Hè năm ấy, Ma-ri thuê một nhà nghỉ mát ở xứ Brơ-ta-nhơ (Brittany-NS) cho hai con gái đến đây trước với một bà giáo và một chị nấu bếp. Mẹ chúng hứa sẽ đến sau vào ngày mồng ba tháng tám. Vì là cuối năm học, việc bận, nên Ma-ri phải ở lại Pa-ri. Bà đã quen sống một mình như thế; giữa những ngày hè nóng nực nhất, không có người giúp việc để đỡ đần đêm hôm. Cả ngày ở phòng thí nghiệm, tối mịt mới về, toàn khu nhà bà ở chỉ có một bà gác cổng trông coi có phần sơ sài.
Ma-ri viết thư cho các con gái ngày 1 tháng Tám 1914.
“Irène và Eve yêu dấu, tình hình có vẻ xấu đi, sắp có lệnh động viên, chả biết mẹ có đi được không. Hai con đừng lo sợ, phải bình tĩnh và can đảm. Nếu chiến tranh không bùng nổ, mẹ sẽ về thứ hai này. Bằng không mẹ sẽ ở lại đây và cho người về đón các con ngay khi nào có thể được, I-ren sẽ cùng mẹ tìm cách giúp ích nhé”.
Mồng 2 tháng Tám:
“Hai con gái yêu dấu của mẹ, lệnh động viên đã ban hành. Quân Đức đã đột nhập vào nước Pháp không hề tuyên chiến. Trong một thời gian, việc đi lại sẽ không dễ dàng.
Paris vẫn bình tĩnh và gây ấn tượng tốt, mặc dầu cảnh chia ly buồn bã”.
Mồng 6 tháng Tám:
“I-ren yêu quý, mẹ cũng rất muốn đón các con về đây, nhưng lúc này chưa thể được. Các con hãy kiên nhẫn. Bọn Đức tràn qua nước Bỉ có tác chiến. Nước Bỉ nhỏ nhưng anh dũng không chịu để chúng vào mà không chống lại. Tất cả những người Pháp đều lạc quan và cho rằng cuộc chiến đấu tuy gay go nhưng sẽ xoay chiều tốt.
Đất nước Ba Lan bị quân Đức chiếm đóng. Nơi nào chúng đã đi qua thì còn gì nữa! Mẹ cũng không được tin gì về bên nhà cả”.
Chung quanh Ma-ri người đi gần hết. Từ những giáo sư đồng nghiệp đến các nhân viên phòng thí nghiệm, ai nấy đều đã nhập ngũ, ở lại chỉ còn anh thợ máy Lu-i Ra-gô, vì yếu tim nên không trúng tuyển, và một người đàn bà giúp việc nhỏ bé, thấp lè tè. Lúc này Ma-ri không hề nghĩ rằng nước Pháp chỉ là quê hương thứ hai của mình. Và tuy là một người mẹ, bà cũng không có tư tưởng muốn về gần các con. Con người ốm yếu, mảnh khảnh ấy coi thường bệnh hoạn của mình. Và nhà nữ bác học tự nguyện gác công việc nghiên cứu riêng lại sau này, khi có điều kiện sẽ tiếp tục. Ma-ri chỉ còn một tha thiết phục vụ Tổ quốc thứ hai của mình. Trong cuộc thử thách mới, một lần nữa, bà đã tỏ ra sáng suốt nhạy cảm và luôn luôn chủ động.
Đóng của phòng thí nghiệm để trở thành một nữ cứu thương với chiếc voan trắng như nhiều phụ nữ Pháp dũng cảm, giải đáp dễ dàng đó, không tồn tại lâu trong ý nghĩ của Ma-ri. Sau khi tìm hiểu tổ chức của những cơ quan y tế, Ma-ri phát hiện ra một thiếu sót hình như không được ai quan tâm, nhưng lại rất đáng lo ngại: các bệnh viện ở hậu phương cũng như ở tiền tuyến hầu như thiếu hẳn trang bị về điện quang. Chúng ta biết rằng nhờ có quang tuyến X do Rơn-ghen[50] phát minh từ 1895, có thể không cần đến phẫu thuật vẫn thám thính được nội tạng con người, nhìn và chụp ảnh các xương cốt.
Năm 1914, ở Pháp chỉ có rất ít máy Rơn-ghen dùng trong y tế. Sau khi chiến tranh nổ ra, ngành quân y dự định thiết lập khoa này ở một vài thành phố lớn, được xét là xứng đáng với sự xa xỉ đó. Chỉ có thế. Một thiết bị mầu nhiệm cho phép phát hiện và xác định vị trí của viên đạn, mảnh bom nấp dưới vết thương, chẳng lẽ lại là một thứ xa xỉ hay sao?
Trước đó Ma-ri chưa hề đi vào nghiên cứu tia X; nhưng trong những giáo trình ở Xoóc-bon, mỗi năm Ma-ri cũng dành một số giờ giảng về tia X. Vận dụng những kiến thức khoa học của mình, Ma-ri nhìn trước vấn đề mà cuộc chém giết đẫm máu sẽ đặt ra: phải gấp rút lập nhiều, rất nhiều trạm điện quang.
Sau khi nhìn nhận tình thế, Ma-ri lao vào hành động. Chỉ sau vài giờ, bà đã lập xong danh sách những máy điện quang của các trường đại học kể cả chiếc máy riêng của mình. Rồi bà đi suốt một lượt đến các xưởng chế tạo loại máy ấy. Tất cả thiết bị về tia X có thể dùng được, Ma-ri đều thu thập lại rồi phân phối cho các bệnh viện trong khu vực thành phố Pa-ri.
Một số nhà bác học, kỹ sư, giáo sư biết sử dụng máy điện quang đều xung phong nhận việc. Nhưng làm thể nào cứu chữa kịp cho những thương binh được ùn ùn đưa đến? Những trạm y tế lưu động không có máy chiếu và chụp điện. Nhiều trạm còn thiếu cả điện để chạy máy. Với quỹ của Hội phụ nữ Pháp, chiếc “xe điện quang” lưu động đầu tiên ra đời. Đó là một cái ô tô thường có lắp một thiết bị Rơn-ghen và một máy phát điện chạy bằng động cơ xe. Ngay từ tháng Tám 1914, cái trạm lưu động ấy đã đi khắp các bệnh viện khám cho những thương binh được chuyển về Pa-ri trong chiến dịch quận Mác-nơ.
*
Quân Đức tiến ồ ạt trên đất nước Pháp, Ma-ri phân vân. Về với hai con gái ở Brơ-ta-nhơ (Bretagne) hay ở lại Paris Và nếu bị chiếm đóng, liệu bà có theo các cơ quan quân y về hậu phương không?Ma-ri bình tĩnh cân nhắc và quyết định dù thế nào đi nữa, cũng cứ ở lại Pa-ri. Không phải chỉ để phục vụ thương binh, bà còn nghĩ đến phòng thí nghiệm, đến những dụng cụ chính xác đặt ở phố Qui-vi-ê, đến những cơ sở mới xây dựng ở phố Pi-e Qui-ri.
“Nếu ta ở đây – Ma-ri nghĩ thầm – biết đâu bọn Đức không dám phá phách máy móc. Nhưng nếu ra đi, mọi thứ đều mất hết!” Tuy nhiên đó vẫn không phải là động cơ chính. Nó vẫn chỉ nhằm bào chữa cho cái bản năng xưa vẫn dắt dẫn bà. Con người vốn bướng bỉnh, gan lì đó không ưa gì việc bỏ chạy. Đối với Ma-ri sợ hãi có nghĩa là phục vụ cho kẻ thù, không thể để cho quân địch nghênh ngang đắc chí đặt chân vào phòng thí nghiệm Qui-ri vắng ngắt.
Ma-ri gửi hai con gái đến chỗ bác chúng là Giắc Qui-ri và chuẩn bị tinh thần cho I-ren và E-vơ sẽ phải xa cách mẹ. Ma-ri viết thư cho I-ren và E-vơ ngày 28 tháng Tám năm 1914:
“Pa-ri có thể bị bao vây, và do đó, mẹ con ta có thể bị cách biệt. Nếu việc đó xảy ra, các con hãy dũng cảm chịu đựng, vì những mong muốn cá nhân không nghĩa lý gì đối với vận mệnh của đất nước. Con phải nhận lấy trách nhiệm về em con, trông nom em, nếu mẹ con bị xa nhau lâu hơn mẹ dự đoán”.
29 tháng Tám:
“I-ren yêu, mẹ thấy cần phải nói với con là phải sẵn sàng đối phó với tình huống… Pa-ri có xa gì biên giới, bọn Đức có thể tiến đến gần được lắm. Dù sao, chúng ta cũng phải tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của nước Pháp. Vì vậy con phải dũng cảm tin tưởng, và nhớ đến vai trò chị cả, đã đến lúc phải làm cho nghiêm túc dấy”.
31 tháng Tám 1914:
“Mẹ vừa nhận được bức thư âu yếm của con hôm thứ bảy, mẹ nhớ con quá, đến phát khóc lên.
Tình hình không tốt lắm, ai cũng buồn rầu lo âu. Lúc này cần phải dũng cảm và mẹ mong rằng không ai thiếu dũng cảm. Phải tin chắc rằng, sau những ngày âm u, trời sẽ lại đẹp.
Với hy vọng đó, mẹ ôm hôn các con, các con yêu quý của mẹ”.
Nếu Ma-ri điềm nhiên nhìn trước khả năng có thể phải sống trong thành phố Pa-ri bị bao vây, bị ném bom, thậm chí bị chiếm đóng, thì có một vật quý mà bà muốn bảo vệ, không để lọt vào tay bọn xâm lăng, đó là gam Ra-đi của phòng thí nghiệm. Không thể giao cho bất cứ người nào khác mảnh kim loại quý báu này, Ma-ri quyết định tự tay mình chuyên chở nó xuống Boóc-đô, ở Tây nam nước Pháp.
Trên một chuyến xe lửa chật ních dành cho những nhân vật chính giới và viên chức nhà nước, chúng ta thấy một phụ nữ mặc áo du lịch vải ba-ga đen mang theo mình một tay nải nhỏ… và một chiếc hòm nặng bọc chì. May sao lại tìm được một chỗ ở đầu mỏm ghế dài, đặt hành lý lên đó, ngay trước mặt mình. Xung quanh bà, khách đi tàu chen chúc ồn ào, toàn nói những chuyện bi quan. Để khỏi phải nghe những lời kêu ca, chán nản, Ma-ri chăm chú nhìn quang cảnh thôn quê đầy ánh nắng. Nhưng ở đây cũng vậy, toàn là những hình ảnh thất bại. Trên con đường quốc lộ chạy dài theo đường sắt, ô-tô nườm nượp nối đuôi nhau ùn ùn đổ về phía Tây.
Thành phố Boóc-đô đông đặc người ở Pa-ri và nhiều nơi khác đến, không tìm được một phu khuân vác hoặc một xe tac-xi. Các phòng trọ đều hết chỗ. Tối xẩm rồi mà Ma-ri vẫn đứng ở trước ga, bên cạnh một hành lý mà bà không có sức mang nổi. Bị đẩy ra giữa đám đông, Ma-ri không tỏ chút gì bực bội mà còn nực cười về cảnh ngộ của mình. Chẳng lẽ cứ đứng mãi cạnh cái hòm, trị giá là một triệu phơ-răng này hay sao? May sao, một nhân viên ở một bộ nào đó cùng đi chuyến tàu, nhanh nhảu tìm cho bà một phòng, trong nhà tư nhân để tạm nghỉ. Đến sáng, bà mang cái của báu cồng kềnh đó ký gửi ở nhà ngân hàng rồi trở về Pa-ri nhẹ nhõm.
Nếu chuyến đi không ai để ý đến Ma-ri, thì chuyến quay về Pa-ri đám hành khách trên tàu xôn xao bàn tán. Họ kéo đến quanh Ma-ri như một hiện tượng lạ kỳ: “Bà ấy lại ngược về Pa-ri đấy!”. Bà khách không nói ra mình là ai, nhưng không kín tiếng như mọi lần, mà tìm cách trấn tĩnh những tin đồn hoang mang, và nhẹ nhàng khẳng định rằng Pa-ri sẽ “đứng vững”, tình hình Pa-ri không có gì đáng lo ngại…
Trên chuyến tàu chở toàn bộ đội, Ma-ri là người “hành khách thường” duy nhất… Tàu chạy chậm như bò, lúc lúc lại ì ngay giữa cánh đồng hàng tiếng đồng hồ. Ma-ri nhận một mẩu bánh mì to, do một anh lính rút từ túi dết đưa cho. Từ hôm trước, vội ra đi từ phòng thí nghiệm, bà chưa kịp ăn một thứ gì, và lúc này đã đói ngấu.
Trong ánh nắng tuyệt diệu của đầu tháng Chín, đối với Ma-ri, Pa-ri có một vẻ đẹp tuyệt vời và một giá trị không tài nào so sánh được. Chẳng lẽ sẽ mất một vật báu vô giá như thế? Những tin vui đã lan khắp các phố, mạnh như nước thủy triều. Bà Qui-ri, người còn lấm láp đầy bụi cát sau một ngày đi tàu, vội chạy ra thì được biết cuộc tấn công của bọn Đức bị đẩy lùi, trận Mác-nơ đã bắt đầu.
Ma-ri đến trường cao đẳng sư phạm gặp hai bạn A-pen, và Bô-ren. Bà muốn nhận ngay một việc ở tổ chức y tế mà hai ông mới thành lập: đó là Hội cứu tế quốc gia. Nhìn con người mệt lả đó, Pôn A-pen là Hội trưởng, hết sức ái ngại khuyên bà hãy ngả lưng trên ghế dài và cần tĩnh dưỡng vài ngày nữa. Ông khăng khăng nói như vậy, nhưng Ma-ri đâu chịu nghe. Bà muốn hành động, hành động ngay. Sau này Pôn A-pen viết: “Trên cái ghế dài, tuy vẻ mặt xanh xao, nhưng đôi mắt mở to, trông Ma-ri Qui-ri như một ngọn lửa”.
Ma-ri viết thư cho I-ren, ngày 6 tháng Chín 1944:
“Tình hình mặt trận đang thay đổi, quân thù có vẻ rút lui xa Pa-ri. Mọi người ở đây, đều vững lòng tin ở thắng lợi cuối cùng.
Con hãy ra nhiều bài về vật lý cho em Phéc-đi-năng Sa-van. Các con chưa có thể làm việc cho hiện tại thì phải học tập vì tương lai. Nhiều người sẽ thiếu mặt vì cuộc chiến tranh này. Cần phải thay thế họ, các con hãy ra sức học toán và vật lý”.
Pa-ri được bảo toàn, Ma-ri đón hai con gái về nhà. Xa mẹ lâu nên chúng cứ nằng nặc đòi về. E-vơ trở lại trường trung học, còn I-ren thì thi lấy bằng y tá.
Bà Qui-ri đã đoán đúng: chiến tranh còn kéo dài, tổn thương nhiều, càng ngày càng cần mổ thương binh tại chỗ, các bác sĩ mổ và những người chiếu điện phải túc trực ngay bên cạnh những trạm quân y mặt trận và những xe chiếu và chụp điện lưu động sẽ có một tác dụng vô cùng quý giá.
Những xe này, ngoài mặt trận thường gọi là những xe “Qui-ri nhỏ”, Ma-ri trang bị cho từng cái một ở ngay phòng thí nghiệm của mình bất chấp sự thờ ơ và phản kháng của những kẻ quan liêu. Con người vốn rụt rè bỗng trở thành nghiêm nghị và kiên quyết. Ma-ri đến thúc những công chức lề mề, đòi từng cái giấy giới thiệu, bông đặt hàng, giấy thông hành. Họ làm khó dễ, giở ra “điều lệ này, thể lệ nọ”. Đó là thái độ của rất nhiều nơi. Nhưng Ma-ri cứ dai dẳng thảo luận nài cho được mới thôi.
Ma-ri ra sức tranh thủ sự đóng góp của tư nhân. Một số phụ nữ hảo tâm như bà hầu tước Ga-nay, bà hoàng Muypra cho hẳn hoặc cho mượn xe du lịch của mình, Ma-ri chuyển ngay thành xe chiếu điện rồi cả quyết:
– Sau chiến tranh, sẽ xin gửi xe cho bà. Thật đấy, nếu xe còn dùng được, thế nào cũng sẽ trả lại bà ngay.
Trong hai mươi cái xe được sử dụng như vậy, Ma-ri giữ lại một cái kiểu Rơ-nô đã cũ, trông như một cái xe giao hàng để chạy công việc của mình. Với cái xe trông như một xe thiết giáp, sơn đúng màu tro quy định, có in dấu hồng thập tự và cờ nước Pháp, bà dấn mình vào một cuộc đời sôi nổi không khác gì một nhà thám hiểm, một thuyền trưởng xông xáo.
Chỉ cần một điện tín hoặc điện thoại báo cho biết rằng một trạm thương binh, cần gấp máy chiếu điện, thế là Ma-ri soát lại thiết bị chiếu điện của mình. Trong khi người lái xe đi lấy xăng, bà chạy về nhà lấy cái áo choàng sẫm, cái mũ đi đường trông không còn giữ cho ra hình thù và màu sắc gì và một cái túi da màu vàng đã nứt nẻ. Bà lên ngồi cạnh anh lái, trong buồng xe gió lùa. Và chiếc xe lao đi hết tốc độ – nghĩa là chỉ trung bình 5 cây số một giờ, không thể nhanh hơn được, đưa Ma-ri đến A-miên-sơ, Y-phơ-véc-đong.
Sau rất nhiều lần dừng lại để trình giấy phân bua, điều đình với những anh lính gác đa nghi, cuối cùng, xe đến trạm quân y. Phải bắt tay ngay vào việc! Ma-ri nhanh chóng chọn lấy một gian phòng chiếu điện và cho khuân thiết bị vào đây. Bà mở các thùng dụng cụ, lắp các bộ phận máy, đã tháo rời. Một dây cáp nối liền máy chiếu điện với bộ phận phát điện đặt ở xe. Sau khi ra hiệu cho anh lái cho chạy đi-na-mô, Ma-ri thử lại cường độ dòng điện. Trước khi bắt đầu khám thương binh, bà còn chuẩn bị cái “màn ảnh điện quang”, để sẵng găng tay và kính bảo vệ vừa tầm tay, sửa soạn những bút chì đặc biệt để đánh dấu, định chỗ những viên đạn; làm buồng tối bằng cách che rèm đen vào cửa hoặc dùng chăn của bệnh viện. Bên cạnh, còn đặt một cái phòng nhiếp ảnh để rửa những kính ảnh chụp được. Chỉ nửa giờ sau mọi việc đều chuẩn bị xong.
Người ta lần lượt cáng thương binh đến. Một cảnh khá buồn thảm. Nhà giải phẫu cùng với Ma-ri ở trong buồng tối; với những chiếc máy chạy giòn, xung quanh có một vầng hào quang huyền bí. Ma-ri hướng máy vào những vết thương thị bị nát, và điều chỉnh để nhìn cho rõ. Giữa hình ảnh những xương và các phủ tạng hiện ra một vết đục hơn: đó là viên đạn, là mảnh đại bác.
Một phụ tá ghi chép những nhận xét của thầy thuốc. Ma-ri tô lại hoặc chụp ảnh viên đạn hay mảnh đại bác để giúp nhà giải phẫu trong khi mổ. Đôi khi viên đạn được gắp ra ngay trong lúc chiếu điện và người thầy thuốc có thể trông thấy trên màn huỳnh quang hình ảnh những kim cặp của mình đang lần theo vết thương, luồn quanh các xương để tiến tới cặp lấy mảnh đạn.
Mười thương binh, năm mươi rồi một trăm thương binh. Hết giờ này đến giờ khác. Có khi hết ngày này đến ngày khác. Còn bệnh nhân, thì Ma-ri còn ở trong buồng tối. Trước khi rời bệnh viện, Ma-ri nghiên cứu cách đặt một trạm chiếu điện cố định. Thế rồi gói ghém máy móc dụng cụ xong, bà lại lên ngồi trong chiếc xe mầu nhiệm đó trở về Pa-ri.
Chỉ vài ngày sau Ma-ri đã trở lại trạm. Lùng sục khắp nơi tìm được một máy điện quang đem đến lắp ở đây, lần này Ma-ri đi cùng với một người biết điều khiển máy. Tuyển anh ta ở đâu, huấn luyện thế nào, không rõ. Chỉ biết là từ nay, bệnh viện này đã có phòng điện quang, không cần đến bà nữa.
Ngoài hai mươi cái xe trang bị đầy đủ Ma-ri còn đặt được hai trăm phòng điện quang. Trên một triệu thương binh được cứu chữa, nhờ có tất cả hai trăm hai mươi trạm cố định hoặc di động – do Ma-ri Qui-ri tự mình xây lắp.
Nào chỉ có kiến thức khoa học và lòng dũng cảm, Ma-ri còn rất tài xoay xở, và đạt tới nghệ thuật về tính tháo vát thời chiến. Thiếu người lái xe ư? Ma-ri ngồi ngay trước tay lái chiếc xe Rơ-nô và cứ thế đi khắp các con đường gập ghềnh. Có khi tiết trời lạnh quá, Ma-ri phải cố hết sức quay mãi, cái máy ngoan cố mới chịu chạy. Người ta còn thấy bà tì cả người lên cái kích để thay một bánh xe hoặc chau mày lau bộ chế hòa khí bị hết dầu với những động tác của một nhà bác học. Gặp trường hợp phải chở máy bằng xe lửa, Ma-ri tự tay bưng máy lên toa chở hàng. Khi đến nơi, cũng chính mình khuân xuống, tháo dỡ và kiểm lại kỹ càng không để mất thứ gì.
Bất chấp thiếu thốn vất vả, Ma-ri không hề đòi hỏi một cách đối xử riêng biệt nào, một chế độ ưu tiên nào. Không một phụ nữ danh tiếng nào lại xuề xòa dễ tính hơn, Ma-ri quên cả ăn trưa, quên cả ăn tối, ngủ đâu cũng được – trong một phòng nhỏ của nữ y tá, hay có khi ngoài trời dưới một cái lều vải cắm trại. Người nữ sinh viên xưa kia từng chịu đựng rét mướt trong một cái gác xép sát mái, ngày nay đương nhiên đã trở thành một chiến sĩ của cuộc đại chiến thế giới thứ nhất.
Ma-ri viết thư cho Pôn Lăng-giơ-vanh ngày 1 tháng Giêng 1915:
“Ngày tôi lên đường chưa được quyết định, nhưng có lẽ cũng không chậm nữa. Tôi vừa được một bức thư báo tin các xe chiếu điện của anh cho mượn để hoạt động trong vùng Xanh Pan đã bị hư hỏng, nghĩa là cả vùng bắc nước Pháp không có khoa chiếu điện! Tôi đang vận động để được lên đường sớm hơn. Tôi quyết tâm đem hết sức mình phục vụ Tổ quốc thứ hai của tôi, vì hiện nay chưa phục vụ được quê hương ruột thịt còn chìm trong bể máu sau hơn một thế kỷ đau thương”
*
I-ren và E-vơ sống như con các chiến sĩ ngoài mặt trận. Mẹ chúng chỉ tự cho nghỉ phép khi bị cơn đau thận phải nằm một chỗ. Nếu Ma-ri ở nhà, tức là bị ốm. Rằng không thì bà ở Su-íp, ở Rem, ở Ca-lê, ở Pô-pơ-ranh-gơ – Ở một trong ba bốn trăm bệnh viện Pháp và Bỉ, những nơi mà bà thường xuyên đến thăm trong suốt thời chiến. Mỗi lần E-vơ gửi thư báo cho mẹ biết những tiến bộ của mình về sử, về luận Pháp văn, nó phải viết những địa chỉ nghe rất lạ tai, cảm động:
“Bà Qui-ri, bệnh viện phụ số 11, Moóc-vi-le Sông Ranh Thượng”
Những bưu phiếu, do bà Qui-ri viết vội qua các chặng, mang đến Pa-ri những tin ngắn, gọn.
20 tháng Giêng 1915:
“Các con yêu quý, mẹ đã đến A-miêng (Amien), ngủ tại đây. Chỉ bị nổ hai lốp thôi. Chào tất cả.
Mẹ”
Cùng ngày:
“Đến A-bơ-vin (Abbeville) . Xe bác Giăng Pe-ranh lái húc phải cây. May quá không việc gì. Lại đi tiếp đến Bu-lô-nhơ”.
24 tháng Hai 1915:
“I-ren ơi, con biết đấy, không có gì chứng tỏ là mẹ con ta sẽ bị cắt đứt ở Pô-pơ-ranh-gơ; nhưng ở đây mẹ chỉ có thể làm việc sau khi đã tu sửa lại bệnh viện. Người ta làm một hầm trú ẩn cho xe và một vách ngăn cái phòng chiếu điện trong cái buồng to của bệnh nhân. Thế là mẹ bị chậm lại, nhưng không thể nào làm khác được.
Ở Đoong-kéc (Dunkerque), máy bay Đức thả bom chết vài người, nhưng nhân dân không nao núng, ở Pô-pơ-ranh-gơ, những chuyện đó cũng xảy ra, nhưng ít hơn. Ở đây, đại bác nổ gần như liên tục. Trời không mưa, nhưng rét, đóng giá. Bệnh viện đón tiếp mẹ niềm nở hết sức. Mẹ được một buồng tốt, có lò sưởi. Ở đây mẹ thích hơn ở Phuyếc-nơ. Mẹ ăn tại bệnh viện. Hôn con.
Mẹ”
Tháng Năm 1915:
“Con ạ, mẹ phải đợi ở Xa-blông 8 tiếng đồng hồ và mẹ chỉ mới đến Véc-đoong hồi năm giờ sáng hôm nay. Xe cũng đã đến. Đang thu xếp”.
Một buổi chiều tháng Tư 1915, Ma-ri trở về nhà vẻ mặt tái nhợt và uể oải hơn thường ngày. Không trả lời những câu hỏi lo âu, ríu rít của mọi người ra đón, bà khóa trái cửa lại. Ma-ri bực chuyện gì đây?
Chả là khi ở bệnh viện Phoóc-giơ trở về, anh lái quá tay lao cả xe xuống hồ. Chiếc ô-tô đổ nhào, và Ma-ri ngồi ở giữa các dụng cụ, bị lấp dưới một đống hòm. Bà rất cáu, chẳng phải vì bản thân bị xây xát mà vì nghĩ rằng kính ảnh chụp điện chắc hẳn là nát vụn hết. Dưới những hòm cứ đè xuống mình mỗi lúc một nặng. Ma-ri bỗng phì cười, vì anh lái xe trẻ, cuống lên mất hết cả nhanh trí và lô-gích, cứ chạy quanh cái xe bẹp nát, luôn miệng gọi khẽ: “Bà ơi! Bà! Bà đã chết chưa?”
Cũng may mà chỉ xây xát nhẹ. Việc này Ma-ri giấu không cho ai biết. Sau đó, nhờ có một bài báo tường thuật tai nạn trên, cùng với mấy mảnh quần áo giây máu còn bỏ lại trong phòng tắm, người nhà mới hay. Nhưng lúc đó Ma-ri đã lại lên đường rồi, với chiếc va-li màu vàng cái mũ tròn và trong túi áo có cái ví đàn ông to tướng bằng da màu đen mà bà đã sắm để “đi đánh giặc”.
Từ năm 1918, Ma-ri bỏ quên cái ví da ấy ở đáy một ngăn kéo, cho mãi đến 1934, sau khi bà mất, nó mới lại được lấy ra. Trong ví đựng một chứng minh thư tên là “Bà Qui-ri Cục trưởng cục Điện quang”, một giấy chứng chỉ của Thứ trưởng Bộ pháo binh và đạn dược “Cho phép bà Qui-ri được sử dụng những ô tô quân sự”, cùng một chục “công lệnh đặc biệt” của Hội phụ nữ Pháp. Bốn cái ảnh: một ảnh Ma-ri, một ảnh bố, hai ảnh mẹ và hai cái túi giấy không trước có đựng hạt cây có lẽ được gieo trồng trong mấy luống vườn của phòng thí nghiệm. Trên túi có ghi chữ “Cây thuốc Rô-ma-ranh gieo trồng từ tháng tư đến tháng sáu, trong vườn ươm”.
Trong cuộc sống đáng kinh ngạc đó, bà Qui-ri không hề may lấy một bộ quần áo đặc biệt nào. Vẫn chỉ mấy cái quần áo cũ, thêm một băng tay chữ thập đỏ, ghim một cách qua quít trên một cánh tay áo. Không khi nào Ma-ri đeo voan nữ y tá; ở bệnh viện bà vẫn để đầu trần mà làm việc, chỉ mặc áo khoác trắng lấy ở phòng thí nghiệm.
Nay đây mai đó, Ma-ri không còn đâu thì giờ chăm sóc đến nhà cửa. I-ren và E-vơ đan áo cho binh lính ngoài mặt trận mà hai cô đã nhận đỡ đầu và theo dõi tiến triển của tình hình chiến sự bằng cách ghim những lá cờ nhỏ vào những điểm chiến lược. Ma-ri buộc các con tuy vắng mặt mẹ cũng phải đi nghỉ hè. Sự săn sóc của bà chỉ có thể đến đó.
Năm 1916, bà đồng ý cho hai con gái được xung vào một đội gặt, thay cho nam giới đã nhập ngũ. Trong suốt mười lăm ngày, hai cô cũng phải bó lúa, rồi làm việc với máy đập. Và năm 1918, Ma-ri cũng để hai con gái ở lại Pa-ri mặc dầu bọn Đức bắn đại bác khủng bố trước khi rút. Bà không muốn cho con gái quá cẩn thận, sợ chúng sinh ra đòi hỏi.
E-vơ chưa giúp ích được gì, nhưng I-ren, 17 tuổi, đã bắt đầu học về điện quang trong khi vẫn chuẩn bị thi bằng cử nhân khoa học ở Xoóc-bon. Lúc đầu, Ma-ri cho con gái đi theo mình để tập sử dụng máy, về sau I-ren được giao nhiệm vụ riêng, đến các bệnh viện mặt trận. Ma-ri muốn cho I-ren, tuy còn ít tuổi đã gánh những trách nhiệm nặng nề, và xông pha nơi chiến trường, ở Phuốc-nơ, Puc-xtát, A-mien-xơ. Hai mẹ con càng thêm gắn bó với nhau. Giờ đây Ma-ri không còn đơn độc nữa. Giờ đây bà có thể bàn bạc với con gái về công việc và về những lo lắng, suy nghĩ của mình như với một người cộng tác, một người bạn.
Trong những tháng đầu chiến tranh, Ma-ri có trao đổi với I-ren về một việc quan trọng:
“Chính phủ Pháp kêu gọi tư nhân có vàng cho nhà nước vay và sẽ phát hành quốc trái. Mẹ cũng có một ít vàng đem ra giúp. Đồng thời mẹ sẽ góp thêm vào đó tất cả những huân chương khoa học bằng vàng, có giữ cũng vô ích. Nhưng còn một khoản nữa. Giải thưởng Nô-ben lần thứ hai, vì chưa đi lĩnh, nên mẹ cứ để thành tiền Thụy Điển gửi ở Xtốc-khôm. Đó là tài sản tiền mặt rõ rệt nhất của chúng ta. Nay mẹ muốn mang về nước số tiền đó và chuyển thành quốc trái. Chính phủ đang cần. Nhưng có một điều mẹ biết rõ ràng là số tiền ấy có lẽ rồi cũng mất thôi. Cho nên mẹ không muốn làm việc này mà không bàn kỹ với con”.
Đổi ra Phơ-răng, số tiền thưởng về giải Nô-ben của Ma-ri, trở thành những chứng từ bổng lộc, những “quốc trái”, những “đóng góp tự nguyện”… và tản mát đi như Ma-ri đoán trước. Ma-ri đem vàng của mình đến một ngân hàng Pháp. Người thu ngân chỉ nhận những đồng tiền, và khăng khăng phẫn nộ không muốn nhận đưa những huân chương vẻ vang đó đến lò đúc, Ma-ri chẳng lấy làm vinh dự về điều đó. Bà cho sự mê tín đó thật là vô lý, và đành mang về phòng thí nghiệm cả một bộ huân chương của mình.
*
Những lúc được một giờ rỗi rãi, Ma-ri thường ra ngồi trên một ghế dài, ngoài vườn phố Pi-e Qui-ri, nơi đây các cây chè bà trồng đang lớn. Nhìn ngắm Viện Ra-đi-om mới xây dựng và vắng ngắt, Ma-ri nghĩ đến những đồng sự, lúc này đều ngoài mặt trận, nghĩ đến người phụ tá mà bà ưa thích nhất, nhà bác học Ba-lan Đa-nít-sơ, đã hy sinh. Bà thở dài. Không biết đến bao giờ mới kết thúc cuộc chém giết khủng khiếp này? Bao giờ mới lại có thể tiếp tục công tác khoa học của mình?
Nhưng đối với Ma-ri, mơ mộng, uể oải chẳng được ích gì. Ngay trong hoạt động thời chiến, vẫn chuẩn bị cho hòa bình. Trước hết phải chuyển dần toàn bộ thiết bị phòng thí nghiệm từ phố Qui-vi-ê đến phố Pi-e Qui-ri. Từ việc tháo dụng cụ đóng vào thùng chuyển đến chuyên chở, bốc dỡ, với chiếc ô-tô chiếu điện chạy như con thoi từ nơi cũ đến nơi mới. Ma-ri đã làm việc cần cù như một con kiến. Kiến tha lâu đầy tổ. Chẳng bao lâu phòng thí nghiệm mới đã sẵn sàng! Rất nhiều bao cát được xếp thành một công sự kiên cố che chở cho tòa nhà chứa đựng những chất phóng xạ. Ngay từ 1915, trong khi vẫn còn chiến tranh, Ma-ri đã đi Boóc-đô chuyển trữ lượng Ra-đi của mình về Pa-ri.
Chất Ra-đi, cũng như quang tuyến X, có nhiều tác dụng trị bệnh, Ma-ri đem dùng gram Ra-đi của mình vào một “khoa cung cấp khí tỏa”. Cứ cách tám ngày, bà lại lấy khí tỏa mà chất Ra-đi đã toát ra, đựng vào ống thủy tinh rồi hàn kín gửi đến bệnh viện lớn của Pa-ri và các trung tâm y tế khác. Những ống khí tỏa đó được dùng để điều trị các vết sẹo “biến chứng” và vết thương ngoài da khác.
Xe chiếu điện, trạm chiếu điện, khoa khí tỏa… Thế chưa đủ, Ma-ri băn khoăn vì thiếu người sử dụng máy có chuyên môn. Bà xin mở và đảm nhiệm một khoa giảng dạy về điện quang. Ít lâu sau, hơn hai chục học sinh khóa đầu được tập trung đến viện Ra-đi-om. Chương trình gồm có lý thuyết về điện và tia X, thực hành và môn giải phẫu. I-ren cũng được tham gia dạy khóa này.
Một trăm năm mươi nữ y tá về điện quang do Ma-ri đào tạo từ 1916 đến 1918 được tuyển từ đủ các thành phố. Có những người khi lấy vào văn hóa rất kém. Lúc đầu uy tín của Ma-ri Qui-ri làm họ rất rụt rè. Nhưng Ma-ri vốn có tài làm cho khoa học dễ hiểu đối với những người bình thường nhất. Ma-ri lại thích làm gì cũng phải chu đáo. Và khi một chị học viên thực tập xưa kia đi ở, lần đầu tiên rửa được hoàn hảo một cái kính chiếu điện thì nhà nữ bác học mừng rỡ như là một thành tích của chính mình.
Nhiều nước lần lượt nhờ đến kiến thức về chuyên môn của bà Qui-ri. Từ năm 1914, Ma-ri nhiều lần đến thăm các bệnh viện Bỉ. Năm 1918, bà đã đi Bắc Ý để nghiên cứu tài nguyên của nước này về chất phóng xạ. Ít lâu sau, bà lại tiếp nhận ở phòng thí nghiệm của mình hơn hai chục nhân viên quân sự Mỹ đến học về điện quang.
*
Môn điện quang làm cho Ma-ri tiếp xúc với nhiều người rất khác nhau. Nhiều bác sĩ giải phẫu, hiểu rõ ích lợi của tia X, nên coi bà như một cộng sự rất quý. Một số người khác, ít am hiểu hơn, nhìn ngắm những máy móc dụng cụ của Ma-ri với cặp mắt nghi ngờ mô phạm. Sau vài lần chiếu điện có kết quả mỹ mãn họ mới ngạc nhiên và chịu rằng “làm như thế thì được đây” và họ không thể tin ở mắt mình khi ở đúng chỗ do Ma-ri xác định, lưỡi dao mổ của họ đã khêu được mảnh đạn trước đã tìm mãi không thấy trong vết thương nhức nhối. Được thuyết phục, họ không ngớt lời ca ngợi việc này như một phép mầu nhiệm. Thấy Ma-ri ăn mặc xuềnh xoàng, lại không xưng tên, có những bà sang trọng, nhận đỡ đầu cho các bệnh viện, thường tỏ ra khinh khỉnh, và đôi khi coi như một kẻ dưới. Những sự hiểu lầm đó, chỉ làm cho nhà nữ bác học thích thú.Con người vốn lạnh lùng và đăm chiêu đó, đối với thương binh lại niềm nở tuyệt vời. Nhiều thương binh trước đây là nông dân, là công nhân trông thấy máy Rơn-ghen thì sợ mà ngại đau. Bà làm họ yên tâm:
– Rồi các bạn xem, chỉ như là chụp ảnh thôi.
Đối với những người lính đó, Ma-ri đúng là hình ảnh của sự dịu dàng, một giọng êm ái, đôi bàn tay nhẹ nhàng, hết sức kiên nhẫn và rất đỗi trân trọng sinh mệnh con người. Thật thế, để cứu một mạng người, để tránh cho một thương binh đau đớn, khỏi bị cưa cụt, tàn phế, Ma-ri sẵn sàng nhận sự cố gắng nặng nhọc nhất và chỉ bỏ cuộc khi đã tìm hết cách cứu chữa.
Không bao giờ Ma-ri nói đến những nỗi vất vả không lời nào tả nổi, những nguy cơ hiểm nghèo, hoặc tác hại tàn nhẫn của tia X và của chất Ra-đi trên cơ thể của mình. Trái lại vẻ mặt bà lúc nào cũng bình thản vô tư, đôi khi lại còn vui nữa, chưa bao giờ Ma-ri tươi tỉnh như lúc này. Chiến tranh đã dạy cho Ma-ri, tính vui vẻ là biểu hiện đẹp nhất của lòng dũng cảm.
Lòng Ma-ri có vui gì cho cam! Bao lo âu thầm kín không lúc nào buông tha bà, sự nghiệp dở dang, rồi họ hàng ở Ba-lan bấy lâu vắng tin. Lại thêm vào đó lòng ghê tởm sự cuồng loạn đang xâu xé thế giới. Hình ảnh hàng nghìn thân hình tả tơi, rên la, quằn quại được chính mắt thấy, tai nghe, sẽ còn ám ảnh cuộc đời của Ma-ri mãi về sau này.
Tiếng súng đại bác báo hiệu đình chiến đến với Ma-ri khi bà đang ở phòng thí nghiệm. Bà muốn treo cờ lên viện Ra-đi-om, và cùng với người cộng tác của mình là cô Mác-ta Clanh đi khắp các cửa hiệu, không đâu còn cờ Pháp. Sau đành phải mua vải vụn ba màu đưa bà phụ việc khâu vội, và treo lên các cửa sổ. Ma-ri run lên vì xúc động, bà cùng cô Clanh nhảy lên chiếc xe chiếu điện cũ kỹ, ọp ẹp, xây xát sau bốn năm lăn lộn. Một anh lao công của phòng Lý-hóa-sinh ngồi vào cầm lái, đảo qua các phố, giữa những làn sóng người sung sướng và nghiêm nghị. Đến quảng trường Công Coóc, người đông quá ô-tô không tiến được. Nhiều người trèo lên hai bên thành xe và leo cả lên mui xe. Và khi chiếc xe của bà Qui-ri tiếp tục đi, nó đã biến thành một xe khách, có đến hơn chục người ngồi thêm trên mui như một tầng thượng, suốt buối sáng hôm đó.
*
Đối với Ma-ri, có hai cuộc thắng. Nước Ba-lan, sống lại từ đám tro tàn, và sau một thế kỷ rưỡi bị đô hộ, khôi phục được độc lập.Thời thơ ấu tủi nhục, và tuổi trẻ đấu tranh bỗng hiện lại trong tâm trí Ma-ri. Không phải vô ích mà xưa kia, cô Xkhua-đốp-xka đã phải giấu giếm mưu mẹo đối với những nhân viên của Sa-hoàng, lén lút tìm đến với các bạn học ở trường Đại học di động, trong những gian phòng lụp xụp ở Vác-xô-vi, hoặc dạy cho các em bé ở nông thôn Schuc-ky biết chữ.
Ma-ri viết thư cho anh Dô-dếp tháng Chạp 1920:
“Thế là chúng ta xưa “sinh ra trong cảnh nô lệ, bị gông cùm ngay khi còn trong nôi”[51], ngày nay chúng ta đã được thấy đất nước đứng dậy như lòng hằng ước mơ. Chúng ta đều hy vọng được sống những giờ phút này, những tưởng phải đến đời con, đời cháu có lẽ mới được trông thấy. Thế mà ngày nay, giờ phút đó đã đến! Đúng là nước ta đã phải trả giá đắt cái hạnh phúc ấy và sẽ còn phải trả nữa. Song những đám mây còn phủ lên tình trạng hiện tại làm sao có thể so sánh với nỗi đắng cay và sự thất vọng sẽ vò xé tâm hồn ta nếu như sau chiến tranh, nước Ba Lan còn bị xiềng xích và chia cắt? Cũng như anh, em tin tưởng ở tương lai”.
Hy vọng đó, ước mơ đó, không làm khuây khỏa những lo âu riêng tư của Ma-ri. Chiến tranh đã làm hao mòn sức khỏe của bà. Chiến tranh đã làm bà phá sản. Tiền gửi chính phủ Pháp đã tan như tuyết dưới nắng. Và khi nhìn lại tình hình tài chính của mình, Ma-ri không khỏi lo ngại. Hơn năm mươi tuổi rồi, bà vẫn còn nghèo. Để sống với con cái, chỉ còn trông vào lương giáo sư: Mười hai nghìn phơ-răng một năm. Liệu sức khỏe có còn cho phép bà tiếp tục dạy học và đảm đang công việc giám đốc phòng thí nghiệm, cho đến tuổi về hưu không?
Trong khi vẫn duy trì công việc thời chiến của mình (những học sinh thực tập về điện quang vẫn còn tiếp tục đến nghe giảng ở viện Ra-đi-om trong hai năm nữa) Ma-ri lại trở lại với sự ham mê của đời mình là ngành vật lý. Bà viết một quyển sách về “Điện quang và chiến tranh”, ca ngợi lợi ích của những phát minh khoa học và giá trị nhân đạo của chúng, và rút từ trong kinh nghiệm đau đớn vừa qua, thêm nhiều lý lẽ mới để thiết tha yêu quý khoa học.
“Lịch sử ngành điện quang thời chiến là một thí dụ rất sắc bén về phạm vi áp dụng rộng rãi không ai ngờ đến được của các phát minh khoa học thuần túy trong một vài điều kiện nào đó”. Trước chiến tranh tia X chỉ được sử dụng hạn chế. Cái thảm họa lớn đã xâu xé nhân loại, với một số nạn nhân tăng lên khủng khiếp, đồng thời đã làm nẩy sinh như một phản ứng, lòng ham muốn cứu vãn tất cả cái gì đó có thể cứu được, và tìm mọi cách giành giật và che chở sinh mạng con người.
Điều mà lúc đầu tưởng là khó đã trở thành dễ và có ngay giải pháp.
Dụng cụ và người sử dụng được nhân lên, ngày càng nhiều. Người chưa biết thì học. Kẻ thờ ơ trở nên tích cực. Như có phép lạ, phát minh khoa học đã chinh phục xong lĩnh vực hoạt động tự nhiên của nó. Khoa học chữa bệnh bằng Ra-đi, áp dụng những tia phát ra bởi các chất Ra-đi vào y học, cũng sẽ tiến triển như vậy”
Nên kết luận thế nào đây về sự việc không ngờ đó đã đến với những quang tuyến mà khoa học mới phát minh ra cuối thế kỷ 19? Rõ ràng là nó làm ta thêm tin tưởng sâu sắc vào sự tìm tòi vô tư, càng thêm trân trọng và khâm phục sự tìm tòi đó”.
Khó mà nhận ra đâu là những sáng kiến của Ma-ri Qui-ri và tầm quan trọng của nó trong quyển sách kỹ thuật khô khan trên. Toàn một cách nói không xưng tên, một niềm khăng khăng tự xóa mình, giấu mình trong bóng tối! Đối với Ma-ri, cái “tôi” không chỉ đáng ghét, cái “tôi” không có. Công trình của bà hình như tạo ra do những thế lực bí ẩn, lúc thì bà gọi là “tổ chức y tế”, lúc thì là “người ta” hay quá đi nữa là “chúng tôi”. Sự khám phá ra chất Ra-đi cũng lẩn trong câu “những quang tuyến mà khoa học mới phát minh vào cuối thế kỷ thứ 19”. Và nếu buộc lòng phải nói đến mình, thì người viết cố hòa lẫn trong quần chúng vô danh:
“Cũng muốn phục vụ như rất nhiều người khác, việc quốc phòng trong những năm vừa qua, tôi đã hướng ngay về ngày điện quang”.
Chú thích:
[51] Trích trong quyển “Pan Tadeusz” của nhà thơ Ba Lan A-dam Mich-ki-e-vich (Adam Mickienrica) (1798-1855)