Lanh canh , cửa kính quán cà phê mở ra. Người bước vào là một cô gái xinh đẹp mặc sơ mi trắng và quần bò, khoác cardigan dáng dài màu hồng. Cô để tóc xoăn dài ngang vai, che bớt gương mặt tròn trịa trắng trẻo. Đôi mắt to xinh đẹp trũng xuống khá sâu, có lẽ do ngủ không ngon. Khóe miệng luôn cong lên đáng yêu, nhưng hàng chân mày hơi nhíu trong vô thức khiến nụ cười phảng phất nét buồn. 10 giờ sáng, quán cà phê còn vắng vẻ. Cô gái nhìn quanh, nhanh chóng thấy một người ngồi dựa lưng vào ghế đọc sách, bèn bước tới ngồi đối diện.
Người đọc sách nhận ra người mình chờ đã đến, buông sách xuống, “Quách Tiểu Phần, lâu rồi không gặp!”
“Lâu thật.” Quách Tiểu Phần cười đáp, “Thế nào Lưu Tư Miễu, gần đây khỏe không?”
“Câu này phải để tôi hỏi cô mới đúng.”
Hai người họ là đôi bạn kì lạ, một là chuyên gia giám định hiện trường tuổi trẻ tài cao, một là phóng viên nổi tiếng trong ngành. Trước đây, như mọi phóng viên báo đô thị và đối tượng phỏng vấn trong cơ quan công quyền, họ từng đối đầu trong công việc: một bên tìm đủ mọi cách moi tin độc quyền, một bên ra sức ngăn chặn rò rỉ thông tin. Không ít lần họ xảy ra tranh cãi, đến cơ quan nhau tố cáo với lãnh đạo. Nhưng theo thời gian và tuổi tác, cuối cùng hai người ngộ ra, về bản chất họ đều là những bác sĩ khát khao chữa các loại bệnh của xã hội, chỉ khác nhau ở khoa nội hay khoa ngoại. Bỏ qua những bất đồng về tính cách và thói quen sống, họ dần thấu hiểu và bắt đầu hợp tác với nhau. Tuy hai người vẫn kẻ trên bờ người dưới thuyền, song họ cùng tiến về một hướng, khi gặp trở ngại cùng kéo nhau vượt qua.
“Tôi khỏe lắm.” Quách Tiểu Phần xoa xoa má. “Giống thất tình, lúc mới nghỉ việc cực kì thoải mái, ngày nào cũng nằm sofa ăn khoai tây chiên xem phim truyền hình, người béo lên như đậu ngâm nước. Lưu Tư Miễu, cô gầy đi nhiều quá, có phải vì vụ núi Chuột Quét không? Nghe nói cô rời tổ chuyên án ngay khi phá được án.”
“Thế mới nói, cô ở rịt trong nhà thì tin tức vẫn tự mò đến.” Lưu Tư Miễu cười đáp, sau đó vẫy tay về phía quầy bar. Phục vụ tiến đến hỏi họ uống gì, Lưu Tư Miễu gọi trà cam tuyết lê, Quách Tiểu Phần gọi latte. Hai người thanh toán xong, phục vụ đặt một con tuần lộc đồ chơi lên bàn làm bằng chứng họ đã gọi món. Quách Tiểu Phần chụp lấy nó ra sức vần vò, hỏi rất tự nhiên, “Vì Lâm Hương Minh?”
Lưu Tư Miễu sững sờ, đăm đăm nhìn vết nứt trên mặt bàn gỗ không rõ do tự nhiên hay bị dao chặt phải, suốt hồi lâu chẳng rời mắt. Trong quán réo rắt giai điệu một bản nhạc tiếng Hàn không rõ tên. Phía quầy bar loáng thoáng vọng lại tiếng ly cốc lách cách, tiếng máy xay cà phê ro ro, tiếng máy tạo bọt sữa ùng ục, nghe nhẹ nhàng vui tai như gợi lại giấc mơ xưa nhớ mãi.
Quách Tiểu Phần biết mình nói đúng. Vụ án núi Chuột Quét vừa xảy ra là cô đã hóng tin, không bao lâu sau thì đọc được thông báo trên Weibo Sở Cảnh sát thành phố về việc nghi phạm quan trọng Chu Lập Bình bị bắt.
Là phóng viên chạy tin pháp luật lâu năm, Quách Tiểu Phần nắm khá rõ về loạt án giết người ở Tây Giao mười năm trước, bởi vậy suy nghĩ đầu tiên lóe lên trong đầu cô là “Thôi hỏng rồi, thế này Lưu Tư Miễu lại phiền cho xem”. Thứ nhất, truyền thông và công chúng chắc chắn sẽ truy cứu nguyên nhân vì sao một tên giết người hàng loạt lại dễ dàng được tha bổng và gây án tiếp, từ đó moi móc chuyện Lâm Hương Minh bênh vực hắn hồi trước. Thứ hai, cảnh sát cả thành phố đều biết Lưu Tư Miễu có tình cảm gì với Lâm Hương Minh, xét từ bất cứ góc độ nào đều không thể để cô động vào vụ này.
Im lặng một lúc lâu, Lưu Tư Miễu mới từ tốn lên tiếng, “Các sếp suy tính chu toàn rồi. Hồi điều tra vụ án Tây Giao mười năm trước, tôi cũng tham gia, không những thế còn đồng tình với kết luận của Lâm Hương Minh, rằng Chu Lập Bình chỉ giết Phòng Chí Phong chứ không liên quan đến cái chết của ba phụ nữ còn lại. Chí ít cho đến giờ vẫn chưa phát hiện ra chứng cứ mới chống lại suy luận này.”
“Nhưng công chúng không nghĩ vậy.” Quách Tiểu Phần phản bác. “Trong mắt họ, việc tội phạm tái gây án sau khi ra tù chỉ càng củng cố tội trạng trước kia của hắn.”
“Công tác điều tra có tính đặc thù nhất định, không thể làm theo cảm tính, không thể thay thế sự thật bằng phỏng đoán. Mọi kết luận bắt buộc phải xây dựng trên chứng cứ mang tính khoa học và logic chặt chẽ.” Lưu Tư Miễu giải thích. “Công chúng có thể nghi ngờ, nhưng không có quyền can dự.”
“Nhưng hiện giờ chính cô cũng bắt đầu nghi ngờ, đúng chưa?” Quách Tiểu Phần hỏi. Câu hỏi tựa nhát kiếm đâm xéo vững vàng, chuẩn xác, tàn nhẫn, lại còn ra tay bất thình lình không cho đối phương kịp xoay xở.
Nếu là người khác hẳn đã bị vạch trần suy nghĩ trong lòng, nhưng Lưu Tư Miễu vẫn cười đánh trống lảng, “Nói chuyện của cô đi, sao nghỉ việc thế? Hôm đó tôi gặp Trương Vỹ trên núi Chuột Quét, anh ta bảo bản thảo của cô bị gạt đi miết… Cô là phóng viên gạo cội mà, sao lại xảy ra chuyện này?”
Quách Tiểu Phần làm mặt rầu rĩ, chắc đang hụt hẫng do vừa rồi “tấn công” không thành. Đúng lúc này phục vụ mang trà và latte lên, mỗi loại tỏa hương thơm riêng biệt. Lưu Tư Miễu bưng tách trà thổi nhè nhẹ, ghé miệng nhấp vài ngụm. Quách Tiểu Phần lấy thìa nhỏ chầm chậm khuấy cà phê, nhìn lớp bọt hình trái tim dần biến dạng, đột nhiên nói, “Có lẽ vì tôi thích uống cà phê thủ công…”
Lưu Tư Miễu không hiểu ý cô.
“Bất kể trang phục, ngành nghề, giáo dục hay ẩm thực… xét cho cùng tất cả đều có thể chia làm hai loại: tiêu chuẩn và phi tiêu chuẩn. Truyền thông cũng vậy, thông cáo báo chí là tiêu chuẩn, còn tin tức là phi tiêu chuẩn. Thông cáo báo chí giống cà phê hòa tan, trong đó, nước, bột cà phê và thành phần đi kèm có định lượng sẵn, ta chỉ việc uống. Nhãn hiệu khác nhau đem lại hương vị khác nhau, nhưng rốt cuộc ta vẫn tiếp nhận thụ động. Tin tức đúng nghĩa mới là cà phê thủ công, phóng viên căn cứ theo tài liệu thu thập được để phân tích, chỉnh sửa, biên tập, viết bài, tái dựng một phần sự thật từ những góc độ khác nhau, như vậy mới có giá trị, có ý nghĩa.” Quách Tiểu Phần bộc bạch. “Nhưng giờ tổng biên tập tòa soạn chúng tôi chỉ cho bán cà phê uống liền. Theo tôi làm vậy là sỉ nhục nghệ nhân pha cà phê chân chính, dù rằng đa số khách hàng chẳng quan tâm đâu…”
“Chắc tổng biên tập của cô sợ cà phê thủ công không đảm bảo vệ sinh.” Lưu Tư Miễu nói.
“Trên thực tế, cà phê hòa tan mới gặp bê bối quy mô lớn về an toàn thực phẩm, đặc biệt khi các doanh nghiệp lũng đoạn thị trường và bảo mật công thức pha chế.” Quách Tiểu Phần đáp.
“Xem ra tôi tìm đúng người rồi.” Lưu Tư Miễu nhấp thêm ngụm trà. “Cô từ bỏ ngành báo chí chứ không từ bỏ lý tưởng, mà việc tôi muốn làm vừa hay cần đến phóng viên dẫu từ chức vẫn giữ nguyên tinh thần làm báo.”
Vòng vo mãi mới thấy trọng tâm. Quách Tiểu Phần tròn mắt hỏi, “Chịu vào đề rồi đấy, rốt cuộc hôm nay cô hẹn tôi ra đây làm gì?”
Lưu Tư Miễu nhìn Quách Tiểu Phần, “Tôi muốn nhờ cô hỗ trợ điều tra vụ núi Chuột Quét.”
⚝ ⚝ ⚝
Đã hai ngày trôi qua từ khi xảy ra án mạng trên núi Chuột Quét. Sau khi Chu Lập Bình bị bắt, có lẽ “mơ hồ” là từ phù hợp nhất để diễn tả trạng thái phía cảnh sát lúc này.
Ban đầu, cho rằng chỉ cần tóm được Chu Lập Bình là giai đoạn tiếp theo dễ như trở bàn tay, nên cả tổ chuyên án hăng hái hẳn lên. Để củng cố vụ án, họ áp dụng chiến thuật “bao vây bên ngoài trước, đánh vào tâm lý sau”. Họ đốc thúc các cơ quan liên quan tăng ca làm việc để giúp họ nằm giữ và xác minh toàn bộ chứng cứ, xong xuôi mới tập trung thẩm vấn Chu Lập Bình.
Trước tiên là vật chứng.
Trung tâm pháp y báo cáo: sau khi đối chiếu ADN lấy từ mẫu tóc tìm thấy trong nhà Hình Khải Thánh và viện bảo trợ, họ xác định thi thể C chính là giám đốc Hình Khải Thánh, còn ba thi thể A, B, D là ba đứa trẻ đang được nuôi trong viện. Sau đó đối chiếu với mẫu máu lưu trữ của các bệnh nhân nhi điều trị tại bệnh viện, họ xác nhận được danh tính cụ thể từng nạn nhân. Thi thể nữ B tên Đổng Tâm Lan, 9 tuổi, mắc bệnh bại não nhẹ, bố mẹ đều qua đời, có một chị gái nhưng bặt tin từ lâu. Thi thể nam A tên Triệu Vũ, 12 tuổi, cũng là trẻ mồ côi, mắc bệnh tim bẩm sinh nghiêm trọng. Thi thể nữ D (cô bé bị đè ở dưới cùng) tên Lý Dĩnh, 5 tuổi, mắc hội chứng Down, thiểu năng trí tuệ, bị bố mẹ bỏ rơi.
Kết quả thẩm vấn nhân viên Viện Bảo trợ và Nuôi dưỡng Trẻ em cho thấy, những đứa bé này vừa từ tỉnh A lên thành phố một tháng trước để tham gia hoạt động kiểm tra sức khỏe và điều trị phúc lợi do bệnh viện Ái Tâm tổ chức. Đây là bệnh viện đa khoa tư nhân do Quỹ từ thiện Ái Tâm đầu tư và quản lý, chủ yếu thu nhận và chữa trị các bé bị bệnh nan y, khá tiếng tăm trong chữa trị bệnh tim bẩm sinh, bại não và nhược cơ cho trẻ em. Vào mùa thu và mùa đông hằng năm, bệnh viện sẽ đón một nhóm trẻ từ Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh A để kiểm tra sức khỏe và chữa bệnh miễn phí. Báo chí cho hay, nghĩa cử cao đẹp này đã được thực hiện suốt mấy năm nay. Do điều kiện có hạn nên bệnh viện không thể để bọn trẻ ở nội trú, thay vào đó họ thuê khu nhà gần bệnh viện để chúng ở tạm. Đây chính là nguồn gốc ra đời Viện Bảo trợ và Nuôi dưỡng Trẻ em.
Tiếp theo, Phòng Kĩ thuật Hình sự đã kiểm tra đồng hồ đeo tay hiệu Vacheron Constantin và bật lửa chống gió Zippo đen tìm thấy dưới hầm thông gió. So sánh với hình chụp Hình Khải Thánh khi còn sống, đồng thời được Trì Phượng Lệ và Thôi Ngọc Thúy xác nhận, họ xác định hai thứ này là đồ dùng Hình Khải Thánh luôn mang theo người. Nhưng ngoài hai món đồ này, cảnh sát không tìm ra thêm chứng cứ khác có giá trị. Thậm chí Sở Thiên Anh cùng vài cảnh sát hình sự đã chổng mông dò dẫm trong vườn ươm suốt hai ngày hai đêm vẫn không tìm ra thêm dấu vân tay hay dấu chân nào để trưng cầu giám định.
Ngoại lệ duy nhất là vết bánh xe Michelin Primacy 3ST. Để điều tra tình hình xe cộ của công ty Quan hệ công chúng Minh Di, tổ chuyên án đã rà soát hóa đơn mua xe của công ty này và tài liệu từ đại lý 4S của hãng Spica. Qua đó, họ nhận định vết bánh xe trong vườn ươm đúng là của chiếc Spica màu đen Chu Lập Bình lái qua đèn giao thông Thanh Thạch Khẩu Đông tối đó. Đây là kết quả giám định đáng giá nhất của cả vụ án.
Thông thường, riêng chứng cứ này là đủ khiến nghi phạm hết đường chối cãi, cúi đầu nhận tội. Nhưng đối thủ là Chu Lập Bình nên tổ chuyên án không dám coi thường. Họ cho rằng trong xe chắc chắn có bằng chứng kết tội Chu Lập Bình, chi bằng cứ thu thập thêm rồi hẵng tiến hành thẩm vấn, chẳng may Chu Lập Bình chối đây đẩy thì giáng cho hắn đòn chí mạng. Thế là cảnh sát tiếp tục triển khai tìm kiếm tại bãi đỗ xe của tất cả những nơi họ có thể nghĩ đến: nhà Chu Lập Bình, viện bảo trợ, khu Ươm tạo Doanh nghiệp Công nghệ cao Nhuận Đường tức nơi công ty Minh Di đặt trụ sở. Hệ thống Thiên Nhãn tiến hành sàng lọc tất cả hình ảnh mà hệ thống giám sát giao thông trong thành phố ghi được từ khi vụ án xảy ra đến lúc Chu Lập Bình bị bắt, nhưng đã nhiều ngày trôi qua, họ vẫn chưa tìm thấy xe tình nghi. Tổ chuyên án bèn chuyển sang điều tra theo hướng nghi phạm “bỏ xe”. Họ phối hợp với đại đội cảnh sát giao thông, đại đội cứu hỏa và đại đội trật tự trị an Tây Giao để lục soát từng tấc đất núi Chuột Quét, thậm chí còn lập sáu tiểu đội tìm kiếm dọc theo con đường từ núi Chuột Quét tới dãy Tây Sơn, gần sang cả tỉnh bên nhưng chẳng thu được gì. Buổi sáng sau ngày vụ án xảy ra, Chu Lập Bình vẫn đi làm bình thường, tức là bất kể lái xe đi xa đến đâu, vứt xe ở chốn khỉ ho cò gáy nào, hắn vẫn phải quay trở lại, suy ra hắn không thể đi quá xa. Bởi vậy, ai cũng thấy khó hiểu khi chiếc Spica không cánh mà bay…
Công cuộc tìm kiếm chứng cứ tới đây là bế tắc. Tuy tổ chuyên án đã lường trước hậu quả ghê gớm đám cháy để lại, song nhiều cảnh sát vẫn ủ rũ khi thu được quá ít chứng cứ có giá trị.
Tiếp theo là nhân chứng.
Điều tra nhân chứng bao gồm điều tra thông tin cá nhân của nạn nhân và khai thác lời khai của người có liên quan tới vụ án.
Đầu tiên là thông tin cá nhân của Hình Khải Thánh. Lão năm nay 55 tuổi, thời trẻ từng làm bác sĩ của bệnh viện ở tỉnh lị tỉnh A, có một đời vợ, vợ cũ đã ra nước ngoài sau khi ly hôn. Hình Khải Thánh có người em trai tên Hình Khải Hiền, hiện là phó chủ tịch Quỹ từ thiện Ái Tâm. Có lẽ chính nhờ em trai nên sau khi rời bệnh viện tỉnh, Hình Khải Thánh đến thành phố này làm trưởng khoa da liễu bệnh viện Ái Tâm. Không rõ vì sao, một thời gian sau lão rời bệnh viện, trở thành Giám đốc Viện Bảo trợ và Nuôi dưỡng Trẻ em. Bệnh viện Ái Tâm tuy chỉ là bệnh viện tư nhân nhưng quy mô khá lớn, vậy mà trưởng khoa của khoa trọng điểm lại biến thành người đứng đầu “cơ sở bất hợp pháp”, quả là cú trượt dốc nhanh hơn tàu lượn siêu tốc. Nguyên nhân đằng sau việc này cần điều tra làm rõ.
Hình Khải Thánh và vợ cũ có với nhau một đứa con trai tên Hình Vận Đạt, hai mươi tám tuổi, hiện là phó tổng giám đốc công ty Quan hệ công chúng Minh Di. Ngày Chu Lập Bình bị bắt, cảnh sát đã điều tra sơ bộ về công ty Minh Di và phát hiện Hình Vận Đạt không đi làm, tốn bao công sức mới tìm thấy cậu ta ở nhà bạn gái.
Biết tin bố chết trên núi Chuột Quét, Hình Vận Đạt có phản ứng rất kì lạ. Gương mặt gầy gò trắng bệch trở nên đờ đẫn, khóe miệng đột ngột giật giật. Cậu ta hỏi đi hỏi lại ai giết bố mình, dữ dằn tuyên bố muốn tự tay giết hung thủ để trả thù cho bố, tay rút con dao kanetsune sắc nhọn giắt ở thắt lưng ra. Cảnh sát không đề phòng tình huống này, phải mấy người cùng xông lên mới giữ được cậu ta để cướp dao… vẻ đờ đẫn và điên cuồng của Hình Vận Đạt không giống đóng kịch, nhưng việc một chàng trai gần ba mươi tuổi làm phó tổng giám đốc công ty quan hệ công chúng lại cư xử thiếu chín chắn khiến cảnh sát vô cùng khó hiểu. Lâm Phượng Xung thậm chí âm thầm cho người điều tra Hình Vận Đạt có chứng cứ ngoại phạm trong thời gian xảy ra án không, sau mới biết suốt đêm đó cậu ta chơi PUBG với vài người bạn, còn livestream trên Hổ Nha, làm gì cũng được máy quay ghi lại. Cậu ta còn mải chém giết trong trò chơi điện tử, làm sao đến núi Chuột Quét giết người được.
Còn Hình Khải Hiền sau khi nhận được tin anh trai qua đời, đã lập tức cùng giám đốc Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh A là Thôi Văn Đào đi tàu cao tốc đến, bày tỏ nhất định sẽ tích cực hỗ trợ cảnh sát điều tra. Hình Khải Hiền năm nay 48 tuổi, là người lịch sự, ăn mặc gọn gàng, nói chuyện nhã nhặn nhưng giọng rất trầm, người đối diện phải căng tai lên mới nghe được lời ông ta nói. Nhắc đến cái chết của anh trai, ông ta không kìm nổi nước mắt, nhưng khóc rất chừng mực, lệ đổ giữa mức ướt ngay khi lau bằng giấy khô và khô ngay khi lau bằng giấy ướt. Ông ta không cung cấp nhiều thông tin, chỉ nhắc đi nhắc lại hai điều: thứ nhất, anh trai sống ở tỉnh khác nhiều năm nên hai người hiếm khi liên hệ, thi thoảng nói chuyện cũng chỉ bàn công việc; thứ hai, anh trai là người tốt, chưa bao giờ nghe nói anh có kẻ thù.
So ra, Thôi Văn Đào khác biệt hoàn toàn với Hình Khải Hiền. Lâm Phượng Xung tưởng tượng người giữ chức giám đốc cơ sở bảo trợ phải là một cụ ông cụ bà mặt hiền từ phúc hậu, nên lần đầu gặp Thôi Văn Đào, anh còn bất ngờ hơn cả thấy người nổi tiếng trên mạng để mặt mộc. Thôi Văn Đào có dáng người thấp bé, mặt choắt mắt bé tí trông hệt con chồn nhịn đói cả mùa đông, răng hô nên hai cánh môi mỏng không khép lại được. Mà cái miệng “không khép lại được” ấy nói rất nhiều. Vừa thấy cảnh sát là ông ta cúi rạp người, liên tục mở máy “Đúng đúng, được được, nhất định nhất định, không thành vấn đề không thành vấn đề”. Nếu không bị chặn họng, khéo ông ta tham gia được nguyên cả kì The Rap of China. Có điều, ông ta nói toàn lời vô nghĩa.
Nhìn Thôi Văn Đào khúm na khúm núm với Hình Khải Hiền, Lâm Phượng Xung lấy làm lạ. Xét cơ cấu tổ chức, cơ sở bảo trợ của tỉnh do nhà nước quản lý nên giám đốc nơi này là công chức, còn Quỹ từ thiện Ái Tâm chỉ là đơn vị từ thiện tư nhân… Phải đến khi Sài Vĩnh Tiến thầm thì nhắc nhở “Cậu quên rồi à, tại công ty vay vốn sinh viên thuộc quỹ này mà con gái sếp Bình tìm đến cái chết đấy”, anh mới bừng tỉnh.
Đỗ Kiến Bình để Lâm Phượng Xung đứng ra đại diện chứ không đích thân tiếp Hình Khải Hiền và Thôi Văn Đào. Lâm Phượng Xung muốn trút giận thay sếp, vừa gặp đối tượng đã xẵng giọng chẳng nể nang. Nhưng thấy Hình Khải Hiền lạnh nhạt kiệm lời, còn Thôi Văn Đào tuy lắm miệng nhưng hỏi một đằng đáp một nẻo, Lâm Phượng Xung đành phải đổi giọng mềm mỏng hơn mới moi được thêm vài thông tin.
Tỉnh A vốn là tỉnh nghèo, kinh tế kém phát triển, trước thời cải cách mở cửa vẫn còn tình trạng kết hôn cận huyết, công tác nâng cao miễn dịch cho trẻ chưa đến nơi đến chốn, số trẻ em tàn tật cực kì nhiều. Về sau, nhờ phát triển ngành khai thác quặng và in ấn, kinh tế mới dần chuyển mình, nhưng hai ngành công nghiệp này đều gây ô nhiễm nghiêm trọng, dẫn đến tỉ lệ trẻ sơ sinh gặp dị tật ngày một tăng cao. Đa số bọn trẻ đều bị bỏ rơi, tất nhiên vẫn có trường hợp mồ côi cả bố lẫn mẹ, hoặc bố mẹ sang tỉnh khác làm thuê để con cho ông bà trông nom, đến khi ông bà mất thì bố mẹ bặt vô âm tín… Số cơ sở bảo trợ trong tỉnh có tăng gấp mười lần vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu, cơ quan dân chính đành kêu gọi các huyện, làng xã, thôn xóm “tự giải quyết” bằng cách vận động nhân dân quyên góp, lấy khoản tiền từ thiện đó chi trả các khoản chi tiêu của cơ sở bảo trợ. Chính lúc này, Quỹ từ thiện Ái Tâm được thành lập.
Quỹ từ thiện Ái Tâm đặt trụ sở chính ở tỉnh và có chi nhánh mỗi huyện, nhận được số vốn lớn nhờ các hoạt động quyên góp từ thiện. Trên thực tế, quỹ này đã trở thành nhà đầu tư chính của Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh A cùng chi nhánh của trung tâm tại các huyện, làng xã, thôn xóm. Đồng thời, quỹ từng bước nắm quyền xây dựng và quản lý từng chi nhánh, còn trụ sở chính của trung tâm dần chỉ còn chức năng hành chính. Thôi Văn Đào ví von, “Chỗ chúng tôi giống sàn thương mại điện tử hơn là website riêng, khi truy cập vào sẽ thấy toàn cửa hàng nhượng quyền kinh doanh thôi. Chúng tôi chỉ phụ trách giám sát, quản lý và vận chuyển.” Tức là những đứa trẻ gặp nạn như Đổng Tâm Lan, Triệu Vũ và Lý Dĩnh đều được chọn từ các chi nhánh của trung tâm, tập trung về trụ sở chính rồi đưa lên thành phố.
Trung tâm này quả thực có lo việc vận chuyển, còn việc giám sát và quản lý thì chưa chắc. Lâm Phượng Xung hỏi, “Ai đưa bọn trẻ đến thành phố?” Thôi Văn Đào nói ra một cái tên. Lâm Phượng Xung lại hỏi, “Vì sao người này không ở lại thành phố để trông nom bọn trẻ?” Thôi Văn Đào đáp không cần, có viện bảo trợ lo rồi. Viện bảo trợ chịu hết trách nhiệm, đợi bọn trẻ kiểm tra sức khỏe và điều trị xong sẽ thông báo cho trung tâm bảo trợ cử người đến đón bọn trẻ về. Lâm Phượng Xung đanh giọng, “Viện bảo trợ chịu trách nhiệm? Có chắc chịu trách nhiệm nổi không? Bây giờ xảy ra chuyện nghiêm trọng thế này, ai đứng mũi chịu sào?” Thôi Văn Đào im thin thít, chớp mắt liếc sang Hình Khải Hiền nhưng không dám nhìn lâu. Vẫn ngồi bất động nãy giờ, lúc này Hình Khải Hiền mới lên tiếng, “Tôi buộc phải thừa nhận, đúng là có kẽ hở trong khâu giám sát và quản lý. Muộn còn hơn không, trong bước đi sắp tới của Quỹ từ thiện Ái Tâm, chúng tôi sẽ tập trung rà soát và khắc phục sai sót, nâng cao chất lượng công việc để những chuyện thế này không tái diễn.”
Lâm Phượng Xung ngẩn tò te.
Trước khi để hai người rời khỏi Sở Cảnh sát thành phố, Lâm Phượng Xung dặn kĩ, “Chừng nào vụ án chưa được điều tra rõ ràng, hai người phải ở lại thành phố để cảnh sát triệu tập bất cứ lúc nào.”
Hình Khải Hiền chẳng nói gì, Thôi Văn Đào vội vàng đáp, “Vâng vâng, được được, chúng tôi còn cần chờ cô Chước Yêu về để báo cáo công việc với cô ấy.”
“Cô Chước Yêu” mà Thôi Văn Đào nhắc đến là Đào Chước Yêu, chủ tịch Quỹ từ thiện Ái Tâm, năm nay 38 tuổi, độc thân. Bố cô ta là Đào Bỉnh, từng đảm nhiệm chức trưởng ban Xúc tiến Từ thiện và Phúc lợi xã hội của Sở Dân chính tỉnh A. Tuy đã nghỉ hưu nhiều năm, Đào Bỉnh vẫn là nhân vật máu mặt ở địa phương, đồng thời còn giữ chức chủ tịch danh dự của quỹ từ thiện.
Hằng năm, Đào Chước Yêu đều về thành phố này ở lại trong khoảng thời gian dài. Hồi trước nhà họ Đào có ba căn nhà ở đây, khi chiến dịch chống tham nhũng chuẩn bị nổ ra, chẳng biết họ nhận được tin gì mà vội vã sang tên và hoàn trả quyền sở hữu nhà, khiến việc điều tra của ủy ban Kiểm tra Kỉ luật thành ra công cốc. Hiện Đào Chước Yêu đang ở một phòng trên tầng bốn nhà E khách sạn năm sao Hà Phong. Đáng nói là Quỹ từ thiện Ái Tâm đã thuê trọn nhà E làm văn phòng đại diện tại thành phố cho hơn hai mươi nhân viên. Ngoài ra, khách sạn này khá gần Viện Bảo trợ và Nuôi dưỡng Trẻ em cũng như bệnh viện Ái Tâm, tuy trên bản đồ, ba địa điểm này không cùng khu phố nhưng đi bộ từ bên này sang bên kia mất không quá mười lăm phút. Điều này có ý nghĩa cực kì quan trọng trong quá trình phá án về sau.
1 giờ sáng sau đêm xảy ra vụ án núi Chuột Quét, Đào Chước Yêu ngồi chuyến bay của hãng hàng không Air France đến Paris. Cô ta đi rất đột ngột, không ai rõ tại sao cô ta phải hối hả ra nước ngoài bằng chuyến bay giữa đêm. Lúc biết tin, ngay cả phó chủ tịch Hình Khải Hiền cũng ngơ ngác. Khi Lâm Phượng Xung hỏi “Cớ gì Đào Chước Yêu phải cấp tốc bỏ ra nước ngoài?”, ông ta ấp a ấp úng, trả lời rất qua quýt. Lâm Phượng Xung hiểu ngay, Đào Chước Yêu âm thầm xuất ngoại, không báo trước cho ông ta hay bất cứ lãnh đạo nào của Quỹ từ thiện Ái Tâm. Nhưng hệ thống đặt vé hiển thị cô ta đặt vé máy bay vào 9 rưỡi tối, kết quả khám nghiệm tử thi cho thấy khi đó Hình Khải Thánh còn sống, nên cảnh sát không liên hệ chuyến đi của cô ta với án mạng trên núi.
Khi Lâm Phượng Xung gọi được vào di động của Đào Chước Yêu, cô ta đã tới Paris, giọng nói mệt mỏi pha lẫn hoảng hốt. Lâm Phượng Xung thông báo về án mạng, đầu kia điện thoại nín bặt. Rất lâu sau Đào Chước Yêu bỗng òa khóc nức nở, “Tôi không biết, tôi không biết gì cả, thật đấy…” Với kinh nghiệm nhiều năm làm cảnh sát hình sự, Lâm Phượng Xung đưa ra hai suy đoán theo trực giác: thứ nhất, có lẽ Đào Chước Yêu không biết gì thật; thứ hai, chắc chắn cô ta biết vài điều liên quan đến vụ án.
Lâm Phượng Xung chưa kịp hỏi thêm đã bị đẩy vào tình thế dở khóc dở cười: Đào Chước Yêu cúp máy! Thử gọi lại thì cô ta tắt máy luôn! Phản ứng của cô ta khiến Lâm Phượng Xung liên tưởng đến hành động gạt phăng bàn cờ mỗi khi đánh thua. Nhưng bốn mạng người ở núi Chuột Quét đâu thể coi như bàn cờ, hất đi là hết chuyện? Anh liên tục gọi vào số máy của Đào Chước Yêu nhưng chỉ nhận được thông báo khóa máy. Anh hỏi Hình Khải Hiền tài khoản WeChat của cô ta, nhưng không được cô ta đồng ý lời mời kết bạn. Anh đành gửi tin nhắn với nội dung chỉ mong cô ta sớm về nước, phối hợp với cảnh sát để điều tra, đừng che giấu tình tiết vụ án, nếu không sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đào Chước Yêu vẫn không trả lời.
Lâm Phượng Xung liên hệ cảnh sát Paris để phần nào giám sát hành động của Đào Chước Yêu, nhưng hướng đi này tạm thời không khả thi.
⚝ ⚝ ⚝
Là người chịu trách nhiệm thẩm vấn nhân viên viện bảo trợ, Tôn Khang hết sức đau đầu.
Dù tức phát điên với cách họ chăm sóc bọn trẻ, nhưng Tôn Khang hiểu, theo luật hình sự thì việc cho bọn trẻ ăn cơm thừa và sử dụng đồ dùng bẩn chưa đủ cấu thành tội “ngược đãi người được giám hộ”. Bực ở chỗ phó giám đốc Thôi Ngọc Thúy cũng nắm luật rất rõ. Mặc Tôn Khang đập bàn trợn mắt, bà ta vẫn dửng dưng khoanh tay bắt tréo chân, hỏi gì cũng bảo không biết, vấn đề nào không trả lời quanh co được thì mỉa mai đối phó: “Tôi chưa bao giờ hỏi chuyện riêng tư của đồng nghiệp!” “Tôi chỉ là phó giám đốc, làm sao quản lý được giám đốc?” “Bọn trẻ đi đâu đã có Vương Thanh ghi chép, ăn uống ngủ nghỉ có bảo mẫu lo, kiểm tra sức khỏe và chữa bệnh có Hình Khải Thánh phụ trách, anh toàn hỏi những chuyện không thuộc trách nhiệm của tôi!” “Tôi làm gì ấy hả? Tôi lo đối ngoại! Anh tưởng viện bảo trợ không cần trả tiền nhà, tiền ăn, tiền điện nước chắc? Tiền ở đâu ra? Trên trời không rơi xuống, dưới đất không mọc lên, tôi phải vác cái mặt già này chạy vạy khắp nơi đấy!” “Trông trẻ tốn sức lắm chứ, huống chi bọn trẻ đều dặt dẹo, không cho nhân viên ăn ngon thì họ lấy đâu ra sức trông bọn nó?” “Anh đừng có dọa tôi, tôi hiểu pháp luật đấy! Ông trời có giáng thiên lôi cũng chỉ giáng vào đứa nào đáng chết thôi, không giáng vào tôi đâu!”
Tôn Khang mới hỏi vài câu đã tăng xông, phải ra hành lang hít thở cho hạ hỏa. Lúc trở vào, anh càu nhàu, “Tôi phải đập con mụ già đanh đá này một trận!”
Vương Thanh mà Thôi Ngọc Thúy nhắc đến chính là cô nàng kế toán kiêm nhân sự (người chơi Vương Giả Vinh Diệu trong văn phòng). Cô này tướng mặt ngựa, trông vô cảm như mặt bị liệt, chỉ có khóe miệng luôn nhếch lên giễu cợt. Bị hỏi gì cô ta cũng đáp đúng hai chữ, không hơn không kém: “Chẳng biết”, “Chẳng rõ”, “Chẳng thấy”, “Chẳng lưu”… Tôn Khang cáu tiết, trợn mắt gào tướng lên, “Ba đứa trẻ tự nhiên biến mất đến tối vẫn chưa về, chẳng lẽ cô không quan tâm?!” Cô ta vẫn giữ nguyên biểu cảm không màng sự đời, chẳng qua lần này trả lời dài hơn, “Đấy là việc của giám đốc.”
Ba bảo mẫu mặt mày hung dữ là mấy mụ già lõi đời, đóng kịch giỏi hơn diễn viên. Tôn Khang hỏi chuyện rất đàng hoàng nhưng bị họ đáp trả “Sao tôi biết?”, “Tôi đâu phụ trách mấy chuyện này?”… Thấy Tôn Khang đanh mặt lên giọng, họ bèn lăn ra ăn vạ, ngồi bệt xuống đất vỗ đùi khóc lóc nhưng mắt ráo hoảnh. Kinh nghiệm đầy mình, ba mụ nhắm đúng lúc cảnh sát đạt tới “giới hạn sức chịu đựng” thì đột ngột im bặt, vuốt mặt một cái như chưa có chuyện gì xảy ra. Nếu bị hỏi tiếp, ba mụ không ngại diễn kịch lại từ đầu làm Tôn Khang cũng bó tay.
Tay tài xế bị Mã Tiếu Trung cho ăn no đòn nên biết điều hơn, nhưng vẫn tỏ ý chống đối. Lúc thẩm vấn, hắn không dám cãi, cụp mắt giả vờ sợ sệt, hỏi gì đáp nấy song trả lời không đúng trọng tâm, chỉ quan tâm mỗi việc “Các anh đánh tôi nặng thế này thì ai trả tiền thuốc men”.
Các nhân viên viện bảo trợ không đoái hoài tới tình hình ba đứa trẻ mất tích (theo chiến thuật thẩm vấn, cảnh sát không nhắc đến viện bảo trợ khi công bố tình tiết vụ án cho giới truyền thông, cũng không tiết lộ thân phận nạn nhân cho nhân viên viện bảo trợ). Kể cả sau khi xác nhận đồng hồ đeo tay hiệu Vacheron Constantin và bật lửa chống gió Zippo màu đen, không một ai quan tâm giám đốc Hình Khải Thánh đã gặp chuyện gì…
Quá trình thẩm vấn khiến Tôn Khang tuyệt vọng cùng cực. Suốt bao năm làm cảnh sát khu vực, anh đã gặp đủ mọi thành phần từ trộm cướp đến lưu manh, côn đồ, vô lại… Nhưng bực ở chỗ đám người trước mặt rặt một lũ trơ lì như đá, vô cảm, bạc bẽo, vô nhân tính, mặt dày mày dạn. Nếu là ngày trước, ít nhất Tôn Khang còn dám cho tay tài xế mấy cái bạt tai, nhưng bây giờ hơi bạo lực thôi là bị cơ quan tư pháp ở trên điều tra ngay, nói gì đánh đập bức cung. Người như Mã Tiếu Trung mới dám “ngang ngược” chứ Tôn Khang không dám. Tiền học thêm cho con cái, tiền khám chữa bệnh cho mẹ già và người vợ mắc ung thư, tất cả đều trông vào đồng lương còm cõi và phụ cấp quân hàm của anh.
Được cái, Tôn Khang nói vã bọt mép không phải hoài công vô ích. Ít ra anh vẫn moi được vài tin tức giá trị từ ông Từ bảo vệ, cô Trương tạp vụ và Trì Phượng Lệ thư kí giám đốc.
Ông Từ móm mém, mỗi khi nói chuyện là gió lại lùa qua khe hở giữa hàm răng lưa thưa. Ông khá tích cực trả lời câu hỏi, có điều mỗi câu hỏi phải lặp đi lặp lại ba, bốn lần ông mới nghe rõ. Ông bảo khoảng 2 rưỡi chiều qua, giám đốc lái một chiếc Spica màu đen rời khỏi viện bảo trợ. Đó chính là chiếc xe thuộc sở hữu của công ty Quan hệ công chúng Minh Di. Không chỉ phụ trách truyền thông của Quỹ từ thiện Ái Tâm, công ty này còn hợp tác chặt chẽ với bệnh viện Ái Tâm và viện bảo trợ, vì vậy thỉnh thoảng sẽ cho hai bên mượn xe, khi nào cần dùng sẽ cử Chu Lập Bình đến lấy lại. Tầm 9 giờ tối giám đốc lái xe về, đỗ trong sân viện bảo trợ. Sau đó ông Từ đau bụng phải đi vệ sinh, ngồi khá lâu nên không rõ xe lái đi lúc nào…
Trong các lời khai của ông Từ có một câu khiến cảnh sát không khỏi rợn tóc gáy: “Thời điểm giám đốc rời khỏi viện á? 10 rưỡi thì phải.” Bởi chỉ ít phút sau là Hình Khải Thánh đã phơi thây trên núi Chuột Quét. Tôn Khang hỏi đi hỏi lại ông Từ có chắc người rời viện lúc 10 rưỡi là Hình Khải Thánh không, ông Từ ngửa cổ nói, “Nhầm làm sao được, giám đốc đi ngang qua cửa phòng bảo vệ mà, chẳng lẽ tôi không nhận ra quần áo ông ta?!”
Tôn Khang để ý thấy ông Từ rất hay nheo mắt khi nói chuyện, hỏi lại thì y như rằng ông bị viễn thị, bởi vậy câu “nhầm làm sao được” của ông không đáng tin, dù sao người kia cũng chỉ lướt qua cửa phòng bảo vệ rồi ra cổng.
Tuy nhiên lời khai của cô Trương tạp vụ đã gián tiếp chứng minh độ tin cậy trong lời khai của ông Từ. Cô Trương có dáng người mập mạp và gương mặt phúc hậu, bề ngoài trông chất phác hiền lành hơn hẳn ba bà bảo mẫu. Nhìn cô như đã ngoài năm mươi nhưng thật ra mới hơn ba mươi tuổi. Cô nói 10 giờ hơn tối qua, lúc tỉnh dậy đi vệ sinh ở khu nhà ở, cô thấy văn phòng giám đốc cùng tầng đang sáng đèn, trong phòng có tiếng bước chân.
“Cô không vào xem thử là ai à?” Tôn Khang hỏi.
“Nửa đêm nửa hôm, tự nhiên tôi xông vào văn phòng giám đốc làm gì!” Cô Trương nhăn mặt, “Giám đốc hay ở lại văn phòng tới muộn, có hôm ở qua đêm luôn.”
“Bình thường văn phòng có khóa không?”
“Hôm có hôm không… Vả lại, ngoại trừ ca quét dọn 8 giờ sáng, 12 giờ trưa và 6 giờ tối thì chẳng ai dám tự tiện vào.”
Chữ “dám” này có hàm ý rất sâu xa. Ngồi đối diện cô Trương, Tôn Khang hơi ngả người về trước, dò hỏi, “Các cô sợ giám đốc lắm à? Ông ta là người thế nào?”
Nhận ra mình lỡ lời, cô Trương đỏ bừng mặt, kìm nén hồi lâu mới đáp, “Ông ta là sếp mà, sếp thì phải hung dữ, ngoài ra chẳng có gì đâu… Tất cả đều ổn.”
Biết cô tạp vụ có điều giấu giếm, nhưng Tôn Khang chưa ép hỏi vội. Trong kĩ thuật thẩm vấn có một phương pháp: bỏ qua câu hỏi gây căng thẳng, đổi sang câu hỏi khiến đối tượng thẩm vấn thả lỏng và đồng ý trả lời. Anh bèn chuyển hướng, “Thôi được rồi, chuyện giám đốc để nói sau. Nhưng có chuyện này tôi cứ thắc mắc mãi, trong viện tự nhiên mất tăm tận ba đứa trẻ mà bảo mẫu chẳng có vẻ sốt ruột, sao vô lý thế?”
Cô Trương chớp chớp mắt, “Triệu Vũ là trùm trốn ra ngoài, chúng tôi quen rồi.”
“Trùm trốn ra ngoài?” Tôn Khang sửng sốt. “Là sao?”
“Thì nó chê lên chê xuống viện bảo trợ, toàn dẫn mấy đứa khác trốn đi chơi vài ngày lại về, năm nào cũng vậy.”
“Năm nào cũng vậy? Triệu Vũ đến thành phố khám chữa bệnh hằng năm à? Sao tôi nghe nói mỗi năm trung tâm bảo trợ xã hội lại chọn một nhóm trẻ con mới?”
“Chuyện này tôi không biết. Đúng là mỗi năm đều có nhóm trẻ con mới, nhưng mấy đứa Triệu Vũ, Đổng Tâm Lan và Lý Dĩnh năm nào cũng đến.”
“Trốn ra ngoài rồi còn trở lại làm gì?”
“Chúng nó đứa nào cũng ốm đau bệnh tật, chạy được bao xa chứ? Không có thuốc uống, không có cơm ăn, cuối cùng vẫn phải mò về hoặc được người khác đưa về…”
“Về rồi có bị phạt không?”
“Tôi nhớ hồi đầu bọn nó có bị giám đốc và bảo mẫu đánh, nhất là Triệu Vũ, nó cầm đầu nên ăn đòn nặng, không vụt gậy cũng quật thắt lưng, phải nằm mấy ngày mới dậy được. Về sau chẳng ai đánh nữa, coi như bọn nó đi chơi vài ngày. Lâu dần Triệu Vũ quen đòn, tự động tụt quần cho đánh, lớn đầu chẳng biết xấu hổ…” Nói tới đây, gương mặt cô Trương thoáng hiện nét cười hiếm hoi. “Đồng chí cho tôi hỏi có phải thằng bé gây chuyện ở ngoài không? Thật ra nó không hư đâu! Các anh phê bình hay dạy dỗ cũng được, nhưng dẫu sao nó vẫn mang bệnh trong người, bệnh tật suốt như thế đến người lớn còn khó chịu nữa là trẻ con, đúng không?”
Tôn Khang nhìn cô Trương, mãi sau mới gật đầu.
Trái với cô Trương tạp vụ, Trì Phượng Lệ lại có cái nhìn khác về Triệu Vũ. “Thằng ranh ấy mất dạy, hư hỏng lắm! Hết vén váy tôi lại trộm quần tất của tôi, còn lấy thuốc lá đốt thùng khẩu trang của tôi nữa. Tóm lại nó là thằng du côn háo sắc!” Đôi mắt hạnh của cô ta trợn trừng, chân mày lá liễu dựng ngược, gương mặt xinh đẹp nhăn nhó rất khoa trương.
“Giờ cô khỏi lo.” Tôn Khang lạnh lùng thông báo, “Thằng bé chết rồi.”
Chiến thuật thẩm vấn của tổ chuyên án là không cho nhân viên viện bảo trợ biết việc họ bị bắt có liên quan đến án mạng trên núi. Ngoại lệ duy nhất là Trì Phượng Lệ, bởi sau khi điều tra vòng ngoài và nghe ngóng nội bộ, tổ chuyên án thống nhất cho rằng cô ta là mắt xích yếu nhất viện bảo trợ. Cô này là mẫu “tóc vàng hoe” điển hình, đầu óc đơn giản, ham mê vật chất nhưng nhát gan, không phải người xấu. Nếu tung át chủ bài vào đúng thời điểm, họ sẽ đánh sập được phòng tuyến tâm lý của cô ta.
Không ngoài dự kiến, vừa hay tin Triệu Vũ chết, Trì Phượng Lệ đứng hình, há hốc miệng, mãi không thốt nên lời.
“Không chỉ Triệu Vũ, mà hai đứa trẻ khác cùng Hình Khải Thánh đều đã mất mạng. Chúng tôi phát hiện xác của họ trên núi Chuột Quét tối qua.” Tôn Khang nghiêm nghị nói thêm rồi dừng lại quan sát phản ứng của đối tượng thẩm vấn.
Đầu cúi gằm, hai vai khẽ run, Trì Phượng Lệ khóc thút thít hồi lâu mới ngẩng lên rấm rứt kể, “Có lần tôi đến ngày, đã đau bụng còn khát nước. Tôi cầm chai nước khoáng lên định uống, Triệu Vũ trông thấy liền giật lấy, nói là con gái tới ngày không được uống nước lạnh, rồi nó đi rót cho tôi cốc nước nóng. Tôi hỏi nó làm sao biết tôi đến kì, nó bảo nó biết hết… Thằng quỷ nhỏ…”
Về việc ba đứa trẻ biệt tích cả đêm, Trì Phượng Lệ trả lời giống cô Trương. Trước kia từng xảy ra chuyện tương tự, nhưng bọn trẻ đi rồi tự mò về. Tối hôm xảy ra án mạng, Trì Phượng Lệ đi nhảy ở hộp đêm Thiên Đường, hoàn toàn không biết hành tung Hình Khải Thánh.
“Tôi xin phép hỏi thẳng.” Tôn Khang ngừng một lát, “Giữa cô và Hình Khải Thánh chỉ đơn giản là quan hệ cấp trên cấp dưới thôi à?”
Trì Phượng Lệ rút khăn giấy ra xì mũi, “Thì từng có vài lần… Nhưng ông ta hơi yếu, lần nào cũng kết thúc chóng vánh, chẳng vui gì cả, hình như ông ta không hứng thú với tôi cho lắm.”
“Hình Khải Thánh là người thế nào?” Tôn Khang hỏi. “Nếu bảo cô dùng ba tính từ để miêu tả ông ta, cô sẽ chọn ba tính từ gì?”
Trì Phượng Lệ ngẫm nghĩ, “Dung tục, tham lam, háo sắc.”
“Háo sắc?” Tôn Khang nhìn cô ta, “Nhưng cô nói ông ta không hứng thú với cô… Tôi xin phép nói câu này, tôi không cho rằng cô thiếu sức hút với đàn ông.”
“Chuyện này tôi không rõ lắm, tuy là thư kí của ông ta nhưng tôi chỉ để làm cảnh. Tôi chưa từng đi sâu tìm hiểu chuyện riêng tư của ông ta. Nếu anh muốn hỏi về phương diện này, chẳng thà đi hỏi Trương Xuân Dương cho nhanh, bọn họ ngồi với nhau toàn nói những thứ tởm lợm.”
“Trương Xuân Dương là ai?” Lần đầu tiên Tôn Khang nghe thấy cái tên này.
“Một nhân viên bình thường của Quỹ từ thiện Ái Tâm.” Trì Phượng Lệ đáp.
Tôn Khang để ý cô ta nhấn mạnh hai chữ “bình thường”, khóe miệng còn nhếch lên cười khẩy ẩn ý.
Xem ra chuyện này còn có bí mật đằng sau, nhưng giờ chưa phải lúc tra hỏi thêm vì vẫn còn việc quan trọng hơn cần xác nhận. Tôn Khang lấy điện thoại ra, mở đoạn ghi âm chỉ có một câu ngắn ngủi: “Có cháy ở ga tàu núi Chuột Quét, các anh mau cử người đến!”
Phát đi phát lại ba lần, Tôn Khang hỏi, “Cô nhận ra đây là giọng ai không?”
Trì Phượng Lệ gật đầu. “Giọng Hình Khải Thánh.”
Sau khi phân tích và xử lý đoạn ghi âm, Phòng Kĩ thuật Hình sự tách được những tiếng lạch cạch ra khỏi âm nền. Đối chiếu với hiện trường, họ xác định đó là tiếng chiếc chong chóng cũ mắc trên cây hòe trong vườn ươm, gần cổng C ga tàu. Bằng chứng thép này cùng với lời khai của Trì Phượng Lệ đủ chứng minh người gọi đến 110 báo cảnh sát trên núi Chuột Quét đêm ấy chính là Hình Khải Thánh, kẻ sau đó đã bỏ mạng dưới hầm thông gió!
Vậy người mặc quần áo của Hình Khải Thánh, ở lại văn phòng lão đến tận 10 rưỡi mới rời khỏi viện bảo trợ là ai? Đây là câu hỏi chưa lời giải đáp. Ngăn kéo trong văn phòng giám đốc không bị cạy khóa, tiền bạc của cải không mất thứ gì, chứng tỏ người này chắc chắn không phải kẻ trộm. Ngoài ra, nhiều khả năng chính người này đã nhận cuộc gọi thứ hai từ Hình Khải Thánh khi lão đang ở trên núi Chuột Quét.
Tôn Khang thông báo buổi thẩm vấn tạm thời kết thúc, cho Trì Phượng Lệ về nhà nghỉ ngơi. Cô ta đứng lên, ra đến cửa đột nhiên quay lại nói, “Đồng chí này, tôi thấy có một người cực kì đáng nghi, rất có thể chính hắn giết Hình Khải Thánh và ba đứa trẻ.”
“Ai?”
“Chu Lập Bình, tài xế của công ty Quan hệ công chúng Minh Di.”
“Vì sao cô nghi ngờ hắn?”
“Chu Lập Bình trước là sát nhân hàng loạt, cả công ty Minh Di, Quỹ từ thiện Ái Tâm và viện bảo trợ chúng tôi đều biết chuyện đó nên ai cũng né xa, chỉ trẻ con không hiểu chuyện mới thích chơi với hắn. Có vài lần viện bảo trợ chúng tôi bận việc, không đưa bọn trẻ đến bệnh viện Ái Tâm được đành nhờ hắn đưa đi hộ, thế là bọn trẻ dần quen thân với hắn, đặc biệt là Triệu Vũ…” Trì Phượng Lệ kể lại, “Hình Khải Thánh từng cãi cọ với Chu Lập Bình vì chuyện này, cãi nhau to là đằng khác, chúng tôi ở ngoài còn nghe thấy. Ban đầu Chu Lập Bình khá hung hăng, Hình Khải Thánh phải dọa báo cảnh sát nếu hắn còn dám đến gần bọn trẻ, hắn mới chạy mất dép. Hình Khải Thánh còn dặn ông Từ canh cửa không cho Chu Lập Bình vào, cũng cấm bọn trẻ tiếp xúc với hắn.”
Tôn Khang gật đầu. “Thông tin cô cung cấp rất có giá trị!”
Tôn Khang nộp biên bản ghi chép lời khai dày cộp cho Đỗ Kiến Bình. Đỗ Kiến Bình đọc kĩ một lượt, gọi Lâm Phượng Xung đến nghiêm mặt nói, “Tới lúc giáp lá cà với Chu Lập Bình rồi!”
⚝ ⚝ ⚝
“Giáp lá cà” tức là thẩm vấn trực tiếp nghi phạm. Đỗ Kiến Bình nhẩm đi nhẩm lại lời khai của nhân chứng, mọi bằng chứng thu thập được cũng như toàn bộ những việc mình đã làm từ khi vụ án xảy ra đến nay, để rồi nhận ra tất cả đã sẵn sàng ngoại trừ chính mình.
Suốt mấy chục năm làm cảnh sát, Đỗ Kiến Bình đã phá vô số vụ án, nhưng đối thủ sắp tới vô cùng khó xơi, khiến ông đau đầu và căng thẳng nhất trước giờ (một điều ông không đời nào muốn công khai thừa nhận). Ông và Chu Lập Bình từng đối đầu nhau mười năm trước, lúc đó hắn mới học cấp ba nhưng đã là nghi phạm quan trọng nhất của loạt án giết người ở Tây Giao. Sau khi bị bắt, hắn câm như hến, tưởng làm vậy có thể thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật. Thế mà hắn thoát thật, cuối cùng chỉ phải nhận án mười năm tù! Đây là điều Đỗ Kiến Bình nuối tiếc cả đời. Tội phạm như bánh xà phòng, nếu không giữ chặt chúng, để chúng tuột khỏi tay, chúng sẽ chui tọt xuống cống ngầm hoặc trốn vào góc tối nào đó, nhởn nhơ sống với hình tượng công dân tuân thủ pháp luật như một người bình thường. Bởi vậy, có cơ hội bắt lại Chu Lập Bình thế này gần như là kì tích, cũng đồng nghĩa với việc Đỗ Kiến Bình sắp phải đối mặt với cao thủ đầy kinh nghiệm phạm tội và kinh nghiệm đối phó với lực lượng chức năng. Phải biết rằng, năm đó Chu Lập Bình đã trải nghiệm mọi kĩ thuật thẩm vấn của cảnh sát: tấn công tâm lý, thẩm vấn chéo, can thiệp vào đồng hồ sinh học, dùng máy phát hiện nói dối… Nói cách khác, hắn hiểu rõ cảnh sát, nhưng cảnh sát mù tịt về hắn.
Minh chứng rõ nhất cho điều này là kết quả lục soát nơi ở của Chu Lập Bình. Dù có Lâm Phượng Xung dẫn đầu đội lục soát, lại có chuyên gia khám nghiệm hiện trường cực kì ưu tú như Sở Thiên Anh làm trợ thủ, họ vẫn ra về trắng tay. Chu Lập Bình sống trong căn hộ một phòng ngủ trên tầng thượng khu nhà cũ kĩ, đúng ngoài cửa là nhìn thấy hết toàn cảnh trong nhà: giường đơn, ghế ngồi, bàn gấp, tủ quần áo, tất cả đều có hoa văn gỗ cổ lỗ sĩ, đúng kiểu nhà đi thuê. Trong tủ có vài bộ quần áo, ô, ba lô và mấy lá cờ từ thời hắn làm nhân viên hỗ trợ điều tiết giao thông. Dưới nệm có hơn hai nghìn tệ tiền mặt và một tấm thẻ tiết kiệm của Ngân hàng Công Thương, trong thẻ dành dụm được vài chục nghìn tệ. Dưới giường có ba đôi giày chạy bộ và một bộ tạ tay tháo lắp mạ crôm. Hàng xóm cho hay, Chu Lập Bình rất thích rèn luyện thể lực, sớm tối mỗi ngày đều chạy bộ trong khu phố, hè đến lại cởi trần nâng tạ, cơ bắp cả người mướt mồ hôi.
Lý Chí Dũng gọi điện hỏi riêng Đỗ Kiến Bình “Có tìm thấy khẩu súng ngắn đó không?” nhưng chỉ nhận về thất vọng.
Phòng Kĩ thuật Hình sự rất muốn đóng gói cả căn nhà mang đi, nhưng dù dùng kính hiển vi soi từng sợi tóc rơi dưới đất, họ vẫn không tìm thấy bằng chứng liên quan đến vụ án. Các nhân viên dựng lại hiện trường cho rằng, từ cách bài trí đồ đạc, cách thu dọn rác và đặc biệt là cách gấp chăn màn, có thể khẳng định trong đêm xảy ra án mạng, Chu Lập Bình từ lúc về nhà đến khi đi làm sáng hôm sau đều không có biểu hiện bất thường.
Kết quả này làm Đỗ Kiến Bình nhức cả đầu. Trong luật pháp, chứng cứ là khái niệm rất phức tạp, nói ngắn gọn có thể chia thành hai loại: chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp. Chứng cứ trực tiếp là chứng cứ nối nghi phạm với hành vi phạm tội bằng một đường thẳng, còn chứng cứ gián tiếp nối bằng nhiều đường vòng. Đối với thẩm vấn hình sự và phán quyết tư pháp, chứng cứ trực tiếp mới là thứ giá trị nhất. Nhưng hiện giờ cảnh sát chỉ có chứng cứ gián tiếp, đáng kể nhất là hình ảnh camera giám sát ghi lại cảnh Chu Lập Bình lái chiếc Spica qua đèn giao thông Thanh Thạch Khẩu Đông. Ngoài ra còn gì nữa? Chẳng còn gì! Đâu thể nói với thẩm phán trên tòa rằng “Vì trước kia hắn giết người, nên giờ bốn xác chết trên núi Chuột Quét cũng là kiệt tác của hắn”!
Bởi vậy chỉ còn nước cạy miệng Chu Lập Bình trong buổi thẩm vấn trực tiếp.
Để hiểu thêm về đối thủ, Đỗ Kiến Bình tự mình đi tìm Tổng giám đốc công ty Quan hệ công chúng Minh Di là Trịnh Quý để hỏi về công việc và cuộc sống của Chu Lập Bình. Sau khi sắp xếp và xác thực thông tin, có thể rút ra một số điểm sau:
Thứ nhất, Chu Lập Bình được làm ở công ty Minh Di là nhờ người phụ nữ tên Tôn Tĩnh Hoa giới thiệu. Tôn Tĩnh Hoa phụ trách quản lý hội trường của một nhà khách cao cấp trong thành phố, nơi công ty Minh Di thường tổ chức các hội nghị và sự kiện cho khách hàng, vì thế Trịnh Quý rất nể mặt Tôn Tĩnh Hoa. Ngày đầu tiên đến công ty, Chu Lập Bình nói thẳng mình từng ngồi tù nhiều năm vì tội giết người, làm Trịnh Quý chết sững. Nhưng vì lỡ đồng ý với Tôn Tĩnh Hoa, Trịnh Quý đành nhận hắn vào. Lúc được hỏi có kĩ năng gì, Chu Lập Bình nói hồi trong tù từng học lái xe và sửa xe, vừa hay công ty có ba chiếc xe nhưng chưa có tài xế cố định, Trịnh Quý bèn để hắn làm tài xế toàn thời gian.
Thứ hai, Chu Lập Bình rất ít nói. Trong công ty, hắn chỉ thân với con trai Hình Khải Thánh là Hình Vận Đạt, ngoài ra không giao thiệp với người khác. Trịnh Quý lại thích tính cách kiệm lời của hắn nên đi đâu cũng dẫn theo.
Thứ ba, Chu Lập Bình không có bạn gái. Hắn luôn xa cách với đồng nghiệp nữ trong công ty, họ cũng chẳng gần gũi với hắn.
Thứ tư, Chu Lập Bình quả thật rất quý trẻ con. Có lần Trịnh Quý tận mắt thấy Triệu Vũ đến tòa D khu Nhuận Đường tìm hắn. Tối đó Hình Khải Thánh nổi cơn tam bành gọi điện cho Trịnh Quý, anh ta phải khuyên giải hết lời thì chuyện mới lắng xuống. Sau đó Trịnh Quý quay ra mắng Chu Lập Bình, hắn chỉ im lặng.
Những điều kể trên chẳng thể xua tan lớp sương mù bao quanh Chu Lập Bình, ngược lại còn khiến màn sương dày hơn. Đặc biệt, mối quan hệ giữa hắn và Hình Vận Đạt khiến cảnh sát một lần nữa dồn sự chú ý lên kẻ không có thời gian đi gây án là Hình Vận Đạt. Chẳng lẽ đứa con ngỗ ngược ấy sai Chu Lập Bình giết người? Nếu vậy cớ gì phải sát hại cả ba đứa trẻ vô tội? Ngoài ra, việc Chu Lập Bình “quý” trẻ con không hề đơn giản… Với trực giác của cảnh sát lâu năm, Đỗ Kiến Bình hoài nghi: Chu Lập Bình từng là nghi phạm cưỡng hiếp giết người, vậy rất có thể lần này hắn bị Hình Khải Thánh nắm được chứng cứ dâm ô thậm chí cưỡng hiếp trẻ em nên mới giết người diệt khẩu!
Nghĩ đến đây, Đỗ Kiến Bình cả giận, phải uống mấy ngụm trà trong cốc tráng men mới dằn được cơn bốc hỏa. Ông hỏi Lâm Phượng Xung ngồi đối diện, “Từ lúc bị bắt đến nay, Chu Lập Bình thế nào rồi?”
Lâm Phượng Xung đáp, “Bình thường.”
“Bình thường?” Đỗ Kiến Bình đặt cốc xuống. “Bình thường kiểu gì?”
“Ăn cơm uống nước, đại tiện tiểu tiện như bình thường. Phòng tạm giam to cỡ phòng trọ nên trông hắn có vẻ thoải mái.” Lâm Phượng Xung giễu cợt, “Tinh thần ổn định lắm, không gào thét quậy phá, cũng chẳng hỏi khi nào thẩm vấn, chắc hắn biết sớm muộn cũng có ngày này, có điều…” Lâm Phượng Xung chợt do dự.
Đỗ Kiến Bình sốt ruột quá phải giục, “Muốn nói gì nói luôn đi!”
“Tôi có cảm giác, hắn biết mình phạm tội nhưng không cho đây là chuyện to tát…”
“Mẹ kiếp!” Đỗ Kiến Bình trợn mắt. “Giết bốn mạng người còn chưa đủ to tát à?!”
“Anh bình tĩnh, tôi đang phân tích đây.” Lâm Phượng Xung cười. “Theo tiếng lóng trong ngành thì Chu Lập Bình là một tay bơi lội cừ khôi, nước sâu đến mấy cũng từng bơi qua nên hắn thừa hiểu mình phạm tội gì, bị trừng phạt ra sao. Nếu giết bốn người trên núi Chuột Quét thật thì hắn cầm chắc án tử, không sợ mới lạ. Nhưng trông hắn chẳng lo sợ, như thể biết mình chỉ bị giam dăm bữa nửa tháng sẽ được thả ấy.”
Đỗ Kiến Bình khựng lại giây lát, thở dài, “Bảo Ban Thẩm vấn lập tức hỏi cung hắn, cậu cũng tham gia, còn tôi sẽ theo dõi toàn bộ quá trình tại phòng giám sát bên cạnh. Tôi không tin mình không xử được tên nhãi cứng đầu này!”
⚝ ⚝ ⚝
Lưu Tư Miễu không tham gia thẩm vấn Chu Lập Bình, chỉ nghe Lâm Phượng Xung thuật lại. Đến khi kể cho Quách Tiểu Phần, cô lược bớt râu ria để tóm lược phần quan trọng.
Trước khi lấy cung, Ban Thẩm vấn đã trù liệu trước những cách Chu Lập Bình chối tội để tính sẵn phương án xử trí. Ỷ mình đã xóa sạch chứng cứ, hắn có thể giả ngu, cương quyết phủ nhận tất cả, nhất là việc đi qua núi Chuột Quét đêm đó. Hoặc kể đại một chuyện cảnh sát không thể chứng thực hòng tạo chứng cứ ngoại phạm. Hắn còn có thể “thí tốt giữ xe”, đoán được cảnh sát biết mình “quý” trẻ con nên sẽ thừa nhận hành vi dâm ô trẻ em, nhận tội nhỏ để thoát tội lớn… Thậm chí hắn có thể nhất mực giữ im lặng như hồi loạt án giết người ở Tây Giao mười năm trước. Cảnh sát quyết định, muốn đánh sập phòng tuyến tâm lý của Chu Lập Bình thì phải tung con át chủ bài (tức hình ảnh hắn lái chiếc Spica đi qua đèn giao thông Thanh Thạch Khẩu Đông) vào thời khắc quyết định.
Ai dè thái độ của Chu Lập Bình hoàn toàn nằm ngoài dự kiến.
Buổi hỏi cung bắt đầu, Chu Lập Bình ngồi trên ghế gông, ngoan ngoãn phối hợp khi bị đeo còng chân và khóa thanh chặn. Lâm Phượng Xung còn miêu tả thái độ của hắn bằng hai chữ “đúng mực”.
Cán bộ thẩm vấn hỏi Chu Lập Bình vài thông tin cá nhân cơ bản, sau đó mở đầu bằng câu hỏi cũ rích nhất nhưng an toàn nhất, “Chu Lập Bình, cậu biết mình phạm tội gì không?”
Chu Lập Bình lắc đầu.
“Cậu thử suy nghĩ đi.” Người đó khoanh tay, lạnh lùng nhìn hắn.
Không ngờ cảnh sát chơi trò “thích thì nói, không thích thì thôi”, Chu Lập Bình hơi ngạc nhiên nhưng vẫn rất bình tĩnh.
Theo chiến thuật bàn trước, cán bộ hỗ trợ sẽ đóng vai “cớm xấu”. Anh ta đập bàn, “Chu Lập Bình! Thành khẩn khai hết ra đi! Đã ngồi ghế gông rồi còn giả câm hả? Cậu còn không rõ chuyện mình làm vô nhân tính thế nào sao?”
Chu Lập Bình im ỉm nhìn lại cán bộ hỗ trợ.
“Lườm cái gì? Trông rõ côn đồ! Đến nước này vẫn không chịu khai, định cứng đầu cứng cổ đến cùng à?!” Cán bộ hỗ trợ mắng tới tấp, Chu Lập Bình vẫn im như thóc.
Cán bộ thẩm vấn chính tiếp tục vai “cớm tốt”: “Chu Lập Bình, cậu mới hai mươi mấy tuổi đầu, người khác phong độ ngời ngời, sức trẻ phơi phới, còn cậu thì sao? Để tôi xòe tay đếm cho xem từ năm 17 tuổi đến nay cậu đã làm những gì. Mười năm trước thì cưỡng hiếp giết người, sát hại ba cô gái và một tổ trưởng tổ trị an, hai năm trước đánh lén một cảnh sát rồi cướp súng ngắn của anh ta, đúng chứ…”
“Tôi không đánh lén, cũng không cướp súng ai.” Chu Lập Bình cãi. Thái độ của hắn luôn nhất quán: không thú nhận cũng không chối bỏ tội trạng mười năm trước, nhưng kiên quyết phủ nhận vụ cướp súng.
Cán bộ thẩm vấn định tung hỏa mù, cố tình đề cập vụ án cũ để Chu Lập Bình lầm tưởng cảnh sát thiếu bằng chứng, phải lôi “nợ cũ” ra đòi, nhờ vậy hắn sẽ buông lỏng cảnh giác. Đến lúc đó anh ta sẽ bất ngờ đưa ra hình ảnh ghi lại tại đèn giao thông Thanh Thạch Khẩu Đông buộc hắn nhận tội… Trong quá trình chuẩn bị trước thẩm vấn, anh ta được đặc biệt nhấn mạnh phải tìm mọi cách bắt Chu Lập Bình mở miệng, hắn nói gì cũng được miễn không im lặng. Càng để hắn câu giờ, hắn càng có thêm thời gian suy tính cách đối phó, cực kì bất lợi cho cảnh sát.
Thấy Chu Lập Bình mắc câu, cán bộ thẩm vấn ung dung chuẩn bị thu dây, nhưng thu rất từ từ. Anh ta bắt đầu phân tích động cơ và cách thức gây án của hắn trong vụ cướp súng hai năm trước. Chu Lập Bình cũng không vừa, đáp trả khi đó cảnh sát đã tới lấy lời khai thậm chí lục soát chỗ trọ của hắn nhưng không tìm thấy bằng chứng phạm tội. “Chuyện này không liên quan đến tôi…”
Cán bộ thẩm vấn đột ngột đổi chủ đề, “Thế chuyện tối qua thì sao?!”
“Tại tôi không nuốt trôi cục tức này!” Chu Lập Bình thẳng thắn đáp, không khựng lại hay lưỡng lự như cảnh sát dự liệu.
Quá bất ngờ, cán bộ thẩm vấn hỏi tiếp, “Vì trước kia người ta mắng mỏ cậu?”
“Mắng vẫn nhịn được, đằng này còn đánh tôi!” Chu Lập Bình tức tối, “Nợ này phải trả!”
Hình Khải Thánh không những mắng Chu Lập Bình mà còn đánh hắn? Cảnh sát không hề hay biết chi tiết này trong quá trình điều tra. Lâm Phượng Xung tức tốc ghi lại vào sổ, thầm nhủ: xét về tuổi tác, vóc dáng hay sức lực, Hình Khải Thánh đều không phải đối thủ của Chu Lập Bình. Vả lại chắc lão cũng biết tên này từng ngồi tù vì tội giết người, sao còn dám đánh hắn?
“Chỉ vì bị đánh nên cậu mới điên tiết trả thù?”
“Anh buồn cười nhỉ, phải điên tiết thì mới trả thù chứ?”
“Sau đó thì sao?” Cán bộ thẩm vấn hỏi dồn.
“Thì tôi về nhà thôi.” Chu Lập Bình đáp thản nhiên.
“Xe đỗ ở đâu?”
“Xe? Xe gì?”
“Chiếc Spica màu đen của công ty cậu!”
“Làm sao tôi biết được? Tôi có dùng xe đâu!”
“Cậu dám đảm bảo cậu không dùng xe?”
“Dám chứ.”
“Nhắc cho cậu hay, toàn bộ quá trình thẩm vấn cậu đều được chúng tôi ghi âm và ghi hình lại, cậu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật cho mỗi câu mình nói.”
“Tôi biết.”
“Vậy tôi hỏi cậu lần nữa, cậu dám đảm bảo tối qua mình không lái xe không?”
“Tôi dám đảm bảo!” Chu Lập Bình nói chắc như đinh đóng cột.
Cán bộ thẩm vấn thò tay vào tập đựng hồ sơ, chuẩn bị ném ra trước mặt Chu Lập Bình tấm hình chụp hắn lái xe qua đèn giao thông Thanh Thạch Khẩu Đông. Đúng lúc ấy, Chu Lập Bình lầm bầm một câu khiến anh ta ngớ người.
“Đánh nhau thôi mà, có quái gì đâu mà phải lái xe?”
Ngồi trong phòng giám sát bên cạnh theo dõi qua gương hai chiều, Đỗ Kiến Bình choáng váng, ông vồ lấy micro, nói với hai cán bộ thẩm vấn và Lâm Phượng Xung, “Tạm dừng thẩm vấn, mọi người qua phòng giám sát ngay!”
Nhận được lệnh qua tai nghe không dây, ba người gấp gáp đứng dậy sang phòng giám sát. Thấy sắc mặt Đỗ Kiến Bình tái xanh, họ biết tình hình đang rất nghiêm trọng.
“Tính toán đủ đường vẫn không lường được hắn!” Đỗ Kiến Bình chỉ vào Chu Lập Bình qua gương, bực bội nói, “Ta định đánh lạc hướng bằng án cũ, nào ngờ hắn chơi trò gậy ông đập lưng ông, nhảy ngay sang chuyện khác. Tuy chưa rõ hắn nói ‘đánh nhau’ có ý gì, nhưng chắc chắn hắn làm vậy để tạo chứng cứ ngoại phạm.”
“Sếp khỏi lo, nếu định ngụy tạo chứng cứ ngoại phạm, hắn ắt phải nói dối tiếp để lấp liếm, kiểu gì cũng lòi đuôi chuột.” Lâm Phượng Xung khựng lại chốc lát, “Trừ phi hắn thật sự không giết người.”
Đỗ Kiến Bình chỉ nghe câu trước chứ không nghe rõ câu sau, gật gù, “Cũng đúng, vậy hỏi cung tiếp đi. Bắt hắn giải thích từng lời nói, xác thực từng câu chữ, tuyệt đối không được để bị dắt mũi!”
Hai cán bộ thẩm vấn và Lâm Phượng Xung gật đầu, rời khỏi phòng giám sát.
Đỗ Kiến Bình cẩn thận quan sát Chu Lập Bình qua gương hai chiều. Mười năm không gặp, mặt hắn không to như trước, có vẻ hóp đi nhiều, nhưng cằm chìa hẳn ra giống lưỡi cày, trông rất hung hãn. Da mặt mỏng căng, nổi cả gân xanh, chỗ mụn ngày xưa đã xẹp xuống thành những nốt đen giống đốm đồi mồi, nhúm ria mép cũng không còn nữa. Đôi mắt tam giác đùng đục như bị trét lớp bùn.
Chu Lập Bình ngây ra nhìn gương. Thừa biết hắn không trông thấy mình, Đỗ Kiến Bình vẫn cảm thấy khó chịu với ánh nhìn đó.
Về phòng thẩm vấn, cán bộ hỗ trợ mở đầu. “Chu Lập Bình, ngồi tù mấy năm xong tiến bộ hẳn nhỉ, cũng biết thả con săn sắt bắt con cá rô. Được, nếu đúng chỉ đánh nhau, nói tôi nghe tối qua cậu đánh nhau ở đâu, đánh với ai, có ai nhìn thấy. Phải khai rõ ngọn ngành, đừng lảm nhảm mấy câu vô căn cứ, cậu có thời gian nói nhưng chúng tôi không rảnh để nghe!”
Chu Lập Bình trơ mắt nhìn anh ta. Việc hắn từ chối trả lời mọi câu hỏi của “cớm xấu” hiển nhiên là muốn để cảnh sát hiểu hắn ưa nhẹ chứ không ưa nặng.
“Cớm tốt” đành lên tiếng, “Chu Lập Bình, cậu không còn là học sinh cấp ba nữa, cậu phải hiểu trốn tránh không giải quyết được vấn đề, đừng tưởng chối tội thì cơ quan cảnh sát hết cách với cậu. Nếu cậu từ chối trả lời câu hỏi, chúng tôi vẫn có thể căn cứ Điều 53 của Luật tố tụng hình sự để đề nghị tòa án truy tố. Nên tốt nhất cậu thành khẩn khai thật đi, tối qua cậu ở đâu, đánh nhau với ai, có nhân chứng vật chứng không. Chúng tôi sẽ điều tra xem cậu nói thật hay nói dối. Chính phủ quyết không tha cho bất cứ kẻ xấu nào, nhưng sẽ không xử oan người vô tội.”
Chu Lập Bình thoáng trầm mặc, từ tốn trả lời, “Khoảng 11 giờ tối qua, ở công viên đầu đường Hạnh Vũ. Khóe miệng tôi còn vết thương đây này, đủ làm chứng cứ rồi chứ?”
Vì bị còng vào thanh chặn nên Chu Lập Bình không thể giơ tay lên chỉ, đành hơi nghiêng đầu. Thật ra hắn không cần làm vậy thì người ta vẫn thấy rõ vết bầm tím bên khóe miệng hắn… Từ lúc bắt được Chu Lập Bình, cảnh sát đã phát hiện ra hắn bị thương ở mép. Đỗ Kiến Bình phải hỏi từng đồng nghiệp tham gia bắt giữ xem ai đấm vào miệng hắn. Ông hiểu công cuộc truy bắt tội phạm cũng là trận chiến sinh tử, những lúc hỗn chiến, lũ gian ác đôi khi còn bị thương nặng hơn thế này. Song không cảnh sát nào nhận. Chẳng ngờ sự thể lại là…
“Cậu đánh nhau với ai?”
Chu Lập Bình nhướng mày, “Chứ không phải các anh bắt tôi vì chuyện này sao?”
“Chúng tôi muốn cậu tự khai. Cậu đánh nhau với ai?”
Chu Lập Bình nói ra một cái tên, Lâm Phượng Xung trong phòng thẩm vấn và Đỗ Kiến Bình trong phòng giám sát cùng bật ngửa. Đỗ Kiến Bình lập tức cho người đi xác minh sự việc. Chẳng mấy chốc là có kết quả, người đánh nhau với Chu Lập Bình thừa nhận chuyện này, thời gian và địa điểm đều trùng khớp.
“Lúc bắt có thấy hó hé gì đâu!” Đỗ Kiến Bình tức tối làu bàu, sau đó nói vào micro, “Kiểm tra rồi, đúng là hắn đánh nhau thật. Nhưng lúc ấy khoảng 11 giờ, còn án mạng trên núi xảy ra vào 10 rưỡi nên chưa đủ làm chứng cứ ngoại phạm. Các cậu hỏi cung tiếp đi.”
Cán bộ thẩm vấn hỏi tiếp mấy câu không liên quan, đấu qua đấu lại một hồi chẳng thu được kết quả. Anh ta hệt con sư tử lăm le đánh úp con tê giác nhưng không biết nên cắn vào đâu, cũng không rõ lượt tấn công tiếp theo mình sẽ bị đánh trả thế nào, vì vậy cả khí thế và sức mạnh đều yếu hơn ban nãy. Còn cán bộ hỗ trợ giờ đã biết hù dọa Chu Lập Bình chỉ tổ vô ích nên đành ngồi làm cảnh.
Nhận thấy tình hình không ổn, Lâm Phượng Xung quyết định chen ngang, “Chu Lập Bình, còn nhận ra tôi không?”
Thấy viên cảnh sát để ria mép ngồi im trong phòng giờ mới lên tiếng, Chu Lập Bình thong thả gật đầu.
“Hai năm trước, chính tôi là người đã trao đổi với cậu ở đồn cảnh sát về vụ mất súng. Cậu không có bằng chứng ngoại phạm, nhưng chúng tôi cũng không có bằng chứng chứng minh cậu đã cướp mất khẩu súng đó. Cuối cùng tôi vẫn thả cho cậu đi, cậu còn nhớ chứ?”
Lâm Phượng Xung nhìn thẳng vào mắt hắn. “Chắc cậu cho rằng cảnh sát có định kiến từ trước nên mới bắt cậu, thực tế không phải. Chúng tôi chỉ xem trọng bằng chứng, tôn trọng sự thật. Chúng tôi nắm giữ khá nhiều thông tin bất lợi cho cậu nên mới tiến hành bắt giữ. Song chúng tôi vẫn hi vọng cậu thành khẩn khai báo, lập công chuộc tội. Nếu không làm gì khuất tất, cậu cứ nói thẳng, nói càng sớm được thả càng sớm. Tôi tin cả cậu và chúng tôi đều mong sau này không phải gặp nhau nữa.”
Chăm chú nghe Lâm Phượng Xung nói, Chu Lập Bình nhíu mày, “Tôi đã nói hết những gì cần nói, các anh còn muốn tôi khai gì?”
“Cảnh sát rầm rộ ra quân không phải chỉ để bắt bớ một vụ đánh nhau trả thù.” Lâm Phượng Xung cười khẩy, “Cậu tưởng chúng tôi ngu à, hay do ngồi tù quá lâu nên cậu lú rồi?”
“Cái đó tôi chịu. Đây đâu phải lần đầu các anh vu oan cho tôi.”
Người bình thường nghe câu này ắt hẳn sẽ cáu tiết, nhưng Lâm Phượng Xung - biệt danh “Bà Xung” - sao có thể thất thố trước lời khiêu khích. Anh điềm tĩnh đáp, “Thôi được rồi, ta cứ lần lượt điểm lại những việc cậu làm hôm qua. Tôi hỏi cậu đáp, không gian dối, không bỏ qua bất cứ chi tiết nào, được chứ?”
Chu Lập Bình gật đầu.
“Sáng hôm qua cậu đi làm mấy giờ?”
“Tôi đến công ty lúc 9 giờ.”
“Sau đó cậu làm gì?”
“Có việc ra ngoài với Trịnh Quý.”
“Cụ thể đi đâu? Làm gì?”
“Đến công ty Thực phẩm chức năng Kiện Nhất. Tuần sau bên tôi tổ chức sự kiện cho họ, trong sự kiện sẽ tặng thực phẩm chức năng cho người tham dự. Trịnh Quý đi xem hàng mẫu đồng thời bàn bạc với bên đó về danh sách khách mời cũng như chi phí đi lại.”
“Cậu lái xe gì?”
“Xe Audi A6 của công ty.”
“Sau đó thì sao?”
“Buổi trưa về ăn cơm.”
“Cụ thể ăn ở đâu? Ăn với ai?”
“Quán ăn nhanh Mười Phút gần công ty, ăn cùng Trịnh Quý.”
“Còn buổi chiều?”
“Chiều không có việc, tôi ngồi chơi điện tử trên máy tính công ty.”
“Chơi trò gì?”
“Đột Kích.”
“Chơi đến mấy giờ?”
“Tôi chẳng nhớ nữa. Tóm lại 5 giờ chiều tan làm, tôi hỏi anh Quý có cần làm gì nữa không, anh ấy bảo không. Tôi chơi thêm một lát rồi về nhà.”
“Mấy giờ về đến nhà? Buổi tối ăn gì?”
“Tôi không nhìn đồng hồ, chắc vẫn tầm 6 giờ hơn như thường ngày, ăn một bát mì bò hầm Khang Sư Phụ.”
“Sau đó thì sao?”
“Tối tầm 9 giờ hơn, Hình Khải Thánh gọi điện bảo tôi đến đón ở viện bảo trợ, có việc gấp.”
Tất cả cảnh sát giật thót, biết đã đến đoạn mấu chốt. Lâm Phượng Xung bình tĩnh hỏi. “Hình Khải Thánh là ai?”
“Giám đốc Viện Bảo trợ và Nuôi dưỡng Trẻ em, bạn của tổng giám đốc công ty chúng tôi. Nhưng tôi không ưa người này.”
“Sao Hình Khải Thánh lại gọi cho cậu?”
“Tối đấy lão quá chén, không lái xe được.”
“Vậy cậu có đi không?”
“Biết sao được… Tôi bắt xe đến viện bảo trợ tìm lão. Lão bảo tôi chờ sẵn trong xe, hơn hai mươi phút sau lão mới đi ra, rồi tôi lái xe chở lão đi…”
“Lái xe gì?”
“Xe Spica.”
“Theo điều tra của chúng tôi, chiếc Spica đó thuộc quyền sở hữu của công ty cậu. Đáng lẽ cậu phải lái xe đi đón Hình Khải Thánh chứ sao lại ‘bắt’ xe đến?”
“Xe đó là công ty tôi cho lão mượn, lão cứ thích dùng làm của riêng. Khi nào cần, công ty mới đòi lại để tôi lái.”
“Ngoại trừ tối qua, lân gần nhất cậu lái chiếc Spica là khi nào?”
“Tối hôm kia. Tôi phải ra sân bay đón khách, nhưng hôm ấy biển Audi A6 bị cấm nên tôi lái chiếc Spica.”
“Được rồi, cậu nói tiếp đi, Hình Khải Thánh bảo cậu chờ trong xe hơn hai mươi phút, sau đó cậu lái xe đưa ông ta đi đâu?”
“Núi Chuột Quét.”
Ngay cả Đỗ Kiến Bình ở bên kia tấm gương cũng phải kinh ngạc. Các cảnh sát đều tưởng Chu Lập Bình sẽ tìm mọi cách tránh né cái tên “núi Chuột Quét” nhạy cảm, nào ngờ hắn nhắc đến rất thản nhiên, không nhấn mạnh cũng không hời hợt, bình thường như thể mở nắp chai Coca là phải nghe thấy tiếng “xì”. Đỗ Kiến Bình săm soi Chu Lập Bình để tìm điểm bất thường, đặc biệt là cái miệng khi mấp máy và đôi mắt khi chớp, nhưng không thấy gì lạ.
Lâm Phượng Xung cũng chững lại một lúc mới định thần được, hỏi tiếp, “Trên xe còn ai khác không?”
“Có mình tôi với Hình Khải Thánh thôi.”
“Muộn rồi Hình Khải Thánh còn bảo cậu chở đến núi Chuột Quét làm gì?”
“Sao tôi biết được.”
“Tiếp theo thì sao?”
“Đến gần núi Chuột Quét, lão kêu mình đã tỉnh rượu, đòi tự lái xe vì còn bận đi làm việc riêng. Lão ném cho tôi tờ 100 tệ để gọi xe về, tôi không cầm, về thẳng nhà luôn.”
“Về thẳng nhà luôn?” Lâm Phượng Xung hơi cao giọng, “Ban nãy cậu bảo cậu đi đánh nhau cơ mà?”
“Thì đúng. Mới đi được mấy bước, tôi thấy nên giải quyết dứt điểm nên gọi điện cho người ta hẹn đến công viên đường Hạnh Vũ. Tôi chỉ định nói chuyện chứ không định thượng cẳng chân hạ cẳng tay, tại người ta lao vào đánh trước nên tôi chẳng nể nang nữa…”
“Cậu rời núi Chuột Quét lúc mấy giờ?” Cán bộ thẩm vấn xen vào.
“Tôi có xem đồng hồ đâu, chắc tầm 10 giờ, 10 giờ hơn.”
“Cậu đỗ xe ở đâu?”
“Hình Khải Thánh bảo đỗ ở đâu thì tôi dừng xe ở đó, hình như đầu đường thì phải, trời tối om nên tôi chẳng thấy rõ. Sau đó tôi xuống xe.”
“Sau khi cậu xuống, Hình Khải Thánh lái xe đi đâu?”
“Tôi không biết.”
“Vậy cậu đến đường Hạnh Vũ bằng cách nào?” Lâm Phượng Xung hỏi, “Gọi taxi, đặt xe công nghệ, hay dùng xe đạp Mobike?”
Cả ba phương tiện này đều rất dễ xác thực: xe taxi có ghi lại lộ trình xe chạy, cứ điều tra toàn bộ công ty taxi trong thành phố là ra; điện thoại di động của Chu Lập Bình đã bị tịch thu, hiện đang là bằng chứng được cất giữ ở Phòng Kĩ thuật Hình sự, không khó để kiểm tra lịch sử ứng dụng gọi xe và xe đạp Mobike. Lâm Phượng Xung thậm chí đã tính đến trường hợp Chu Lập Bình bảo đi xe dù, họ vẫn có thể dùng hệ thống Thiên Nhãn để xác minh, cuối cùng sẽ biết được hắn nói thật hay nói dối.
Nhưng Lâm Phượng Xung không ngờ đáp án của Chu Lập Bình lại là, “Tôi chạy bộ.”
⚝ ⚝ ⚝
Nghe bảo Chu Lập Bình chạy bộ từ núi Chuột Quét đến đường Hạnh Vũ, Quách Tiểu Phần phun luôn ngụm cà phê vừa uống. Rối rít lấy khăn giấy lau bàn, cô luôn miệng xin lỗi nhưng lại ngồi cười khúc khích, mãi sau mới nín được. Kiềm chế chưa được bao lâu, cô lại phá lên cười tiếp, tay khua khoắng tỏ ý xin lỗi. Tiếng cười của cô dễ lây tới nỗi Lưu Tư Miễu cũng cười theo.
“Tôi có thể tưởng tượng ra cảnh sếp Bình tức vẹo cả mũi.” Quách Tiểu Phần cười lớn.
Lưu Tư Miễu gật đầu. “Ừ. Đến Lâm Phượng Xung còn ngã ngửa, suýt nhảy dựng lên đánh Chu Lập Bình một trận. Nhưng anh ta là người biết tự chủ, nhớ lại những gì thu thập được sau khi lục soát nhà Chu Lập Bình, anh ta cho rằng hắn nói thật.”
“Dưới gầm giường có ba đôi giày thể thao, hàng xóm còn xác nhận Chu Lập Bình có thói quen chạy bộ quanh khu nhà mỗi ngày.” Quách Tiểu Phần tiếp lời.
Lưu Tư Miễu đồng tình, “Lâm Phượng Xung điều tra hồ sơ của hắn, phát hiện hắn từng nhiều lần là quán quân chạy đường trường thời đi học. Vào tù rồi hắn vẫn giữ thói quen tập luyện, bị nhốt trong phòng giam thì chạy tại chỗ, được ra ngoài giải lao thì chạy vòng quanh sân. Sau khi ra tù, hẳn còn tham gia giải chạy marathon và bán marathon do thành phố tổ chức, tuy không giành thứ hạng cao nhưng thành tích không hề kém cỏi. Đáng nói, bạn chạy của hắn xác nhận: hắn từng đến khu vực núi Chuột Quét vào cuối tuần để tham gia khóa huấn luyện chạy việt dã, rèn luyện thể lực. Tập xong, hắn chạy luôn từ đó về thành phố.”
“Đã xác minh thời gian hắn chạy từ núi Chuột Quét về đường Hạnh Vũ chưa?”
“Rồi! Chúng tôi nhờ một cảnh sát từng đoạt giải chạy marathon thử chạy từ núi Chuột Quét đến đường Hạnh Vũ bằng con đường ngắn nhất, mất bốn mươi ba phút. Nếu là Chu Lập Bình có lẽ mất bốn mươi tám phút hoặc lâu hơn. Có nghĩa hắn không thể giết người đốt xác trên núi Chuột Quét lúc 10 rưỡi rồi có mặt tại công viên đường Hạnh Vũ lúc 11 giờ đúng, đấy là nếu hắn khai thành thật.”
Quách Tiểu Phần trầm ngâm, “Nhưng vẫn có cách khác, ví dụ…”
“Ví dụ chuẩn bị sẵn xe đạp ở gần đó, gây án xong đạp xe về, tới gần đường Hạnh Vũ thì xuống xe, chạy vào công viên… Khả năng này chúng tôi có tính đến và đã thử nghiệm, đúng là khả thi.” Lưu Tư Miễu giải thích, “Vấn đề ở chỗ, hệ thống Thiên Nhãn tuy chuyên giám sát vi phạm trên đường dành cho xe cơ giới nhưng vẫn ghi lại cả tình hình đường dành cho xe thô sơ. Nếu chạy bộ từ núi Chuột Quét đến đường Hạnh Vũ bàng đường tắt, đường mòn hoặc qua ngõ hẻm, chắc chắn sẽ tránh được Thiên Nhãn vì mấy lối đó đều nằm trong điểm mù và góc chết máy quay, còn nếu đạp xe thì đừng hòng tránh né toàn bộ camera và đến đích trong vòng nửa giờ…”
“Sao lại không?” Quách Tiểu Phần ngắt lời Lưu Tư Miễu, “Đạp theo đường chạy bộ là được.”
“Không được đâu.” Lưu Tư Miễu đáp, “Chúng tôi kiểm tra cẩn thận rồi, đường mòn từ núi Chuột Quét đến đường Hạnh Vũ có mấy đoạn đang sửa chữa, đào mương, đi bộ còn khó huống chi chạy bộ. Nếu đạp xe sẽ buộc phải dắt bộ qua vài chỗ, thời gian cộng lại vẫn quá ba mươi phút… Tóm lại chúng tôi đã thử nhiều cách, tất cả đều chứng minh: đạp xe có thể đến nơi trong nửa giờ nhưng không tránh được Thiên Nhãn, tránh được Thiên Nhãn thì không thể đến nơi trong nửa giờ.”
“Vậy à…” Quách Tiểu Phần xìu mặt thất vọng.
“Chu Lập Bình nói vậy xong, buổi thẩm vấn không thể tiếp tục nữa, bởi bằng chứng duy nhất chúng tôi có được để chứng minh hắn liên quan đến án mạng trên núi chỉ là hình chụp xe chạy qua đèn giao thông Thanh Thạch Khẩu Đông. Hắn thừa nhận tối đó có đến núi Chuột Quét, có lái chiếc Spica, nhưng sau đó Hình Khải Thánh tự lái xe đi mất. Lâm Phượng Xung đã dẫn hẳn đến núi Chuột Quét, hắn nhớ mang máng chiếc xe đỗ ở phía Đông đoạn giao giữa đường mòn Ngân Lộc và con ngõ dẫn vào vườn ươm. Nói cách khác, sau khi Chu Lập Bình rời đi, Hình Khải Thánh chỉ việc rẽ trái đi thẳng là tới con ngõ đó, hoàn toàn phù hợp với vệt bánh xe để lại hiện trường…”
Quách Tiểu Phần ngắt lời Lưu Tư Miễu, “Này này, đừng bảo tay Lâm Phượng Xung vừa hiền vừa ngốc tin sái cổ lời khai của Chu Lập Bình, không buồn điều tra xem còn phương tiện nào khác để đến đường Hạnh Vũ không đấy nhé?”
“Lâm Phượng Xung hiền thật, nhưng không ngốc.” Lưu Tư Miễu đáp. “Cảnh sát đã lấy lịch sử sử dụng dịch vụ xe đạp Mobike và ứng dụng gọi xe trong khu vực núi Chuột Quét đêm đó, kết luận Chu Lập Bình không hề dùng hai loại hình giao thông này. Cảnh sát còn dùng hệ thống Thiên Nhãn kiểm tra từng chiếc xe chạy từ khu vực núi Chuột Quét đến đường Hạnh Vũ tối đó, nhưng không tài xế nào, kể cả tài xế xe dù, nhớ mình đã chở một hành khách như vậy. Tôi biết cô sẽ nghĩ đến xe buýt, nhưng đi xe buýt không thể tự chủ thời gian, vả lại cảnh sát cũng đã kiểm tra toàn bộ camera giám sát trên các xe đi từ núi Chuột Quét vào thành phố, không hề thấy bóng dáng Chu Lập Bình.”
Quách Tiểu Phần đang chống cằm suy nghĩ thì hai mắt bừng sáng, “Giả sử hắn chuẩn bị sẵn ô tô gần núi Chuột Quét, gây án xong không lái thẳng về thành phố mà lái về phía Tây, đi vòng đường núi trở về bằng đường khác thì sao?”
“Thì vẫn không khớp về thời gian. Nếu muốn vòng hướng Tây về thành phố, cách nhanh nhất là vòng qua núi Thúy Vy xuống đường Bắc Lộc… Tưởng gần nhưng thực ra khá xa. Đêm hôm khuya khoắt, đi trên núi dù phóng nhanh đến mấy cũng phải hơn 11 giờ đêm mới đến được đường Hạnh Vũ.”
Quách Tiểu Phần nín bặt.
Lưu Tư Miễu khẽ thở dài, “Chẳng khác nào chúng tôi bị Chu Lập Bình ném cho câu hỏi hóc búa, ấy là làm sao chứng minh hắn không chạy bộ đến đường Hạnh Vũ…”
“Nói cách khác, các cô phải giải được câu đố: làm sao để đi từ núi Chuột Quét đến đường Hạnh Vũ trong ba mươi phút.”
Lưu Tư Miễu lắc đầu. “Trừ hao thời gian giết người đốt xác và gặp trở ngại trên đường đi, có lẽ hẳn chỉ còn hai lăm phút, ấy là chưa tính thời gian bỏ ra để giấu chiếc Spica.”
“Đạp xe và lái ô tô từ núi Chuột Quét đến đường Hạnh Vũ mất khoảng bao lâu?”
“Chúng tôi tính toán rồi, đường buổi tối không hay tắc nhưng vẫn có nhiều đèn giao thông, đạp xe mất hai mươi-hai lăm phút còn lái ô tô mất mười-mười lăm phút.”
Quách Tiểu Phần lục túi lấy bút và sổ da màu hồng, viết viết vẽ vẽ một lúc, thở dài. Rồi cô sực nhớ ra, “Cái người hẹn đánh nhau với Chu Lập Bình ấy, anh ta có để ý thấy Chu Lập Bình thở dốc, người đầy mồ hôi do chạy đường dài không?”
“Hôm đó anh ta rất kích động, hận thù chồng chất nên gặp Chu Lập Bình là lao vào ngay. Bây giờ hồi tưởng lại anh ta cũng không dám chắc, chỉ nhớ láng máng trông Chu Lập Bình có vẻ mệt mỏi…” Lưu Tư Miễu cười méo xẹo, “Giết người đốt xác, dọn dẹp hiện trường cũng mệt bở hơi tai ấy chứ.”
Hai người cùng chìm vào im lặng.
Phục vụ lại gần hỏi có cần thêm nước không, Lưu Tư Miễu đồng ý. Dòng nước đổ vào tách trà cam tuyết lê làm nổi lên lớp bọt màu cam trắng. Mãi tới khi phục vụ đi khuất và lớp bọt dần tan mất, Lưu Tư Miễu mới cầm tách lên nhấp. Trà hơi nóng, cô lại đặt xuống bàn.
“Với kết quả thẩm vấn, tổ chuyên án định điều tra tiếp thế nào?” Quách Tiểu Phần hỏi.
“Thật ra tổ chuyên án chia thành hai phe. Đỗ Kiến Bình và đa số mọi người đều chủ trương tăng cường mức độ thẩm vấn, buộc Chu Lập Bình phải khai thật. Lâm Phượng Xung và Sở Thiên Anh lại cho rằng không nên cố chấp, lãng phí thời gian và sức lực vào Chu Lập Bình chỉ giúp hung thủ thật sự nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật… Nhưng sau đó nhận được báo cáo giám định từ chị Lôi Dung, tổ chuyên án thống nhất điều chỉnh phương hướng và tư duy cho công tác điều tra.”
“Báo cáo giám định pháp y?” Quách Tiểu Phần ngạc nhiên, “Tưởng phải có từ lâu rồi chứ?”
“Không, là báo cáo giám định tâm lý dựa trên băng ghi hình thẩm vấn Chu Lập Bình. Tức là phân tích tốc độ nói, hình thái câu, cách biểu đạt và sự biến đổi nét mặt khi hắn trả lời, từ đó tìm ra điểm nghi vấn.”
“Giỏi vậy! Ai làm thế?”
“Chị Lôi Dung nói vì vụ án quá nghiêm trọng nên trên bộ đặc cách phê chuẩn cho chị ấy nhờ một chuyên gia về khoa học hành vi giúp đỡ. Người này sống ở nước ngoài, thân phận được giữ bí mật. Đỗ Kiến Bình và mọi người đọc xong báo cáo thấy cũng có lý.”
“Nói thử tôi nghe.”
“So sánh thời gian phản ứng và tốc độ trả lời của Chu Lập Bình sau mỗi lần nhận được câu hỏi, chuyên gia nhận thấy tất cả đều ở trạng thái cân bằng, không quá chậm cũng không quá nhanh, hơn nữa hắn trả lời rất trôi chảy và kín kẽ, chứng tỏ đã chuẩn bị từ trước, thậm chí có thể từng diễn tập. Nhưng điều này rất phổ biến với nghi phạm có tiền án nên không chứng minh điều gì. Tuy nhiên, câu trả lời của hắn có điểm mâu thuẫn khó nhận thấy.”
“Câu nào?”
“Khi khai rằng 9 giờ tối đó Hình Khải Thánh gọi điện thoại kêu đến viện bảo trợ đón lão, Chu Lập Bình dùng cụm từ ‘có việc gấp’. Nhưng sau đó Lâm Phượng Xung hỏi ‘Hình Khải Thánh là ai’ nên vô tình cắt ngang mạch suy nghĩ của Chu Lập Bình. Lúc được hỏi tiếp ‘sao Hình Khải Thánh lại gọi cho cậu’, Chu Lập Bình trả lời ‘tối đấy lão quá chén, không lái xe được’. Tức là ‘việc’ mà Hình Khải Thánh nhờ hắn chỉ là lái xe hộ, không hề ‘gấp’ chút nào, sắc thái câu từ giảm rõ rệt. Tinh vi hơn, hắn kể lúc đến nơi đã bị Hình Khải Thánh bắt chờ trong xe hơn hai mươi phút, vậy mà gấp à? Tiếc là khi đó Lâm Phượng Xung quá tập trung theo dõi Chu Lập Bình xem hắn định ‘che giấu’ hành vi của mình bằng cách nào, nên không chất vấn về điểm mâu thuẫn rành rành trong ‘lời thú nhận’ của hắn.”
Quách Tiểu Phần tròn xoe mắt.
“Ngoài ra, cả quá trình thẩm vấn chỉ xuất hiện hai ‘gai xương’ hiếm hoi, cũng là ở đoạn đối thoại này.”
“Gai xương?” Quách Tiểu Phần không hiểu lắm. “Là sao?”
Thẩm vấn là quá trình cán bộ hỏi cung đào bới những điểm nghi vấn trong vụ án và bắt người bị thẩm vấn giải thích, từ đó tìm ra “lỗ hổng” không thể che đậy, hoặc che đậy nhưng lại tạo thành lỗ hổng lớn hơn. Vì vậy, phương thức trả lời của người bị thấm vấn có thể chia thành hai loại cơ bản: kiểu đinh tán và kiểu đất nặn. Đúng như tên gọi, kiểu “đinh tán” là khi anh đục một lỗ, tôi sẽ bít nó lại thật kín kẽ và vừa khít, không thừa không thiếu; còn kiểu “đất nặn” thường thấy ở những nghi phạm yếu bóng vía hoặc tha thiết lập công chuộc tội, người ta hỏi một thì đáp hai, cố “bôi ra” khiến câu trả lời lan man không đúng trọng điểm…
Đa số câu trả lời của Chu Lập Bình đều thuộc kiểu đinh tán, tức không vượt quá phạm vi câu hỏi, chỉ trừ hai ngoại lệ. Thứ nhất, khi được hỏi “Hình Khải Thánh là ai”, đáng lẽ chỉ cần trả lời “Giám đốc Viện Bảo trợ và Nuôi dưỡng Trẻ em, bạn của tổng giám đốc công ty chúng tôi” là đủ, song hắn lại bồi thêm “nhưng tôi không thích người này”. Thứ hai, khi được hỏi “Vậy cậu có đi không”, hắn không trả lời thẳng mà bảo “Biết sao được”…
Mắt Quách Tiểu Phần lóe sáng, “Tức là Chu Lập Bình đã vẽ rắn thêm chân ở hai câu này, đồng thời bày tỏ sắc thái tình cảm hết sức rõ rệt.”
“Chính xác! Từ góc độ tâm lý học tội phạm, điều này thể hiện người bị thẩm vấn chột dạ, hoang mang, có ý ‘xu nịnh’, ‘lấy lòng’ người thẩm vấn. Cộng thêm điểm mâu thuẫn trước đó, có thể suy ra tâm lý của hắn dao động trong bốn câu hỏi liên tục. Đây là điều rất bất thường với kẻ từng bị thẩm vấn nhiều lần và có tâm lý vững vàng như Chu Lập Bình.”
“Ta kết luận được gì từ phân tích trên?”
“Chuyên gia cho rằng Chu Lập Bình chớm dao động tâm lý từ câu ‘có việc gấp’, đây là điểm khởi đầu cực kì quan trọng. Rất có thể hắn lỡ nói ra sự thật, tức là đêm đó đúng là Hình Khải Thánh đã lấy ‘việc gấp’ làm cớ gọi hắn đến sai làm việc ám muội. Rồi hắn nhận ra không thể tiết lộ cho cảnh sát nếu không sẽ gây bất lợi cho bản thân. Hoảng một li là đi cả dặm, hắn bắt đầu nói giảm nói tránh, cố tỏ ra căm ghét và bất mãn Hình Khải Thánh những hai lần. Hắn tìm cách chứng minh mình không liên quan đến lão, để cảnh sát không tìm hiểu xem rốt cuộc lão tìm hắn vì ‘việc gấp’ gì. Điều này cho thấy, bề ngoài ra vẻ dửng dưng nhưng Chu Lập Bình chắc chắn biết gì đó về vụ án, chẳng qua có nỗi niềm khó nói.”
Quách Tiểu Phần không giấu nổi khâm phục, “Phân tích tài tình ghê.”
“Mọi người đều bị thuyết phục bởi lập luận này, đồng thời cũng ngộ ra nhiều điều. Trước đó, cả buổi thẩm vấn lẫn công tác điều tra đều chỉ tập trung vào vấn đề ‘sau khi đến núi Chuột Quét đã xảy ra chuyện gì’. Nhờ lập luận trên, tổ chuyên án thống nhất từ giờ nên nhìn sự việc một cách tổng thể hơn, phải làm rõ ‘trước khi đến núi Chuột Quét đã xảy ra chuyện gì’. Ví dụ Hình Khải Thánh và Chu Lập Bình có quan hệ gì, đêm đó Hình Khải Thánh gọi Chu Lập Bình đến viện bảo trợ là có ‘việc gấp’ gì, chiếc Spica màu đen đã đi những đâu trước khi án mạng xảy ra… Chỉ có làm vậy mới tìm ra được nguyên nhân thật sự cũng như chân tướng vụ án.” Lưu Tư Miễu nói.
Quách Tiểu Phần gật gù, hơi rướn cổ về trước, “Nói đi, cô muốn tôi giúp gì nào?”
Lưu Tư Miễu nhìn chằm chặp gương mặt xinh đẹp, thông minh và đáng yêu của Quách Tiểu Phần như muốn tìm kiếm gì đó. Chẳng rõ tìm thấy chưa, cô hạ tầm mắt xuống tách trà cam tuyết lê, rất lâu sau mới từ tốn nói, “Cô biết chuyện tôi bị điều khỏi tổ chuyên án rồi.”
“Ừ.”
“Cũng biết cả nguyên nhân.”
“Ừ.”
“Trong mắt người khác, mỗi người chúng ta là một định nghĩa. Dẫu bản thân ta thay đổi, định nghĩa ấy vẫn luôn đúng, chỉ có ta mới không đúng.”
Quách Tiểu Phần tròn xoe mắt.
“Tôi cũng bị định nghĩa.” Lưu Tư Miễu bình thản nói tiếp. “Tuy tôi và Lâm Hương Minh chưa từng đến với nhau, nhưng ai cũng cho rằng tôi là bạn gái anh ấy, bởi vậy tôi phải chịu trách nhiệm cho phán đoán anh ấy đưa ra trong vụ án tận mười năm trước.”
“Thật bất công.” Quách Tiểu Phần lên tiếng.
“Bản chất con người là thế, vừa mong người khác công bằng với mình, vừa đối xử bất công với người khác.” Lưu Tư Miễu cười lạnh lùng. “Tôi chẳng hi vọng gì ở loài người nên không oán trách.”
“Thế sao cô còn tham gia vụ này?”
“Vì hai lý do.” Lưu Tư Miễu đáp. “Thứ nhất, tôi cho rằng chủ nghĩa duy khoa học đã nhen nhóm trong công tác điều tra hình sự vài năm trở lại đây. Việc này rất bất thường.”
“Ôi trời ơi!” Quách Tiểu Phần thốt lên. “Tôi có nghe lầm không? Chuyên gia kĩ thuật hình sự luôn sùng bái tinh thần khoa học như cô lại nói chủ nghĩa duy khoa học là bất thường?!”
“Tinh thần khoa học khác với chủ nghĩa duy khoa học. Tinh thần khoa học là một loại chủ nghĩa thực chứng, còn chủ nghĩa duy khoa học lại là sự lệ thuộc và tôn sùng mù quáng theo kiểu tôn giáo.” Lưu Tư Miễu giải thích. “Việc vận dụng phương pháp khoa học hiện đại, đặc biệt là công nghệ ADN vào truy bắt tội phạm, cộng với sự ra đời của hệ thống Thiên Nhãn và việc xây dựng bức tường lửa an ninh xã hội dựa trên dữ liệu lớn và công nghệ thông tin khiến nhiều cảnh sát lầm tưởng từ nay kẻ thủ ác không thể thoát khỏi lưới trời lồng lộng, công việc điều tra sẽ ngày càng thuận lợi hơn. Mầm mống tư tưởng dựa dẫm vào khoa học trong công tác phòng chống và đấu tranh với tội phạm cùng ý nghĩ cho rằng khoa học kĩ thuật có thể giải quyết tất cả vấn đề là rất đáng sợ. Đây cũng là lý do khiến cảnh sát sau khi bắt được Chu Lập Bình, từ trạng thái tràn đầy tự tin, sục sôi ý chí trở nên lúng túng và mất phương hướng.”
Quách Tiểu Phần chăm chú lắng nghe.
Lưu Tư Miễu nói tiếp, “Về bản chất, hành vi phạm tội là sự biến chất tạo nên bởi nhân cách phức tạp và môi trường sống tệ hại. Ừ thì camera giám sát giúp ta nhìn thấy những gương mặt tràn đầy sức sống hoặc thờ ơ vô cảm, nhưng chẳng máy móc thiết bị khoa học nào bới ra được suy nghĩ ẩn giấu đằng sau gương mặt đó…
“Khi một vụ án xảy ra, truy bắt hung thủ đúng là không hề đơn giản, nhưng việc làm rõ động cơ phạm tội càng khó khăn hơn. Cô là phóng viên pháp luật, hẳn cũng biết động cơ gây án của hung thủ muôn hình vạn trạng, đôi khi vô lý đến nực cười chứ không đơn giản chỉ vì tiền bạc hay dục vọng. Chính những hành vi phạm tội ‘không vì gì cả’ mới làm các cảnh sát dày dạn kinh nghiệm phải ngạc nhiên. Trong trường hợp này, việc đơn giản hóa quá trình phá án thành trình tự ‘phạm tội-áp dụng khoa học kĩ thuật-phá án’ là cực kì vô trách nhiệm, vậy mà ngày càng nhiều người thích cách rút gọn này…
“Đầu năm nay xảy ra vụ một tên côn đồ cầm dao chém người ở trung tâm thương mại, một nữ cảnh sát ưu tú đã xông lên bắt hắn và được ca ngợi là ‘dũng cảm đi ngược số đông’. Tất nhiên hành động đó vô cùng can đảm, nhưng đừng quên hành vi của kẻ thủ ác mới là ‘đi ngược’ xã hội! Chỉ chăm chăm ngợi khen lòng cao thượng và hành động đẹp mà coi nhẹ hoặc bỏ qua nguyên do đằng sau hành vi tàn bạo là điều vô nghĩa trong việc phòng chống tội phạm.”
“Cô nói rất có lý!” Quách Tiểu Phần gật đầu lia lịa. “Đáng tiếc chẳng mấy ai chịu nghe những lời cảnh tỉnh này. Dẫu có nghe, họ cũng không hiểu.”
“Đây cũng là lý do tôi nghĩ đến cô và mong cô giúp tôi một việc.” Lưu Tư Miễu nhìn Quách Tiểu Phần, “Sáng sớm hôm đó trước cửa vườn ươm, tôi không trông thấy ‘phóng viên’ mà chỉ thấy toàn ‘máy ghi âm biết đi’… Những người thiếu tinh thần làm nghề như vậy tôi rất khinh thường, còn với người có lòng yêu nghề, dù người đó từng cãi nhau gây gổ với tôi, tôi vẫn sẽ tôn trọng, tin tưởng.”
Quách Tiểu Phần cảm động sâu sắc trước lời Lưu Tư Miễu.
“Vẫn còn một lý do quan trọng khác. Theo tôi được biết, hai năm trước, khi xảy ra vụ việc con gái sếp Bình tự sát vì vay nợ công ty vay vốn sinh viên, cô từng đến Văn phòng đại diện Quỹ từ thiện Ái Tâm tại thành phố để phỏng vấn, nhưng chưa kịp gặp Đào Chước Yêu đã bị Trịnh Quý chặn lại. Tôi tìm được bài viết của cô trên mạng, cảm giác không nồng nặc mùi thuốc súng như các bên khác.”
“Thì bởi tổng biên tập mới của chúng tôi giữ một chân giám đốc trong Quỹ từ thiện Ái Tâm, cứ cuối năm là nhận hơn một triệu tệ tiền lợi nhuận, nên mới cắt xén lung tung bài viết của tôi.”
“Nhưng tôi tin chính vì thế mà quỹ từ thiện này và Trịnh Quý không quá ác cảm với cô.”
“Nói vậy cũng đúng, sau đó Trịnh Quý còn gửi cho tôi thẻ quà tặng, có điều tôi không nhận…” Quách Tiểu Phần hiểu ra, “Cô muốn tôi thâm nhập vào Quỹ từ thiện Ái Tâm và công ty Quan hệ công chúng Minh Di để giúp cô tìm ra chân tướng vụ án núi Chuột Quét?”
Lưu Tư Miễu lắc đầu. “Tôi không nhờ cô điều tra vụ án núi Chuột Quét, đó là công việc của cảnh sát. Tôi chỉ muốn cô tìm hiểu toàn diện, cụ thể và có hệ thống về con người Chu Lập Bình dưới góc nhìn một phóng viên, nói thẳng ra là tìm hiểu xem vì sao hắn trở thành tội phạm. Nhất là vì sao một sát nhân hàng loạt may mắn thoát khỏi lưới pháp luật như hắn chẳng những không ăn năn hối cải, còn ngày càng tha hóa, trở thành tên giết người và hành hạ trẻ em… Ấy là nếu những tội ác này thật sự do hắn gây ra.”
“Sau đó thì sao?” Quách Tiểu Phần vẫn chưa hiểu. “Viết bài đăng báo, tạp chí hoặc mạng xã hội à?”
“Chờ chút.” Lưu Tư Miễu nhìn đồng hồ đeo tay. “Cũng muộn rồi, ta ăn trưa ở đây luôn đi.” Cô vẫy tay với phục vụ, gọi bánh pancake vị truyền thống, pizza, mì Ý, cơm cà ri bò. Quách Tiểu Phần bảo gọi ít thôi, Lưu Tư Miễu chỉ cười, quay lại vấn đề chính. “Cô cứ viết bài đi, nếu cần, tôi sẽ đề xuất với vài cơ quan truyền thông để đăng tải. Có điều, tôi cho rằng ý nghĩa lớn lao hơn nằm ở chỗ ta có thể quy việc này về cùng một mối với cuộc điều tra dang dở của Lâm Hương Minh.”
Quách Tiểu Phần bừng tỉnh.
Sau khi du học Mỹ về, Lâm Hương Minh từng đứng ra tổ chức nghiên cứu về đề tài tội phạm học: phỏng vấn những tên sát nhân biến thái đang bị giam giữ khắp cả nước để hiểu sâu hơn đặc điểm những vụ giết người hàng loạt và đặc trưng tội phạm trong nước, từ đó vận dụng kĩ thuật xây dựng hồ sơ tội phạm vào công tác điều tra một cách phù hợp. Chỉ tiếc công trình bị bỏ dở sau khi Lâm Hương Minh biến mất, nhưng Lưu Tư Miễu luôn chắt chiu từng cơ hội để tiếp tục công việc này.
“Cho nên người ta định nghĩa cô… liên hệ cô với Lâm Hương Minh đâu phải vô căn cứ.” Quách Tiểu Phần trêu.
Lưu Tư Miễu cười ngại ngùng.
Hai người bàn bạc các bước cụ thể, bắt đầu dò từ Trịnh Quý, rồi phỏng vấn tất cả những người từng tiếp xúc với Chu Lập Bình mấy năm nay, bao gồm Tôn Tĩnh Hoa - người giới thiệu hắn vào công ty Minh Di, chủ tịch ủy ban phường - người sắp xếp cho hắn làm nhân viên hỗ trợ điều tiết giao thông, nhân viên môi giới bất động sản - người giúp hắn tìm nhà… Lưu Tư Miễu đề nghị, nếu được, tốt nhất nên phỏng vấn Phòng Mai, nạn nhân duy nhất may mắn sống sót sau loạt án giết người ở Tây Giao. Quách Tiểu Phần thừa nhận đây là việc rất khó, nhưng đáng để thử một phen.
“Phải rồi.” Quách Tiểu Phần làm như vô tình nhắc đến, “Hồi ấy Lâm Hương Minh kiên quyết cho rằng Chu Lập Bình chỉ giết một người là Phòng Chí Phong, cô nghĩ sao?”
“Tôi vừa nói rồi, tôi tán thành kết luận này. Đến nay vẫn chưa phát hiện ra bằng chứng mới để gạt bỏ nó. Dĩ nhiên nếu Lâm Hương Minh sai, anh ấy phải chịu trách nhiệm cho tội ác Chu Lập Bình vừa gây ra.” Lưu Tư Miễu nhìn về phía cửa sổ sát đất. Ngoài kia, đậu trên những sợi dây điện mắc ngang như dòng kẻ khuông nhạc, một chú chim sẻ lông xám đập cánh liên hồi nhưng mãi chẳng bay đi.
Lúc này, phục vụ đặt hết các món Lưu Tư Miễu gọi vào một khay bạc to, bê ra bày đầy mặt bàn. Quách Tiểu Phần nhìn thòm thèm, bất giác lầu bầu, “Đã bảo gọi ít đồ thôi. Tôi tham gia khóa thể dục giảm cân, mệt mỏi suốt nửa tháng mới lấy lại vòng eo con kiến, giờ thành vòng eo con gấu mất…”
“Eo con gấu anh vẫn thích!” Theo sau câu nói lưu manh, một người vừa lùn vừa mập ngồi phịch xuống cạnh Quách Tiểu Phần, cười cợt nhả với cô.
“Mã Tiếu Trung?!” Quách Tiểu Phần sửng sốt, thấy Lưu Tư Miễu mỉm cười mới hiểu ra Mã Tiếu Trung cũng bị “triệu hồi” đến.
“Tại hạ đây!” Mã Tiếu Trung ôm quyền chào, “Quách Tiểu Phần, lâu không gặp, anh nhớ cô quá!”
Quách Tiểu Phần che mặt mếu máo, “Sao chỗ nào cũng thấy anh chường mặt ra vậy? Tưởng anh bị bắt vì ụp canh vào mặt người ta? Được thả nhanh thế?”
“Cô em thật là!” Mã Tiếu Trung cau mày, “Vì cô, anh đâu ngại vượt ngục?”
“Xì!” Quách Tiểu Phần khinh bỉ đáp lại.
“Thôi, thôi! Nể mặt tôi, đừng chấp Mã Tiếu Trung.” Lưu Tư Miễu giảng hòa. “Cô nghỉ việc nên chắc phải nộp lại thẻ phóng viên rồi, đi phỏng vấn đưa chứng minh thư cũng bất tiện, tốt nhất nên đi cùng một người có uy. Vừa hay Mã Tiếu Trung bị đình chỉ công tác để kiểm điểm, tôi bèn nhờ anh ấy hỗ trợ cô.”
“Đúng đúng. Với lại hai đứa mình đi đâu chẳng được coi là một đôi, trừ đi đăng kí kết hôn.” Mã Tiếu Trung thân mật nói.
“Phắn!” Quách Tiểu Phần khịt mũi.
Hai người vặc nhau một chặp mới chịu quay ra ăn uống. Mã Tiếu Trung cứ muốn xáp lại gần Quách Tiểu Phần, bị cô thụi cùi chỏ mới ngoan ngoãn ngồi yên.
Lưu Tư Miễu hỏi số thẻ ngân hàng của Quách Tiểu Phần. Quách Tiểu Phần ngơ ngác hỏi để làm gì. Lưu Tư Miễu nói lần phỏng vấn này là do cá nhân sắp xếp, không thể chi trả bằng công quỹ nên cô định chuyển khoản tiền của mình. Quách Tiểu Phần từ chối mấy lần, cuối cùng cứng họng trước câu: “Quách Tiểu Phần, cô còn phải trả tiền thuê nhà, đừng để lại phải ngủ tạm trên ghế đá công viên…”
“Gì đấy?” Mã Tiếu Trung ngẩng gương mặt mập lên, miệng dính đầy tương cà.
“Chẳng liên quan đến anh.” Quách Tiểu Phần bình thản đáp rồi đưa Lưu Tư Miễu số thẻ ngân hàng của mình.
Ăn xong, ba người cùng ra khỏi quán cà phê.
Quán cà phê nằm trên tầng hai của một tòa nhà ở quảng trường Thời Đại Viễn Dương, đối diện cung thiếu nhi. Giờ là cuối tuần nên cung rất đông trẻ con, đứa mặc võ phục karate chạy qua chạy lại, đứa lao ra khỏi phòng mĩ thuật khoe bố mẹ bức tranh mình mới vẽ, đứa gõ tinh tang vào đàn phiến gõ treo trên tường, đứa vừa đạp nước tung tóe trong hồ bơi hình tròn vừa kêu oai oái. Chúng cười đùa huyên náo tới nỗi cách nhiều lớp kính cửa sổ vẫn nghe thấy.
Một bé gái mặc áo khoác hồng dũng cảm trượt xuống cầu trượt hình mũi voi, sau đó bảo cậu em còn đang run rẩy ngồi bên trên mau xuống theo. Tiếng gọi lanh lảnh của cô bé hòa vào những câu hát thiếu nhi văng vẳng êm tai:
“Chim líu lo, đỉnh núi đã tan băng, sông ngân nga khúc dân ca nhịp nhàng, chú hươu nhỏ tung tăng trong màu nắng, ôi mắt chú trông mới đẹp làm sao. Hoa trong rừng thức dậy thật là sớm, gió mùa xuân ấm áp khẽ mơn man, lá trên cành cùng chào ông mặt trời.”
Nhìn mấy đứa trẻ sống vô tư trong vòng tay che chở của cha mẹ và thầy cô, Lưu Tư Miễu chợt nhớ đến bọn trẻ ở viện bảo trợ, nhớ đến cả chỗ cơm thừa canh cặn cùng những “bát cơm” bẩn thỉu mà Mã Tiếu Trung kể cô nghe…
“Lưu Tư Miễu, sao thế?” Quách Tiểu Phần nhận ra vẻ mặt Lưu Tư Miễu u ám hẳn.
“Không có gì.” Lưu Tư Miễu bước xuống thang cuốn. “Chỉ là tôi thấy vụ án núi Chuột Quét kết thúc sớm thì tốt, tránh gây hoang mang dư luận.”
“Cô yên tâm đi, không có chuyện gây hoang mang dư luận đâu.” Quách Tiểu Phần nói.
“Sao lại không? Các bậc cha mẹ thời nay coi con cái là báu vật. Vấn đề liên quan đến trẻ em dễ thu hút sự chú ý của công chúng nhất. Như mấy vụ giáo viên dùng kim đâm học sinh mầm non… ”
“Ở nông thôn, năm nào chẳng có mấy vụ xâm hại bé gái, nhưng được mấy vụ gây hoang mang dư luận chứ?” Quách Tiểu Phần cười khẩy, “Nói cho cùng, ai cũng chỉ quan tâm đến lợi ích bản thân. Vụ dùng kim đâm học sinh mẫu giáo bị vỡ lở vì nó ảnh hưởng đến tầng lớp trung lưu, tức nhóm đối tượng chủ yếu của phương tiện thông tin đại chúng. Còn chuyện của Viện Bảo trợ và Nuôi dưỡng Trẻ em liên quan gì đến họ? Dẫu có thêm nhiều đứa trẻ tàn tật phải bỏ mạng, người thật sự lo lắng chỉ có những bậc cha mẹ phải rời quê hương lên thành phố làm nhân viên giao hàng, công nhân, quét dọn, người giúp việc… Chứ tầng lớp trung lưu có khi chẳng buồn chia sẻ tin tức này trên WeChat!”
Lưu Tư Miễu ngẩn người. Đúng lúc này thang cuốn xuống đến tầng một. Đẩy cửa bước ra quảng trường Thời Đại Viễn Dương, Lưu Tư Miễu thấy lành lạnh, ngẩng đầu lên chẳng thấy mặt trời đâu. Chú chim sẻ mới nãy còn đậu trên dây điện cũng bay mất tự khi nào.
“Thôi, tôi còn có việc, phải về sở đã.” Lưu Tư Miễu nói với hai người còn lại. “Ta cứ giữ liên lạc nhé… Quách Tiểu Phần nhất định phải cẩn thận khi đi phỏng vấn. Mã Tiếu Trung, anh nhớ bảo vệ Quách Tiểu Phần đấy.”
“Yên tâm đi.” Quách Tiểu Phần đáp.
“Nhất định rồi!” Mã Tiếu Trung cười hì hì.
Nhìn xe của Lưu Tư Miễu đi xa dần, Quách Tiểu Phần lẩm bẩm, “Cô ấy thay đổi rồi.”
“Hả?” Mã Tiếu Trung không hiểu, “Thay đổi chỗ nào? Vẫn là người đẹp hạng nhất mà!”
“Đồ ngốc!” Quách Tiểu Phần lườm anh ta, từ tốn giải thích, “Trước kia cô ấy coi Lâm Hương Minh là nỗi đau khắc sâu trong lòng, còn bây giờ là trách nhiệm đè nặng trên vai.”
Mã Tiếu Trung chở Quách Tiểu Phần trên chiếc xe chạy bằng nhiên liệu thay thế của mình, lái một mạch về phía Tây đến khu Nhuận Đường để tìm tổng giám đốc Trịnh Quý của công ty Minh Di theo đúng kế hoạch đã bàn với Lưu Tư Miễu.
Suốt dọc đường, Mã Tiếu Trung luôn mồm lải nhải với Quách Tiểu Phần ngồi ghế phụ lái, nào là lâu lắm rồi không gặp nên rất nhớ cô, sợ cô sống một mình không biết tự chăm sóc, nào là muốn liên lạc với cô nhưng sợ bị hiểu lầm có ý đồ xấu, nhưng không liên lạc thì lại lo cô thao thức đêm khuya vì tưởng anh quên cô rồi. Anh ta còn nói mình mua chiếc xe này là để có ngày được chở cô như hôm nay, đúng là tu trăm năm mới được ngồi cùng thuyền, tu ngàn năm mới được ngồi xe chạy nhiên liệu thay thế…
Quách Tiểu Phần nghe ong ong cả đầu, phải mở hé cửa sổ rồi ép tai sát kính, liên tục xoa huyệt thái dương. Vừa đến nơi là cô lao vội xuống xe, ôm ngực thở dốc, trông cứ như thợ mỏ vừa thoát khỏi tai nạn sập hầm.
“Sao thế? Say xe à?” Mã Tiếu Trung khóa xe, lom khom chạy tới ân cần hỏi han.
“Không sao, buồn nôn thôi!”
“Buồn nôn?” Mã Tiếu Trung chớp đôi mắt ti hí, “Vì sao lại buồn nôn em hỡi?”
Quách Tiểu Phần bốc hỏa, “Đồ hâm, anh biết vì sao nhiều người thà chết cũng không muốn mua xe chạy bằng nhiên liệu thay thế không?”
“Vì sao?”
“Vì trông nó ngu!”
“Vẫn có Tesla không ngu mà…” Mã Tiếu Trung ra vẻ vô tình chỉ vào mình.
Lần này Quách Tiểu Phần thật sự muốn ói, đấm ngực giậm chân nôn khan một hồi. Vừa đứng thẳng lưng, cô chợt sựng lại. Nhìn theo hướng mắt cô, Mã Tiếu Trung cũng sững người.
Trước cửa tòa nhà mái vòm trắng xám có chữ “D” ở mặt bên, một thanh niên mặc áo khoác bò xanh lam đang cười nói với nhân viên quét dọn gầy gò. Gương mặt non choẹt của thanh niên rất ung dung, ánh mắt dịu dàng, khóe miệng hơi xếch toát lên vẻ kiêu ngạo.
“Hô Diên Vân?” Mã Tiếu Trung bật thốt, “Sao cậu ta ở đây?”
Quách Tiểu Phần quay người đi về xe, lạch cạch kéo cửa.
Mã Tiếu Trung cuống quýt đuổi theo, “Sao thế, không đến Minh Di phỏng vấn Trịnh Quý nữa à?”
“Dẹp!” Quách Tiểu Phần đỏ mặt tía tai, tức tối oán thán, “Tôi không muốn đụng mặt kẻ còn đáng ghét hơn anh!”
Miệng Mã Tiếu Trung vừa hé ra một tí đã ngậm ngay lại. Anh ta vừa mở cửa xe vừa nhăn nhó, “Mình có làm gì đâu?”