt ngày bà quản gia phải xua đuổi.

Thế nên thật dễ hiểu là trong môi trường bận bịu như vậy của chúng tôi, trẻ con tha hồ có thời gian tự do. Chúng tôi chơi đùa với nhau từ sáng sớm đến tận chiều tối và chỉ nhìn thấy người lớn vào lúc người ta gọi chúng tôi đến ăn trưa, ăn bữa đệm buổi chiều hoặc lúc đi nghỉ.

Nhờ sự tự do đó mà quan hệ của tôi với Lonia đã diễn ra khá độc đáo. Cô ta vài ngày trước còn gọi tôi là Kazio, sau đó là “cậu”, sử dụng tôi, thậm chí còn quát tôi, còn tôi - lúc nào cũng gọi cô là “cô nương”, càng lúc tôi càng ít nói, nhưng càng lúc càng lắng nghe nhiều hơn. Nhiều lúc trong tôi nảy sinh lòng tự hào của một người mà chỉ sang năm thôi sẽ lên học lớp Ba. Lúc đó thì tôi nguyền rủa giây phút nọ, khi tôi lần đầu tiên nghe lệnh của Lonia đi gọi em gái. Tôi nói với mình:

“Cô ta nghĩ cái gì, rằng tôi là người hầu của cô, giống như cha tôi ở chỗ mẹ cô chăng?...”

Tôi nổi loạn với chính mình, tôi quyết định rằng điều đó phải thay đổi. Nhưng khi nhìn thấy Lonia, lòng can đảm đó hoàn toàn mất đi ở tôi và nếu như thậm chí giá như giữ lại được điều cuối cùng nào đó, thì lại chính Lonia bằng cách truyền đạt mệnh lệnh của mình với sự khẩn khoản và với việc giậm chân nóng bỏng đến mức, tôi buộc phải làm mọi công việc. Có một lần, sau khi bắt được chú chim sẻ, tôi không đưa ngay cho cô, cô hét to:

- Cậu không muốn cho thì thôi!... Tôi chẳng cần con chim sẻ của cậu...

Cô tỏ ra giận dỗi và tò mò đến mức tôi phải lên tiếng cầu xin để cô nhận chú chim sẻ. Còn cô ta thì không và không!... Tôi buộc phải nài nỉ, dĩ nhiên với sự trợ giúp của Zosia, mặc dầu vậy, suốt mấy ngày tiếp theo, tôi còn phải nghe lời thương cảm:

- Trong đời tôi sẽ không bao giờ làm điều gì có hại cho cậu đâu. Tôi biết bây giờ cậu là người cứng rắn

thế nào rồi! Ngày đầu tiên cậu đã nhảy xuống nước để hái cho tôi hoa huệ, còn hôm qua thì cậu không cho phép tôi được chơi đùa một chút với con chim nhỏ. Tôi biết mọi chuyện rồi... Ôi, không một người con trai nào khác lại hành động với tôi giống như cậu.

Và sau mọi cách giải thích có thể của tôi, cuối cùng tôi đề nghị với cô thôi đừng giận nữa, cô đáp lại:

- Liệu tôi có giận không?... Cậu biết rõ nhất rằng tôi không giận cậu. Tôi chỉ buồn. Tôi buồn như thế nào, thì không ai tưởng tượng nổi đâu... Hãy để Zosia kể tôi đã buồn như thế nào.

Lúc bấy giờ, Zosia với vẻ mặt long trọng đã giải thích cho tôi nghe Lonia rất, rất là buồn.

- Thôi tốt hơn hết hãy để chính Lonia nói ra cô ấy đã buồn như thế nào. - Em gái yêu quý của tôi kết thúc.

Bị đẩy từ Annasz đến Kajfasz* để xác định rõ mức độ buồn rầu làm cho đầu óc tôi hoàn toàn mụ mẫm.

Thành ngữ bắt nguồn từ Kinh thánh, chỉ việc bị đưa đẩy liên tục tới nhiều nơi mà không giải quyết được gì.

Tôi trở thành cỗ máy mà các cô gái chế tạo ra chỉ để làm họ vui thích, chút xíu tự chủ cuối cùng về phía tôi cũng bị mất nốt bởi sự đau buồn hoặc của Lonia, hoặc của Zosia, thứ mà cả hai người họ cùng chia chác cho nhau.

Giá như thằng Jozio khốn khổ có đội mồ chui lên thì cũng không thể nhận ra tôi trong thể xác của một chàng trai lặng lẽ, ngoan ngoãn, bị ăn hiếp, kẻ vĩnh viễn bị sai khiến đi làm gì đó, mang cái này, tìm cái kia, kẻ không biết về một việc gì đó, về cái gì đó và cứ vài phút lại bị quở mắng. Nếu như các bạn học của tôi mà biết!...

Một hôm, cô Klementyna quá bận rộn so với thường ngày. Vì ông thư kí phải trông coi gì đó ở trại ngựa, cách nhà hóng mát yêu thích hơn một chục bước chân. Lợi dụng dịp đó, chúng tôi chuồn khỏi công viên, đi đến chỗ các bụi rậm, nơi mọc những cây mâm xôi.

Thật khủng khiếp, sao chúng mọc nhiều đến thế? Cứ mỗi bước là một khóm, còn trên mỗi khóm là một bụi mâm xôi đen và lớn như trái mận. Lúc ban đầu, chúng tôi cùng nhau hái, vừa hái vừa kêu lên ầm ĩ vì ngạc nhiên và vui sướng. Nhưng sau đó, chúng tôi đều im lặng và mỗi người đi về một hướng. Tôi không biết chỗ các cô gái thế nào, còn tôi bị ngập giữa những khóm cây rậm rạp nhất, tôi không còn biết thế giới là gì nữa. Ôi, những trái mâm xôi!... Ngày nay thậm chí không có trái dứa nào như vậy.

Đứng nhiều mệt - tôi ngồi xuống, ngồi nhiều mệt - tôi đặt lưng xuống bụi cây rậm giống như chiếc ghế bành đàn hồi. Ở đây thật ấm áp, thật êm dịu và thật đầy đủ, đến nỗi không biết từ đâu, tôi lại nghĩ rằng chính như vậy mới là chốn thiên đường của Adam. Chúa ơi! Chúa ơi! Tại sao tôi không phải là Adam? Đến hôm nay, trên cái cây đáng nguyền rủa dù có mọc đầy những trái táo, để hái nó, tôi cũng không thèm đưa tay lên khỏi đầu...

Giãn người ra giống như con rắn dưới ánh nắng ấm áp trên bụi cây mềm mại, tôi cảm thấy niềm hạnh phúc không thể diễn tả nổi, chủ yếu là vì tôi có thể hoàn toàn không nghĩ ngợi gì. Đôi lúc tôi xoay người nằm ngửa, đầu thấp hơn toàn thân. Những chiếc lá do gió đưa bay đến vuốt ve trên mặt tôi, còn tôi nhìn lên bầu trời mênh mông và với sự hài lòng tột độ, tôi tưởng tượng rằng con người tôi - hoàn toàn không tồn tại. Lonia, Zosia, công viên, bữa trưa, cuối cùng cả ngôi trường và viên thanh tra cũng chỉ là giấc mơ, giấc mơ đã từng có ngày nào đó, rồi đã qua đi, có lẽ một trăm năm nay rồi, có lẽ cả nghìn năm rồi. Cậu Jozio khốn khổ trên bầu trời chắc chắn vẫn trải qua những tình cảm đó. Ôi, sao nó hạnh phúc như vậy!...

Cuối cùng, những cây mâm xôi cũng làm tôi chán. Tôi cảm thấy những bụi cây nâng tôi lên cao êm dịu làm sao, tôi nhìn thấy từng đám mây đang lơ lửng dịch chuyển trên nền trời trong xanh, tôi nghe thấy tiếng từng chiếc lá kêu xào xạc, còn bản thân mình thì không nghĩ gì.

Bỗng nhiên, cái gì đó lôi kéo tôi. Tôi đứng bật dậy bằng hai chân, không hiểu cái gì xảy ra. Sau giây lát lại im lặng như lúc đầu, nhưng ngay giây phút ấy, tôi nghe thấy tiếng khóc và tiếng kêu của Lonia:

- Zosia ơi!... Cô Klementyna ơi!... Cứu với!...

Có một cái gì đó thật khủng khiếp trong tiếng kêu của đứa bé: “Cứu với!...” Thoáng qua trong đầu tôi ý nghĩ: rắn độc! Cây mận hoang kéo áo tôi, chặn chân tôi, giằng xé, xô đẩy, không!... Nó dính vào người tôi, vật lộn với tôi giống như một con quái vật, trong khi đó thì Lonia kêu: “Cứu với!... Chúa ơi, Chúa của con ơi!...” - còn tôi chỉ hiểu có một điều, rõ ràng như ánh mặt trời, rằng ở đây tôi phải ra tay cứu giúp hoặc chính mình sẽ chết.

Mệt mỏi, xây xát, và đặc biệt là - sợ hãi, cuối cùng tôi cũng chạy được đến chỗ đó, nơi tôi nghe thấy tiếng khóc của Lonia.

Cô bé ngồi trong bụi cây, vừa run rẩy vừa vặn tay.

- Lonia ơi!... Cậu bị sao vậy?... - Lần đầu tiên tôi gọi thẳng tên cô.

- Ong!... Ong!...

- Ong?... - Tôi nhắc lại và lao vào gần cô - Nó đốt cậu?...

- Chưa đốt, nhưng...

- Vậy thì sao...?

- Nó bò trong người tớ...

- Ở đâu?...

Nước mắt cô trào ra. Cô rất ngượng, nhưng nỗi sợ hãi vượt lên trên.

- Nó lẻn vào trong bít tất dài của tớ... Ôi, Chúa ơi... Chúa ơi, Zosia ơi!...

Tôi quỳ xuống trước cô, nhưng còn chưa dám tìm ong.

- Cậu hãy rút nó ra. - Tôi nói.

- Nhưng tớ sợ. Ôi, Chúa ơi!...

Cô run lên như bị chứng sốt rét. Tôi đã đi đến quyết định cực kì dũng cảm.

- Nó ở chỗ nào?

- Bây giờ nó đang bò ở đầu gối tớ...

- Nó không có cả ở đấy, lẫn ở đây.

- Nó bò lên cao hơn rồi... Ôi! Zosia ơi, Zosia ơi!...

- Nhưng cả ở đây cũng không thấy nó...

Lonia lấy hai tay che mặt.

- Chắc nó phải lẩn trốn trong váy... - Cô nói và khóc to hơn.

- Thấy rồi!... - Tôi kêu - Đó là con ruồi...

- Ở đâu?... Ruồi ư?... - Lonia hỏi - Đúng rồi, đó là con ruồi! Ôi, sao nó lớn thế... Tớ tin chắc đó là con ong. Tớ nghĩ mình sẽ chết... Chúa ơi, sao tôi lại ngu ngốc như vậy.

Cô lau nước mắt và lập tức bật cười.

- Giết chết nó hay thả nó ra? - Tôi hỏi Lonia và đưa con vật bất hạnh ra cho cô.

- Tùy ý cậu. - Cô đã hoàn toàn bình tĩnh đáp.

Tôi định giết chết con ruồi, nhưng - không nhẫn tâm. Và vì cả cánh, cả người nó đều vô cùng mỏng mảnh, vì vậy - tôi phải thận trọng đặt nó lên một chiếc lá. Trong khi đó, Lonia quan sát tôi vô cùng chăm chú.

- Cậu làm sao vậy?... - Bỗng nhiên cô hỏi.

- Không sao.- Tôi đáp và cố nở nụ cười.

Tôi cảm thấy sức lực giảm sút nhanh chóng. Tim tôi đập như chuông, mắt tôi hoa lên, mồ hôi lạnh túa ra khắp cơ thể và tôi vừa quỳ xuống vừa run rẩy.

- Cậu làm sao thế, Kazio ơi?...

- Không sao... Tớ chỉ nghĩ, rằng cậu gặp chuyện gì đó chẳng lành.

Nếu như Lonia không giữ người tôi và không tựa đầu tôi vào đầu gối mình thì chắc tôi đã đập mũi xuống đất.

Một làn sóng ấm áp dâng lên đập vào đầu tôi, tôi nghe tiếng động ồn ào trong tai và lại thấy tiếng Lonia:

-Kazio ơi!... Kazio thân yêu ơi... Cậu làm sao thế ?... Zosia ơi!... Chúa ơi, cậu ấy ngất xỉu rồi... Tôi biết làm gì ở đây, ôi, tôi bất hạnh làm sao?...

Cô ôm đầu tôi bằng hai tay và bắt đầu hôn. Trên khắp mặt, tôi cảm nhận được nước mắt của cô. Tôi cảm thấy thương cô đến mức cố gắng mang hết sức lực còn lại của mình ra và khó khăn lắm mới nhúc nhích được.

- Tớ không làm sao cả!... Cậu đừng sợ!... - Từ sâu thẳm trái tim, tôi cất tiếng gọi.

Dĩ nhiên giây phút yếu đuối đã qua nhanh như nó đến. Bên tai tôi không còn tiếng ồn ào nữa, mắt đã sáng ra, tôi ngẩng đầu lên khỏi đầu gối Lonia và vừa nhìn vào mắt cô, vừa cười.

Bây giờ, cô ta cũng bắt đầu cười.

- Ôi, cậu không đứng đắn, ôi, cậu không tốt!... - Cô nói - Sao cậu làm tớ sợ như vậy cơ chứ? Sao cậu có thể chết ngất vì chuyện ngu ngốc như vậy chứ?... Giá như thậm chí đó là con ong, thì nó cũng không thể ăn thịt được tớ... Và tớ có thể làm được gì ở đây để cứu cậu?... Không có cả nước, cả mọi người, Zosia thì đi đâu đó, còn một mình tớ phải cứu một người con trai to lớn như cậu ư? Thật đáng xấu hổ!

Dĩ nhiên là tôi xấu hổ. Liệu có thể làm cô ta sợ hãi đến như vậy hay không?

- Sao, cậu thấy thế nào? - Lonia hỏi- Ê! Chắc đã tốt rồi phải không, trông cậu không còn xám ngoét như thế nữa. Trước đây trông cậu xám như tấm vải đay ấy.

- Nào, - cô nói tiếp sau giây lát - tớ sẽ nói năng ra sao, nếu mẹ tớ biết chuyện này?... Ôi, tớ sợ thậm chí không muốn về nhà nữa...

- Mẹ cậu sẽ biết chuyện gì? - Tôi hỏi.

- Về mọi chuyện, và tồi tệ nhất là chuyện về con ong...

- Vậy thì đừng nói gì cho ai biết.

- Chuyện tớ không nói thì có gì đảm bảo... - Cô vừa nói vừa quay đầu đi.

- Thế cậu nghĩ rằng tớ sẽ nói?...- Tôi đáp - Thề có cha tớ, tớ sẽ không nói cho ai bất cứ lời nào.

- Kể cả cho Zosia chứ?... Nó biết giữ bí mật lắm.

- Kể cả Zosia. Bất kì ai.

- Mặc dầu vậy mọi người đều sẽ biết. Trông cậu bị xây xát, tả tơi như vậy... Cậu chờ đấy!... - Sau giây lát, cô nói tiếp và lấy khăn tay lau mặt cho tôi- Ôi Chúa ơi! Cậu có biết là thậm chí tớ đã hôn cậu vì sợ hãi hay không, bởi tớ không biết làm gì lúc đó nữa. Giá như ai đó biết được chuyện này thì chắc tớ phải ngượng chết đi được, mặc dầu thật sự ra - với con ong cũng là chuyện đáng ngại. Ôi! cậu làm tớ phải lo lắng như vậy đấy...

- Nhưng cậu chẳng việc gì phải lo ngại cả. - Tôi động viên cô.

- Tớ vẫn phải lo! Mọi chuyện sẽ bại lộ hết, vì đầu cậu đầy lá. Thôi, để tớ chải cho cậu. Chỉ mong Zosia không rình nhìn lén từ một bụi rậm nào đó thôi. Nó biết giữ bí mật, nhưng bao giờ cũng...

Lonia lấy từ trên tóc mình chiếc lược hình bán nguyệt và bắt đầu chải đầu cho tôi.

- Cậu lúc nào cũng xộc xệch. - Cô nói- Cậu phải chải đầu giống như mọi người đàn ông khác. Ô, như vậy chứ!... Phải rẽ đường ngôi bên phải, đừng rẽ ngôi bên trái. Nếu như cậu có mái tóc màu đen, cậu trông sẽ đẹp giống như chồng chưa cưới của mẹ tớ. Nhưng vì cậu là người tóc vàng, nên tớ sẽ chải cho cậu khác đi. Bây giờ trông cậu như một thiên thần, kẻ đứng dưới bà tiên Madonna. Cậu có biết... Thật tiếc, rằng tớ không có gương.

- Kazio ơi! Lonia ơi!... - Từ phía công viên Zosia gọi.

Cả hai chúng tôi cùng bật dậy, Lonia lúc đó thực sự tỏ ra lo lắng.

- Mọi chuyện sẽ vỡ lở! - Cô nói- Ôi! Cái con ong ấy!... Và chuyện tồi tệ nhất là cậu đã ngất...

- Chẳng có chuyện gì lộ cả. - Tôi đáp lại một cách quả quyết - Dẫu sao tớ cũng sẽ không nói gì cả.

- Cả tớ nữa. Thậm chí cậu sẽ không nói rằng mình bị ngất chứ?...

- Dĩ nhiên rồi.

- Ôi, ôi!... - Lonia ngạc nhiên - Vì nếu như tớ bị ngất, thì tớ sẽ không giữ được...

- Kazio ơi! Lonia ơi!...- Em gái tôi gọi ở cách chúng tôi mười mấy bước.

- Kazio ơi! - Lonia vừa thầm thì vừa đưa ngón tay lên ngang miệng.

- Đừng có sợ!

Chúng tôi làm các bụi cây sột soạt và Zosia hiện ra trong bộ tạp dề.

- Ở đâu thế, Zosia ơi? - Hai người chúng tôi cùng hỏi.

- Tớ đi về tìm tạp dề cho mình và cho cậu nữa, Lonia ạ. Đây, nó đây này, vì quả mâm xôi rơi vãi đầy ra.

- Liệu ngay sau đây chúng ta có phải đi về nhà không?

- Không cần đâu. - Zosia đáp - Ở chỗ mẹ cậu, ông ấy đang có mặt, còn cô Klementyna thì không nghĩ đến chuyện rời nhà hóng mát. Chúng ta có thể ngồi đây thậm chí đến tận tối. Nhưng tớ phải bắt đầu hái mâm xôi đây, vì hai người đã ăn nó nhiều rồi.

Cả hai bắt đầu hái, còn tôi sau đó cũng lại có lòng tin mới để lao vào cuộc ăn.

Nhìn thấy rằng tôi đang rời xa, Lonia gọi theo tôi:

- Kazio ơi, cậu biết là tớ đang nghĩ gì!...

Và cô dọa tôi bằng cách giơ một ngón tay lên.

Trong giây phút đó, không biết là lần thứ bao nhiêu tôi hứa với mình rằng sẽ không nhắc lại cho bất kì ai cả về việc mình bị ngất, lẫn về con ruồi nọ. Tôi chỉ mới bước đi cách đó vài bước đã nghe thấy giọng Lonia:

- Ôi, giá như cậu biết được chuyện gì đã xảy ra ở đây!... Thôi, tớ không thể nói lời nào với cậu. Nhưng nếu như cậu thề với tớ rằng cậu sẽ giữ bí mật...

Tôi chạy trốn vào bụi rậm xa nhất và cảm thấy ngượng ngùng. Nhưng, dù sao thì Zosia cũng...

Chúng tôi có mặt tại chỗ những cây mâm xôi bất hạnh đó khoảng một tiếng đồng hồ.

Khi trên đường từ đó về nhà, tôi phát hiện thấy sự thay đổi tình hình lớn lao. Zosia nhìn tôi với sự kinh sợ và tò mò, Lonia hoàn toàn không nhìn, còn tôi thì cảm thấy bối rối như mình vừa phạm tội giết người.

Khi chia tay chúng tôi, Lonia hôn Zosia thắm thiết, còn tôi - cô chỉ gật đầu chào. Tôi bỏ mũ xuống trước cô và nghĩ mình là một kẻ đê tiện lớn.

Sau khi Lonia rời đi, Zosia bắt đầu dồn đến tôi.

- Em mới biết những chuyện tuyệt đẹp! - Nó nói với thái độ nghiêm nghị.

- Anh đã làm gì à? - Tôi sợ hãi hỏi lại.

- Còn chuyện gì nữa? Trước tiên, anh đã ngất (Ôi, Chúa ơi, lúc đó em không có mặt...), nào - còn sau đó thì con ong hay ruồi gì đó... Thật khủng khiếp... Lonia thật khốn khổ! Em chắc sẽ chết vì ngượng.

- Nhưng anh có tội gì nào?- Tôi mạnh dạn hỏi.

- Kazio của em, - nó đáp - trước mặt em anh không cần giải thích, em có nói gì đến anh đâu. Nhưng bao giờ cũng vậy...

“Nhưng bao giờ cũng vậy...” - đấy là câu trả lời đối với tôi!... “Nhưng bao giờ cũng vậy” có nghĩa là,trong mọi chuyện tôi là người duy nhất có lỗi. Con ruồi chẳng là cái gì, Lonia, dù có kêu váng trời cũng chẳng là cái gì, chỉ có việc vì sao tôi lại chạy đến cứu giúp mới thành chuyện.

Đúng thật, nhưng tôi bị ngất để làm gì?...

Tôi không được an ủi. Ngày hôm sau, tôi hoàn toàn không đến công viên chỉ vì để không lộ diện trước Lonia, ngày thứ ba - cô ta lệnh cho tôi đến. Khi tôi đến, cô gật đầu chào từ xa và chỉ nói chuyện với Zosia, thỉnh thoảng mới ném ánh mắt kiêu ngạo và buồn rầu về phía tôi như nhìn kẻ tội phạm.

Đôi khi tôi nghĩ rằng đã xảy ra sự bất công nào đó đối với tôi. Ngay lập tức, tôi dập tắt những nghi ngờ như vậy bằng cách nói với mình rằng thực sự tôi đã làm ra chuyện gì đó kinh khủng. Lúc bấy giờ, tôi vẫn còn chưa biết phương pháp như vậy là đặc tính của phép luận lí đàn bà.

Trong khi đó, các cô gái đi dạo công viên với những bước đi trịnh trọng và không hề nghĩ gì đến chuyện nhảy dây, chỉ thầm thì gì đó với nhau. Bỗng nhiên, Lonia dừng bước và nói bằng giọng đau đớn:

- Zosia biết không, tớ muốn ăn quả móc đen ghê gớm... Mùi vị nó thơm lừng...

- Thế thì chốc nữa tôi mang đến ngay. - Tôi vội vã lên tiếng - Tôi biết một chỗ ở trong rừng có rất nhiều móc.

- Cậu chịu vất vả ư?... - Lonia đáp và nhìn tôi bằng cái nhìn buồn rầu.

- Điều đó có nghĩa gì? Cứ để anh ấy đi, nếu muốn. - Zosia chêm vào.

Tôi đi thật vội vàng, ở trong vườn tôi cảm thấy nghẹt thở vì chừng ấy sự đỏng đảnh. Vượt qua nhà bếp, tôi nghe thấy các cô gái cười và khi miễn cưỡng nhìn qua hàng rào, tôi nhận thấy rằng họ đang vui vẻ nhảy dây. Rõ ràng là chỉ trước mặt tôi họ mới giữ vẻ mặt đẹp đẽ như vậy.

Trong nhà bếp có tiếng ồn ào khủng khiếp. Người mẹ của Walek đang khóc lóc và quỳ gối, còn bà Salusia thì mắng chửi bà ta vì Walek đã làm vỡ cái đĩa.

- Tôi đã cho con chó ấy, - người rửa bát rên lên - cái đĩa để nó liếm, còn nó nhảy đến vồ lấy làm đĩa rơi xuống đất và lại còn chạy trốn. Ôi, nếu như hôm nay tao không giết chết mày thì tao sẽ chặt tay chân đi...

Còn sau đó thì gọi:

- Walek!... Mày đến ngay đây, đồ chó chết, tao sẽ cho mày một trận để mày không còn dám bén mảng đến đây nữa.

Tôi cảm thấy thương thằng bé và muốn làm dịu bớt sự việc. Nhưng tôi nghĩ có thể làm điều đó sau khi từ rừng về cũng được, có lẽ ban đêm Walek mới xuất hiện ở nhà bếp, và - tôi đi theo hướng của mình.

Rừng nằm cách trại ấp khoảng nửa tiếng đồng hồ, cũng có thể xa hơn. Ở đó mọc các cây sồi, thông, dẻ, còn dâu rừng và móc đen thì nhiều đến mức tha hồ, ai muốn hái bao nhiêu tùy sức. Ở bìa rừng, bọn mục đồng đã hái tương đối, trong rừng sâu thì đầy rẫy, chúng chiếm những vạt đất giống như cả sân nhà.

Khi đến khu vực đó, tôi hái móc rừng đầy mũ và đầy cả chiếc khăn tay, bản thân cũng chỉ ăn một chút, bởi tôi khá vội. Mặc dù vậy, cũng phải mất một tiếng đồng hồ hoặc lâu hơn nữa đã trôi qua khi tôi mang được những chiến lợi phẩm đó quay về đến nhà. Tôi không đi thẳng, mà kéo dài đoạn đường thêm ra, vì ý muốn được tản bộ dọc theo rừng đã níu kéo tôi lại.

Khi bạn đi về phía bụi rậm, cây cối rõ ràng là nhường bước cho bạn, cứ như là chúng dọn chỗ. Nhưng cứ thử vừa tiến lên phía trước vừa quay đầu lại xem. Cây cối sẽ chìa cành ra cho nhau như những bàn tay, thân cây xích dần tới thân cây, sau đó thậm chí bắt đầu chạm vào nhau và bạn sẽ không để ý khi nào đằng sau bạn mọc lên cả một bức tường sặc sỡ, sâu hút, không qua được...

Không có gì dễ hơn là lạc lối lúc đó. Bạn đến đâu chỗ nào cũng giống hệt nhau, chỗ nào cây cối cũng vén ra phía trước bạn. Bạn bắt đầu vội vã, chúng cũng sẽ vội vã phía sau bạn nhằm cắt ngang đường về. Bạn dừng lại - chúng cũng dừng lại và mệt mỏi phe phẩy cành lá như chiếc quạt. Bạn quay đầu sang phải và trái tìm đường, và bạn sẽ thấy rằng một số cây cối ẩn nấp phía sau những cây khác như muốn chứng tỏ rằng chúng có ít hơn so với ý nghĩ của bạn.

Ôi! Rừng, đó là điều nguy hiểm. Tại đó mỗi con chim đều do thám, bạn đi đâu, mỗi chiếc lá đều muốn chắn lối bạn, và khi không thể, thì ít nhất chúng cũng thầm thì báo cho bọn khác về bạn. Rõ là rừng đang nhớ nhung khuôn mặt con người và sau một lần nhìn thấy sẽ dùng mọi thủ đoạn để giữ nó lại mãi mãi.

Mặt trời đã chếch về phương tây khi tôi ra được đến cánh đồng. Cách đó vài trăm bước, tôi gặp thằng Walek. Nó đi nhanh về phía rừng, vừa đi vừa chống chiếc gậy cao.

- Mày đi đâu đấy? - Tôi hỏi nó.

Nó không chạy trốn trước tôi. Nó dừng lại và vừa chỉ bàn tay vàng vọt về phía rừng vừa đáp khẽ khàng:

- Hê! Hê!...

- Sắp tối rồi, về nhà ngay đi.

- Khi mà mẹ tôi đang muốn giết chết tôi...

- Đi với tao thì bà ấy sẽ không đánh mày đâu.

- Ôi, bà ấy sẽ giết!...

- Nào, đi thôi, mày sẽ thấy là bà ấy không làm gì mày đâu. - Tôi nói và tiến gần hơn đến nó.

Thằng bé lùi lại, nhưng nó không chạy trốn; tôi cảm thấy rằng nó đang do dự.

- Nào, đi thôi...

- Nhưng tôi còn sợ...

Tôi lại tiến gần hơn, và nó tiếp tục lùi lại. Việc do dự và lùi lại của thằng bé bẩn thỉu làm tôi cáu bẳn. Ở đằng kia, Lonia đang chờ móc rừng, còn thằng bé đang mặc cả với tôi chuyện quay về ư?... Tôi không có thời gian dành cho việc đó.

Tôi nhanh chóng đi về phía trại ấp. Có lẽ đã đi đến nửa đường về nhà, khi quay đầu lại, tôi nhìn thấy Walek ở trên đỉnh dốc dưới rừng. Nó cầm trong tay chiếc gậy của mình và nhìn theo tôi. Gió lay phất phơ tấm áo sơ mi xám, còn chiếc mũ thủng trong nắng chiều thì ánh lên trên đầu nó như một vòng hoa lửa.

Một cái gì đó chạm vào tôi. Tôi nhớ lại những người đầy tớ đã khuyên nó ra sao, rằng nó hãy cầm cây gậy trong tay và hãy đi vào thế giới. Điều đó đã xảy ra ư?... Không, nó có đến nỗi ngu ngốc như vậy đâu cơ chứ. Hơn nữa, tôi cũng không có thời gian để quay về chỗ nó, những trái móc rừng đang bị nát, còn ở đằng kia Lonia đang chờ...

Tôi vội vã đi về nhà và muốn đổ những trái móc ra sọt. Ở cửa ra vào, Zosia chào đón tôi bằng tiếng khóc thê thảm...

- Cái gì thế?...

- Bất hạnh. - Em gái tôi nói nhỏ - Mọi chuyện đều bại lộ... Cha bị mất việc ở chỗ bà chủ...

Móc rừng rớt khỏi mũ và khăn tay tôi. Tôi vồ lấy tay em gái.

- Zosia ơi, em nói cái gì?... Chuyện gì xảy ra với em thế?...

- Đúng như vậy. Bố đã mất việc. Lonia bí mật nói cho cô gia sư về con ong, còn cô gia sư nói với bà chủ... Khi bố đến dinh thì bà chủ ra lệnh ngay lập tức phải gửi anh về Sieldce. Nhưng bố nói rằng tất cả chúng ta cùng đi khỏi đây...

Nó bắt đầu khóc kinh khủng.

Trong giây phút ấy, tôi nhìn thấy cha tôi ở sân trong. Tôi chạy lại chặn đằng trước và quỳ ngay xuống chân ông không kịp thở.

- Cha kính yêu của con, con đã làm ra chuyện gì?... -Tôi thầm thì, vừa nói vừa ôm ngang đầu gối ông.

Cha tôi nâng tôi dậy, lắc đầu và đáp gọn lỏn:

- Đồ ngu, đi về nhà ngay.

Còn sau đó, ông nói như với chính mình:

- Ở đây có đốc công khác, kẻ đuổi chúng ta đi, bởi hắn nghĩ rằng người toàn quyền già sẽ không cho phép hắn chiếm toàn bộ gia sản của đứa trẻ mồ côi. Và hắn có lí.

Tôi đã đoán được rằng ông nói về chồng chưa cưới của bà chủ chúng tôi. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn ở trong tim. Tôi hôn bàn tay gân guốc của cha và lên tiếng mạnh dạn hơn đôi chút:

- Cha ơi, chúng con ở chỗ bụi mâm xôi... Lonia bị con ong đốt...

- Mày ngu như con ong ấy. Đừng có kết nghĩa anh em với các cô nương thì sẽ không phải đi bắt ong và không làm rách quần lót dưới ao. Hãy đi về nhà và đừng có ra đứng ngoài ngưỡng cửa cho đến khi họ chưa đi khỏi đây.

- Họ ra đi?... -Tôi vừa kịp hỏi nhỏ.

- Vài ngày nữa họ đi Warszawa, và sẽ quay về khi chúng ta không còn ở đây nữa.

Buổi tối trôi qua buồn bã. Bữa cơm tối có món mì ống với sữa ngon tuyệt vời, nhưng không ai trong chúng tôi buồn ăn. Zosia lau mắt đỏ ngầu, còn tôi đặt ra những dự kiến tuyệt vọng.

Trước khi lên giường nằm ngủ, tôi rón rén bước vào phòng em gái.

- Zosia ơi, - tôi nói với nó bằng giọng cương quyết - anh... phải cưới Lonia làm vợ!

Nó nhìn tôi sợ hãi.

- Khi nào?...- Nó hỏi.

- Lúc nào cũng được.

- Nhưng bây giờ cha xứ quản hạt không cho phép các người cưới đâu, còn sau đó cô ấy ở Warszawa, còn anh ở Sieldce... Hơn nữa, bố sẽ nói sao, cả bà chủ nữa?...

- Anh thấy rằng em không muốn giúp anh. - Tôi đáp lời em gái và không thèm hôn để chúc nó ngủ ngon, tôi bước ra ngoài.

Từ giây phút đó, tôi không còn nhớ gì nữa. Bao nhiêu ngày và đêm trôi qua, còn tôi lúc nào cũng nằm trên giường, bên cạnh đó là em gái tôi, hoặc bà Wojciechowska, đôi lúc là người y sĩ. Tôi không biết liệu người ta có nói bên cạnh tôi, hay chỉ là do tôi mơ thấy, rằng Lonia đã đi khỏi đó và rằng Walek cũng biến đâu mất. Một lần, thậm chí tôi còn cảm thấy phía trước mặt mình là khuôn mặt đầy nước mắt của người đàn bà rửa bát, kẻ vừa nức nở vừa hỏi:

- Cậu chủ ơi, cậu nhìn thấy Walek ở chỗ nào?...

Tôi?... Walek?... Tôi không hiểu gì cả. Sau này, tôi mới nghĩ ra rằng khi tôi hái quả móc ở trong rừng thì từ mỗi thân cây đều có ánh mắt của Walek nhìn mình. Tôi gọi, nó chạy trốn - tôi đuổi theo, nhưng không kịp. Cây rậm rạp níu kéo và đẩy tôi, bụi mâm xôi ngáng chân tôi, cây cối nhảy múa, giữa các thân cây đầy rêu vẫn thấp thoáng bóng áo sơ mi xám của thằng bé.

Nhiều khi tôi mơ ước rằng mình chính là Walek, rồi lại mơ Walek, Lonia và tôi tất cả chúng tôi đều là một người. Lúc đó, tôi luôn nhìn thấy rừng hoặc những bụi rậm, ai đó luôn gọi tôi đến cứu giúp, còn tôi- tôi không thể nhúc nhích khỏi chỗ nằm.

Thật kinh khủng vì những mất mát mà tôi gặp phải.

•••

Khi tôi gượng dậy được khỏi giường thì đã hết kì nghỉ hè và đến lúc phải đến trường. Tôi còn ngồi ở trong nhà thêm vài ngày và mãi đến chuyến đi trước lễ Giáng sinh, buổi tối, tôi mới lò dò bước ra sân.

Trong dinh, các cửa sổ đều kéo màn che kín mít. Như vậy là thực sự họ đã ra đi?... Tôi đi xuống bếp để tìm Walek. Walek không có ở đó. Tôi hỏi mấy cô hầu về nó.

- Ôi! cậu chủ, - một cô đáp - không còn Walek nữa đâu...

Tôi sợ không dám hỏi thêm. Tôi đi ra công viên.

Chúa ơi, sao ở đây buồn thế... Không suy nghĩ gì, tôi lê bước dọc theo con đường mòn ẩm ướt, vì mới mưa cách đây chưa lâu. Cỏ đã úa vàng, ao cá càng rậm rạp hơn, trên thuyền nước ngập đầy. Con đường chính ở công viên có những vũng lầy lớn, trên đó bóng tối chiếm lĩnh. Đất đen ngòm, thân cây đen ngòm, cành cây trơ trọi, lá tàn úa. Nỗi buồn thấm đầy tâm hồn tôi và từ sâu thẳm đôi lúc lại nổi lên hình bóng nào đó. Lúc thì Jozio, lúc thì Lonia, lúc lại Walek...

Bỗng nhiên gió nổi lên, các ngọn cây bật tiếng ầm ầm và từ các cành cây lả lướt những giọt nước to như giọt nước mắt bắt đầu rơi lộp độp. Chúa đã nhìn thấy rằng cây cối đang khóc lóc. Tôi không biết, liệu chúng khóc vì tôi, hay vì các bạn bè thân thiết của tôi, nhưng chắc chắn rằng - chúng khóc cùng với tôi....

Khi tôi bước từ công viên ra, trời tối đen. Trong nhà bếp, bọn đầy tớ đã ăn tối, tôi nhìn thấy một bóng đàn bà như cái bếp trên cánh đồng. Trong ánh sáng không rõ ràng từ một dải mây hắt xuống mặt đất, tôi nhận ra người đàn bà rửa bát. Bà ta nhìn vào rừng và lầm bầm:

- Walek... Walek!... về nhà ngay... Ôi, mày chỉ mang đến cho tao những nỗi buồn phiền, ôi đồ khốn nạn, đồ khốn nạn...

Tôi vội chạy về nhà, bởi nghĩ rằng trái tim mình sẽ vỡ.

« Lùi
Tiến »