Nữ Bác Học Marie Curie

Lượt đọc: 1487 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
những ngày đen tối

- Ma-ri Xkhua-đốp-xka.(Marie Skłodowska)

- Có tôi.

- Em hãy nói về Xta-ni-xlat O-gut-xtơ.

- Năm 1764, Xta-ni-xlat O-gut-xtơ Pô-ni-a-tốp-xki lên làm vua nước Ba Lan. Người rất thông minh, giàu kiến thức, là bạn của văn nghệ sĩ. Người hiểu thấu các tệ nạn làm suy yếu nước nhà và muốn tìm phương cứu chữa. Tiếc rằng Người đã thiếu can đảm…

Em học sinh đứng trong hàng ghế thứ ba, gần cửa sổ cao trông ra những thảm cỏ phủ tuyết của công viên Xắc-xơ đang đọc bài bằng một giọng dễ thương, vững vàng. Em trông không khác các bạn mấy trong bộ đồng phục ở ký túc xá may bằng thứ len mỏng màu lơ tím, khuy sắt. Cổ cồn trắng là thẳng đứng làm cô bé lên mười trông như rụt cổ. Đâu rồi những búp tóc quăn luôn rối bời của bé An-chiu xưa kia? Một mớ tóc bím quá chặt buộc bằng một cái dải vải bé, kéo bộ tóc quăn ra sau hai tai nhỏ xinh xắn làm cho khuôn mặt cương nghị hóa ra tầm thường. Một mớ tóc bím khác dày hơn cũng đã thay những “búp kiểu ăng-lê” của Hê-la, chị của Ma-ni-a ngồi ở bàn bên. Theo nội quy của trường tư thục Xi-coóc-ca, ăn mặc phải chỉnh tề, tóc chải nghiêm túc.

Cô giáo cũng chẳng diêm dúa gì hơn. Vả lại, với chiếc áo lụa đen, cổ cồn không theo thời trang, cô Tu-pac-xca chẳng có gì là đẹp. Mặt thô và xấu, được cái dễ thương. Các em thường gọi thân mật là cô Tup-sa. Cô dạy toán và sử, đồng thời còn làm giám thị, thỉnh thoảng vẫn phải nghiêm khắc với tính tình phóng khoáng và ngang bướng của “con bé Xkhua-đốp-xka”.

Tuy thế nhưng cô nhìn Ma-ni-a bằng ánh mắt âu yếm. Làm sao không tự hào khi có một học trò xuất sắc như vậy. Ma-ni-a kém các bạn hai tuổi, và đối với em, hình như không có gì là khó. Môn nào cũng nhất, toán, sử, văn, đều nhất, nhất cả tiếng Pháp, tiếng Đức và kinh bổn.

Cả lớp im lặng như tờ. Một cái gì hơn cả sự lặng lẽ. Bài Sử mới rồi tạo ra một không khí say sưa tha thiết. Hai mươi nhăm tâm hồn yêu nước ngây thơ, nồng nàn, hai mươi nhăm cặp mắt bừng sáng cùng vẻ mặt khắc khổ của cô giáo trẻ ánh lên một niềm hào hứng nghiêm nghị.

Maya nói đến một nhà vua đã mất từ bao nhiêu năm, giọng chan chứa nhiệt tình.

- Tiếc rằng vua đã thiếu can đảm.

Từ cô giáo ít tươi cười đến các học trò nhỏ quá nghiêm túc học lịch sử Ba Lan bằng tiếng mẹ đẻ, lớp học có vẻ như đang làm điều gì mờ ám.

Họ bỗng run lên, không khác gì những người âm mưu thật sự: từ ngoài thềm, vừa có tiếng chuông điện rung kín đáo.

Hai tiếng dài, hai tiếng ngắn…

Một cảnh nhốn nháo hồi hộp nhưng lặng lẽ tức khắc diễn ra. Cô Tup-sa đứng phắt dậy, thu vội sách vở tản mạn. Các quyển sách và vở viết bằng tiếng Ba Lan trên các bàn học sinh cũng được những bàn tay nhanh nhẹn vơ hết và chồng vào các tạp dề của năm học sinh. Họ biến thoắt sau cánh cửa thông sang buồng ngủ nội trú. Có tiếng xô ghế, mở nắp và đóng nắp nhẹ. Năm cô bé thở chẳng ra hơi quay về chỗ. Cửa phòng ngoài chầm chậm mở.

Lão Hoóc-no-be, thanh tra các ký túc xá của thành phố Vác-xô-vi xuất hiện trên ngưỡng cửa. Người lão bó chặt trong bộ đồng phục đẹp màu vàng, áo xanh lơ khuy bóng loáng. Thân hình nặng nề, tóc húi ngắn, mặt béo phị, mắt rất sâu sau đôi kính gọng vàng.

Hắn nhìn học sinh không nói một lời. Cô hiệu trưởng Xi-coóc-ca đi theo, đứng cạnh hắn, cũng nhìn các em – ngoài mặt thản nhiên nhưng trong lòng lo sợ bằng chừng nào. Hôm nay, không hiểu sao khoảng cách thời gian quá ngắn. Ngoài cổng vừa mới bấm chuông báo hiệu Hoóc-no-be đã đi trước người hướng dẫn, bước lên thềm, vào trong lớp. Trời, không biết mọi việc có đâu vào đấy không?

Đâu vào đấy cả. Hai mươi nhăm em gái nhỏ đang lúi húi học khâu, ngón tay lồng trong đê, tập thùa khuyết trên những mảnh vải vuông xơ mép. Kéo và chỉ để bừa ra trong các ngăn bàn rỗng. Cô giáo ngồi trên bục mặt đỏ gay, gân trán hơi nổi, chưng ra một quyển sách mở in bằng chữ “chính thống”.

- Thưa ngài thanh tra, các em có hai giờ nữ công mỗi tuần. Cô hiệu trưởng khoan thai nói bằng tiếng Nga.

Hoóc-no-be bước tới chỗ cô giáo:

- Cô vừa đọc to quyển gì đấy?

- Truyện cổ tích kri-lốp. Hôm nay chúng tôi mới bắt đầu. - Giọng cô Tup-sa thản nhiên và đôi má cô cũng đã trở lại sắc thái bình thường.

Lơ đãng Hoóc-no-be mở một ngăn bàn gần nhất. Chẳng thấy gì bên trong. Không một quyển sách, một quyển vở.

Các em cẩn thận đính xong mũi khâu và cái kim vào vải rồi xếp công việc lại ngồi khoanh tay, im lặng, tất cả đều giống nhau trong trong bộ đồng phục màu sẫm và cổ cồn trắng toát. Hai mươi lăm khuôn mặt trẻ thơ ấy bỗng già đi, với một vẻ kín đáo che giấu nỗi sợ hãi, trí mưu mẹo, lòng căm ghét.

Hoóc-no-be nhận cái ghế Tup-sa trao cho, nặng nề ngồi xuống:

- Cô gọi cho tôi một học sinh.

Ma-ni-a ngồi bàn thứ ba tự nhiên quay mặt ra cửa sổ, nét mặt đăm đăm. Lòng thầm cầu xin: “Lạy Trời, đừng gọi tôi! Đừng, đừng gọi tôi!”

Nhưng lại chắc chắn thể nào mình cũng sẽ được gọi. Đã thành lệ rồi, mỗi lần có thanh tra chính quốc tới hỏi vấn đáp, bao giờ cô giáo cũng gọi em học sinh thông thái nhất lớp và tiếng Nga rất giỏi.

Nghe gọi tên mình, Ma-ni-a đứng dậy. Em thấy nóng bừng à không, lạnh toát cả người. Và thẹn đến chín dừ, cổ họng như tắc lại.

- Đọc kinh. - Hoóc-no-be buông một tiếng, dửng dưng chán chường.

Maya đọc một mạch bài kinh “Đức Cha của chúng ta” với một giọng đều đều. Sa hoàng quả đã không tìm được cách làm nhục quái ác hơn là bắt các trẻ em Ba Lan hằng ngày đọc kinh Thiên chúa giáo bằng tiếng Nga! Một mặt thì làm như tôn trọng tín ngưỡng của các em nhưng đồng thời lại thóa mạ điều các em tôn kính nhất.

Lại im lặng.

- Các Sa hoàng nào trị vì trên đất thánh Nga sau Ca-tơ-rin II?

- Ca-tơ-rin II, Pôn I, A-léc-xang I, Ni-cô-lai I, A-léc-xang II.

Lão thanh tra tỏ vẻ bằng lòng. Con bé có trí nhớ tốt. Và giọng nói tiếng Nga mới hay làm sao! Cứ y như đẻ ở Pê-téc-bua vậy.

- Nói cho ta nghe tên và chức tước các vị trong Hoàng tộc.

- Đức hoàng hậu, Đức Hoàng tử Txa-rê-vích A-léc-xang, Đức Quận công…

Danh sách dài, đọc một mạch làm Hoóc-no-be nhếch mép cười.

- Ừ, tốt đấy! - Lão không thấy – hay không muốn thấy vẻ mặt bối rối và đanh lại của em gái đang cố nén bực dọc trong lòng.

- Danh vị của Nga Hoàng trong tôn ti quyền quý?

- Đức Hoàng đế.

- Còn chức tước của ta?

- Ngài đại thần.

Lão thanh tra thích thú về những chi tiết ngôi thứ ấy mà hắn còn coi trọng hơn cả số học hay ngữ pháp. Hắn lại hỏi thêm.

- Ai trị vì chúng ta?

Những cặp mắt bốc lửa của cô hiệu trưởng và cô giám thị cố chăm chú ngắm nghía quyển sách gọi tên đặt trước mặt. Chưa được ngay câu trả lời, Hoóc-no-be cáu, sẵng giọng nhắc lại.

- Ai trị vì chúng ta?

- Đức Hoàng đế A-léc-xang II (Alexandre II), Sa hoàng của tất cả nước Nga.

Ma-ni-a mặt tái nhợt, đáp lại, giọng nặng trĩu.

Cuộc lục vấn đã xong. Lão kia bước khỏi bục, khẽ hất đầu chào rồi sang lớp bên cạnh, cô hiệu trưởng Xi-coóc-ca theo sau.

Lúc này, cô Tup-sa mới ngẩng đầu lên.

- Em lại đây, linh hồn bé nhỏ của ta.

Ma-ni-a ra khỏi hàng, bước đến gần cô giáo, cô lặng lẽ hôn lên trán em. Và trong lớp học đang nhộn nhịp hẳn lên, em bé Ba Lan, thần kinh quá căng thẳng bỗng òa khóc nức nở.

 *

 “Lão thanh tra đã đến! Lão thanh tra đã đến!”

Đàn em gái nhỏ ríu rít báo cái tin mới ấy cho các bà mẹ, các chị đứng đợi ở cổng trường vào lúc tan học. Những nhóm học sinh mặc áo rét dầy cộp, các người lớn to sù trong chiếc áo bông rảo bước tản nhanh trên vỉa hè phủ tuyết đầu mùa, ai nấy chỉ nói chuyện thì thầm. Mỗi người lảng vảng ngoài đường, mỗi anh chàng nghênh ngang bước trước các cửa hiệu, biết đâu chẳng là một tên chỉ điểm?

Hê-la huyên thuyên kể lại câu chuyện buổi sáng cho cô Mi-sa-lốp-sca thường gọi là cô Lu-sa – đến đón hai cháu.

- Hôm nay lão Hoóc-no-be hỏi Ma-ni-a nhiều lắm cô ạ. Nó trả lời được cả. Thế rồi nó khóc cô ạ. Cháu nghe bạn cháu nói ở tất cả các lớp, lão thanh tra không bới móc được điều gì.

Hê-la vốn tính bộc trực cứ rủ rỉ kể mãi, Ma-ni-a lững thững bên cạnh, không hé nửa lời. Cuộc đối đáp đã qua được mấy giờ rồi mà em vẫn thấy xúc động, bàng hoàng. Ma-ni-a rất ghét những lần sợ hãi bất thần như thế này. Em không ưa lối đóng kịch nhục nhã, cứ phải nói dối, lúc nào cũng nói dối, không đúng với lòng mình…

Sau lần lão Hoóc-no-be đến thăm trường, Ma-ni-a càng cảm thấy đời mình có một nỗi buồn. Còn đâu em bé vô tư lự xưa kia? Bốn năm gần đây, bao tai họa đã liên tiếp giáng xuống gia đình ông giáo làm cho em tưởng như một cơn ác mộng.

Đầu tiên là bà giáo đi Ni-xơ cùng với Dô-sa. Cả nhà bảo Ma-ni-a rằng mẹ đi nghỉ dưỡng ở bờ biển cho khỏi hẳn sẽ về. Một năm sau, gặp lại mẹ thì thấy mẹ đã già xọp đi, không nhận ra nữa. Và số mệnh như đã định trước rồi.

Rồi đến thu 1873, một ngày ảm đạm sau kì nghỉ hè. Khi cùng với gia đình trở về phố Nô-vô-lip-xki để tiếp tục làm việc vào năm học mới, ông giáo thấy trên bàn giấy một lá công văn: theo lệnh trên, ông bị rút lương, đòi nhà, cách chức hiệu phó.

Đó là cách trả thù của tên I-van-nốp đối với những người dưới quyền không chịu cúi đầu nịnh nọt.

Sau nhiều lần đổi chỗ ở, gia đình Xkhua-đốp-xki chuyển đến một căn nhà góc phố Ni-vô-li-xki và Các-mê-lít.

Hoàn cảnh ông giáo lúc này đã thay đổi, ngày càng túng bấn, lúc đầu ông chỉ nhận hai, ba người trọ học, về sau đến năm, mười người vừa ăn, ở và học tư, nhà thành như cái chợ, chẳng còn không khí gia đình thân mật ấm cúng nữa.

Không chỉ vì địa vị đã sút kém hoặc vì muốn để vợ đi Ri-vi-e-ra chữa bệnh mà ông giáo phải thu xếp như vậy. Cũng còn một lý do khác. Đó là vì ông đã nhẹ dạ nghe người em vợ gọi chung vốn mua một cối xay máy để tính chuyện làm giàu. Và con người vốn cẩn thận đó, bỗng chốc mất nhẵn ba mươi nghìn rúp, kết quả một đời làm việc và ky cóp. Vừa hối, vừa tiếc, lại lo nghĩ về tương lai, ông cứ tự trách là đã làm cho gia đình nghèo túng và mấy con gái mất của hồi môn.

Nhưng chỉ cách đây hai năm – vào tháng giêng 1876 – Ma-ni-a mới biết thế nào đau thương, bất hạnh. Một người học trò trọ học bị lên đậu đã lây ra Brô-ni-a và Dô-sa (Sophia). Trời! Những tuần lễ khủng khiếp! Buồng bên này bà mẹ lao cố nén cơn ho, buồng bên kia, hai cô gái lên cơn sốt rên rỉ và run lập cập.

Rồi một buổi thứ tư, ông giáo gọi Dô-dếp, Hê-la và Ma-ni-a và dẫn chúng đến với chị chúng. Dô-sa mặc toàn trắng nằm trong quan tài, mặt nhợt nhạt và như mỉm cười, đôi tay chắp lại, đầu cạo trọc, nhưng trông mới đẹp làm sao!

Lần đầu tiên, Ma-ni-a trông thấy cái chết. Lần đầu tiên, em mặc một áo choàng đen đi đưa tang. Brô-ni-a mới khỏi nằm trong giường nức nở và bà giáo kiệt sức không đi được, cố lê đến khắp các cửa sổ để nhìn theo linh cữu của con gái chầm chậm đi xuôi phố Các-mê-lít.

*

- Này các cháu thân yêu, ta đi quành một tí nhé. Mùa rét đến nơi rồi, cô phải mua trước ít táo.

Buổi chiều tháng một này ở vườn hoa Xắc-xơ như vắng ngắt. Cô Lu-sa xinh đẹp và tốt nết thường tìm cớ dẫn các cháu đến đây, đi chơi cho thoáng, khỏi gian nhà chật hẹp mà bà mẹ ho lao ngồi thẫn thờ suốt ngày. Nếu lây thì đến khổ! Hê-la còn khá, chứ em nó thì xanh lướt như tàu lá, yếu thế kia!

Ba cô cháu rảo bước qua vườn, đi đến khu phố cổ của Vác-xô-vi. Ma-ni-a đẻ ở nơi này đây. Đường phố trông vui hơn ở trong thành phố mới. Tại quảng trường Xta-rơ Mi-at-xtơ (Thành phố cổ) nhà nào nhà nấy mái dốc đồ sộ, mặt nhà màu xám phô bày hàng nghìn chạm trổ: nào là đường gờ, nào là hình thánh hoặc hình súc vật đã biến thành biển hàng cho các quán trọ và các cửa hiệu.

Tiếng chuông nhà thờ đối đáp nhau ở nhiều điệu thức trong bầu không khí giá lạnh, gợi lại bao kỉ niệm về thời thơ ấu. Lễ rửa tội ở nhà thờ Xanh Ma-ri, lễ chịu mình thánh ở nhà thờ Đô-mi-ni-canh. Ma-ni-a vẫn còn nhớ mãi cái ngày ấy, cùng với Ha-ri-ét, một cô em họ thề với nhau sẽ không ghé răng cắn vào bánh thánh. Ở nhà thờ Thánh Pôn, cứ chủ nhật, các cô bé thường đến nghe giảng đạo bằng tiếng Đức.

Quảng trường Nô-vơ Mi-at-xtơ (thành phố mới) bốn bề lộng gió, thoáng đãng, vắng vẻ, cũng rất quen thuộc đối với Ma-ni-a. Gia đình ông giáo đã đến đây một năm sau khi rời khỏi trường. Mỗi sáng, em cùng mẹ và các chị đến nhà thờ Đức bà, một kiến trúc rất độc đáo khang trang. Cái tháp vuông và các khu xây bằng đá đỏ đã mòn nhẵn vì thời gian như bám vào ngọn đồi cao chế ngự dòng sông.

Hai em bé theo cô Lu-sa bước vào nhà thờ, Ma-ni-a bước qua khung cửa kiến trúc kiểu gô-tích, đi thêm vài bước trong bóng tối rồi quỳ xuống. Em rùng mình, hôm nay đến đây chạnh nhớ Dô-sa, thật chua xót, Dô-sa không còn nữa và thiếu cả người mẹ có tính tình thần bí mà Chúa hình như chẳng đoái hoài.

Ma-ni-a cầu khấn với lòng tin dạt dào vào chúa. Em cầu chúa đem lại sức sống cho mẹ em, người mà em yêu quý nhất đời, với tất cả lòng tha thiết nhưng cũng với một nỗi tuyệt vọng, em xin hiến dâng đời mình để đánh đổi điều cấu nguyện đó. Em sẵn sàng chết để mẹ em được sống.

Cô Lu-sa và chị Hê-la cũng cúi đầu gần đây, khấn khấn, niệm niệm…

Ba cô cháu ra khỏi nhà thờ, bước từng bậc mấp mô xuống tận bờ sông. Dòng sông Vit-xtuyn trải ra mênh mông, không có vẻ dịu tính chút nào. Nước sông vàng bệch uốn quanh những cồn cát bồi thành những hòn đảo nhàn nhạt nhấp nhô giữa dòng. Nước vỗ vào hai bờ khúc khuỷu, chen chúc nhà tắm và bến giặt, mấy chiếc thuyền nghỉ mát, hình thon dài màu xám, mùa hè nhộn nhịp những đoàn người đi chơi sông là thế mà bây giờ nằm im, buồm, cột tháo dỡ hết, chỉ còn quanh đám thuyền táo là tấp nập. Hai chiếc xuồng to, hẹp và nhọn đằng mũi, nước mấp mé đến tận mạn.

Chủ thuyền vùi mình trong một tấm da cừu, bới từng ôm rơm rạ cho khách mua xem hàng. Dưới ổ rơm mềm mại phủ lên để chống băng giá, những quả táo đỏ mọng, rắn tươi, bóng loáng trông rất thích mắt. Có đến hàng nghìn quả chất đầy khoang thuyền: Táo vùng Vit-xtuyn thượng phải mất bao nhiêu ngày mới từ thành phố Cac-dơ-mia đẹp đẽ xuôi thuyền về tới đây.

- Để cháu chọn, cháu chọn táo cho…

Hê-la mừng rỡ nói rối rít. Ma-ni-a cũng vội bỏ cặp xuống rồi cởi bao tay ra.

Không gì thích hơn những lần đi mua táo như thế này: nhặt từng quả, ngắm chọn kỹ rồi bỏ vào một cái giỏ mây, quả nào thối quăng ngay xuống sông rồi nhìn theo dòng nước cuộn xoáy tròn. Được đầy giỏ rồi lên bờ, tay ai nấy cầm một quả táo đẹp đẽ hơn tất cả…

Táo lạnh, cắn vào răng kêu ken két, ăn thật tuyệt. Cô Lu-sa mặc cả và thuê một em bé mặt đầy trứng cá đứng cạnh đấy bưng giỏ về nhà.

*

Sau bữa chiều, lúc năm giờ, mấy chị giúp việc đã lau dọn bàn và thắp cái đèn dầu to treo giữa nhà. Đã đến giờ học. Các cậu học sinh trọ học đã quay về phòng của họ, cứ hai ba người chung một phòng. Con trai và mấy con gái ông giáo ở lại buồng ăn, lúc này đã thành buồng học. Ai nấy đem sách vở ra, rồi chỗ nào cũng rì rầm tiếng học, những âm thanh dai dẳng sẽ hàng nhiều năm nữa là chủ đề chính trong điệu nhạc của ngôi nhà này.

Vẫn những giọng đọc quen thuộc ê a những câu thơ La Tinh, những niên hiệu lịch sử hoặc những đầu bài toán. Trong cái nhà máy kiến thức này, nơi nào người ta cũng phải trầy trật gian khổ. Thật khó khăn đấy. Một bài toán chứng minh bằng tiếng mẹ đẻ thì ai cũng hiểu ngay, nhưng tiếng Nga – tiếng chính thống – thì không lần ra được, càng không thể nhắc lại. Đã bao phen trò chán nản, thầy lại phải động viên, dỗ dành.

Nhưng Ma-ni-a không biết nỗi khổ ấy. Em có trí nhớ tài tình đến nỗi chỉ cần đọc hai lượt một bài thơ là thuộc lòng không sai chữ nào. Các bạn cứ đổ cho là gian lận, lén học từ trước. Ma-ni-a thường làm xong bài trước các bạn và nhiều khi ngồi rỗi và do dễ dãi tự nhiên, em vẫn giúp một bạn gái đang bí.

Nhưng em thích nhất là như chiều hôm nay, ngồi ở cái bàn to, trước quyển sách mở, khuỷu chống lên bàn, tay đỡ lấy trán, hai ngón cái bịt lỗ tai để khỏi nghe Hê-la đang “gào” bài. Cẩn thận như vậy xét ra cũng chẳng cần thiết. Vì chỉ một lúc sau, em đã mê mải đọc, không để ý gì đến xung quanh nữa.

Tài tập trung cao độ ấy là điều lạ lùng duy nhất ở đứa bé bình thường và khỏe mạnh đó, làm mấy chị và chúng bạn rất thích bông đùa. Nhiều lần với sự thông đồng của bọn học sinh ký túc, Brô-ni-a và Hê-la đã khua gõ loạn xạ xung quanh Ma-ni-a đang vùi đầu vào quyển sách vẫn không làm cho em ngước mắt lên.

Chiều nay lúc các chị muốn tìm ra những trò chơi hay hơn, nhất là có thêm Hăng-ri-ét, con cô Lu-sa, họ càng nghịch tợn. Họ kiễng chân đi rón rén, xếp chồng ghế cái nọ lên cái kia chung quanh Ma-ni-a đang ngồi yên như pho tượng. Mỗi bên đặt hai ghế, đằng sau lưng đặt một, chồng hai cái khác lên bốn cái trước, và một cái trên cùng, như một giàn giáo. Xong họ rút lui lặng lẽ, giả vờ làm việc và đợi.

Ma-ni-a vẫn không biết gì cả, không để ý đến những tiếng rì rầm to nhỏ, những chuỗi cười khúc khích cố nén lại, và cả đến bóng mấy chiếc ghế trên mái tóc và người em, suốt nửa giờ ngồi như thế, dưới cái tháp chênh vênh sắp đổ mà không biết. Đọc xong chương sách, cô mới ngẩnh đầu lên. Một tiếng rầm, mấy chiếc ghế đổ nhào. Hê-la thích thú cười la inh ỏi, Hăng-ri-ét và Brô-ni-a sợ bị phản ứng, vội né ra xa.

Nhưng Ma-ni-a vẫn thản nhiên, không tỏ ra bực mình và cũng không cười cái trò tinh quái đã làm cho em một phen hoảng sợ. Đôi mắt màu tro trông hớt hơ hớt hải như người đương mê ngủ choàng tỉnh. Em xoa chỗ vai trái bị ghế đập phải, nhặt sách lên và sang phòng bên. Đi qua các chị lớn, em chỉ nói: “Chả hay gì cả!”

Câu trách nhẹ nhàng, nhưng các chị cũng không bằng lòng lắm.

Những lúc miên man đọc sách quên hết cảnh vật bên ngoài là Ma-ni-a thấy lại thời thơ ấu rực rỡ của mình. Em say sưa đọc: sách giáo khoa, văn thơ, truyện phiêu lưu, sách kỹ thuật, tất cả những sách vở có trong tủ sách của bố. Và dầu chỉ vài giờ ngắn ngủi, em đã đẩy xa những con ma vẫn hằng ám ảnh mình. Em quên hết, những tên do thám của Sa hoàng, những cuộc đi kiểm tra trường của lão Hoóc-no-be, quên cả vẻ mặt phờ phạc của bố suốt ngày tất bật trong những công việc tầm thường, quên đi gian nhà không lúc nào ngớt tiếng động, ồn ào, huyên náo, và sáng sáng cứ phải dậy thật sớm, lúc trời còn tối đen, đang ngái ngủ đã phải rời cái ghế tràng kỷ lót nhung để nhường chỗ cho các học sinh trọ học ăn sáng vì buồng ăn trong nhà cũng là buồng ngủ của mấy đứa con ông giáo.

Và Ma-ni-a quên tất cả mọi nỗi lo âu khiếp đảm, lo sợ kẻ áp bức, lo sợ về tôn giáo, lo sợ bệnh hoạn và chết chóc. Bản năng tự nhiên đã thúc đẩy em tìm cách thoát khỏi cái không khí nặng nề ấy.

Những giây phút lãng quên quá đỗi ngắn ngủi. Chợt nhớ ra, là lại thấy tất cả, và bắt đầu là nỗi lo âu về bênh lao của mẹ đã quá trầm trọng. Người đàn bà trước kia khỏe đẹp thế, nay chỉ còn cái bóng. Không lời an ủi nào đánh lừa được Ma-ni-a nữa. Em cảm thấy rằng sự say mê ngưỡng mộ, lòng yêu mẹ vô hạn, lời cầu khẩn thiết tha của mình sẽ không còn đủ sức mạnh ngăn cản được diễn biến khủng khiếp đang đến gần.

*

Bà giáo cũng nghĩ đến sự kết thúc khó lòng tránh khỏi đó. Bà muốn rằng khi nó đến thì mình đã sẵn sàng, không để nó làm đảo lộn nếp sống ở gia đình. Ngày 9 tháng 5 năm 1879, bà đã yêu cầu thầy thuốc nhường chỗ cho cha cố. Chỉ cha cố sau này mới thấu nỗi sầu muộn của người đàn bà ngoan đạo ấy, đau buồn vì phải để lại cho chồng thân yêu cáng đáng bốn đứa con thơ và lòng luôn luôn bị vò xé mỗi khi nghĩ đến tương lai của chúng, đến cái An-chiu mới mười hai tuổi đầu.

Trước mặt chồng con, bà chỉ lộ ra những nét nguôi dịu, đến giờ phút cuối cùng càng cao đẹp khác thường. Bà chết như lòng mình đã từng mong muốn, không mê, không lẫn. Trong căn phòng sạch sẽ, chồng, con trai, con gái đứng quanh giường bệnh. Đôi mắt dài màu xám, sầu ải, đã mờ đi vì cái chết sắp đến, hết nhìn chồng lại đến con, như muốn xin lỗi vì mình đã gây ra nỗi đau thương ấy.

Bà còn đủ nghị lực để vĩnh biệt từng người, rồi lịm dần.

Sự sống chỉ còn là một tia lửa hiu hắt. Bà chỉ có một cử chỉ và một lời nói cuối cùng.

Cử chỉ là bàn tay run rẩy làm dấu chữ thập để cầu phúc cho cả nhà.

Lời cuối cùng, thì thầm trong hơi thở hắt ra, con người hấp hối nhìn chồng và con, vĩnh biệt: “Ta yêu tất cả”.

*

 

Trong căn nhà phố Các-mê-lít, Ma-ni-a lại mặc áo tang đen một lần nữa, thờ thẫn âu sầu, đi đi lại lại. Em chưa thể quen được khi đến tối chị Brô-ni-a sang ngủ ở buồng mẹ mới chết, chỉ còn Hê-la ngủ cùng em trên chiếc tràng kỷ nệm nhung. Em cũng chưa quen ngay được với bà quản gia mà ông giáo phải nhờ đến giúp hằng ngày, sai khiến người làm, sắp đặt hai bữa ăn cho nhóm học trò và chăm lo qua quýt việc ăn mặc, tắm rửa cho bọn trẻ. Ông giáo còn thì giờ nào rỗi để dành hết thời gian cho đàn con côi, như gà trống nuôi con, vụng về và cảm động biết bao.

Cuộc sống đã sớm chỉ cho Ma-ni-a biết đời đầy khắc nghiệt: khắc nghiệt với các dân tộc, khắc nghiệt với con người. Dô-sa đã chết, bà giáo cũng đã chết. Thiếu tình âu yếm dịu dàng của mẹ,  thiếu sự chăm sóc thương yêu của chị cả, em đã lớn lên trong cảnh cô quạnh nhưng không hề có một lời than thân.

Một sự chịu đựng dũng cảm nhưng không nhẫn nhục. Giờ đây, mỗi lần Ma-ni-a đến quỳ ở nhà thờ, nơi mà xưa kia, em vẫn thường đến với mẹ, em bắt đầu cảm thấy âm thầm uất hận.

Em không còn cầu chúa với tất cả lòng thành kính năm xưa nữa. Em thấy chúa bất công vì đã giáng xuống đời em những tai họa khủng khiếp, đã dập tắt xung quanh em niềm vui, trí tưởng tượng và cảnh êm đềm.

« Lùi
Tiến »