Nữ Bác Học Marie Curie

Lượt đọc: 1490 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
chí hướng

            Sau mười bốn tháng sống ở nông thôn, đến tháng chín, Ma-ni-a trở về Vác-xô-vi. Lúc này, gia đình cô lại dọn đến gần trường trung học ở phố Nô-vô-lip-xki, nơi cô đã sống thời thơ ấu.

 Vì một thay đổi lớn đã đến gia đình này. Ông giáo tuy vẫn dạy ở trường trung học, nhưng nay đã có tuổi, nên thôi nhận học sinh trọ học. Từ đây, Ma-ni-a cùng với bố và anh chị ở một căn nhà nhỏ hơn, thanh bạch hơn. Khung cảnh và môi trường ấy khêu gợi suy nghĩ và làm việc.

Ai mới gặp ông giáo lần đầu sẽ nghĩ là ông nghiêm khắc, khó gần. Ba mươi năm trời gõ đầu trẻ ở trường trung học đã tạo cho người đàn ông béo lùn ấy một dáng đạo mạo, có nhiều chi tiết chứng tỏ đây là một công chức tiêu biểu: quần áo màu sẫm, luôn luôn chải chuốt, tưởng như không còn vướng một hạt bụi, cử chỉ điệu bộ chính xác, ưa dùng châm ngôn thị phạm. Mỗi việc trong đời ông đều có phương pháp, quy củ. Ông đã viết một bức thư thì câu cú phải gọn gàng, nét chữ nắn nót. Nghỉ hè, nếu định đi tham quan danh lam thắng cảnh thì từng chi tiết đi đứng phải được xếp đặt từ trước. Một chương trình tỉ mỉ sẽ lần lượt đưa mấy bố con đến những nơi đáng xem, rồi vừa đi, ông vừa ca ngợi cảnh đẹp hoặc giải thích ý nghĩa lịch sử của một công trình kiến trúc. Ma-ni-a không hề để ý đến cá tính đó của nhà giáo. Cô chỉ càng yêu cha tha thiết.

            Đối với Ma-ni-a, ông giáo vừa là cha, vừa là một người thầy thông thái, uyên thâm. Quả vậy, gần như môn gì ông cũng tỏ ra am hiểu. Ngày nay khó mà tìm ở một nước Châu Âu, một thầy giáo âm thầm, vô danh, mà hiểu rộng như thế. Phải tất bật sớm chiều mới lo nổi cân bằng chi thu gia đình, người cha tần tảo đó vẫn để thì giờ trau dồi kiến thức khoa học qua những sách báo trầy trật lắm mới có được. Ông nhận thức rõ không những cần học tiếng La Tinh, tiếng Hy Lạp, mà còn phải biết những bước tiến của hóa học và lý học, và ngoài tiếng Ba Lan, tiếng Nga còn phải hiểu tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức. Ông dịch ra tiếng mẹ đẻ nhiều tác phẩm văn thơ ưu tú của nước ngoài. Ông còn làm thơ, và chép cẩn thận vào một quyển vở bìa đen và xanh, những bài như: Tặng các bạn, một ngày kỷ niệm. Chúc rượu mừng đám cưới. Tặng học trò cũ của tôi.

            Cứ đến chiều thứ bảy, cả nhà quây quần bên ấm trà bốc khói, bình văn thơ. Ông giáo ngâm thơ hoặc đọc sách. Con trai và ba con gái ngồi nghe chăm chú say sưa. Người thầy giáo già, trán hói, mặt bầu bầu, điềm đạm, với bộ râu màu tro, rất có tài về khoa nói. Thứ bảy nào cũng vậy, Ma-ni-a lại được nghe các tác phẩm văn học cổ điển do một giọng thân thuộc đọc. Cũng cái giọng khi xưa đã từng kể cho cô nghe chuyện cổ tích, tường thuật du lịch, hoặc giới thiệu cuốn Đa-vít Cơ-pơ-phin của nhà viết tiểu thuyết Anh Đích-kơn[5] (Charles Dickens) ông giáo vừa đọc, vừa dịch từ tiếng Anh ra tiếng Ba Lan, không vấp váp chỗ nào. Giờ đây, với một giọng rè khan vì bao nhiêu giờ lên lớp ở trường trung học, ông ngâm cho bốn thanh niên chăm chú nghe những tác phẩm của các nhà thơ lãng mạn ở Ba Lan như Xlo-vat-xki, Cra-sin-xki và Mic-kê-vich (Adam Mickiewcz-NS), viết về cảnh nô lệ và sự chiến đấu. Những trích đoạn của thiên anh hùng ca “Ông Ta-đê”[6] (Pan Tadeuse) hoặc những vần thơ Coóc-đi-an đau thương in trên những trang sách bạc màu mà một số bị Sa hoàng nghiêm cấm vẫn cứ được in ra lén lút.

            Ma-ni-a sẽ còn nhớ mãi những buổi chiều ấy. Cô lớn lên trong một môi trường trí thức có một phẩm chất đặc biệt mà ít bạn gái được biết. Một sợi dây vô hình gắn bó cô với người cha đã cố gắng hết sức mình để tạo cho con gái một cuộc sống có ý thức và bổ ích. Cô yêu cha nồng nàn và cảm thông nỗi buồn lắng đọng dưới bề mặt bình thản của ông giáo: nỗi buồn thương nhớ vợ khôn nguôi, nỗi buồn của một công chức bị chèn ép, phải làm những việc thấp kém, nỗi hối hận, day dứt của một con người vốn thận trọng đến lúc này vẫn còn trách mình năm nào đã nhẹ dạ làm tiêu ma vốn liếng của gia đình.

            Những lúc không trấn tĩnh được, ông giáo than thở với các con “Sao cha lại có thể hồ đồ như thế nhỉ?Cha vẫn hằng mong cho các con có một học vấn tinh tế nhất, được đi đây đi đó, ra học nước ngoài. Nay thế là lỡ hết rồi! Cha không còn tiền, không giúp các con được. Mà rồi đây, các con lại còn phải nuôi cha. Các con sẽ ra sao?”

            Ông giáo thở dài, nhìn đàn con, như chờ đợi những lời phản đối vui vẻ mà mấy anh em Ma-ni-a sẽ nói để an ủi cha. Chúng ngồi đấy, quây quần bên ngọn đèn dầu trong căn phòng xinh xắn, có những bồn cây xanh được chăm sóc ân cần, làm cho thêm tươi tắn. Bốn mái đầu kiên nghị, bốn nụ cười đảm đang. Những tròng mắt sáng ngời, từ màu xanh biển cả đến màu xám tro, cùng ánh lên một bầu nhiệt tình, một niềm hy vọng. “Cha cứ yên tâm. Chúng con còn trẻ, chúng con khỏe”.

            Tâm trạng ông giáo cũng dễ hiểu. Năm đó, một năm quyết định đối với tương lai, tình hình kinh tế gia đình không sáng sủa lắm.

            Vấn đề rất đơn giản. Đồng lương giáo học của ông sắp về hưu chỉ đủ trả tiền nhà, tiền ăn và công chị giúp việc. Ngay từ bây giờ, mấy anh em Dô-dếp, Brô-ni-a, Hê-la, Ma-ni-a phải tự kiếm sống.

            Là con nhà giáo, ý nghĩ đầu tiên của cậu con trai và ba cô gái là đi dạy tư. “Sinh viên khoa y nhận kèm cặp ở nhà”, “Nữ sinh có bằng tốt nghiệp nhận dạy toán, hình học, Pháp văn giá phải chăng”. Mấy anh em Xkhua-đốp-xki giờ đây đã đứng vào hàng ngũ hàng trăm những người trí thức trẻ ở Vác-xô-vi phải đến từng nhà dạy tư để sinh sống.

            Cái nghề bạc bẽo. Mới mười sáu tuổi, Ma-ni-a đã biết đến những nỗi vất vả, nhục nhằn mà một cô giáo dạy tư phải chịu đựng.

            Mưa hay rét vẫn phải đi dạy, cuốc bộ từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh. Học trò thì bướng bỉnh, chây lười. Lại thêm cái tội các bậc cha mẹ cứ bắt cô giáo chờ mãi trong phòng đợi gió lùa “mời cô nán thêm một lát, em nó xuống ngay đấy” và có khi đến cuối tháng, quên khuấy mấy đồng rúp mà người ta mong đợi từ bao nhiêu lâu rồi và cứ nhắc đến sáng hôm ấy là có.

            Mùa đông đến. Ở phố Nô-vô-lip-xki, cuộc sống phẳng lặng trôi, ngày nào cũng giống ngày nào.

            Manya viết:

            “Ở nhà, chẳng có gì mới. Mấy bồn cây vẫn xanh tươi, khóm đỗ quyên vẫn trổ hoa đều. Con chó Lăng-xê vẫn quen ngủ trên tấm thảm nhỏ. Chị Gu-xi-a, thợ may theo công ngày vừa chữa xong cái áo mà mình đem nhuộm, trông lịch sự và đẹp. Áo của chị Brô-ni-a cũng xong rồi, khá lắm. Mình chả viết thư cho ai cả, rất ít thì giờ và ít tiền. Có một bà được giới thiệu đến hỏi giá cả học tư ra sao. Chị Brô-ni-a nói là nửa rúp một giờ, thế mà bà ta chạy như cháy nhà”.

            Phải chăng Manya chỉ là một cô gái nghèo, chịu khó và biết nghĩ, và chỉ lo có một việc là cố nhận thêm học sinh? Không. Vì nghèo túng, cô đã dũng cảm chịu đựng thiếu thốn, vất vả đi dạy học tư. Nhưng cô lại có một cuộc sống khác phong phú, say sưa – cuộc sống nội tâm. Như mọi cô gái Ba Lan đương thời thuộc tầng lớp mình, Ma-ni-a có một tâm hồn rạo rực mơ ước.

            Có một hoài bão chung cho tuổi trẻ Ba Lan thời đó. Đó là Tổ quốc. Lòng tha thiết phục vụ đất nước đi trước cả tham vọng bản thân, trước cả tình yêu và gia đình. Người thì khát khao một cuộc chiến đấu dũng mãnh, táo bạo và rèn dựng những mưu đồ to lớn, hiểm nghèo. Người thì mơ tưởng đấu tranh bằng ngòi bút. Lại có kẻ ôm ấp một ảo mộng huyền bí. Vì Thiên chúa giáo cũng là một nơi ẩn dật, một sức mạnh chống lại kẻ áp bức khác đạo.

            Từ lâu, Ma-ni-a đã tỉnh hẳn giấc mơ huyền bí. Cô vẫn đi nhà thờ đều, nhưng là theo tập tục và phép lịch sự mà thôi. Lòng tin ở đấng chí tôn đã bị lung lay từ ngày bà Xkhua-đốp-xka qua đời, cứ phai nhạt dần. Xưa kia, cô hoàn toàn phục tùng người mẹ rất mộ đạo. Nhưng đã sáu bảy năm nay sống với cha, cô bị ảnh hưởng sâu sắc của một người chỉ đi đạo một cách hững hờ, tuy không nói ra, nhưng chính là vô đạo. Lòng sùng đạo thời thơ ấu nay chỉ còn là một khát vọng mơ  hồ, mong muốn thờ phụng một cái gì cao cả nhất.

            Bạn gái Manya có nhiều người yêu nước giàu tinh thần cách mạng. Cô đã từng liều lĩnh cho mượn giấy thông hành nhưng Ma-ni-a không hề có ý nghĩ, muốn tham gia các cuộc ám sát hoặc ném bom vào xe của Sa hoàng hay cả viên thị trưởng. Một phong trào mạnh mẽ dấy lên giữa tầng lớp trí thức trong đó có Ma-ni-a, nhằm gạt bỏ mọi ảo tưởng trống rỗng, mọi luyến tiếc hão huyền, mọi hồ hởi đòi tự chủ bừa bãi, chỉ còn làm việc, vun đắp cho nước Ba Lan một vốn trí thức huy hoàng và phát triển sự nghiệp giáo dục nhân dân mà các nhà chức trách chủ tâm dìm sâu trong dốt nát.

Chủ nghĩa tiến bộ dân tộc ở Ba Lan hồi đó có một hướng đi đặc biệt, do ảnh hưởng các học thuyết triết học thời bấy giờ. Những năm ấy, thuyết thực tiễn của Công-tơ[7] (August Comte) và thuyết tiến hóa của Xpen-xe[8] (Herbert Spencer) đã đem lại cho các nước Tây Âu những nếp tư duy mới. Trong khi đó, các công trình của Pat-xtơ[9] (Louis Pasteur-NS), Đát-uyn[10]  (Charles Robert Darwin-NS) và Clốt Béc-na[11] (Claude Bernard-NS) nâng cao rất nhiều uy tín của khoa học thực nghiệm. Ở Vác-xô-vi cũng như nhiều nơi khác và hơn các nơi có xu hướng xa rời những tác phẩm lãng mạn, xa rời cái thế giới xúc cảm và của nghệ thuật. Lớp trẻ vốn thích những khẳng định dứt khoát, nay bỗng đề cao hóa học và sinh vật học, đặt lên trên cả văn học.  Xưa kia tôn sùng các nhà văn, nay họ quay ra chiêm ngưỡng các nhà bác học. Nếu ở các nước độc lập tự do, những luồng tư tưởng trên có thể phát triển công khai, thì ở Ba Lan phụ thuộc mỗi biểu hiện tự do tư tưởng bị coi như khả nghi. Các thuyết tiến bộ phải đi “đường ngầm” để đến với quần chúng.

Ít lâu sau khi trở về Vác-xô-vi, Manya chơi thân với một số bạn gái hăng say theo thuyết “thực dụng”. Có một chị tên là Pi-a-set-xka ảnh hưởng sâu sắc đến cô. Chị độ hai mươi sáu, hai mươi bảy tuổi, tóc màu hung, người gầy gò, mặt xấu nhưng dễ thương. Chị dạy ở một trường trung học và yêu một sinh viên tên Noóc-blin vừa mới bị đuổi ra khỏi đại học vì hoạt động chính trị. Chị say sưa với những học thuyết hiện đại thời đó.

 Manya thoạt đầu còn dè dặt e ngại nhưng về sau bị những ý kiến táo bạo của chị Pi-a-set-xka lôi cuốn. Cùng với hai chị Brô-ni-a và Hê-la và một bạn gái tên là Ma-ri-a Ra-kốp-xka, Manya được dự các buổi “đại học di động”. Đó là những buổi giảng về giải phẫu, khoa học tự nhiên, xã hội học, do những thầy giáo dạy không lấy tiền cho đối tượng trẻ muốn mở mang kiến thức. Lớp học mở bí mật ở nhà Pi-a-set-xka hay một vài tư nhân khác. Tám hay mười người tụ họp lại, ghi ghi chép chép, truyền tay nhau sách báo, bài toán. Hơi khẽ có tiếng động là run bắn lên. Nếu lộ, chỉ có tù đày.

Bốn mươi năm sau, Marie Curie viết:

“Tôi còn nhớ rất rõ cái không khí xã hội trí thức thân mật ái hữu đó. Phương tiện hoạt động thì nghèo nàn và kết quả chẳng được là bao, nhưng hồi đó, tôi vẫn tin rằng những lý tưởng dìu dắt mình, là duy nhất có thể đưa đến một tiến bộ xã hội thật sự. Không thể mong xây dựng một thế giới tốt hơn nếu không cải tạo con người. Với mục đích ấy, mỗi chúng ta phải làm việc để tự nâng cao bản thân, đồng thời nhận lấy phần trách nhiệm của mình trong cuộc sống của nhân loại. Chúng ta có bổn phận giúp đỡ những người mà ta thấy có thể giúp ích nhiều nhất”.

Vai trò trường “đại học di động” không chỉ bổ túc cho những thanh niên mới ở trường trung học ra. Sự nghiệp giáo hóa này được cả sự tham gia của học sinh. Được chị Pi-a-set-xka cổ vũ, Manya nhận dạy học cho dân nghèo. Cô đến đọc sách cho chị em công nhân ở một xưởng may và dần dà xây dựng cho chị em một tủ sách tiếng Ba Lan.

Làm sao tưởng tượng được sự say mê của cô gái mười bảy tuổi. Tuổi thơ ấu của cô đã trôi qua trước những sinh linh bí ẩn là dụng cụ vật lý của bố. Và ngay trước khi khoa học tự nhiên được mọi người chú ý, ông giáo đã truyền cho con gái lòng ham muốn say mê hiểu biết. Nhưng đối với một cô gái dạt dào sức sống sôi sục, cái thế giới ấy chưa đủ. Giờ đây, cô đang bước vào các lĩnh vực khác của nhận thức về thế giới. Phải nắm được thuyết thực dụng của Công-tơ. Phải tiếp thu tiến triển xã hội! Ma-ni-a không chỉ ao ước học toán và hóa. Cô còn muốn chấn chỉnh lại trật tự xã hội, và đem ánh sáng kiến thức đến đông đảo quần chúng nhân dân.

            Giữa những hoài bão, ước mơ đó, Manya chưa thấy rằng cần có một sự lựa chọn. Cô chưa ý thức được đâu là ý thức dân tộc, đâu là tư tưởng nhân đạo và đâu là nguyện vọng của người trí thức.

            Thật lạ là cô vẫn giữ được bản chất dịu dàng, dễ thương trong tình trạng tao loạn ấy, giữa những học thuyết ấy. Được tiếp thu ở cha mẹ một nền giáo dục chặt chẽ, cao quý và tấm gương sáng của những con người thanh khiết đã chăm sóc đến tuổi thanh xuân của cô, Manya đã tránh được nhiều điều cực đoan. Bản chất cô mang một phong thái đoan trang, một vẻ duyên dáng, sau này sẽ luôn đi cùng với lòng hăng hái của cô, cả những lúc đắm đuối nhất. Trong đời Manya, chưa hề có lúc nào biểu lộ phẫn uất hoặc bừa bãi phóng đãng. Tuy tính khẳng khái, tự do, chưa bao giờ nói một lời tục tằn, chưa bao giờ cô nghĩ đến châm hút một điếu thuốc lá...

            Sau những giờ ôn tập cho lớp học khu phố, giảng bài cho công nhân xưởng và những buổi học lén lút về giải phẫu ở “đại học di động”, nếu còn rảnh Manya thường đóng cửa ngồi nhà đọc và viết. Thời kỳ chỉ xem tiểu thuyết “giải trí nhẹ nhàng” đã qua rồi. Giờ đây Manya Đốt-xtôi-ép-xki[12] (Dostojeewki), Gôn-xa-rốp[13] (Gontscharow), “Những người được giải phóng” của Bô-let-xoáp Prút-xơ[14] (Boleslav Pruss) và tìm thấy trong tác phẩm này hình ảnh của chính bản thân mình và của chị em phụ nữ Ba Lan khao khát học hỏi. Sổ tay nhật ký của cô cho ta biết cuộc sống nội tâm của một thanh niên đầy tham vọng và quá dồi dào năng khiếu nên gần như mất phương hướng. Mười trang liền về bút chì minh họa thơ ngụ ngôn Pháp của La Phông-ten[15] (La Fontaine). Các bài thơ tiếng Ba Lan và tiếng Đức. Một trích đoạn của Mắc Noóc-đô[16] (Max Nordot), nhiều đoạn của  Kra-zit-ki[17] (Ignacy Krasicki), Xlô-vat-xki[18] (Juliusz Slovacki) và Hai-nơ[19] (Heinrich Heine-NS). Ba trang của Rơ-năng[20] (Ernest Ronan-NS) nói về “Cuộc đời Giê-su”, “không ai bằng Người, đã đề cao lợi ích của Loài người trên những phù hoa trần thế”. Những tiểu luận triết học bằng tiếng Nga, một đoạn của Luy-Blăng[21] (Louis Blanc), một trang của Bran-đét-xơ[22] (Georges Brandes). Rồi lại đến tranh vẽ hoa lá, giống vật. Lại thơ của Hai-nơ. Rồi đến Mu-xê[23] (Alfred de Musset-NS), Suy-li Pruy-đơm[24] (Sully Prudhomme-NS)và Phơ-răng-xoa Cô-pê[25] (François Coppé) do Manya  dịch ra tiếng Ba Lan.

Thật là mâu thuẫn. Người con gái có tư tưởng “tự giải thoát”, không thích diện nên đã cắt phăng mớ tóc hung duyên dáng đi, lại vẫn than thở một mình và chép lại nguyên những vần thơ tình tứ và hơi nhạt nhẽo như:

 Nếu anh cứ nói anh yêu

 Mắt xanh em có thấu điều này chăng?

 Cố nhiên là Manya không bao giờ nói cho các bạn gái cố chấp, rằng cô thích bài “Vĩnh biệt, Suy-dông em” hoặc bài “Chiếc bình vỡ”, có lẽ cô cũng không tự thú điều đó ngay cả với bản thân mình. Manya thường ăn mặc nghiêm chỉnh, nhưng bộ mặt non trẻ lạ lùng với mớ tóc ngắn cũn cỡn chẳng những không làm nổi bật được phong cách của cô mà còn làm cô gái trông ngây thơ hơn.

Hết đi học lại nói chuyện, đến đâu Manya cũng hăng say tranh luận. Cô say sưa ngâm cho các bạn nghe thơ Át-ních đã thành niềm tin tưởng của cả nhóm:

   Hãy tìm tia sáng trong vắt của chân lý

   Hãy tìm những con đường mới mẻ chưa ai đi

 …Tầm mắt con người dù đưa xa đến đâu ,Vẫn sẽ không hết những điều lạ lùng, kỳ diệu

…Mỗi thời đại đều có ước mơ hoài bão

Và bỏ lại những giấc mộng hôm qua

Nào các bạn, hãy cầm lấy bó đuốc của tri thức

Hãy làm nên một sự nghiệp mới trong công việc các thế kỷ,

 Và xây dựng lên Lâu đài của Tương lai…

Trên một tấm ảnh chụp cùng chị Brô-ni-a, và tặng Ma-ri-a Ra-kốp-xka, Manya viết: “Tặng một bạn “thực dụng lý tưởng” của hai chị em  theo thuyết lý tưởng nhưng có đầu óc thực tế”.

Hết ngày này đến ngày khác, hai chị em “lý tưởng thực tế” đó ngồi bàn tính với nhau, cô thảo ra một kế hoạch cho cuộc sống ngày mai. Tiếc thay! Cả Át-ních lẫn Bran-đét-xơ đều không chỉ được cách cho hai cô được theo học đại học ở một thành phố vẫn cấm đoán phụ nữ vào trường đại học. Hai nhà tư tưởng đó cũng chẳng đem lại cho hai cô phép màu nhiệm có thể gây nhanh một vốn lớn với những buổi dạy tư nửa rúp một giờ.

Manya vốn giàu độ lượng, càng thấy đau khổ. Đứa con út của gia đình ấy tự thấy có trách nhiệm đối với tương lai các anh chị. Cũng may là không cần phải lo cho anh Dô-dép và chị Hê-la. Dô-dép sắp ra bác sĩ. Còn chị Hê-la xinh tươi và sôi nổi nhiệt tình đang lưỡng lự giữa đi về sư phạm hoặc trở thành ca sĩ. Hê-la có giọng hát mê ly, tốt nghiệp cả hai trường. Đã nhiều nơi dạm hỏi mà chị chưa ưng đám nào.

Nhưng còn Brô-ni-a, làm sao giúp đỡ Brô-ni-a đây? Từ khi rời ghế nhà trường, Brô-ni-a về quán xuyến gia đình. Thôi thì mọi việc nhà việc cửa đều đổ lên đầu chị: hết đi chợ búa, mua thức ăn, lo thay đổi món lại điều khiển việc nấu mứt. Dần dà, Brô-ni-a trở thành một người nội trợ rất đảm đang. Nhưng chính cái đó làm chị chán nản. Chị không muốn chỉ có thế. Manya hiểu thấu tâm tư chị mình. Brô-ni-a muốn đi học đại học Y ở Paris rồi về Ba Lan làm thầy thuốc ở nông thôn. Chị cũng đã dành dụm được ít nhiều để thực hiện nguyện vọng đó. Nhưng học ở nước ngoài tốn kém lắm! Còn phải đợi bao nhiêu tháng, bao nhiêu năm nữa?

Manya luôn luôn suy nghĩ về nỗi băn khoăn day dứt của chị mà lãng quên đi mơ ước của bản thân mình. Bản chất cô vốn vẫn như vậy. Vì chính cô cũng bị nơi “đất thánh” là Paris quyến rũ. Ma-ni-a cũng đã từng ao ước vượt qua mấy ngàn cây số để đến Xoóc-bon học cho thỏa lòng khao khát hiểu biết rồi mang về nước vốn kiến thức quý giá, dạy học ở Vác-xô-vi cho đồng bào ruột thịt.

Sở dĩ Manya để tâm đến nghề nghiệp của chị là vì giữa hai chị em có những tình cảm thắm thiết hơn cả tình máu mủ. Từ ngày bà giáo mất đi, hai chị em càng quấn quít yêu thương nhau, bổ sung cho nhau: chị có vốn sống thực tế và từng trải hơn, được em gái phục và tin yêu, em thường đem công việc tỉ mỉ hằng ngày ra hỏi ý kiến chị; Ma-ni-a thì say đắm hơn, e lệ hơn, là một người bạn gái tuyệt diệu của Brô-ni-a, một tình bạn đượm lòng biết ơn và bao hàm một sự đền đáp.

Một hôm, Brô-ni-a đang mải gạch xóa những con số trên một mảnh giấy, tính đi tính lại không biết bao nhiêu lần khoản tiền đã có, hay nói cho đúng hơn, khoản tiền chưa có, thì Ma-ni-a bất giác nói:

- Chị này, từ ít lâu nay, em đã nghĩ lung về vấn đề của chúng ta. Em cũng đã bàn với cha. Sẽ có cách.

- Cách gì?

Cô xích lại gần chị. Chuyện này khá tế nhị, phải cân nhắc từng lời thì chị mới nhận.

- Đây nhé. Chị liệu có thể ở Paris được bao lâu với số tiền đã gom góp được?

- Không kể tiền tàu thì được một năm ăn học ở Đại học – Brô-ni-a trả lời rất nhanh – nhưng học Y phải năm năm, hẳn em cũng biết.

- Đúng thế. Vậy thì, chị nhỉ, cứ dạy tư nửa rúp một giờ thì chẳng bao giờ chúng mình thoát khỏi cảnh này. Thế thì sao ta không thể kết hợp với nhau. Nếu cứ phấn đấu riêng rẽ thì chả người nào đi được. Nhưng bằng theo cách em tính thì chỉ vài tháng nữa, sang thu, chị có thể lên tàu đi Pháp.

- Manya, em điên à?

 - Không. Bước đầu, chị hãy tiêu tiền của chị. Em sẽ thu xếp gửi tiền cho chị sau. Và cả cha nữa. Đồng thời, em gây vốn để rồi cũng đi học. Khi chị đã ra bác sĩ, sẽ đến lượt em đi. Lúc ấy, chị sẽ giúp em.

Brô-ni-a nước mắt lưng tròng, ý nghĩa của đề nghị này cao cả làm sao! Nhưng còn một điểm chưa rõ trong chương trình vừa phác ra.

- Chị chưa hiểu. Làm thế nào em có thể vừa kiếm được đủ ăn cho mình, kiếm thêm giúp chị mà lại còn để dành được nữa?

- Đúng thế! Manya khẽ đáp – Đó chính là “Cách” của em. Em sẽ làm cô giáo dạy tư. Ăn, ở mặc do chủ nhà chịu. Mỗi năm được bốn trăm rúp, hoặc hơn nữa. Như vậy chẳng phải mọi việc đều ổn hay sao?

- Manya, Manya yêu dấu của chị!

Chẳng phải Manya chọn cái nghề phụ thuộc ấy mà Brô-ni-a cảm động. Cô cũng theo thuyết lý tưởng như em gái , coi khinh những thành kiến của xã hội. Không... Cô xúc động khi nghĩ rằng vì muốn cho chị được học, ngay từ bây giờ Ma-ni-a phải tự ghép mình vào một cái nghề không hứng thú gì và phải khổ tâm chờ đợi. Vì thế cô cưỡng lại:

 - Nhưng tại sao người đi trước lại là chị? Sao không đổi ngược? Em có năng khiếu, có thể còn hơn cả chị.

-Ồ, Brô-ni-a, chị còn hỏi tại sao à? Thì tại chị đã hai mươi, mà em mới mười bảy. Tại chị đã giẫm chân tại chỗ hằng bấy lâu rồi, mà em, em còn nhiều thời gian. Cha cũng bảo: đứa nhớn cần đi trước. Khi đã mở phòng khám bệnh, chị sẽ thừa tiền để giúp em. Nghĩa là em mong như thế. Có vậy, chúng ta mới làm được một việc thông minh, thiết thực. 

☆ ☆ ☆

Một buổi sáng tháng chín năm 1885, trong phòng đợi của một sở tìm việc, có người con gái lặng lẽ ngồi chờ đến lượt mình. Có hai chiếc áo dài, cô đã chọn mặc chiếc áo trông chỉnh tề nhất. Dưới cái mũ đã bạc màu, mớ tóc mới nuôi lại mấy tháng nay cặp còn chưa gọn. Một cô giáo, dù có tư tưởng “thực dụng” đi nữa, cũng không được để tóc ngắn. Một cô giáo phải ăn mặc gọn ghẽ, không có gì đặc biệt khác người.

Cửa mở, một chị gầy gò, vẻ mặt chán nản, lững thững đi qua phòng đợi, gật đầu chào Ma-ni-a trước khi về. Chị cùng cảnh ngộ như Ma-ni-a. Hai người lúc nãy đã làm quen với nhau, họ ngồi trên mấy chiếc ghế mây là đồ đạc duy nhất trong phòng này. Họ đã cùng chúc nhau may mắn.

Manya đứng dậy. Bất giác, cô thấy e ngại, tay cứ nắm chặt một tập giấy tờ và thư từ. Trong buồng bên, sau một bàn giấy nhỏ, có một bà to béo.

- Cô muốn gì?

- Tôi tìm một chỗ dạy tư.

- Cô có giấy tờ gì không?

- Tôi đã từng dạy tư nhiều nơi. Đây là nhận thực của cha mẹ học sinh. Còn đây là bằng tốt nghiệp.

Nhìn qua những chứng chỉ mà Manya vừa đưa, với con mắt nhà nghề, bà giám đốc sở bỗng chăm chú. Bà ngẩng đầu, ngắm cô thiếu nữ kỹ hơn.

- Cô biết tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Ba Lan và tiếng Anh phải không?

- Vâng, tiếng Anh thì hơi kém, nhưng tôi có thể dạy các môn trong chương trình. Tôi mới tốt nghiệp trường trung học với huy chương vàng.

- À, vậy ý cô thế nào?

- Bốn trăm rúp một năm và đảm bảo ăn ở.

- Bốn trăm, – bà ta nhắc lại, mặt vẫn thản nhiên – Cha mẹ cô làm gì?

- Cha là giáo sư trường trung học.

- Được. Tôi sẽ thẩm tra. Có thể có việc cho cô. À, cô bao nhiêu tuổi?

- Mười bảy – Mặt đỏ bừng, Manya nói tiếp với một nụ cười động viên:

- Sắp mười tám rồi.

Bà ta ghi lên hồ sơ bằng một kiểu chữ viết ngả mẫu mực:

“ Manya Sklodowska. Chứng chỉ tốt. Có học lực. Công việc muốn làm: Cô giáo. Lương: bốn trăm rúp một năm”.

Bà trả Manya giấy tờ:

- Cảm ơn cô. Khi nào có việc, tôi sẽ gửi giấy báo.

Chú thích:

[5]

[25]

« Lùi
Tiến »