NÓI VẬY MÀ KHÔNG PHẢI VẬY!

Lượt đọc: 947 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I. NHỮNG THÓI QUEN CỦA NGƯỜI MỸ
tính kiên định (và thường là dại dột) của người mỹ

Thường thì mỗi mẩu tin tức được đăng tải qua Hiệp hội Báo chí (Associated Press)[3] đều nhắc cho bạn nhớ ra rằng dân tộc Hoa Kỳ có tính kiên định như thế nào. Dưới đây là một bản tin (đã được tóm lược lại theo cách thích hợp) xuất hiện cách đây vài tuần.

Tin từ Rochester, N.H. - Một phụ nữ 88 tuổi đã nhất quyết không chịu trả “dù là chỉ một xu” theo phán quyết của tòa án gây bất lợi cho bà ta, khi bà lấy đi quả bóng của một cậu bé hàng xóm.

Thẩm phán Franklin Jones của Tòa án Quận Rochester đã chấp nhận một tấm séc với số tiền 30,20USD từ một người người thông cảm với bà Reba Martineau, thay vì buộc bà Martineau phải tự trả tiền. Thẩm phán Jones đã có thể tống giam bà này vì việc xem thường quyết định của tòa.

Bà Martineau đã không chịu trả lại quả bóng cho cậu bé Gary Campbell mới chín tuổi sau khi nó đã rơi vào trong sân nhà của bà tại một khu nhà di động (mobile home) hồi tháng Chín. Bà này đã khẳng định rằng bà và những dân cư cao tuổi khác của khu phố đã không được các trẻ em hàng xóm đối xử tử tế. Cha mẹ của cậu bé đã nộp đơn kiện, để lấy lại quả bóng cho con hoặc buộc bà kia phải trả lại tiền. Sau khi trừ các khoản chi phí, tòa án sẽ bồi hoàn lại cho cha mẹ đứa bé, Martha và Wayne Campbell, số tiền 9,99USD để mua một quả bóng mới.

Wayne Campbell cho biết: họ đã đi đến tòa án là để minh chứng cho con trai của họ rằng pháp luật không thể bị vi phạm.

Bây giờ thì rất nhiều người nghĩ rằng tính cách của người Mỹ đang đi xuống. Tạp chí Time gần đây đã than phiền trong một câu chuyện mang tính minh họa rằng chúng ta đã trở thành một dân tộc “khóc nhè như trẻ con” (crybabies). Chúng ta kiện cáo quá thường xuyên. Chúng ta thấy bản thân mình là “nạn nhân” của một ai đó hoặc cái gì đó. Các biên tập viên tại Time nên ôn lại lịch sử của họ. Đơn giản là họ (và nhiều người khác nữa) luyến tiếc các tính cách hay của người Mỹ trước kia, nay đã thay đổi để thích nghi với thời hiện đại. Chúng ta có thể không thích những gì đã nhìn thấy, nhưng - như trong vụ kiện “quả bóng” trên đây - đó là cách mà chúng ta đã luôn luôn thực hiện.

Người Mỹ đã từ lâu đã sống bằng hai định đề.

Định đề số Một: Bạn không tốt đẹp hơn tôi.

Bình đẳng là niềm tin của chúng ta, như Alexis de Tocqueville đã khẳng định. Chúng ta có thể không bình đẳng về thu nhập, sự giàu có, hoặc tài năng. Nhưng chúng ta thẳng thừng bác bỏ ý tưởng cho rằng người ta đương nhiên tốt hơn hoặc tệ hơn chỉ vì họ thuộc về một tầng lớp hoặc một nhóm nào đó. Tocqueville thấy rằng, không giống như châu Âu, nước Mỹ không có sẵn tầng lớp quý tộc. Tất cả mọi người đều được hiểu là có cơ hội ngang nhau. Đây là lý tưởng của cả dân tộc Mỹ (và cũng là Huyền thoại) từ những năm 1830. Đến ngày hôm nay vẫn vậy.

Định đề số Hai: Bạn không thể làm điều đó với tôi.

Ít nhất là kể từ sau Tiệc trà Boston[4], người Mỹ đã rất khó chịu khi có một nhà cầm quyền độc đoán. Chúng ta đã có Tuyên ngôn nhân quyền (Bill of Rights) để xác định các giới hạn của sự kiểm soát bên ngoài đối với hạnh kiểm cá nhân. Chúng ta phản đối mạnh mẽ những gì được coi là xâm phạm vào đời sống của chúng ta, cho dù đó là chính quyền, nạn quan liêu (công và tư), hoặc các nhóm và cá nhân khác. Phe tự do cấp tiến bảo vệ các “quyền”. Phe bảo thủ ca ngợi “tự do”. Cả hai đang thực sự cùng nói về một thứ.

Hãy để người ta được nói rằng, đã từng có - và hiện đang có - những nguồn gốc khác nhau của sự vĩ đại của nước Mỹ. Đó là sự nuôi dưỡng tình yêu tự do, tôn trọng các cá nhân, và rất nhạy cảm với sự lạm dụng quyền lực. Tuy nhiên, chính các yếu tố tạo động lực này cũng có thể tuột khỏi tầm tay. Chúng có thể dẫn tới xung đột phi lý và lãng phí, trừ khi được kiềm chế bằng cách nào đó.

Trong một xã hội có tính truyền thống cao hơn, bà Reba Martineau đã có thể nhận được sự tôn trọng nhiều hơn chỉ vì bà đã 88 tuổi. Nhưng tại Hoa Kỳ thì không. Người cao

tuổi không có vị thế cao hơn chỉ đơn giản là do tuổi tác. Người Mỹ không có kiểu quý tộc “cao niên” hay bất cứ thứ gì khác. Sau từ “mẹ” và “con chó” thì trẻ em Hoa Kỳ đầu tiên được học để nói câu: “Điều đó không công bằng”. Chúng nghĩ rằng mình tốt như bất cứ ai khác, và chúng được khuyến khích để tin tưởng điều này. Cha mẹ của Gary Campbell đã đi đến tòa án để chứng minh cho cậu bé thấy rằng, trước pháp luật, cậu ta cũng bình đẳng như mọi người.

Sự tranh cãi ở đây là về tự do và quyền lợi. Hành vi vi phạm của bà Reba Martineau là bà đã can thiệp vào quyền được chơi đá bóng của Gary Campbell. Lỗi của Gary Campbell là cậu bé đã đe dọa quyền được sống trong hòa bình và yên tĩnh của bà Reba Martineau. Vì vậy, họ đã phải tranh cãi nhau để biện hộ cho các quyền tương ứng của họ - với chi phí xã hội. Trong khoản tiền phạt được ấn định sau cùng (30,20USD), chỉ có một phần ba (9,99USD) là dành cho quả bóng, trong khi hai phần ba (0,21USD) là các chi phí tòa án.

Đây là một câu chuyện nhỏ trong vấn đề lớn hơn của chúng ta. Các luật sư không phải là lý do duy nhất (hoặc thậm chí là chính yếu) cho cái tính thích kiện tụng của xã hội Mỹ. Vâng, các luật sư khuyến khích kiện tụng, khai thác, và thu lợi nhuận từ việc này. Tuy nhiên, các yếu tố chi phối cơ bản nằm sâu trong các giá trị truyền thống của Hoa Kỳ. Những người hoặc nhóm người cảm thấy họ đã bị đối xử bất công hoặc bị lạm dụng đều tin tưởng sâu sắc rằng chế độ của chúng ta cho phép họ trừng phạt lại những tác nhân kia. Chế độ này được hiểu là để thực thi công bằng. Người ta cho rằng chế độ này bảo vệ các quyền và tự do cá nhân.

Những gì mà tạp chí Time mô tả là môn “nạn nhân học” (victimology) - ý tưởng cho rằng các vấn đề rắc rối của bạn luôn luôn là do lỗi của người khác - đã phát xuất từ các giá trị tương tự. Chúng là nguồn gốc của sự bất mãn về kinh tế, xã hội, chủng tộc, giới tính, và cá nhân. Chúng sẵn sàng cung cấp sự giải thoát các trách nhiệm của cá nhân. Tất cả chúng ta đều bình đẳng, phải không? Ồ, còn nếu chúng ta không bình đẳng, thì tại sao không bình đẳng? Lấy ai để đổ lỗi? Mọi nhóm cá nhân không thỏa mãn với cuộc sống sẽ đi tìm kiếm xem kẻ vô lại nào đã đánh cắp giấc mơ Mỹ của mình.

Những vấn đề này thường công bằng và chính đáng. Các điều kiện xã hội liên tục thay đổi. Xã hội của chúng ta là luôn luôn không hoàn hảo. Nó không thể tự cải thiện bản thân nếu không có ai thách thức hiện trạng của nó. Và cũng không phải là tất cả các vụ kiện đều vô nghĩa. Nhưng vấn đề là phong tục, tập quán truyền thống, hoặc các lẽ thường (common sense) ngày càng không thể kiểm soát các giá trị đạo đức Hoa Kỳ. Trong một xã hội quan liêu và được hợp pháp hóa, có rất nhiều bất mãn và áp lực. Truyền hình và các phương tiện truyền thông in ấn cung cấp dư giả các cơ hội để được ra công chúng và tự thể hiện bản thân mình. Hầu như tất cả mọi người đều có thể đi đến một nơi nào đó để biểu lộ sự bất đồng về một chuyện gì đó.

Thứ đã đưa chúng ta vào rắc rối chính là niềm tin không giới hạn vào khả năng hùng biện của dân tộc. Đạo đức của chúng ta, khi vượt quá ngưỡng, lại trở thành vô đạo đức. Chúng nuôi dưỡng thói tự thương hại chính mình, tự lừa dối mình và các xung đột phi lý. Tính cách Mỹ ngày xưa vẫn chưa chết. Nó chỉ phát triển theo cách hơi ngớ ngẩn một chút thôi. Chẳng lẽ không có ai có thể nói: “Gary, cháu hãy xin lỗi bà Martineau đi nhé”, và “bà Reba này, vui lòng cho xin lại quả bóng”?

Bưu điện Washington

Ngày 21 tháng 8 năm 1991

CÁC VẾT ĐEN TRONG ĐẠO ĐỨC CỦA CHÚNG TA

Tôi tự hào là một người Mỹ, hầu hết chúng ta đều tự hào như vậy. Lòng yêu nước của chúng ta thật mãnh liệt, cho dù thường lặng lẽ. Gần đây, có một cuộc thăm dò ý kiến của Gallup dành cho dân chúng tại 16 quốc gia để tìm hiểu xem liệu họ có muốn sống ở một nơi khác hay không. Người Mỹ gần như đã hoàn thành kết quả thăm dò sau cùng. Chỉ có khoảng 11% người dân muốn thay đổi. Ngược lại, 38% người Anh, 80% người Đức, 20% người Nhật, và 19% người Canada muốn thay đổi nơi sinh sống. Câu hỏi tiếp theo là: tại sao chúng ta lại si mê các nhà lãnh đạo và xã hội của chúng ta đến vậy? Một trong những câu trả lời qua loa đại khái là: hào quang của nước Mỹ và các tệ nạn của nó được gắn kết chặt chẽ với nhau.

Những điều khiến chúng ta tôn sùng nước Mỹ - sự tôn trọng cá nhân, các cơ hội, sức sống của nền kinh tế, khát khao sự tiến bộ - cũng tạo điều kiện cho chúng ta xem thường nó: một vài ví dụ là tội phạm, gia đình tan vỡ, bất bình đẳng, bi quan yếm thế, sự thô tục, và tình trạng căng thẳng. Với tính lạc quan tự nhiên, người Mỹ chúng ta không thừa nhận bất cứ sự liên hệ nào giữa đạo đức và cái xấu xa. Chúng ta từ chối không nhìn nhận một điều, như nhà xã hội học Seymour Martin Lipset đã tranh luận trong một cuốn sách mới và quan trọng, rằng “dường như các khía cạnh mâu thuẫn nhau... trong xã hội là có liên hệ mật thiết đến nhau.”[5]

Nhưng các mâu thuẫn là có tồn tại, và trong năm bầu cử thì mối liên hệ giữa chúng càng xác đáng hơn. Chỉ nắm được sự liên hệ này thì chúng ta mới có thể có được viễn cảnh từ các chiến dịch không thể tránh khỏi sự cường điệu quá lời. Chúng ta đã chìm ngập trong các phân tích nhức nhối về những sai lầm và các chương trình quy mô lớn cho việc tự cải thiện. Cả hai thứ này đều thổi phồng các vấn đề và khả năng của chúng ta trong việc giải quyết chúng; trong khi một số điều kiện của quốc gia là không dễ dàng thay đổi.

Hệ thống các tín điều của Mỹ - tập hợp đặc biệt các giá trị - là sự kết hợp giữa tự do, chủ nghĩa cá nhân, và chủ nghĩa bình quân. Sự kết hợp này đã kích thích các tiến bộ kinh tế. Tại sao chúng ta dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực máy tính? Phần lớn câu trả lời là yếu tố văn hóa. Chúng ta thích sáng tạo, thử nghiệm, và chỉnh sửa. Chúng ta là quê hương của máy tính Apple và Netscape. Hàng năm có hơn 600.000 doanh nghiệp mới được thành lập. Chúng ta là nơi tập trung vốn đầu tư mạo hiểm lớn nhất thế giới. Nhưng cũng chính việc nhấn mạnh đến sự phấn đấu cá nhân, thành công, và tự do cũng có thể thúc đẩy sự bất bình đẳng, ngăn cản kiểm soát xã hội, và nới lỏng ý thức của người dân về trách nhiệm xã hội.

Phạm tội cũng trở thành một cách để “giải quyết vấn đề”. Tỷ lệ ly hôn tăng cao, nếu hôn nhân dường như đẩy việc tự hoàn thiện bản thân vào ngõ cụt. Bởi chúng ta tôn thờ những nỗ lực cá nhân, nên chúng ta chấp nhận sai lầm và bất bình đẳng nhiều hơn các quốc gia khác. Năm 1987, một đợt thăm dò ý kiến hỏi xem liệu có là cần thiết hay không khi “chính phủ phải cung cấp cho tất cả mọi người một khoản thu nhập cơ bản được đảm bảo”. Chỉ có 21% người Mỹ đồng ý là cần có, tỷ lệ này chỉ bằng khoảng 1/3 so với người Đức (56%) hoặc người Anh (61%). Đương nhiên, phúc lợi nhà nước của chúng ta cũng tương đương như mức phúc lợi của các nước này. Nên chúng ta cũng không thể ngạc nhiên trước các sự kiện:

Trong số các xã hội tiến bộ, xã hội của chúng ta là thuộc loại giàu có nhất và cũng bất bình đẳng nhất. Năm 1995 thu nhập trung bình của người Mỹ cao hơn khoảng 20% đến 80% so với những người Châu Âu và người Nhật Bản. Nhưng những người giàu ở mức 90% lại có thu nhập cao gần gấp sáu lần so với những người nghèo ở mức 10%. Ở Đức, tỷ lệ này chỉ là gấp ba lần, còn ở Canada và Ý là bốn lần.

Chúng ta có nền dân chủ thành công nhất, và tỷ lệ các cử tri đi bầu cử cũng là thấp nhất. Thăm dò ý kiến của Gallup cho thấy, có nhiều người Mỹ (64%) tỏ ra hài lòng với nền dân chủ, tỷ lệ này cao hơn bất cứ nơi nào khác. Canada là nước có tỷ lệ theo sát nhất (62%); rồi đến Anh (40%) và Nhật Bản (35%). Tuy nhiên, trong các cuộc bầu cử không dành cho chức tổng thống (nonpresidential election), ít hơn một nửa số cử tri Hoa Kỳ có đủ điều kiện đã tham gia bầu cử.

Mặc dù đầy quyết tâm theo đuổi đạo đức, nhưng chúng ta có một xã hội bạo lực nhất thế giới. Năm 1990 tỷ lệ các vụ giết người của Hoa Kỳ cao hơn hai lần so với Đức và cao hơn chín lần so với Nhật Bản.

Quá nhiều mâu thuẫn. Lipset[6] đã viết “Vấn đề liên quan đến các quyền hợp pháp của bị cáo và tự do nói chung của người dân là gắn liền với sự phản đối việc kiểm soát sử dụng súng và những khó khăn trong việc áp dụng các biện pháp kiểm soát tội phạm”. Đương nhiên, dân Mỹ là một trong những dân tộc sở hữu súng nhiều nhất trên thế giới. Năm 1993, 29% số hộ gia đình Mỹ có súng ngắn, tỷ lệ này là 5% ở Canada và 2% ở Úc.

Trong một chừng mực nhất định, các bằng chứng về sự liên hệ giữa đạo đức và cái xấu xa của chúng ta lại có được từ nước ngoài, đó là nơi mà các giá trị tiến bộ của người Mỹ đã tạo ra sự thử nghiệm tự nhiên trong các thay đổi mang tính xã hội. Sự nới lỏng kiểm soát xã hội ở Nga, Trung Quốc, và Nam Phi đã dẫn đến kết quả là tự do nhiều hơn, và tội phạm nhiều hơn. Tại châu Âu và Nhật Bản, sự thịnh vượng và việc ca ngợi cá nhân cũng đồng nhất với tỷ lệ ly hôn và tội phạm cao hơn. Trong khoảng từ năm 1970 đến 1991, tỷ lệ ly hôn tăng 40% tại Đức và 50% ở Nhật Bản (mặc dù cả hai vẫn còn ở dưới mức của Hoa Kỳ).

Các niềm tin của Hoa Kỳ đã được hình thành từ những năm 1830, khi Alexis de Tocqueville lần đầu tiên trình bày vấn đề này. Ngay cả trong thời kỳ thuộc địa, xã hội Mỹ đã ít cứng nhắc hơn xã hội châu Âu. Đất đai là một yếu tố bình đẳng. Tại Mỹ, hầu hết nông dân đều có đất; trong khi tại Anh thì 60% dân số đã không được sở hữu đất đai. Tuy nhiên, thuộc địa Hoa Kỳ khi đó tràn ngập các đặc quyền theo dạng “cha truyền con nối” và độc đoán. Trong một cuốn sách viết năm 1992, nhà sử học Gordon S. Wood của Đại học Brown lập luận rằng các đột phá mang tính quyết định đã diễn ra trong chính quá trình Cách mạng, tạo ra sự dịch chuyển xã hội và trí tuệ.[7]

Phái Bảo hoàng trốn sang Canada, nơi đó (như châu Âu) còn một xã hội với sự cung kính, hình thức công xã và tính gia trưởng. Nhưng ở Mỹ, tính hợp pháp của các đặc trưng xã hội bất biến đã sụp đổ. Jefferson cho rằng, con người sẽ tiến bộ dựa trên “đạo đức và tài năng”, chứ không dựa vào dòng dõi khi được sinh ra. Wood từng viết, cuộc cách mạng “đã biến lợi ích và sự thịnh vượng của mọi người dân bình thường - sự mưu cầu hạnh phúc - trở thành mục tiêu của xã hội và chính phủ”.

Nhận thức sau đó thường là sự thất vọng và sự phân hóa. Mọi quyền lực đều bị nghi ngờ, vì nó nâng cao một số người lên trên những người khác và khơi dậy sự ngờ vực cố hữu về “giới quý tộc” - hiện nay là “giới tinh hoa” hoặc các vị CEO lạnh lùng chai sạn. Văn hóa phổ biến là nền dân chủ, và vì thế, đôi khi nông cạn và gây khó chịu. Truyền thanh và truyền hình nhảm nhí chỉ là cách thể hiện mới cho các động lực xưa cũ. Tiến trình này là không bao giờ hoàn hảo, bởi vì hạnh phúc - mặc dù không ngừng được theo đuổi - là không bao giờ được đảm bảo thành công. Các chính trị gia thiếu các lý tưởng mà chúng ta (và ngay cả họ) đặt ra: một lý do tại sao chúng ta công kích họ, ngay trong khi vẫn ngưỡng mộ chế độ.

Việc bầu cử sẽ phơi bày ra những mâu thuẫn này, nhưng không loại bỏ chúng. Thật tuyệt vời khi được là một người Mỹ, nhưng chúng ta phải gánh chịu và được phù hộ bởi chính niềm tin của chúng ta. Điều này giúp xác định nên vở kịch Mỹ.

Newsweek

Ngày 11, tháng 3 năm 1996

LÝ THUYẾT “CHƠI BOWLING MỘT MÌNH” LÀ VÔ NGHĨA

Nhà khoa học chính trị Robert Putnam của Harvard đã có một bước tiến dài. Trước kia ông chỉ là một nhà học thuật không mấy tiếng tăm, nhưng khi viết một bài báo vào năm 1995 thì ông đã trở thành một người nổi tiếng nho nhỏ (minor celebrity). Tổng thống Clinton đã mượn các ý tưởng của ông trong các bài phát biểu của mình. Rất nhiều báo chí đăng tải lý thuyết của ông. Putnam tranh luận rằng đời sống dân sự đang suy thoái - khi người Mỹ không chịu tham gia, như họ đã từng làm trước kia, các đội nhóm và các câu lạc bộ để đẩy mạnh sự tin tưởng và hợp tác. Điều này làm xói mòn nền dân chủ, ông nói. Chúng ta “chơi bowling một mình”, và thành viên hiệp hội bowling kể từ năm 1980 đã giảm đi 40%.

Thử xem nhé. Điều này hầu như vô nghĩa. Mặc dù người dân Mỹ có thể là những người cáu kỉnh, nhưng nguyên nhân không phải là do đời sống dân sự đang tan rã. Do tính đơn lẻ của các môn thể thao chăng? Không đời nào. Từ năm 1972 đến 1990, số người Mỹ chơi môn bóng mềm[8] (vâng, đây là môn thể thao đồng đội) tăng từ 27 triệu đến 40 triệu, theo các báo cáo của Hiệp hội Bóng mềm Nghiệp dư. Kể từ năm 1967, số lượng các đội đăng ký tham gia liên đoàn đã tăng từ 19.000 lên đến 261.000. Bowling, tất nhiên, chỉ đơn thuần là phép ẩn dụ của Putnam cho sự tan rã trên quy mô rộng hơn của các nhóm như PTA[9] và Elks[10]. Nhưng toàn bộ lý thuyết này là đáng nghi ngờ.

Mục đích của lý thuyết này là nhằm để giải thích một “mất mát của cộng đồng”: một cảm giác ngày càng tăng thêm về sự tan rã của xã hội. Điều này là có thật hay không thì còn chưa rõ ràng. Kể từ Chiến tranh Thế giới thứ II, phải chăng nước Mỹ đã trở thành một đại gia đình hạnh phúc? Không phải thế trong những năm 1960, khi đất nước bị giằng xé bởi cuộc chiến tranh Việt Nam, các quyền công dân và sự phản đối của học sinh sinh viên. Cũng không phải trong các năm của thập niên 1970, khi vấn đề Việt Nam (vẫn tiếp diễn), vụ Watergate, và lạm phát hai con số đã gây ra các tranh cãi kịch liệt. Có lẽ, nói ngắn gọn thì đó là khoảng những năm giữa thập niên 1950, giữa thời kỳ xuất hiện chủ nghĩa McCarthy[11] và khi tên lửa Sputnik được phóng vào không gian và các cuộc khủng hoảng khi xóa bỏ nạn phân biệt đối xử trong trường học sau đó.

Những xung đột hiện tại của chúng ta chắc chắn là có thật. Mặc dù vậy, nguyên nhân chính không phải là sự mất mát trong đời sống con người. Các “cộng đồng” của chúng ta trong quá khứ đã phân hóa nhiều hơn và xã hội khi đó có ít lòng trắc ẩn hơn ngày nay. Những người da đen từng bị cô lập trong trường học và nơi làm việc. Hầu hết các phụ nữ đã lập gia đình đều ở nhà. Đã từng có rất ít “mạng lưới an sinh” cấp liên bang dành cho người cao tuổi và người nghèo. Việc công kích các hành động phân biệt đối xử, theo đuổi tự do kiểu mới và nhiều công bằng xã hội hơn - tất cả những điều này đều giúp cải thiện cuộc sống, nhưng đồng thời cũng tạo ra các xung đột và các vấn đề mới.

Nhìn từ một số góc độ nhất định thì người Mỹ hiện nay đã pha trộn được các chủng tộc, giới tính, và dân tộc nhiều hơn bao giờ hết. Sự bảo đảm dành riêng cho tầng lớp xã hội và trí thức cũ cũng đã biến mất. Ban đầu, rất nhiều thay đổi đã được tưởng tượng ra để dự báo sự hài hòa: tất cả mọi người sẽ xếp vào tầng lớp trung lưu và tìm cách tự hoàn thiện mình. Trong thực tế, những sự thay đổi đã kích hoạt các xung đột mãnh liệt, chẳng hạn như tranh cãi về vai trò của chính phủ, về các “quyền” của phụ nữ (và của nam giới), các “quyền” của giới đồng tính nam (gay), và sự phá thai.

Các nhóm thường xuyên phản ánh và duy trì sự căng thẳng và sức ép xã hội. Nhóm Ku Klux Klan[12] đã không thúc đẩy sự tin tưởng, nhiều nhóm ngày nay là tác nhân cho các mối bất hòa, không hợp tác. Hơn nữa, Putnam còn cường điệu hóa quá mức sự sút giảm của việc tham gia các nhóm. Ông cho biết, tình hình số lượng thành viên trong nhóm như Hội Chữ Thập Đỏ và các Liên đoàn lao động đã “giảm nhanh ở mức từ 25 đến 50% trong vòng hai đến ba thập kỷ vừa qua.” OK. Tuy nhiên, theo thời gian, mọi thứ đã thay đổi. Các liên đoàn suy giảm, vì những bất lợi trong môi trường kinh tế và pháp lý. Còn các nhóm khác đã mở rộng.

Để bác bỏ điều này, Putnam cho rằng: Tổng điều tra xã hội - cuộc thăm dò ý kiến hàng năm của Trung tâm Nghiên cứu dư luận Quốc gia (NORC) tại Trường Đại học Chicago - xác nhận mức sụt giảm 25% thành viên trong tất cả các nhóm, từ năm 1974. Điều này thì không đúng sự thực. Mức suy giảm mạnh mà Putnam đưa ra chỉ có sau khi ông tiến hành điều chỉnh thống kê nhằm nâng cao trình độ giáo dục. Trong quá khứ, những người được giáo dục tốt hơn đã thuộc về nhiều nhóm hơn. Bởi vì việc tham gia các nhóm đã không tăng lên cùng với sự nâng cấp giáo dục, Putnam đã nhìn thấy một “sự giảm sút” đáng ngạc nhiên.

Đây hầu như chỉ là ảo ảnh. NORC yêu cầu các đối tượng khảo sát trả lời liệu họ có thuộc nhóm nào trong số 16 nhóm được liệt kê hay không. Kết quả sau đây thể hiện tỷ lệ tham gia các nhóm trong năm 1974 và 1994 (trong một số trường hợp còn có kết quả của năm khác, bởi vì kết quả năm 1974 hay 1994 có vẻ cao, hay thấp):

Nhóm thân hữu: năm 1974: 13,9% (1975: 10,9%); năm 1994: 10,1%.

Nhóm cựu chiến binh: năm 1974: 9%; năm 1994: 7,8%.

Liên đoàn lao động: năm 1974: 16,5%; năm 1994: 11,8%.

Câu lạc bộ chính trị: năm 1974: 4,5%; năm 1994: 4,7%.

Câu lạc bộ thể thao: năm 1974: 17,9%; năm 1994: 21,8%.

Nhóm thanh thiếu niên: năm 1974: 10,5%; năm 1994: 10,4%.

Nhóm trường học: năm 1974: 17,7% (1975: 14,1%); năm 1994: 16,1%.

Câu lạc bộ cùng sở thích: năm 1974: 9,8%; năm 1994: 9,2%.

Nhóm sinh viên: năm 1974: 4,7%; năm 1994: 5,7%.

Nhóm dân tộc: năm 1974: 3,6%; năm 1994: 3,5% (1993: 4,8%).

Câu lạc bộ dịch vụ: năm 1974: 9%; năm 1994: 10,1%.

Nhóm trang trại: năm 1974: 4,3%; năm 1994: 3,7%.

Nhóm văn chương/nghệ thuật: năm 1974: 9,4%; năm 1994: 9,8%.

Nhóm chuyên môn nghề nghiệp: năm 1974: 13,2%; năm 1994: 18,7%.

Giáo hội - Các nhóm liên quan: năm 1974: 42,1%; năm 1994: 33,4%.

Khác: năm 1974: 10,4%; năm 1994: 10,7%.

Tỷ lệ tham gia các nhóm là gia tăng; còn sự giảm sút trong một số nhóm khác là không đáng kể. Giáo Hội - và các nhóm có liên quan là một trường hợp ngoại lệ, ngoại lệ này làm tăng trọng lượng cho luận điểm của Putnam. Nhưng ý tưởng cho rằng người ta đã rút lui rất nhiều khỏi đời sống dân sự là khá gượng gạo, theo tranh luận của Reverend Andrew Greeley thuộc tổ chức NORC. Ông viện dẫn đến các cuộc điều tra khác cho thấy rằng sự tình nguyện gia nhập các nhóm đã thực sự tăng thêm một phần tư, từ đầu những năm 1980. Ông viết thêm rằng sự gia tăng này diễn ra trong số những người thuộc “các thế hệ Baby-Boom... và thế hệ X[13]”, những người được coi là “ích kỷ và không liên kết”.

Người dân Hoa Kỳ đã không trở thành những người ẩn dật. Nhà văn William Kennedy - một phóng viên chuyên tìm hiểu cuộc sống của tầng lớp lao động - từng nói với Peter Hong của Thời báo Los Angeles rằng: trong những thời kỳ trước, rất nhiều câu lạc bộ xã hội “chỉ là trò tiêu khiển sau một ngày làm việc khủng khiếp” tại các nhà máy. Kennedy lưu ý thêm rằng còn có rất nhiều nhóm xã hội cũ, phản ánh các thành kiến, “những người Công giáo không thể tham gia vào các nhóm Tin lành và người Do thái thì không thể tham gia bất cứ nhóm nào trong số này”.

Hong đến các sân chơi bowling tại California và nhận thấy chúng đang làm ăn phát đạt. Đúng vậy, các hiệp hội đã suy giảm, bởi vì một số đội được tổ chức từ các nhà máy, xí nghiệp đã đóng cửa. Nhưng “hầu như không ai chơi bowling một mình cả... các trung tâm đều đông đúc nhộn nhịp với các buổi tiệc tùng của giới văn phòng, những người nghỉ hưu vui nhộn và các tiệc mừng sinh nhật bằng trò chơi bowling.” Hong không nhận thấy “sự thiếu tính cộng đồng”, mà là “mô hình liên kết xã hội thoải mái hơn, ít tính truyền thống hơn, được định hình từ những cách sống và làm việc kiểu mới của người Mỹ”. Đó là nước Mỹ, tương phản với cái lý thuyết “chơi bowling một mình” - lý thuyết hầu như là nông cạn dưới góc độ trí tuệ và nghề báo.

Bưu điện Washington

Ngày 10 tháng 4, 1996

HỘI CHỨNG GIẢI THƯỞNG

Ban giáo dục của thị trấn Fairfax, Va. - ngoại ô Washington, DC - đã có một vấn đề cần giải quyết: các khiếu nại từ các học sinh trường trung học và các vị hiệu trưởng cho rằng việc xếp hạng trong lớp học là không công bằng. Với thang điểm từ 0 đến 4, đa số học sinh có điểm trung bình là 3.0 (B), hoặc cao hơn. Tuy nhiên, vẫn có nhiều học sinh tự nhiên bị xếp hạng vào nửa bên dưới của lớp học. Giải pháp: loại bỏ việc xếp hạng.

Chúng ta đang sống trong một xã hội tự chúc tụng nhau, trong đó chúng ta liên tục khẳng định với nhau rằng mình đã làm tốt như thế nào. Bạn không thể nói thêm bất cứ điều gì cho bất cứ ai rằng người đó đang làm không tốt, hay chưa tốt như những người ngang hàng với họ. Chúng ta phát minh ra các chức danh “mang tính nghệ thuật” để tạo ấn tượng rằng tất cả mọi người đều chiếm giữ các vị trí đáng được tôn trọng và đầy trách nhiệm. Tờ The New Yorker từng cho chạy một truyện tranh của một người đàn ông đang than vãn sự khổ sở của mình với một người pha chế tại quầy bar. “Tôi chẳng biết sao nữa” ông này nói, “một mặt, đây rõ ràng là một công việc linh tinh, không có cơ hội phát triển, nhưng mặt khác, nó cũng là vị trí Phó Tổng giám đốc”.

Michael, đứa con trai lên sáu tuổi của tôi, chơi bóng đá trong một hội. Điểm đặc trưng nổi bật của giải đấu mùa thu và mùa xuân là như nhau: có các giải thưởng. Mỗi đội đều được giải thưởng. Tất cả mọi thành viên của mỗi đội cũng đều được giải thưởng. Kết quả của trận đấu là 9-0 hoặc 0-9 đều không thành vấn đề. Việc bạn đã tham gia thi đấu như thế nào và thậm chí là bạn có chơi hay không cũng không quan trọng. Chỉ cần có mặt tại trận đấu cuối cùng, và tại đó các giải thưởng được phân phát. (Tôi không thể viết là “trao giải thưởng”). Michael nhà tôi có bốn giải thưởng như vậy.

Còn các chức danh? Với báo cáo của Standard & Poor’s[14], tôi xem lướt qua Comerica Inc, một ngân hàng cổ phần cỡ trung, trong đó liệt kê danh sách bao gồm một vị Chủ tịch Hội đồng Quản trị, hai Phó Chủ tịch, hai Phó Tổng giám đốc điều hành, 24 Phó Tổng giám đốc cấp cao, và 22 Phó Tổng giám đốc thứ nhất. Báo chí đã xuất sắc trong việc làm “ô nhiễm” các chức danh. Hãy xem qua tờ Newsweek. Chúng ta có một tổng biên tập, một nhà biên tập, một quản lý biên tập, bốn trợ lý cho quản lý biên tập, 15 biên tập viên cao cấp, 20 tác giả cao cấp, 23 biên tập viên tổng hợp, và 17 biên tập viên liên kết (associate editor). Rất nhiều “biên tập viên” không hề làm công tác chỉnh sửa, biên tập. Họ viết bài, thậm chí một số còn không cả viết bài. Tất cả các chức danh đều nghe rất ấn tượng, thậm chí làm tổn hại đến sự trung thực. Tôi là một trong mười “biên tập viên đóng góp” (contributing editor), mặc dù tôi không hề biên tập bất cứ thứ gì, và một số người thậm chí còn hoài nghi sự “đóng góp” của tôi.

Một cách để đánh giá sự tâng bốc quá đáng này là coi chúng như một thứ đạo đức giả “mang tính xây dựng”: là đạo đức giả, bởi vì chúng ta đều biết nó là giả tạo; mang tính xây dựng, bởi vì sự dối trá tạo thuận lợi cho chúng ta. Không phải tất cả mọi người đều có thể giành chiến thắng trong tất cả các trò chơi, do đó, chúng ta thiết kế ra “giải an ủi” để làm cho người thua cuộc cảm thấy tốt hơn mà không làm tổn thương những người thắng cuộc.

Suy cho cùng, con trai của tôi tham gia các trò chơi mà trong đó tỷ số được ghi lại. Ai lại đi quan tâm, nếu người thua cũng có giải thưởng? (Nói về thành tích thì đội bóng của Michael - đội Chim Lớn - có những con số là 5 thắng - 2 hòa - 2 bại). Không phải tất cả các nhà quản lý đang lên đều có thể trở thành CEO (Tổng giám đốc điều hành). Vì vậy, điều gì xảy ra nếu những người “thường thường bậc trung” (also-rans) cũng trở thành các Phó tổng giám đốc? Nhà xã hội học Harriet Zuckerman của Đại học Columbia thông báo rằng Hoa Kỳ hiện đã có khoảng 3.000 giải thưởng khoa học lớn, nhiều gấp năm lần như con số cách đây 20 năm. Nhưng cô cũng nghi ngờ rằng các nỗ lực làm việc hoặc nhiệt tình tìm tòi khám phá đã bị ảnh hưởng xấu đi, chỉ vì việc giành giải thưởng đã dễ dàng hơn trước.

Trong một cuốn sách gần đây, nhà kinh tế học Robert Frank của Đại học Cornell lập luận rằng rất nhiều sự dàn xếp kiểu này là có ý nghĩa hoàn hảo[15]. Người ta đánh giá địa vị của nhau, và chúng ta tìm thấy những cách thức mới để tạo ra địa vị nhằm làm hài lòng những người chưa có địa vị cao. Chức danh “hão” trong công việc đem lại khoản “thu nhập tinh thần”. Mức phúc lợi cho phép những người có địa vị cao lưu lại vị trí đó để có cuộc sống dễ chịu hơn một chút so với mức tối thiểu.

Sự cạnh tranh khắc nghiệt, trừ khi được kiểm tra, có thể rất đáng sợ và phá hoại xã hội. Liệu chúng ta có thực sự mong muốn có một quốc gia trong đó toàn là các John McEnroe[16]? Lập luận được dùng để thuyết phục Ban giáo dục của thị trấn Fairfax cho phép các trường học từ bỏ việc xếp hạng trong lớp là khá đơn giản. Nhiều lớp đã được gom lại với nhau. Việc xếp hạng là nhân tạo (các học sinh cùng lớp có thể thuộc nhiều hạng rất khác nhau) và do đó, là bất công. Các thứ hạng thấp đã làm tổn hại đến việc được nhận vào trường đại học của học sinh sau này.

“Các em rất ngại các môn học khó hoặc các giáo viên có yêu cầu cao, bởi vì nó sẽ ảnh hưởng đến thứ hạng trong lớp học”, ông hiệu trưởng Joseph Arangio của trường trung học Langley cho biết. Một học sinh trong thị trấn bên cạnh đã nói với tờ Bưu điện Washington: “Tôi biết có những học sinh đã ngồi sụp xuống và khóc khi nhận được kết quả xếp hạng. Họ nói: ‘tôi học hành chăm chỉ, và đây là những gì tôi có để thể hiện cho sự chăm chỉ đó.’ Họ muốn điên đầu lên vì những việc này”.

Đến một mức độ nào đó thì tất cả những điều này nghe có vẻ thật. Nhưng có lẽ bạn nghi ngờ (cũng như tôi) rằng những điều này là ngoài tầm kiểm soát. Cạnh tranh có thể là không hay ho gì, nhưng thường hữu ích cho bạn. “Khổ luyện mới thành tài” (no pain no gain) thường là điều luôn luôn đúng. Trước khi xuất hiện câu sáo ngữ này, Edison từng nói: “Thiên tài chỉ là 1 phần trăm cảm hứng và 99 phần trăm mồ hôi công sức”. Xu hướng nói với mọi người rằng mọi thứ đều ổn - tất cả mọi người đều nhận được một phần thưởng -có thể tạm thời làm giảm bớt căng thẳng, nhưng nó xoa dịu đi áp lực để chúng ta làm được điều tốt nhất, có thể còn tốt hơn những gì chúng ta nghĩ rằng mình có thể làm.

Người ta ỉm đi các tin xấu. Bởi bây giờ mọi người đều biết là học sinh Hoa Kỳ có điểm kém tại nhiều cuộc thi quốc tế, nhưng vẫn tự bình chọn mình ở gần mức dẫn đầu. Không nghi ngờ gì nữa, các nhà quản lý tồi của General Motors đã tự thuyết phục chính mình rằng họ đã làm rất tốt. Một trong những lý do khiến cho việc xếp hạng trong lớp học bây giờ kém ý nghĩa hơn trong quá khứ là sự lạm phát các lớp. Năm 1966, 15% số sinh viên mới ở các trường đại học là những người có điểm trung bình hạng A tại trường trung học. Đến năm 1991, tỷ lệ này đã là 24%.

Hình thức tự lừa dối được xã hội chấp nhận này đã được thiết kế ra nhằm giải quyết cảm giác bị tổn thương và thổi bùng lên lòng tự trọng của chúng ta. Nhưng nó có hại khi cuối cùng thì sự thật cũng phơi bày, giống như ta thường thấy. Điều này đã diễn ra tại GM. Các trường học có thể chấm dứt việc xếp hạng và cho mọi học sinh hạng A. Nhưng họ không thể tạo thêm đầu vào cho các trường đại học “có giá”, nơi mà các học sinh khao khát được nhận vào. Các học sinh được trông đợi sẽ đến các đại học này thì thực tế họ sẽ không đến. Xử lý sự thất vọng - và đi lên từ điều đó - là một trong những bài học của cuộc sống. Điều này được học qua các trải nghiệm, chứ không phải từ sự phủ nhận. Quá nhiều sự tự mãn đã khiến chúng ta coi các điều thất vọng như lỗi của người khác. Bởi vậy chúng ta bằng lòng khi đổ lỗi cho những sự việc không may là phát xuất từ đâu đó.

Cũng rõ ràng là đạo đức giả “mang tính xây dựng” thường dễ hiểu như đạo đức giả “cổ điển”. Nó nuôi dưỡng thói bi quan yếm thế và sự lãng phí. Quá nhiều vị Phó Tổng giám đốc sẽ tạo ra vấn nạn quan liêu. Việc tùy tiện sử dụng tràn lan các chức danh đã thay thế cho sự quản lý mang tính sáng tạo để mọi người được đóng góp thực sự. Làm cho việc lấy bằng của các trường trung học và đại học dễ dàng hơn đã khiến nhiều người tạo sự khác biệt bằng cách theo đuổi các văn bằng “ít cao cấp” hơn. Từ đó, đã có sự tăng trưởng của “giấy chứng nhận năng lực”: sự bùng nổ các văn bằng thạc sỹ và văn bằng chuyên môn, với nhiều giá trị mơ hồ.

Mọi người đều thích được khen. Ở tuổi lên sáu, một cái vỗ vai là hữu ích. Một vài giải thưởng cũng là chuyện bình thường. Vấn đề của chúng ta là cứ duy trì mãi những thói quen của trẻ thơ. Lời khen được cho đi quá dễ dàng hoặc quá phung phí còn tệ hại hơn là không khen. Các giải thưởng chỉ có một giá trị nhất định, khi chúng là thứ người ta giành được, chứ không phải là thứ được ban phát.

Newsweek

Ngày 21 tháng 12, năm 1992

NGƯỜI CHA CUỐI CÙNG ĐẾN THĂM DISNEY WORLD

Mới gần đây, tôi đã trở thành người cha cuối cùng tại Mỹ đến thăm Trung tâm vui chơi giải trí Disney World ở Orlando. Điều này đúng về mặt tinh thần, chứ không chính xác trên thực tế. Xét đến hoàn cảnh (có ba con nhỏ, tuổi từ năm đến mười, thu nhập đầy đủ, cư trú tại Bờ Đông nước Mỹ) thì tôi buộc phải đi. Và một lý do chính đáng nữa là bởi vì - theo cách nói trên báo chí - Disney World là nơi không thể bỏ qua. Dưới nhiều khía cạnh thì đây chính là nước Mỹ hiện đại. Nó thể hiện sự thuyết phục của chúng ta rằng công nghệ và sự quản lý có thể tối đa hóa niềm vui và thúc đẩy “việc mưu cầu hạnh phúc”.

Tại Disney World, người ta cho rằng tất cả mọi người sẽ tìm thấy những giây phút vui vẻ và sự hòa thuận. Đó là một cộng đồng độc lập, trong đó tất cả các xung đột mang tính xã hội và gia đình được chính thức loại bỏ. Tất cả mọi thứ được tổ chức và hầu như đưa vào khuôn phép. Có cả một đường xe lửa và một đội xe lên đến hơn 100 xe buýt dùng để chuyên chở các đám đông lớn. Theo báo cáo của tờ Amusement Business - một ấn phẩm thương mại - thì trong năm 1994 đã có tổng số 29 triệu khách tham quan. Thậm chí khi đã tính trùng lắp (một người ghé thăm nhiều lần và được tính thành nhiều người) thì đó vẫn là một số lượng người rất lớn.

Một người bạn của tôi cho rằng chính Disney World mới là lý do quan trọng nhất giúp chúng ta giành phần thắng trong Chiến tranh Lạnh. Có thể bạn tôi đúng. Những hứa hẹn từ lối sống Hoa Kỳ - cam kết được đưa ra thế giới từ nửa thế kỷ trước - rằng nền dân chủ của chủ nghĩa tư bản sẽ không chỉ đơn giản là giúp người dân được tự do thoát khỏi nền độc tài chuyên chế, mà còn giúp họ tự hoàn thiện bản thân. Chúng ta có thể được giải phóng khỏi đói nghèo nhờ tăng trưởng kinh tế và tìm đến hạnh phúc. Disney World là hình mẫu thu nhỏ cho ý tưởng này.

Trời ơi, nơi này thật quá rộng lớn. Dưới đây là một vài chỉ số. Khuôn viên của Disney World có diện tích 43 dặm vuông, nghĩa là (theo như lời quảng cáo) rộng gấp hai lần diện tích của Manhattan. Trên diện tích này có ba công viên chủ đề (Theme Park) là Vương quốc Thần tiên, Epcot, và trường quay của Disney - MGM, ba công viên nước, năm sân golf, 23 khách sạn và resort với 22.000 phòng, và vô số cửa hàng. Hiện chỉ có một phần ba diện tích đất được xây dựng, nên vẫn còn chỗ để nơi này phát triển thêm nữa. Một công viên chủ đề thứ tư (Vương quốc Động vật Hoang dã) dự kiến sẽ khai trương trong năm 1998.

Các cửa hàng đầy ắp áo thun, thú nhồi bông, ly uống cà phê, băng video, mũ nón, quần short, giày dép - hầu như bất cứ thứ gì có thể gắn kết được với Disney hay các công viên. Trong một cửa hàng (tên là Nghệ thuật của Disney), một bức tượng bằng đồng của Goofy được bán với giá 10.500USD và một ghế bành bọc da hình chú chuột Mickey có giá 3.400USD. Người Hoa Kỳ thường tự hỏi mình sẽ làm việc ở đâu, khi sự tự động hóa đã loại bỏ các công ăn việc làm trong nhà máy. Một trong những câu trả lời là: làm việc cho các khu phức hợp giải trí - công nghệ, tất cả mọi thứ từ TV cho đến du lịch, đến bóng đá chuyên nghiệp và các công viên giải trí. Mọi người đều nghe được rằng Disney World sử dụng 37.000 nhân viên (đặt trong bối cảnh tập đoàn Microsoft chỉ có 17.800 người lao động).

Disney World, mở cửa năm 1971, đã làm tốt hơn thành tựu của một thế kỷ trong hoạt động kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí. Nhà sử học David Nasaw của Trường Đại học Thành phố New York đã viết “trong những năm 1870 và 1880, ‘đời sống về đêm’ vẫn còn dành riêng cho một số ít những người giàu có, là những người bảo trợ cho các nhà hát cao cấp và cho các nhóm ‘bài bạc’ (sporting crowd) dành buổi tối trong các quán rượu ‘có hòa nhạc’ với các loại hình giải trí sống động. Nhưng chẳng bao lâu sau thì “khung cảnh của ngành giải trí... đã thay đổi đáng kể”.

Đến năm 1910, theo Nasaw, các nhà hát và rạp chiếu phim của New York có thể có đến hai triệu chỗ ngồi. Trong năm 1870, Hoa Kỳ chưa có các khu vui chơi công cộng hoặc các công viên bóng chày. Ba thập kỷ sau đó, trong hầu hết các thành phố lớn và nhiều thị trấn “đã có các công viên bóng chày và các khu vui chơi”. Năm 1909, có 20 triệu người đến chơi và bơi lội tại đảo Coney ở New York. “Người lao động muốn có thêm thứ gì khác nữa, ngoài thực phẩm và quần áo”, một chủ nhà in trình bày trước Ủy ban Thượng viện trong năm 1883. “Người ta muốn được vui chơi giải trí”.

Sự việc đã là như vậy, và cho đến bây giờ. Cho dù bạn lưu lại bao lâu đi nữa (chúng tôi ở lại Disney World một tuần, vì đó là thời gian nghỉ hè) thì bạn cũng không thể chơi hết tất cả mọi thứ tại đây. Chúng tôi đã đi đường tàu lửa lên núi Thần Sấm, núi Tung bọt nước, núi Không gian. Chúng tôi tham gia trò Ngọn tháp Kinh hoàng, bơi lội trong hai công viên nước, dùng 2 bữa sáng với các “nhân vật” của Disney (chẳng hạn chú chuột Mickey), xem phim 3D và trò Mr. Toad. Đứa con gái 10 tuổi của tôi làm cuộc thống kê, cho thấy chúng tôi tham gia cả thảy là 48 hoạt động đi lại, diễu hành, trưng bày và sự kiện.

Lẽ dĩ nhiên là sự tưởng tượng và việc hiện thực hóa chúng là không luôn luôn giống nhau. Ngoài một số thứ khác, Disney World đã truyền được cảm hứng cho các tài liệu hướng dẫn du lịch. Tài liệu mà chúng tôi sử dụng (Hướng dẫn không chính thức cho Disney World phiên bản 1995) có trình bày một thư cảnh báo của một bà mẹ đến từ Dayton, Ohio khi bà dẫn đứa con gái 5 tuổi đến chơi:

Khoảng 11 giờ sáng, chúng tôi đã đi bộ được khá xa và đang đứng trong các hàng đợi mà tại đó mọi người đều quá mệt mỏi. Kristy khóc vì những thứ nhìn hoặc nghe thật dễ sợ... Lúc đó chúng tôi, cũng như mọi người khác, đều đói, nhưng hàng đợi để mua thức ăn còn quá dài và chồng tôi nói rằng cần phải tiếp tục chờ đợi. Đến 1 giờ trưa thì chúng tôi mới xoay sở xong, nhưng chẳng nhìn thấy gì mà mình thực sự thích thú cả. Chúng tôi lại phải tiếp tục leo lên phương tiện đi lại, bởi vì hàng đợi ở đó ngắn hơn và trên đó có máy điều hòa nhiệt độ.

Điều này cũng là sự thật. Rất nhiều bậc cha mẹ và các trẻ em tại đây đều giúp nhau bớt căng thẳng, có lẽ ai cũng vậy. Giấc mơ Mỹ không bao giờ giống như những gì được quảng cáo, và Disney World cũng vậy. Trong tài liệu Hướng dẫn Không chính thức có ghi lại: “vài người (đủ mọi lứa tuổi)... đã được trang bị về thể chất và tinh thần để “hành quân” cả ngày, trong đám đông 50.000 người, không quan tâm đến cái nắng chói chang gay gắt của Florida”. Sự chờ đợi sẽ có thể làm giảm hưng phấn, nhưng chúng tôi đã không phải chờ như vậy. Với những khúc quanh bất tận, Disney nhồi nén những hàng đợi dài vào trong các khoảng không gian chật hẹp.

Tuy nhiên, các đám đông vẫn tiếp tục kéo về. Trong năm 1994, Công ty Disney có được khoản thu nhập 3,5 tỷ dollar từ tất cả các công viên chủ đề, trong đó bao gồm cả Disneyland “gốc” ở California và một công viên khác ở Nhật Bản. (EuroDisney là một công ty khác.) Những đám đông không phải là giới tinh hoa: họ là hình mẫu khá rộng của Hoa Kỳ. Tôi không chắc chắn đây là sự thành công của thương mại dân chủ hay một dấu hiệu của sự suy đồi đang lan tràn. Disney World có hai màn trình diễn về chính nước Mỹ, và trong một kịch bản, người ta phải khựng lại vì tuyên bố mang tính “lật đổ” của John Steinbeck: “Chúng ta hiện đang đối mặt với những nguy hiểm mà trong quá khứ chúng đã từng tàn phá [các quốc gia] nhiều nhất. Các thành công, sự phong phú, sự thoải mái, và luôn luôn gia tăng vui chơi giải trí: không có dân tộc năng động nào đã tồn tại được sau khi trải qua các hiểm họa này.”

Tại Disney World, đã có kẻ “phá hỏng bữa tiệc vui” (party stopper). Chúng ta có bị kết tội vì thành công của chính mình? Bạn thử nghĩ về điều đó xem, còn tôi thì đã không suy nghĩ. Disney World không phải là nơi để tư duy. Có quá nhiều thứ để chơi. Những trẻ em vui đùa ở đó, mặc dù có một số điểm “khó chịu”. Vợ tôi cũng vậy. Nơi đây, rất khó có thể vui vẻ được, mặc dù tôi đã cố gắng để vui.

Bưu điện Washington

Ngày 13 tháng 9 năm 1995

THAM VỌNG VÀ CÁC KẺ THÙ CỦA NÓ

Chúng ta là một dân tộc với những con người đầy tham vọng, nhưng tham vọng là một đức tính khó có thể được khen ngợi và lại dễ bị chỉ trích. Tham vọng là một động lực lớn cho tính sáng tạo của người Mỹ, nhưng nó cũng có thể là một kẻ đàn áp nhẫn tâm cướp đi thời gian và sự yên tâm của chúng ta. Đặc biệt là trong các thời kỳ thịnh vượng - như hiện nay - thì vấn đề mang tính thời sự là đặt câu hỏi: liệu tham vọng đã vượt khỏi tầm kiểm soát và khiến chúng ta nỗ lực, khao khát thái quá đến mức khiến chúng ta tự hủy hoại mình hay chưa.

Lẽ tất nhiên, tham vọng không chỉ là việc kiếm tìm sự giàu có. Động lực của nó lan tỏa đến từng hoạt động trong cuộc sống. Hãy nhìn một Al Gore làm việc cật lực để trở thành tổng thống - tha thiết vận động tranh cử mà không có bất cứ niềm vui nào thể hiện ra bên ngoài - nhằm hoàn thành tham vọng đã có từ thời thơ ấu của mình. Và liệu có ai thực sự tin rằng các cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các “đại gia” máy tính giàu sụ của Hoa Kỳ (từ Bill Gates của Microsoft đến Stephen Case của America Online) chỉ là vì chuyện tiền bạc? Mối quan tâm lớn hơn ở đây là tham vọng kiểm soát được chương trình nghị sự trong thế giới ảo (cyberagenda) của cả đất nước.

Được thắng thế trước đối thủ cũng là một chứng đam mê kỳ lạ của dân tộc Mỹ. Bạn nhìn thấy điều này mỗi khi một anh chàng bắt bóng (wide receiver)[17] nhảy cẫng lên ở cuối sân và đưa cao một ngón tay chào chiến thắng với ngụ ý “chúng tôi là số một”, ngay cả khi đội bóng của anh ta đang có nguy cơ bị thua. Phổ biến hơn là việc tìm kiếm các biểu tượng của địa vị - một căn nhà lớn hơn, một kỳ nghỉ mới lạ hơn, một xe máy “ngầu” hơn, một máy tính nhanh hơn - giúp chúng ta khác biệt với đám đông. Tiền có thể không phải là cách duy nhất để đáp ứng nhu cầu này, nhưng nó là phương tiện thường thấy, bởi vì tiền có thể dễ dàng chuyển đổi thành các “dấu hiệu nhận biết” và thể hiện địa vị.

Đối với nhiều người dân, việc thi thố này có vẻ là phù phiếm. Tờ The New York Times gần đây đã đăng một câu chuyện dài về bốn gia đình có thu nhập khoảng

50.000 USD, “những người này tự hỏi tại sao họ phải tranh đấu chật vật như vậy chỉ để thanh toán các hoá đơn”. Câu trả lời không phải là vì thu nhập thấp của họ. Theo các báo cáo của Cục Thống kê, trong khoảng từ năm 1992 đến 1997, mức thu nhập trung bình của các cặp vợ chồng đã tăng từ 48.008 USD lên 51.681 USD với sự điều chỉnh lạm phát đồng Dollar. Mức hiện nay [năm 1999] chắc chắn còn cao hơn. Các gia đình được mô tả trên tờ Times đều sở hữu được nhà riêng. Việc mua sắm gần đây của họ bao gồm “tủ lạnh hai cửa, lò nướng bức xạ nhiệt... TV màn hình lớn... máy vi tính, và lò nướng đa năng dùng ngoài trời”.

Vấn đề không phải là họ đang chạy tại chỗ, mà họ đang chạy cùng với mọi người khác. Hình thái các sản phẩm tiêu dùng dịch chuyển từ sự xa xỉ đến tiện dụng và thiết yếu. Ô tô, TV và lò viba cũng đều tuân theo trình tự này; bây giờ là các kết nối internet và điện thoại di động. Nếu bạn không mua sản phẩm với phiên bản mới nhất, bạn sẽ bị xem là một người kỳ quặc hoặc nghèo túng. Không có gì mới cả. Trong cuốn Lý thuyết về các loại hình giải trí (1899), Thorstein Veblen đã lập luận rằng khi một sản phẩm được sở hữu rộng rãi thì việc có nó sẽ là điều bắt buộc cho “lòng tự trọng”. Người ta cố gắng để tiêu dùng sản phẩm “ngoài tầm với” [của họ] để “qua mặt” những người mà họ đang so kè.

Sự thất vọng là điều được dự đoán từ trước. Mặc dù nền kinh tế tăng trưởng cao, cuộc thăm dò ý kiến của Newsweek trong tháng Sáu đã thông báo rằng: 29% người trưởng thành cho rằng họ gặp nhiều khó khăn hơn để có được cuộc sống theo cách mà họ muốn, trong khi chỉ có 23% cho rằng việc này ít khó khăn hơn. (47% cho rằng mọi sự vẫn vậy, không có gì thay đổi.) Những căng thẳng có thể dẫn tới thảm kịch. Có lẽ đây là câu chuyện của Mark Barton, một người đầu cơ tài chính trong ngày (day trader) đã tàn sát 12 người. Người ta thường cố gắng “qua mặt” chế độ với các kế hoạch làm giàu nhanh chóng. Điều này phần nào lý giải sự bùng nổ các loại hình đánh bạc hợp pháp. Trong năm 1998, người Mỹ mất khoảng 50 tỷ dollar cho cờ bạc. Theo các báo cáo của Ủy ban quốc gia Nghiên cứu Tác động của đánh bạc, có khoảng 125 triệu người đánh bạc, và 7,5 triệu người là con bạc “có vấn đề” hoặc nghiện đánh bạc (nghĩa là không phải chơi chỉ để giải trí - ND).

Chúng ta thường được khuyên là phải kìm chế tham vọng. Chúng ta được nghe rằng cần tìm kiếm các điều có ý nghĩa sâu sắc hơn từ gia đình, bạn bè và lòng trung thực. Tiền bạc không thể mua được sự hạnh phúc. Trong chừng mực nào đó, điều này là đúng đắn. Cuộc tổng điều tra xã hội của Đại học Chicago đã yêu cầu mọi người đánh giá mức hạnh phúc của mình. Kết quả khảo sát năm 1998 cho thấy mối liên kết giữa tiền bạc và hạnh phúc phần nào chặt chẽ hơn so với kết quả của các năm trước đó. Khoảng 34% những người có thu nhập trong mức từ 30.000 USD đến 50.000 USD cảm thấy “rất hạnh phúc”, còn 58% những người trong số này là “khá hạnh phúc”. Với thu nhập trên 110.000 USD thì có 51% số người được hỏi cảm thấy “rất hạnh phúc” và 45% cho rằng “khá hạnh phúc”. (Hôn nhân có ảnh hưởng lớn hơn thu nhập, tỷ lệ “rất hạnh phúc” nhận được từ các cặp vợ chồng là cao gấp đôi so với tỷ lệ này của những người độc thân.)

Trong cuốn sách mới phát hành gần đây (Cơn sốt sang trọng - Luxury Fever), Robert Frank, nhà kinh tế học của đại học Cornell, đã đề nghị rằng cần phải “trừng trị” các tham vọng thái quá bằng các sắc thuế tiêu dùng tiên tiến hơn. Càng tiêu dùng nhiều thì người ta sẽ càng phải chịu mức thuế cao. Mua chiếc đồng hồ giá 5.000 USD sẽ phả chịu thuế suất cao hơn so với khi mua đồng hồ 50 USD, và nếu mua xe hơi 60.000 USD thì mức thuế cũng sẽ phải cao hơn so với khi mua xe 20.000 USD. Frank cho rằng người ta sẽ không nghèo đi, bởi vì họ được che chở bởi mô hình tiêu dùng cạnh tranh. Thực tế thì mọi người sẽ rảnh rỗi hơn, bởi vì họ không vung tiền ra tiêu xài để rồi phải làm việc cật lực sau đó.

Ưmm... thử nghĩ lại xem nào. Mặc dù tham vọng là thứ khó có thể được ưa thích, nhưng nó lại hữu ích khi nhìn từ khía cạnh xã hội. Nó duy trì sự tồn tại kinh tế. Nó kích thích mọi người chấp nhận rủi ro và nỗ lực phấn đấu. Internet là sản phẩm của những kẻ tham công tiếc việc, sử dụng những “tuần làm việc 8 ngày” để phát minh ra một thế giới mới và phát tài từ việc đó. Khi tiến trình này chạy tốt, những lợi ích có được lấn át hẳn các tổn thất, mất mát - và không chỉ là các yếu tố đầu ra liên quan đến kinh tế. Tình trạng “siêu thịnh vượng” ngày nay đã cải thiện cả môi trường xã hội. Hầu hết các chỉ số về niềm tin đã gia tăng.

Chính những gì bị người ta khinh thường là tham vọng thì lại được tôn sùng như các cơ hội. Như Tocqueville đã nhận định từ cách đây rất lâu, Hoa Kỳ được xây dựng trên ý niệm - khác với châu Âu với giới quý tộc sẵn có của nó - rằng mọi người đều có thể viết lên những câu chuyện đời của chính mình. Ý tưởng này vẫn còn tồn tại. Một cuộc khảo sát năm 1996 hỏi xem phải chăng bất cứ ai cũng có thể trở nên giàu có từ xuất phát điểm nghèo khổ, và 78% người Mỹ đã đồng ý như vậy. Nhưng nó không chỉ là vấn đề kinh tế hoặc thậm chí là chính trị. Địa vị xã hội thường thay đổi ở khắp mọi nơi. Tham vọng và các quyền năng sáng tạo của nó đã thâm nhập vào nghệ thuật, chuyên môn nghề nghiệp, học thuật, khoa học. Bởi vì tất cả mọi người đều có thể có vị trí khác, nên việc cạnh tranh để ngoi lên trên đám đông là rất quyết liệt và thường là miên man không dứt.

Vài người trong chúng ta thoát khỏi vết đau của tham vọng. Có những giấc mơ không thành, có các dự án dở dang, và các kế hoạch phát triển bị bỏ lỡ. Hầu hết chúng ta phải đối mặt với các áp lực của việc cân bằng các nhu cầu mang tính ganh đua, có trong đời sống nội tâm bên trong và cuộc sống bên ngoài. Một xã hội rêu rao nhiều hứa hẹn thái quá sẽ gieo rắc nhiều thất vọng. Khát vọng thường là điều cay đắng, cũng là sự ngọt ngào, nhưng không có tham vọng, chúng ta sẽ chìm.

Newsweek

Ngày 23 tháng 8 năm 1999

SỰ CÔNG KÍCH ĐIÊN CUỒNG VÀO CHẾ ĐỘ NHÂN TÀI

Nếu các vị “cha đẻ của nước Mỹ”[18] hình dung được một trật tự xã hội lý tưởng, thì chắc chắn đó phải là dạng thức của một chế độ nhân tài (meritocracy)[19]: một chế độ mà theo đó mọi người thành công chủ yếu nhờ vào khả năng và nỗ lực của chính họ. Ngày nay, chúng ta có lẽ là đã đến gần với lý tưởng này hơn bao giờ hết. Có nhiều người Mỹ học cao hơn, và các trường cao đẳng và đại học tốt nhất cũng mở rộng cửa thêm để đón nhận sinh viên từ tất cả các nguồn. Tương tự như vậy nhưng kém dứt khoát hơn là việc các cấp bậc quản lý điều hành trong doanh nghiệp cũng được dân chủ hóa. Tuy nhiên, hiện nay thì chế độ nhân tài này đang bị giới trí thức công kích mạnh mẽ.

Đại khái “bản cáo trạng” cho rằng chúng ta đang tạo ra một xã hội có đẳng cấp trong đó bất công là những kẻ hợm mình lại lấn át. Giàu có hơn những người Mỹ khác, những kẻ này đang ngày càng tách rời khỏi các niềm tin và thị hiếu phổ biến (“cáo trạng” đã nói). Tệ hơn, họ duy trì vị thế của mình bằng cách gửi con cái vào các trường đại học tư có danh tiếng, đó cũng là con đường dẫn đến những việc làm tốt nhất sau này. Trong cuốn sách phát hành vài năm trước đây, Bộ trưởng Lao động Robert Reich gọi “tầng lớp trên, mới nổi” này là “các nhà phân tích mang tính biểu tượng (symbolic analysts)”. Charles Murray và sau đó là Richard Herrnstein lại dùng thuật ngữ “giới tinh hoa có nhận thức” trong tác phẩm Cái chuông cong (The Bell Curve), còn Michael Lind thì gọi là “tầng lớp vượt trội” trong cuốn sách Nước Mỹ trong tương lai (The Next American Nation).

Như hầu hết các quan niệm phổ biến khác, ý kiến này có cái đúng của nó. Số lượng các nhà quản lý và những người có chuyên môn - thành phần nòng cốt của tầng lớp mới này - đã bùng nổ. Trong giai đoạn từ năm 1940 đến năm 1993, lực lượng lao động tăng hơn gấp đôi và lên đến 119 triệu. Trong khi đó, số lượng các nhà quản lý tăng gấp bốn lần (từ 3,8 triệu lên đến 15,4 triệu), và các kỹ sư tăng gấp năm (từ 300.000 đến 1,7 triệu); số lượng bác sĩ và luật sư cũng tăng vọt (số lượng luật sư tăng từ 182.000 lên đến 777.000 và số lượng bác sĩ tăng từ 168.000 lên đến 605.000 người). Khi có nhiều hơn các nhà quản lý và các nhà chuyên môn, nhóm này được xem là một tầng lớp gắn bó và có thể được đem ra phân tích, phê phán hoặc châm biếm.

Đó là một sự dàn xếp. Chúng ta không sống trong một xã hội không có giai cấp (và sẽ không bao giờ có chuyện đó), mà chúng ta sống trong một xã hội biến đổi rất nhanh. Đó mới là vấn đề trọng tâm mà tất cả những phân tích đều bỏ qua hoặc giảm thiểu sự chú ý. Chế độ nhân tài không phải là một tập hợp đồng nhất (monolith), mà nó vẫn có những “vết nứt” riêng mang tính văn hoá, kinh tế, chính trị (ví dụ giới bác sĩ là khác với giới luật sư khi xét về các hành vi sai trái). Và sự thành công của người ở địa vị cao không gây ra nghèo khổ cho những người dưới thấp. Nếu các trường đại học danh tiếng không đào tạo ra các sinh viên tốt nghiệp thành công, bạn sẽ tự hỏi: Tại sao lại không nhỉ? Các trường đại học đó đã làm được điều này. Nhưng nếu bằng cấp có uy tín là con đường duy nhất dẫn đến sự thăng tiến, bạn lại lo ngại: xã hội Mỹ phải chăng là một xã hội “đóng”? Đâu phải thế.

Một báo cáo vào giữa thập niên 1980 khảo sát trên 2.729 nhà quản lý hàng đầu của 208 công ty lớn, kết quả cho thấy rằng có đến 17% trong số họ đã không vào được đại học, hoặc bỏ học giữa chừng; thêm 28% khác chỉ có bằng Cử nhân từ các trường không mấy tên tuổi. Tại Newsweek, biên tập viên Maynard Parker tốt nghiệp trường Stanford, nhưng “sếp” của anh ta, vị tổng biên tập và Tổng giám đốc Richard Smith, đã học từ trường Albion. Jack Welch và John Smith, lãnh đạo của General Electric và General Motors, cả hai đều tốt nghiệp từ trường Đại học Massachusetts.

Tôi không chối bỏ sự hiển nhiên. Trong cuộc sống, việc bạn có nguồn gốc từ một gia đình thu nhập cao, được giáo dục tốt và bạn vào học ở một trường đại học nổi tiếng là điều rất thuận lợi. Nhưng hình ảnh của một “ngôi sao” được nuông chiều, dễ dàng hoạch định tương lai cho mình, đã được thổi phồng quá mức. Tôi tốt nghiệp từ Harvard, trong khi cha tôi đã không có bằng đại học. Khả năng để một trong ba đứa con của tôi sẽ được đến học ở Harvard - giả định là chúng muốn thế - là thấp; còn cơ hội để tất cả chúng đều đi được là zero. Thực ra, các đại học danh tiếng đã nhận được ít hơn sự ủng hộ từ các cựu nam sinh viên. Cho đến năm 1961, gần một phần tư các tân sinh viên của Yale là con trai của các cựu sinh viên đã tốt nghiệp từ trường này. Đến năm 1994, tỷ lệ này chỉ còn là 9%.

Tại Mỹ, các con đường dẫn đến danh tiếng và giàu có (và thậm chí là sự mãn nguyện) là rất nhiều và luôn luôn thay đổi. Hai trong số những người đàn ông quyền lực nhất quốc gia ngày nay, Bill Gates và Rush Limbaugh, là 2 kẻ bỏ học giữa chừng. Mọi người khác nhau về tài năng, tham vọng, động lực và sự may mắn. Các anh chị em trong một gia đình cũng theo đuổi các mục tiêu khác nhau trong cuộc sống với những sự thành công cũng khác nhau. Và cũng không phải là những người có thu nhập cao hơn sẽ được che chở hoàn toàn trong các cuộc biến động kinh tế. Các nhà quản lý và những chuyên gia cũng phải gánh chịu việc “giảm biên chế” (downsizing). Theo một nghiên cứu của chính phủ, mức độ bền vững về công ăn việc làm (mặc dù vẫn còn kha khá) đã xói mòn đi nhiều trong những năm của thập niên 1980 đối với các sinh viên tốt nghiệp trường trung học cũng như các trường đại học.

Trong số những người Mỹ được đào tạo tốt hơn và có thu nhập cao hơn, tồn tại một hiện thực rằng họ cũng không thể đảm bảo hoàn toàn cho tương lai của chính mình - chứ đừng nói gì cho con em họ - và điều này đã tăng thêm mối lo lắng rõ ràng cho xã hội. Kinh tế xuống dốc, và người ta đã luôn luôn phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm và thu nhập bị gián đoạn. Hiếm có ai lớn tiếng phàn nàn. Xã hội phát triển cao tưởng tượng là nó được miễn dịch trước những xáo trộn này, và nhận thức rằng đây chỉ là một ảo ảnh khiến người ta la ó. Nhưng sự thay đổi và không được đảm bảo chắc chắn lại giúp xác định nên cả nền kinh tế có tính cạnh tranh lẫn chế độ nhân tài.

Những nhà lý luận về tầng lớp mới của chúng ta đã đánh giá thấp tình trạng hỗn loạn bất tận này và, trong quá trình đó, lãng quên lịch sử. Trong một cuốn sách gần đây, cố tác giả Robert Christopher đã mô tả “sự sút giảm của nhóm người WASP (viết tắt của White, Anglo-Saxon Protestant) trong quyền lực tinh hoa của Mỹ” - đó là, sự suy tàn trong kiểm soát các tổ chức kinh doanh và văn hóa trọng yếu của người Anglo-Saxon da trắng, theo đạo Tin Lành. Christopher đã viết: “Khi tôi gia nhập quân đội vào cuối năm 1942, quê hương của tôi ở New Haven, Connecticut, là nơi mà tại đó việc kết hôn giữa người Ai-len và người Mỹ gốc Ý [vẫn còn] làm cho cả hai bên ngạc nhiên khó chấp nhận, nơi mà giao tiếp xã hội giữa những người WASP và người Mỹ gốc Ý hay gốc Do Thái còn rất hiếm và nói chung là rắc rối, và chẳng có một người gốc Hy Lạp hoặc Ba Lan nào có thể có cơ sở để hy vọng rằng mình sẽ giành được vị trí giám đốc tại một ngân hàng địa phương hay trong một công ty môi giới”.

Những rào cản xã hội có từ thời trai trẻ của Christopher đã bị phá vỡ bởi hôn nhân khác chủng tộc (intermarriage), giáo dục phát triển hơn, và các chuẩn mực xã hội kiểu mới. Năm 1940, dưới 5% người Mỹ là có bằng đại học; đến nay thì gần 25% thanh niên Mỹ có bằng. Tại Yale (nơi có hồ sơ bằng cấp rất tốt), khoảng 70% tân sinh viên đến từ các trường tư trong năm 1940. Năm 1994, gần 60% sinh viên là các học sinh đến từ các trường công lập. Gần một nửa trong đó là nữ sinh, lần đầu tiên được tiếp nhận vào trường là năm 1969. Khoảng 10% là người da đen, 7% là người Mỹ Latin, và 16% là người Mỹ gốc châu Á. Hai phần năm tổng số sinh viên đã nhận được hỗ trợ tài chính.

Chế độ nhân tài của chúng ta đã có sai lầm và có cả những thứ đạo đức giả. Các bác sĩ, luật sư, và các nhà quản lý thường hành động vì lợi ích của chính họ, cũng như cách thức mà các hiệp hội, đoàn thể đã làm. Có các lợi thế về đặc quyền và mối liên kết; “các hành động tích cực nhằm khắc phục nạn phân biệt đối xử” (affirmative action) cũng chỉ là một “chiêu thức” mới. Tuy nhiên, cho dù nhiều khuyết tật đến mức nào, thì chế độ nhân tài vẫn là tiến bộ rất lớn trước những rào cản về chủng tộc, giới tính, tôn giáo, và sắc tộc khác nhau. Cuộc đời là bất công, John Kennedy đã từng nói vậy. Nó sẽ luôn luôn bất công - nhưng không phải là trò gian lận, ít nhất là tại nước Mỹ.

Newsweek

Ngày 31 tháng 6 năm 1995

TẠM BIỆT, MIKE MULLIGAN

Dường như là những ngày của tôi sống với Mike Mulligan đã kết thúc. Mike là người anh hùng trong cuốn “Mike Mulligan và chiếc máy đào đất dùng động cơ hơi nước”[20], tôi đã đọc cho ba đứa con tôi nghe câu chuyện này. Thành thật mà nói thì tôi say mê nhân vật Mike và cỗ máy Mary Anne của anh ta. Nhưng John - đứa con nhỏ nhất của chúng tôi, mới gần 5 tuổi, lại không thích cuốn sách này. John là đứa “cứng đầu” nhất trong số ba đứa con tôi, và khi nó nói “không” thì có nghĩa là cần phải nỗ lực nhiều hơn cả Mike và cỗ máy Mary Anne thì mới làm nó thay đổi. Chắc chắn là tôi không thể làm được điều này. Con tôi, dĩ nhiên, đã sai lầm. Cuốn sách, lần đầu xuất bản năm 1939, không những là một câu chuyện khiến trẻ em say mê, mà còn là một câu chuyện kinh điển của người Mỹ. Đó là cuộc phiêu lưu của Mike để duy trì cỗ máy Mary Anne không cho nó lỗi thời, khi các máy đào đất diesel đã đào thải loại máy dùng hơi nước: “Tất cả các máy đào đất dùng hơi nước khác đều đã được đem bán phế liệu, hoặc bị bỏ trong các nhà kho để cho mục nát và sụp đổ tan tành. Nhưng Mike yêu quý Mary Anne. Anh không thể làm vậy với chiếc máy này.”

Tại đây có các đề tài mang tính bền vững: tình cảm ràng buộc giữa con người và máy móc; việc đấu tranh chống lại khó khăn bất lợi; các hiệu ứng khi chuyển đổi sang công nghệ mới - cả tốt và xấu. Trong thời đại này, chúng ta thường nghĩ rằng mình bị tấn công bởi các nguồn lực chưa từng xuất hiện trước đây từ việc “tái cấu trúc” trong thương mại và kinh doanh. Ồ, không phải vậy. Những thay đổi trong các năm qua đã thường là xuyên trở nên lệch lạc hơn. Đôi khi chúng ta cần phải nhớ lại. Bà Virginia Burton Lee (1909 - 1968), người sáng tác ra nhân vật Mike Mulligan, đã là một thiên tài khi làm giảm bớt các thiên anh hùng ca vĩ đại thành các câu chuyện chiến công nho nhỏ trong đời sống tinh thần của con người.

Trong cuốn The Little House (tạm dịch: Ngôi nhà nhỏ) xuất bản năm 1942, bà kể lại câu chuyện của một gia đình xây nhà trên một ngọn đồi hẻo lánh, nhưng dần dần đã bị bao quanh bởi các tuyến đường giao thông và các ngôi nhà khác, cuối cùng là các tuyến đường sắt và căn hộ cao tầng của một thành phố lớn. Câu chuyện này đã quen thuộc với các vị là ông bà, cha mẹ ngay từ lần đầu tiên đọc truyện. Trong thời của họ, Hoa Kỳ đã trở thành một xã hội được đô thị hóa cao độ. Hãy xem Cleveland, năm 1860 dân số mới là 43.000 người; đến năm 1930 đã là 900.000. Diện tích tăng từ 7 lên đến 71 dặm vuông. Những nhà máy thép và cửa hàng cơ khí đã thế chỗ cho các trang trại nông nghiệp.

Cuối cùng thì người cháu gái của chủ nhà ban đầu đã tháo dỡ căn nhà và di chuyển đến một ngọn đồi khác, cách xa thành phố. Hành động của cô ta không hẳn là sự chối bỏ thành thị với việc tái khẳng định các giá trị xưa cũ. Đối với Mike Mulligan cũng vậy. Sự suy thoái của các máy đào đất sử dụng động cơ hơi nước lại là yếu tố có liên quan, tuy không quan trọng, đến một câu chuyện rộng hơn về việc điện năng và các động cơ đốt trong đã thay thế động cơ hơi nước như thế nào. “Trong suốt thế kỷ 19, hơi nước đã là nguồn năng lượng tuyệt vời,” ông Bill Withuhn, người phụ trách Viện Smithsonian Institution[21] cho biết.

Hầu hết các động cơ hơi nước đều vận hành tương tự như nhau. Than đá được đốt cháy, làm sôi nước và tạo ra hơi nước để đẩy piston. Trong các nhà máy, các piston truyền chuyển động đến các càng máy và dây đai để giúp máy móc hoạt động, sản xuất ra đồ đạc, quần áo, hoặc công cụ dụng cụ. Tại các trang trại, động cơ hơi nước dùng làm máy kéo; 85.000 sản phẩm này được sản xuất ra trong khoảng thời gian từ năm 1876 đến 1931. Và, tất nhiên, đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước là một trong những thành tựu được ứng dụng lâu dài nhất trong thời kỳ này. Vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ II, ngành đường sắt đã có đến 40.000 đầu máy loại này, đến năm 1960 thì hầu hết chúng đã được thay thế bởi 27.000 đầu máy diesel.

Các động cơ diesel có rất nhiều ưu điểm. Động cơ hơi nước phải ngưng hoạt động sau mỗi 50 dặm để xử lý nước và sau mỗi 100 dặm để giải quyết vấn đề than đá; trong khi động cơ diesels thì không cần. Động cơ diesel có nhiều phụ tùng được chuẩn hóa và có các yêu cầu bảo trì thấp hơn. Cũng theo lời Withuhn thì đầu máy diesel làm việc từ 85 đến 90% thời gian, so với tỷ lệ 60 đến 70% của đầu máy hơi nước. “Những động cơ diesel là các vị cứu tinh”, một giám đốc ngành đường sắt từng nói. Tuy nhiên, nhiều nhà quản lý khác đã “miễn cưỡng từ bỏ động cơ hơi nước. Những khó khăn nảy sinh khi bạn cần giải quyết vấn đề cảm xúc”.

Tất nhiên, không chỉ là cảm xúc. Từ năm 1945 đến năm 1962, số người làm việc trong ngành đường sắt giảm từ 1,4 triệu xuống còn 700.000 người. Cần có ít kỹ sư hơn; cần các cửa hàng bảo trì nhỏ hơn; trạm bơm nhiên liệu và nước được loại bỏ. Các thành phố như Altoona, Pennsylvania - nơi từng có các cửa hiệu sửa chữa lớn - bị bỏ trống. Các nguồn lực tương tự cũng ảnh hưởng đến máy đào đất dùng động cơ hơi nước trong các thập niên 1920 và 1930. Ông Robert Vogel, một chuyên gia về máy móc thiết bị cũ cho biết: “động cơ diesel rẻ hơn, không cần dùng nước và cũng không có tro bụi và cần phải lấy ra sau đó”.

Một thử thách: Mike Mulligan thật kiên cường. Anh nhận thấy rằng thị trấn Popperville đang có kế hoạch xây dựng một tòa thị chính mới. Anh nói: “chúng tôi sẽ đào phần hầm cho tòa thị chính này”. Tại Popperville, Mike và cỗ máy Mary Anne gặp gỡ ông Henry B. Swap, một đại diện của thị trấn. Mike đề nghị được đào hầm “chỉ trong vòng một ngày”, nếu không thành công sẽ không nhận tiền. Swap cho rằng việc này là không thể, và thị trấn cũng có thể thu được chút ít gì đó trong khi không mất gì cả. Vì vậy, ông “mỉm cười đầy ý nghĩa” và nói OK.

Một cuộc thi đầy khó khăn vất vả. Máy đào đất sử dụng động cơ hơi nước là một thách thức. Chúng nhả ra đầy khói và hơi nước. Chúng kêu cót két và rên rỉ. Một phần tạo nên sự lãng mạn khi Mike và cỗ máy làm việc là mọi người có thể đứng xem. Các bánh răng và dây cáp được để lộ ra ngoài khá nhiều. Khi Mike và chiếc máy Mary Anne bắt đầu làm việc, một đám đông đã tụ tập xung quanh để chào mừng họ. Càng có nhiều người xem thì họ càng làm việc “nhanh hơn và tốt hơn”. Người trực tổng đài điện thoại cũng tham gia hỗ trợ (thời kỳ đó đã là gọi đường dài). Bà kêu gọi “những người từ các thị trấn Bangerville, Bopperville, Kipperville và Kopperville và nói với họ về những gì đang xảy ra trong thị trấn Popperville. Mọi người đến để xem Mike Mulligan và cỗ máy đào đất hơi nước của mình liệu có thể đào xong phần hầm chỉ trong một ngày”.

Khi mặt trời lặn, Mary Anne cũng hoàn tất xô đất cuối cùng. Tất cả mọi người đều vỗ tay cho đến khi một người chợt nhận ra rằng không có đoạn đường dốc để ra khỏi hầm, Mike và Mary Anne đang mắc kẹt bên dưới. Henry B. Swap “mỉm cười đầy ý nghĩa” và nói rằng Mike sẽ không nhận được tiền công. Không ai biết phải làm gì cho đến khi một cậu bé đề nghị: xây dựng tòa thị chính ngay trên nơi mà cỗ máy Mary Anne đang nằm lại: dùng cỗ máy làm nồi hơi và Mike là người tạp vụ của tòa nhà. Vấn đề được giải quyết: thậm chí ông Swap cũng đã đồng ý.

Vậy đó, người Mỹ chiến thắng nghịch cảnh và nắm bắt sự thay đổi. Việc đấu tranh là cần thiết, ngay cả khi mọi chuyện không kết thúc có hậu. Chúng ta được truyền cảm hứng và được nhắc nhở rằng những thăng trầm ngày hôm nay, mặc dù lớn lao, ít gây nản chí hơn như trong quá khứ. Trong khi đó, câu chuyện của Mike và cỗ máy Mary Anne vẫn còn nguyên tại Popperville. Họ mời mọi người đến thăm. Rồi sau đó thì tạm biệt, Mike.

Newsweek

Ngày 19 Tháng 12 năm 1994

NỀN DÂN CHỦ TẠI HOA KỲ

Alexis de Tocqueville[22] (1805-1859) sẽ không ngạc nhiên bởi chiến dịch vận động tranh cử ác liệt, giữa một ứng cử viên (Gore) đóng vai một kẻ nói dối và bên kia (Bush) như là người dại dột. Tocqueville hẳn có được một lời giải thích thú vị bởi vì, mặc dù ông là người Pháp, nhưng ông hiểu Hoa Kỳ cũng như bất cứ ai, trước hoặc sau thời đại của ông. Cuốn sách “Nền Dân chủ tại Hoa Kỳ”[23] của ông vẫn là cuốn “hay nhất từ trước đến nay viết về nền dân chủ và nước Mỹ”, theo nhận định của các nhà khoa học chính trị Harvey C. Mansfield và Delba Winthrop trong bản dịch mới của họ. Bề ngoài thì có vẻ là sự ngẫu nhiên: một cơ hội - khi chiến dịch kết thúc - để đánh giá tại sao nền dân chủ của Hoa Kỳ thành công, bất chấp nhiều thiếu sót của nó.

Tocqueville đến Hoa Kỳ năm 1830 khi ông hơn 20 tuổi. Ông ở lại đất nước này trong chín tháng và đi nhiều nơi, đến Boston, Buffalo, Pittsburgh, Memphis, New Orleans, Washington, và sau đó các khu vực biên giới tại Michigan và Wisconsin. Ông đã nói chuyện với tổng thống Andrew Jackson, cựu tổng thống John Quincy Adams, Daniel Webster, và nhiều người khác. Mục đích của Tocqueville là tìm xem những gì có thể đang đón chờ nước Pháp, mặc dù đất nước đã có cuộc cách mạng nhưng chúng vẫn có thể gây chia rẽ một cách cay đắng đối với các giá trị của nền dân chủ. “Tôi muốn... ít nhất là biết được chúng ta nên hy vọng hay lo sợ những điều gì [từ dân chủ]”, ông từng viết.

Ông đã phát hiện ra rằng nền dân chủ Hoa Kỳ không chỉ là chính phủ và chuyện chính trị. Đó là một tập hợp các niềm tin, các giá trị, và cách thực hành mà người ta nên trông đợi từ cuộc sống. Hãy xem những dòng mở đầu của ông:

Trong số các vấn đề mới mẻ thu hút sự chú ý của tôi trong thời gian lưu lại Hoa Kỳ, không có gì ấn tượng một cách sống động hơn sự bình đẳng về các điều kiện. Tôi dễ dàng phát hiện ra ảnh hưởng to lớn của điều căn bản này đến các diễn tiến xã hội, nó xác định phương hướng nhất định cho tinh thần cộng đồng, sự thay đổi nhất định trong pháp luật... nó tạo ra quan điểm..., và sửa đổi tất cả mọi thứ.

Trong cuốn “Nền Dân chủ tại Hoa Kỳ” - xuất bản hai tập, năm 1835 và 1840 - Tocqueville trình bày khả năng cảm nhận mới này của người Mỹ đã lan tỏa vào toàn xã hội, từ chính trị đến thơ ca, như thế nào. Những gì ông hàm ý “bình đẳng về điều kiện” là gần gũi với khái niệm “sự bình đẳng về cơ hội” của chúng ta, hơn là “bình đẳng về thành quả”. Ông viết về “quyền được hưởng thụ cùng những niềm vui, được tham gia vào cùng ngành nghề... được sống theo cách thức như nhau và theo đuổi sự giàu có với các phương tiện như nhau.”

Ông là một nhân vật mới lạ của nước Mỹ - với giả định rằng không ai đương nhiên cao cấp hơn bất cứ ai khác. Điều này giúp Hoa Kỳ tách biệt khỏi Thế giới Cũ với di sản là tầng lớp quý tộc của nó, trong đó các tài sản chủ yếu có được là từ thừa kế, chứ không phải là thành tựu đạt được bằng công sức của mình. Địa vị xã hội và kinh tế phần lớn có từ khi được sinh ra, không phải do tài năng hoặc lao động. Con người biết trước vị trí của mình. Mansfield và Winthrop đã viết “Tocqueville luôn luôn hiểu rằng nền dân chủ đối lập với chế độ quý tộc”. Đó là “hai lối sống trái ngược nhau”.

Khả năng cảm nhận này cũng làm thay đổi quan hệ gia đình của người Mỹ. Thậm chí sau đó, vai trò của phụ nữ - so với Châu Âu - được mở rộng hơn. Nghệ thuật có xu hướng thiên về “cái nhanh nhất hoặc rẻ nhất”, bởi vì giai đoạn chỉ có một vài khách hàng quen thuộc là người giàu có đã không còn nữa. Trên hết, người Mỹ có tham vọng và ham lợi. Tocqueville đã nhận ra sự ham muốn bình đẳng đã nuôi dưỡng chủ nghĩa duy vật như thế nào, trong đó, vượt xa sự thỏa mãn cho con người, làm cho họ thêm lo lắng:

Điều kỳ lạ là hãy xem người Mỹ đang theo đuổi sự thịnh vượng với những loại “cơn sốt”nào và họ không ngừng tự dày vò như thế nào với một nỗi sợ mơ hồ rằng đã không lựa chọn đúng con đường ngắn nhất dẫn đến sự thịnh vượng đó... Ngoài những thứ [mà một người Mỹ] sở hữu..., anh ta còn tưởng tượng đến một ngàn thứ khác mà cái chết sẽ ngăn cản anh ta không cho thưởng thức chúng nếu không thúc đẩy nhanh.

Đáng ngạc nhiên là Tocqueville đã trích dẫn các kết luận trên từ một quốc gia dường như khá xa cách đất nước của chúng ta hiện nay. Năm 1830, Hoa Kỳ chỉ có gần 13 triệu người với 24 tiểu bang (cuối cùng thì Missouri cũng đã được công nhận vào năm 1821) và hầu như không có đường sắt (ba dặm đường sắt đầu tiên được xây dựng năm 1826). Sự hiểu biết sâu sắc của Tocqueville khẳng định tài năng sáng chói của ông và nhắc nhở chúng ta rằng nhiều tính cách của dân tộc là hầu như không thể bị hủy diệt.

Mặc dù ngưỡng mộ Hoa Kỳ, nhưng Tocqueville đã thường xuyên phê phán nó. Ông cho rằng các giá trị dân chủ lại thường khuyến khích sự phục tùng, tuân thủ. Ông trình bày một cách gay gắt việc đối xử với thổ dân châu Mỹ và cảm thấy rằng chế độ nô lệ có thể dẫn tới một cuộc chiến tranh sắc tộc. Đối với chính trị, ông đã lưu ý rằng các cuộc bầu cử sẽ làm nảy sinh “mưu đồ” và “sự chống đối”. Ông có thể đã nói nhẹ lời đi cho các trường hợp này. Trong một cuốn sách gần đây, nhà sử học Joyce Appleby của Đại học UCLA[24] cho thấy hoạt động chính trị vào đầu thế kỷ XIX chắc chắn là vô cùng cay đắng.[25] Sự chia rẽ giữa Đảng Liên Bang (Federalists, đảng của John Adams) và Đảng Cộng hòa (của Thomas Jefferson) là rất nguy hại. Đấu tay đôi vẫn là một cách để giải quyết vấn đề. Appleby viết: “Andrew Jackson[26]... đã hạ một đối thủ chính trị trẻ với dòng máu lạnh của mình. Khi người này làm sướt da Jackson bằng một phát súng đầu tiên, anh ta đã phải đứng nguyên ở vị trí đánh dấu trong khi Jackson lên cò súng của mình”. (Ngày nay, đó là chính trị hủy diệt cá nhân.)

Nhưng những khiếm khuyết của chính trị đã không mang tính tàn phá, bởi vì sức sống của nền dân chủ Hoa Kỳ đã không hoàn toàn lệ thuộc vào chính trị và chính phủ. Có những phương tiện khác để đáp ứng nguồn năng lượng cho nền dân chủ. Thương mại có sức hút rất lớn. Có rất nhiều các hiệp hội dân sự thuộc nhiều loại hình khác nhau. Tôn giáo - một lần nữa, dưới nhiều dạng - lại nở rộ. Quy mô tuyệt đối của đất nước đem lại vô số cơ hội. Đây là một trong những thông điệp trọng tâm của Tocqueville: Dân chủ có thể thành công tại Mỹ, bởi vì niềm đam mê dân chủ có thể được hấp thụ theo nhiều cách khác nhau. Chính trị và chính phủ là quan trọng, nhưng chúng không phải là những thứ quan trọng duy nhất. Thất vọng và bất đồng có thể sẽ không gây thảm họa, vì người ta có thể theo đuổi tham vọng và thực hành các giá trị của mình trong nhiều lĩnh vực.

Tuy nhiên, có một cảnh báo từ trước. Tocqueville lo ngại rằng sự ám ảnh về cá tính có thể trở thành thói ích kỷ dẫn đến thất bại cho bản thân. Nếu mọi người chỉ nghĩ đến bản thân và gia đình của họ, họ có thể buông xuôi khi trở nên dễ bị tổn thương vì các chế độ chuyên quyền, thậm chí vẫn có trong một chính quyền dân chủ. Giống như nhiều quan điểm sâu sắc của Tocqueville, đây vẫn là một vấn đề xác đáng.

Newsweek

Ngày 13 Tháng 11 năm 2000

[3] Associated Press (viết tắt: AP) là một hãng thông tấn có quy mô lớn nhất Hoa Kỳ và là một trong những nguồn cung cấp thông tin lớn nhất cho toàn thế giới. AP có trụ sở chính tại New York - ND

[4] Tiệc trà Boston (Boston Tea Party), là một hành động phản kháng trực tiếp của những người đi định cư đất mới tại Boston, một thị trấn là thuộc địa của Anh thuộc Massachusetts, chống lại việc đánh thuế cao đối với trà của chính phủ Anh. Ngày 16/12/1773, sau khi các viên chức ở Boston từ chối không chịu trả lại khối lượng trà trên ba con tàu đã được tính thuế về Anh, một nhóm các người dân đi định cư đã nhảy lên các tàu này và tiêu huỷ trà bằng cách ném xuống cảng Boston. Sự kiện này mang tính biểu tượng trong lịch sử của nước Mỹ, và đã thường xuyên được tham chiếu trong các kháng nghị chính trị - ND.

[5] Sự ngoại lệ của người Mỹ: con dao hai lưỡi (Norton, 1997).

[6] Seymour Martin Lipset (1922 - 2006) là một nhà chính trị xã hội học Hoa Kỳ, một nhân vật cấp cao tại Viện Hoover và Giáo sư môn Chính sách công tại Trường Đại học George Mason - ND.

[7] Thuyết triệt để trong cuộc Cách mạng Mỹ (The Radicalism of the American Revolution (Vintage, 1993)).

[8] Softball: một môn thể thao tương tự như bóng chày nhưng chơi trên sân nhỏ hơn, với bóng lớn hơn và mềm hơn bóng chày - ND.

[9] PTA: viết tắt của Parent - Teacher Association (Tạm dịch: Hiệp hội Phụ huynh và Giáo viên), là một tổ chức phi lợi nhuận được lập ra nhằm tạo thuận lợi cho các bậc phụ huynh học sinh tham gia vào công tác giáo dục tại các trường học công và tư tại Hoa Kỳ - ND.

[10] The Elks là dạng ngắn gọn của The Benevolent and Protective Order of Elks, là một tổ chức từ thiện và bảo trợ tiên phong của Hoa Kỳ - ND.

[11] Chủ nghĩa McCathy (McCarthyism) kêu gọi thực hành với động cơ chính trị qua việc tố cáo các gian trá, sự phá hoại, hoặc phản bội mà không cần đến các chứng cứ thích hợp. Thuật ngữ này mô tả các hoạt động gắn liền với giai đoạn có tên là Nỗi Sợ Màu Đỏ lần thứ II (Second Red Scare) ở Hoa Kỳ, kéo dài khoảng từ cuối những năm 1940 đến cuối những năm 1950, và đặc trưng là nỗi lo ngại cao độ về ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản vào các tổ chức của cơ quan tình báo Hoa Kỳ, từ các điệp viên Liên Xô - ND.

[12] Viết tắt là KKK, thường được biết như “đảng 3K”, một tổ chức xã hội bí mật tại miền Nam Hoa Kỳ, thành lập sau nội chiến, nhằm mục đích khẳng định vị thế cao hơn của người da trắng, thông qua các hoạt động khủng bố - ND.

[13] Các thế hệ “Baby-Boom” dùng để chỉ những người được sinh ra trong giai đoạn 1946 - 1964, tức trong vòng 18 năm sau khi Thế chiến II kết thúc, thế hệ X là những người được sinh trong giai đoạn 1965 - 1977, - ND.

[14] Standard & Poor’s (S & P) là một bộ phận của Công ty McGraw-Hill, chuyên phát hành các ấn bản liên quan đến nghiên cứu và phân tích tài chính về chứng khoán và trái phiếu, nổi tiếng với các chỉ số chứng khoán, như S&P 500 tại Hoa Kỳ, S&P/ASX200 tại Úc, S&P/TSX tại Canada... - ND.

[15] Chọn lựa đúng: Hành vi của con người và cuộc truy tìm địa vị (Choosing the Right Pond: Human Behavior and the Quest for Status) (Oxford University Press, 1985).

[16] Ngôi sao tennis từng giữ vị trí số 1 thế giới, vô địch 7 giải đơn và 9 giải đôi Grand Slam - ND.

[17] Wide Receiver là một vị trí phòng thủ rất quan trọng trong một đội bóng bầu dục, môn bóng đá của người Mỹ - ND.

[18] Nguyên văn: Founding Fathers, là cụm từ dùng để chỉ các nhà lãnh đạo chính trị đã ký vào bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ, hoặc những người lãnh đạo cách mạng Mỹ giành độc lập từ đế quốc Anh, hoặc những người tham gia soạn thảo và thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ trong năm 1787 - 1788, hoặc những người thành lập chính phủ mới theo bản Hiến pháp này. Nhà sử học lỗi lạc của Hoa Kỳ, ông Richard B. Morris, trong cuốn “Bảy người làm nên vận mệnh của chúng ta: các vị cha đẻ của nước Mỹ cũng là các nhà cách mạng” (xuất bản năm 1973) đã xác định bảy nhân vật chủ yếu trong việc sáng lập nên Hoa Kỳ là: Benjamin Franklin, George Washington, John Adams, Thomas Jefferson, John Jay, James Madison, và Alexander Hamilton. Nhiều nhà sử học còn nêu định nghĩa rộng hơn, theo đó “các vị cha đẻ, những người sáng lập nên nước Mỹ” không chỉ giới hạn trong số này, mà còn bao gồm tất cả những người, cho dù là chính trị gia hay luật gia, người phát ngôn hay chiến sĩ, nhà ngoại giao hay công dân bình thường, có tham gia vào cuộc đấu tranh giành độc lập và hình thành nên đất nước Hoa Kỳ - ND.

[19] Meritocracy là một chế độ của một chính phủ hoặc tổ chức, trong đó sự bổ nhiệm và trách nhiệm được giao phó dựa trên tài năng và năng lực đã được chứng minh (sự xuất sắc); chứ không phải dựa vào sự giàu có (plutocracy: tài phiệt), mối liên hệ gia đình (nepotism: gia đình trị), tầng lớp (oligarchy: chính thể đầu sỏ), quan hệ bạn bè (cronyism: chủ nghĩa thân hữu), tuổi tác và thâm niên (gerontocracy), tính phổ biến, đại chúng (democracy: dân chủ), hoặc các yếu tố lịch sử đối với địa vị xã hội và quyền lực chính trị. Trong một chế độ nhân tài, sự tưởng thưởng xã hội (sự giàu có, công việc và địa vị xã hội) dành cho những người có tài năng và thể hiện năng lực của mình bằng các hành động đã thực hiện được hay thông qua việc cạnh tranh - ND.

[20] “Mike Mulligan and his steam shovel” (tạm dịch: Mike Mulligan và chiếc máy đào đất dùng hơi nước” là một cuốn sách kinh điển dành cho trẻ em (xuất bản lần đầu năm 1939) của nữ tác giả Virginia Burton Lee. Nhận vật chính của câu chuyện là Mike Mulligan, một người vận hành máy đào đất, và cỗ máy chạy bằng hơi nước của anh có tên là “Mary Anne”. Sau nhiều năm làm việc thành công, Mike và cỗ máy của anh phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các thiết bị hiện đại, sử dụng động cơ diesel. Trong khi tìm kiếm một nơi mà cỗ máy kém hiện đại của mình vẫn có thể hoạt động được, Mike đến một thị trấn nhỏ đang cần xây dựng một tòa thị chính mới. Chính quyền địa phương không tin tưởng khi Mike khẳng định rằng anh và cỗ máy Mary Anne có thể đào xong phần hầm trong một ngày. Họ cho rằng công việc này cần có hàng trăm người làm việc cả tuần lễ. Mike quả quyết rằng cỗ máy Mary Anne của anh thật sự có thể hoàn thành công việc trong một ngày, mặc dù bản thân anh cũng hơi hoài nghi điều này.

Sáng sớm ngày hôm sau, Mike và cỗ máy Mary Anne bắt đầu làm việc và cố gắng hoàn thành nhiệm vụ - vừa kịp -trước khi mặt trời lặn. Tuy nhiên, anh đã quên không làm cho chính mình một đoạn đường dốc để có thể đưa cỗ máy ra ngoài công trường. Một em nhỏ chứng kiến hoạt động này đã gợi ý rằng Mike nên nhận công việc tạp vụ tại tòa thị chính, và cỗ máy Mary Anne sẽ được dùng làm nồi hơi cho hệ thống sưởi ấm của tòa nhà này.

Trong năm 1992, người ta cũng phát hành một đoạn video hoạt hình cho trẻ em, dựa trên nội dung cuốn sách - ND.

[21] Một viện nghiên cứu và đào tạo, có cả các hoạt động liên quan đến bảo tàng, trụ sở chính tại Washington DC - ND.

[22] Alexis-Charles-Henri Maurice Clérel de Tocqueville là nhà lý luận chính trị, nhà sử học Pháp, từng là đại biểu Quốc hội (1839-1848), Phó Chủ tịch Quốc hội và Bộ trưởng Ngoại giao (1849) của Pháp - ND.

[23] Democracy in America (Đại học Báo chí Chicago, 2000)

[24] Trường Đại học California tại Los Angeles, là một đại học công được xây dựng từ năm 1919, đây là trường cổ xưa thứ nhì trong hệ thống Đại học California (University of California) và là đại học có nhiều học sinh ghi danh nhất ở tiểu bang California - ND.

[25] Di sản từ cách mạng (Inheriting the Revolution) (Harvard University Press, 2000).

[26] Andrew Jackson (1767-1845) là Tổng thống thứ 7 của Hoa Kỳ (nhiệm kỳ 1829-1837). Ông là tổng thống đầu tiên của Đảng Dân chủ Hoa Kỳ - ND.

« Lùi
Tiến »