Chúng ta hiện nay [thời điểm tháng 6 năm 1992] vẫn đang gánh chịu những di sản của bài diễn văn mà John Kennedy 30 năm trước đây đã đọc trong lễ tốt nghiệp tại đại học Yale cũng vào tháng Sáu. Bài phát biểu sau đó được xem như một tuyên bố táo bạo về các nguyên tắc kinh tế mới, và, với việc nhận thức được bản chất vấn đề, nó có thể xếp hạng như một tuyên bố quan trọng nhất của Tổng thống về chính sách kinh tế kể từ sau Thế chiến thứ II. Thật không may, tuyên bố này đã dẫn dắt chúng ta theo phương hướng sai lầm: đưa đến lạm phát cao và thâm hụt ngân sách dễ dàng.
Thần thoại kinh tế, theo lập luận của Kennedy, đã cản trở các tiến bộ của quốc gia. Ông khẳng định “kẻ thù lớn của sự thật rất hiếm khi là sự giả dối - các điều bịa đặt, không trung thực có chủ ý - mà là các thần thoại - dai dẳng, thuyết phục, và không thực tế”. Cụ thể, thâm hụt ngân sách không phải đương nhiên là điều tồi tệ, và nguy cơ lạm phát đã bị thổi phồng quá mức.
Nhưng những gì Kennedy lên án là “những thần thoại” lại thực sự là các vấn đề truyền thống và những điều cấm kỵ “đắt giá”: những điều chúng ta làm theo thói quen hay những gì chúng ta tránh né vì lo sợ. Chúng ta đã có một truyền thống với mức lạm phát thấp (vào năm 1960, tỷ lệ này là 1,4%). Và thâm hụt ngân sách là một điều cấm kỵ. Tổng thống Eisenhower đã phê phán kịch liệt những điều này (ông cân đối các ngân sách được 3 hoặc 4 năm trong thời gian 8 năm làm Tổng thổng, tùy thuộc vào cách thức chúng được đo lường như thế nào - và thâm hụt là tương đối nhỏ). Một khi sự kiềm chế đã không còn, chúng ta đã trở thành nạn nhân của các chính sách ngu ngốc.
Bài phát biểu của Kennedy tại Đại học Yale, dưới một số góc độ nhất định, là một tội lỗi khởi đầu. Nó chối bỏ các yếu tố chính thống hiện hành và làm cho đất nước rơi vào tình trạng “lạc tay lái”: cam kết các mục tiêu mong muốn mà lại không có phương tiện để tiếp cận các mục tiêu đó. Với các hiểu biết sau này, tội lỗi này là có thể lý giải được. Kennedy đã cam kết đưa đất nước tiến lên và ông cũng là một nhân vật của thời đại đó: một thời kỳ lạc quan cao độ khi người ta tin rằng công nghệ và những cái đầu giỏi nhất có thể đảm bảo làm cải thiện xã hội. Những nhà kinh tế của ông là các học giả tự tin và nghĩ rằng ông Eisenhower ù lì đã cản trở sự tăng trưởng kinh tế và gia tăng thất nghiệp. Họ biết họ có thể làm tốt hơn.
Khi Kennedy đến đại học Yale ngày 11/6, ông được người ta vây quanh. Thị trường chứng khoán khi đó đang tụt dốc nhanh. Ngày 28/5 thị trường đã sụt giảm gần 6%. Trong tháng tư, Tổng thống đã tranh đấu với ngành công nghiệp thép khi có tăng giá. Thành kiến bị cáo buộc là không ủng hộ doanh nghiệp và mức chi tiêu cao của Nhà Trắng đã được quy kết cho việc mất tự tin. Newsweek từng trích lời nhận định cay đắng của một doanh nhân: “Nếu Kennedy có một cơn đau tim, giá [cổ phiếu] sẽ tăng thêm 40 điểm” (tương đương với 230 điểm trong chỉ số Dow Jones hiện nay)[53].
Ngày 7/6, Kennedy công bố tại một cuộc họp báo rằng ông sẽ tìm một phương cách mới nhằm cắt giảm thuế để kích thích nền kinh tế. Ông quyết định dùng bài thuyết trình tại Yale để thuyết phục phe đối lập rằng các chính sách mạnh mẽ hơn là hợp lý và thận trọng. Bài phát biểu, như ghi chép của người viết tiểu sử Arthur M. Schlesinger Jr., là lời thỉnh cầu “tranh luận cho rõ cái đúng cái sai” dự định khởi xướng nên một cuộc đối thoại với các nhà lãnh đạo doanh nghiệp.
Ngày nay, điều đáng chú ý trong bài phát biểu kia là sự tính toán nhầm lẫn của nó. Kennedy đã nói rằng mọi thứ đều phức tạp. “Những gì chúng ta cần không phải là cái nhãn và các lời sáo rỗng, mà là sự thảo luận căn bản về các vấn đề phức tạp và mang tính kỹ thuật...”. Ông cho rằng các chính sách kinh tế liên quan đến “những thách thức tinh tế mà từ đó phải tìm ra câu trả lời mang tính kỹ thuật, chứ không phải tính chính trị”. Toàn bộ ý tưởng là thay thế các yếu tố truyền thống và những điều cấm kỵ bằng sự tin tưởng trong tư duy hiện đại và các chuyên gia: đó là các nhà kinh tế học. (Nhưng ảnh hưởng của quá khứ vẫn còn mạnh mẽ. Cho đến năm 1964, sau vụ ám sát Kennedy, Quốc hội vẫn chưa thông qua việc cắt giảm thuế.)
Những gì chúng ta biết ngày nay là sự đánh đổi của Kennedy - chế độ của những chuyên gia kỹ thuật (technocrats) thay thế cho kiểu truyền thống - đã bị sụp đổ bởi hai sai lầm. Trước tiên, các nhà kinh tế học đã không hiểu biết đầy đủ để làm được những gì Tổng thống mong đợi. Họ không thể tạo ra tình trạng “có đầy đủ việc làm” lâu dài (về sau đã được định nghĩa là một tỷ lệ thất nghiệp 4%) mà không có lạm phát. Và thứ hai là, các chính trị gia bây giờ mới có thể hợp lý hoá các chính sách bất cẩn dưới chiêu bài nền kinh tế khai sáng. Thâm hụt là OK, vì chúng sẽ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và cuối cùng là cân đối ngân sách. Tăng trưởng nhanh hơn làm cho các chương trình chi tiêu mới trở nên khả thi. Lãi suất thấp được dùng để biện minh cho việc thúc đẩy tăng trưởng.
Tổng quát hơn, tiền đề cơ bản của Kennedy đã sai. Đúng, mọi thứ đang phức tạp. Nhưng điều đó không triệt tiêu sự cần thiết phải có các niềm tin cốt lõi - được công chúng hiểu theo trực giác và khả thi trong thực tế - để thông báo và kiểm soát các chính sách của chính phủ. Thiếu sót của Kennedy, lan tỏa đến những người kế nhiệm của ông theo các mức độ nhiều hơn hay ít hơn, là việc không có khả năng tìm thấy các nguyên tắc như vậy và truyền thông chúng đến công chúng.
Theo Raymond J. Saulnier, một trong những cố vấn chủ chốt của Eisenhower, trong một cuốn sách mới[54] thì vẫn chưa có ai phát triển thêm từ các nguyên tắc của vị Tổng thống này. Nếu người dân muốn có một dịch vụ mới từ chính phủ, họ phải trả tiền thông qua các loại thuế. Chính phủ không tạo ra sự tăng trưởng kinh tế. Người dân và doanh nghiệp mới tạo ra sự tăng trưởng đó (mặc dù chính phủ có thể tạm thời ảnh hưởng tới sự tăng trưởng). Và có lạm phát là điều cần thiết cho một nền kinh tế lành mạnh. Eisenhower là người bướng bỉnh nhưng không cứng nhắc bám chặt các nguyên tắc của ông. Ví dụ, ông chấp nhận mức thâm hụt khi suy thoái, nhưng không cắt giảm thuế hoặc tăng chi tiêu vì điều đó sẽ tạo ra sự mất cân bằng trong dài hạn.
Nếu không có các niềm tin cơ bản, chúng ta thiếu đi một khung mẫu để kiểm soát các chính sách của chính phủ. Niềm tin của Kennedy và các cố vấn của ông về “việc tranh luận đúng sai”, theo một mức độ nào đó, là bất hợp lý. Chúng ta không thể luôn luôn biết trước rằng: một điều xấu đối với chúng ta sẽ thực sự là xấu. Một chút lạm phát là không tệ. Nhưng nó đã dẫn đến mức lạm phát hơn, rồi lớn hơn nữa và khi đó đúng là xấu thật. Khi mức thâm hụt ngân sách là nhỏ, nó có vẻ dễ dàng được chấp nhận. Chúng ta đã trở nên quen thuộc với những điều này, và dần dần chúng làm cho mức thiếu hụt lớn hơn mà hiện nay đang làm tê liệt chính phủ. Năm 1959, thanh toán lãi suất chiếm 6,3% chi tiêu của liên bang; đến năm 1990, tỷ lệ này đã là gần 15%.
Các ý tưởng sai lầm, một khi được tung ra, sẽ tiếp tục còn lảng vảng đâu đó với các hậu quả của chúng. Chúng ta hiện nay đã được tập luyện với các làn sóng kế tiếp nhau của những “thầy phù thủy” kinh tế, và cố gắng để bù đắp lại những lời hứa không thực tế của những năm 1960. Sự hùng biện quá lời của những người Cộng hòa theo trường phái Trọng cung (supply-siders) trong đầu thập niên 1980 đã rất tương đồng với sự thổi phồng của các nhà kinh tế học thời Kennedy - Johnson. Chúng ta vô tư loại trừ mức lạm phát cao, nhưng chỉ bằng cách là phải chịu đựng sự suy thoái nghiêm trọng giai đoạn 1981 - 1982. Và bây giờ chúng ta đang chơi đùa với một đề án bấp bênh để ban hành luật - thông qua một tu chính hiến pháp yêu cầu phải có một ngân sách cân bằng - về các chuẩn mực chính trị, thứ đã thu hút được sự quan tâm rộng rãi trong công chúng vào những năm 1950. Đó là sự trả thù của lịch sử.
Newsweek
Ngày 8 Tháng 6 năm 1992
THỜI ĐẠI CỦA VOLCKER[55]
Trên tấm bảng đen của lịch sử, hầu hết các nhân vật của công chúng - các chính trị gia và quan chức xuất hiện nhiều trong các tin tức hàng ngày - hiếm khi để lại được một dấu ấn. Họ thiếu năng lực hoặc không có ý định tạo ra một sự khác biệt. Họ chủ yếu bị cuốn theo dòng sự kiện, họ reo hò lớn tiếng khi đi thuyết phục chính mình và những người khác rằng họ là quan trọng. Đó là sự dối trá và gian lận. Paul Volcker không phải là người trong số này. Ông tạo nên lịch sử và cũng được lịch sử tạo thành.
Công việc của Cục Dự trữ Liên bang - quản lý lãi suất, các dòng tiền, và khả năng tín dụng - là mang tính kỹ thuật và xa vời, nên tầm ảnh hưởng thực sự của các thành tựu mà Volcker đạt được có thể đã không được đánh giá cao. Không ai hoài nghi về thành tích chính của ông: giải quyết được vấn đề lạm phát khó chịu nhất của thời bình trong lịch sử Hoa Kỳ. Nhưng thành công của Volcker còn vượt xa hơn thế. Ông đã lèo lái nền kinh tế trong thời kỳ căng thẳng và nguy hiểm nhất kể từ sau Thế Chiến thứ II, và đã không có tai họa lớn nào xảy ra trong giai đoạn đó.
Không ai biết những gì có thể xảy ra nếu không có Volcker. Các tình huống khốc liệt chỉ có được từ phương pháp loại suy. Lần sau cùng nền kinh tế Mỹ đã trải qua tình trạng bất ổn tương tự là vào cuối thập niên 1920. Nhiều nhà kinh tế tin rằng nếu có sự lãnh đạo tốt hơn của Cục Dự trữ Liên bang thì cuộc Đại Suy thoái đã có thể được ngăn chặn. Khi đối mặt với những vấn đề “chưa có tiền lệ”, Cục Dự trữ Liên bang đã không thể xử lý được tình hình vào đầu thập niên 1930. Nó đã để cho một cuộc khủng hoảng ngân hàng xảy ra và lan rộng thành sự sụp đổ của nền kinh tế. Volcker cũng đã phải đối mặt với những vấn đề không kém phần xa lạ. Sự thiếu vắng một cuộc khủng hoảng được dùng làm thước đo dành cho kỹ năng của ông.
Còn nhiều vấn đề liên quan chứ không chỉ là thành tích trong quản lý kinh tế. Kìm chế lạm phát đã khôi phục lòng tin vào khả năng của chúng ta trong việc điều hành. Việc lạm phát gia tăng dưới thời Tổng thống Carter đã ảnh hưởng đến tất cả mọi người và bào mòn tinh thần lạc quan của người Mỹ . Các liều thuốc giải độc đã không còn tinh vi huyền diệu nữa. Trong đợt suy thoái 1981 - 1982, số lượng thất nghiệp đã đạt đến đỉnh cao với con số 12,1 triệu, và tỷ lệ sử dụng người lao động trong các nhà máy giảm xuống chỉ còn 69,5%. Nhưng sự thành công của Volcker đã bác bỏ tất cả các cái cớ được chuẩn bị công phu (giá dầu cao hơn, chỉ số tiền lương...) lý giải tại sao chính quyền không thể kìm chế lạm phát. Và sự hồi phục sau đó đã làm dịu lại luận điệu rằng “liều thuốc” chống lạm phát sẽ còn tệ hại hơn chính căn bệnh này.
Nói vậy không có nghĩa là xác nhận Volcker đã tạo ra một đất nước có nền kinh tế tươi đẹp. Mọi người đều biết các vấn đề hiện nay. Nông nghiệp vẫn đình trệ. Các ngân hàng phải chịu các gánh nặng quá mức từ các khoản vay đáng ngờ cho người nông dân, các nước đang phát triển, các công ty khai thác dầu, và các đơn vị phát triển nhà. Thâm hụt trong thương mại của Hoa Kỳ là lớn nhất từ trước đến nay, và một số nhà sản xuất đã không thể hồi sinh sau cuộc suy thoái kinh tế và sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Nhưng nhiều vấn đề trong số này là những cơn dư chấn của tình trạng lạm phát cao, và chúng - cho đến nay - vẫn được cô lập. Chúng đã không liên kết lại để dẫn đến sự sụp đổ kinh tế trên tổng thể và đã không tái hiện từ sau năm thứ 5 của cuộc suy thoái.
Cũng hiển nhiên là không phải chỉ có một mình Volcker “đơn thương độc mã” tiến hành cuộc vận động chống lạm phát. Liên minh giữa Volcker và Ronald Reagan là một niềm hạnh phúc tình cờ: không ai có thể tự mình làm rất tốt như vậy nếu không có người kia. Mặc dù Reagan phản đối lạm phát (người nào lại không phản đối chứ?), ông đã không có toan tính xa xôi về việc dập tắt nó một cách quyết liệt. Nhưng một khi Volcker bắt đầu công việc, Tổng thống ủng hộ ông. Sự chỉ trích từ phía Quốc hội đã xuất hiện. Những công ty xây dựng nhà, các nhà kinh doanh xe hơi và các đại lý bất động sản gửi hàng ngàn lá thư để phản ánh Volcker như là biểu tượng của nhà cửa, xe hơi chưa bán được và mối đe dọa phá sản. Nhưng Reagan đã không gạt Volcker ra ngoài.
Tình tiết này nhấn mạnh mối quan hệ không rõ ràng giữa Nhà Trắng và Cục Dự trữ Liên bang. “Độc lập” về mặt kỹ thuật, Cục Dự trữ Liên bang có một phạm vi lớn để thực thi các mức lãi suất và chính sách tín dụng trên cơ sở hàng ngày. Nhưng nó không thể duy trì được một chính sách kinh tế thực sự độc lập khi thách thức Nhà Trắng. Điều đã ràng buộc Volcker và Reagan - một người kiệm lời và có ít mối quan hệ cá nhân - là sự kiên nhẫn và một niềm tin cho rằng việc không kiểm soát được lạm phát sẽ gây nguy hiểm cho một xã hội thịnh vượng và dân chủ. Sự kiên nhẫn của Reagan đã được tưởng thưởng hậu hĩnh. Giảm lạm phát giúp ông có được một thành tựu lớn nhất và đảm bảo việc tái tranh cử của ông.
Volcker đã trở thành mẫu người mà hầu hết các nhân vật của công chúng đều khao khát và không bao giờ đạt được: trở thành một huyền thoại trong thời đại của mình. Danh tiếng là xứng đáng, nhưng sự thật cũng bị xuyên tạc. Ông đã gặp may mắn. Nền kinh tế có chu kỳ của riêng nó và khả năng tự phục hồi. Hơn nữa, còn nhiều thứ mà Volcker không thể dự đoán trước: mức độ nghiêm trọng của thời kỳ suy thoái 1981 - 1982; ảnh hưởng của mức lạm phát giảm, khoảng cách rất lớn trong tỷ giá hối đoái của đồng dollar trong năm 1980 và 1985; và quy mô của cuộc khủng hoảng nợ quốc tế. Nhưng nếu Volcker đã không kiểm soát được các sự kiện, thì ông cũng không để cho chúng điều khiển ngược lại ông. Là một nhà chiến thuật kinh tế, ông có hai đức tính tuyệt vời.
Trước hết, ông đã nắm bắt được tốt hơn tầm quan trọng của kinh tế quốc tế, so với hầu hết các quan chức hoặc nhà kinh tế Hoa Kỳ khác. Năm 1982, Volcker đã giúp giải tỏa cuộc khủng hoảng nợ quốc tế. Nếu vấn đề này để cho Bộ Ngân khố Hoa Kỳ của Donald Regan giải quyết, thì khó mà biết những gì có thể xảy ra.
Thứ hai, ông có thể nhìn xuyên qua tấm màn che của các thống kê kinh tế và lý thuyết để thấy được thế giới thực. Sau cuộc suy thoái, cả tỷ lệ lãi suất lẫn thống kê cung tiền đều không tạo ra một chỉ dẫn chính xác dành cho chính sách của Cục Dự trữ Liên bang. Lãi suất cao ngụ ý tín dụng đã được thắt chặt, trong khi một lượng cung tiền nhanh chóng được mở rộng lại cho thấy rằng tín dụng được nới lỏng dễ dàng. Volcker đã không lệ thuộc vào cả hai yếu tố này.
Điều nổi bật lên là tính thời điểm sắc bén. Ông biết khi nào cần thay đổi “điểm nhấn”, như là vào năm 1982 khi ông chuyển đổi từ kiềm chế lạm phát sang thúc đẩy tăng trưởng. Nhưng xem Volcker là một “người thực dụng” (như người ta vẫn thường làm) cũng là sai lầm. Tất cả các yếu tố linh hoạt và việc chú ý đến từng chi tiết của ông rốt cục đã được dẫn dắt theo hướng thực thi các niềm tin mạnh mẽ vào những gì là quan trọng sống còn cho việc bảo tồn một xã hội dân chủ và một nền kinh tế lành mạnh. Điều chính yếu nhất trong các giá trị này là tầm quan trọng của việc tái lập sự ổn định giá cả - một mục tiêu ông hầu như đã đạt được trọn vẹn.
Di sản của ông bị lu mờ, bởi vì thành tựu của ông có thể được dễ dàng phân tích. Tránh mối nguy lạm phát trong dài hạn sẽ liên quan đến việc định kỳ phải chấp nhận những khó khăn tạm thời của suy thoái. Nếu không, lạm phát sẽ tăng dần cho đến khi nó trở nên quá lớn và chỉ có thể được kiểm soát bởi mức chi phí xã hội lớn khủng khiếp, hoặc không thể kiểm soát nổi. Tình thế tiến thoái lưỡng nan này không thể tái diễn nếu mọi thứ đều đã được học hỏi từ kinh nghiệm của Volcker. Ông là một người khổng lồ trong số các chú lùn, nhưng chỉ có thời gian mới có thể khẳng định rằng liệu người Mỹ đã có đủ tự chủ và khôn ngoan để nắm bắt được ý nghĩa của những gì ông đã làm hay chưa.
Newsweek
Ngày 15 tháng 6 năm 1987
THÀNH CÔNG CỦA TRÍ TUỆ NHÂN DÂN
Chúng ta đang hoàn tất [vào những năm cuối của thập niên 1990] cuộc hành trình chính trị và trí tuệ kéo dài 40 năm mà dấu chấm hết của chặng đường này dường như được biểu hiện qua hai sự kiện cuối tuần qua: việc công bố một thỏa thuận lưỡng đảng (bipartisan agreement) để cân bằng ngân sách đến năm 2002, và tỷ lệ thất nghiệp mới nhất - 4,9% - là mức thấp nhất kể từ năm 1973. Những sự kiện này đánh dấu một sự thay đổi trong cách thức mà chúng ta nghĩ về nền kinh tế và chính phủ. Chúng còn là dấu hiệu của sự tái khẳng định trí tuệ nhân dân trước nền kinh tế chuyên nghiệp. Những ý tưởng của người dân, hiện nay đang thắng thế, là mong muốn ổn định về tiền tệ (có nghĩa là, lạm phát thấp hoặc không có lạm phát) và cân bằng ngân sách. Chúng ta hiện không có thứ nào, nhưng chúng ta đều đồng thuận rộng rãi rằng cả hai yếu tố trên sẽ phục vụ cho sự thịnh vượng lâu dài của quốc gia.
Từ cuối những năm 1950, những ý tưởng này đã từng chi phối cách tư duy phổ biến. Chúng được coi là các nguyên tắc thận trọng. Trong các điều kiện bình thường, chính phủ không nên chi tiêu nhiều hơn khoản thu từ thuế; cân bằng ngân sách buộc các chính trị gia phải lựa chọn giữa sự tổn thương do thuế cao và các lợi ích của việc chi tiêu nhiều hơn. Và sự ổn định tiền tệ giúp duy trì sự ổn định trong nền kinh tế và trong quan hệ xã hội. Tuy nhiên, trong thập niên 1960, những truyền thống lâu đời này đã bị nhạo báng và bỏ qua. Các nhà kinh tế học bác bỏ chúng như những thứ lỗi thời và có hại. Họ cho rằng một chút lạm phát có thể hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp. Nếu được sử dụng một cách khôn ngoan, thâm hụt ngân sách có thể ngăn chặn suy thoái.
Bởi vì các lý thuyết được cho là tinh vi này đã chưa bao giờ đi vào thực tế, chúng ta hiện lại quay về xuất phát điểm ban đầu. Ý nghĩa của thỏa thuận ngân sách mới đã vượt qua cả những ưu điểm và khuyết điểm (có cả hai) cụ thể của nó, hoặc thậm chí còn hơn cả khả năng đạt được sự cân bằng đến năm 2002. Nó chủ yếu nằm trong một vấn đề thực tế là: mục tiêu đạt một ngân sách cân bằng đã được chấp nhận trên nhiều quang phổ chính trị. Những gì người ta nhắm đến để giành lấy, thậm chí khi họ không đạt được, vẫn ảnh hưởng đến cách họ hành xử và đến những gì được coi là chính đáng và không chính đáng. Chỉ mới gần đây thôi thì việc có một ngân sách cân bằng mới nhận được sự ủng hộ rộng rãi. Chẳng hạn, khi được bầu vào năm 1992, Tổng thống Clinton chỉ đơn thuần ủng hộ việc “giảm mức thâm hụt”.
Tương tự như vậy, theo đuổi “ổn định tiền tệ” bây giờ là một mục tiêu trọng tâm trong chính sách kinh tế của chính phủ, theo cách thức chưa từng có trước đây. Hai thập kỷ trước, cụm từ này đã biến mất khỏi các cuộc thảo luận về kinh tế. Thay vào đó, các nhà kinh tế học và quan chức chính phủ đã trao đổi về việc kìm chế lạm phát ở mức chấp nhận được và hài hoà tỷ lệ này với sự tăng trưởng kinh tế bền vững và tỷ lệ thất nghiệp thấp. Nhưng, dấu hiệu của sự mở rộng kinh tế này không phải là lời hứa từ Cục Dự trữ Liên bang về việc duy trì tỷ lệ lạm phát mãi mãi, mà đúng hơn là những cảnh báo thường xuyên rằng chính phủ phải ngăn chặn sự trỗi dậy của nạn lạm phát.
Quan điểm của chúng ta đã thay đổi chủ yếu là do hậu quả của các kinh nghiệm cay đắng. Hãy nhớ lại những con số kỷ lục. Năm 1960, lạm phát là 1,4%. Năm 1979, tỷ lệ này là 13,3%. Các nỗ lực để “quản lý” nền kinh tế để có sự ổn định hơn và tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn lại dẫn đến sự bất ổn và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn. Suy thoái là không tránh khỏi và, khi xảy ra, có chiều hướng khốc liệt hơn. Năm 1975, tỷ lệ thất nghiệp trung bình là 8,5%; năm 1982 là 9,7%. Nói chung, các chính sách của chính phủ đã trở nên lúng túng hơn và không thể dự đoán trước, khi họ vận dụng nhiều chiến thuật vô ích - kiểm soát và định hướng tiền lương và giá cả, kiểm soát tín dụng - để cố gắng chống lạm phát.
Trong khi đó các nguyên tắc của ngân sách đã không còn. Đúng là ngân sách đã thâm hụt nhiều hơn dưới thời Tổng thống Reagan, nhưng những sự kiện mang tính quyết định trong việc tạo ra sự thâm hụt dai dẳng này - sự từ bỏ các yếu tố truyền thống giúp ngăn cản thâm hụt - đã diễn ra từ thời Tổng thống Kennedy, Johnson, và Nixon với sự trợ giúp của nhiều nhiệm kỳ Quốc hội thuộc đảng Dân chủ nối tiếp nhau. Thâm hụt ngân sách được chấp nhận như sự khai sáng, trong khi, trên thực tế, đó chỉ là thủ đoạn. Từ năm 1961, ngân sách chỉ thặng dư duy nhất trong một năm (1969).
Chúng ta đã quay lại các yếu tố truyền thống cũ bởi vì, đơn giản thôi, các lựa chọn thay thế là tồi tệ hơn. Một lý do khiến cho thỏa thuận ngân sách khả thi là nền kinh tế đã lớn mạnh hơn dự kiến, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn và khoản thu từ thuế cao hơn. Việc có rất nhiều nhà kinh tế (trong đó có rất nhiều người đã từng phát triển các chính sách dại dột trong thập niên 1960 và 1970) đang kinh ngạc chỉ đơn thuần là tái khẳng định sự nông cạn trong kiến thức kinh tế của họ. Vấn đề tâm lý là quan trọng: một bài học mà họ chưa bao giờ thực sự thấu hiểu.
Cam kết ngăn chặn suy thoái của thập niên 1960 đã làm cho các công ty và công nhân trở nên thiếu trách nhiệm. Họ đã cảm thấy rằng có thể tăng giá và mức lương, mà hành vi gây ra lạm phát này của họ sẽ không bị trừng phạt với mức lợi nhuận thấp hoặc mất việc làm. Kể từ đầu những năm 1980, giả định “gậy ông đập lưng ông” này đã không còn tồn tại. Sự miễn cưỡng chịu đựng mức lạm phát luôn luôn tăng có nghĩa rằng các công ty và công nhân phải chịu hậu quả nếu tiền lương hoặc giá cả của họ không phù hợp. Sự gia tăng cạnh tranh từ các nguồn khác (nhập khẩu, bãi bỏ các quy định, công nghệ mới) càng củng cố thêm bài học này. Bất ổn kinh tế đã tăng thêm đối với nhiều cá nhân và doanh nghiệp. Nhưng, nghịch lý là, những áp lực thị trường này lại thúc đẩy sự ổn định tổng thể. Các công ty hạn chế chi phí lao động. Chi phí lao động thấp hơn sẽ khuyến khích việc thuê mướn nhân công. Lạm phát dịu lại làm hạn chế bớt các chính sách chống lạm phát khắc nghiệt.
Chúng ta cũng đang quay lại với ý niệm rằng: ngân sách chủ yếu là một khung mẫu để xác định vai trò của chính phủ, nhiều hơn là một công cụ để thực thi chính sách kinh tế. Ngày nay người ta rất ít nói đến các ưu điểm kinh tế của sự thâm hụt ngân sách hoặc thậm chí là cân bằng ngân sách. Cả hai loại này là khó có thể được phát hiện ra. Sự thâm hụt chưa bao giờ được quảng cáo là có lợi, nhưng thâm hụt dai dẳng cũng đã chẳng gây ra tai họa ngay lập tức. (Nếu có, chúng đã được chú ý giải quyết sớm hơn). Vì vậy, Quốc hội và Tổng thống - và cả công chúng - đang chuyển đổi theo hướng quay về tư tưởng truyền thống: niềm tin cho rằng mức thâm hụt lớn trong thời bình sẽ chuyển thành gánh nặng thuế sang các thế hệ tương lai và quan niệm thông thường là các chi tiêu thoải mái nên được ngăn chặn bằng các loại thuế khó chịu.
Việc khám phá lại các quan niệm đúng đắn xưa cũ sẽ không giải quyết được mọi vấn đề của chúng ta. Cân bằng ngân sách không phải là luôn luôn thích hợp (chiến tranh và kinh tế đình trệ là các ngoại lệ). Đơn giản là bởi vì một chính phủ cân bằng được ngân sách của nó thì không có nghĩa là chính phủ đó đang hoạt động một cách khôn ngoan. Nó có thể áp đặt các mức thuế bất công hay áp bức. Nó có thể chi tiêu quá ít hoặc quá nhiều. Cũng không có một cam kết nào nói rằng bản thân sự ổn định tiền tệ sẽ đảm bảo đem lại sự hoàn hảo đến mức không tưởng (utopia) cho nền kinh tế. Nó sẽ không ngăn chặn suy thoái hoặc kìm chế lạm phát. Nó cũng sẽ không đảm bảo tăng trưởng. Mặc dù châu Âu và Nhật Bản có mức lạm phát thấp, sự tăng trưởng “ngập ngừng”của họ là có các lý do khác. Nhưng những hiểu biết của nhân dân là cần thiết cho sự thành công của quốc gia. Sự khôi phục trí tuệ nhân dân làm cho bạn tự hỏi chúng ta đã có thể đi đến đâu bây giờ nếu như chưa bao giờ đánh mất chúng.
Bưu điện Washington
Ngày 7 Tháng 5 năm 1997
CHÚNG TA KHÔNG PHẢI LÀ ĐẤT NƯỚC CỦA CÁC TIỆM GIẶT ỦI
Ngày nay, một trong những khái niệm bị hiểu sai và nói xấu nhiều nhất là “kinh tế dịch vụ” (service economy). Khái niệm này - với việc tập trung tìm hiểu các nhà hàng thức ăn nhanh, tiệm giặt ủi, và các sàn bowling - không tán thành một quốc gia sản xuất ra những thứ không có giá trị lâu dài. Tất cả chỉ là món hấp dẫn của nền kinh tế “cocktail”. Sai lầm, cũng giống như trong thế kỷ mười lăm, người ta từng tin rằng thế giới là phẳng.
Định kiến phổ biến về kinh tế dịch vụ này nhìn chung là rất ngớ ngẩn. Kinh tế dịch vụ không chắc chắn dẫn đến việc làm sút giảm tiêu chuẩn sống (trên thực tế còn là ngược lại). Nó không chiếm chỗ của nền sản xuất vật chất tạo ra hàng hoá (mà cũng là ngược lại mới phải). Nó không làm phân cực giữa thu nhập cao của các chuyên gia thuộc giới tinh hoa và thu nhập thấp của những người lao công thuộc giai cấp vô sản. Và kinh tế dịch vụ cũng không hình thành nên một quốc gia chỉ có các tiệm giặt ủi và hiệu cắt tóc.
Trong nhiều trường hợp thì việc mở rộng lĩnh vực dịch vụ là dấu hiệu của sự thịnh vượng cho đất nước, chứ không phải suy tàn. Khi nền kinh tế phát triển, lao động đã dịch chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang khu vực sản xuất hàng hóa (chế tạo, khai khoáng, xây dựng), và sau đó đến các ngành dịch vụ - không phải vì sản xuất đã suy giảm, mà vì việc sản xuất thêm sản phẩm có thể được thực hiện với số lượng nhân công ít hơn tương đối. Ngành sản xuất nông nghiệp ngày nay đã gấp nhiều lần quy mô của những năm 1860; nhưng số lượng người lao động cần có cho các nông trại là dưới 4% tổng lực lượng lao động, so với tỷ lệ yêu cầu là 60% trước kia.
Sản xuất hàng hóa cũng đã trải qua những thay đổi tương tự. Năm 1980, tổng sản lượng của khu vực này cao hơn một phần ba so với năm 1970, nhưng số lượng việc làm đã chỉ tăng lên 5%. Nhiều công nhân đã được giải phóng khỏi sản xuất để cung cấp các dịch vụ - những thứ mà một xã hội nghèo hơn sẽ không đủ khả năng thanh toán hoặc không cần. Các khách sạn, khu vui chơi, và các đội thể thao chuyên nghiệp xuất hiện nhiều hơn bởi vì người ta năng động hơn và muốn giải trí nhiều hơn. Có nhiều bệnh viện, bác sĩ, và nhà điều dưỡng hơn vì chúng ta sống lâu hơn và có thể chi tiêu nhiều hơn để duy trì sức khỏe.
Nếu cho rằng kinh tế dịch vụ là điềm báo trước những bất hạnh cũng đồng nghĩa với việc giả định nó là một hiện tượng bất thường - nhưng thực ra không phải vậy.
Theo cách truyền thống, các nhà kinh tế đã phân loại: sản xuất ra của bất cứ thứ gì có thể lưu trữ được (như xe hơi chẳng hạn) sẽ thuộc về nhóm hàng hoá, và mọi thứ khác vào nhóm dịch vụ. Vì vậy, dịch vụ bao gồm các cửa hàng bán lẻ, nhà phân phối bán buôn, điện thoại và các dịch vụ điện lực, ngân hàng, và chính phủ. Kể từ cuối những năm 1940, các ngành dịch vụ đã chiếm một nửa trong tổng số việc làm; và ngày nay, tỷ lệ này là 7/10. Nếu sự chuyển đổi này gây ra rắc rối, thì nó đã nảy sinh ra những khó khăn rồi.
Bất cứ ai nghĩ rằng sản xuất là cực kỳ tốt cũng nên nghiên cứu thêm một số so sánh. Tiểu bang Bắc Carolina có tỷ lệ lực lượng lao động trong sản xuất phi nông nghiệp (32,8% trong năm 1983) cao hơn bất kỳ tiểu bang nào khác. Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu người của dân cư tại bang này - số tiền thu nhập dành cho mỗi người trong số họ - chỉ đứng thứ 39. Bảng sau đây cho thấy rằng Bắc Carolina không phải là một ngoại lệ, hầu hết các tiểu bang có nền tảng căn bản là sản xuất đều không lọt vào các vị trí dẫn đầu về mức thu nhập.
Điều này không có nghĩa là sản xuất tạo nên sự đói nghèo, mà chỉ đơn giản là khẳng định quá trình thay đổi mang tính lịch sử. Năm mươi năm về trước, Bắc và Nam Carolina phần lớn còn là nền kinh tế nông thôn, trang trại. Khi trang trại được cơ giới hóa, người nông dân và công nhân trang trại đã dịch chuyển vào các nhà máy. Tiền lương còn thấp, nếu so sánh theo tiêu chuẩn của miền Bắc, nhưng vẫn tốt hơn so với cuộc sống nông thôn. Mức sống tại các tiểu bang này - thu nhập bình quân đầu người của họ - hiện đang tiến gần đến mức trung bình của cả nước nhiều hơn so với năm 1940.
Phá vỡ một chuyện thần thoại
Các tiểu bang có tỷ lệ công nhân sản xuất cao nhất lại không có mức thu nhập bình quân đầu người cao nhất. Các việc làm trong khối Dịch vụ cũng được trả lương khá.
Tỷ lệ % công nhân nhà máy (số liệu năm 1983)
Thu nhập bình quân đầu người hàng năm và thứ hạng trong liên bang
Bắc Carolina
32,8%
9.656USD (39)
Nam Carolina
30,6%
8.954USD (48)
Rhode Island
29,3%
11.504USD (23)
Indiana
28,7%
10.567USD (33)
Connecticut
27,9%
14.826USD (2)
New Hampshire
27,7%
11.620USD (19)
Michigan
27,6%
11.574USD (21)
Tennessee
27,3%
9.362USD (42)
Arkansas
27,0%
9.040USD (46)
Wisconsin
26,1%
11.132USD (27)
Nguồn: Cục Thống kê Lao động, Vụ Phân tích Kinh tế.
Những so sánh này cũng nhấn mạnh sự đa dạng rất lớn trong cả hai lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ.
Một số ngành nghề và việc làm được trả lương cao; một số khác thì không. Sự giả định cẩu thả cho rằng tất cả các công nhân sản xuất đều là công nhân ngành xe hơi được trả lương cao và mọi người làm việc dịch vụ đều là người làm khoai tây chiên ở nhà hàng McDonald’s đã che lấp thực tế này. Mặc dù các ngành sản xuất hàng hóa đều trả lương cao hơn các ngành dịch vụ (tính bình quân), vẫn không có bằng chứng vững chắc nào - không kể đến những khẳng định trái ngược lại - cho thấy rằng sự gia tăng số lượng lao động trong ngành dịch vụ khiến cho việc phân phối thu nhập càng thêm bất bình đẳng.
Tại sao lại không? Một số người dự đoán. Đầu tiên, mức lương trung bình trong các ngành dịch vụ bị kéo xuống do xuất hiện một số lượng lớn phụ nữ và thanh thiếu niên nhận làm các công việc bán thời gian. Ví dụ, gần một phần tư phụ nữ đang làm việc đều tình nguyện nhận thêm việc làm bán thời gian. Hầu hết các người lao động này không phải là nguồn thu nhập chính của gia đình họ. Trong thực tế, những công việc này đem lại sự linh hoạt cho các hộ dân cư khi cần cân bằng trách nhiệm với gia đình, nhà trường với nhu cầu có thu nhập.
Thứ hai, nhiều ngành dịch vụ đang phát triển nhanh đã trả lương rất cao. Từ năm 1975 đến năm 1983, “các dịch vụ kinh doanh” chiếm khoảng 1/7 số lượng việc làm mới. Thật sự thì lĩnh vực này cũng bao gồm các dịch vụ dọn dẹp được trả công thấp, với mức lương trung bình (5,94 dolar một giờ vào năm 1983) còn thấp hơn khối sản xuất (8,83 dollar). Nhưng nó cũng còn có các việc làm trong các công ty kiến trúc và kỹ thuật (lương trung bình 11,50 dollar mỗi giờ), máy tính (10,06 dollar), và các công ty kế toán (8,97 dollar).
Nghịch lý của kinh tế dịch vụ là hầu hết chúng ta đều liên quan đến nó, nhưng vẫn có thành kiến chống lại nó. Tâm lý sản xuất của chúng ta thường nghiêng về các sản phẩm hữu hình nhiều hơn. Nhưng, hầu như tất cả mọi thứ người ta mua về (thực phẩm là ngoại lệ lớn) đều tạo ra một dịch vụ. Xe hơi và máy bay cung cấp dịch vụ vận tải; nhà ở cung cấp nơi cư trú; TV đem lại các thông tin và dịch vụ giải trí.
Trong thế giới thực, sự phân biệt này còn lu mờ hơn. Xerox là một nhà sản xuất lớn, nhưng chỉ có 1/7 lực lượng lao động là người Mỹ của công ty này làm việc ở nhà máy. Hơn một nửa tham gia vào việc bán hàng, dịch vụ khách hàng, và marketing. Sản phẩm máy của Xerox sẽ không có giá trị cao nếu khách hàng không biết đến chúng (vì không có quảng cáo hoặc lực lượng bán hàng), hoặc không thể sử dụng chúng (vì không có sự hướng dẫn hoặc sửa chữa). Vì vậy, phần lớn người lao động của Xerox cung cấp các dịch vụ này.
Điều tương tự cũng tồn tại trong hầu hết các ngành công nghiệp; ví dụ số người làm việc tại các bộ phận giao dịch thương mại xe hơi cũng nhiều như số lượng người làm việc trong khâu sản xuất. Sự tách biệt giữa dịch vụ và sản xuất ngày càng trở nên không thích hợp với tiêu chuẩn sống cao hơn và nhiều việc làm. Chúng ta nên khuyến khích các công ty có năng lực vượt qua các doanh nghiệp yếu kém, và khuyến khích các ngành đang tăng trưởng vượt qua các ngành trì trệ - bất kể chúng là gì. Khuôn mẫu xưa cũ không phải là một cách hay để tìm hiểu được nền kinh tế hoặc để cải thiện nó.
Newsweek
Ngày 9 Tháng 7 năm 1984
THU NHỎ ĐỂ TĂNG TRƯỞNG
[Nhiều] nhà quan sát thị trường lao động đã khẳng định rằng liên kết giữa người lao động và người sử dụng lao động đã trở nên mỏng manh hơn và ngắn hạn hơn... tuy nhiên các thống kê về thị trường lao động lại hoài nghi về giới hạn của tất cả các động thái theo xu hướng việc làm ít ổn định hơn.
Báo cáo về lực lượng lao động Hoa Kỳ, Bộ Lao động, 1995
Theo báo cáo này của Bộ Lao động thì đó là hiện tượng hoảng loạn khi thu nhỏ quy mô - một phần được khuấy động bởi Bộ trưởng Bộ Lao động Robert Reich và một loạt bài báo lớn trên tờ Thời báo New York. Các công ty ngày càng thường xuyên viện dẫn đến việc tạm ngưng hoạt động và cho nhân công thôi việc, nhưng từ trước đến nay cũng chưa bao giờ các công ăn việc làm được đảm bảo tuyệt đối, và sự thu nhỏ quy mô hoạt động cũng không phá hỏng những việc làm bền vững nhất. Trước kia tôi đã viết về những điều này, nhưng bây giờ tôi muốn mở rộng cuộc thảo luận và cho rằng, dưới một số khía cạnh thì việc thu hẹp còn có thể cải thiện nền kinh tế.
Nghe có vẻ như không đúng theo trực giác. Chúng ta rất khó chịu với tình huống mà trong đó những gì là xấu đối với người lao động và các doanh nghiệp đơn lẻ - việc làm bấp bênh, sự phá sản - lại có thể là tốt cho xã hội. Nhưng điều này là có thể, và lập luận không đơn giản chỉ là: thu hẹp quy mô cho phép một số công ty tồn tại được. Quan điểm còn rộng hơn: đó là nỗi lo âu và sự bấp bênh khiến mọi người không thể ngồi yên lại có thể khiến cho họ thêm thận trọng và làm việc có năng suất theo những cách thức giúp củng cố và ổn định nền kinh tế.
Mặc dù ít được chú ý, nhưng sự mở rộng nền kinh tế gần đây đã trở thành giai đoạn dài thứ 3 kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II. Nó đã kéo dài gần 5 năm và chỉ chịu thua thời kỳ mở rộng của những năm 1960 (kéo dài 106 tháng, từ tháng 2 năm 1961 đến tháng 12 năm 1969) và những năm 1980 (92 tháng, từ tháng 11 năm 1982 đến tháng 7 năm 1990). Nhưng dưới một số khía cạnh, giai đoạn này khá hơn 2 giai đoạn trước, bởi vì nó chưa gây ra mức lạm phát cao hơn. Từ năm 1990, lạm phát đã giảm từ 6,1% xuống còn 2,5%. Ngược lại, lạm phát trước kia đã tăng trong thập niên 60, từ 1,4% năm 1960 lên 6,2% trong năm 1969.
Sự bùng nổ trong những năm 1960 vẫn thường được hoài niệm như một “thời hoàng kim”, khi nó thật sự đặt nền móng cho một giai đoạn kinh tế hỗn loạn và năng suất thấp nhất kể từ năm 1945. Mức độ nghiêm trọng của hai đợt suy thoái tồi tệ nhất thời hậu chiến (những giai đoạn 1973 - 1975 và 1981 - 1982, với tỷ lệ thất nghiệp cao điểm của tháng là 9% và 10,8% tương ứng) phát xuất trực tiếp từ lạm phát hai con số (12,3% vào năm 1974 và 13,3% vào năm 1979). Và khả năng cạnh tranh toàn cầu của nhiều ngành công nghiệp của đất nước đã bị xói mòn; ví dụ từ năm 1971 đến năm 1980 tại Hoa Kỳ, doanh thu từ xe hơi nhập khẩu tăng từ 15% - 27% .
Ngày nay thì chúng ta đã khá hơn trong hầu hết các khía cạnh. Điều gì đã xảy ra? Câu trả lời, theo tôi, là có sự thay đổi sâu sắc trong các ý tưởng kinh tế, khiến cho Reich và tạp chí Times khó chịu, mặc dù sự thay đổi này đã cải thiện nền kinh tế. Từ đầu thập niên 1960 đến đầu thập niên 1980, các quan chức chính phủ và các nhà quản lý
doanh nghiệp có ý thức để nỗ lực mở rộng công ăn việc làm, triệt tiêu suy thoái, và tăng cường tính ổn định của công việc. Kinh tế học Keynes thống trị; các công ty “có trách nhiệm” đã hứa hẹn, theo cách ngụ ý hoặc rõ ràng, công ăn việc làm suốt đời.
Cuộc thử nghiệm lại không thành công: việc phối hợp để theo đuổi những mục tiêu đáng giá - tổng số việc làm bền vững và sự ổn định kinh tế - đã cho chúng ta kết quả là thất nghiệp nhiều hơn cũng như mức lạm phát cao hơn. Trong những năm 1980, các ý tưởng kinh tế đã thay đổi. Cục Dự trữ Liên bang vận động liên tục để chống lạm phát, bây giờ thì họ lo ngại nhiều nhất về việc “bình ổn giá cả”. Trong khi đó, các công ty lại ít quan tâm đến việc duy trì các việc làm mà lại tập trung nhiều hơn vào việc gia tăng thị phần và lợi nhuận.
Kết quả là, kể từ đó, tỷ lệ thất nghiệp trung bình đã giảm, đợt suy thoái tiếp theo trong giai đoạn 1990 - 1991 là khá nhẹ nhàng (tháng có tỷ lệ thất nghiệp cao điểm là 7,8%), và khả năng cạnh tranh của ngành đã được nâng cao. Một nguyên nhân của sự cải thiện này là chúng ta cuối cùng đã nhận ra rằng những lời hứa hẹn về ổn định kinh tế và công việc được đảm bảo đã tự thất bại; chúng ngoan cố tạo cảm hứng cho các hành vi để cả hai mục tiêu trên càng khó đạt được hơn. Khi người dân mong đợi chính phủ tránh né khủng hoảng kinh tế, các công ty và người lao động còn tăng giá bán và mức tiền lương nhanh hơn. Và tại sao không? Giá và tiền lương quá mức sẽ không quan trọng trong sự tăng trưởng lâu dài. Đó còn là sự cạnh tranh, tại sao phải lo lắng?
Kìm chế các hành vi gây lạm phát đã hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế. Mối lo ngại về việc làm cũng đã làm giảm áp lực lạm phát bằng cách giảm nhu cầu về tiền lương. Những gì mà các nhà kinh tế gọi là “tỷ lệ tự nhiên” của nạn thất nghiệp - tỷ lệ tại đó sự đình đốn lao động kích hoạt lạm phát tiền lương - có thể đã hạ xuống. Một sự đồng thuận ban đầu đã đặt ra mức khoảng 6%, nhưng trong năm 1995 tỷ lệ thất nghiệp trung bình là 5,6% mà (cho đến nay) chưa thấy sự tăng vọt của lạm phát. Cứ mỗi 0,1 điểm giảm xuống trong “tỷ lệ tự nhiên” này thì có nghĩa là có thêm 130.000 việc làm mới. Sự không chắc chắn cho tương lai có thể làm dịu lại các sự thái quá - vay mượn thái quá hay bội chi - thứ có thể gây khủng hoảng.
Tất cả những điều này không có nghĩa là sẽ không có suy thoái trong tương lai (sẽ có thôi), không có nghĩa rằng tất cả sự thu hẹp quy mô đều được chứng minh là đúng (không phải thế đâu), hoặc một số công nhân không phải gánh chịu thiệt hại khủng khiếp (họ vẫn phải chịu). Nhưng trong một nền kinh tế thị trường, mất việc làm là điều khó tránh khỏi, và tác hại xấu đối với xã hội có thể được giải quyết êm thấm nếu việc doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động và sa thải người lao động được trải rộng ra, không tập trung - giống như trong quá khứ - khi đình trệ hoặc trong các thời kỳ khủng hoảng ngành. Công nhân từng bị sa thải có thể được tuyển dụng lại nhanh chóng hơn trong một nền kinh tế đang phát triển. Tạp chí Times ghé thăm Dayton, Ohio, nơi mà “mọi thứ, dường như là, đang biến động”, một phần vì công ty NCR (được sáp nhập vào AT&T) đang thu nhỏ quy mô. Sau đó, chúng ta mới muộn màng hiểu ra rằng tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực này chỉ là 4,8%. Ngược lại, tại Flint, Michigan, vào đầu thập niên 1980, khi ngành xe hơi tạm ngưng và sa thải công nhân thì tỷ lệ thất nghiệp đã lên đến 20%.
Thiếu sót trong cuộc tranh luận này (và trong các loạt bài của Times) là ý nghĩa của cách thức mà các công ăn việc làm được tạo ra. Các công ty thuê công nhân để thu về lợi nhuận; công nhân nhận việc làm để kiếm sống. Nếu việc thuê nhân công để có lợi nhuận trở nên quá khó khăn, công ty sẽ không tuyển dụng; và nếu bị thất nghiệp là điều quá dễ dàng, mọi người sẽ không tìm kiếm việc làm nữa. Châu Âu ngày càng khâm phục sự linh hoạt của chúng ta, bởi vì chế độ của họ - mặc dù bề ngoài trông giàu lòng trắc ẩn hơn - kìm hãm sự sáng tạo ra công ăn việc làm. Họ có mức phúc lợi cao hơn dành cho người thất nghiệp, các khoản thuế thu nhập cá nhân tính từ lương (payroll taxes) cao hơn (để thanh toán cho các phúc lợi trên), nhiều rào cản ngăn chặn việc sa thải, và tỷ lệ thất nghiệp cũng cao hơn. Tại Đức, tỷ lệ thất nghiệp là 10,3% và cao hàng đầu.
Bài học từ châu Âu là: các xã hội không thể “cấm tồn tại” sự bấp bênh về công ăn việc làm, mà chỉ có thể vô tình cấm cản luôn cả việc tạo ra việc làm. Tạp chí Times đã bỏ qua kinh nghiệm của châu Âu và các thử nghiệm gần đây của chính chúng ta đối với sự ổn định kinh tế, cứ như là chúng không liên quan gì. Chế độ của chúng ta là không hoàn hảo, nhưng chúng ta không nên khinh thường nó trừ khi biết làm thế nào để cải thiện nó. Mà chúng ta thì không biết.
Newsweek
Ngày 25 tháng 3 năm 1996
CHÚA CÓ MẶT TRONG TỪNG CHI TIẾT NHỎ
Chúng ta đôi khi cần một lý thuyết nhỏ để đơn giản hóa các vấn đề phức tạp rộng lớn của cuộc sống. Trên tinh thần đó, tôi “đặt tên thánh” cho bài này là “Thiên Chúa trong những điều nhỏ bé”, theo cuốn tiểu thuyết The God of Small Things của nhà văn Ấn Độ Arundhati Roy. Tôi làm thế vì tiêu đề này nghe hấp dẫn hơn so với chủ đề thực của tôi - chiến thắng của “kinh tế vi mô”. Ý tưởng ở đây là nhằm giải thích sự tương phản hoàn toàn trong các hoạt động kinh tế trên thế giới: mọi thứ từ sự bùng nổ vượt bậc của Hoa Kỳ đến nạn thất nghiệp cao của châu Âu và sự đình trệ của Nhật Bản. Bạn cũng có thể thêm vào một số chủ đề “nóng” khác, chẳng hạn như các cuộc tranh luận về Microsoft. Tất cả các kết nối giữa chúng đều tồn tại qua kinh tế vi mô.
“Kinh tế vi mô” là một cụm từ dài; giống như người anh em của nó là “kinh tế vĩ mô”. Nhưng những khái niệm này rất đơn giản. Kinh tế vi mô là việc nghiên cứu từng thị trường đơn lẻ; nó khám phá xem người tiêu dùng, người lao động, và các công ty hành xử như thế nào trong các tình huống cụ thể. Ngược lại, kinh tế vĩ mô nghiên cứu toàn bộ nền kinh tế; khảo sát sự gia tăng (hoặc giảm xuống) trong sản xuất, việc làm, và giá cả. Khi tôi có kiến thức căn bản về kinh tế học từ trường đại học trong những năm 1960, kinh tế vĩ mô lúc đó đã là “mốt” rất thịnh hành. Nó đã cam kết rằng bằng cách thay đổi các loại thuế, chi tiêu, và lãi suất, chính phủ có thể giữ cho nền kinh tế ở mức hoặc gần với tình trạng “có đầy đủ việc làm”. Đó là một bức tranh lớn; rất lộng lẫy. Kinh tế vi mô đã là một bức tranh nhỏ và tẻ nhạt. Ai lại đi quan tâm tìm hiểu về cách thức vận hành trong ngành thép?
Những gì chúng ta đã học được sau đó là: bức tranh nhỏ cũng là bức tranh lớn. Kinh tế vi mô xử lý các động lực. Nếu người dân và các công ty nhìn thấy các động lực để làm điều ngớ ngẩn (hoặc khôn ngoan), họ sẽ làm chuyện ngớ ngẩn (hoặc khôn ngoan). Nếu nhiều người cùng nhìn thấy các động lực tương tự, họ sẽ cùng làm những điều ngớ ngẩn hoặc khôn ngoan giống nhau. Và sau đó thì tập hợp những gì mà mọi người cùng làm đã hình thành nên cách thức mà toàn bộ nền kinh tế vận hành. Tỷ lệ thất nghiệp cao của châu Âu (10%) không là điều khó hiểu. Phúc lợi hào phóng từ chính phủ là phần thưởng dành cho những người thất nghiệp và giúp họ cứ ngồi không. Mức thuế cao áp vào thu nhập từ tiền lương và mức lương tối thiểu làm nản lòng các công ty trong việc tuyển dụng, khi chi phí lao động tăng thêm. Các tập đoàn (cartel) và các quy định đã ngăn chặn các doanh nghiệp mới thành lập và hạn chế số lượng công việc được tạo ra từ đó.
“Châu Âu hồi phục”, tờ The Wall Street Journal tuần trước đã nhận định như vậy. Vâng, nhưng chỉ một chút thôi. Thất nghiệp đang giảm xuống từ từ. Tuy nhiên, cũng theo tờ báo này thì sự cải thiện tập trung nhiều tại các nước đã dỡ bỏ các hạn chế. Hai nước Đức (tỷ lệ thất nghiệp 10%) và Pháp (12%) vẫn tụt lại phía sau. Ý tưởng mới nhất của Pháp để giải quyết vấn nạn thất nghiệp của họ là giảm số giờ làm việc trong tuần từ 39 xuống còn 35. Nếu chỉ cắt giảm giờ làm việc và không trả tiền, chi phí lao động sẽ tăng thêm. Điều này rốt cục cũng sẽ không tạo ra thêm công ăn việc làm.
Một vấn đề thực tế là nền kinh tế vĩ mô tốt đẹp - ngân sách và các chính sách lãi suất - cũng không dễ dàng bù đắp được cho một nền kinh tế vi mô tệ hại. Nếu chúng bù trừ được cho nhau thì tỷ lệ thất nghiệp của châu Âu sẽ chỉ là 5%. Nhật Bản cũng có bài học này. Sự đình trệ của họ phát xuất từ các yếu tố từng được coi là sức mạnh: tiết kiệm cao và tiêu thụ thấp. (Nhật Bản tiết kiệm khoảng 30% mức thu nhập quốc dân, gấp đôi tỷ lệ tại Hoa Kỳ). Điều gây rắc rối là Nhật Bản gần đây đã không sử dụng hiệu quả khoản tiết kiệm rất lớn của họ. Theo báo cáo của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (The Organisation for Economic Cooperation and Development), trong năm 1996 tỷ lệ thu hồi trên vốn đầu tư là 13% ở Nhật Bản và 28% tại Hoa Kỳ. Tại Nhật Bản, các ngân hàng cho doanh nghiệp vay tiền, và cả hai cùng tồn tại trong một liên minh nồng ấm, bao gồm cả việc nắm giữ cổ phiếu của nhau (cross-holding of stock), điều này ngăn cản các bên không thể gây khó khăn cho nhau.
Nhà kinh tế học Edward Lincoln của Học viện Brookings viết: “Các ngân hàng... đã phát triển mối quan hệ cá nhân rất tinh vi, được “bôi trơn” sau nhiều năm khoản đãi”. Một xã hội không thể đầu tư hiệu quả và khống chế tiêu dùng (thông qua giá cả gia tăng từ các tập đoàn và quy định của chính phủ) đã dẫn dắt đến tình trạng trì trệ. Một lần nữa, các chính sách kinh tế vĩ mô không thể dễ dàng bù đắp được tổn thất này. Thâm hụt ngân sách của Nhật Bản hiện đang ở mức lớn; lãi suất chỉ vừa nhỉnh hơn mức zero một chút. Tuần trước, chính phủ đã công bố một khoản cắt giảm thuế tương đương 30 tỷ dollar để thúc đẩy nền kinh tế. Người ta vẫn còn nhiều hoài nghi về việc chính phủ sẽ làm tốt điều này như thế nào.
Bài học ở đây là một động lực nhỏ (cho cái tốt hay điều xấu) cũng dẫn đến hậu quả lớn. Một trong những sai lầm phổ biến trong tư duy về vấn đề này là đánh đồng chủ nghĩa tư bản - quyền sở hữu tư nhân trong kinh doanh - với “thị trường tự do”. Chỉ một vài xã hội tiến bộ mới có chủ nghĩa tư bản thuần túy hoặc thị trường hoàn toàn tự do. Thuế và các quy định kìm chế các doanh nghiệp. Văn hóa địa phương cũng can thiệp vào. Như ở Nhật Bản và Châu Âu, sở hữu tư nhân có thể cùng tồn tại với những thị trường đang vận hành không hợp lý.
Bí quyết của nền kinh tế Mỹ là: mặc dù có nhiều khiếm khuyết, tập hợp các động lực của nó vẫn vận hành trên tinh thần xây dựng. Các công ty đối mặt với áp lực cạnh tranh để cải thiện sản phẩm và lợi nhuận; mọi người thường làm tốt hơn thông qua công việc chứ không phải ngồi không; sự thôi thúc “làm cho được” đã thúc đẩy sáng tạo. Tuy nhiên, một số vấn đề nhức nhối của xã hội vẫn liên quan đến kinh tế vi mô. Hãy xem xét dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Người Mỹ muốn kiểm soát được chi phí; họ cũng nghĩ rằng họ cần phải nhận được sự chăm sóc mà họ cần. Tiền thuốc men tính theo phí dịch vụ, được chi trả từ bảo hiểm tư nhân hay bảo hiểm nhà nước, làm bùng nổ chi phí; các bác sĩ và bệnh viện không có động lực để hạn chế chi tiêu. Nhưng dường như chăm sóc sức khỏe được quản lý (managed care) đã tạo ra các động lực để kiềm chế chi phí khi từ chối chăm sóc. Theo cách nào đó thì chúng ta cũng cần tìm ra động lực để hài hòa giữa nhu cầu về thuốc men theo chỉ định của bác sĩ và nhu cầu kinh tế. Điều này có lẽ là không thể.
Cuộc tranh luận về Microsoft cũng là về vấn đề kinh tế vi mô: đâu là cách tốt nhất để thúc đẩy sự cải tiến? Microsoft tin rằng phần mềm Windows đã chiến thắng bởi vì người dùng máy tính thích một tiêu chuẩn chung. Hãng này nói rằng nếu các hành động chống độc quyền chính phủ cản trở họ trong việc gia tăng thêm các tính năng mới cho Windows, người tiêu dùng sẽ phải chịu thiệt thòi. Chính phủ sẽ dập tắt các động lực khuyến khích cải tiến. Những người phê phán Microsoft lại tuyên bố điều ngược lại: sự thống trị của Windows đang bóp nghẹt cạnh tranh. Việc đánh bại Microsoft là khó hơn bao giờ hết, ngay cả với các phần mềm ứng dụng cao cấp (bởi vì Microsoft có thể gắn kết các chương trình của họ với Windows hoặc bán với giá rẻ). Vậy nên các công ty khác không cần cố gắng làm gì. Bên nào đúng?
Vấn đề hay đấy. Dưới những góc độ nhất định, câu chuyện kinh tế trong ba thập kỷ qua là sự thừa nhận rằng các vấn đề dạng này là quan trọng. Nét quyến rũ của kinh tế vĩ mô nằm trong ảo tưởng cho rằng nó có thể làm cho toàn bộ hệ thống vận hành trơn tru mà gần như bất chấp các bộ phận cơ bản của nền kinh tế hoạt động như thế nào. Điều này đã gắn liền với sự thất vọng. Việc này giống như một chiếc xe hơi có thể chạy ở tốc độ cao ngay cả khi động cơ bị ăn mòn và thiếu một số bộ phận. Những gì chúng ta biết hiện nay là những thứ chúng ta lẽ ra phải biết từ đầu: Chúa có mặt trong những chi tiết nhỏ.
Newsweek
Ngày 20 tháng 4 năm 1998
THỜI ĐẠI CỦA FRIEDMAN
Chỉ cách đây 10 hoặc 15 năm, Milton Friedman mới được đánh giá đúng như vị thế hiện nay của ông: nhà kinh tế học đang sống trong hiện tại và có ảnh hưởng lớn nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ II. Từ nhiều thập kỷ trước đó, Friedman - nay 85 tuổi và đã nghỉ hưu từ lâu từ trường đại học Chicago - đã từng bị coi như là một nhân vật khác thường và bị gạt ra rìa. Ông đã ca ngợi “tự do”, tán dương “thị trường tự do”, và tấn công chính phủ lớn (cồng kềnh). Ông là một người phản đối vui vẻ, trong một thời đại khi chính phủ dường như cũng chính là các giải pháp cho hầu hết các vấn đề xã hội. Tự tin vào quan điểm của mình, Friedman tranh luận gần như với bất kỳ ai, ở bất cứ đâu, nhưng ông đã thường xuyên bị bác bỏ như một người đi lùi.
Giờ thì không còn những chuyện này nữa. Các ảnh hưởng của Friedman là rất lớn đến mức ông chẳng thua kém gì John Maynard Keynes (1883 - 1946) và là một nhà kinh tế học quan trọng nhất của thế kỷ. Ông gần như đơn thương độc mã làm hồi sinh “lý thuyết số lượng tiền tệ”: ý tưởng cho rằng lạm phát bắt nguồn từ việc “quá nhiều tiền theo đuổi quá ít lượng hàng hoá”. Khi chính phủ chấp nhận lý thuyết này, họ có thể kiểm soát được lạm phát bằng cách làm cho tốc độ tăng tiền chậm lại. Ở nước ngoài, Friedman đã phát triển nền kinh tế thị trường từ Chile đến Trung Quốc. Tại đất nước của mình, các ý tưởng của ông hiện đang lan tỏa trong những cuộc tranh luận của công chúng. Ngay từ những năm 1950, ông đã ủng hộ thuế thu nhập với thuế suất đồng nhất cho mọi đối tượng nộp thuế bất chấp mức thu nhập và loại hình thu nhập (flat tax), phiếu thanh toán học phí (school voucher: phiếu do chính phủ phát hành để phụ huynh có thể thanh toán học phí tại bất cứ trường nào tùy họ chọn, chứ không chỉ giới hạn tại trường công lập mà học sinh phải đến theo chỉ định - ND), và “hủy bỏ thuế thu nhập” cho người nghèo (thể hiện qua loại hình nợ thuế thu thu nhập hiện nay).
Bây giờ chúng ta đã có câu chuyện của Friedman về hành trình từ một người bị lãng quên trở thành nhà tiên tri, trong cuốn tự truyện viết chung với người vợ sau gần 60 năm, bà Rose, có tựa đề Hai người may mắn (Nhà xuất bản Đại học Chicago, 1998). Đó là một câu chuyện đáng chú ý vì sức bền bỉ tuyệt vời.
Sự phản đối dành cho ông từng là rất cao, một phần vì ông không bao giờ che dấu sự bác bỏ của mình đối với Keynes, người đã thôi miên hầu hết các nhà kinh tế thời đó. Trong khi Keynes nhận thấy nền kinh tế tư nhân là rất bất ổn và do đó cần có sự chỉ dẫn của chính phủ,
Friedman lại nghĩ rằng sự can thiệp của chính phủ thường làm sâu sắc hơn các khủng hoảng kinh tế. Nếu như Keynes nâng cốc chúc mừng các trí thức và chế giễu các nhà tư bản - chẳng hạn ông này so sánh thị trường chứng khoán với sòng bạc - thì Friedman lại thấy sự sáng tạo cá nhân là nguồn gốc của tiến bộ xã hội. Sự xem thường đối với chủ nghĩa tư bản của nhiều trí thức khiến ông có ấn tượng cho rằng đây là sự buông thả: lối “được cá quên nơm”.
Giống như nhiều nhà kinh tế học sau chiến tranh, Friedman đã xem kinh tế học như một ngành khoa học - giống như vật lý - trong đó các chân lý căn bản có thể được chứng minh với các chứng cứ. Khi điều đó xảy ra, rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học của ông đã phá hỏng danh tiếng của kinh tế học Keynes. Năm 1957, ông công bố Một Lý thuyết về Chức năng Tiêu dùng, theo đó bác bỏ phần trọng tâm của chủ thuyết Keynes: mọi người chi tiêu ít hơn thu nhập của họ - và tiết kiệm nhiều hơn - khi xã hội phát triển thịnh vượng hơn. Điều này có lẽ đã xảy ra, vì các mong muốn của người dân đã được thỏa mãn. Nếu chủ thuyết này là đúng, nó sẽ biện minh cho sự chi tiêu cao hơn của chính phủ để bù đắp chi tiêu yếu kém trong khối tư nhân. Nhưng bằng cách phân tích các mô hình tiêu dùng trong lịch sử, Friedman cho thấy nó không đúng. Con người luôn luôn muốn phát triển các nhu cầu mới.
Quan trọng hơn là giải thích của ông về cuộc Đại khủng hoảng. Trong những năm 1930, Keynes đã cho rằng các nền kinh tế tư nhân có thể rơi vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc mà từ đó nó không thể tự động phục hồi. Năm 1963, Friedman và Anna Schwartz xuất bản cuốn Lịch sử Tiền tệ của Hoa Kỳ, cho rằng, ngược lại là khác, sự suy thoái là kết quả từ các sai lầm của chính phủ. Từ năm 1929 đến 1933, khoảng 10.000 ngân hàng đã sụp đổ, dẫn đến tình trạng một phần ba nguồn cung tiền bị phá vỡ và phá sản lan tràn. Friedman và Schwartz cũng lưu ý rằng Quốc hội đã lập nên Cục Dự trữ Liên bang (Fed) năm 1913 để ngăn chặn cơn hoảng loạn của ngành ngân hàng. Nếu Fed đã thực hiện được công việc của mình, cuộc Đại suy thoái có thể đã chỉ là một cuộc khủng hoảng kinh doanh bình thường.
Sau cùng, vào năm 1968, Friedman (cùng lúc với nhà kinh tế học Edmund Phelps của Columbia) hình thành trong đầu ý tưởng về “tỷ lệ tự nhiên của nạn thất nghiệp”. Cho đến lúc đó, tín điều của chủ thuyết Keynes vẫn cho rằng bớt một chút thất nghiệp thấp sẽ làm tăng một chút lạm phát và hai vấn đề này có thể cùng tồn tại trong một mối quan hệ ổn định, chẳng hạn, 4% thất nghiệp với 4% lạm phát. Điều này ngụ ý rằng chính phủ có thể chọn lựa sự pha trộn hấp dẫn nhất giữa thất nghiệp và lạm phát. Friedman nói không phải vậy. Nếu chính phủ cố gắng đẩy tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức “tự nhiên” của nó, lạm phát sẽ tăng cao hơn bao giờ hết. Điều này về căn bản là mô tả việc theo đuổi tình trạng “có đầy đủ việc làm” trong thập niên 1960 và 1970: lạm phát đi từ 1% trong năm 1960 lên đến 13% vào năm 1979.
Tầm ảnh hưởng của Friedman cũng phản ánh sự thành công của ông khi đã là người được công chúng yêu mến. Năm 1962, ông xuất bản cuốn Chủ nghĩa tư bản và Tự do, trong đó trình bày các quan điểm mới lạ của mình. Năm 1966, ông được mời (cùng với hai nhà kinh tế học nổi bật khác) để viết bài cho chuyên mục trên tờ Newsweek, ông đã làm công việc này cho đến năm 1984. Năm 1980, ông đã dẫn dắt một series truyền hình công cộng gồm 10 phần với tựa đề Tự do lựa chọn và đã viết một cuốn sách (với Rose, cũng là một nhà kinh tế học) với cùng tựa đề này. Các sản phẩm này của ông, trong số những thứ khác, lên án khoản phúc lợi bị lệ thuộc và nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
Mặc dù ủng hộ giới trí thức, nhưng Friedman vẫn hoài nghi rằng trí thức có thể khởi xướng các thay đổi mang tính chính trị. Nguyên trạng “chuyên chế” là quá mạnh. “Chỉ có một cuộc khủng hoảng -khủng hoảng thực sự hay được nhận thức là khủng hoảng - mới tạo nên thay đổi thực sự”, ông đã từng viết như vậy. Sau đó thì “những hành động được thực thi phụ thuộc vào những ý tưởng rằng đang tồn tại xung quanh đó”. Vì thế, ông đã gieo rắc về “những thay thế đối với các chính sách hiện hành”. Cuộc khủng hoảng cũng làm thay đổi hình ảnh của ông. Khi lạm phát tăng, ông trở nên đáng kính trọng hơn. Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản đã giải oan cho quan điểm gay gắt của ông về kinh tế kế hoạch hóa tập trung.
Cuốn sách Hai người may mắn có ghi chép lại câu chuyện này, nhưng là tự truyện nên nó gây thất vọng - lan man dông dài và thiếu phân tích nội tâm. Sách không bao giờ đặt ra câu hỏi trọng tâm: Làm thế nào mà Friedman đã trở thành Friedman?
Dám đánh cá với mọi tỷ lệ rằng ông thuộc nhóm chính trị cánh Tả. Sinh ra trong một gia đình Do Thái gốc Nga nhập cư nghèo khổ, Friedman lớn lên ở Rahway, New Jersey. Cả gia đình sống nhờ một cửa hàng quần áo của người mẹ, trong khi cha ông làm việc ở Manhattan. Ông còn nhớ là cha mẹ thường xuyên cãi nhau vì chuyện tiền bạc. Các tổ chức công cộng đã đối xử tốt với ông. Thư viện địa phương đã khiến ông trở thành một độc giả “tham lam”; một thầy giáo ở trường trung học không ngớt lời khen tặng; ông đã theo học Đại học Rutgers với một học bổng cộng đồng. Ông tốt nghiệp năm 1932 khi cuộc Đại suy thoái đang lún sâu, lúc đó áp lực chính trị đã đẩy sinh viên vào cánh Tả.
Cuốn Hai người may mắn hiếm khi giải thích được, trong bầu không khí này, Friedman đã nổi lên như thế nào vào đầu những năm 1940 với một viễn cảnh đưa ra khi đó là khá lạc lõng với thời đại. Trong một cuộc đối thoại, ông nói rằng sau khi rời trường Rutgers, “tôi đã là người nhẹ nhàng ủng hộ chủ nghĩa xã hội” - giống như hàng triệu người trẻ khác. Ông đã giải thích sự thay đổi của mình là từ việc nghiên cứu sau đại học diễn ra tại Đại học Chicago, nơi đó một nhóm các nhà kinh tế học nòng cốt đã không chấp nhận quan niệm phổ biến và xem Đại suy thoái là cuộc khủng hoảng không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản. Thời gian phục vụ chính phủ của ông trong Thế chiến II - làm việc về các chính sách thuế và một loạt các vấn đề liên quan đến vũ khí - cũng có thể đóng góp một phần cho sự thay đổi. Ông cảm thấy sự hồi hộp của Washington và cũng tận mắt chứng kiến “các mánh khóe, sự gian lận, và tính vụ lợi” của chính trị.
Một số người viết tiểu sử có thể làm sáng tỏ điều này và những vấn đề hóc búa khác nữa. Sự hoài nghi chính phủ của Friedman không bao giờ hoàn toàn là sự thù nghịch. Ông đã luôn luôn xem xét một cách nhất quán vai trò của chính phủ trong mọi vấn đề, từ việc giảm đói nghèo đến thúc đẩy giáo dục. Nhưng ông đã có các chính sách thuận lợi để kiểm tra quyền lực của chính phủ và nhấn mạnh trách nhiệm của cá nhân. Mặc dù được gọi là “bảo thủ”, Friedman xem thường cái nhãn này và tự thấy mình là một người theo chủ nghĩa tự do hay “cấp tiến” - một người đề cao tự do và sẽ thực thi các thay đổi chính trị mạnh mẽ để củng cố sự tự do đó. Ngược lại, một người bảo thủ thật sự chỉ miễn cưỡng thay đổi trật tự xã hội hiện hữu. Tham vọng của Friedman không bao giờ khiêm tốn như vậy cả.
Newsweek
Ngày 15 Tháng 6 năm 1998
NHỮNG BÓNG ĐEN CỦA THẬP NIÊN 1920?
Chúng ta biết rằng sự bùng nổ kinh tế hiện nay sẽ chấm dứt vào một ngày nào đó, bởi vì tất cả các cuộc bùng nổ đều như vậy. Tuy vậy niềm tin vào sự bất tử của nó có vẻ như đang lớn lên từng ngày. Bạn có thể thấy điều đó ở thị trường chứng khoán, qua các chỉ số về niềm tin, và các thị trường lao động nhộn nhịp. Đã bao giờ có tình huống tương tự như thế này chưa nhỉ? Ồ, phải chăng đó là thời điểm của những năm 1920?
Câu trả lời này có vẻ mang tính phản xã hội. Nó làm người ta liên tưởng đến bóng ma của một cuộc Đại Suy thoái khác (tỷ lệ thất nghiệp trung bình là 18% trong thập niên 1930). Tất nhiên, không ai cần suy thoái, nhưng xem xét lại quá khứ cũng đem lại những thông tin hữu ích. Nó dạy cho chúng ta ít nhất hai bài học quan trọng: người ta thường bị cuốn theo; và nền kinh tế ngày nay có thể có một số điểm yếu mà ít người nhận thấy.
Có rất nhiều nét tương đồng giữa những năm 1920 và thập niên 1990. Hồi đó cũng giống như bây giờ, thị trường chứng khoán đều tăng vọt. Công nghệ mới cũng làm mọi người hoa mắt: máy tính cá nhân và mạng Internet ngày nay, còn trước kia đó là radio và xe hơi sản xuất hàng loạt. Từ năm 1919 đến năm 1930, số lượng radio đi từ gần như zero lên đến 14 triệu sản phẩm; số lượng xe hơi đăng ký tăng gấp ba lần và đạt 23 triệu lượt. Hồi đó cũng giống như bây giờ, người ta đều cho rằng các nền kinh tế sẽ luôn luôn thay đổi để tốt hơn, mãi mãi là như vậy. Người ta từng cho rằng thập niên 1920 là điềm báo trước cho “một kỷ nguyên mới”; các nhà quản lý doanh nghiệp được khai sáng đã đồng nghĩa với một chủ nghĩa tư bản nhân văn hơn. Cụm từ đang được sử dụng trong những năm 1990 là “mô hình mới”, có nghĩa là các nguồn lực thuận lợi (máy tính, sự cạnh tranh với ngoài nước, việc bãi bỏ các quy định) đã làm cho nền kinh tế có sức cạnh tranh hơn, năng suất cao hơn, và ổn định hơn.
Hiện nay, người ta cho rằng nền kinh tế đã không có “sự thái quá”, điều thường gây ra sự suy thoái. Lạm phát thấp; không có quá nhiều sự đầu tư dư thừa rõ nét (ví dụ, vào các cao ốc văn phòng). Nhưng thị trường chứng khoán đã bị bỏ sót, nơi này có thể có “sự thái quá”. Nó có thể kích thích nền kinh tế với việc củng cố niềm tin và mức chi tiêu của người tiêu dùng. Có vẻ như giá cổ phiếu cao hơn sẽ khuyến khích mọi người chi tiêu nhiều hơn từ thu nhập của họ. Họ cảm thấy khá giả hơn. Hoặc họ thu về tiền mặt - và chi tiêu - với một số khoản lợi nhuận từ thị trường chứng khoán. Các chi tiêu nhiều hơn giúp duy trì việc mở rộng thị trường.
Hãy cùng tìm hiểu vấn đề này. Khi thị trường chứng khoán tăng trưởng, tỷ lệ tiết kiệm cá nhân giảm xuống. Năm 1992, tỷ lệ tiết kiệm là 6,2% mức thu nhập khả dụng; đến năm 1997, tỷ lệ này đã chỉ còn là 3,8%, mức thấp nhất, tối thiểu là tính từ năm 1946. Và tại sao người tiêu dùng không nên hãnh diện vì điều này? Sự tăng trưởng của thị trường hiện nay là có thể so sánh được với cái đà của những năm 1920 như một sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử. Công ty nghiên cứu Ned Davis xác định thị trường chứng khoán giá tăng (bull market) từ ngày 11 tháng 10 năm 1990, khi chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones đạt 2.365,10 điểm. Kể từ đó, nó đã tăng lên 288% (ngày 17 Tháng 4 đã gần đến mức 9.167,50). Trong thập niên 1920, giá cổ phiếu cũng đã tăng 345%, trong khoảng từ tháng 10 năm 1923 đến tháng 9 năm 1929.
Xem xét dưới một góc độ khác, giá cổ phiếu gần như đã tăng gấp 4 lần kể từ năm 1990. Ngày 11 tháng 10 năm 1990, giá chứng khoán cuối ngày của Ford là khoảng gần 10 dollar; hiện giờ mức giá này là khoảng gần 50 dollar. Cũng trong thời gian này, giá cổ phiếu Intel đã tăng từ mức không quá 4 dollar lên khoảng 75 dollar. (Giá cả phản ánh cổ phiếu chia tách (stock split)). Điều này có nghĩa là sự bùng phát trong “gia tài” cổ phiếu của các cá nhân. Cuối năm 1990, giá trị của cổ phiếu thuộc sở hữu của các hộ gia đình là 3,1 nghìn tỷ dollar, đến năm 1997, con số này là 11,4 nghìn tỷ. (Các giá trị này bao gồm các cổ phiếu thuộc sở hữu trực tiếp và cà phê thông qua các quỹ tương hỗ (mutual fund), các tài khoản hưu trí, và tiền trợ cấp).
Nhưng hãy giả định thị trường bùng phát này (theo nhận định của tạp chí Economist tuần trước) là một “bong bóng” đầu cơ. Giả sử rằng các nhà đầu tư chỉ đơn giản là theo đuổi mức giá cao hơn. Hoặc giả định rằng có một điều gì đó - như khủng hoảng kinh tế châu Á chẳng hạn? - bất ngờ phá hỏng khoản lợi nhuận? Điều gì sẽ xảy ra sau đó? Có lẽ là: giá cổ phiếu sau cùng sẽ rớt; niềm tin - từng được củng cố khi giá tăng - sẽ sút giảm theo giá cổ phiếu; chi tiêu của người tiêu dùng yếu đi hoặc có thể suy sụp. Chi cho tiêu dùng chiếm khoảng 68% sản lượng của nền kinh tế. Nếu nó suy yếu đi, đầu tư cho khối doanh nghiệp có thể là quá mức cần thiết, có thể phải cắt giảm. Vấn đề ở đây là thị trường chứng khoán không đơn thuần chỉ là “phong vũ biểu” chỉ báo hiệu quả hoạt động của nền kinh tế. Thị trường này cũng xác định cách thức mà nền kinh tế vận hành thông qua tâm lý đám đông và chi tiêu của người tiêu dùng.
Mặc dù các kết nối giữa thị trường chứng khoán và nền kinh tế là không chắc chắn, chúng đã phát triển trong những năm 1990 - cũng giống như hồi thập niên 1920 - khi sự dồi dào về chứng khoán đã tăng nhanh và quyền sở hữu đã lan rộng. Chứng khoán lan tỏa từ thành trì dành riêng cho những người giàu có trước kia, xuống đến các tầng lớp cao thuộc nhóm trung lưu. Trong số những gia đình có thu nhập từ 10.000 đến 25.000 dollar, quyền sở hữu cổ phiếu tăng từ 13% lên đến 25% trong khoảng thời gian từ năm 1989 đến 1995, theo báo cáo của Cục Dự trữ Liên bang. Đối với những gia đình có thu nhập từ 25.000 đến 50.000 dollar, tỷ lệ này tăng từ 33% lên 48%. Và hiệu ứng của sự giàu có là rất lớn. Năm 1990, sự giàu có xét về bất động sản của các hộ gia đình (chủ yếu là nhà ở) đạt tổng cộng 6,6 nghìn tỷ dollar, cao hơn 2 lần giá trị cổ phiếu họ sở hữu. Năm 1997, giá trị cổ phiếu sở hữu đã cao hơn khoảng 30% so với mức 8,7 nghìn tỷ trong bất động sản.
Trong cuối thập niên 1920, những cảnh báo rằng thị trường đã bị thổi phồng giá trị thực quá mức (overvalued) cũng không hạ nhiệt được cơn say. Một lý do là mãi cho đến đầu năm 1928, sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán vẫn cho thấy mức lợi nhuận và cổ tức cao hơn. Còn hầu hết các cơn sóng của thập niên 1990 là dựa trên các nền tảng kinh tế vững chắc. Lạm phát và lãi suất giảm; điều này làm cho cổ phiếu có giá trị cao hơn, vì khoản lãi suất từ đầu tư (trái phiếu, tiền gửi ngân hàng) đã trở nên ít hấp dẫn hơn. Và mức lợi nhuận đã tăng gấp đôi kể từ năm 1990, càng thúc đẩy chứng khoán phát triển.
Nhưng thị trường chứng khoán đã dịch chuyển vượt qua mức lợi nhuận hiện nay. Chỉ số P/E - price/earning ratio: giá trung bình của một cổ phiếu chia cho thu nhập trung bình của nó - bây giờ đã đạt đến đỉnh cao trong lịch sử là 28. Kể từ Thế Chiến thứ II, các chỉ số P/E trung bình là khoảng 14. Có thể là ngày nay sự đảm bảo là cao hơn nhiều. Nhưng chỉ số lên đến 28 kia ư?
Nào ai biết? Có lẽ mức giá cao hơn cuối cùng sẽ được chứng minh bởi các điều kiện kinh tế (lãi suất thấp hơn, lợi nhuận cao hơn). Ngay cả khi giá cổ phiếu hiện nay giảm xuống 15 hay 20%, các nhà đầu tư và người tiêu dùng vẫn có thể bình thản trước sự suy giảm. Sau tất cả mọi thứ đã diễn ra, giá cổ phiếu vẫn ở mức như hồi đầu năm 1997 và cao hơn hai lần so với mức hồi đầu năm 1991. Và những năm 1990 không phải là những năm của thập niên 1920. Mặc dù sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 (chỉ số Dow Jones giảm xuống 48% trong khoảng từ tháng Chín đến giữa tháng Mười Một) đã đánh dấu sự bắt đầu của một cuộc suy thoái sâu sắc, nhưng bản thân điều đó đã không gây ra khủng hoảng. Đại Suy thoái đã xảy ra vì Cục Dự trữ Liên bang đã không làm công việc của mình: nó để cho 11.000 ngân hàng phá sản tính tới năm 1933; và lượng cung tiền tệ giảm mất một phần ba. Đó là những sự kiện có thể ngăn chặn được, và có lẽ bây giờ là hoàn toàn được ngăn chặn.
Thật nguy hiểm nếu như thổi phồng quá mức các nét tương đồng mang tính lịch sử. Chúng ta không thể dự đoán được tương lai chỉ bằng cách xét lại quá khứ. Vì vậy, thập niên 1920 không thể cho chúng ta biết rằng sự bùng nổ ngày nay sẽ chấm dứt vào cuối tuần sau, vào tháng tới, hoặc thậm chí là sang năm. Nó cũng sẽ không cho chúng ta biết sự kết thúc đó sẽ diễn ra trong không khí ồn ào hoặc yên lặng. Nhưng lịch sử là rất hấp dẫn và để lại một vấn đề nghiêm túc. Nền kinh tế chắc chắn đã thay đổi kể từ những năm 1929, nhưng bản chất của con người thì sao?
Bưu điện Washington
Ngày 22 Tháng 4 năm 1998
TINH THẦN CỦA ADAM SMITH
Nên hiểu rằng Adam Smith (1723 - 1790) là người của thời đại chúng ta. Điều này có nguyên nhân không chỉ là vì ông đã biện hộ cho thị trường tự do, mà vì vấn đề ông quan tâm còn nhiều hơn cả các thị trường tự do. Smith chú trọng đến việc xây dựng được một xã hội tốt đẹp. Các thị trường tự do chỉ là một phương tiện để đi đến cái đích đó. Chính phủ là một phương tiện khác, và Smith liên tục khảo sát các vai trò thích hợp dành cho chính phủ và thị trường. Smith có thừa sự khôn ngoan, và thiếu cái tính tự cho mình là đúng. Ngày nay chúng ta có thể vận dụng tinh thần của ông, bởi vì dường như chúng ta đang có sự kết hợp ngược lại: dư thừa tính luôn cho mình là đúng và thiếu khôn ngoan.
Những người theo chủ nghĩa tự do ra sức bảo vệ chính phủ và họ không thể thừa nhận quyền lực to lớn của “bàn tay vô hình” theo lý thuyết của Smith. Tính tư lợi (self-interest) không chỉ đơn giản là sự tham lam, ích kỷ, hay ngạo mạn quá đáng. Nếu được hạn chế một cách đúng đắn, nó sẽ là một nguồn lực to lớn làm cho xã hội tốt đẹp, và nhiều sự tiến bộ của nhân loại phát xuất từ các nỗ lực độc lập và năng lực sáng tạo của cá nhân và các doanh nghiệp. Những người tự do ngần ngại với khái niệm này bởi vì nó tước đi quyền lực, địa vị xã hội, tâm lý hài lòng của họ khi dường như tạo ra tất cả các vật trang trí cho một xã hội tốt đẹp (thông qua các chính phủ).
Trong khi đó, những người bảo thủ lại rất xem thường chính phủ đến mức họ không thể thừa nhận rằng chính phủ thường không chỉ là một thứ xấu xa tất yếu. Nó tạo ra khuôn khổ pháp lý và chính trị mà không có chúng thì các thị trường tương đối tự do sẽ không thể tồn tại được. Chính phủ cũng cung cấp các dịch vụ công cộng - từ quốc phòng đến xây dựng đường sá - thứ mà thị trường tư nhân không thể làm, và xử lý các vấn đề “thái quá” không mong muốn của thị trường. Smith đã nhận ra rằng chính quyền có tạo ra những lợi ích này, nhưng nhiều người bảo thủ từng viện dẫn đến ông có vẻ như đã quên mất sự tồn tại hay tầm quan trọng của các vấn đề trên.
Tôi không nói rằng mình đã đọc cuốn Sự thịnh vượng của các Quốc gia (The Wealth of Nations, xuất bản năm 1776) của Adam Smith từ đầu đến cuối. Tuy nhiên, bất cứ ai hoài nghi tính phức tạp trong tư duy của ông cũng nên nghiên cứu cuốn tiểu sử tuy ngắn nhưng mang chất trí tuệ tuyệt vời, của tác giả là nhà sử học Jerry Muller từ Trường Đại học Công Giáo (cuốn Adam Smith trong thời đại của ông và thời đại của chúng ta, đại học Princeton phát hành). Trong đó, tác giả phá vỡ định kiến dành cho Smith mà theo quan niệm phổ biến trước kia vẫn cho rằng ông này là một người phản đối chính phủ một cách quá khích (antigovernment zealot). Lập luận này được xây dựng từ một thực tế: Smith đã phục vụ nhiều năm với vai trò là một công chức, ủy viên phụ trách công tác hải quan của Scotland. Ông thu thuế nhập khẩu, khi đó là nguồn thu lớn nhất của chính phủ. Công việc của ông cũng tương tự như việc của người đứng đầu Sở Thuế Vụ (IRS) ngày nay.
Các lý thuyết của Smith đã giải thích những thay đổi đã xảy ra. Vào thế kỷ XVIII - chế độ phong kiến của nước Anh đã sụp đổ. Sản xuất từ trang trại phát triển, và mức sống cũng tăng cao hơn. Ở Anh, người dân khi đó đã cảm thấy xấu hổ khi đi lại mà không có giày; trong khi tại Pháp, đi chân không vẫn còn là chuyện bình thường. Chăn mền, vải lanh, và đồ dùng bằng kim loại đã trở nên phổ biến ở Anh. Smith cho rằng sự thịnh vượng mới này chính là chiến thắng của thị trường: việc mua và bán hàng hóa. Trước kia, thực phẩm đã được tiêu thụ phần lớn là bởi chính những người sản xuất ra nó, hoặc các lãnh chúa phong kiến của họ. Sản xuất cũng đã dịch chuyển. Muller viết “các hàng hóa từng được cặm cụi chế tạo ở nhà, như quần áo, bia, nến... đồ đạc bằng gỗ - bây giờ đều có thể mua được”.
Smith lập luận rằng thị trường đã nhân rộng sự giàu có, bởi vì nó đã dẫn đến sự chuyên môn hóa trong nền kinh tế: “phân công lao động” - thông qua nhiều kiến thức, kinh nghiệm, và máy móc được điều chỉnh theo yêu cầu riêng nhiều hơn - khiến sản xuất gia tăng. Không có gì được
hoạch định, dàn xếp trước. Nó tuôn trào (như thể do một bàn tay vô hình) từ sự phấn đấu của những người bán hàng để tối đa hóa sự giàu có của chính họ. “Chúng ta không mong đợi lòng nhân đức của người bán thịt, nhà sản xuất bia, hoặc người làm bánh để có bữa ăn tối, mà bữa tối của chúng ta có được là từ sự quan tâm của họ đến lợi ích riêng của chính họ”, câu này của Smith thật đáng ghi nhớ.
Smith nắm bắt được rằng các động lực là quan trọng: đó là việc mọi người có động cơ và hướng tới những mục đích của họ như thế nào. Bài học vẫn còn giá trị. Những dân tộc ngang bằng nhau nhưng có động lực khác nhau - trong môi trường là các chính sách quốc gia - sẽ có cuộc sống khác nhau, như nhà kinh tế học Mancur Olson của Đại học Maryland đã nói: “[trong] phần lớn thời kỳ hậu chiến, Trung Quốc, Đức và Triều Tiên đã bị chia cắt... Các hiệu quả hoạt động kinh tế của Hồng Kông và Đài Loan, Tây Đức, và của Hàn Quốc là tốt hơn so [hẳn] so với Trung Hoa đại lục, Đông Đức và Bắc Triều Tiên”.
Khả năng làm tê liệt thị trường của chính phủ khiến cho Smith hoảng sợ. Theo Muller thì cuốn sách Sự thịnh vượng của các quốc gia nhằm củng cố cho các nhà lập pháp chống lại “những áp lực của các nhóm kinh tế” giành lấy các đặc quyền đặc lợi. Nhưng thái độ hoài nghi chính phủ của Smith đã không phải là sự căm ghét. Muller viết: ông “rất yêu thích công việc” trong vai trò một ủy viên phụ trách hải quan. Đây không phải là thói đạo đức giả, bởi vì Smith đã nhìn thấy ba vai trò quan trọng của chính quyền: 1) xây dựng nền quốc phòng; 2) bảo đảm công lý và bảo vệ tài sản; và 3) xây dựng đường sá, kênh mương, bến cảng - nghĩa là xây dựng “cơ sở hạ tầng”. Chính phủ phải được tài trợ một cách phù hợp.
Và Smith cũng không tin rằng sự giàu có nghĩa là tất cả. Quan điểm của ông còn khá trái ngược với điều này. Ông muốn một xã hội có ít bạo lực và văn minh lịch sự hơn - một xã hội có thể làm nguôi đi “cơn giận dữ” tệ hại nhất của nhân dân. Sự giàu có thêm lên, với việc làm giảm bớt đau khổ, khiến mọi người trở nên “nhân từ” hơn. Mặc dù thị trường có thể tàn nhẫn và thô lỗ, nó cũng khuyến khích các mối quan hệ thương mại ổn định. Smith lập luận rằng đó cũng là một ảnh hưởng của văn minh. Cuối cùng, Smith tin vào những nét ưu việt của yếu tố gia đình, được coi là một nguồn lực của đạo đức (nơi mà trẻ em học cách tự kiểm soát bản thân) và là nguồn gốc của hạnh phúc cá nhân.
Nếu so sánh với thời của Smith thì trong thời đại của chúng ta ngày nay, việc xác định được điều mà chính phủ nên làm rõ ràng là khó khăn, bởi vì các hoạt động của nó - từ mạng lưới an sinh xã hội đến các quy định về môi trường - hiện nay là rộng lớn hơn rất nhiều. Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận mang tính thực tế của ông, nhẹ nhàng với các tín điều và nhạy cảm với cách thức mà người dân (và cơ quan tổ chức) hành xử trong thực tế, đã trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Ông chỉ định các trách nhiệm xã hội, những nội dung mà ông nghĩ rằng cần được đáp ứng tốt nhất, cho dù đó là vấn đề của thị trường hoặc của chính phủ. Ngược lại, cũng theo ghi chép của Muller, những người theo chủ nghĩa Tự do ngày nay thường giả định rằng thị trường “là thứ lãng phí hay vô đạo đức”. Bỏ qua việc chính phủ có thể gây tổn hại cho các động lực như thế nào - triệt tiêu các sáng kiến, tạo ra sự lệ thuộc - họ thường thay thế “những ý định tốt đẹp” bằng “các chính sách đúng đắn”.
Đối với những người bảo thủ, họ cũng vận dụng Smith nhưng bỏ qua những gì ông nói về các khiếm khuyết của thị trường. Ví dụ như, ông đã ủng hộ phổ cập giáo dục và xem đây như một liều thuốc giải độc cho các hiệu ứng “gây tê liệt” của sự chuyên môn hóa trong nền kinh tế. Có bất cứ thắc mắc nào cho rằng cuộc tranh luận của chúng ta dường như chưa thỏa đáng? Các bên đối lập đều quá lời với nhau. Smith đã kết hợp được một tầm nhìn cao quý cho xã hội tốt đẹp với sự phân tích chính xác về các phương tiện để đạt được điều đó. Các “ngôi sao” thời hiện đại của chúng ta lại thường cho rằng các phương tiện của họ luôn luôn đủ sức dẫn đến mục đích.
Bưu điện Washington
Ngày 27 tháng 11 năm 1996
[53] Thời điểm năm 2000 thì mức tăng này sẽ tương đương khoảng 700 điểm.
[54] Cuốn Những năm xây dựng: nền kinh tế Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Eisenhower (Đại học Báo chí Hoa Kỳ, 1991)
[55] Paul Adolph Volcker (sinh ngày 5/9/1927) là một nhà kinh tế Hoa Kỳ. Ông từng là Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Jimmy Carter và Ronald Reagan (từ tháng 8/1979 đến tháng 8/1987), hiện là Chủ tịch của Ban tư vấn phục hồi kinh tế (Economic Recovery Advisory Board) vừa được thành lập dưới thời Tổng thống Barack Obama - ND.