Núi Chuột Quét

Núi Chuột Quét

Lượt đọc: 1794 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MỞ ĐẦU

Trong đêm, tiếng kèn harmonica thình lình vang lên rồi kết thúc chóng vánh, làm Lý Chí Dũng giật bắn mình. Tay nắm không chắc ghi đông, cộng thêm mưa thu tí tách làm mặt đường trơn trượt nên anh suýt ngã xe đạp. May kịp chống chân, anh mới thoát khỏi cảnh cả người cả xe lăn kềnh ra đất.

Lý Chí Dũng ngẩng lên nhìn trời. Đã 10 giờ đêm nhưng bầu trời không tối đen mà mịt mờ xám xịt. Dưới ánh đèn đường, vô vàn hạt mưa bay tán loạn toát ra cái lạnh buốt giá. Anh trèo lại lên yên, chợt nhận ra mình chẳng còn sức để vượt qua con dốc. Dốc thoai thoải nhưng rất dài, ngày trước anh thà đi đường vòng còn hơn qua đây. Nhưng tối nay thì không được, bởi có người đang chờ anh trong công viên Vọng Nguyệt ngay cuối đường.

Lý Chí Dũng quyết định dắt xe, thong thả đi bộ. Chiếc xe đạp màu đen hiệu Vĩnh Cửu bánh 26 inch vừa bền vừa chắc anh mua từ thời đại học, dùng liên tục đến tận khi đi làm. Nhiều người góp ý xe khung thép đã lỗi thời, giờ có xe hợp kim nhôm kiểu mới nhẹ hơn, song anh không nỡ đổi, vẫn nâng niu nó như người bạn lâu năm. Phải đến lúc này, anh mới thấy hình ảnh cơ thể hơi mập của mình đẩy tấm thân nặng nề của “bạn lâu năm” chẳng khác nào gấu ngựa đẩy đá khổng lồ lên núi, vụng về hết chỗ nói.

Bánh xe cao su đen lăn trên con đường ướt nhẹp, dính theo vài dải kim tuyến người xem ca nhạc tiện tay vứt xuống đường sau buổi biểu diễn của nhóm Wynners. Dạo này nhóm hay tổ chức biểu diễn ở công viên Điêu Khắc cách đây hai con phố. Lý Chí Dũng để ý, anh đi đến đâu là các cửa tiệm nhỏ ven đường tắt đèn đến đấy như đưa tang, từ lẩu bò Phúc Hoa, nhà thuốc Gia Sự Đường, quần áo Y Lai Khách cho đến siêu thị điện tử Tây Giao. Hoang mang trước cảnh tượng tắt đèn kì quái, anh dừng bước, quay đầu ngó nghiêng, chỉ thấy con đường lớn vắng tanh không bóng người. Nghếch chiếc cằm hai ngấn, anh thấy bức tượng trăng khuyết bằng cẩm thạch trắng đặt trên bệ cao của công viên Vọng Nguyệt ở cách đây không quá xa.

Thình lình!

Tiếng kèn harmonica lại vang lên, lần này là chuỗi âm thanh dồn dập, lặp đi lặp lại. Chúng khản đặc và dính liền với nhau như tiếng người nức nở, khao khát dốc bầu tâm sự nhưng nghẹn ngào không nói nên lời. Chẳng rõ vì sao, màn đêm cũng đau đớn run rẩy theo tiếng kèn. Nó co giật, ớn lạnh, rúm ró lại từng cơn, ẩn giấu những biến hóa khôn lường…

Giai điệu nghe như đoạn dạo đầu của một bài hát thịnh hành, nhưng Lý Chí Dũng cố mãi vẫn không nhớ ra là bài nào.

Sau đó, tất cả lại chìm vào yên ắng.

Lý Chí Dũng đứng lặng hồi lâu. Đến khi chắc chắn tiếng kèn harmonica sẽ không vang lên nữa, đến khi những âm thanh vẳng đi vẳng lại trong màng nhĩ hoàn toàn biến mất, đến khi những hạt mưa tí tách rửa sạch mọi ngóc ngách từ đầu đường tới cuối ngõ, đến khi thế giới không còn dấu vết nào của dư âm đau thương vừa rồi, anh mới như được giải lời nguyền, thả lỏng cẳng chân đã tê rần, chậm chạp dắt xe đạp đến trước cổng công viên Vọng Nguyệt.

Công viên Vọng Nguyệt rất nhỏ, diện tích chỉ bằng sân bóng đá, nhưng lại là công trình “mang tính biểu tượng” trong khu vực nhờ vị trí nằm ngay đỉnh dốc. Công viên này thực chất là một ngọn đồi có tường đá bao quanh, cửa vào là cổng vòm bằng đá hướng về phía chính Bắc. Đi qua cổng vòm sẽ tới cầu thang rộng rãi dẫn thẳng lên đỉnh đồi, ở nơi cao nhất đặt tượng trăng khuyết làm từ cẩm thạch trắng, khắc hình mặt người nhìn nghiêng cùng chòm râu, ngụ ý đây là “ông Trăng”. Có điều vẻ mặt “ông Trăng” thật sự quái dị, lông mày nhướng lên và chau lại, chòm râu rậm vươn ra như xúc tu bạch tuộc, khóe miệng nhếch cười hết sức kì quái, ban đêm trông chẳng khác nào ông già canh mộ mắc chứng bạch biến.

Lý Chí Dũng dựng xe đạp, bước lên cầu thang. Lên tới nơi, vì quá mệt nên anh vừa thở vừa vịn vào “ông Trăng”. Có điều, đá cẩm thạch đẫm nước mưa cuối thu lạnh buốt làm anh phải buông ra tức thì. Xoa bàn tay vào tay áo bên kia, anh ngước mắt tìm người hẹn mình.

Nơi này nằm ở chỗ cao nhất công viên Vọng Nguyệt, là một quảng trường hình tròn lát đá, chính giữa có sàn phun nước hình rẻ quạt, nắp thoát nước bằng inox tỏa ra ánh sáng xanh thẳm trong bóng đêm. Phía Nam quảng trường có bức tường vòng cung đá hoa cương, bề mặt khảm phù điêu bằng sợi thủy tinh giả đồng. Lý Chí Dũng băng qua quảng trường, đi một vòng men theo tường nhưng không thấy người cần tìm. Toan nhéo chóp mũi thô kệch theo thói quen mỗi khi lúng túng, anh chợt phát hiện người mình tìm kiếm đang ngơ ngẩn ngồi trên băng ghế xanh sẫm bên ngoài quảng trường, tay cầm kèn harmonica. Nước mưa phủ lên khắp người cậu một quầng sáng bạc.

“Lâm Hương Minh!” Lý Chí Dũng tiến về phía đó.

Đang mải ngẫm ngợi, Lâm Hương Minh khẽ rùng mình khi nghe tiếng gọi. Cậu ngẩng đâu lên, nhìn người mới đến với ánh mắt vừa quen thuộc vừa xa lạ, đến độ Lý Chí Dũng phải làu bàu, “Tôi đây. Sao thế? Không nhận ra à?”

Lâm Hương Minh đứng dậy bắt tay Lý Chí Dũng.

“Sao cậu không tìm chỗ nào trú mưa?” Lý Chí Dũng cau mày, nhìn quanh một lượt mới nhận ra cả công viên không có nổi một chòi nghỉ chân. Anh hơi xấu hổ, chính anh đề nghị gặp nhau ở đây nhưng lại không nghĩ đến việc trời sẽ mưa.

“Mưa không lớn mà.” Lâm Hương Minh mỉm cười đáp.

“Đi, đi nào! Khu dân cư Thanh Tháp phía Nam công viên có quán cơm, trông thì bé nhưng thức ăn ngon lắm, tôi mời một bữa. Đừng bảo cậu ăn tối rồi nhé, ăn rồi thì ăn thêm, ăn đêm mới béo!” Lý Chí Dũng nói liến thoắng. Anh xuống cầu thang, ra khỏi công viên, gạt chân chống lên dắt xe đi về phía khu dân cư Thanh Tháp.

Lâm Hương Minh kè kè bên cạnh.

Dọc đường hai người chẳng nói năng gì, chỉ có tiếng lọc cọc đều đều của dây xích trượt trên bánh răng. Không khí trầm lắng khiến Lý Chí Dũng căng thẳng, vừa lơ đãng đã va mắt cá chân vào bàn đạp.

“Ối cha!” Lý Chí Dũng kêu thảng thốt.

“Có sao không?” Lâm Hương Minh hỏi.

“Không sao!” Dù đau điếng, Lý Chí Dũng mừng vì bầu không khí im lặng được phá vỡ. “Vừa rồi cậu thổi kèn harmonica à?”

Lâm Hương Minh “Ừ” một tiếng.

“Nhạc dạo bài hát nào thì phải…” Lý Chí Dũng lẩm bẩm, hi vọng Lâm Hương Minh sẽ cho mình đáp án, song cậu vẫn im lặng.

Lý Chí Dũng bất giác nhìn Lâm Hương Minh. Gương mặt cậu ưa nhìn nhưng không cảm xúc. Đúng là một cậu chàng bí ẩn.

Nhớ hồi loạt án giết người xảy ra ở khu vực ngoại ô phía Tây thành phố (thường gọi là Tây Giao) còn điều tra dang dở, số nạn nhân nhiều lên mà việc phá án vẫn giậm chân tại chỗ, phó giám đốc Sở Cảnh sát thành phố là Hứa Thụy Long đã gọi điện cho tổ trưởng tổ chuyên án Đỗ Kiến Bình, bảo, “Chỗ tôi có một sinh viên năm ba Đại học Cảnh sát, chuyên ngành tâm lý học tội phạm và khoa học hành vi. Chúng tôi sẽ cử sang chỗ anh làm trợ thủ.”

Đỗ Kiến Bình bị vụ án hành ra bã, mệt mỏi đến mức tái phát bệnh zona nên rất khó chịu với chỉ thị của cấp trên. “Bên tôi đang rối như mớ bòng bong, anh đừng đẩy thêm sinh viên thực tập về nữa!”

“Ai bảo anh là sinh viên thực tập!” Hứa Thụy Long thẳng thừng chỉnh lại. “Trợ thủ!”

Vừa xuất hiện, “trợ thủ” Lâm Hương Minh đã được dự buổi họp phân tích vụ án, đồng thời để lại ấn tượng ban đầu tốt đẹp với mọi thành viên tổ chuyên án. Cậu có gương mặt thanh tú như con gái, thái độ cực kì khiêm tốn: mới đầu cậu mở máy tính xách tay, nhác thấy các cảnh sát xung quanh đều dùng sổ tay bìa da xanh biển, cậu lập tức cất máy tính, lấy giấy bút trong túi ra. Suốt buổi họp, cậu không uống nước, không hút thuốc cũng không khó chịu với mười mấy tên nghiện thuốc lá nhả khói liên tục. Cậu nghiêm túc lắng nghe từng người phát biểu, luôn tay ghi chép nhưng chẳng nói gì cho đến khi buổi họp kết thúc.

Đỗ Kiến Bình suýt quên Lâm Hương Minh, lúc sắp tan họp mới nhớ ra còn một người được phó giám đốc sở cử đến. “Lâm Hương Minh, cậu có ý kiến gì không?” Thấy cậu lắc đầu, Đỗ Kiến Bình cười bảo, “Đừng im lặng thế, họp án là để mọi người thoải mái nêu ý kiến. Cậu là trợ thủ trên kia cử xuống, phải hỗ trợ bọn tôi đi chứ.”

Cả phòng họp cười ồ lên.

“Tôi vừa đến, chưa có kinh nghiệm, mọi người ở đây đều là thầy, tôi phải học hỏi mọi người nhiều lắm.” Lâm Hương Minh cười đáp.

Tan họp, Đỗ Kiến Bình cảm thán với vài đồng nghiệp, “Lâm Hương Minh biết điều ra phết, các anh chỉ dẫn thêm cho cậu ta nhé.” Còn nửa đùa nửa thật bảo Lý Chí Dũng, “Cậu nên học hỏi Lâm Hương Minh đi, người ta trẻ hơn cậu nhưng không bộp chộp tí nào, còn biết cư xử và rất lanh lợi.”

Lý Chí Dũng không buồn đáp, thầm nhủ, “Chỉ e anh nhìn lầm rồi.”

Mười năm trước, Lý Chí Dũng mới hai mươi tám tuổi nhưng đã có sáu năm lăn lộn ở tuyến đầu điều tra hình sự, khổ sở nào cũng nếm trải, khó khăn nào cũng chịu đựng, thuộc hàng tráng niên trong đội. Đáng lý phải là đối tượng được lãnh đạo chú trọng bồi dưỡng, song anh mãi chẳng lọt vào mắt xanh của Đỗ Kiến Bình.

Lý Chí Dũng được đặt biệt danh “Gấu Ngựa”, không phải vì cao to khỏe mạnh mà vì hai nguyên nhân. Một, thường xuyên không rửa mặt chải tóc, lúc nào cũng lôi thôi nhếch nhác, đầu cúi gằm chi biết cắm mặt làm việc, chẳng để tâm xung quanh. Hai, tính tình kì quái, bình thường ít nói nhưng hễ bàn vào vụ án là rất cứng đầu, mà đã lên cơn cứng đầu là chẳng để lời ai vào tai, còn dám cãi thẳng mặt cấp trên là Đỗ Kiến Bình. Vì hai đặc điểm này, Lý Chí Dũng không hề từ chối biệt danh “Gấu Ngựa”, dù gì trong đội, mấy ai không có biệt danh đâu, so với một cảnh sát nam được gọi là “Chị Dâu”, anh tự thấy biệt danh của mình còn ổn chán.

Bề ngoài hơi thô thiển nhưng Lý Chí Dũng là người tinh tế. Khi phá án, anh thích vận dụng trí não, thỉnh thoảng còn đọc Sherlock Holmes toàn tập, bình thường luôn chú ý rèn luyện khả năng quan sát. Ví dụ trong buổi họp án lần này, đúng là Lâm Hương Minh không hề lên tiếng, trông có vẻ “không bộp chộp, biết cư xử”, nhưng anh phát hiện thật ra cậu rất có chủ kiến.

Các buổi họp án thường có nội dung xoay quanh một vụ trọng án, do lãnh đạo phụ trách chính đứng ra tổ chức và các cảnh sát liên quan cùng tham gia. Trong buổi họp, bất kể cấp bậc, chức vị, tuổi tác ra sao, hễ có ý kiến liên quan đến vụ án đều phải phát biểu, không được giấu giếm.

Bản chất của điều tra hình sự là dùng chứng cứ và suy luận để dựng lại chân tướng sự việc. Không ai hoàn toàn đúng cho đến khi phá được án, nên bắt buộc phải duy trì tự do và dân chủ trong ngôn luận cũng như tiếp thu ý kiến mọi người. Nếu cứ lo lắng “cãi lại lãnh đạo sẽ bị trù dập” thì không giải quyết được gì. Chính vì thế, việc tranh cãi đến đỏ mặt tía tai xem chứng cứ đáng tin không, suy luận hợp lý không là chuyện thường tình, sau khi tan họp chẳng ai để bụng… Mặc dù vậy, trong cuộc họp, mọi người vẫn vô thức gật đầu mỗi khi nghe phát biểu, không phải để tỏ ý tán thành và ủng hộ, mà chủ yếu vì thói quen và tôn trọng.

Lâm Hương Minh thì không. Lý Chí Dũng để ý, cậu cũng chăm chú lắng nghe nhưng rất ít khi gật đầu. Lần gật đầu duy nhất của cậu là dành cho phần trình bày của Lý Chí Dũng. Song, phần trình bày đó chỉ là ý tưởng đột nhiên xuất hiện chứ anh chưa hề ngẫm nghĩ kĩ.

“Theo kết luận từ pháp y và đội kĩ thuật hình sự, các vụ án này có chung phương thức gây án: nhân lúc nạn nhân bận lấy chìa khóa mở cửa chống trộm và cửa nhà, hung thủ bất ngờ nện búa sắt vào sau đầu nạn nhân cho ngất đi, vác vào nhà thực hiện hành vi cưỡng hiếp, sau đó sát hại. Nhưng dường như mọi người đều bỏ qua một vấn đề, chính là thời gian gây án…”

Đỗ Kiến Bình ngắt lời, “Ban nãy nói rồi còn gì, thời gian gây án hầu hết đều sau 10 giờ tối, mục tiêu là những cô gái sống một mình và về nhà muộn.”

“Ý tôi là khoảng thời gian từ lúc hung thủ xuất hiện đằng sau nạn nhân cho đến khi dùng hung khí hành hung.” Lý Chí Dũng chuyển trang trình chiếu sang tấm hình muốn trình bày.

“Mọi người xem, cả ba hiện trường đều nằm trong chung cư cao không quá sáu tầng, một ở tầng ba, còn lại đều tầng bốn. Tôi đã kiểm tra tận nơi, mấy tòa nhà này đã cũ, xây theo kết cấu gạch trát xi măng, nhưng hành lang lắp loại đèn cảm ứng cực nhạy. Như vậy, khi nạn nhân về đến nhà vào khoảng 10 giờ, đèn cảm ứng chắc chắn vẫn sáng suốt quãng đường nạn nhân đi lên cầu thang tiến đến trước cửa nhà mình, đúng không?”

Mọi người gật lấy gật để nhưng chẳng hiểu gì. Chỉ mình Lâm Hương Minh là hai mắt sáng lên. Lý Chí Dũng nhìn thấy nhưng vờ không biết.

“Đèn cảm ứng đang bật nên hành lang hẳn phải rất sáng, trong trường hợp đó, tại sao nạn nhân không phản kháng theo bản năng khi bị hung thủ tấn công?” Lý Chí Dũng cầm báo cáo khám nghiệm tử thi lên, chi vào một dòng chữ, “Mọi người xem đi, báo cáo khám nghiệm tử thi viết rõ, vết thương đầu tiên của nạn nhân nằm ở sau đầu, da đầu rách thành hình ngôi sao, xung quanh có vết bầm hình tròn mờ dần từ ngoài vào trong, xương sọ lõm xuống đồng thời rạn nứt… Nhưng bàn tay, cánh tay hay vai của cả ba nạn nhân đều không có vết thương do chống cự, không một ai có! Thế là tại sao?”

“Chắc do sự việc xảy ra đột ngột, họ quá sợ hãi nên không kịp chống cự?” Đỗ Kiến Bình đoán.

“Suy đoán đó chỉ hợp lý với nạn nhân đầu tiên thôi. Vừa có người thiệt mạng, ta đã lập tức cảnh báo người dân thông qua tổ dân phố của từng phường và khu dân cư. Hơn nữa trong quá trình điều tra, ta còn biết nạn nhân thứ hai sống một mình và đã được tổ trưởng tổ dân phố đến tận nhà nhắc nhở, nạn nhân thứ ba càng không cần nói thêm… Làm gì có chuyện họ không cảnh giác?”

Lý Chí Dũng lại chuyển trang trình chiếu về ảnh hiện trường.

“Mời mọi người xem lại hành lang nơi xảy ra án mạng. Hành lang trong chung cư kiểu cũ này có rất nhiều cầu thang, chiếu nghỉ thường chất chồng chai lọ hoặc dựng xe đạp, không có chỗ ẩn nấp. Nếu hung thủ bất chợt tấn công, dù hắn xông lên từ tầng dưới hay lao xuống từ tầng trên, nạn nhân đều có thời gian chống cự. Đây chính là ‘thời gian gây án’ mà ban nãy tôi bảo mọi người đã bỏ qua.”

Một cảnh sát nêu ý kiến, “Đèn cảm ứng chỉ sáng trong khoảng thời gian nhất định. Giả dụ hung thủ đợi đèn tắt rồi cởi giày, chỉ đi tất để lên xuống cầu thang tấn công nạn nhân thì sao?”

“Đây là chung cư kiểu cũ, khung cửa chống trộm và cửa nhà đã biến dạng, phát ra tiếng động rất lớn lúc đóng mở, đủ để ‘đánh thức’ đèn cảm ứng. Vả lại nếu đang mở cửa mà hành lang đột nhiên tối đi, ta thường giẫm chân cho đèn sáng trở lại để còn cắm đúng chìa vào ổ. Quan trọng nhất, bên kĩ thuật hình sự thu thập được vết giày tiếp nối trên hành lang, nghi do hung thủ để lại, nghĩa là không có chuyện hắn cởi giày, chỉ đi tất để tấn công.” Lý Chí Dũng đáp.

Một đồng chí đội kĩ thuật hình sự ngồi bên cạnh bổ sung, “Những dấu giày này chứng tỏ hung thủ đã bám theo nạn nhân từ ngoài cửa chung cư, sau đó mới thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra chúng tôi quan sát thấy, từ lúc hung thủ lên tầng cho đến khi tiếp cận nạn nhân, dấu giày của hắn không đột ngột nhỏ lại, hẹp đi, cũng không có dấu hiệu giảm mạnh xuống hay bước thưa hơn, tức là hắn không hề xông đến tấn công bất ngờ mà đi một cách rất bình thường…”

“Điều này một lần nữa chứng tỏ có khả năng nạn nhân đã nhìn thấy hung thủ, không những thế hung thủ còn là người quen, nạn nhân thấy yên tâm nên mới mất cảnh giác.”

Dứt lời, Lý Chí Dũng để ý thấy Lâm Hương Minh khẽ gật đầu. Chẳng hiểu sao cái gật đầu này khiến lòng anh thầm vui.

“Vào 10 giờ tối, trên hành lang sáng đèn, hung thủ tiếp cận nạn nhân, nạn nhân nghĩ hắn là người quen nên không đề cao cảnh giác… Đây cũng có thể là nguyên nhân khiến nạn nhân thiệt mạng, đã quen biết mà không muốn bị tố giác thì chi còn cách diệt khẩu.” Đỗ Kiến Bình lẩm bẩm, ngẩng lên nhìn Lý Chí Dũng. “Từ suy luận của cậu, phương hướng điều tra có thay đổi gì không?”

Lý Chí Dũng đáp, “Tôi cho rằng hung thủ và nạn nhân có mối quan hệ thân thiết mà người khác không biết, như họ hàng, người tình, bạn học cũ chẳng hạn. Nếu tiến hành điều tra người quen chung của cả ba nạn nhân, tôi tin sẽ nhanh chóng có manh mối!”

Lúc này, Lý Chí Dũng để ý thấy Lâm Hương Minh kín đáo lộ vẻ thất vọng. Lòng anh nguội đi phân nửa, “Chẳng lẽ mình nói sai?” Anh về chỗ, uống một cốc trà nóng đầy ự mà lòng dạ chẳng ấm lên. Vì vậy sau buổi họp, khi Đỗ Kiến Bình bảo phải “học hỏi Lâm Hương Minh”, suy nghĩ đầu tiên nảy ra trong đầu anh là, “Tiện thể hỏi cậu ta xem rốt cuộc mình sai chỗ nào?”

⚝ ⚝ ⚝

Loạt án giết người ở Tây Giao xảy ra vào tháng Chín năm 2008 với tình tiết đẫm máu, thủ đoạn gây án tàn nhẫn, quỷ quyệt cùng thách thức nan giải khi phá án, đã để lại vết đen trong lịch sử điều tra hình sự của Trung Quốc.

Loạt án này có tổng cộng bốn vụ, nối bốn hiện trường với nhau trên bản đồ thành phố sẽ tạo thành hình tứ giác nằm phía Tây Bắc. Tứ giác bắt đầu với vụ án xảy ra trên tầng bốn một tòa chung cư trong khu dân cư Thành Ngung. Nạn nhân tên Dương Hoa, hai mươi tám tuổi, nhân viên một sàn giao dịch chứng khoán trong thành phố, sống một mình, có thân hình đẫy đà nhưng diện mạo không quá xinh đẹp.

Ngày xảy ra án mạng, đáng lẽ Dương Hoa phải đi làm nhưng mãi không đến, đồng nghiệp gọi vào di động thấy có kết nối nhưng không ai nghe máy. Công việc ở sàn giao dịch rất bận rộn, quản lý chỉ vội vàng tìm người làm thay chứ không nghĩ đến việc tìm cô, cộng thêm sau đó có vài đồng nghiệp cho biết “(Hoa) rất thích đi hộp đêm sau khi tan làm, chẳng rõ nốc rượu xong ngủ ở đâu, hôm sau nghỉ làm không xin phép là chuyện bình thường”, vì thế không ai lường đến chuyện cô gặp bất trắc.

Sau đó cảnh sát điều tra ra, lý do Dương Hoa thường xuyên tự ý nghỉ làm mà không bị đuổi việc là vì có quan hệ nam nữ không trong sáng với giám đốc Tôn của sàn giao dịch. Người đầu tiên phát hiện cô bị giết cũng chính là ông giám đốc béo núc ních này.

Tan làm hôm đó, ông Tôn tìm Dương Hoa lén lút hẹn hò, nhưng gọi di động không ai bắt máy nên ông ta đến thẳng nhà tìm. Lúc đứng trước cửa lấy chìa khóa, ông ta phát hiện cửa chống trộm khép hờ còn cửa gỗ bên trong không khóa, dỏng tai nghe ngóng chỉ thấy trong nhà im phăng phắc. Cảm giác bất an ập đến, đương nhiên chẳng phải vì lo Dương Hoa gặp chuyện không may, mà vì ông ta sợ bà vợ phát hiện mình ngoại tình, đang chờ sẵn trong nhà để bắt quả tang. Thế là ông ta không vào nhà nữa, quay người bỏ xuống tầng.

Giám đốc Tôn không thể ngờ, khi hối hả ra khỏi cổng chung cư, ông ta đã bị bạn thân của Dương Hoa trông thấy. Cô bạn này cũng là nhân viên sàn giao dịch chứng khoán, lo Dương Hoa ngã bệnh nên mua sữa và trái cây đến thăm, đúng lúc ấy bắt gặp ông Tôn. Khu nhà tù mù thiếu sáng, ông Tôn đang chột dạ nên cứ rụt đầu trong cổ áo khoác, không để ý người đang đi tới là cấp dưới của mình. Cô bạn biết quan hệ giữa giám đốc và Dương Hoa, nhưng mấy chuyện ngoại tình nói ra chẳng hay ho gì nên cô ta ngại chào hỏi, chỉ đi lướt qua.

Cô bạn lên tầng, thấy hai cửa đều không khóa bèn đi thẳng vào. Trong căn phòng tối đen và im ẳng, mùi hôi tanh xộc thẳng lên mũi, cô chợt nảy ra ý nghĩ kì lạ “Mua thịt về sao không cho vào tủ lạnh”, sau đó mới sờ soạng tìm công tắc bật đèn lên. Chung cư kiểu cũ nên phòng khách vừa nhỏ vừa hẹp, chỉ đủ chỗ cho một tủ lạnh và một bàn ăn. Cô bạn gọi tên Dương Hoa, đi vào phòng ngủ chính để kiểm tra. Phòng này cũng không bật đèn, nhưng vẫn lờ mờ nhìn ra được hình bóng phụ nữ khỏa thân trên giường. Cô bạn hơi ngại, cho rằng Dương Hoa và ông Tôn vừa xong chuyện, chưa mặc lại quần áo. Chỉ đến khi lùi khỏi phòng ngủ chính, cô mới nhận ra mùi tanh đúng là bốc ra từ người trên giường. Cô sợ nhũn cả người, không dám đến gần nhìn kĩ xem Dương Hoa còn sống hay chết, cứ thế loạng choạng chạy đi, ra khỏi tòa nhà mới gọi điện báo cảnh sát.

Theo băng ghi âm cuộc gọi của tổng đài 110, câu đầu tiên cô này nói là: “Các anh đến đây giúp tôi với, hình như bạn tôi bị giết rồi!”

Kết quả điều tra hiện trường vụ án cho thấy: Dương Hoa bị sát hại trong khoảng từ 10 rưỡi đến 11 giờ tối hôm trước, nồng độ cồn trong máu khá cao. Có nhân chứng xác nhận tối đó cô uống khá nhiều rượu ở quán rượu gần nhà, khi rời đi còn bước không vững. Lúc đứng trước cửa nhà tìm chìa khóa, đột nhiên cô bị đập một phát chếch phía sau. Từ vết thương sau đầu, có thể nhận định hung khí là búa sắt. Chuyên viên pháp y phụ trách khám nghiệm tử thi xác nhận, Dương Hoa gần như chết ngay tức khắc vì lực đập quá mạnh. Tiếp theo đó, hung thủ bế cô vào nhà, thực hiện hành vi cưỡng bức hay nói thẳng ra là cưỡng hiếp xác chết. Làm xong hắn ung dung bỏ đi, chỉ khép hờ cửa nhà và cửa chống trộm.

Điều khiến cảnh sát ngỡ ngàng là hung thủ không để lại bất kì chứng cứ nào làm lộ thân phận: không tìm được dấu vân tay vì hắn đeo găng tay suốt quá trình gây án; không có máu, tóc, da hay khuy áo quần rơi lại vì hắn chỉ nện một nhát đã khiến nạn nhân tử vong, không xảy ra vật lộn; không tìm ra tinh dịch trong cơ thể nạn nhân bởi hắn đeo bao cao su khi thực hiện hành vi cưỡng hiếp, sau đó mang khỏi hiện trường. Đáng sợ hơn cả, âm hộ của thi thể Dương Hoa cùng khu vực ga trải giường xung quanh đều có dấu vết bị đốt, có lẽ bằng đèn khò cầm tay. Ban đâu, cảnh sát suy đoán đây là hành vi biến thái của hung thủ nhằm làm nhục thi thể, để rồi không khỏi rùng mình ớn lạnh khi vỡ lẽ, hung thủ làm vậy hoàn toàn có tính toán: hắn quyết tâm không để lại dù chỉ một sợi lông mu để cảnh sát lấy làm chứng cứ!

Người phụ trách chính vụ án này là Đỗ Kiến Bình, đội trưởng đội cảnh sát hình sự khu vực. Ông nhạy bén nhận ra việc hung thủ lấy điện thoại, ví tiền và dây chuyền của Dương Hoa chỉ là thủ thuật che mắt nhằm đánh lạc hướng cảnh sát, biến động cơ gây án thành cướp tài sản là chính, cưỡng hiếp là phụ.

Với kinh nghiệm dày dạn, ngay từ đầu, Đỗ Kiến Bình không cho rằng nạn nhân chết do mâu thuẫn tình cảm, nên loại ngay giám đốc Tôn khỏi diện tình nghi dù có người thấy ông ta ra vào hiện trường. Vô số vụ án điển hình đã chỉ ra, hiện trường những vụ giết người vì tình luôn thể hiện hai cảm xúc mâu thuẫn dành cho nạn nhân là hận và yêu. Ví dụ, hung thủ sẽ đâm nhiều nhát dao, nhưng cẩn thận che phủ vị trí nhạy cảm của nạn nhân, chứ không bao giờ đập chết bằng một nhát búa rồi cưỡng hiếp tử thi, đốt cháy âm hộ, bỏ mặc thi thể nằm lõa lồ. Suy ra, đây chắc chắn là vụ cưỡng hiếp giết người nhằm thỏa mãn dục vọng thú tính.

Mà hành động phạm tội kiểu này hiếm khi xảy ra một lần.

Sau khi xin ý kiến cấp trên và được phê duyệt, Đỗ Kiến Bình quyết đoán đưa ra ba chỉ thị. Thứ nhất, thành lập tổ chuyên án điều tra do mình làm tổ trưởng. Thứ hai, tổ chức họp báo, công khai với truyền thông một vài thông tin vụ án, yêu cầu họ phối hợp đưa tin cảnh báo, nhắc nhở người dân trong thành phố chú ý an toàn. Thứ ba, thông báo cho tất cả lực lượng an ninh và dân quân tự vệ của 5 phường cùng 72 khu dân cư xung quanh Thành Ngung tích cực và chủ động phòng bị. Với nữ giới độc thân sống một mình, tổ dân phố cần thực hiện đủ hai việc: gặp mặt nói chuyện và trực tiếp nhắc nhở. Vài lãnh đạo lo lắng chỉ thị thứ hai và thứ ba có thể dấy lên hoảng loạn trong công chúng, Đỗ Kiến Bình không giữ kẽ mà văng tục, “Đã chết người rồi còn sợ cái mẹ gì nữa!”

Đỗ Kiến Bình ý thức được vấn đề cần kíp lúc này là phải tranh thủ từng giây phút để dựng bức tường phòng vệ vững chãi trước khi hung thủ tiếp tục gây án. Nhưng nhanh đến mấy, cảnh sát vẫn chậm một bước. Ba ngày sau khi Dương Hoa bị hại, vụ án thứ hai xảy ra. Lần này, địa điểm nằm ở chung cư vắng vẻ thuộc phường Xuân Liễu, nạn nhân họ Ngô, năm nay mới 23 tuổi. Đêm ấy, sau khi xem xong buổi biểu diễn của ban nhạc Wynners trong công viên Điêu Khắc, nạn nhân về đến nhà thì bị đập búa vào sau đầu. Có lẽ khi đó cô chưa chết hẳn, nên sau khi kéo cô vào nhà cưỡng bức, hung thủ đã phang búa liên tiếp lên mặt cô đến nỗi máu thịt tung tóe, não bắn khắp nơi.

Dĩ nhiên, hung thủ vẫn không để lại bất cứ manh mối nào tiết lộ thông tin cá nhân như dấu vân tay, vết máu hay lông tóc. Vùng kín của cô Ngô cũng bị hắn đốt cháy.

Trước cái chết thương tâm thứ hai, các cảnh sát hình sự đều thấy lòng nặng trĩu như đeo đá. Tuy nhiều năm đối diện đủ loại tội phạm, nhiều lúc không khỏi tê dại khi đứng trước xác chết và máu me, nhưng ai tham gia điều tra cũng phải sôi máu trước sự tàn bạo cùng phương thức xử lý hiện trường đầy tính khiêu khích của hung thủ. Cả cảnh sát lẫn giám định viên đều tăng ca không kể ngày đêm, tìm kiếm mọi bằng chứng dù là nhỏ bé nhất còn sót lại ở hiện trường án mạng. Họ dốc sức điều tra từng đối tượng tình nghi, dò theo từng manh mối, dùng dữ liệu lớn để phân tích đặc điểm cá nhân của kẻ phạm tội. Thậm chí Sở Cảnh sát thành phố cũng cử thêm người đến hỗ trợ tổ chuyên án.

Dường như ý thức được tấm lưới truy lùng đang dần siết lại, hung thủ lặn mất tăm, cả tháng trời không gây thêm vụ nào.

Khi đó, Đỗ Kiến Bình giao cho Lý Chí Dũng nhiệm vụ phối hợp với Cao Tiểu Yến, cán bộ phụ trách hộ tịch của đồn cảnh sát Xuân Liễu, cùng điều tra quan hệ gia đình và xã hội của hai nạn nhân. Cao Tiểu Yến mới đi làm chưa lâu, là một cô gái tóc ngắn lanh lợi, người nhỏ gầy, tướng mạo rất bình thường, có tiếng cười nghe như tiếng chuông gió reo. Cô và Lý Chí Dũng làm việc khá ăn ý, một người gặp ai cũng cởi mở thân thiện, cười cười nói nói một lúc là moi được cả đống “nội tình”; người còn lại lặng lẽ nhưng ghi chép rất cẩn thận, có sở trường suy xét và phân tích. Bận rộn gần một tháng ròng vẫn chưa bắt được cái bóng của hung thủ, nhưng hai người đã trở thành đôi bạn thân thiết.

“Em bảo này!” Một buổi chiều nọ, Cao Tiểu Yến đang ăn mì cùng Lý Chí Dũng ở quán ven đường thì lên tiếng. “Anh chịu khó rửa mặt cạo râu, thay bộ quần áo sạch sẽ thì chết à? Cả mái tóc bù xù của anh nữa, không chịu cắt cũng chẳng chịu gội, gà mẹ đẻ trứng cũng chẳng thèm làm ổ trên đó đâu!”

Lý Chí Dũng ngại ngùng, “Tại anh bận quá…”

“Thôi bớt đi! Ai chẳng bận?” Cao Tiểu Yến khịt mũi khinh thường. “Không phải vì anh quá bận, mà là quá lười! Cô nào ưng anh cầm chắc xui tám đời!”

Lý Chí Dũng sờ sờ chóp mũi dày của mình, “Thì vậy nên anh chưa bao giờ mong có người để mắt đến…”

“Dẹp!” Cao Tiểu Yến chọc đũa vào bát mì. “Mai mốt phải sửa soạn tử tế mới được ra ngoài với em, bằng không em mất mặt lắm!”

Làm việc với nhau gần một tháng, cớ gì bây giờ mới nhắc mình phải chú ý hình tượng? Lý Chí Dũng ngơ ngác nhưng vẫn đồng ý.

Ăn xong ai về nhà nấy. Đến cổng nhà, Lý Chí Dũng định lên tầng mới bừng tỉnh. Anh quay gót đi đến tiệm cắt tóc trong khu, ngồi xuống nói với anh thợ, “Cắt ngắn ngắn cho tôi.”

Nhìn đầu Lý Chí Dũng, anh thợ không dám động tay vào, khó xử hỏi dò, “Anh này… hay là gội đầu đã nhé.”

“Được!” Lý Chí Dũng đồng ý để anh thợ gội cho mình, xong xuôi lại ngồi xuống trước gương. Anh thợ vừa cắt vừa khuyên nên để đầu đinh, “Lâu bẩn mà gội cũng tiện.” Lý Chí Dũng đồng ý luôn, thế là sau một hồi cắt cắt tỉa tỉa, Lý Chí Dũng trong gương chẳng khác nào chàng rể ngố lần đầu đến thăm nhà vợ. Anh hí hửng nghĩ, “Để xem ngày mai Tiểu Yến còn nói gì được?”

Thế nhưng, Cao Tiểu Yến không bao giờ còn cơ hội bày tỏ ý kiến về bề ngoài của anh nữa, bởi cô đã trở thành nạn nhân thứ ba trong loạt án giết người ở Tây Giao.

Thật ra Cao Tiểu Yến hoàn toàn có thể tránh khỏi tai họa, nếu cô về nhà ngay sau khi chia tay Lý Chí Dũng thì sẽ không gặp nạn. Nhưng theo đồng nghiệp nhớ lại, tối đó cô bất ngờ quay về đồn lúc 8 giờ hơn. Có người hỏi cô tới làm gì, cô đáp gần đây bận điều tra với tổ chuyên án, chưa xử lý xong hồ sơ của phạm nhân mãn hạn tù nên quay lại tăng ca. Xong việc, cô chấm công trong phòng thường trực lúc 11 giờ 10 phút đêm và ra về.

Nhà Cao Tiểu Yến cách đó không xa, diễn biến trước lúc cô thiệt mạng cơ bản là: rời đồn cảnh sát, mất nhiều nhất mười phút đạp xe về đến chung cư, lên tầng, mở cửa nhà, bị hung thủ phang búa sắt vào sau đầu và ngất tại chỗ. Nhưng lúc bị hung thủ kéo vào trong, cô đột nhiên tỉnh lại, dũng cảm giằng co với hắn một hồi, cuối cùng vẫn bị giết chết. Cuộc vật lộn của cô chỉ làm vỡ bể cá thủy tinh đặt trên kệ trong phòng khách, dường như không giúp ích gì cho việc phá án…

Trong lễ truy điệu Cao Tiểu Yến, Lý Chí Dũng khóc lóc thảm thiết, các đồng nghiệp cũng lặng lẽ rơi nước mắt. Với họ, tất cả những người vào sinh ra tử để bảo vệ hạnh phúc nhân dân và sự bình yên của xã hội đều là chiến hữu, là anh chị em thân thiết. Đôi lúc, đồng đội hi sinh còn đau đớn hơn việc người thân qua đời. Cái chết của Cao Tiểu Yến phủ bầu không khí ảm đạm và hoang mang chưa từng có lên công tác điều tra. Toàn bộ thành viên tổ chuyên án bao gồm cả Đỗ Kiến Bình đều ủ rũ mất tinh thần, câu “báo thù cho đồng đội” mà họ hô trong lễ truy điệu cũng rất yếu ớt. Đúng vậy, cuộc truy bắt giữa cảnh sát và tội phạm có thể ví như cuộc đi săn, nhưng lần này thì sao? Đến cái bóng của loài sài lang còn chưa thấy đâu mà thợ săn đã hi sinh, nhưng không phải hi sinh vì đuổi theo dấu vết con sói, mà vì chính thợ săn đã trở thành con mồi của sói…

Sau lễ truy điệu, ngọn gió cuối thu lạnh lẽo cuốn theo lời nói của một cảnh sát đến bên tai mỗi người tới phúng viếng. Câu nói tuy tục tằn song chứa ẩn ý thâm sâu, chẳng rõ đang chỉ người con gái như hoa như ngọc ra đi quá sớm, hay ám chỉ cuộc điều tra đâm vào ngõ cụt, cũng có thể đang chỉ chút rung động dang dở giữa đôi nam nữ Lý Chí Dũng và Cao Tiểu Yến.

“Mẹ nó, còn chưa bắt đầu đã kết thúc rồi.”

⚝ ⚝ ⚝

Cầm đèn pin soi, Lâm Hương Minh xem xét bóng đèn hồi lâu, đoạn sờ bề mặt bóng, vê vê ngón tay rồi nhảy xuống khỏi chiếc ghế cũ.

Lý Chí Dũng đứng dậy, nhìn cậu với vẻ khó hiểu, “Cậu làm gì thế?”

“Xem thử xem có ai vặn cái đèn này không.” Lâm Hương Minh đáp. “Dù rất tán thành suy luận của anh về lý do nạn nhân không cảnh giác trước khi bị tấn công, tôi vẫn cảm thấy chưa đủ chặt chẽ. Giả sử trước khi gây án, hung thủ đã biết nạn nhân ở tầng mấy, số nhà nào, sau đấy vặn lỏng bóng đèn tầng đó, nấp trong góc tối chờ nạn nhân trở về vào ban đêm rồi bất ngờ tấn công, khi đó nạn nhân đúng là không thể đề phòng. Gây án xong, hắn chỉ việc vặn chặt lại bóng đèn là cảnh sát sẽ lầm tưởng đèn vẫn sáng khi hắn ra tay. Từ đó, cảnh sát sẽ bỏ qua dấu vân tay trên bóng đèn hoặc dấu vết hung thủ để lại chỗ ẩn ấp trên hành lang. Nhưng xem ra hắn không vặn lỏng bóng, có nghĩa kết luận của anh vẫn đúng, hẳn quả thật là người có thể khiến nạn nhân buông lỏng cảnh giác.”

Sau buổi họp án đầu tiên, trong khi Đỗ Kiến Bình dặn các thành viên tổ chuyên án phải “hướng dẫn” người mới, thì Lâm Hương Minh lại làm việc độc lập. Cậu âm thầm kiểm tra kĩ lưỡng hiện trường và khu vực xung quanh, thức trắng đêm xem đi xem lại báo cáo khám nghiệm hiện trường, báo cáo khám nghiệm tử thi từ bên pháp y, bản ghi chép lời khai nhân chứng và những hình ảnh liên quan trong cả ba vụ án, tiếp đó lại đến hiện trường kiểm tra thêm lần nữa. Lần này, cậu gặp Lý Chí Dũng râu ria lởm chởm ngồi ngẩn ngơ trước cửa nhà Cao Tiểu Yến. Không thèm để ý đến anh, cậu lảng lặng lấy cái ghế cũ trên hành lang, trèo lên sờ thử bóng đèn.

Nhờ câu trả lời của Lâm Hương Minh, thần kinh luôn căng thẳng của Lý Chí Dũng giờ mới thả lỏng đôi chút, nhưng nỗi đau trong tim vẫn hành anh rệu rã.

“Tại tôi cả, nếu tôi đưa cô ấy về nhà tối đó thì đâu đến nỗi…”

Dợm bước xuống cầu thang, Lâm Hương Minh bỗng thu chân về. Cậu nhìn Lý chí Dũng, hỏi, “Anh giết chị Cao Tiểu Yến à?”

Lý Chí Dũng sững sờ, “Không…”

“Vậy thì làm việc thôi.”

Tự nhiên Lý Chí Dũng thấy được tiếp thêm năng lượng, hoặc do Lâm Hương Minh tỏa ra từ trường mạnh mẽ, hút lấy và buộc anh phải đi theo… Cậu sinh viên trẻ tuổi này tuấn tú nhưng sầu muộn, khắp người như phủ quầng sáng mờ ảo tựa ánh trăng trong đêm trước giông bão. Anh tin chắc cậu sở hữu năng lực siêu nhiên, có thể nhìn thấu và hiểu rõ tất cả những gì bị giấu giếm, che đậy hay chôn vùi trong bóng đêm, càng tối cậu càng thấu suốt. Với những kẻ chỉ tỉnh ngộ khi chuyện đã rồi, cậu không thay đổi được hiện thực nhưng có thể giúp họ thấu tỏ nguồn gốc nỗi đau. Nhiều người tu luyện cả đời chẳng tiên đoán vận mệnh nổi một lần, vậy mà Lâm Hương Minh bẩm sinh đã dễ dàng làm được.

“À này, trong buổi họp lần trước, hình như cậu không tán thành phương hướng điều tra sau cùng mà tôi đề xuất?” Lý Chí Dũng cố ý lớn giọng để che giấu sự chột dạ. Anh tin mình sai, nhưng vẫn muốn biết mình sai ở đâu.

Lâm Hương Minh im lặng một lát mới nói, “Nhiệm vụ của anh và chị Yến là điều tra mối quan hệ xã hội của hai nạn nhân đầu tiên, nhất là tìm hiểu xem họ có cùng quen ai không. Chị Yến vốn tính thẳng thắn, nếu có chung bạn bè người quen với nạn nhân, tại sao chị ấy không nói cho anh biết?”

Như được ánh sáng trí tuệ chiếu rọi, Lý Chí Dũng bừng tỉnh.

Nhưng điều khiến anh kinh ngạc còn ở phía sau.

Ngày hôm sau lại có buổi họp phân tích vụ án. Chủ đề cuộc họp là xây dựng hồ sơ tội phạm (phác họa đặc điểm) của hung thủ dựa trên chứng cứ và manh mối hiện có. Theo lý thuyết đây là chuyên môn của Lâm Hương Minh, nhưng Đỗ Kiến Bình vẫn coi cậu là “sinh viên thực tập”, tiếp tục để cậu ngồi nghe, thay vào đó yêu cầu một cảnh sát lão làng của tổ chuyên án là Sài Vĩnh Tiến tiến hành phác họa.

Sài Vĩnh Tiến cực kì lắm lời, vừa hút thuốc vừa lật tài liệu soàn soạt, nói một chốc lại ngừng, lải nhải hơn nửa tiếng mới xong. Anh ta cho rằng đối tượng tình nghi có các đặc điểm: tuổi dưới hai mươi, thân hình cao lớn, có khuynh hướng bạo lực nghiêm trọng, nhiều khả năng từng lao động cải tạo vì tội cưỡng hiếp hoặc ẩu đả, tương đối có kinh nghiệm đối phó với lực lượng chức năng.

Sài Vĩnh Tiến còn nhấn mạnh điều mình tâm đắc nhất bằng giọng không cho phép nghi ngờ, “Đối tượng không thường trú ở đây, không có nghề nghiệp ổn định, sống dưới tầng hầm trong thời gian dài, cần tiếp tục mở rộng phạm vi điều tra trên cơ sở nhóm người tình nghi. Chẳng hạn, tăng cường theo dõi và điều tra ngầm những ngôi làng nội đô phía Nam Tây Giao, nếu cần thì điều tra từng người sống tại đó.”

Cảnh sát hình sự ngồi quanh bàn dài trong phòng họp gật gù ghi chép. Chờ Sài Vĩnh Tiến nói xong, Đỗ Kiến Bình đưa ra nhiệm vụ. Thứ nhất, yêu cầu các cơ quan liên quan như trại cải tạo trẻ vị thành niên, trại tạm giam và trại giam thành phố phối hợp cung cấp hồ sơ về tội phạm bạo lực tình dục còn trẻ đã ra tù trong hai năm trở lại đây để sàng lọc. Thứ hai, cử một số cảnh sát bao gồm Lý Chí Dũng đến khu làng nội đô phía Nam Tây Giao mở rộng điều tra. Sắp xếp xong xuôi, Đỗ Kiến Bình mới hỏi Lâm Hương Minh lấy lệ, “Cậu có ý kiến gì không? Không có thì ta…”

Đỗ Kiến Bình chưa kịp thốt ra hai tiếng “giải tán”, Lâm Hương Minh đã hỏi, “Đồng chí Sài Vĩnh Tiến có thể giải thích căn cứ của hồ sơ tội phạm anh vừa trình bày không?” Giọng cậu vẫn ôn hòa nhưng thái độ vô cùng cứng rắn.

Lý Chí Dũng vừa gấp sổ vào đã phải ngẩng mặt lên nhìn Lâm Hương Minh. Đỗ Kiến Bình và các cảnh sát đều sững sờ, dường như đây là lần đầu tiên họ phát hiện cậu thanh niên nho nhã này còn có vẻ mặt khác.

Dụi điếu thuốc hút dở vào gạt tàn, Sài Vĩnh Tiến nhìn sang Đỗ Kiến Bình nhưng chỉ nhận về ánh mắt tránh né. Ngầm hiểu mình buộc phải trả lời hẳn hoi, anh ta ngồi thẳng lưng dậy, “À, là thế này, chúng tôi lấy được dấu giày trong phòng nạn nhân và ngoài hành lang bằng máy hút tĩnh điện cao áp, nghi là của hung thủ. Cậu biết đấy, chúng ta có công thức ước lượng tuổi thực dựa trên dấu giày…”

“Cái này có thể ngụy tạo, vả lại ngày nay tuổi thể chất và tuổi thực của con người cách biệt rất lớn, không hiếm trường hợp người hai mươi tuổi có thể chất của năm mươi tuổi và người ngoài năm mươi có thể chất vẫn như hai mươi.” Lâm Hương Minh phản bác. “Anh cho rằng đối tượng chưa đến hai mươi tuổi, nhưng người trong độ tuổi này chưa thực sự hoàn thiện về mặt tâm lý. Những án lệ trước kia đã chứng minh, dù kinh nghiệm đến mấy thì khi gây án ở tuổi dưới hai mươi, sát nhân vẫn có hành vi đặc trưng như căng thẳng và hoảng loạn. Nhưng bằng chứng thu được ở ba hiện trường đều chi rõ hung thủ có thủ đoạn tương đối điêu luyện và tâm lý đã trưởng thành. Đặc biệt khi tiếp cận nạn nhân, khoảng cách bước chân của hắn không hề mang ‘đặc trưng trước khi gây án’ như ngắn lại hay hẹp đi, mà luôn duy trì ổn định. Vì vậy tôi cho rằng không nên giới hạn tuổi tác của hắn dưới hai mươi.”

Sài Vĩnh Tiến trợn tròn mắt.

Lâm Hương Minh chìa tay phải ra, lòng bàn tay hơi nghiêng và ngửa lên trên, tỏ ý “Mời nói tiếp”.

Sài Vĩnh Tiến căng thẳng thấy rõ. Anh ta lấy gói thuốc lá Ngọc Khê trong túi áo, máy móc rút ra đút vào mãi một điếu thuốc. “Về thân hình của hung thủ, à thì, là thế này, hắn gây án bằng cách đập mạnh búa vào sau đầu nạn nhân, thông thường tội phạm bạo lực như vậy không thể là người gầy gò nhỉ…”

“Đồng chí Tiến, khoa học hành vi có một công thức quan trọng để phác họa đặc trưng hình thể tội phạm giết người hàng loạt, gọi tắt là ‘AB củng cố nhau’, trong đó A: khoảng thời gian gây án tỉ lệ thuận với hình thể của hung thủ; và B: trên cơ sở công thức A, hình thể hung thủ tỉ lệ thuận với hình thể nạn nhân. Nghĩa là, trong quá trình diễn ra hành vi phạm tội, khoảng thời gian từ lúc hung thủ bắt đầu tấn công đến khi đánh gục nạn nhân càng ngắn thì hung thủ càng thấp bé; ngược lại, khoảng thời gian hung thủ vật lộn với nạn nhân càng dài thì hung thủ càng cao lớn. Trên cơ sở này, nếu nạn nhân nhỏ con thì hung thủ cũng nhỏ con, nếu nạn nhân cao to thì hung thủ chắc chắn cũng cao to.”

Lý Chí Dũng hiểu ngay ý, buột miệng xen vào, “Khoảng thời gian gây án ngắn chứng tỏ hung thủ chọn cách đánh lén, cũng có nghĩa hắn đánh giá thấp thể lực và sức mạnh của bản thân, sợ không đánh gục được nạn nhân ngay tức thì nên bắt buộc phải ra tay từ đằng sau hoặc tấn công bất ngờ.”

Lâm Hương Minh nhìn anh, gật đầu. “Ngược lại với phim ảnh, rất hiếm nạn nhân bị hung thủ ác ôn khống chế trong tích tắc. Dù gặp phải kẻ cưỡng hiếp khỏe như Tyson, phụ nữ vẫn sẽ vùng lên chống cự bằng bản năng sinh tồn. Bất kể nạn nhân có thân hình ra sao, đối tượng chúng ta đang truy bắt đều đánh lén họ từ sau lưng, cố gắng hạ gục bằng một đòn, không cho họ cơ hội đánh trả, chứng tỏ hắn không quá to cao.”

Sài Vĩnh Tiến hoàn toàn nhụt chí, mãi không đáp trả được câu nào. Đỗ Kiến Bình cảm tưởng mình sắp mất hết mặt mũi đến nơi, “Anh nói tiếp đi, Lâm Hương Minh chỉ đang giúp anh hoàn thiện công việc thôi mà!”

“Thì tôi cho rằng đối tượng này rất thành thạo, có kinh nghiệm nhất định trong việc đối phó với lực lượng chức năng, từ đó suy luận có thể hắn từng lao động cải tạo.” Đang nói lầm bầm, Sài Vĩnh Tiến thoắt cái cao giọng. “Nhưng tôi dám khẳng định đối tượng chỉ là dân tạm trú, không nghề nghiệp ổn định, sống lâu dưới tầng hầm, đây là chuyện chắc chắn.”

Lâm Hương Minh nhìn anh ta, không đáp lại.

“Chắc cậu đọc báo cáo giám định hiện trường rồi, vết giày lấy được ở hiện trường cho thấy đối tượng đi giày thể thao cũ rẻ tiền hãng Dương Phàm, nhiều vết còn lấm tấm nấm mốc. Loại nấm mốc này chủ yếu có trong tầng hầm hoặc tầng bán hầm.”

Sài Vĩnh Tiến nghỉ một lát để lấy hơi, tiếp tục trình bày. “Đồng thời, địa điểm hắn gây án tuy đều ở Tây Giao nhưng nằm rải rác, đêm xảy ra vụ án thứ hai hắn còn chạm trán đội dân phòng. Trong quá trình bị truy bắt, hắn lạ đường nên không chọn đường thẳng mà cư dân hay đi, thay vào đó chạy đường vòng và suýt bị chặn trong ngõ cụt. Điều này chứng tỏ hắn không phải người địa phương. Quay lại chi tiết nấm mốc dính ở vết giày, tôi suy luận hắn là kẻ vô công rồi nghề không thường trú ở đây, cũng tức là ‘dân lang thang’ người ta hay nhắc đến.”

Chuyện Sài Vĩnh Tiến vừa đề cập diễn ra vào đêm xảy ra vụ án thứ hai. Trong lúc tuần tra, đội dân phòng bắt gặp một kẻ có bộ dạng khả nghi ngay tại góc đường cách nhà nạn nhân Ngô khoảng 500 mét. Vì kẻ này dựng cao cổ áo, lại thêm trời thiếu sáng nên đội dân phòng không nhìn rõ mặt mũi hắn. Khi họ tiến đến kiểm tra, hắn bất ngờ bỏ chạy. Đội dân phòng ngây ra một lúc mới đuổi theo nên bị hắn bỏ xa. Lúc tới ngã rẽ, có lẽ do đang cuống, thay vì xông thẳng vào công viên giữa phố cây cối um tùm là có thể cắt đuôi đội dân phòng, thì hắn lại ngoặt sang phải, chui vào một ngõ nhỏ, rẽ ngang rẽ dọc một hồi mới thoát…

Sau khi kiểm tra dấu giày và nấm mốc, giám định viên kĩ thuật hình sự kết luận hắn chính là tên sát nhân hàng loạt.

Miếng ăn đến miệng còn rơi, Đỗ Kiến Bình đau đớn khôn nguôi với cuộc đuổi bắt thất bại. Vì thế, tổ trưởng tổ trị an phường Xuân Liễu là Phòng Chí Phong bị gọi lên mắng té tát. Phòng Chí Phong tuổi đã gần ngũ tuần, nhăn nhó đòi bỏ quách công việc đã vất vả ngày đêm lại còn chẳng có tương lai này. Đỗ Kiến Bình đành xuống nước an ủi ông ta, nhờ thế mới cứu được đội dân phòng đang chán nản khỏi nguy cơ tan rã.

Nghe Sài Vĩnh Tiến trình bày xong, lại nhớ đến cảnh bắt hụt hung thủ, người trong phòng họp đều cho rằng suy luận của anh ta không còn gì để bắt bẻ nữa. Họ đổ dồn ánh mắt sang Lâm Hương Minh như muốn nói, “Lần này hết nước cãi rồi chứ?”

Không ngờ Lâm Hương Minh đứng lên, chuyển trang trình chiếu sang hình ảnh một mảnh đất xanh tươi hình bầu dục, hỏi Sài Vĩnh Tiến.

“Đồng chí nhận ra nơi này không?”

Sài Vĩnh Tiến liếc nhanh, “Có chứ, đây là bãi cỏ đằng trước công viên còn gì?”

Lý Chí Dũng ngẩng phắt lên.

Lâm Hương Minh nhìn Sài Vĩnh Tiến, từ tốn hỏi tiếp, “Đồng chí tự mình đến đấy kiểm tra chưa?”

Sài Vĩnh Tiến chớp mắt hồi lâu, lắc đầu.

“Trong những người ngồi đây, ai đã từng kiểm tra tuyến đường tẩu thoát của hung thủ sau vụ án thứ hai?”

Sau khi Ngô bị sát hại, tổ chuyên án tập trung điều tra kĩ lưỡng quanh hiện trường, đồng thời hỏi thăm một lượt dọc con đường hung thủ thoát thân. Cuối cùng cả tổ vẫn thống nhất: hung thủ chọn con đường này một cách ngẫu nhiên, nói thẳng ra là “chạy bừa”. Đã không có giá trị điều tra sâu hơn thì không cần hao phí nhân lực và sức lực. Còn về mảnh đất xanh trên màn chiếu, đa số cảnh sát đều từng đi ngang qua nhưng không để mắt đến.

Thấy mọi người chỉ biết quay ra nhìn nhau, Lâm Hương Minh lộ vẻ thất vọng.

Đúng lúc này, Lý Chí Dũng giơ tay lên.

Lâm Hương Minh cười. “Được rồi, mời đồng chí Lý Chí Dũng nói cho đồng chí Sài Vĩnh Tiến biết mảnh đất màu xanh hình bầu dục đó thực ra là gì.”

“Đấy không phải bãi cỏ.” Lý Chí Dũng trả lời, “Mà là mảnh đất trống hình bầu dục phủ lưới màu xanh lục.”

Dạo gần đây, thành phố đang quay loạt phim quảng bá hình ảnh. Khổ nỗi, mấy năm nay thành phố đập phá xây sửa liên miên trông chẳng khác nào công trường khổng lồ, nên bây giờ cần được trang trí lại để lên hình cho đẹp, ít nhất khi quay từ trên cao xuống phải có nhiều sắc xanh hơn, không thể để nơi nào trông cũng như đất trọc. Nhưng do hồi đó phương pháp trồng bãi cỏ không cần đất vẫn chưa phổ biến, trải thảm cỏ bằng nhựa lại đắt đỏ, thế là cơ quan y tế và môi trường quyết định phủ lưới xanh lên tất cả những nơi có diện tích đất trống vượt quá 100 m², khi quay phim từ trên không trông cũng ra trò lắm.

Cả phòng họp ồ lên, các cảnh sát rì rầm bàn luận hồi lâu nhưng mặt vẫn không tươi tỉnh hơn.

Đỗ Kiến Bình gõ ngón tay xuống bàn ra hiệu yên lặng, “Tôi chưa hiểu lắm, chỗ đó là bãi cỏ hay không thì liên quan gì đến vụ án của chúng ta?”

“Liên quan chứ.” Lâm Hương Minh điềm tĩnh đáp. “Tôi kiểm tra nơi đó rồi. Loại lưới xanh này có mắt lưới rộng chừng 4 đến 6 centimet, vừa đúng bằng độ rộng mũi giày thể thao hoặc giày da bình thường. Cho nên hung thủ không chạy vào công viên chắc chắn không phải vì hắn không biết đó là chỗ nấp an toàn, mà bởi hắn không muốn vấp ngã vì vướng phải mắt lưới. Từ đó suy ra không phải hắn không rành đường sá, thực chất hắn nắm rõ địa bàn như lòng bàn tay, hắn không hề chọn sai đường trong lúc hoảng loạn bỏ chạy. Thậm chí tôi dám khẳng định, hắn đã sống lâu năm ở địa bàn khu Thành Ngung và phường Xuân Liễu.”

“Biết đâu…” Sài Vĩnh Tiến nghiến răng. “Biết đâu ngay lúc đó hắn đã nhận ra đó là lưới chứ không phải bãi cỏ?”

Lâm Hương Minh quay người nhìn bức hình trên màn chiếu, thở dài, “Hình này được chụp ban ngày mà anh còn không nhận ra, huống chi lúc đó là nửa đêm…”

Tan họp, Lý Chí Dũng và Lâm Hương Minh cùng sóng bước xuống khoảng sân giản dị của đội hình sự. Qua tán cây hòe khô quắt trơ trụi, họ trông lên bầu trời đêm cuối thu xám xịt và đìu hiu như phủ lớp sương mù.

“Hôm nay cậu chỉ phá mà không xây đâu đấy.” Lý Chí Dũng cất lời. “Cậu phản bác sạch sẽ suy luận của Sài Vĩnh Tiến nhưng chẳng đưa ra kết luận nào mới.”

Lâm Hương Minh im lặng, lát sau mới thong thả đáp, “Tình tiết vụ án quá phức tạp, điểm mâu thuẫn và đáng ngờ còn quá nhiều, tôi chưa thể phác họa đối tượng tình nghi một cách chuẩn xác nhất.”

Chẳng rõ vì sợ lạnh hay vì phiền muộn, Lý Chí Dũng đút hai tay vào túi quần, đứng tại chỗ giẫm giẫm lá cây khô, tạo ra những tiếng loạt soạt. “Vụ án mãi chưa tiến triển thêm. Nếu bây giờ hung thủ dừng tay, ngủ đông như gấu, chẳng lẽ chúng ta sẽ không bao giờ bắt được hắn… Không thể để Cao Tiểu Yến hi sinh vô ích vậy chứ?”

“Không một cảnh sát nào hi sinh vô ích.” Lâm Hương Minh khẳng định. “Không bao giờ có chuyện đó.”

Lời của Lâm Hương Minh như một tiên đoán thần kì, không ai ngờ sự hi sinh của Cao Tiểu Yến lại tạo ra bước đột phá quan trọng cho cả vụ án.

Hằng năm, Đại học Cảnh sát sẽ cử sinh viên có thành tích xuất sắc đến đồn cảnh sát, phòng cảnh sát quận và đội hình sự các nơi để “hỗ trợ công việc”. Khác với thực tập, “hỗ trợ công việc” không phải thầy dạy trò như truyền thống mà là giúp đỡ lẫn nhau một cách bình đẳng. Những cảnh sát nhiều năm trong nghề sẽ truyền thụ kinh nghiệm thực chiến quý giá cho sinh viên vừa ra trường còn non nớt và hăng hái, còn các sinh viên dựa vào hiểu biết về kĩ thuật điều tra hình sự tiên tiến của thế giới để giúp đỡ các đồng chí anh dũng chiến đấu tại tuyến đầu thực hiện “chuyên nghiệp hóa, chính xác hóa, số liệu hóa và thông tin hóa” trong công việc chuyên môn.

Trong số đó có một nữ sinh cùng trường nhưng không cùng ngành với Lâm Hương Minh, tên là Lưu Tư Miễu. Nghe nói Lâm Hương Minh đang bận rộn với loạt án giết người ở Tây Giao, cô chủ động đề nghị hỗ trợ phòng kĩ thuật hình sự khu vực và được nhà trường phê duyệt. Sở hữu nhan sắc xinh đẹp ngỡ ngàng, ngày đầu tiên đến làm cô đã gây không ít xôn xao. Cánh đàn ông dù kết hôn hay chưa đều vờ như tình cờ đi qua phòng kĩ thuật hình sự chỉ để liếc nhìn cô. Điều này khiến mọi người hiểu lầm cô là “bình hoa di động”, xinh đẹp nhưng không có năng lực.

Thực tế chứng minh họ đã nhầm to.

Nhiều năm sau, Lưu Tư Miễu trở thành người đi đầu trong nghiên cứu khoa học về giám định hiện trường tại Trung Quốc. Ngay từ thời đại học, cô đã thể hiện đức tính tỉ mỉ và năng lực xuất sắc trong lĩnh vực chuyên môn, nhanh chóng mang lại tia sáng le lói nơi đường hầm tăm tối khi tham gia điều tra loạt án giết người ở Tây Giao.

Toàn bộ quá trình gây án của hung thủ không phải hành vi đơn lẻ, cố định và bị động, mà là một hệ thống phức tạp, biến hóa và chủ động. Ví dụ, một vụ án đột nhập giết người cướp của sẽ diễn ra theo chuỗi hành vi: phá cửa, vật lộn, giết nạn nhân, tìm kiếm tài sản, tiêu hủy vật chứng tiết lộ thông tin cá nhân, cuối cùng là rời đi. Trong quá trình này, vật chứng có giá trị nhất đa phần xuất hiện khi nạn nhân giằng co với hung thủ. Đặc biệt, tội phạm có kinh nghiệm thường đeo găng tay để không lưu lại dấu vân, cùng lắm chỉ để lại dấu giày lúc đá cửa vào, khi đó thông tin về ADN của hắn như tóc và máu chỉ có thể tìm thấy ở kẽ ngón tay và kẽ móng tay nạn nhân.

Thật đáng tiếc, cả ba nạn nhân của loạt án giết người ở Tây Giao gần như đều bị đánh gục ngay tức khắc bởi một nhát búa từ phía sau, mất đi khả năng chống cự, sau đó bị cưỡng hiếp và sát hại. Duy chỉ có Cao Tiểu Yến tỉnh lại trong thời gian rất ngắn, vật lộn với hung thủ và làm vỡ bể cá. Vì thế trong mắt các chuyên viên điều tra và kĩ thuật hình sự, “tương tác” giữa nạn nhân và hung thủ trong vụ án này bằng không.

Nhưng Lưu Tư Miễu lại không nghĩ thế. Như bao công việc khác, công tác giám định hiện trường cũng mang tính chất “chi tiết nhỏ quyết định thành bại”. Chẳng may giám định viên kĩ thuật hình sự sơ suất bỏ qua dù chỉ một chứng cứ vụn vặt cũng dẫn đến nguy cơ để lọt tội phạm. Lưu Tư Miễu thường kiểm tra hiện trường vụ án và khám nghiệm vật chứng kĩ càng đến mức không tài nào tưởng tượng nổi. Ví dụ, khi tham gia điều tra loạt án giết người ở Tây Giao, cô đã kiên quyết yêu cầu phải khôi phục bể cá thủy tinh vỡ nát với lý do “đây là bằng chứng duy nhất chứng minh giữa nạn nhân và hung thủ có tương tác”.

Mảnh vỡ thủy tinh và sợi vải là những vật chứng cỡ nhỏ thường xuất hiện nhất tại hiện trường vụ án. Vì mảnh thủy tinh có khả năng lưu lại dấu vết (vân tay, vết máu hoặc các loại sợi) cho nên khi thu thập phải cực kì cẩn thận, không thể dùng chổi quét bậy quét bạ hết vào hót rác “mang về phòng thí nghiệm” như hay thấy trên phim truyền hình. Với miếng thủy tinh cỡ lớn, bắt buộc phải đeo găng tay cao su y tế mới được tiếp xúc với bề mặt vỡ, còn với mẩu hoặc vụn thủy tinh cỡ nhỏ như bể cá vỡ thì phải gắp bằng nhíp phi kim loại.

Giám định viên kĩ thuật hình sự phụ trách điều tra hiện trường sát hại Cao Tiểu Yến quả thật đã làm đúng nguyên tắc thu thập vật chứng như trên, nhưng không tìm thấy dấu vân tay hay vết máu của hung thủ trên mảnh thủy tinh. Lưu Tư Miễu đột ngột đưa ra yêu cầu khôi phục bể cá khiến mọi người ngơ ngác, có người không e dè còn buông lời châm chọc ngay trước mặt cô, “Chẳng lẽ tờ giấy rách không có chữ khi dán lại sẽ hiện ra chữ à?” Cô làm như không nghe thấy, nhốt mình trong phòng thí nghiệm suốt một ngày một đêm. Khi đi ra, cô bê theo bể cá thủy tinh hình chữ nhật dán chằng chịt băng dính trong suốt, về cơ bản đã được khôi phục lại.

“Cô dán lại thật đấy à?” Một giám định viên gạo cội ngỡ ngàng ra mặt. “Sao rồi, phát hiện chứng cứ nào mới chưa?”

Lưu Tư Miễu lắc đầu.

Giám định viên thở dài, “Tôi biết ngay phí công vô ích mà.”

“Chưa chắc.” Lưu Tư Miễu chỉ vào khay nhựa màu đỏ trên bàn.

Giám định viên lại gần, cúi xuống nhìn, trong khay có hai mảnh thủy tinh bé tẹo và trong suốt. Khác với các mảnh vỡ bể cá, hai mảnh thủy tinh này có độ cong cực kì nhỏ, không nhìn kĩ sẽ không phát hiện ra. “Đây là…?” Giám định viên đứng thẳng lên, ánh mắt đầy hoài nghi.

Lưu Tư Miễu lạnh lùng đáp, “Hai mảnh thủy tinh này nằm lẫn trong đống thủy tinh vỡ, nhưng không phải của bể cá.”

Phát hiện của Lưu Tư Miễu khiến tổ chuyên án vừa vui mừng vừa lúng túng. Vui mừng vì sau khi giám định kĩ hơn, họ cho rằng hai mảnh thủy tinh cong cong này có thể là mảnh vỡ kính mắt, mà Cao Tiểu Yến không đeo kính, lại sống một mình, trong nhà không hề có kính mắt, điều đó có nghĩa chúng rơi ra từ mắt kính của hung thủ khi giằng co. Còn lúng túng là vì ngoại trừ thêm hai chữ “cận thị” vào phần đặc điểm hung thủ, phát hiện này chẳng đem lại lợi ích gì cho quá trình điều tra.

Đúng lúc này lại xuất hiện thêm một nhân vật mang tính quyết định đối với vụ án.

Biết chuyện Lưu Tư Miễu khôi phục bể cá thủy tinh và phát hiện ra hai mảnh kính vỡ, người phấn khích nhất là Lý Chí Dũng. Song, cũng như các cảnh sát khác, sau khi niềm vui qua đi, anh vẫn mù mờ không hiểu phát hiện này có tác dụng gì. Anh hỏi Lâm Hương Minh. Cậu ngẫm ngợi rồi đáp, “Tôi cũng chưa nghĩ ra…” Đúng lúc ấy, tiếng nhạc vui tai reo vang trong túi áo Lâm Hương Minh. Lôi ra một chiếc Motorola V3 màu đen, nhác thấy tên người gọi hiển thị trên màn hình, cậu mỉm cười nhận cuộc gọi, nói liền mấy câu “Ừ được”. Sau đó, cậu bảo Lý Chí Dũng, “Đi, tôi dẫn anh đi gặp một người bạn, có thể người này sẽ cho chúng ta vài gợi ý.”

Hoàng hôn dần buông xuống, thành phố vừa lên đèn. Hai người đạp xe một mạch về phía Tây trên con đường trải đầy lá rơi tỏa hương thơm lạ lùng của gỗ thông. Qua cầu bộ hành tại giao lộ Tây Tụy, họ dắt xe vào con phố nhỏ nằm dọc hướng Nam-Bắc. Bên trái đường là Học viện Quốc tế thuộc Đại học Y thành phố. Bên phải đường là tiệm bánh ngọt Wedome, cửa hàng băng đĩa, quán xiên Trì Ký và đồ nướng Lão Cốc nằm san sát nhau, ở giữa xen thêm vài hàng bán bánh bao rau, ma lạt thang và bánh mì thịt lừa. Hàng nào cũng tỏa khói nghi ngút làm ánh đèn đường như tan chảy vì hơi nóng. Trước cửa hàng băng đĩa đặt loa công suất lớn phát nhạc Michael Jackson, nhưng giai điệu rock and roll bị lấn át hoàn toàn bởi tiếng ồn ào trong tiệm đồ nướng. Đầu đường phía Bắc có trường tiểu học, vài tốp học sinh vừa tan học thêm đang bước ra khỏi trường, mấy gánh hàng rong bán kẹo hồ lô và văn phòng phẩm ngoài cổng thấy vậy vội vàng cất giọng rao, âm thanh như bị đông cứng giữa cái lạnh.

Lâm Hương Minh và Lý Chí Dũng dừng xe trước cửa quán đồ nướng Lão Cốc, nhân viên phục vụ mặc đồng phục đen viền vàng hí hửng mở cửa mời họ vào. Bên trong, tiếng cười, tiếng la hét, tiếng cụng ly cùng tiếng gọi phục vụ vang lên không ngớt, hòa vào nhau tạo thành mớ âm thanh hỗn độn. Phục vụ đi qua đi lại như con thoi giữa dãy bàn ghế gỗ màu vàng, mang đủ loại xiên nướng đựng trong khay sắt cho thực khách. Mặt ai cũng mờ ảo giữa những làn khói mù mịt. Lâm Hương Minh ngồi xuống một bàn đã có người, ra hiệu Lý Chí Dũng ngồi đối diện mình. Cậu giới thiệu cậu chàng mặt non choẹt bên cạnh với anh, “Đây là Hô Diên Vân, bạn thân của tôi.”

Hô Diên Vân hai mươi tuổi, bằng tuổi Lâm Hương Minh nhưng không điềm đạm và trưởng thành bằng. Cậu ta có khóe miệng và khóe mắt hơi xếch, trông hệt đứa trẻ ngây ngô coi trời bằng vung, nhưng đôi mắt hơi bé lại lấp lánh ánh sáng như thể nhìn thấu tâm can người ta.

Bị cậu ta nhìn săm soi, Lý Chí Dũng bối rối ôm quyền chào.

Nghe Lâm Hương Minh giới thiệu Lý Chí Dũng, Hô Diên Vân gật đầu với anh rồi rót cốc nước nóng nhét vào tay Lâm Hương Minh, “Trời lạnh, cậu uống đi cho ấm bụng.” Đoạn, cậu ta lấy trong ba lô một tập sách khoảng 50-60 trang, to như cuốn Tuần san Đời sống Tam Liên, bắt đầu thao thao bất tuyệt về tạp chí mình cùng làm với vài người bạn đại học. “Cái này là bản in thử, vừa ra lò là tớ cầm đến ngay cho cậu đọc đó!” Cậu ta vui vẻ lật sách soàn soạt, tỉ mỉ giới thiệu lần lượt từ lời nói đầu, phương châm biên tập, thư mời viết bài đến cách thiết kế từng chuyên mục. Đầu tóc bù xù như vừa ngủ dậy nhưng cậu ta toàn lải nhải về kế hoạch hoành tráng, trông đến là hớn hở.

Hô Diên Vân để lại cho Lý Chí Dũng ấn tượng ban đầu cực kì tồi tệ: ngạo mạn, ngông cuồng, không thực tế. Đến nỗi khi hai người gặp lại nhau vào mười năm sau, trong đầu anh vẫn hiện ra hình ảnh cậu trai thời kì nổi loạn. Nhưng lúc này anh vuốt mặt phải nể mũi, người ta là bạn của Lâm Hương Minh nên anh không thể làm người ta khó xử. Anh đành cười khẩy trong lòng, thầm trách không hiểu sao Lâm Hương Minh lại giới thiệu một kẻ như vậy với mình, chẳng rõ Hô Diên Vân sẽ “gợi ý” được gì.

Lâm Hương Minh vẫn rất bình thản, vừa tươi cười rót nước cho Lý Chí Dũng, vừa gọi món, vừa nghe bạn mình huyên thuyên, việc gì cũng làm đâu ra đấy. Đợi bạn nói xong, cậu mới nhẹ nhàng dặn dò, “Mới bắt đầu đừng ôm đồm và bốc đồng, cũng đừng nghĩ đơn giản quá.” Hô Diên Vân rót cho mình một cốc bia đầy, uống ừng ực rồi đáp, “Cậu yên tâm, tớ chẳng muốn áp đặt mấy điều đao to búa lớn lên ai, chẳng qua tớ không vừa mắt điệu bộ chủ nghĩa yếm thế của bọn họ thôi.” Lâm Hương Minh gật đầu. “Có kẻ chè chén say sưa, có người đầu tắt mặt tối, ai làm việc người nấy là được.”

Nhìn hai người ông nói gà bà nói vịt, Lý Chí Dũng lấy làm lạ. Bỗng nhiên chủ đề nhảy sang loạt án giết người ở Tây Giao, Lâm Hương Minh thuật lại cặn kẽ chuyện Lưu Tư Miễu phát hiện ra mảnh vỡ mắt kính. Trong quán càng lúc càng ồn ào nhưng cậu vẫn không cao giọng, Hô Diên Vân cũng không cau mày vì tạp âm, lắng nghe rất nghiêm túc. Lý Chí Dũng coi Hô Diên Vân như mọi sinh viên thích nghe chuyện điều tra hình sự khác, thấy Lâm Hương Minh nhắc đến vài bí mật chỉ nội bộ cảnh sát biết với nhau, anh định ngăn cản nhưng lại thôi, cúi đầu vừa ăn đậu tương non vừa uống bia.

Lúc Lâm Hương Minh kể xong cũng là lúc xiên nướng và thức ăn được dọn lên. Hô Diên Vân vớ ngay một xiên cá lù đù vàng gặm lấy gặm để, Lâm Hương Minh xới cơm rang trứng ra bát, đặt trước mặt hai người kia, sau đó mới bưng bát của mình lên ăn rất từ tốn.

Ngồi phía đối diện, Lý Chí Dũng quan sát thấy Hô Diên Vân dù mồm nhai liên tục nhưng ánh mắt đăm chiêu như kì thủ cờ vây chơi cờ trong phòng trà kiểu Nhật. Cậu ta cũng trầm ngâm suy nghĩ, chỉ có điều thứ cầm trong tay không phải quân cờ mà là xiên tre. Chén xong hai xiên cá, cậu ta rút khăn giấy lau miệng, quay sang bảo Lâm Hương Minh, “Hung thủ hẳn là kẻ say mê trinh thám.”

Lâm Hương Minh chưa kịp lên tiếng, Lý Chí Dũng đã kinh ngạc thốt lên, “Hả? Sao cậu biết?”

Hô Diên Vân mặc kệ anh, tiếp tục nói với Lâm Hương Minh, “Giả sử bể cá và mắt kính bị vỡ khi chị Yến vật lộn với hung thủ, Lưu Tư Miễu sẽ không chỉ khôi phục được bể cá từ đống mảnh vỡ, mà ít nhất phải có thêm một tròng kính hoàn chỉnh. Nhưng lại không thấy, việc này nói lên điều gì?”

“Khi dọn dẹp hiện trường, hung thủ đã tìm kiếm kĩ càng và nhặt hết mảnh vỡ mắt kính.” Lâm Hương Minh đáp.

“Đúng! Cho nên tớ nghiêng về giả thuyết: mắt kính của hung thủ đúng là đã rơi ra khi giằng co, còn bể cá là về sau hắn cố tình đập vỡ. Ban đầu hung thủ định nhặt hết mảnh vỡ mắt kính mang đi, nhưng do kính hỏng nên hắn không nhìn rõ mặt đất, không dám chắc sẽ nhặt sạch toàn bộ mảnh vỡ. Để che giấu một cái cây, hắn đành phải trồng cả khu rừng: đập vỡ bể cá để mảnh mắt kính lẫn vào mảnh vụn thủy tinh, như vậy cảnh sát sẽ bỏ qua sự tồn tại của mắt kính.”

Lý Chí Dũng đập bàn, “Đúng! Quá chuẩn! Chính xác!”

Lâm Hương Minh gật gù, “Vì sao hung thủ phải làm thế?”

“Chắc vì mảnh vỡ mắt kính có thể làm lộ thông tin cá nhân của hắn?” Lý Chí Dũng xen vào.

Hô Diên Vân mỉm cười nhìn anh.

“Tớ sẽ nhờ Lưu Tư Miễu kiểm tra và đo đạc thật kĩ hai mảnh vỡ mắt kính.” Lâm Hương Minh vừa lấy điện thoại ra, Hô Diên Vân đã cản lại, “Không cần đâu, có cách tìm ra hung thủ dễ hơn nhiều. Tớ nói rồi mà, hắn say mê trinh thám.”

“Phải rồi, cậu chưa giải thích vì sao lại cho ra kết luận này.” Lý Chí Dũng nói.

Hô Diên Vân đáp, “Cách che giấu vật chứng mà hung thủ sử dụng bắt nguồn từ một bộ truyện tranh trinh thám Nhật Bản. Truyện này nổi tiếng ở Nhật nhưng không quá nổi bên mình, cảnh sát các anh không mấy ai biết. Việc bắt chước cách làm trong truyện tranh ít người đọc chứng tỏ hắn là người thích suy luận, thậm chí say mê truyện trinh thám. Suy luận này chắc không võ đoán quá đâu nhỉ.”

“Ra vậy! Nhưng cậu bảo có cách dễ hơn để tìm hắn…”

Hô Diên Vân nhìn Lý Chí Dũng với vẻ “nói đến thế rồi vẫn chưa hiểu à”, cầm thêm một xiên cá nướng rồi giải thích, “Từ cách ăn mặc và hoàn cảnh sống có thể thấy gia cảnh hung thủ không khá giả, nên hắn sẽ không đặt mua truyện tranh bản Đài Loan, Tây Giao lại có rất ít nhà sách… Hãy yêu cầu hai trang web Dangdang và Amazon hỗ trợ điều tra xem có bao nhiêu người sống ở Tây Giao mua bộ truyện tranh đó, điều tra từng người một…”

⚝ ⚝ ⚝

Ra khỏi quán nướng ồn ào, Lâm Hương Minh gọi mấy cuộc điện thoại, nhờ tổ chuyên án lập tức liên hệ trụ sở Dangdang và Amazon xin danh sách đơn hàng và tên người đặt bộ truyện tranh trinh thám Nhật Bản kia. Sắp xếp xong xuôi, cậu quay lại thì trông thấy Hô Diên Vân đang dìu Lý Chí Dũng đi ra.

Ban nãy nghe xong suy luận của Hô Diên Vân, Lý Chí Dũng có cảm giác hung thủ sắp sa lưới tới nơi. Song, lòng anh không rạo rực khí thế muốn chạy lên tuyến đầu bắt kẻ thủ ác, ngược lại anh chỉ thấy cả người rệu rã không sức lực. Anh uống hết cốc này đến cốc khác, sau cùng tu luôn cả chai. Trong khoảng thời gian Lâm Hương Minh ra ngoài gọi điện, anh đã dốc cạn năm chai bia. Hô Diên Vân nhận ra anh đang đau lòng nên không ngăn cản, thành thử anh uống nhiều tới nỗi hai mắt đờ đẫn, lúc đi chân đăm đá chân chiêu, vừa ra khỏi quán là ngồi sụp xuống nôn ọe bên đường. Lâm Hương Minh vội vàng đến vỗ lưng anh, nhờ cậu nhân viên đón khách ngoài cửa lấy hộ một cốc nước nóng.

“Chẳng biết tại sao uống nhiều thế…” Hô Diên Vân lầm bầm.

“Cộng sự của anh ấy hi sinh trong quá trình điều tra vụ án này.” Lâm Hương Minh khẽ giải thích.

Lý Chí Dũng nôn xong ngồi bệt xuống đất. Lâm Hương Minh lấy khăn giấy lau miệng cho anh rồi đưa nước nóng. Lúc nhận cốc, tay anh run rẩy làm nước sánh ra ngoài, Lâm Hương Minh phải đỡ bên dưới giúp anh uống. Lý Chí Dũng gục đầu im lặng, hai tay chống xuống đất, mãi lâu sau mới lí nha lí nhí. Lâm Hương Minh không nghe rõ, phải ghé sát lại mới nghe được anh nói, “Vậy là em ấy không chết uổng, không chết uổng…”

Sợ Lý Chí Dũng ngồi lâu dưới nền đất lạnh sẽ ốm, Lâm Hương Minh định đỡ anh dậy nhưng bị đẩy ra. Taxi Hô Diên Vân gọi vẫn dừng trước mặt, Lâm Hương Minh cương quyết lôi xềnh xệch anh vào ghế sau rồi ngồi bên cạnh.

Hô Diên Vân ngồi ghế phụ lái, hỏi nhà Lý Chí Dũng ở đâu. Anh mơ màng nói địa chỉ. Tài xế quay lại liếc, “Đừng nôn ra xe tôi đấy!” Lâm Hương Minh lập tức vặc lại, “Lái xe đi!” Giọng rất nghiêm khắc khiến tài xế giật mình, lập tức khởi động xe.

Không gian chìm vào yên tĩnh.

Bên ngoài cửa sổ xe, bầu trời đêm thành phố chẳng khác nào dòng sông đen lững lờ trôi, dần đông lại thành băng dưới cái lạnh cuối thu. Cành cây run rẩy trong gió. Hàng dây điện và đèn đường tựa những đứa trẻ bị bỏ rơi không ngừng chạy vụt qua tầm mắt. Chúng như bị đóng băng giữa dòng sông, bơ vơ không nơi nương tựa, cũng chẳng có ngày mai.

Có lẽ vì sợ không khí im ắng trong xe nên tài xế mở loa. Bản nhạc cũ với giọng hát khàn khàn của Chung Trấn Đào khe khẽ vang lên.

Trong gió trong gió, gió lạnh trong lòng, cuốn mất giấc mơ,

Chuyện còn chưa qua, mà đã biến mất,

Giờ phút này đau thương nhường nào…*

Đằng xa, ngọn đèn trong tòa nhà vụt tắt, trông cô độc, đau buồn và phiền muộn hệt đôi mắt của người trằn trọc giữa đêm. Đang cuộn mình trong góc ghế sau, Lý Chí Dũng nhè đúng lúc này để lẩm bà lẩm bẩm. Ban đầu tiếng nói còn không rõ, dần dần mới nghe ra anh đang nói mớ, “Mệt rồi, mệt rồi, muốn tự tay bắt nó nhưng chẳng còn sức… Bận tối ngày chẳng biết để làm gì… Mặt rửa rồi, tóc cắt rồi, râu cạo rồi, anh đã sửa soạn tươm tất hết, em không phải xấu hổ vì anh…” Anh còn ỉ ôi hát theo bản nhạc đang phát, “Bao cảm giác trống rỗng, lạnh lẽo biết chừng nào, thổi lên giấc mộng trong gió…”

Suốt quãng đường, Hô Diên vân không quay đầu lại, Lâm Hương Minh cũng lặng im.

Nhà Lý Chí Dũng nằm trong khu nhà cũ xây từ thập niên 60 của thế kỉ trước. Bố mất sớm, anh chỉ còn người mẹ ngoài năm mươi tuổi tóc đã hoa râm. Thấy con trai uống say mèm được bạn dìu về, bà rối rít cảm ơn Lâm Hương Minh và Hô Diên Vân, đưa Lý Chí Dũng về giường, đóng cửa phòng anh lại rồi xuống bếp rót nước cho khách. Hô Diên Vân bảo không khát, Lâm Hương Minh nhận lấy cốc thủy tinh, vừa uống vừa ngắm nghía khung ảnh bày trên tủ kệ. Dưới ánh đèn leo lắt trong phòng khách chật hẹp, cậu chỉ vào một bức ảnh, “Chú nhà mình từng là cảnh sát ạ?”

Trong ảnh, một người đàn ông cao lớn mặc cảnh phục kiểu 83 màu ô liu vừa bế vừa cù lét một cậu nhóc mập mạp đeo khăn quàng đỏ. Cả hai cùng cười tít mắt.

“Ừ, hai bố con nó đều có số làm cảnh sát.” Người mẹ thở dài. “Xưa không yên tâm bố, đến đời con càng không yên tâm nổi.”

“Chú ra đi thế nào ạ?” Lâm Hương Minh hỏi không kiêng dè.

“Hồi truy quét tội phạm hình sự năm 96, cảnh sát toàn thành phố được tổng động viên tham gia, làm việc liên tục ba tháng trời, vừa xong việc thì Tây Giao lại xảy ra liên tiếp mấy vụ bắt cóc trẻ em. Lúc đấy đáng lẽ đến lượt bố nó nghỉ ngơi, nhưng ông ấy thích thể hiện, thấy cô khuyên nhủ thì nổi xung lên, mặt hầm hầm bảo cô đừng chõ mũi vào, cứ như cô là thành phần bất hảo không bằng, ông ấy cắm mặt vào điều tra không kể ngày đêm, chẳng màng ăn uống, vất vả lắm mới bắt được kẻ xấu, đến lúc thẩm vấn thì nổi cơn tam bành, lên cơn đau tim không kịp đưa đến bệnh viện… Âu cũng là cái số.” Bà lại thở dài. “Mỗi ngày Dũng đi làm là cô thấp tha thấp thỏm, nó về muộn cô lại nghĩ linh tinh đủ chuyện, cũng may các cháu đưa nó về tối nay, chứ không cô…”

Đúng lúc này, điện thoại của Lâm Hương Minh đổ chuông. Cậu nghe điện, sắc mặt thoắt nghiêm trọng. Cậu cúp máy xong chưa kịp lên tiếng đã nghe mẹ Lý Chí Dũng nói, “Có vụ án mới phải không, các cháu cứ lo chuyện của mình đi, nhớ phải cẩn thận đấy.”

Hai người chào tạm biệt bà. Ra khỏi cổng khu nhà, Lâm Hương Minh bảo Hô Diên Vân, “Cậu về trường trước đi, tớ còn phải làm tiếp.”

“Bắt được hung thủ rồi?” Hô Diên Vân ngạc nhiên. “Nhanh thế?”

Lâm Hương Minh lắc đầu. “Không phải, tên sát nhân hàng loạt lại gây án thì đúng hơn.”

Hô Diên Vân hăng hái hỏi, “Cần tớ đi cùng không?”

“Câu này cậu chỉ có thể nói trong tiểu thuyết trinh thám thôi, mà còn phải là truyện nước ngoài.” Lâm Hương Minh cười tủm tỉm, sực nhớ ra nên dặn dò, “Tạp chí vừa đi vào hoạt động, cậu đừng ôm đồm và bốc đồng, cũng đừng nghĩ đơn giản quá…”

“Được rồi, biết rồi, cậu lắm chuyện hơn cả mẹ tớ!” Hô Diên Vân đẩy vai bạn, đi về phía trước. “Cậu phá núi bắt giặc thì dễ, còn tớ chinh phục lòng người mới khó. Đã giao việc dễ cho cậu rồi, cậu còn càm ràm gì nữa!”

⚝ ⚝ ⚝

Sự hi sinh của Phòng Chí Phong, tổ trưởng tổ trị an phường Xuân Liễu, không chỉ đặt dấu chấm hết cho hàng loạt án mạng xảy ra ở Tây Giao, mà còn khiến kẻ sát nhân điên cuồng và hiểm ác bị lôi ra ngoài ánh sáng.

Phòng Chí Phong năm nay 48 tuổi, hồi trước từng là bảo vệ của công ty xi măng thành phố, nhưng xin nghỉ hưu sớm vì bị viêm gan. Đúng lúc này, phường Xuân Liễu tích cực hưởng ứng lời kêu gọi thực hiện trẻ hóa và chuyên nghiệp hóa cán bộ cấp cơ sở, tổ trưởng tổ trị an khi đó đã chủ động xin nghỉ hưu, đồng thời tiến cử Phòng Chí Phong lên thay.

Bệnh tật nhiều năm khiến Phòng Chí Phong trở nên gầy gò, sắc mặt vàng vọt. Nhưng khi đảm nhiệm vị trí tổ trưởng tổ trị an, ông luôn cố gắng hết sức làm tròn trách nhiệm. Không chỉ xây dựng nên một đội dân phòng được huấn luyện nghiêm ngặt, lập ra lộ trình và thời gian tuần tra dựa theo tình hình cụ thể của từng khu dân cư, ông còn mời các giảng viên Đại học Cảnh sát tới phổ cập kiến thức pháp luật và giáo dục về an toàn cho người dân, nhờ đó cải thiện đáng kể tình hình an ninh khu vực, được ủy ban quận biểu dương. Nếu vụ thứ hai trong loạt án giết người ở Tây Giao không xảy ra ở phường Xuân Liễu, trên quận còn chuẩn bị trao cho ông danh hiệu “Lao động tiên tiến của khu vực”.

Vụ án này gây ra áp lực rất lớn cho Phòng Chí Phong. Không những bị Đỗ Kiến Bình mắng thậm tệ vì để sổng hung thủ, Phòng Chí Phong còn bị vài người dân ngầm chế giễu các nỗ lực vì an ninh khu vực chỉ là “công trình giấy”. Quá nản chí, rất nhiều lần ông đã xin lãnh đạo phường cho mình từ chức. “Tôi bận rộn tối ngày suốt hơn nửa năm nhưng chẳng nên công cán gì, thà về nhà cơm nước cho con gái còn hơn!”

Phòng Chí Phong ly hôn từ lâu, một mình nuôi đứa con gái tên Phòng Mai khôn lớn. Phòng Mai năm nay 17 tuổi, đang học cấp ba. Có lẽ từ nhỏ đã ám ảnh những trận cãi vã giữa bố mẹ nên cô bé rất ít nói, bề ngoài ốm yếu nhợt nhạt như sống trong bóng tối, khiến bố luôn rầu lòng.

Không chịu nổi việc Phòng Chí Phong liên tục xin từ chức, lãnh đạo phường đành chấp thuận để ông nghỉ khi nào vụ án được giải quyết, “Còn bây giờ cứ theo dõi nốt đã.” Phòng Chí Phong bất mãn cằn nhằn, “Gần đây tôi cứ có cảm giác ai đó đang theo dõi nhà mình… Thôi được rồi, tôi sẽ làm tiếp cái chức tổ trưởng này, chỉ mong không hỏng cả việc công lẫn việc tư.”

Phải đến khi xảy ra chuyện, mọi người mới thấy câu này của Phòng Chí Phong thật xui xẻo.

Đại khái vào lúc Lý Chí Dũng ngồi nôn thốc nôn tháo trước cửa quán nướng Lão Cốc, tổng đài 110 nhận được cuộc gọi báo án của một bà cụ. Bà hoảng loạn nói nhà hàng xóm có người chết, chủ nhà bị giết còn con gái ông ta tự nhốt mình trong phòng, gọi thế nào cũng không chịu mở cửa…

Vì Tây Giao dạo này xảy ra loạt án giết người nên Sở Cảnh sát thành phố đã mở riêng một đường dây liên lạc nội bộ, yêu cầu nếu phát sinh bất cứ tình huống bất ngờ nào nghi ngờ có liên quan đến vụ án phải báo ngay cho tổ chuyên án. Lúc bấy giờ, các thành viên tổ chuyên án đang ngồi túm tụm trong văn phòng được đội hình sự quây riêng, vừa ăn cơm hộp Lệ Hoa, vừa phân công nhau đến trụ sở Dangdang và Amazon điều tra đơn hàng khả nghi. Nghe được thông tin 110 báo về, lại nghe đến địa chỉ, Sài Vĩnh Tiến khựng đôi đũa đang gắp cá hô chiên rim, “Đấy là nhà anh Phong mà?”

Đỗ Kiến Bình ngơ ngác, “Anh Phong nào cơ?”

Sài Vĩnh Tiến đáp, “Còn anh Phong nào nữa?”

Tai ù đi, Đỗ Kiến Bình ném hộp cơm xuống bàn, bật dậy chạy ào xuống tầng. Vài cảnh sát trẻ bám theo sau, suýt không đuổi kịp.

Kết quả khám nghiệm hiện trường và giám định pháp y như sau: địa điểm xảy ra án là nhà 302, cửa 4 tòa 3 thuộc khu dân cư số 4 phường Xuân Liễu. Nạn nhân là chủ hộ Phòng Chí Phong, tử vong trước kệ ti vi trong phòng khách. Thi thể nằm sấp, đầu hướng Bắc chân hướng Nam, quần áo rách đôi chỗ. Ở hiện trường, ngoài dấu vân tay rất rõ ràng trên một khuy áo bị giật đứt, trên mặt đất còn có dấu giày thể thao đan xen với dấu giày nạn nhân. Sofa, bàn ăn và ghế trong phòng khách bị di chuyển hoặc xô đổ, rất nhiều đồ thủy tinh bị vỡ, chứng tỏ nơi này xảy ra xô xát. Xương sọ nạn nhân có nhiều vết lõm, vết hình tròn thì vỡ nát còn vết hình vòng cung nứt vỡ theo dạng bậc thang, hiển nhiên do bị vật cùn nện vào. Kết quả đối chiếu vết thương cho thấy, hung khí có thể vẫn là chiếc búa sử dụng trong những vụ án trước, nhưng không tìm thấy hung khí ở hiện trường và khu vực quanh đó. Khóa cửa tại hiện trường không có dấu hiệu bị cạy, cửa sổ đóng từ bên trong và cũng không có dấu vết phá hoại.

Đến nơi, cảnh sát phải phá cửa vào vì con gái Phòng Chí Phong nhất quyết nhốt mình trong phòng ngủ. Họ tìm thấy Phòng Mai run rẩy nép sát góc tường, quần áo thì xộc xệch, mặt mũi hoảng loạn, nước mắt đầm đìa. Cảnh sát kiểm tra thấy vai trái cô bé bị búa đập. Họ hỏi han mấy câu nhưng cô bé một mực im lặng. Xét đến khả năng cô bé bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương, họ không hỏi nữa mà đưa cô bé đến bệnh viện.

Bà cụ báo cảnh sát khai rằng khoảng 9 giờ 30 phút tối đó, khi đang ngồi trong nhà xem phim truyền hình Danh gia vọng tộc, bà đột nhiên nghe thấy phía nhà đối diện vọng ra tiếng gào thét và xô xát, kèm theo tiếng đồ đạc bị đạp đổ và cốc chén vỡ. Bà lấy làm lạ. Là hàng xóm lâu năm, bà chưa bao giờ thấy bố con tổ trưởng tổ trị an lớn tiếng với nhau… Rồi mọi thứ nhanh chóng chìm vào yên ắng. Bà cụ mở cửa chính, nhòm qua cửa chống trộm, thấy hai lớp cửa nhà Phòng Chí Phong đều khép hờ chứ không đóng chặt, trong nhà sáng đèn nhưng không có bất cứ tiếng động nào. Gọi mấy tiếng “Ông Phong ơi” không ai đáp, lại gọi “Mai ơi” vẫn chẳng ai thưa, bà không khỏi sợ hãi, cố sống cố chết bắt con trai đang ngồi máy tính chơi điện tử phải đứng lên, “Con sang nhà đối diện xem cho mẹ.” Thế là phát hiện ra án mạng.

Trong quá trình điều tra, cảnh sát nhanh chóng nắm bắt được hai chuyện quan trọng.

Chuyện thứ nhất, tối đó chính quyền quận triệu tập tổ trưởng tổ trị an của tất cả các phường đến dự cuộc họp khẩn cấp, yêu cầu phối hợp với cảnh sát bằng cách thực hiện bốn nhiệm vụ: tuyên truyền dư luận, phát động quần chúng, tăng cường phòng bị và tuần tra từng nhà; đồng thời phải nâng cao cảnh giác với tên tội phạm giết người hàng loạt ở Tây Giao, để hắn “dừng tay không thoát được tội, ra tay nhất định bị bắt”. Buổi họp kết thúc lúc 9 giờ, đạp xe từ ủy ban quận về nhà Phòng Chí Phong ở phường Xuân Liễu mất 30 phút.

Chuyện thứ hai được một ông cụ cho hay: vào khoảng 9 giờ 30 phút đến 10 giờ, khi đang tập máy trong bãi tập ngoài trời của khu dân cư số 4, ông nhìn thấy một thanh niên hốt hoảng chạy ra khỏi cửa 4 của tòa 3. Cậu này mặt bạnh, cằm vuông, mắt tam giác, tướng mạo đã hung dữ còn nuôi ria mép rậm.

“Nếu gặp lại kẻ đó, tôi chắc chắn sẽ nhận ra.” Ông cụ nói chắc như đinh đóng cột.

Tổng kết hai chuyện trên, cảnh sát đưa ra kết luận sơ bộ về vụ sát hại Phòng Chí Phong như sau: tối đó hung thủ của loạt án giết người Tây Giao xông vào nhà Phòng Chí Phong, tấn công và định cưỡng hiếp Phòng Mai đang ở một mình. Đúng lúc đó bố cô bé tan làm về nhà, vật lộn quyết liệt với hắn nhưng không may bị giết. Tranh thủ khoảng thời gian bố mình đổi lấy bằng tính mạng, Phòng Mai trốn vào phòng ngủ riêng, khóa trái cửa lại. Sợ ban nãy giằng co gây ra tiếng động khiến hàng xóm chú ý và báo cảnh sát, hung thủ mới hớt hải bỏ chạy khỏi hiện trường.

Song Đỗ Kiến Bình phát hiện một vấn đề: cách thức gây án của hung thủ lần này khác hoàn toàn những lần trước. Hắn không giáng “một cú chí mạng” từ đằng sau khi mục tiêu đang mở cửa, mà vào hẳn trong nhà mới ra tay. Quan trọng hơn, cửa chống trộm và các cửa khác trong nhà không có dấu vết phá hoại, chứng tỏ lần này Phòng Mai chủ động “dẫn giặc vào nhà”.

“Rất có khả năng Phòng Mai quen biết hung thủ.” Đỗ Kiến Bình đưa ra kết luận rồi tức tốc cử nhóm của Sài Vĩnh Tiến đến bệnh viện. “Bất kể tình trạng sức khỏe của Phòng Mai ra sao đều phải bắt cô bé khai ra mọi việc! Kéo dài thêm giây nào là hung thủ có thêm giây đó chạy trốn!”

Nhưng nhóm Sài Vĩnh Tiến chưa kịp xuất phát, tổ chuyên án đã tóm gọn hung thủ nhờ một thông tin bất ngờ.

Nhận được yêu cầu hỗ trợ điều tra từ cảnh sát, các bộ phận của hai trang mạng Dangdang và Amazon rất tích cực phối hợp, cung cấp tất cả đơn hàng từ Tây Giao đặt bộ truyện tranh trinh thám Nhật Bản. Bộ truyện này đúng là hiếm người biết đến, trong suốt một năm chỉ bán được ba bộ cho Tây Giao: một do thư viện địa phương mua; một do họa sĩ truyện tranh trong nước cực kì nổi tiếng mua, cô gái này mắc chứng tự kỉ nghiêm trọng; ngoài ra còn một người mua nữa với tên hiển thị trên đơn hàng là Chu Lập Bình, địa chỉ thuộc phường Đông Thanh, cách phường Xuân Liễu đúng một con đường.

Sau khi liên hệ với đồn cảnh sát phường, tổ chuyên án nắm được thông tin khiến họ vui mừng khôn xiết: Chu Lập Bình năm nay mới 17 tuổi, là bạn cùng lớp cấp ba của Phòng Mai. Hắn có hoàn cảnh gia đình khá đặc biệt: hồi tiểu học bố mẹ ly hôn và lập gia đình riêng nên chẳng ai đoái hoài, cuối cùng được dì nhận về nuôi. Nhưng hắn không ở cùng gia đình dì mà ở riêng dưới tầng bán hầm cùng tòa nhà. Hắn khá cô độc, tính cách quái gở, từng bị nhà trường kỉ luật vì sàm sỡ bạn nữ. Đáng chú ý hơn cả, ảnh hồ sơ do cảnh sát cung cấp cho thấy tướng mạo hắn khớp với đặc điểm “mặt bạnh, cằm vuông, mắt tam giác, có ria mép”.

Đỗ Kiến Bình dẫn một đội tới căn phòng bán hầm của Chu Lập Bình. Cửa bị đá văng, để lộ căn phòng tối đen và lặng ngắt. Cả đội tưởng Chu Lập Bình đã bỏ chạy, nên khi ánh sáng đèn pin chiếu đến chiếc giường đơn cũ kĩ, tất cả đều sởn gai ốc. Chu Lập Bình nằm đó, đắp chăn ngủ thẳng cẳng, cứng đờ như xác chết. Theo nghề cảnh sát mấy chục năm, Đỗ Kiến Bình chưa bao giờ gặp phải đối tượng đáng sợ nhường này. Người bình thường nửa đêm nghe tiếng đập cửa hẳn phải thấy khiếp hãi, thế mà kẻ này sau khi gây ra bao tội ác lại có thể ngủ ngon lành, bị cảnh sát truy lùng vẫn dửng dưng!

Cho nên trong lúc Sài Vĩnh Tiến và mấy người khác hùng dũng xông vào, gào thét lôi xềnh xệch Chu Lập Bình xuống giường, còng tay hắn ra sau lưng, Đỗ Kiến Bình chợt cảm thấy khôi hài.

Chu Lập Bình không phản kháng. Thậm chí dù cánh tay bị bẻ ngoặt ra sau đau điếng, hắn vẫn nín thinh, chỉ khẽ cau mày.

Đỗ Kiến Bình bật công tắc trên tường cạnh cửa, tách một tiếng, bóng đèn sợi đốt trên trần nhà kêu ong ong rồi “phụp”, khắp phòng bừng sáng. Căn phòng chỉ rộng 11-12 m², chỗ nào cũng nhếch nhác bẩn thỉu. Dưới giường vứt chỏng chơ đôi tất thủng lỗ ở ngón chân cái, tủ quần áo đơn sơ màu xanh lục bị kéo tung khóa, bên trong ngồn ngộn quần áo trông như rác tràn khỏi sọt. Trên bàn học màu xám có chiếc máy tính Lenovo 586 kiểu cũ, khe bàn phím và con chuột bám đầy bụi bẩn, bên cạnh chồng chất đủ loại đĩa CD, ngoại trừ đĩa trò chơi Tam Quốc Quần Anh Truyện Civilization 2, còn lại đều là phim cấp ba của các nữ ngôi sao JAV… Cả phòng bốc lên mùi hăng hắc khó ngửi đặc trưng của con trai tuổi dậy thì, mảng tường lớn quanh máy sưởi bị ám đen như cụ thể hóa mùi hôi ấy, làm người ta buồn nôn. Đầu tường phía Bắc có dãy cửa sổ kính cáu bẩn, nắp rãnh thoát nước ngoài cửa sổ trông hệt rào sắt bao quanh nhà tù. Trên bệ cửa sổ xếp một hàng giày, dưới đế bám lớp nấm mốc dày tới nỗi trông như dính liền với bệ cửa sổ thành một tảng xanh sẫm…

“Biết vì sao bọn tao bắt mày không? Biết mày phạm tội gì không? Giấu hung khí đâu rồi? Còn đồng bọn nào nữa?” Đối diện với loạt câu hỏi dồn dập ập đến từ cảnh sát, Chu Lập Bình làm thinh, chỉ ngồi yên dưới đất trong chiếc áo ba lỗ và quần lót, người khác làm gì cũng mặc kệ, gương mặt chi chít mụn tỏ vẻ thờ ơ, ánh mắt lạnh lùng như đóng băng mọi câu hỏi.

Kết quả lục soát phòng Chu Lập Bình chưa phải mỹ mãn nhưng vẫn có thu hoạch. “Chưa mỹ mãn” ở chỗ không tìm thấy chứng cứ quan trọng nhất, tức chiếc búa đã lấy mạng bốn nạn nhân. “Có thu hoạch” ở chỗ tìm thấy một đôi giày thể thao dưới gầm giường, chỉ nhìn bằng mắt thường cũng thấy hoa văn và độ mòn của đế giày trùng khớp với dấu giày hung thủ để lại dưới sàn nhà Phòng Chí Phong, thậm chí trên đế còn găm vài mảnh thủy tinh vỡ! Quan trọng hơn cả, giám định viên sau khi ấn tay Chu Lập Bình để lấy dấu đã gửi ngay mẫu về Trung tâm Giám định Kĩ thuật hình sự. Đối chiếu trên máy tính, cho ra kết quả trùng khớp với dấu vân tay để lại trên khuy áo Phòng Chí Phong bị giật đứt!

Sài Vĩnh Tiến tức tốc đến bệnh viện, kể lại cho Phòng Mai nghe, động viên cô bé “Cứ nói thật, đừng sợ bị trả thù”. Phòng Mai giơ tay không bị thương lên che mặt, nước mắt không ngừng tuôn qua kẽ ngón. Hồi lâu sau cô bé mới thừa nhận mình và Chu Lập Bình là bạn cùng lớp, thường ngày hai người rất thích trao đổi truyện tranh. Tối hôm xảy ra án, hắn tới lấy lại bộ truyện tranh trinh thám Nhật Bản mà cô bé mượn, chẳng hiểu sao đột nhiên phang búa vào sau đầu cô. Cô bé tránh được nên búa sượt xuống vai, đau tới mức cô bé suýt ngất đi, hắn hung hăng nhào đến định cưỡng bức. Đúng lúc ấy bố cô bé trở về, vừa vật lộn với hắn vừa bảo cô bé chạy vào phòng khóa cửa lại. Cô bé lao thẳng vào phòng, khóa trái cửa, hãi hùng đến nỗi không dám cử động, cả khi phòng khách im ắng trở lại, cô bé vẫn co quắp và nín thở, hệt như thai nhi sống sót chỉ biết cuộn mình lại trong bụng người mẹ đã chết vì khó sinh.

Phá được án rồi!

Sau gần hai tháng lăn lộn điều tra không kể ngày đêm, nhóm cảnh sát hình sự xúc động ôm chầm lấy nhau, có người vui tới rơi nước mắt. Mãi đến sáng hôm sau Lý Chí Dũng mới tỉnh rượu và hay tin, nhưng anh không vui sướng nhảy cẫng lên như các đồng nghiệp, cũng chẳng buồn bã tiếc nuối vì không được tự tay bắt Chu Lập Bình, chỉ đứng hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác ngoài hành lang tòa nhà văn phòng của đội hình sự. xế chiều, có đồng nghiệp đi mua cơm về thấy hành lang trống không, bóng dáng anh đã mất hút, để lại đống đầu lọc dưới đất được gom gọn bằng chân, trông như nấm mồ…

⚝ ⚝ ⚝

Chẳng rõ mưa dần nặng hạt hay đã ngớt bớt. Trước khi bước vào quán cơm, Lý Chí Dũng ngước nhìn bóng đèn lắp ở thanh ngang bên trên cửa, thấy từng hạt mưa nhảy múa tán loạn dưới ánh đèn vàng nhạt. Anh ngạc nhiên nhận ra, hạt mưa dù nhỏ bé và trong suốt nhưng cũng nhạy cảm và bấn loạn như có sinh mệnh, thậm chí có vận mệnh của riêng mình.

Quán cơm mở trong khu dân cư Thanh Tháp, mặt tiền và không gian bên trong khá nhỏ, kê được bốn bàn cả thảy. Bà chủ quán quen biết Lý Chí Dũng, tạm ngừng ngáp ngủ để hỏi xem họ muốn ăn gì. Bà lẩm bẩm, “Bếp chẳng còn nhiều đồ, các cậu không kén ăn thì tôi nấu bừa vài món nhé!” Dứt lời, bà vén tấm rèm xanh lam cạnh quầy lên, bước vào trong bếp.

Lý Chí Dũng nhấc ấm sứ trắng sứt miệng trên bàn, rót cho Lâm Hương Minh cốc nước nóng, “Ngày mai về trường à?”

“Vâng.” Lâm Hương Minh nhận lấy nhấp một ngụm.

Lý Chí Dũng đột nhiên có bao lời muốn nói, nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Lâm Hương Minh luôn tỏa ra hơi ấm xa cách, khiến người ta thấy gần gũi nhưng không thân thiết, việc cậu chơi với Hô Diên Vân là ngoại lệ chăng? Trong hơn nửa tháng làm việc cùng nhau, Lý Chí Dũng càng thân quen với cậu càng cảm thấy xa lạ, mỗi lần nói chuyện đều phải cân nhắc thật kĩ mới dám lên tiếng.

Đoán được lý do bầu không khí im lìm, Lâm Hương Minh tách đôi đũa dùng một lần, vừa tước dầm vừa hỏi, “Nghe nói cả tổ chuyên án đều có tên trong danh sách nhận thưởng, chỉ mình anh bị loại?”

“Ừ, vì tôi đánh Chu Lập Bình nặng quá. Theo đúng kỉ luật, đáng lẽ tôi phải bị khai trừ khỏi đội ngũ, may sếp Bình nói hộ với cấp trên để tôi lấy công bù tội.” Lý Chí Dũng lôi gói thuốc lá ra khỏi túi quần, sờ mãi không thấy bật lửa. “Nhưng tôi chẳng hối hận, tôi cứ muốn đánh hắn đấy, đánh chết thì thôi!”

Lâm Hương Minh vẫn rất điềm tĩnh, “Đánh để ép Chu Lập Bình khai ra hung khí ở đâu à?”

“Đó là cái cớ thôi! Mẹ kiếp, tôi chi muốn đánh cho hả dạ!” Lý Chí Dũng hung hăng bẻ đôi đũa dùng một lần, rồi nhận ra phải tách đôi mới đúng, anh tức tối ném đũa lên mặt bàn. “Hắn giết bao nhiêu người còn không đáng đánh ư?!” Anh trừng mắt khiêu khích, nhưng vẻ mặt bình thản của Lâm Hương Minh khiến anh thu lại ánh mắt, vội vã quay đi. Kính cửa sổ phản chiếu bộ dạng anh đầu bù tóc rối, mắt chất chứa căm hờn. Nhìn một hồi, anh thở dài, hơi thở tạo thành mảng trắng trên mặt kính, che đi gương mặt dữ tợn như dã thú.

Căn bếp sau tấm rèm xanh vang lên tiếng xào nấu. Lý Chí Dũng hớp ngụm nước nóng, trầm giọng hỏi, “Nghe nói trong báo cáo nộp lên cấp trên, cậu kiên quyết cho rằng Chu Lập Bình không phải là hung thủ thật sự của loạt án này?”

Lâm Hương Minh gật đầu. “Đúng.”

“Tại sao? Vì sao cậu nghĩ thế?” Lửa giận khó lắm mới đè xuống lại bốc lên trong lòng Lý Chí Dũng.

“Chỉ vì không tìm thấy búa nên cậu để kẻ đã cướp đi bốn mạng người được nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật? Hắn là trẻ vị thành niên thật, nhưng bốn mạng người đủ cho hắn ngồi tù mọt gông!”

“Anh chưa đọc báo cáo của tôi thì phải.” Lâm Hương Minh bình tĩnh đáp. “Tôi không phủ nhận Chu Lập Bình giết Phòng Chí Phong, nhưng tôi không cho rằng hắn giết ba nạn nhân nữ trước đó. Có rất nhiều lý do, ngoài việc không tìm thấy hung khí ra, quan trọng nhất là thủ đoạn gây án và khuôn mẫu hành vi của hung thủ khi tấn công Phòng Mai có bản chất khác với những vụ trước…”

“Sao tôi chẳng thấy có gì khác?” Lý Chí Dũng cáu tiết ngắt lời. “Chẳng qua hắn không tấn công bất ngờ trong hành lang, mà là gõ cửa vào nhà rồi đánh!”

“Chỉ riêng điều anh vừa nói đã có khác biệt quá lớn. Căn cứ theo suy luận của anh trong các buổi họp án, nạn nhân ba vụ trước quen biết hung thủ nhưng không quá thân thiết, chỉ ở mức khiến họ buông lỏng cảnh giác, còn lâu mới đến độ mở cửa mời vào nhà. Đây cũng là điều kiện tiên quyết hung thủ đặt ra khi lựa chọn nạn nhân. Nếu nắm rõ khoa học hành vi và tâm lý học tội phạm, anh sẽ biết sát nhân hàng loạt luôn tuân theo tiêu chuẩn cực kì nghiêm ngặt khi chọn lựa nạn nhân, không phải vì thói quen khó bỏ, mà do hắn cần phòng thân và che giấu.

“Để chứng minh điều này, ta xét hai vụ án đầu. Tại sao anh và Cao Tiểu Yến dò hỏi suốt thời gian dài vẫn không tìm được kẻ tình nghi cùng liên quan đến cả hai nạn nhân? Bởi vì khi chọn mục tiêu, hung thủ sẽ tuân theo điều kiện tuyệt đối là không để cảnh sát điều tra ra mối quan hệ giữa hắn và nạn nhân. Đây là lớp bảo vệ của hắn, thủng một lỗ thôi sẽ dẫn đến nguy cơ bại lộ và bị bắt.

“Thế nhưng Phòng Mai với Chu Lập Bình không những là bạn cùng lớp mà còn hay cho nhau mượn sách. Tối đó trước khi đến nhà Phòng Mai, Chu Lập Bình còn gọi vào máy bàn hỏi xem Phòng Mai có nhà không. Lúc ‘hành hung’ hắn không đeo găng tay, lúc chạy trốn cũng chẳng che giấu hay cải trang nên kiểu gì cũng bị cảnh sát điều tra ra, bất kể có thêm suy luận của Hô Diên Vân hay không. Đây chắc chắn không phải cách làm của kẻ giết liên tiếp ba mạng người! Vả lại sau khi bắt Chu Lập Bình, cảnh sát không tìm thấy bất cứ mối quan hệ hay liên hệ nào giữa hắn và ba nạn nhân trước.”

“Theo tôi được biết, một khi cảnh sát hoặc hoàn cảnh bên ngoài tạo ra áp lực quá lớn, hành vi của tội phạm giết người hàng loạt có thể thay đổi như bị đột biến gen.” Lý Chí Dũng không phục nên cãi, “Trước khi Chu Lập Bình bị bắt, tấm lưới mà cảnh sát, đội dân phòng và người dân giăng ra không ngừng siết lại, khiến Chu Lập Bình không thể tiếp tục đánh úp những người mới biết sơ sơ vì họ sẽ đề cao cảnh giác. Nhưng vì dục vọng dã thú vẫn chưa thỏa mãn, hẳn chỉ có thể ra tay với người thân quen và không đề phòng mình, bởi đằng nào hắn cũng giết nạn nhân, không sợ bại lộ…”

Nói đến đây, Lý Chí Dũng khựng lại. Anh nhận ra trong phân tích của mình có lỗ hổng cực lớn.

“Đúng vậy!” Lâm Hương Minh khẽ tiếp lời. “Vấn đề ở chỗ nếu đã giết Phòng Chí Phong rồi, vì sao Chu Lập Bình không đá văng cánh cửa mỏng manh, giết luôn Phòng Mai để bịt miệng?”

Lý Chí Dũng không thốt nên lời. Lúc này, bà chủ bưng lên đĩa rau diếp thơm xào tỏi cùng hai bát cơm, đặt lên bàn rồi trở vào bếp. Hai người gấp đồ, chậm rãi ăn, chẳng ai nói câu nào. Mãi sau Lý Chí Dũng mới lên tiếng, “Vừa rồi cậu nhắc đến suy luận của Hô Diên Vân. Nhờ Lưu Tư Miễu khôi phục bể cá và tìm thấy mảnh vỡ mắt kính, Hô Diên Vân mới dựa vào đó đưa ra lập luận giúp chúng ta nhanh chóng bắt được hung thủ. Tuy thằng cặn bã Chu Lập Bình cứ im thin thít từ lúc bị bắt, nhưng bạn học của hắn cho hay, ngay sau hôm Tiểu Yến bị giết, hắn đúng là không đeo kính, còn phải mượn vở bạn để chép vì lên lớp không thấy rõ chữ trên bảng. Bạn hỏi kính đâu thì hẳn bảo vỡ rồi. Chẳng lẽ suy luận này vô giá trị với cậu?”

“Tôi không phủ nhận suy luận là quá trình tái dựng sự thật dựa trên căn cứ logic và khoa học, nhưng muốn vậy phải có chứng cứ xác thực, bằng không, suy luận xuất sắc đến mấy vẫn chỉ là khả năng gần sự thật nhất. Gần sự thật đến 99% không có nghĩa là sự thật.” Lâm Hương Minh giải thích. “Hô Diên Vân đã suy luận hung thủ là kẻ yêu thích truyện tranh trinh thám, nhưng đầy người thích đọc loại truyện đó, đâu thể chỉ vì Chu Lập Bình thích đọc là suy ra hắn là hung thủ. Chứng cứ này chưa đầy đủ và chỉ mang tính tương đối chứ không phải tuyệt đối. Ta có thể bắt Chu Lập Bình nhờ suy luận của Hô Diên Vân, nhưng đến lúc suy luận ngược từ chứng cứ thì sao? Ta không hề tìm ra chứng cứ chứng minh hắn liên quan đến ba vụ án trước. Những chứng cứ tìm thấy đều chỉ có vẻ liên quan : cỡ giày và dáng đi của Chu Lập Bình có độ tương đồng cao với dấu chân hung thủ để lại, nhưng đôi giày tìm thấy không trùng khớp; vết thương trông có vẻ do cùng một loại hung khí tạo thành, nhưng ta không hề tìm thấy búa hung khí; đội dân phòng truy đuổi hung thủ vào đêm xảy ra vụ án thứ hai cảm thấy dáng người của Chu Lập Bình rất giống hung thủ, nhưng cũng chỉ là rất giống…”

“Bao nhiêu cái ‘có vẻ’ đó còn chưa đủ sao?”

“Chưa đủ!” Lâm Hương Minh nói nhẹ nhàng nhưng quả quyết. “Từ xưa đến nay, tất cả những vụ án oan sai xảy ra đều vì người ta coi ‘có vẻ’ là ‘chắc chắn’.”

Lý Chí Dũng nghẹn đỏ mặt, mãi sau mới đập đũa xuống bát, cười khẩy, “Sài Vĩnh Tiến xây dựng chuẩn xác hồ sơ tội phạm làm cậu mất mặt, nên cậu mới ra sức bênh vực Chu Lập Bình chứ gì!”

Thật ra cả tổ chuyên án, thậm chí cả đội cảnh sát đều nghĩ vậy. Sài Vĩnh Tiến phác họa hung thủ “dưới hai mươi tuổi, thân hình cao lớn, có khuynh hướng bạo lực nghiêm trọng, nhiều khả năng từng lao động cải tạo vì tội cưỡng hiếp hoặc ẩu đả, sống dưới tầng hầm trong thời gian dài, là dân tạm trú không nghề nghiệp ổn định”. Ngoại trừ yếu tố “dân tạm trú”, còn lại đều giống hệt đặc điểm Chu Lập Bình.

“Siêu thật!” Nhớ lại Lâm Hương Minh từng phản đối hồ sơ tội phạm này, Đỗ Kiến Bình vỗ vai Sài Vĩnh Tiến, “Rốt cuộc phá án vẫn phải dựa vào những tay lão làng lăn lộn thực chiến như chúng ta. Mấy đứa trẻ con mở miệng là tiếng Tây vẫn còn non lắm, đọc sách nhiều mà trải nghiệm ít, không đáng tin.”

Khi biết Lâm Hương Minh viết báo cáo phản đối lập luận Chu Lập Bình là hung thủ của loạt án giết người ở Tây Giao, rất nhiều cảnh sát hình sự giễu cợt, buông toàn lời khó nghe cả trước mặt lẫn sau lưng cậu. Chẳng ai thèm tiễn cậu rời khỏi tổ chuyên án, chỉ có Lý Chí Dũng đứng bên cửa sổ nhìn theo bóng lưng đơn độc bước trên khoảnh sân đầy cây khô rụng lá. Anh thấy buồn nên gọi điện hẹn gặp tối nay.

Nghe Lý Chí Dũng nói vậy, Lâm Hương Minh không ngạc nhiên cũng chẳng tức tối, chỉ thoáng lộ vẻ sầu thảm khó thấy nơi đáy mắt.

Lý Chí Dũng hơi hối hận. Làm việc cùng nhau chưa lâu nhưng anh đã nảy sinh thứ tình cảm phức tạp và khác lạ với Lâm Hương Minh. Anh khâm phục cậu tuổi còn trẻ nhưng cực kì điềm tĩnh, chững chạc và biết kiềm chế, tạo ấn tượng dù núi có sập thì mặt cũng không biến sắc, hơn nữa cậu còn có sức hút cá nhân vô cùng mãnh liệt. Đồng thời, anh mơ hồ sợ hãi khi không nhìn thấu lòng dạ, không đoán được tâm tư cậu… Bên cạnh đó cảm xúc của anh còn xen lẫn đố kị, không chỉ vì cậu là sinh viên ưu tú của Đại học Cảnh sát, mà còn vì cậu có thể thấu suốt lòng người lẫn việc đời, hơn hẳn anh - kẻ lớn hơn cậu nhiều tuổi…

Lý Chí Dũng biết câu nói vừa rồi của mình không thể tổn thương Lâm Hương Minh, nhưng đã làm tổn hại thứ tình cảm chưa thể xem là tình bạn giữa họ. Tình cảm ấy đáng lẽ sẽ chấm dứt khi quan hệ đồng nghiệp kết thúc, nhưng lời chế giễu của anh đã bóp chết nó ngay lúc này.

Nỗi áy náy cùng trăm mối tâm tình ngổn ngang bỗng hóa thành tiếng rống cục cằn, “Cho mấy chai bia đi bà chủ!”

Lý Chí Dũng quá chén lúc nào không hay.

Lúc hai người ra khỏi quán cơm, mưa đã ngừng rơi, chỉ còn hơi nước buốt giá lập lờ giữa trời.

Lâm Hương Minh dắt xe đạp, Lý Chí Dũng vịn yên xe lảo đảo đi bên cạnh. Một cơn gió lạnh thổi qua làm những cành cây xác xơ bên vệ đường nhất loạt rít lên than khóc, dăm ba chiếc lá khô còn sót lại xoay tít giữa không trung rồi cũng nát vụn. Phủ trên thùng phuy nướng khoai lang bên góc đường là tấm giấy dầu màu đen đập phành phạch như nở nụ cười dữ tợn.

Hai người cứ thế lặng im đi suốt một đoạn. Đột nhiên, két một tiếng, cánh cửa rẻ tiền của “tiệm mát-xa” bên đường bị đẩy mạnh. Phía trước cửa tiệm buông rèm lưng chừng và thấp bóng đèn đỏ. Một người phụ nữ mặc đồ bó, đi tất da chân màu đen đon đả bước ra mời, “Hai anh đẹp trai ơi, vào tẩm quất tí không?”

“Cút!” Lý Chí Dũng quát thẳng.

“Con mẹ mày!” Người phụ nữ tức thì trở mặt. Cô ta chưa kịp chửi thêm, Lâm Hương Minh đã chìa thẻ công tác tạm thời của Sở Cảnh sát thành phố. Người phụ nữ sợ xanh mặt, xin lỗi rối rít rồi thối lui vào trong, kéo soạt cửa, hạ rèm kín mít, tắt đèn không hó hé thêm. Sau đó, các tiệm mát-xa dọc đường cũng đồng loạt tắt đèn, chẳng khác nào hàng nến trước gió. Con đường thoáng chốc chìm vào tĩnh lặng như chốn hoang tàn.

Hai người đi tiếp, vô tình vòng về đúng cổng công viên Vọng Nguyệt. Ngẩng đầu nhìn “ông Trăng” cẩm thạch kì dị đặt trên bệ cao, Lý Chí Dũng đùng đùng nổi giận.

“Tôi không hiểu! Mẹ kiếp, tôi không hiểu! Ta làm cảnh sát chẳng phải để diệt sạch bọn xấu sao? Tại sao cậu cứ bênh Chu Lập Bình chằm chặp thế?!”

“Chúng sinh đều khổ. Bản chất tội ác dễ xác định, bản chất con người thì không.” Lâm Hương Minh bình tĩnh đáp. “Chu Lập Bình không phải người xấu, chẳng qua hắn chệch lối nên làm chuyện sai trái… Đời người là chặng hành trình trắc trở trong đêm, người ta chệch lối có thể vì tình cờ, có thể vì bất đắc dĩ, cũng có thể cố ý nhằm thực hiện một động cơ kì quặc. Song lạc lối chưa chắc lầm đường, kẻ làm sai chưa chắc đã là người xấu… Hơn nữa, thứ xấu xa nhất trên đời chưa chắc đã là kẻ trông xấu xa nhất.”

“Vậy là gì?”

Ngẫm nghĩ một lúc, Lâm Hương Minh từ tốn trả lời, “Là suy nghĩ ‘bằng mọi giá phải diệt sạch bọn kẻ xấu’.”

Lý Chí Dũng trợn mắt vằn cả tia máu, “Chẳng phải mục tiêu của chúng ta là tạo ra xã hội không có kẻ xấu sao?”

Lâm Hương Minh nhìn thẳng vào mắt anh, nói rành mạch từng tiếng, “Cứ không có kẻ xấu là thành xã hội tốt đẹp sao?”

Câu nói này như chậu nước đá dội thẳng xuống đầu khiến Lý Chí Dũng run rẩy. Cậu nói gì vậy? Sao anh chẳng hiểu gì cả? Lời cậu quá hoang đường, nực cười nhưng chuẩn xác và sắc bén, giống tiếng kèn harmonica thình lình vang lên tối nay trước khi họ gặp nhau, chỉ thế thôi cũng đủ khiến anh trằn trọc mất ngủ…

Lý Chí Dũng định hỏi cho rõ ràng, Lâm Hương Minh lại chìa tay ra nói lời từ biệt. “Muộn quá rồi, về nghỉ ngơi sớm đi kẻo mẹ anh lo. Sau này chúng ta vẫn còn cơ hội gặp lại và làm việc cùng nhau mà.”

Lòng buồn tê tái, Lý Chí Dũng siết chặt tay Lâm Hương Minh. Đột nhiên thấy không cam lòng, anh hỏi, “Sao tôi cứ có cảm giác cậu biết rõ chân tướng nhưng không chịu nói ra nhỉ?”

Lâm Hương Minh sững sờ. Sau một hồi chìm vào trầm tư, cậu ngước nhìn cầu thang dẫn lên đỉnh công viên Vọng Nguyệt, hỏi ngược lại, “Theo anh, làm thế nào để đi một bước được 15 bậc thang?”

Lý Chí Dũng phóng mắt theo cầu thang trải dài lên cao. Trời vừa đổ mưa, trên bề mặt lồi lõm của mỗi bậc là vũng nước đủ hình thù, lấp lánh dưới ánh sáng của dãy đèn nấm. Nghĩ mãi chẳng ra đáp án, anh đành lắc đầu. Lâm Hương Minh chỉ cười rồi quay người bỏ đi.

Nhìn bóng lưng cậu xa dần rồi biến mất trong màn đêm mờ mịt, Lý Chí Dũng hoang mang khó tả. Dù là với Lâm Hương Minh, với Chu Lập Bình, với loạt án giết người ở Tây Giao, hay với 15 bậc thang trước mặt, nỗi hoang mang này đều cực kì mãnh liệt, giống như anh của mười năm sau khi đứng tại núi Chuột Quét.

« Lùi
Tiến »