NÓI VẬY MÀ KHÔNG PHẢI VẬY!

Lượt đọc: 954 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VII. BÁO GIỚI
đả đảo giới tinh hoa truyền thông!

Tương lai của những người giống như tôi trong thời gian trước đây rõ ràng là sáng sủa hơn - hay ít nhất điều đó có vẻ như vậy. Khi nói tới “những người giống như tôi”, tôi muốn nói tới những người làm trong ngành truyền thông, chẳng hạn báo, tạp chí, hay truyền hình. Ngay khi chúng tôi đang vừa bị phỉnh phờ vừa bị chỉ trích về quyền lực của mình, thì các công nghệ máy tính mới và các phương tiện giao tiếp mới bắt đầu đe dọa thu nhập, tầm quan trọng về mặt xã hội, cũng như ảnh hưởng chính trị của chúng tôi. Điều này có thể làm hài lòng những ai coi chúng tôi là một “giới tinh hoa truyền thông” (media elite) vốn chẳng được ai bầu lên mà lại làm vẩn đục chính trị và văn hóa của xã hội. Tuy nhiên, lại có quan điểm đối lập rằng truyền thông đại chúng giúp gắn kết xã hội, qua việc chia sẻ kinh nghiệm và thông tin. Quan điểm nào trong số hai cái trên là đúng không phải là việc quan trọng, vấn đề là những công nghệ mới không nghe thấy mà cũng chẳng quan tâm đến những ý kiến kiểu này.

Cho tới nay tôi vẫn nghi ngờ rằng các phương tiện truyền thông kiểu mới sẽ đe dọa các kênh truyền thông kiểu cũ. Máy tính, truyền hình cáp, hay sợi quang v.v... sẽ chỉ cung cấp những thông tin chuyên biệt, về mọi lĩnh vực từ cổ phiếu đến bệnh tật, và chúng hoàn toàn không thể thay thế các tin tức và giải trí phổ thông. Có thể lắm chứ! Tuy nhiên có hai sự kiện đã làm lung lay niềm tin của tôi. Sự kiện thứ nhất là một cuộc điều tra của Trung tâm nghiên cứu Pew về Con người và Báo chí đã cho thấy những thay đổi lớn trong thói quen về truyền thông. Đáng chú ý nhất là sự đi xuống của các chương trình tin tức ban đêm trên TV. Năm 1993, 60% người Mỹ trên 18 tuổi trả lời là “thường xuyên” xem chương trình này, đến năm 1998 tỷ lệ này chỉ còn 38%. Một phần là do người ta bớt quan tâm đến tin tức, nhưng lý do chính là do họ xem tin tức trên truyền hình cáp nhiều hơn vào ban ngày. Tương tự, Internet cũng cất cánh. Hồi 1995, chỉ có 4% số người lớn lên mạng xem tin tức một lần trong tuần; ngày nay tỷ lệ này trở thành 20%!

Sự kiện khó chịu thứ hai với tôi là một cuộc trò chuyện với em tôi Richard. Em tôi có một quán trọ nhỏ ở Cape May, New Jersey. Năm ngoái, Richard bắt đầu quảng cáo cho quán bằng website của chính mình. Kết quả thật bất ngờ, khi một phần năm số khách hàng của quán biết đến quán nhờ cách quảng cáo này. Chưa có cách quảng cáo nào, dù là trên báo hay tạp chí, có hiệu quả như vậy. Mà Internet lại có chi phí không cao nữa chứ: em tôi chỉ phải trả chưa đến 1.000 USD/năm cho một công ty nhỏ ở Indianapolis để họ lập và quản lý website mà thôi. Em tôi nói “Trên Internet, ta có thể cạnh tranh ngang ngửa với các quán trọ lớn hơn hay thậm chí là các khách sạn. Họ có trang web, mình cũng có trang web!”.

Ừm! Các phương tiện thông tin đại chúng tồn tại vì hai lý do: một là người ta đọc hay xem chúng; hai là người ta và các công ty dùng chúng để quảng cáo. Hai điều này tất nhiên gắn liền với nhau. Nếu người ta không đọc hay xem một phương tiện thông tin nào đó, sẽ chẳng có ai muốn quảng cáo sản phẩm của họ trên đó cả. Ngược lại, nếu không có khách hàng mua quảng cáo (dù với bất kỳ lý do gì), chúng ta sẽ đánh mất độc giả hay khán giả. Thực sự thì các khách hàng quảng cáo đã trang trải đa phần chi phí của các phương tiện thông tin đại chúng. Ví dụ, đối với báo chí thì 70-80% doanh thu của họ là từ quảng cáo (phát hành chiếm đa số trong phần doanh thu còn lại). Nếu quảng cáo “bốc hơi”, báo chí sẽ không kham nổi chi phí trả cho các nhân viên, các chương trình có thể thu hút độc giả của họ nữa.

Tôi đã từng cho rằng ít ra thì báo và tạp chí vẫn giữ được vị trí của họ, bởi một tờ báo giấy tốt hơn hẳn một màn hình máy tính nếu xét đến việc đọc và nghỉ ngơi. Này nhé, bạn có thể mang tờ báo của bạn đi đâu tùy thích; bạn có thể gấp đôi hay kẹp nó trong tay; nếu đánh rơi thì cũng chẳng có gì đáng kể. Một màn hình máy tính, dù nhỏ gọn tới cỡ nào, cũng không thể so sánh được với những tiện lợi vừa nêu, chừng nào mà mọi người còn đọc như cách mà tôi đọc. Với tôi, đọc là một trải nghiệm riêng tư, chỉ một mình tôi với tờ báo hay cuốn sách mà thôi. Nhưng nếu thói quen đọc này thay đổi thì sao? Điều đó quả thực đã xảy ra. TV đã giết chết các tờ báo buổi chiều (evening newspaper): trong giai đoạn từ 1950 đến 1997, số lượng những tờ báo loại này giảm từ 1.450 tờ xuống còn 816 mà thôi, lượng phát hành của chúng cũng giảm đi hai phần ba.

Chúng ta có thể đang ở trong một thời điểm chuyển đổi quan trọng. Kết quả cuộc điều tra của Pew không cho chúng ta biết mình đang đi về đâu, nhưng nó cho thấy một sự dịch chuyển từ những gì hiện hữu đã xảy ra. Hơn bao giờ hết, con người có thể có được nhiều thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, do đó họ có thể thay đổi thông tin mà họ muốn, cũng như cách thức có được những thông tin đó. Các thế hệ khác nhau có thể đánh giá tầm quan trọng của tin tức (news) và thông tin (information) khác nhau. Trong những người tuổi từ 18 đến 29, ba phần tư cho Pew biết rằng họ thích “có nhiều nguồn thông tin khác nhau”, nhưng chỉ một phần ba ưa thích việc “cập nhật tin tức”. Với những người trên 65 tuổi, chỉ có phân nửa số người được hỏi cho biết họ thích những nguồn thông tin, trong khi hai phần ba quan tâm đến việc thường xuyên cập nhật tin tức.

Do đó, thói quen có thể thay đổi. Giả sử mọi người cập nhật tin tức từ máy tính nhiều hơn, họ có thể lướt qua những tiêu đề, bài báo hay điểm phim giữa những lúc đọc email trong khi làm việc hay chơi game tại nhà. Như thế phải chăng sẽ có ít độc giả dành cho báo giấy hơn? Rõ ràng điều này đã xảy ra. Từ 1970 đến 1997, tỷ lệ người lớn đọc một nhật báo giảm từ 78% xuống còn 59%. Hoặc giả sử người ta có thể lựa chọn những gì cần đọc trên báo qua các công cụ máy tính. Chẳng hạn bạn chọn trước những gì bạn muốn đọc - 6 bài hàng đầu về tin trong nước và quốc tế, 4 bài báo địa phương, hai bài chuyên mục ưa thích, 7 bài về chứng khoán, 1 bài về kết quả bóng chày, 1 bài về là số tử vi của bạn. Tất cả được đóng gói và gửi tới nhà bạn qua bản in trên giấy A4. Như vậy có còn là một tờ báo nữa không?

Chúng ta không biết những công nghệ mới sẽ mang lại những gì (và khi nào), vì chúng luôn phát triển từng ngày. Chúng ta cũng không biết con người mong muốn điều gì. “Lên mạng” chưa hẳn đã đảm bảo cho sự thành công. Tháng ba vừa qua một tạp chí on-line là Slate đã bắt đầu tính phí 19,95USD/năm (trước đây thì miễn phí!), lượng độc giả dự tính sẽ giảm từ 200.000 người xuống chỉ còn 30.000. Trong thời kỳ bùng nổ kinh tế hiện nay, cả cái mới và cái cũ đều có thể tồn tại. Tuy nhiên trong thời buổi khó khăn, cạnh tranh sẽ dữ dội hơn và thậm chí ngày nay sự thay đổi trong khán giả của các phương tiện thông tin đại chúng là không thể tránh khỏi.

Về tạp chí, sự tăng trưởng chủ yếu đến từ những loại tạp chí mới ra, nhắm vào lượng độc giả ít hơn, chứ không phải từ sự tăng thêm số lượng độc giả của các tạp chí cũ. Lượng phát hành của tạp chíNewsweek năm 1998 là 3,2 triệu, không hơn là mấy so với năm 1978 (3 triệu). Với các mạng TV, số khán giả đang rơi tự do. Đây chính là điểm giao nhau của kinh tế học và xã hội học. Quan niệm về một giới tinh hoa truyền thông, nếu đúng, đòi hỏi rằng khán giả chỉ có thể thu nhận tin tức và sự giải trí từ một số hạn chế những nguồn nhất định, lãnh đạo bởi một số biên tập viên, phóng viên, phóng viên chuyên mục, nhà sản xuất. Khi truyền thông phát triển, nhóm tinh hoa này trở nên bớt độc quyền. Số khán giả ít hơn khiến nhóm người này ít nổi bật hơn, ít quyền lực trên thị trường hơn (tức là thu nhập ít hơn).

Ở đây có một logic mà hiện nay có vẻ bị bỏ qua hay thậm chí xem thường. Hệ thống “ngôi sao” vẫn phát triển, nhất là trong ngành TV và cả trong ngành báo in. Hợp đồng mới nhất của Katie Couric[77] đem lại cho cô ta 7 triệu USD/năm, Variety cũng trả cho Jane Pauley trong hợp đồng mới nhất số tiền là 5,5 triệu USD/năm. Điều này cho thấy sự tuyệt vọng của các công ty truyền thông, họ sẵn sàng trả một số tiền đáng kể cho bất cứ ai hay bất cứ cái gì (như NFL[78] hay ER[79]) mà họ hy vọng có thể giúp giành lại số khán giả bị mất. Đó là cuộc đấu tranh chưa hẳn đã thành công[80]. Chẳng chóng thì chầy, logic nói trên sẽ thể hiện, và chúng ta - những người trong ngành truyền thông - sẽ thấy giá trị bản thân do chính chúng ta cảm nhận (self worth) và tài sản ròng (net worth) cùng bị giảm xuống.

Newsweek

Ngày 13 tháng 7 năm 1998

NHỮNG NGƯỜI HÚT THUỐC CÓ QUYỀN KHÔNG?

Giới truyền thông rất nhạy cảm với quyền lợi của các “nhóm thiểu số”: chẳng hạn những người nghèo, người khuyết tật, nhóm da đen, nhóm người đồng tính, người nhập cư v.v...Nhưng có một nhóm thiểu số có quy mô lớn hơn nhiều (quy mô nhóm này ít ra là vào khoảng 25% dân số) mà chúng ta hoàn toàn xem thường, bỏ qua hay giảm thiểu các quyền lợi của họ, đó là nhóm “những người hút thuốc”. Những tranh luận về việc hút thuốc thường xoay quanh lập luận rằng những người hút thuốc là nạn nhân vô tình, không ý thức của ngành công nghiệp thuốc lá. Họ không có tự do ý chí, do đó những mong muốn, ý kiến hay quyền lợi của họ không quan trọng. Những người này đáng được thương hại, đáng được cứu vớt. Nhưng họ không đáng được tôn trọng.

Một lần nữa, điều này là biểu hiện của tính “bầy đàn[81]” trong báo chí, ở mức độ cao nhất. Những người thuộc giới truyền thông như chúng tôi hay tự mãn cho rằng mình là những người có tư duy độc lập và hoài nghi. Hoàn toàn ngược lại thì mới đúng: thực ra chúng tôi chỉ là những gã khờ trước những trào lưu xã hội hay những mốt tư duy thịnh hành mà thôi. Trong trường hợp này, giới truyền thông chính thống đã vô tình chọn lựa quan điểm của cộng đồng y tế nói chung, coi hút thuốc như là một tai họa cần phải loại trừ. “Câu chuyện” ở đây là cuộc vận động (chống hút thuốc), “kẻ ác” là ngành công nghiệp thuốc lá. Việc đưa tin mang tính chất có chọn lọc. Cái thiếu ở đây chính là những vấn đề lẽ ra phải được cung cấp thông tin cho cuộc tranh luận.

Câu hỏi đơn giản nhất là: trong khi cố gắng làm cho người Mỹ giàu có hơn, liệu cuộc vận động chống hút thuốc có làm cho đa số dân Mỹ nghèo hơn hay không. Rõ ràng những người hút thuốc phải chịu mức gia tăng lớn cả về giá và thuế. Cái giá của thỏa thuận 368,5 tỷ USD giữa ngành sản xuất thuốc lá và tổng chưởng lý các tiểu bang (state attorney general[82]) được ước là khoảng 62 xu trên một bao thuốc lá. Tổng thống Clinton đề nghị nâng mức thuế lên 1,5 USD / bao thuốc, tức là gấp 6 lần so với hiện nay (24 xu). Chi phí này sẽ đánh mạnh nhất vào những người nghèo: họ hút thuốc nhiều hơn người giàu, và cũng chi tiêu một tỷ lệ nhiều hơn trong thu nhập ít ỏi của họ vào thuốc lá.

Hãy thử xem xét! Theo tính toán của Uỷ ban chung (joint committee) về Thuế của Quốc hội, hơn một nửa (53%) thuế thuốc lá hiện nay do những người nộp thuế với thu nhập chưa tới 30.000USD. Chỉ có 1% thuế này là do những người giàu với thu nhập trên 100.000USD đóng mà thôi. Giá thuốc cao sẽ ngăn một số người khỏi hút thuốc. Nhưng với những người còn lại, liệu việc “hút” hàng tỷ đô-la từ những người nghèo có phải là một chính sách tốt, hoặc công bằng hay không?

Những người vận động chống hút thuốc cố tỏ ra công bằng qua việc nêu lên 3 lập luận: 1) càng ngày càng có nhiều thanh thiếu niên hút thuốc, mà bọn trẻ một khi đã thử thì dễ dàng bị nghiện thuốc cả đời; 2) quảng cáo thuốc lá khiến thanh thiếu niên hút thuốc nhiều hơn, và do đó chúng trở thành nạn nhân; và 3) hút thuốc bị động (hít khói thuốc lá của người khác dù bản thân mình không hề hút) ở những nơi công cộng rất nguy hại cho sức khỏe. Ba lập luận này biện minh cho việc vận động chống hút thuốc, chúng được các phương tiện truyền thông phổ biến lan tràn. Tuy nhiên, hai lập luận đầu tiên đúng hay sai thì còn phải bàn, còn lập luận thứ ba thì hoàn toàn sai sự thật.

Hãy bắt đầu với việc hút thuốc ở thanh thiếu niên. Một cuộc điều tra của Đại học Michigan cho thấy tỷ lệ này có tăng lên. Năm 1996, 34% học sinh lớp 12 báo cáo có hút thuốc trong tháng vừa qua, đây là tỷ lệ cao nhất từ năm 1979 (34,4%), cao hơn cuối những năm 1980 (29,2%). Nhưng cuộc điều tra của Chính phủ về lạm dụng ma túy lại cho kết quả trái ngược: năm 1996 chỉ có 18,3% thiếu niên tuổi từ 12 đến 17 đã hút thuốc trong tháng vừa qua, là mức thấp nhất kể từ khi người ta bắt đầu điều tra vào năm 1985 (29%). Khó biết được nên tin vào kết quả nào trong hai cuộc điều tra trên. Nhưng rõ ràng cả hai đều không cho thấy tỷ lệ thanh thiếu niên hút thuốc tăng cao đột ngột: ngay cả theo điều tra của Đại học Michigan thì tỷ lệ này vẫn còn thấp hơn so với cuối những năm 1970 (tỷ lệ khi đó là 37%).

Còn nói về quảng cáo thì thanh thiếu niên rõ ràng đã làm nhiều thứ nguy hại hơn (như ma túy hay quan hệ tình dục sớm), mà những thứ này vừa chẳng được ai quảng cáo, thường còn bất hợp pháp. Ngành thuốc lá, không nghi ngờ gì nữa, có nhắm đến giới trẻ, song tác dụng của quảng cáo chủ yếu là việc lựa chọn loại thuốc lá để hút, hơn là ảnh hưởng đến quyết định hút thuốc của họ! Một nghiên cứu mới và toàn diện hơn về sức khỏe thanh niên do Học viện y tế quốc gia tài trợ đã cho thấy có những yếu tố khác quan trọng hơn trong việc quyết định ai sẽ là người hút thuốc.

Theo nghiên cứu này thì “Càng lúc, môi trường gia đình càng trở nên quan trọng trong việc hình thành kết quả sức khỏe cho thanh thiếu niên Mỹ. Các trẻ em cảm thấy gắn bó với cha hay mẹ được bảo vệ trước nhiều nguy cơ về sức khỏe, bao gồm: trầm cảm, suy nghĩ và nỗ lực tự tử, thuốc lá, rượu và ma túy, hành xử bạo lực, quan hệ tình dục sớm”.

Và ngay cả những thanh thiếu niên hút thuốc cũng chưa chắc đã trở thành những người nghiện thuốc cả đời. Trong số các học sinh lớp 12, có 63% đã từng hút thuốc, tức là nhiều gấp đôi so với số em hiện tại vẫn còn đang hút. Ở người lớn, tỷ lệ bỏ thuốc còn cao hơn. Từ “nghiện ngập” không hay ho gì khiến nhiều người đã từ bỏ nó!

Cuối cùng, “hút thuốc bị động” không phải là một nguy cơ lớn cho sức khỏe cộng đồng, như nhiều câu chuyện đã ám chỉ một cách quá đơn giản. Ví dụ sai lầm gần đây nhất là một nghiên cứu của trường Y khoa Harvard. Nghiên cứu này dự định chỉ ra rằng việc hút thuốc bị động làm tăng gấp đôi nguy cơ đau tim, tức là một vấn đề lớn với sức khỏe cộng đồng. Tờ New York Times và tờ Washington Post đã đăng tin như vậy. Tuy nhiên, nghiên cứu này cùng lắm cũng chỉ cho thấy việc hút thuốc bị động chỉ làm tăng gấp đôi một nguy cơ nhỏ bé mà thôi.

Lý do như sau: nghiên cứu này theo dõi 32.046 y tá không hút thuốc trong khoảng thời gian từ 1982 đến 1992. Trong số này, 4/5 y tá cho biết họ hít phải khói thuốc của những người xung quanh họ. Nhưng chỉ có 152 cơn đau tim được thống kê (trong số đó 127 trường hợp là không nguy hiểm đến tính mạng): tỷ lệ này khá thấp. Nhiều cơn đau tim sẽ xảy ra ngay cả khi không ai tiếp xúc với khói thuốc. Theo trưởng nhóm nghiên cứu, ông Ichiro Kawachi, hút thuốc bị động gây ra 25-30% số cơn đau tim, tương đương 38-46 trường hợp. Nếu đúng như vậy (xin lưu ý là nghiên cứu nào cũng có thể có thiếu sót), thì tầm quan trọng của điều này cũng không cao lắm! Đa số trường hợp hút thuốc bị động hiện nay mang tính chất riêng tư hay tự nguyện, vì hút thuốc đã bị cấm tại nhiều nơi công cộng. Liệu chúng ta có cần phải đặt ra luật cấm các đức ông chồng hút thuốc trước mặt vợ của họ, hay ngược lại hay không?

Bạn ít khi nghe thấy những lập luận trên đây, đúng không? Đơn giản là vì báo giới nói chung chỉ lải nhải lặp đi lặp lại những luận điệu một chiều của những người vận động chống hút thuốc mà thôi. Thực ra thì họ cũng có lý: hút thuốc rất rủi ro cho bản thân người hút; nếu không ai hút thuốc thì đúng là nhiều người Mỹ sẽ sống lâu hơn. Nhưng nhiều thứ khác cũng đầy rủi ro, và một câu hỏi trọng tâm là liệu những người hút thuốc có quyền thực hiện một hành vi có niềm vui và nỗi đau hoàn toàn thuộc về riêng họ, mà không bị phần còn lại của xã hội trừng phạt hay không? Hoặc họ có bị lên án hay không?

Hầu như chẳng có ai bênh vực cho những người hút thuốc. Ngành công nghiệp thuốc lá bỏ rơi họ, ngành này chỉ cần một sự thỏa thuận. Đa số chính trị gia không bảo vệ những người hút thuốc vì e sợ bị coi là “tay chân” của một ngành công nghiệp có hại, là kẻ thù của sức khỏe cộng đồng. Và báo chí đã ủng hộ toàn bộ quá trình này với kiểu suy nghĩ bầy đàn của họ, qua việc làm cho phổ biến quan niệm tưởng tượng rằng cuộc tranh luận chủ yếu diễn ra giữa ngành thuốc lá và sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, thực tế mờ ám là nói gì thì nói, mục tiêu chính vẫn là những người hút thuốc. Họ có quyền hay không? Rõ ràng là không.

The Washington Post

Ngày 24 tháng 9 năm 1997

TẤT CẢ CHỈ BỞI MỘT ĐẠO LUẬT KHIẾM KHUYẾT

Như vẫn thường xảy ra, một câu chuyện nhiều khi không quan trọng bằng một câu chuyện khác đằng sau nó! Câu chuyện ở đây là việc tổng thống Clinton sắp phải ra điều trần trước Đại bồi thẩm đoàn sắp tới. Còn câu chuyện đằng sau nó là bằng cách nào mà một đạo luật đáng ngờ (ở đây là luật về quấy rối tình dục) đã dẫn dắt chúng ta đi theo những hướng không định trước và không mong muốn. Hầu hết dân Mỹ đều ước rằng chưa bao giờ họ nghe thấy cái tên Monica Lewinsky. Một điều tra của hãng tin CBS tuần rồi cho biết đa số người Mỹ (tỷ lệ 63% đồng ý so với 31% không đồng ý) nghĩ rằng đất nước sẽ tốt hơn nếu vụ điều tra Lewinsky không được bắt đầu. Lý do của việc này chính là luật về quấy rối tình dục.

Xì căng đan bắt đầu với vụ kiện của Paula Jones[83], một vụ kiện lẽ ra không nên có. Tôi không có ý nói rằng tôi thông cảm hay bỏ qua những gì ông Clinton bị cáo buộc đã làm (cái mà tôi cho là ông ta thực sự có làm!). Nếu ông ta gạ gẫm cô Jones, ông đã cư xử thô lỗ. Nếu ông ta có quan hệ yêu đương với cô Lewinsky, ông ta đã hành động bất cẩn. Và nếu ông ta nói dối về những điều trên, ông ta là một kẻ ngu ngốc. Các vấn đề của Clinton đa số bắt nguồn từ chính tính cách của ông ta. Tuy nhiên, xì căng đan này vẫn phơi bày những khiếm khuyết to lớn của luật quấy rối tình dục.

Nói rằng vụ kiện của cô Jones là việc lẽ ra không nên có không có nghĩa đó chỉ là một vụ kiện ngớ ngẩn, phí thời gian. Một vụ kiện ngớ ngẩn sẽ liên quan đến những hành vi không hề xảy ra, hay những hành vi hợp pháp. Nhưng luật về quấy rối tình dục vừa không rõ ràng vừa quá bao quát, đến mức bao gồm cả lời khiếu nại của cô Jones (rằng ông Clinton đòi hỏi quan hệ tình dục bằng miệng với cô ta!). Luật này đã khiến hầu như mọi hành vi hay lời nói về tình dục mà không được người khác mong muốn đều trở nên có tiềm năng phạm pháp, nếu như bằng cách nào đó chúng liên quan tới nơi làm việc.

Đúng là có những việc xấu xa đã xảy ra tại nơi làm việc. Một điều tra gần đây của tờ Washington Post cho biết 56% dân Mỹ nghĩ rằng phụ nữ “thường xuyên” bị quấy rối tại nơi làm việc. Nhưng không phải không có những việc tốt xảy ra. Dù nhiều cuộc tình công sở có cái kết buồn, nhưng đa số vẫn kết thúc có hậu bằng một cuộc hôn nhân, theo báo cáo của một cuộc điều tra dành cho 600 chuyên viên về nhân sự do Hiệp hội Quản trị nguồn nhân lực thực hiện. Tốt nhất là nên có một đạo luật ngăn chặn, hay trừng phạt, các hành vi lạm dụng tình dục nơi công sở, mà không ngăn chặn quyền tự do tìm hiểu và yêu đương giữa nam và nữ nhân viên! Luật hiện nay chưa với tới được tình trạng lý tưởng đó.

Vấn đề trọng tâm là không ai có thể nói rõ: như thế nào là quấy rối tình dục. Mọi người đều đồng ý rằng cấp trên không nên đòi hỏi cấp dưới về tình dục để đáp lại việc nhận vào làm, tăng lương hay thăng chức. Đó là loại quấy rối theo kiểu “bánh ít đi, bánh quy lại” hay “ông mất của kia, bà chìa của nọ”. Tuy nhiên, luật pháp lại đi quá giới hạn này và tạo điều kiện cho các cảm xúc như giận dữ, bối rối, không hài lòng trở thành cơ sở cho việc khiếu đòi về việc quấy rối trong “môi trường thù địch” (hostile environment harassment). Kết quả là người ta đã biến những hành vi lỗ mãng, các quan hệ đổ vỡ hay sự khiếm nhã... thành căn nguyên cho việc kiện cáo. Hợp pháp và phạm pháp hoàn toàn bị xáo trộn vào nhau.

Xáo trộn như thế nào? Quốc hội không hề đề cập đến quấy rối tình dục trong Mục VII, Bộ luật Quyền công dân năm 1964, bộ luật có điều khoản cấm sự phân biệt đối xử trong công việc. Tòa án tối cao hầu như đã phát minh ra khái niệm này, song không nói rõ đó là gì, chỉ định nghĩa quấy rối là một hành vi “nghiêm trọng và thường xuyên đến mức thay đổi điều kiện công việc (của nạn nhân), và tạo ra một môi trường công việc mang tính lạm dụng”. Khi được “áp dụng một cách phù hợp”, tiêu chuẩn này sẽ “lọc ra những khiếu nại về những phiền phức thông thường nơi công sở, chẳng hạn như việc đôi khi sử dụng ngôn ngữ mang tính lạm dụng, các chuyện tiếu lâm về tình dục/giới tính, hay những trêu chọc, đùa cợt thi thoảng xảy ra”.

Nghe có hiểu không bạn? Nào, ta hãy áp dụng vào hành vi bị cáo buộc của ông Clinton với cô Jones xem sao. Dù hành vi này không “thường xuyên” (chỉ có một lần thôi!), nhưng lại có vẻ “nghiêm trọng”. Rõ ràng khi sếp bạn tụt quần ra và đòi hỏi bạn quan hệ tình dục bằng miệng, điều này vượt quá những “phiền phức thông thường nơi công sở”. Tuy nhiên thẩm phán liên bang Susan Webber Wright[84] đã bác bỏ đơn kiện của Jones với lý do rằng hành vi bị cáo buộc, nếu có xảy ra, “không cấu thành một hành vi đủ nghiêm trọng để có thể khiếu kiện về môi trường làm việc mang tính thù địch”. Bạn hiểu gì không? Còn cô Jones thì đã nộp đơn kháng án.

Tôi khó mà đồng ý với quyết định của bà thẩm phán, nhưng cũng nghi ngờ liệu bà ta có cố tình hiểu sai luật hay không. Nếu ông Clinton chỉ phụ trách một nhà máy điện tại địa phương chẳng hạn, liệu thẩm phán có để cho ông ta thoát tội hay không? Tôi nghi ngờ điều đó! Tuy nhiên vấn đề chính ở đây (mà không ai nói ra) là: tiêu chuẩn (trong luật quấy rối tình dục) quá mơ hồ, không rõ ràng. Tôi cho vụ kiện của Jones lẽ ra không nên có, vì luật nên chặt chẽ hơn. Hành vi quấy rối tình dục nên liên quan tới những hậu quả về mặt công việc, chẳng hạn như sự đe dọa hay thực sự sa thải, hay cắt giảm lương. (Còn ở đây, cô Jones chẳng chịu thiệt hại gì cả, dù cô ta tuyên bố điều ngược lại). Tuy nhiên, luật hiện nay không được như vậy, do đó, nó gây hại nhiều hơn là làm lợi.

Eugene Volokh (trường Luật UCLA) trình bày nhiều chứng cứ cho thấy quyền tự do ngôn luận đang bị hạn chế nhân danh việc ngăn chặn quấy rối tình dục. Một nghiên cứu sinh sau đại học buộc phải gỡ bỏ tấm hình vợ anh ta trong bộ đồ bikini, vì điều này xúc phạm một người khác. Trường hợp khác: Jerold Mackenzie, nhà quản lý tại công ty bia Miller, sáng nọ đã chuyện trò với một nữ đồng nghiệp về một tập phim khá sỗ sàng trong serie phim truyền hình Seinfeld[85]. Sau khi cô này phàn nàn (về hành vi quấy rối tình dục), anh ta đã bị sa thải, bất chấp việc trước đó anh ta không có “tiền án tiền sự” gì! Mackenzie thất nghiệp trong hai năm sau đó, trước khi đi kiện lại công ty và thắng kiện, được bồi thường 24,7 triệu đô-la.

Do tính chất mập mờ, không rõ ràng, luật về quấy rối tình dục đã trở thành một kênh để người ta xả hết mọi bực bội, bất bình thuộc về cá nhân hay nơi làm việc. Trong đời thực, những cãi vã kiểu này cũng lộn xộn và rắc rối như chính bản chất của con người vậy. Điều tra của Washington Post trình bày ở phần trên cũng đặt ra câu hỏi cho các phụ nữ về mức độ thường xuyên của việc “một phụ nữ kiện cáo hay khiếu nại một cách sai lầm về một người đàn ông” (liên quan đến hành vi quấy rối - ND). Thậm chí chỉ trong số những người trả lời, cũng đã có 34% cho rằng điều đó “thường xuyên xảy ra”, và 44% trả lời là “đôi khi xảy ra”. Trong số các khiếu nại gửi đến Ủy ban Cơ hội Công bằng trong công việc (Equal Employment Opportunity Commission), 40% được phán quyết là “không có nguyên nhân hợp lý”, và 40% không có hiệu lực, thường là do bên nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ hỗ trợ gì cả.

Các đạo luật tốt cần phải rõ ràng, nếu không con người không thể tuân thủ, và có thể diễn giải những hành vi mà họ không thích là những hành vi phạm pháp. Theo tiêu

chuẩn của lẽ thường, thì luật về quấy rối tình dục quả là một đạo luật quá tệ. Tệ hơn, các tòa án dường như đã ủy quyền cho các công ty thực thi luật này, vì nếu không, họ sẽ phải đối mặt với các vụ kiện. Để tránh kiện cáo, xu hướng chung sẽ là định nghĩa các hành vi quấy rối một cách thật rộng rãi, mở rộng. Và khi đó, trong trường hợp tốt nhất thì các công ty cũng ngày càng xâm phạm quyền tự do ngôn luận và hành vi riêng tư của nhân viên; còn trong trường hợp xấu nhất thì họ sẽ trở thành những đội dân phòng tự quản ngay tại nơi làm việc.

Liệu chúng ta có muốn đi theo con đường này hay không? Xì căng đan của ông Clinton cho thấy một khi những buộc tội về quấy rối tình dục đã được lập ra, chúng sẽ tạo đà cho những cáo buộc khác tương tự. Quốc hội cần cứu Toà án tối cao khỏi sự lúng túng trong việc xét xử những vụ này qua việc luật hoá những giới hạn liên quan. Điều này xem ra khó có thể xảy ra. Những người ghét Tổng thống Clinton có thể nghi ngờ rằng luật về quấy rối tình dục hiện đang quá lỏng lẻo nhưng vẫn thích có cơ hội tấn công ngài Tổng thống, trong khi những người ủng hộ ông ta cho rằng vụ kiện của cô Jones được sử dụng vì mục đích chính trị, nhưng về mặt tư tưởng họ lại luôn trung thành với khái niệm mở rộng về hành vi quấy rối tình dục. Kết quả là chúng ta có một sự thông đồng cùng nhau im lặng - ủng hộ một đạo luật quá ư tồi tệ.

The Washington Post

Ngày 12 tháng 8 năm 1998

SINH VIÊN KÉM, NỀN KINH TẾ TỐT

Tại văn phòng Washington của tạp chí Newsweek nơi tôi làm việc, chuyên gia về máy tính là một người chưa hề sử dụng máy tính khi anh ta tốt nghiệp ngành văn chương Anh tại Cao đẳng William & Mary năm 1983. Anh này có được kỹ năng sử dụng máy tính một cách dần dần, đầu tiên là qua công việc biên tập ở một nơi khác, sau đó tiếp tục phát huy tại Newsweek. Tôi kể câu chuyện này để một lần nữa nêu lên câu hỏi đã từng được đặt ra sau các kết quả nghèo nàn của sinh viên Mỹ trong các kỳ kiểm tra toán và khoa học quốc tế: nếu sinh viên nước ta học tệ như vậy, tại sao nền kinh tế Mỹ lại vẫn tốt? Trong các lớp cuối cấp trung học, học sinh Mỹ đứng thứ 19/21 về kỹ năng toán, thứ 16/21 về khoa học. Ngay cả trong số các học sinh khá nhất (10-20% học sinh xếp hạng cao nhất trong lớp), học sinh Mỹ cũng có kết quả kém hơn. Tuy các học sinh Mỹ tham gia kỳ kiểm tra có nhỏ tuổi hơn học sinh nước ngoài đôi chút, nhưng các điểm số mà họ đạt được đều thấp hơn đến mức không thể bỏ qua và coi đây chỉ là hiện tượng may rủi mà thôi.

Giải thích chính cho nghịch lý này là việc người ta không chỉ học ở trường. Nếu vậy thì chúng ta đã gặp rắc rối to rồi. Khi để riêng rẽ, các kết quả kiểm tra hay thi cử chẳng nói lên điều gì cả. Điều quan trọng - ít nhất là với nền kinh tế - là những gì mà người ta làm tại nơi làm việc. Họ có thể sử dụng hết các kỹ năng hay không? Có phát triển các kỹ năng mới không? Có gắn kết với công việc không? Ở đây, nền kinh tế Mỹ làm tốt hơn mọi nơi khác. Trở lại trường hợp của người đồng nghiệp tại Newsweek của tôi, chúng ta sẽ thấy: anh ta phát triển các kỹ năng mới thông qua việc thay đổi chỗ làm việc. Mỗi khi đổi việc anh ta sẽ tìm ra những thứ mình có thể làm tốt và yêu thích. Với những người trẻ, việc thay đổi chỗ làm thường xuyên có vẻ như không có mục đích và gây phí phạm thời gian, công sức. Nhưng trong thực tế, người ta luôn phải tìm kiếm những gì phù hợp với sở thích và năng lực của họ. Điều này tốt hơn nhiều so với việc chết chìm tại một nơi làm việc không phù hợp trong nhiều năm liền.

Trong công việc, con người học tập từ cấp trên, người hướng dẫn, đồng nghiệp, khách hàng, và quan trọng nhất là từ kinh nghiệm. Một nghiên cứu của Phòng lao động (Labour department) dự tính có tới 70% việc đào tạo tại nơi làm việc mang tính chất không chính thức (informal). Về mặt văn hóa, đây chính là điểm mạnh của Mỹ. Tocqueville[86] từng nhận xét rằng “Người Mỹ thiên về khoa học ứng dụng hơn là khoa học lý thuyết”. Kiến thức thường chỉ là “nàng hầu” của tham vọng, chứ không hề là một niềm vui trừu tượng. Ai cũng biết một số người (có thể nói là rất nhiều người là đằng khác) khi đi học thì kém nhưng khi làm việc lại rất xuất sắc.

Nhà kinh tế Laurie Bassi thuộc Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Hoa Kỳ (American Society for Training & Development) cũng cho rằng so với các công ty châu Âu thì các công ty Mỹ linh hoạt hơn và thu được nhiều kết quả hơn từ nhân viên của họ. Các doanh nghiệp của chúng ta có nhiều tự do hơn trong việc xác lập mức lương, tuyển dụng và sa thải, thay đổi các thực hành trong công việc. Các kết quả thường bị lên án là bất công, chẳng hạn đối với việc chúng ta chấp nhận sự cách biệt lớn về mức lương (giữa lao động thu nhập cao và lao động thu nhập thấp), hơn nhiều so với các công ty tại châu Âu. Tất nhiên là cũng có những sự quá đáng, nhưng nhìn chung thì hệ thống này đang thành công. Lương cao là phần thưởng cho những người lao động có năng suất tốt nhất, đồng thời khuyến khích người ta tham gia vào những lĩnh vực thiếu lao động. Lương thấp tạo điều kiện việc làm cho những người có kỹ năng kém hơn, đồng thời thúc đẩy họ phải cải thiện các kỹ năng của mình.

Bởi làm việc là học tập, khả năng tạo ra việc làm chính là khả năng gây ra việc học hỏi. Ở đây, nền kinh tế Mỹ vẫn vượt trội. Các sinh viên Pháp đạt điểm cao hơn sinh viên Mỹ rất nhiều trong các kỳ kiểm tra quốc tế về toán và khoa học. Nhưng ở Pháp, việc quản lý và điều tiết quá nhiều cùng với thuế má cao khiến cho việc tạo công ăn việc làm gặp nhiều lúng túng. Trong số các thanh niên từ 15 đến 24 tuổi, chỉ một phần năm là có việc làm, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ là 60%. Khi không làm việc, các kỹ năng cũ bị xói mòn, trong khi những kỹ năng mới không được phát triển. Trong hai quốc gia trên, quốc gia nào làm tốt hơn với giới trẻ của họ?

Cuối cùng, nền kinh tế coi thường kết quả các kỳ thi (trong nhà trường - ND) vì hai lý do khác nữa. Một là, chúng ta đánh giá quá cao nhu cầu về các kỹ năng cao cấp trong toán và khoa học: đây chính là sự phản ánh nỗi ám ảnh về công nghệ cao của chúng ta. Các nhà kinh tế từ cơ quan Dịch vụ Kiểm tra Giáo dục (Educational Testing Service) gồm Anthony Carnevale và Stephen Rose vừa thực hiện một nghiên cứu nhằm định nghĩa các công việc “tinh hoa” (elite jobs). Nói chung thì đây là nhóm 28% những công việc được trả lương cao nhất. Trong số đó, nhiều nhất là những nhà quản lý tổng hợp: giám đốc nhân sự, nhà quản lý mua hàng, quản lý bán hàng. Họ cần các kỹ năng về toán, nhưng không phải là những kỹ năng cỡ như tích phân! Năm 1996, nước Mỹ có 1,5 triệu nhà khoa học, kỹ sư, lập trình viên trong ngành máy tính; 1,4 triệu kỹ sư trong các ngành khác; 1 triệu kế toán viên; 800.000 nhân viên tài chính; và 400.000 nhà khoa học trong các ngành khác như hóa học, vật lý v.v... Những nghề nghiệp này, cùng một số ít nghề khác nữa là nhóm dân số cần có các kỹ năng cao cấp về toán và khoa học. Trong toàn bộ lực lượng lao động khoảng 132 triệu người, họ chỉ chiếm vỏn vẹn 4%.

Hai là, điểm số thấp về toán và khoa học không có nghĩa là tất cả những kỹ năng tại nơi làm việc ở Mỹ đều kém cỏi. Tổ chức Phát triển và Hợp tác Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development) có thực hiện điều tra về tình trạng biết chữ với người lớn ở 12 quốc gia phát triển. Trong cuộc điều tra này, người Mỹ xếp vào hạng giữa của nhóm. Chúng ta có nhiều hơn những người đọc giỏi nhất, cũng như nhiều người đọc tệ nhất, so với bất cứ quốc gia nào trong nhóm. Sự khác biệt trong kết quả của hai cuộc điều tra - một về toán và khoa học trong trường trung học, một về tình trạng biết chữ nói chung - đã phản ánh phần nào về những gì người ta học trong khi làm việc. Nó cũng phản ánh tỷ lệ học đại học cao hơn ở Mỹ. Năm 1995, tỷ lệ theo học đại học trong số những người trong độ tuổi từ 15 đến 39 ở Mỹ là 52%, trong khi ở Pháp là 33% và Đức là 27%. Hệ thống của chúng ta cung cấp nhiều cơ hội hơn cho mọi người.

Tất cả những điều trên có vẻ rất thuyết phục. Thực sự mà nói, điều này đã khiến một số nhà quan sát kết luận rằng các kỳ kiểm tra quốc tế về toán và khoa học là không cần thiết. Trên tờ New York Times, Howard Gardner từ trường Sư phạm Harvard nêu ý kiến bác bỏ các kỳ thi này vì chúng chỉ đo lường “những chỉ số ít phổ biến nhất của dữ kiện và kỹ năng”, và không đo lường được liệu “học sinh có thể suy nghĩ một cách khoa học hay toán học” được không. Lời kết tội này là vội vàng và sai lệch. Đa số mọi người không thể suy nghĩ một cách hợp lý, chứ chưa nói đến suy nghĩ một cách có khoa học, nếu họ không hoàn thiện các “dữ kiện và kỹ năng” căn bản. Nếu chính ông Gardner không học cách viết, hẳn New York Times đã không đăng bài viết của ông ta.

Nhà trường là một nền móng của nền kinh tế. Nếu học sinh ra trường với những kỹ năng tồi, sẽ có một số hậu quả. Trước hết là sự lãng phí. Việc tạo cho họ những cơ hội sau đó để học (ở đại học hay tại nơi làm việc) là tốn kém. Một số người học những kỹ năng sau này, những thứ mà lẽ ra họ cần học từ trước. Và một số kỹ năng có thể không bao giờ được học. Một kết quả là chúng ta sẽ thấy sự khan hiếm những người lao động có kỹ năng cao, một kết quả khác là nhiều người có kỹ năng thấp rơi vào cảnh nghèo, hay thường xuyên thất nghiệp. Một số kỹ năng bị thiếu có thể không cần thiết trong công việc nhưng vẫn cần trong cuộc sống. Chúng khiến chúng ta trở thành những công dân tốt hơn, những phụ huynh tốt hơn; chúng làm chúng ta hiểu biết sâu hơn về thế giới.

Việc nền kinh tế vượt qua những thất bại này[87] không có nghĩa là những thất bại đó là không thật. Các kết quả thi kém có thể không phải là một thảm họa, nhưng chúng cũng không thể là lý do để chúng ta vỗ tay hoan hô hay thờ ơ!

The Washington Post

Ngày 12 tháng 3 năm 1998

QUY LỖI NHƯ VẬY LÀ ĐỦ RỒI!

Người Mỹ thích cho rằng mọi vấn đề đều có thể giải quyết, mọi thảm họa đều có thể ngăn ngừa. Tuy nhiên vụ giết người hàng loạt ở trường trung học Columbine[88] đã cho chúng ta thấy điều ngược lại. Thế mà ngay khi đó chúng ta vẫn tiếp tục đánh giá lỗi lầm và đi tìm giải pháp, bởi bất kỳ cách làm nào khác cũng có vẻ không giống kiểu Mỹ, đồng thời thảm họa này (cũng như nhiều thảm họa khác) mau chóng trở thành một phương tiện chính trị cho những kế hoạch và tham vọng nào đó. Tuy nhiên cuộc tìm kiếm cái để quy lỗi, hay con dê tế thần, trong trường hợp này dường như đã thất bại.

Những kẻ tình nghi thông thường mau chóng lộ diện. Đương nhiên súng đứng đầu danh sách[89]. Tôi không sở hữu mà cũng chẳng thích gì súng ống, đồng thời tin rằng trong một thế giới hoàn hảo thì súng đạn phải bị cấm. Nhưng chúng ta hãy thực tế một chút. Chính phủ liên bang tính rằng hiện có khoảng 230 triệu khẩu súng đủ loại tại Mỹ, cả súng máy, súng lục, súng trường v.v... Gần 40% hộ gia đình có sở hữu súng trong nhà. Ai có thể nói tất cả những người này là những người không hòa hợp với xã hội, và do đó, luật pháp cần phải cấm sở hữu kể cả các loại súng ngắn? Mà nếu giả sử điều này xảy ra đi nữa, thì liệu nguồn cung cấp súng hiện tại có biến mất ngay lập tức không? Có lẽ là không, và khi đó thị trường chợ đen với loại hàng này sẽ nở rộ.

Bất kỳ ai đó có quyết tâm và đủ thông minh thì sẽ kiếm được súng, hay một thứ gì đó tương tự. Timothy McVeigh[90] đã dùng phân bón để chế ra trái bom của hắn, giết chết 168 người ở thành phố Oklahoma. Một nghịch lý trong vụ thảm sát ở trường Columbine là nó đã xảy ra trong khi việc sở hữu súng đang trở nên khó khăn hơn, doanh số bán súng đang đi xuống. Đạo luật Brady được thông qua năm 1993 đã yêu cầu các cơ quan luật pháp có trách nhiệm kiểm tra lai lịch, hồ sơ của người mua súng. Trong những năm 1993-1997, theo số liệu của Chính phủ, số lượng súng được mua hàng năm đã giảm từ 7,8 triệu xuống còn 4,3 triệu.

Các bậc phụ huynh cũng bị đem ra quy lỗi. Người ta nói thẳng hay ám chỉ rằng những bậc phụ huynh này (của các thủ phạm trong vụ thảm sát ở trường Columbine - ND) chắc hẳn đã nuôi dạy con cái rất tệ. Hoặc giả họ đã không chú ý đầy đủ đến những dấu hiệu nguy hiểm nơi con cái mình. Theo cảnh sát trưởng hạt Jefferson, trong phòng của một trong hai hung thủ, người ta tìm thấy một khẩu súng săn cưa nòng, và cha mẹ của học sinh này lẽ ra đã phải nghi ngờ con mình từ trước! Có lẽ. Nhưng các bậc cha mẹ trung thực sẽ thừa nhận là có nghi ngờ, vấn đề là có những hạn chế trong việc kiểm soát con cái mà thôi.

Năm ngoái, nhà tâm lý học Judith Rich Harris xuất bản cuốn sách mang tên Giả định về sự nuôi dưỡng (The nurture assumption), trong đó tác giả thách thức niềm tin phổ biến của người Mỹ rằng cha mẹ có thể ảnh hưởng hay định hình tính cách con cái theo ý họ. Dù tác giả đi quá xa khi phủ nhận hầu hết mọi ảnh hưởng của cha mẹ trong quá trình giáo dục, luận điểm chính của bà là chính xác. Chính di truyền - cái khác biệt bẩm sinh giữa chúng ta - và ảnh hưởng của những người cùng trang lứa mới đóng vai trò quan trọng. Mọi đứa trẻ đều khác nhau, và chúng luôn che giấu cuộc sống của chúng với cha mẹ.

Xu hướng này là không thể tránh khỏi, và đa phần là vô hại. Tuy nhiên một số trường hợp sẽ dẫn đến thảm kịch. Ngay cả các bậc cha mẹ “tốt” cũng chỉ là những con người bình thường. Họ phủ nhận (những dấu hiệu bất thường ở con cái - ND) và hy vọng. Có lẽ cha mẹ của Eric Harris và Dylan Klebold phải nhận ra từ trước rằng những hành vi lạ lùng của con mình sẽ báo hiệu chúng là những kẻ giết người hàng loạt. Nhưng cha mẹ thường hay bỏ qua, hay không thể thay đổi, những dấu hiệu về các vấn đề rắc rối của con cái họ. Năm 1995, có tới 2.227 trường hợp tự tử có đội tuổi dưới 20 (chiếm khoảng phân nửa tổng số ca tự tử!).

Nước Mỹ từ lâu đã từng chịu thiệt hại từ những hành động bạo lực có quy mô lớn. Năm 1927, Andrew Kehoe, tức giận với một loại thuế học đường, đã kích hoạt mấy trái bom, trong đó có một trái ngay trong một trường học, giết chết 38 trẻ em, 5 người lớn và chính hắn ta. Năm 1949, một cựu binh Thế chiến II tên Howard Unruh xả súng bắn chết 13 người. Năm 1966, Charles Whitman leo lên một ngọn tháp tại Đại học Texas với một cây súng trường, xả súng bắn chết 16 người. Cái khác trong vụ thảm sát tại trường Columbine lần này chỉ là việc các sát thủ nay là học sinh mà thôi.

Rồi một dịp khác, Đệ nhất phu nhân của nước Mỹ lên TV và phê phán nền văn hóa truyền thông đã “tôn vinh bạo lực trên TV, internet, trên phim ảnh và âm nhạc” và những trò chơi điện tử trong đó chiến thắng được quyết định bởi “số người mà bạn bắn hạ”. Theo bà, hậu quả là việc con em chúng ta trở nên vô cảm với bạo lực.

Có một phần sự thật trong lập luận trên, song nó đã bỏ qua những sự thật lớn hơn, khó chịu hơn nhiều. Các trường trung học trở nên hỗn loạn hơn bao giờ hết, chính là vì người ta đã làm chúng trở nên như vậy. Người ta muốn mọi học sinh đều tốt nghiệp trung học. Hồi năm 1950, chỉ có phân nửa số người trưởng thành tốt nghiệp trung học. Ngay đến năm 1960, tỷ lệ bỏ học giữa chừng vẫn là 27%. Ngày nay tỷ lệ đó chỉ còn 11%. Các học sinh lý ra đã bỏ học vì chán hay vì học yếu thì nay tiếp tục ở lại trường. Trường học nay trở nên to lớn hơn, vô cảm hơn. Năm 1950, gần 25.000 trường trung học công có 5,7 triệu học sinh. Năm 1994, chỉ còn chưa tới 24.000 trường, nhưng số học sinh lại lên đến 12,5 triệu. Trường Columbine nói trên có tới 1.800 em.

Rõ ràng là đã có sự mất kiểm soát, và không chỉ về mặt quy mô mà thôi. Trong tác phẩm xuất sắc Thế giới mà chúng ta tạo ra tại trường trung học Hamilton, nhà xã hội học Gerald Grant từ Đại học Syracuse đã mô tả những thay đổi diễn ra tại một trường trung học. Vào thập niên 1950, trường Hamilton chỉ dành cho người da trắng thuộc tầng lớp trung lưu. Trường có quy định ngặt nghèo về đồng phục, quyền lực của hiệu trưởng là tuyệt đối, và các vấn đề về kỷ luật hầu như không xảy ra. Đến những năm 1970, trường này không còn đồng nhất về mặt chủng tộc và giai cấp như trước. Các môn học lựa chọn đã pha loãng chương trình căn bản ban đầu. Các “quyền” của học sinh nở rộ. Không còn những quy định nghiêm ngặt về đồng phục nữa.

Các giáo viên trở nên phòng thủ. “Nhiều người trong số họ rút lui khỏi những thách thức, né tránh việc quy lỗi (cho học sinh - ND) vì lo ngại sẽ thất thế trong cuộc chiến pháp lý, nhiều khi còn bị kiện ngược lại” - tác giả Grant viết. Vì thế di sản trước kia của ngôi trường đành âm thầm chịu trận.

Ngay cả khi có thể quay lại với thập niên 1950 (điều không hề xảy ra), đây cũng không phải là một khả năng đáng mong ước. Khi đó viên hiệu trưởng của trường

Hamilton như một nhà độc tài, việc giáo dục mang tính riêng biệt, tính tuân thủ được phổ biến cao. Tuy nhiên, sự thay đổi phản ánh một cuộc biến động rộng lớn hơn. Ranh giới giữa trẻ em với người lớn ngày nay bị xói mòn không chỉ ở trên các phương tiện truyền thông mà thôi. Thanh thiếu niên ngày nay kỳ vọng có được sự tự do như người lớn nhiều hơn, trong khi chúng vẫn không phải chịu bất kỳ gánh nặng nào của người lớn. Chúng có xe hơi, công việc và thu nhập. Xã hội nhìn chung chấp nhận điều này, từ đó dành cho thanh thiếu niên nhiều “không gian” hơn, qua việc tôn trọng tính cá nhân của chúng.

Trường học trở nên cởi mở hơn, ít được bảo vệ hơn. Chúng trở nên đa dạng hơn trước về chủng tộc và thành phần kinh tế của học sinh. Nền văn hóa của chúng ta đề cao tính đa dạng và khuyến khích mọi người tự hào về sự khác biệt của họ. Nhưng với thanh thiếu niên, những người đang tự khám phá bản thân mình, điều này có thể gây thêm sự căng thẳng và chiụ đựng. Người ta có thể cường điệu sự khác biệt, hay cảm thấy điều đó một cách sâu sắc hơn.

Chúng ta tìm kiếm ý nghĩa. Tuy nhiên lời giải thích cho vụ thảm sát ở trường Columbine, nếu có, nằm ở nơi giao nhau giữa mặt đen tối của bản chất con người và sự thay đổi của nền văn hóa. Khi ranh giới giữa người lớn và thanh thiếu niên bị xóa nhòa, các vấn đề và thảm họa cũng đan xen nhau. Đây là một tình trạng mà tuy có thể can thiệp nhưng không thể kết thúc được.

The Washington Post

Ngày 3 tháng 5 năm 1999

BÁO CHÍ LÁ CẢI

Tuần rồi, tờ Philadelphia Inquirer khởi đăng bài đầu tiên trong loạt bài 10 kỳ mang tựa đề “Nước Mỹ: ai đã lấy cắp giấc mơ?”, chắc chắn sẽ được độc giả quan tâm. Luận điểm của các tác giả rất đơn giản: chính phủ lớn (big government) và các doanh nghiệp lớn (big business) đang làm suy giảm mức sống và tình trạng công ăn việc làm của đa số người Mỹ. Các tác giả Donald Barlett và James Steele trong loạt bài này đã mô tả cuộc sống ở Mỹ như một địa ngục cho tất cả mọi người, trừ những người siêu giàu. Đây chính là báo chí lá cải, và câu hỏi đặt ra là tại sao một tờ báo có uy tín như vậy lại chấp nhận đăng thứ rác rưởi đó.

Tôi gọi loạt bài báo đó là lá cải vì nó không đạt được tiêu chuẩn cơ bản nhất về tính trung thực và năng lực của báo chí: nó không nỗ lực hướng tới sự thật, bất chấp sự thật lý tưởng đó khó đạt như thế nào đi nữa. Bài báo cũng không tìm kiếm thể hiện một bức tranh cân bằng với cả những điểm mạnh và những tồn tại của nền kinh tế, hay đưa ra một chân dung xác thực về mức sống của người dân. Thay vào đó, các tác giả trưng ra hàng loạt những câu chuyện của những người đang chịu thiệt hại, gặp khó khăn v.v..., cứ như những vấn đề của họ đang đại diện cho tất cả chúng ta vậy.

Hoàn toàn không. Các số liệu về việc mức sống đang đi xuống bị phủ nhận bởi những gì người Mỹ đang mua hay đang sở hữu. Tỷ lệ sở hữu nhà hiện là 65% số hộ gia đình, gần đạt mức kỷ lục. Năm 1980, 11% hộ gia đình sở hữu lò microwave, 87% hộ gia đình có máy rửa chén bát, và 56% có máy hút bụi. Năm 1993, những tỷ lệ này lần lượt là 78%, 50% và 68%. Người ta mua sắm nhiều hơn vì thu nhập cao hơn (các con số thống kê đánh giá thu nhập ít đi do ảnh hưởng bị thổi phồng của lạm phát lên tiền lương thực tế). Còn về những lo lắng của người dân thì đúng là có tồn tại - và sẽ còn tồn tại. Tuy nhiên nước Mỹ không ở trong tâm trạng suy thoái: cuộc điều tra của viện Gallup cho biết có tới 66% người Mỹ hy vọng tình hình tài chính của họ khá hơn trong năm tới.

Tuy nhiên, tờ Inquirer không phải là tờ báo duy nhất đưa lên bức tranh sai lệch về nền kinh tế. Đầu năm nay, tờ New York Times đã đăng loạt bài (mà tôi đã có dịp phê phán) về việc các công ty đang cắt giảm quy mô hoạt động. Một ví dụ khác là báo cáo của CBS với tiêu đề “Ai đang giàu lên? Tại sao không phải là bạn?”. Lý giải cho loại tác phẩm báo chí kém cỏi này có thể rơi vào một trong ba điều sau đây: a) tính giật gân (để bán báo chạy hơn), b)tính lý tưởng - các nhà báo coi khinh động cơ lợi nhuận, và c)sự ngu ngốc - họ chẳng biết gì hơn. Tính giật gân và tinh thần chống kinh doanh (coi khinh lợi nhuận) không phải là gì mới mẻ, song vấn đề lớn hơn, theo tôi, là sự ngu ngốc và những thứ tương tự.

Báo chí đối mặt một cách vụng về trước tính chất phức tạp của các câu chuyện kinh tế. Chúng ta luôn cảm thấy thoải mái với các đề tài khác như xì căng đan, xử án, chính trị, thể thao hay chiến tranh: chúng đều có sự mâu thuẫn rõ ràng, những kết cục cụ thể, đồng thời người ta dễ đưa ra các nhận xét về mặt đạo đức hay luân lý. Kinh tế không đơn giản như vậy. Câu chuyện làm giàu là câu chuyện không có hồi kết và vô cùng phức tạp. Chi phí và lợi ích đan xen nhau. Điều tốt hôm nay có thể trở thành điều xấu vào hôm sau. Điều có hại với người này có thể có lợi với một số người khác. Lạm phát thấp là tốt, song để chấm dứt hẳn tệ lạm phát cao, sẽ đòi hỏi phải làm một điều xấu: một thời kỳ suy thoái đầy khắc nghiệt.

Khả năng phân biệt những điều trên của các nhà báo đã tiến bộ rất nhiều từ năm 1969, hồi tôi mới bắt đầu viết báo về đề tài kinh tế. Các bài báo viết về kinh tế hàng ngày đã cải thiện nhiều về chất lượng. Nhưng vẫn còn ngoại lệ, đó là các biên tập viên chính (top editor) trên toàn quốc. Trừ những tờ báo chuyên ngành như Wall Street Journal, nhìn chung những người phụ trách các tòa báo, tạp chí và kênh truyền hình ở Mỹ không mấy hiểu biết về kinh tế, mà cũng không bận tâm tới sự thiếu hiểu biết đó của họ.

Giả định ở đây là các bài báo kinh tế được các phóng viên chuyên trách kinh tế viết, cho những độc giả chuyên ngành. Khi giả định này là đúng, thì việc biên tập viên thiếu hiểu biết về kinh tế cũng không quan trọng. Sẽ chẳng có gì tai hại diễn ra nếu họ không biết và cũng không làm gì cả. Nhưng với các dự án lớn, chẳng hạn loạt phóng sự, bài báo trên trang nhất, phim tài liệu trên truyền hình, giả định trên sẽ sụp đổ. Việc kiểm soát biên tập sẽ được đưa lên các cấp cao hơn, khi đó sẽ có sự đấu tranh về những “công thức đưa tin” quen thuộc. Các biên tập viên muốn có những anh hùng và những kẻ ác, những nạn nhân và thủ phạm. Các phóng viên nào hứa hẹn đưa ra những câu chuyện đơn giản, rõ ràng về luân lý sẽ có nhiều khả năng được chọn đăng bài. Kết quả thông thường sẽ là báo chí với chất lượng thấp, báo chí lá cải!

Trở lại với loạt bài đã đề cập của tờ Inquirer. Họ buộc tội chính sách “kinh tế toàn cầu” và “tự do thương mại” khiến lương bổng giảm đi, công ăn việc làm bị cắt xén. Điều họ không nói là: hầu như chẳng có liên hệ gì giữa cán cân thương mại và công ăn việc làm cả. Barlett và Steele phàn nàn rằng lần gần đây nhất Mỹ có thặng dư thương mại là từ năm 1975, nhưng họ “quên” không cho độc giả biết là cũng vào năm đó tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ là 8,5%. Họ cho biết nhiều nước khác có thặng dư cán cân thương mại: trong thời gian 1980-1995, Đức thặng dư liên tục 16 năm, Hà Lan 14 năm và Thụy Điển 13 năm. Tuy nhiên họ không cho độc giả biết tỷ lệ thất nghiệp ở 3 quốc gia trên lần lượt là 9%, 6% và 9%. Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ chỉ là 5,1%.

Thương mại không ảnh hưởng đến thất nghiệp, bởi thương mại chủ yếu chỉ ảnh hưởng đến một phần nhỏ trong cơ cấu việc làm, đó là ngành chế tạo (manufacturing). Năm 1995, lĩnh vực chế tạo chiếm 16% tổng số việc làm trên toàn nước Mỹ. Thương mại tạo thêm một số việc làm, đồng thời làm mất đi một số khác. Tuy nhiên, tổng số việc làm vẫn tùy thuộc vào sức mạnh của toàn bộ nền kinh tế. Nước Mỹ thâm hụt thương mại một phần cũng do phần còn lại của thế giới sử dụng đồng đô-la trong thanh toán toàn cầu, hay dùng để thay thế đồng nội tệ yếu của họ. Kết quả là chúng ta không phải bán (hàng hóa) nhiều như chúng ta mua, phần chênh lệch được bù bởi số đô-la mà nước ngoài nắm giữ. Nhập khẩu vượt trội sẽ làm tăng, chứ không giảm, mức sống của người Mỹ.

Nếu Barlett và Steele muốn cung cấp thông tin thực sự cho độc giả, lẽ ra họ phải giải thích toàn bộ những điều trên. Cũng có thể họ sẽ giải thích cặn kẽ trong các số báo tiếp theo, song tôi nghi ngờ điều đó. Thay vào đó, họ chỉ thích thú với việc lên án. Những gì họ tranh luận (chính sách thương mại, khoảng cách và bất bình đẳng thu nhập, chế độ đãi ngộ quá cao cho một số người) đương nhiên đều là những thứ mà báo chí được phép bàn tới. Cái không đúng ở đây là các nhà báo đã đưa tin một cách quá chọn lọc - họ không chú ý tới những chứng cứ đối nghịch, hay bối cảnh rộng lớn hơn của câu chuyện[91], tới mức khiến độc giả bị lạc lối. Báo chí hoàn toàn có thể làm tốt hơn nữa. Gần đây tờ Los Angeles Times đã đăng một loạt bài rất hay, nói về những thay đổi kinh tế, cùng những cái lợi và cái hại đi theo quá trình thay đổi này.

Lỗi chính ở đây thuộc về các tổng biên tập thuộc các cơ quan truyền thông lớn (như tờ Inquirer, Times v.v...), những người đã cho phép hay phê duyệt những nội dung “méo mó” trên. Chẳng có lý do gì biện hộ cho sự yếu kém của họ cả. “Câu chuyện kinh tế” không còn là điều gì mới mẻ, đề tài này đang là trung tâm của tình hình nước Mỹ, và do đó sẽ là mối quan tâm lớn của báo giới. Nếu các biên tập viên không hiểu biết về kinh tế, họ sẽ không thể đưa ra các nhận định đúng đắn được. Còn hiện nay, sự thiếu hiểu biết đang được chấp nhận sẽ dẫn đến báo chí lá cải mà thôi.

Newsweek

Ngày 23 tháng 9 năm 1996

TÌNH DỤC, SỰ THÊU DỆT VÀ SỐ LƯỢNG PHÁT HÀNH BÁO CHÍ

Một bí mật nho nhỏ và tốt đẹp về tình dục của thanh thiếu niên là: ngày nay tình dục ở lứa tuổi này có ít hơn trước kia, tất nhiên là ít hơn không nhiều, nhưng cũng đủ để làm đảo chiều vòng xoáy gia tăng từ trước đến nay. Tuy nhiên, bạn sẽ không biết được điều này nếu chỉ đọc bài báo trên tạp chí Time gần đây “Tất cả những gì mà con cái bạn biết về sex”. Theo bài báo này thì thanh thiếu niên ngày nay biết về sex nhiều hơn bao giờ hết. Và do đó (bài báo hàm ý) hẳn tình dục tuổi teen sẽ phải nhiều hơn bao giờ hết. Ý thứ nhất có thể đúng, nhưng ý thứ hai thì hoàn toàn sai.

Điều tra của Trung tâm quốc gia về thống kê y tế cho thấy hoạt động tình dục trong lứa tuổi thanh thiếu niên có xu hướng giảm trong thập niên 1990. Năm 1995, tỷ lệ thiếu nữ trong độ tuổi 15-19 từng có quan hệ tình dục là 50%, thấp hơn so với mức của năm 1988 (53%) và 1990 (55%). Mức của năm 1995 nói trên đã kết thúc loạt thời gian tỷ lệ này liên tục gia tăng trước đó (năm 1970, tỷ lệ này chỉ là 29%). Nam thanh thiếu niên cũng cho thấy sự sụt giảm tương tự. Ngoài ra, mức độ thường xuyên của việc quan hệ tình dục cũng giảm đi. Trong số các cậu trai, chỉ 38% có quan hệ tình dục trong vòng ba tháng gần nhất so với thời gian điều tra, vào năm 1995 (năm 1988, tỷ lệ này là 43%).

Chúng tôi, những người trong báo giới, luôn tự hào về phẩm chất trung thực, và do đó cảm thấy giận dữ khi thấy có ai đó cùng ngành nói sai sự thật. Mà điều này không phải là hiếm trong thời gian gần đây. Một phóng viên của New Republic tên Stephen Glass bị phát hiện là đã ngụy tạo ra nguồn tin tức. Patricia Smith, phóng viên chuyên mục của tờ Boston Globe, phải từ nhiệm sau khi phạm lỗi thêu dệt ra các câu trích dẫn của một số người. Nhưng dối trá là lỗi ít khi xảy ra. Cái thường xuyên xảy ra hơn (và ít được để ý hơn) là kiểu viết báo luộm thuộm hay một chiều, như trường hợp bài báo trên tờ Time kể trên. Các sự kiện và trích dẫn thì đúng, nhưng thông điệp của toàn bộ bài báo thì đáng ngờ và nhiều khi là sai lầm.

Time không phải là cá biệt. Hầu hết các phóng viên lâu năm, kể cả tôi (tôi viết cho Newsweek) đều đã từng gặp sai lầm. Một bài đánh giá công luận gần đây trên Wall Street Journal cho biết “vấn đề chính trị trọng tâm của những năm 1990 là y tế”, trích dẫn những thông tin thể hiện sự không hài lòng ở quy mô lớn đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe. À, có lẽ đúng là như vậy. Nhưng sai khi xem lại các kết quả thăm dò ý kiến về y tế, Karlyn Bowman từ Hiệp hội doanh nghiệp Mỹ (American Enterprise Institute) nhận xét rằng sự không hài lòng nói trên đã bị cường điệu quá mức. Ví dụ, viện Gallup thường xuyên thực hiện các điều tra bằng việc hỏi ý kiến người dân về những vấn đề mà họ cho là quan trọng nhất hiện nay của đất nước. Kết quả đợt điều tra tháng Tư vừa rồi như sau: thâm hụt ngân sách -5%, y tế -6%, kinh tế -11%, tội phạm -20%.

Một nhà báo giấu tên từng nói “Bí mật của nghề báo chúng tôi là: thoạt tiên bạn đơn giản hóa mọi chuyện, sau đó bạn phóng đại chúng lên!”. Sức ép về thời gian hoàn thành các bài báo là một lý do cũ, nhưng thường vẫn đúng, cho những lỗi sai. Các nguyên nhân khác dường như ít hơn. Tham vọng? Đa số phóng viên đều mong có những bài báo lớn. Còn sức ép về thương mại thì sao? Các đế chế truyền thông hung mạnh đe dọa tính trung thực của báo chí không nhiều bằng các nguồn thông tin thay thế khác, chẳng hạn từ truyền hình cáp hay internet. Các biên tập viên chịu sức cạnh tranh rất lớn trong việc làm sao cho người đọc chú ý đến tờ báo của họ. Ai cũng cần những câu chuyện, bài báo “hot” để có thể gia tăng số lượng phát hành hay mức đánh giá (rating) của chương trình TV, từ đó bán quảng cáo được nhiều hơn. Toàn bộ nội dung, gồm các bài báo trang nhất, tiêu đề, hình ảnh, lời văn v.v.... trở nên quan trọng, nhưng tính trung thực thì bị ảnh hưởng.

Tôi nghi ngờ (nhưng không thể chứng minh được) rằng chính hoàn cảnh, môi trường kiểu này đã thúc đẩy tờ Time đưa ra bài báo về tình dục thanh thiếu niên nói trên. Bài báo khiến tôi chú ý ngay tức khắc, vì tôi có đưa con gái 13 tuổi, cùng hai cậu con trai lên 11 và 8 tuổi. Con gái tôi rất háo hức theo dõi chương trình phim truyền hình Dawson’s Creek, trong đó có chuyện một cậu học sinh trung học yêu cô giáo. Serie phim này cũng được đề cập trong bài báo của Time. Tờ báo dường như đã nhảy từ việc có nhiều chương trình TV về tình dục thanh thiếu niên qua việc kết luận trên thực tế tình dục thanh thiếu niên đang có xu hướng lan rộng.

Tuy bài báo không tuyên bố trực tiếp điều này (tất nhiên, khi không có chứng cứ hữu hiệu), nó vẫn đưa ra những liên hệ theo nhiều cách khác nhau. Ngay đầu bài báo là một tấm hình bự, trải rộng trên 4 cột báo, với một cặp teen trong trang phục thiếu vải đang ôm ấp nhau! Bốn câu trích dẫn đầu tiên được in đậm đều cho thấy sự dễ dàng trong cuộc sống tình dục hiện nay:

“Nếu bạn cảm thấy trong người “bốc hỏa”, sẽ chỉ có một việc bạn muốn làm mà thôi” - Stephanie, quan hệ tình dục lần đầu năm 14 tuổi.

“Nếu ngài Tổng thống có thể làm điều đó, tại sao chúng tôi lại không thể?” - lý luận của một nam sinh trung học tại Denver.

“Giới trẻ ngày nay hầu như hoàn toàn tự nhiên về sex” - ý kiến của một tư vấn viên tại một trường trung học ở thành phố Salt Lake.

“Nếu bạn xem TV, trên đó có mọi thứ bạn muốn biết” - Brett, 14 tuổi, từ Denver.

Ron Stodghill II, tác giả của bài báo, nói rằng ông có biết các kết quả điều tra cho thấy tình dục thanh thiếu niên có giảm đi, song ông không coi đó là quan trọng, bởi việc giảm đi này là từ một mức rất cao trước đó, hơn nhiều so với hồi đầu những năm 1970 (điều này hoàn toàn đúng!). Tác giả nhấn mạnh việc “trẻ em đã bị dội bom bởi các hình ảnh tình dục” như thế nào, cũng như việc cha mẹ càng ngày càng ít có ảnh hưởng lên hành vi của con cái họ. Giữa chừng bài báo, tác giả có nêu ngắn gọn rằng tỷ lệ sinh sản ở tuổi teen có giảm 12% từ năm 1991 - một sự kiện được gán cho việc bọn trẻ sử dụng thuốc ngừa thai nhiều hơn. Biên tập viên của bài báo - Howard Chua-Eoan - nói rằng ông ta không hề biết các cuộc điều tra cho thấy tình dục thanh thiếu niên có giảm đi; còn bản thân tác giả Stodghill thì nói ông ta chỉ nghe nói như vậy mà thôi.

Dù gì đi nữa, câu chuyện mà bài báo đưa lên cũng sai lệch. Theo Kristin Moore của tổ chức Child Trends, thì “Đúng là có những đứa trẻ thật sự như trong câu chuyện, song ở một cực khác cũng có những thanh thiếu niên chính thống, những em giữ gìn sự trinh tiết”. Và đa số teen rơi vào nhóm ở giữa. Nhìn chung chúng cảm thấy ngập ngừng, sợ hãi và đôi chút kỳ cục đối với hành vi quan hệ tình dục quá sớm. Các cuộc điều tra đã khẳng định bức tranh khá phức tạp này!

Một số thanh thiếu niên có quan hệ tình dục sớm hơn bao giờ hết. Giữa 1988 và 1995, tỷ lệ các em gái có quan hệ tình dục trước tuổi 15 tăng từ 11% lên 19%, theo Joyce Abma (Trung tâm quốc gia về thống kê y tế) và Freya Sonenstein (viện Đô thị). Không phải mọi trường hợp quan hệ ở đây đều là tự nguyện, một số là các vụ cưỡng hiếp, một số khác được các em gái sau đó báo cáo là “không mong muốn, bị ép”. Ngược lại, xu hướng giảm đi lại chủ yếu ở khu vực ngoại ô: trong số các em gái tuổi từ 15 đến 19 ở khu vực này, tỷ lệ có quan hệ tình dục trong vòng ba tháng gần đây nhất (so với ngày điều tra) đã giảm từ 41% xuống còn 34% trong giai đoạn 1988-1995. Trong các thành phố trung tâm, hầu như không có mấy thay đổi.

Chúng ta không thể giải thích đầy đủ những xu hướng này. Isabel Sawhill thuộc Chiến dịch quốc gia phòng chống tình trạng có thai ở tuổi teen (National Campaign to Prevent Teen Pregnancy) cho biết nỗi sợ “dính” AIDS đã ngăn cản các thanh thiếu niên trong hành vi tình dục quá sớm. Bà ta cũng ngờ rằng các giá trị đang có chiều hướng thay đổi. Người ta đặt câu hỏi cho các tân sinh viên rằng liệu họ có đồng ý “quan hệ tình dục là OK nếu người ta thích nhau” hay không. Năm 1987, 52% số người được hỏi trả lời đồng ý, đến 1996, tỷ lệ này chỉ là 42%. Ngoài ra, cha mẹ cũng có ảnh hưởng: trong các gia đình còn đủ cả cha lẫn mẹ, tỷ lệ quan hệ tình dục của con cái ở tuổi teen (15 tuổi) chỉ bằng phân nửa so với các gia đình mà cha mẹ ly dị. Nếu con cái cảm thấy được yêu thương và chở che hơn, rõ ràng chúng sẽ ít dễ bị tổn thương hơn, ít mạo hiểm hay hành động khờ khạo hơn.

Bài báo của tờ Time xúc phạm tôi cả với tư cách một phụ huynh lẫn với tư cách một nhà báo. Người ta đã nói không đúng với bọn trẻ rằng tất cả mọi người đều “làm chuyện ấy”, hay sẽ sớm “làm chuyện ấy”, trong khi thực tế không phải ai cũng như vậy! Sức ép từ bạn bè đồng trang lứa, gây ra bởi những thông tin sai lệch, khó có thể dẫn tới những quyết định đúng. Câu chuyện đọc rất hay song rốt cuộc lại chỉ là một sản phẩm thêu dệt với cái giá phải trả là sự thật.

The Washington Post

Ngày 1 tháng 7 năm 1998

GATES KHÔNG PHẢI LÀ CHÚA TRỜI (VÀ NGAY CẢ HENRY FORD CŨNG KHÔNG)

Gates đã “gây một ảnh hưởng chưa từng có, và vẫn đang tiếp tục gia tăng, lên toàn thế giới văn minh của chúng ta”.

Newsweek

Ngày 18 Tháng 8 năm 1997

Bill Gates không phải là Chúa Trời - ông chưa phải là Đấng Tối Thượng. Thỉnh thoảng, giới truyền thông lại “xức dầu” cho một doanh nhân nào đó với quyền lực huyền thoại. Bill Gates hiện đang đạt được vị trí này. Jules Feiffer đã nắm bắt được điều này trong một đoạn truyện tranh gần đây có tiêu đề “Bill Gates đi thăm hẻm núi Grand”. Gates nhìn chăm chú vào hẻm núi, và hẻm núi nghĩ rằng: “Ông ta làm cho tôi cảm thấy mình là một thứ không đáng quan tâm”. Nhưng những hẻm núi vẫn còn đó khi Gates đã ra đi và sau đó bị lãng quên. Những nỗi ám ảnh với Bill Gates cho thấy chứng dở hơi của chúng ta, nhiều hơn cả những gì nó đã góp phần cho vị thế của chính nhân vật này trong lịch sử.

Bill Gates là người tự quảng bá tốt nhất. Khó có thể để ông “chạy thoát”, cho dù đó là việc ông tán gẫu với Tom Brokaw hoặc cho phép biên tập viên Walter Isaacson của tờ Time đi lướt qua đời tư của ông (“Tìm kiếm con người thực của Bill Gates”, bài đăng trang bìa cho số ra ngày 13 tháng 1) hoặc chấp thuận một chương trình hỏi đáp dài với tờ Newsweek (“Chúng tôi đã làm điều đó như thế nào”, số ra ngày 23 tháng 6). Ngoài sự sáo rỗng hoàn toàn hoặc mong muốn triết lý, sự cởi mở của Gates có lẽ chỉ phản ánh thói ích kỷ. Khi Microsoft có quyền lực, ông biết rằng điều này sẽ liên tục bị giám sát để người ta tìm ra những vi phạm, chiếu theo luật chống độc quyền. Ông tìm kiếm cơ hội để thể hiện một hình ảnh khiêm tốn và thậm chí là bình dân - theo cách thức của người chỉ đam mê chuyên môn - nhằm phản công lại những lời chỉ trích cho rằng ông này đang khủng bố ngành công nghiệp máy tính.

Nghiêm túc mà nói, nhận định (như tờ Newsweek đã đăng) rằng ảnh hưởng của ông là “điều chưa từng thấy” cũng đúng. Tất cả chúng ta đều là những con người độc nhất vô nhị; ảnh hưởng của tôi là thứ chưa từng có trước kia, và các ảnh hưởng của bạn cũng vậy. Nói cách khác, nhận định kia là ngớ ngẩn. Mặc dù các máy vi tính có thể làm người ta ngạc nhiên, nhưng ý nghĩa xã hội của nó vẫn còn thua kém so với nhiều công nghệ khác từng có trong quá khứ: đường sắt (tạo ra một thị trường toàn quốc); xe hơi (làm thay đổi mô hình sống và làm việc); TV (đã trở thành hình thức giải trí phổ biến rộng rãi nhất); và thuốc kháng sinh (chế ngự được nhiều dạng nhiễm trùng nguy hiểm). Và việc khai thác điện năng đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX.

Ngay cả khi máy tính hiện được xem là ngang hàng với các công nghệ trước kia, thì Microsoft cũng đã không có những tiến bộ kỹ thuật quan trọng nào trong lĩnh vực này. Công nghệ này khởi đầu với việc phát minh ra bóng bán dẫn vào cuối những năm 1940 và sau đó là mạch tích hợp vào năm 1957. Năm 1971, Intel đã phát triển bộ vi xử lý, đây là “bộ não” của máy tính cá nhân. Apple phổ biến rộng rãi khái niệm cho rằng: các máy tính cá nhân là dành cho tất cả mọi người. Các biểu tượng xuất hiện trên màn hình máy tính đã được hình thành bởi Xerox và thương mại hóa bởi Apple.

Gates là người rất biết tận dụng cơ hội. Ông hưởng lợi từ một trong những sai lầm lớn nhất trong kinh doanh của thời hiện đại: sơ suất của IBM khi không mua hệ điều hành (MS-DOS) cho các máy tính cá nhân của mình trong năm 1981. Không những thế, họ còn để cho Microsoft quyền độc về phần mềm, chứa đựng hệ thống hướng dẫn cơ bản cho hoạt động của máy tính. Khi IBM phát triển nhanh, Gates đã có trong tay một giấy phép để in tiền. Và Microsoft thậm chí cũng không phải là tác giả của chương trình DOS bản gốc, họ mua lại với giá 75.000USD từ một doanh nghiệp nhỏ khác, mới khởi nghiệp.

Điều này cũng không làm lu mờ các kỹ năng kinh doanh của Gates. Việc Microsoft lên cao trong khi các công ty khác (IBM, Digital Equipment, Apple) vấp ngã là việc không được ấn định từ trước. Microsoft đã có thể hoàn toàn bị mất thế độc quyền. Đã có lúc, IBM sáng tạo ra một hệ điều hành khác (OS/2); nhưng họ thất bại. Các sai lầm của Apple đã khiến thương hiệu này không còn là một đối thủ lớn. Microsoft khéo léo ký kết hợp đồng với các nhà sản xuất máy tính để ngăn chặn cạnh tranh. Các công ty phần cứng thường trả một khoản phí cấp giấy phép cho mỗi máy tính, ngay cả khi nó không sử dụng MS-DOS.

Điều này bảo vệ cho “sự độc quyền của hệ điều hành DOS”, như Stephen Manes và Paul Andrews viết về Gates. “Nếu bạn đã trả tiền [tiền bản quyền cho Microsoft] trên mỗi máy... bạn không còn khả năng cung cấp một điều hành hệ thống nào khác”. (hoạt động này đã bị cấm từ năm 1994 theo Nghị định chống độc quyền với sự đồng ý của Sở Tư pháp.)

Nhưng thành tựu kinh doanh của Bill Gates chưa đủ điều kiện để giúp ông trở thành một người sáng tạo và ngang hàng với Edison hay Ford chẳng hạn. Ford có lẽ là sự so sánh tốt nhất, những điểm tương đồng - và khác biệt - đều được phơi bày. Cả hai đều là những người sớm đam mê công nghệ mới. Ford mò mẫm trong lều chứa củi để cho ra đời một mẫu xe đầu tiên của mình trong năm 1896; Gates đã viết phần mềm như một thiếu niên trẻ tập tễnh vào nghề. Cá nhân Ford đã không phát minh ra bất kỳ cải tiến kỹ thuật quan trọng nào cho xe hơi; và câu chuyện này là tương tự như đối với Bill Gates và máy tính. Điều tạo sự cách biệt giữa hai nhân vật này là Ford tiên phong trong một hệ thống sản xuất hàng loạt làm thay đổi toàn bộ ngành công nghiệp và bộ mặt của nước Mỹ.

Trước khi có Model T năm 1908, xe hơi là thứ đắt tiền và khan hiếm. Quyết định của Ford về việc chỉ thực hiện duy nhất một kiểu dáng và hợp lý hóa sản xuất - bao gồm cả việc áp dụng các dây chuyền lắp ráp - đã làm thay đổi tình hình trên. Từ năm 1908 đến năm 1913, sản lượng của Ford tăng từ 10.202 xe lên đến 202.667; đến năm 1923 đã đạt mức 1.800.000 chiếc. Cách tiếp cận của ông đã được sao chép rộng rãi. Ngược lại, sự bùng nổ máy tính đã được thúc đẩy bởi sự phát triển sức mạnh của các con chip làm cho máy tính đa năng hơn và thân thiện hơn với người sử dụng. Microsoft có thể giúp tăng tốc thêm chút ít cho tiến trình này bằng cách tạo ra một phần mềm thống trị và được thừa nhận, thúc đẩy người tiêu dùng chấp nhận. Nhưng tiến trình vẫn sẽ đi nhanh, như Internet đã chứng minh. Gates đã muộn màng và không kịp nhận ra tầm quan trọng của internet, dù sao thì internet vẫn tăng trưởng.

Quan điểm ở đây không phải là để bôi nhọ hoặc tôn sùng Bill Gates. Sức mạnh tài chính của ông ta là điều không thể hoài nghi. Mỗi doanh nghiệp đều khao khát được kinh doanh độc quyền sản phẩm và tăng trưởng nhanh chóng. Microsoft đã có cả hai. Theo Dataquest, trong những năm 1990, doanh số máy tính toàn cầu đã tăng 20% mỗi năm. Hơn 90% trong số 250.000.000 máy tính trên thế giới đã sử dụng MS-DOS hay phiên bản đi sau của nó là Windows. Microsoft thu về 9 tỷ USD tiền mặt, dù đã chi ra 1,9 tỷ USD hàng năm cho công tác nghiên cứu & phát triển và một số nghiệp vụ mua lại rất tốn kém, trong đó có khoản đầu tư 1 tỷ USD để sở hữu 11,5% cổ phần của Comcast, một đơn vị vận hành truyền hình cáp. Họ cũng cho biết sẽ mua lại WebTV Networks - doanh nghiệp có công nghệ cho phép sử dụng Internet qua TV - với giá 425 triệu USD.

Quan điểm ở đây cũng không phải là để giải quyết các cuộc tranh luận gay gắt về việc liệu Gates có là một người với tầm nhìn xa trông rộng và mạnh mẽ, hay là một đối thủ cạnh tranh kiểu “thú săn mồi”. Cũng có thể là cả hai. Hai phần ba hoạt động kinh doanh của Microsoft hiện nay là trên thị trường phần mềm đầy cạnh tranh. Microsoft trao tặng một số chương trình trọng điểm (ví dụ: Trình duyệt Internet Explorer) để giành thị phần. Nhưng Gates vẫn đang liên tục phấn đấu - bây giờ rõ ràng là đang nhằm mục đích tổ chức “kết hôn” giữa máy tính và TV - duy trì áp lực cho sự thay đổi.

Thông điệp khiêm tốn hơn là: Gates là mẫu người làm việc không ngơi nghỉ. Ông không phải là người “đơn thương độc mã” để lại dấn ấn trong đời sống xã hội. Sử dụng Internet thay vì điện thoại để mua vé máy bay chỉ là một sự thay đổi, chứ không phải là một cuộc cách mạng. Điều làm cho câu chuyện của ông mang nhiều màu sắc Hoa Kỳ và khá hấp dẫn là sự nhiệt tình cao độ và tham vọng mang tính tự nhiên của chính ông. Ông có vẻ giống Vince Lombardi hơn là Thomas Edison. “Chiến thắng không phải là tất cả”, Lombardi đã nói, “đó là thứ duy nhất cần có”[92]. Gates đã mang tín điều đó vào trong không gian ảo.

The Washington Post

Ngày 27 Tháng 8 năm 1997

LỄ CẦU SIÊU CHO MÁY ĐÁNH CHỮ

Dó là điều không thể tránh khỏi. Sớm muộn gì thì cái tên lớn cuối cùng trong ngành máy đánh chữ của Hoa Kỳ cũng bị “bức tử”, đem đến một kết luận chính thức cho vấn đề đã kết thúc từ lâu. Tuần trước, Smith Corona đã phá sản, đơn vị này từng sản xuất máy đánh chữ cơ học xách tay hỗ trợ hàng triệu người Mỹ trong trường đại học và các nơi khác, trong số những người này có cả tôi. Trong tòa nhà bên cạnh văn phòng của tôi, một sinh viên nội trú đang trong kỳ nghỉ hè bận rộn thao tác trên chiếc Macintosh Power - Book (không ai “làm ồn” với máy tính xách tay cả). Đó là điều giết chết máy đánh chữ.

Thành thật mà nói, bài báo này đã được viết từ một máy đánh chữ Royal cũ, kiểu cơ học. Giữa cuộc chiến giữa máy tính và máy đánh chữ, lòng trung thành của tôi vẫn dành cho người thua cuộc. Nếu chỉ để soạn thảo văn bản, máy đánh chữ vẫn có những lợi thế hơn so với máy tính. Viết là quá trình mài dũa để tạo ra các dòng chữ đúng đắn nhằm chuyển tải một câu chuyện, cảm xúc, lời giải thích, hoặc nội dung tranh luận. Sai sót, nhầm lẫn bắt đầu xuất hiện, và việc sửa đổi không chỉ là chuyện tất nhiên mà còn là điều cần thiết. Bạn cần sửa sai. Một cụm từ không phù hợp với lúc 10 giờ sáng có thể sẽ đúng là những gì bạn cần vào lúc 3 giờ chiều.

Thuộc tính hay của máy đánh chữ là nó lưu giữ lại các sai lầm của tôi. Tôi xé những bản thảo không mạch lạc và rải trên bàn làm việc của tôi, nơi đó tôi có thể thu nhặt lại được các cụm từ hữu ích. Một nét hấp dẫn khác của máy đánh chữ là nó buộc tôi phải viết lại bằng cách đánh máy lại một lần nữa. Mỗi lần viết lại như vậy lại giúp tôi có một số gợi ý về các từ ngữ hay hơn, hoặc chỉ cho tôi thấy một cấu trúc câu không chặt chẽ. Không nghi ngờ gì cả, máy tính cũng có thể mang lại những lợi ích tương tự. Bản thảo có thể được in ra. Nhưng tại sao phiền phức thế nhỉ? Các máy đánh chữ đơn giản hơn. Tôi không quá căm ghét máy tính. Một khi phần chính của việc viết đã xong, tôi đánh máy thảo với một chiếc máy tính IBM cũ kỹ, điều này giúp cho việc chỉnh sửa lần cuối được dễ dàng hơn nhiều.

Dĩ nhiên là hồi tuần trước, tất cả những vấn đề này đã được giải quyết triệt để đối với các máy đánh chữ. Chất lượng văn bản có thể không tiên tiến hơn khi sử dụng máy tính, nhưng chắc chắn là việc “xử lý” và in ấn văn bản là dễ dàng hơn. Những từ ngữ vô nghĩa có thể được nhanh chóng tinh chỉnh lại gọn gàng và trông ấn tượng hơn. Sự phá sản của Smith Corona chỉ đơn thuần là một dấu ấn mang tính biểu tượng. Suy cho cùng thì một công ty vẫn có thể hồi sinh sau khi đã phá sản, và một vài nhà sản xuất máy đánh chữ khác vẫn tồn tại được. Tuy nhiên, máy đánh chữ truyền thống đã chết.

Cái chết này là điều đáng chú ý. Cần nhớ lại là, trong thời đại của nó, từng yếu tố nhỏ của máy đánh chữ đều được coi là cách mạng, như máy tính ngày nay. Thiết kế và sản xuất máy đánh chữ là một chiến công lớn, làm chuyển đổi công việc và vai trò của phụ nữ trong xã hội. Cũng như hầu hết các sáng chế vĩ đại khác, việc thương mại cho sản phẩm này lúc ban đầu là chậm chạp và khó khăn. Các máy đánh chữ hiện đại đầu tiên được sản xuất vào năm 1867 bởi một nhà phát minh của Milwaukee tên là Christopher Latham Sholes. Cũng chính Sholes là người phát minh ra bàn phím phổ biến ngày nay (kiểuQWERTY).

Ban đầu, máy đánh chữ đã thành công về mặt kỹ thuật nhưng thất bại trong góc độ tài chính. Chi phí sản xuất khi đó là quá cao. Số lượng bán tại đầu ra đã không khởi sắc, mãi cho đến cuối thập niên 1880, sau khi quyền sản xuất đã được bán cho một công ty khác. Nhà Sử Kinh tế học Donald Hoke nói rằng: máy đánh chữ là “một cơ chế phức tạp nhất được nền công nghiệp Hoa Kỳ sản xuất ra” trong thế kỷ XIX bởi vì (theo lời một vị quản lý nhà máy) “hàng ngàn bộ phận trong máy đánh chữ phải làm việc cùng nhau với sự chính xác nghiêm ngặt, mà vẫn đảm bảo chịu được các thao tác mạnh khi hoạt động”.

Mark Twain là một người tiên phong. Trong thư viết gửi anh trai năm 1874, ông đã viết “máy đánh chữ chất được hàng đống từ ngữ lên một trang. Nó không làm xáo trộn mọi thứ và không làm mực vấy bẩn xung quanh”. Twain đã nộp bản thảo cuốn sách đầu tiên được đánh máy cho một nhà xuất bản. Ông cho biết đó là tác phẩm “Tom Sawyer” (1876), mặc dù một số nhà sử học nghĩ rằng ông đã nhầm lẫn và sự khác biệt khi dùng máy đánh chữ là thuộc về cuốn “Cuộc sống trên sông Mississippi” (1883). Nhưng tác động lớn nhất của máy đánh chữ là đối với phụ nữ và văn phòng Mỹ, nơi mà cho đến cuối thế kỷ XIX vẫn được coi là thành trì của nam giới.

Hãy xem nhé. Năm 1870, nam giới chiếm 98% trong tổng số tất cả các nhân viên văn thư. Hầu hết những người này làm công việc viết chính tả cho tài liệu, sao chép, hay chạy việc vặt. Đến năm 1920, một nửa nhân viên văn thư là phụ nữ. Các máy đánh chữ đã tạo ra nhu cầu cho người lao động biết chữ mà thời điểm đó thì nữ giới có thể dễ dàng được tuyển dụng vì số nữ tốt nghiệp trung học cao hơn nam giới nhiều. Đã có các trường dạy đánh máy, với 615.000 người theo học trong năm 1920. Lúc đầu công việc này là khởi điểm của việc giải phóng phụ nữ, mặc dù vậy sau này nó lại bị kỳ thị là đàn áp phái yếu. Thời điểm đó, giảng dạy là việc làm duy nhất dành cho các phụ nữ có học vấn. Và những người đánh máy được trả lương hấp dẫn: trong thập niên 1890, mức lương là 6 đến 15 USD mỗi tuần, so với mức 1,50 tới 8 USD cho công nhân nhà máy.

Máy đánh chữ không được đánh giá cao vì nó luôn luôn bị lu mờ dưới cái bóng của nhiều công nghệ hoành tráng khác. Trong vòng quay của thế kỷ này, đã có điện thoại, đèn điện, và xe hơi. Bây giờ thì có máy vi tính. Tôi cảm thấy có lỗi khi mình đã không tham gia đầy đủ - ồ, đó là một cách nói giảm nói tránh khá thô sơ - vào những sự kiện công nghệ lớn của thời đại. Tuy vậy, cảm xúc mờ nhạt dần mỗi khi hệ thống máy tính của Newsweek bị trục trặc hoặc khi tôi nghe thấy ai đó phàn nàn rằng việc theo học những chương trình “xử lý văn bản” là chán ngắt, trong đó các ý nghĩa tiến bộ của chương trình chẳng giúp ích được gì cho việc soạn thảo văn bản.

Tất nhiên, máy vi tính có thể cung cấp một lượng lớn các thông tin. Cơ sở dữ liệu và các tài liệu có thể được tải về; các trang web có thể được truy cập. (Tôi đang khoe khoang các thuật ngữ máy tính của tôi ở đây). Nhưng việc lấy thông tin chưa bao giờ là vấn đề đối với tôi; phần khó khăn là xác định được ý nghĩa của chúng. Trong số những người đam mê máy tính, tôi đã không tìm thấy bất kỳ ai gia tăng được kiến thức hay sự khôn ngoan. Chủ yếu, họ có vẻ có thêm thời gian để lãng phí với các tin đồn đại trong không gian ảo. Tại nhà, vợ và các con của tôi có một máy tính mạnh hơn chiếc IBM nguyên thủy của tôi, đó là tất cả những gì tôi thật sự cần. Tôi cứ chờ đợi một điều gì đó sẽ lôi kéo mình để trở thành một người đam mê máy tính.

Cho đến lúc thay đổi như vậy, tôi vẫn gắn bó với chiếc máy đánh chữ Royal của mình. Nó sẽ không giúp tôi nhận e-mail. Nhưng tôi có muốn e-mail đâu? Nó cũng sẽ không chơi trò chơi khi tôi viết. Tốt lắm. Mua phụ tùng cho máy là một vấn đề. Cửa hàng sửa chữa tại địa phương của tôi mới đây đã đóng cửa. Tôi đã tìm thấy một cửa hàng mới cách chỗ cũ khoảng 20 dặm, mặc dù nó chủ yếu xử lý các máy điện tử nhưng vẫn sửa chữa các máy cơ học. Người quản lý nói với tôi qua điện thoại rằng: hiện không có nhiều khách hàng đem máy cơ học đến sửa. Vâng, sẽ có thêm một khách mới.

Newsweek

Ngày 17 Tháng 7 năm 1995

BÀI HỌC CỦA CUỘC ĐỜI: MÓN QUÀ CỦA MỘT NGƯỜI THẦY VĨ ĐẠI

Nếu bạn là người may mắn trong cuộc sống, bạn sẽ có ít nhất một người thầy vĩ đại. Hơn ba thập kỷ trước, tôi đã có người thầy là Ed Banfield, một nhà khoa học chính trị mà hoạt động chính của ông là giảng dạy tại Đại học Chicago và Harvard. Sự ra đi tại tuổi 83 của Ed gần đây đã làm tôi buồn lòng (nằm trong dự kiến) và khiến tôi có cảm giác mất mát thật sự (điều này là bất ngờ đối với tôi). Mặc dù vẫn thường xuyên liên lạc, nhưng chúng tôi đã chưa bao giờ bạn bè thân thiết hoặc bạn tâm giao. Khoảng cách giữa chúng tôi xét về mặt nhận thức trí tuệ đã quá lớn. Nhưng ông đã xuất hiện đáng kể trong cuộc đời tôi, và tôi đã bối rối không biết tại sao cái chết của ông lại ảnh hưởng nhiều đến mình như thế.

Tôi nghĩ rằng câu trả lời - cũng là lý do để viết về một đề tài mang tính cá nhân - đi vào trọng tâm của những gì có nghĩa là một người thầy tuyệt vời. Nói đến người thầy, tôi không đề cập chủ yếu đến những người đứng lớp, bởi vì sự học trong cuộc sống xảy ra chủ yếu ở bên ngoài trường học. Lần đầu tiên tôi gặp Ed trong một giảng đường, nhưng sự vĩ đại của ông đã không nằm trong các bài giảng xuất sắc (điều mà ông đã làm). Thay vì thế, sự vĩ đại hình như có trong việc truyền thụ các bài học làm thay đổi cuộc đời. Nếu tôi không được biết ông, tôi sẽ là một người khác chứ không phải là tôi hiện nay. Ông đã giúp tôi trở thành đúng con người của tôi và, quan trọng hơn, thành kiểu người mà tôi muốn được trở thành.

Khi bạn bị mất đi một người như vậy, đâu đó trong bạn xuất hiện khoảng trống. Khoảng trống này nhỏ hơn khi so sánh với việc mất đi cha mẹ, con cái, hay người bạn thân. Nhưng nó vẫn là một khoảng trống, bởi vì rất hiếm có những người thầy vĩ đại. Ví dụ, tôi có làm việc cho một số biên tập viên rất tài năng. Một số họ đã nhận được lòng biết ơn lâu dài của tôi về việc cải thiện các báo cáo hoặc việc viết lách của tôi. Nhưng không ai trong số họ là người thầy vĩ đại, không có ai đã làm thay đổi cuộc sống của tôi.

Điều đầu tiên khiến Ed trở nên vĩ đại là các ý tưởng của ông ta. Ông đã làm cho tôi thấy những điều mới hoặc điều cũ, theo những cách mới. Nhà khoa học chính trị James Q. Wilson - học trò đầu tiên của Ed, sau đó là cộng tác viên của ông - đã coi Banfield là nhà nghiên cứu sâu sắc nhất của nền chính trị Hoa Kỳ trong thế kỷ này. Mặc dù còn nhiều tranh cãi, nhưng nhận định này chắc chắn là đáng tin cậy.

Người Mỹ được đảm bảo dân chủ, tự do, và sự ổn định chính trị. Ed đã cảnh giác hơn. Những thứ lớn lao này không thể tồn tại khi chúng tách biệt nhau. Chúng phải hòa quyện theo cách nào đó vào hệ thống chính trị để thực hiện tốt một số chức năng mang tính xã hội thiết yếu: bảo vệ đất nước; cung cấp sự liên thông trong chính phủ và các chính sách; duy trì trật tự và điều chỉnh các xung đột gay gắt nhất của xã hội. Rắc rối là, theo niềm tin của Ed, các nền dân chủ đều có xu hướng tự hủy diệt và trong nước Mỹ hiện đại thì các xu hướng này còn được tăng cường.

Trên tổng thể, ông hối tiếc sự biến mất sau Chiến tranh Thế giới thứ II của một hệ thống chính trị dựa trên các guồng máy thành phố lớn (mà những ai ủng hộ nó được tưởng thưởng với việc làm và hợp đồng được bảo trợ) và các lãnh đạo đảng (những người chỉ định các ứng cử viên chính trị, từ hội đồng thành phố đến Quốc hội và, thường là, cả Nhà Trắng). Không phải là ông ủng hộ sự bảo trợ, nạn tham nhũng, hoặc ủng hộ các nhà lãnh đạo đảng phái chính trị chỉ vì lợi ích riêng của họ. Nhưng ở các đô thị, người ta tạo ra sự ủng hộ phổ biến đối với chính phủ và cho chính phủ sức mạnh để hoàn tất các công việc. Và họ nhấn mạnh đến những thành tựu vật chất hơn là sự hăng hái trong tư tưởng.

Quá trình “ngoại ô hóa” và công cuộc cải cách đảng phái chính trị sau chiến tranh - làm suy yếu các nhà lãnh đạo đảng và các guồng máy - làm chế độ này bị phá hủy. Ed lo ngại rằng sự thay thế là kém hiệu quả hơn. Ông viết: trong khi chế độ cũ hứa hẹn các phần thưởng dành cho cá nhân, chế độ kiểu mới lại cam kết những cải cách xã hội. Các nhà chính trị bây giờ đã tự biến mình thành hàng hóa bằng cách chào bán các giải pháp sai lầm dành cho những vấn đề được thổi phồng, phóng đại. Ông đã viết vào năm 1970 rằng: các chính trị gia, cũng giống như các nhà bình luận tin tức truyền hình, luôn luôn phải có gì đó để mà nói, ngay cả khi không có gì là khẩn cấp cả. Trong nhiều thập kỷ, phong cách này đã là thứ được dự đoán từ trước. Người dân không còn tôn trọng chính phủ bởi vì rất nhiều giải pháp đã thất bại. Điều này cũng được ông dự đoán. Sau đó, các cuộc thăm dò dư luận đã cho thấy sự giảm sút niềm tin của công chúng đối với các nhà lãnh đạo quốc gia. Ed đã không ngạc nhiên.

Ông đã dạy sinh viên rằng: các bạn phải hiểu được bản chất thật của thế giới, chứ không phải hiểu thế giới như cái mà các bạn muốn. Đây là lời khuyên có giá trị cho một phóng viên có tham vọng. Và Ed đã thực hành điều đó. Năm 1954 và 1955, ông và vợ ông, Laura (họ chung sống với nhau tổng cộng 61 năm), đã dành thời gian sống tại một ngôi làng nghèo của nước Ý để giải thích sự nghèo đói của nó. Kết quả là một cuốn sách ra đời - Những nền tảng đạo đức của một xã hội tụt hậu - hiện vẫn là một tác phẩm kinh điển. Sách lập luận rằng, các gia đình trong làng đều không tin cậy vào những hộ khác nên họ không thể hợp tác để thúc đẩy sự thịnh vượng chung. Quan điểm lớn hơn (vẫn bị nhiều nhà kinh tế học bỏ qua) là văn hóa địa phương, chứ không chỉ là các thị trường, xác định nên tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Điều mang đến sự nổi tiếng nhanh chóng cho Ed - thực sự là tai tiếng - lại là cuốn Thành phố trần tục (Unheavenly City). Xuất bản năm 1970, nó báo trước sự thất bại của cuộc chiến chống lại đói nghèo. Ông nói: sự thịnh vượng, các chương trình của chính phủ, và phân biệt chủng tộc ít hơn có thể giúp một số người thoát ra khỏi nghèo đói. Nhưng những vấn đề tồi tệ nhất của nạn nghèo đói và các đô thị thì vẫn tồn tại. Chúng là kết quả của một tầng lớp thấp hơn, trong đó có các thành viên bốc đồng và chỉ biết hướng đến hiện tại, họ không gắn liền với bất cứ giá trị nào khi họ làm việc, hy sinh, hoàn thiện bản thân, hoặc phục vụ cho gia đình, bạn bè, hay cộng đồng. Họ bỏ học, có con ngoài giá thú, và bị thất nghiệp. Chính phủ không thể dễ dàng thay đổi hành vi của họ.

Với thông điệp này mà Ed đã bị mắng nhiếc là “đồ phản động”. Ông đã nhiều lần nói rằng hầu hết người Mỹ da đen đều không thuộc về tầng lớp thấp trong xã hội, và có rất nhiều người da trắng trong nhóm này. Tuy nhiên, nhiều người tẩy chay ông như một kẻ phân biệt chủng tộc. Qua thời gian, các lý thuyết của ông đã được tôn trọng nhờ trải nghiệm thực tế. Sự nghèo đói thách thức các cuộc tấn công của chính phủ; cái mà ông gọi là tầng lớp thấp đã được đặt tên lại là “tầng lớp hạ lưu”. Nhưng khi viết, Ed đã công kích vào quan điểm hiện hành. Ông biết là mình sẽ bị phản công một cách gay gắt, thậm chí đầy ác ý. Dù sao đi nữa, ông vẫn viết và chấp nhận hậu quả.

Đây là bài học sâu sắc hơn. Có lẽ tất cả các người thầy tuyệt vời - cha mẹ, các ông chủ, các giáo sư, hoặc bất cứ ai - suy cho cùng đều truyền đạt một số nguyên tắc đạo đức. Ed chắc chắn đã làm điều này. Những gì ông đã nói trong những năm 1960 đã không được những người khác đề cập đến. Tôi cảm thấy khó chịu với những quan điểm chính thống đang ngự trị trong xã hội. Nhưng tôi không biết tại sao. Ed đã giúp tôi hiểu được những hoài nghi của mình và làm cho tôi cảm thấy rằng việc giải thích chúng là quan trọng. Sự thật đã được theo đuổi, bất kể nó bất tiện, không được ưa chuộng, không hợp thời thế, hoặc khó chịu đến mức nào. Ed đã không dạy điều này; mà ông chung sống với nó. Đó là nguyên tắc của ông, và là một món quà vô giá cho bất cứ ai muốn nhận nó.

Newsweek

Ngày 18 tháng 10 năm 1999

[77] Nữ phóng viên truyền hình nổi tiếng của hãng CBS, từng đoạt giải Emmy.

[78] National Football League: Liên đoàn bóng đá Mỹ.

[79] Tên 1 chương trình phim truyền hình về y tế của Mỹ, phát trên kênh NBC từ 1994 đến 2009, rất nổi tiếng.

[80] Nguyên văn là “rear-guard action”: việc một đội quân vừa rút lui vừa tiếp tục đánh trả quân địch, ý nói một hành động chưa chắc đã thành công - ND.

[81] Nguyên văn là “pack journalism”, một thuật ngữ mỉa mai, chỉ tình trạng nhiều tờ báo khác nhau có xu hướng thống nhất trong việc đưa một tin tức nào đó, do họ dựa vào nhau trong việc lấy tin, hoặc chỉ dựa vào một nguồn thông tin - ND.

[82] Tổng chưởng lý là cách gọi khác của Bộ trưởng Bộ tư pháp (dịch từ tiếng Anh: Attorney General) - một chức danh cao cấp, hoạt động với vai trò là người cố vấn pháp lý cho Chính phủ.

[83] Năm 2001, Paula Jones kiện tổng thống đương nhiệm Clinton về tội quấy rối tình dục cô ta trong thời gian ông Clinton còn làm thống đốc bang Arkansas - ND.

[84] Susan Webber Wright (sinh năm 1948) là một thẩm phán liên bang, hiện là chánh thẩm phán của quận tư pháp Đông Arkansas, người nổi tiếng qua phán quyết liên quan tới vụ Jones kiện Clinton đang nói ở đây - ND.

[85] Tên 1 chương trình phim truyền hình nhiều tập phát trên NBC từ 1989 đến 1998 - ND.

[86] Alexis-Charles-Henri Maurice Clérel de Tocqueville (1805-1859), người Pháp, là tác giả cuốn sách nổi tiếng Democracy in America (Nền dân trị Mỹ) viết về hệ thống chính trị Hoa Kỳ - ND.

[87] Ý nói nền kinh tế Mỹ vẫn tốt bất chấp học sinh, sinh viên Mỹ có kết quả học tập không cao - ND.

[88] Vụ giết người hàng loạt ngày 20/04/1999 tại trường trung học Columbine (hạt Jefferson, bang Colorado), khi hai học sinh Eric Harris và Dylan Klebold xả súng giết chết 12 học sinh và 1 giáo viên, làm bị thương 21 người khác - ND.

[89] Ý nói: đổ lỗi thảm họa nói trên cho việc luật pháp cho phép dân Mỹ được sử dụng súng - ND.

[90] Timothy McVeigh (1968-2001), cựu binh Mỹ, gây ra vụ nổ bom khủng bố trên một chiếc xe tải ngày 19/05/1995 tại tòa nhà Murrah Federal ở Oklahoma, giết chết 168 người, sau đó bị tử hình năm 2001 - ND.

[91] Ý nói các tác giả bài báo chỉ chọn đưa ra những chứng cứ một chiều nhằm củng cố cho lập luận của họ mà thôi - ND.

[92] Câu này được dùng để đối lập với câu nói của phóng viên thể thao Grantland Rice: “Vấn đề không phải là thắng hay thua, vấn đề là bạn đã chơi như thế nào”. Cũng có người cho rằng, người ta đã trích dẫn không chính xác câu nói này của Lombardi - huấn luyện viên môn bóng đá Mỹ - ý ông này ban đầu muốn nói là: “chiến thắng không phải là tất cả, điều duy nhất cần có là ý chí chiến thắng” - ND.

« Lùi
Tiến »