“Chúng ta tới nơi rồi,” ông Pollunder nói, đúng vào một trong những khoảnh khắc Karl đang ngủ gật.
Chiếc ô tô đậu trước một ngôi nhà giống kiểu những ngôi nhà nông thôn của người giàu ở vùng phụ cận New York, nó rộng lớn hơn và cao hơn một ngôi nhà nông thôn thông thường cho một gia đình ở. Vì chỉ phần dưới ngôi nhà sáng ánh đèn, ta hoàn toàn không thể xác định được nó cao đến đâu. Những cây dẻ kêu xào xạc phía trước, một lối đi ngắn - cổng song sắt đã mở - xuyên giữa hai hàng cây dẫn tới bậc thềm của ngôi nhà. Qua sự mệt mỏi Karl cảm thấy khi bước xuống xe cậu nghĩ rằng chuyến đi khá dài. Trong bóng tối của lối đi cậu nghe giọng một cô gái nói bên cạnh mình: “Cuối cùng ông Jakob cũng đã tới.”
“Tôi tên là Roßmann,” Karl nói và nắm bàn tay được cô gái chìa ra cho cậu, giờ đây cậu nhận ra hình dạng của nàng.
“Cậu đây chỉ là cháu ông Jakob thôi,” ông Pollunder giải thích, “và tên là Karl Roßmann.”
“Điều này chẳng thay đổi gì hết niềm vui của chúng ta được tiếp đón anh ấy ở đây,” cô gái nói, không chú trọng nhiều đến tên với tuổi.
Tuy nhiên Karl vẫn hỏi trong lúc đi giữa ông Pollunder và cô gái lại gần ngôi nhà: “Chị là Klara?”
“Vâng,” nàng đáp, và ánh sáng từ ngôi nhà đã chiếu một ít vào mặt nàng đang nghiêng về phía Karl, khiến cậu có thể thấy rõ khuôn mặt ấy, “nhưng tôi không muốn tự giới thiệu ở đây, trong bóng tối.”
“Vậy sao nàng lại chờ ở cổng nhỉ?” Karl nghĩ, việc đi bộ đã làm cậu tỉnh táo dần.
“Nhân tiện nói thêm là tối nay chúng ta có thêm một người khách nữa,” Klara nói.
“Không thể!” ông Pollunder bực bội kêu lên.
“Ông Green,” Klara nói.
“Ông ấy tới lúc nào?” Karl hỏi, như lo lắng vì một linh cảm.
“Mới một lúc thôi. Thế bố với anh không nghe tiếng xe ông ấy chạy ngay phía trước sao?”
Karl ngước nhìn ông Pollunder để xem ông nhận xét chuyện này như thế nào, nhưng ông thọc hai tay vào túi quần và chỉ giậm chân hơi mạnh hơn trong lúc đi.
“Sống bên ngoài New York chỉ một chút xíu chẳng ích lợi gì, ta vẫn không tránh khỏi bị quấy rầy. Có lẽ chúng tôi nhất định phải dời chỗ ở ra xa nữa; và tôi sẽ phải chạy xe hết nửa đêm mới về đến nhà.”
Họ dừng lại trước bậc thềm.
“Nhưng lâu lắm rồi ông Green không đến đây,” Klara nói, rõ ràng nàng hoàn toàn đồng ý với bố, song vẫn cố nhẫn nhịn để vỗ về ông.
“Sao ông ấy lại đến đúng vào tối nay,” ông Pollunder nói và lời ông giận dữ lăn qua làn môi dưới dày, chỗ thịt lòng thòng và nặng này rất dễ bị động đậy.
“Tất nhiên!” Klara nói.
“Có thể ông ấy đi ngay ấy mà,” Karl có ý kiến và chính cậu ngạc nhiên về sự đồng thuận với những người mà mới hôm qua còn hoàn toàn xa lạ với mình.
“Không đâu,” Klara nói, “ông ấy có mối làm ăn lớn nào đấy cho bố tôi, có lẽ sẽ phải bàn bạc lâu, vì ông ấy đã dọa đùa rằng nếu tôi muốn là một bà chủ nhà lịch sự thì phải chịu khó nghe tới sáng luôn.”
“Lại còn thế nữa. Vậy là ông ta ở qua đêm luôn!” ông Pollunder kêu lên, như thể qua đó cuối cùng ông đã chạm tới điều tồi tệ nhất. “Quả thật tôi muốn,” ông nói và trở nên thân mật hơn qua những ý nghĩ mới mẻ này, “quả thật tôi muốn lại kéo cậu lên ô tô, cậu Roßmann ạ, và chở cậu về với ông bác của cậu. Buổi tối hôm nay đã bị quấy rầy ngay từ đầu rồi, và ai biết được bao giờ ông bác cậu lại đồng ý cho cậu tới thăm chúng tôi. Nhưng nếu tôi đưa cậu về ngay hôm nay, thì lần tới ông ấy không thể không cho cậu đến với chúng tôi được.”
Và ông đã nắm lấy tay Karl để thực hiện kế hoạch của mình. Nhưng Karl không nhúc nhích và Klara yêu cầu để cậu ở lại, vì ít nhất nàng và Karl sẽ không thể bị ông Green quấy rầy mảy may và cuối cùng ông Pollunder cũng tự nhận thấy quyết định của mình không phải là tốt nhất. Hơn nữa - và có lẽ đây là điều then chốt - họ đột nhiên nghe ông Green từ bậc thềm trên cùng gọi xuống dưới vườn: “Các người ở đâu thế?”
“Nào,” ông Pollunder nói và bước ngoặt lên thềm. Karl và Klara đi sau ông, giờ đây họ nhìn kỹ nhau trong ánh đèn.
“Môi nàng đỏ thật đấy,” Karl tự nhủ và nghĩ tới đôi môi của ông Pollunder và việc chúng chuyển hóa sang cô con gái mới tuyệt vời sao.
“Sau bữa ăn tối,” nàng nói, “nếu anh đồng ý, chúng ta sẽ lên ngay phòng tôi, để nếu bố tôi đã phải tiếp chuyện ông Green, thì ít nhất chúng ta cũng thoát khỏi ông ta. Và rồi anh sẽ thân ái chơi piano cho tôi nghe, vì bố tôi kể anh đàn giỏi lắm, còn tôi rất tiếc hoàn toàn không có khả năng và không đụng tới piano của mình, dù đúng ra tôi rất yêu thích âm nhạc.”
Karl hoàn toàn đồng ý với đề nghị của Klara, tuy cậu cũng rất muốn có cả ông Pollunder tham gia nữa. Tuy nhiên trước hình hài đồ sộ của ông Green - Karl mới vừa quen với vóc dáng của ông Pollunder - đang từ từ hiện ra trước mặt khi họ leo lên những bậc thềm, Karl tiêu tan mọi hy vọng lôi kéo thế nào đấy ông Pollunder ra khỏi người đàn ông này trong buổi tối hôm nay.
Ông Green vội vội vàng vàng đón họ, như thể họ đã mất nhiều thời gian lắm rồi, ông nắm cánh tay ông Pollunder và đẩy Karl cùng Klara đi tới trước vào phòng ăn; đặc biệt nhờ trên bàn có những đóa hoa nghiêng nghiêng vươn lên từ những đám lá tươi khiến phòng ăn trông rất trang trọng và mọi người cảm thấy đáng tiếc gấp đôi về sự hiện diện của ông Green phá đám. Karl vừa mới mừng (cậu đang đứng ở bàn chờ mọi người ngồi xuống) rằng cánh cửa kính lớn trông ra vườn sẽ được để mở, vì một mùi hương ngào ngạt bay vào như thể phòng ăn là ngôi nhà hóng mát trong vườn, thì ông Green đã thở phì phò đi ngay tới đóng cửa kính này lại, ông cúi xuống những cái chốt dưới cùng rồi vươn lên những chốt trên cùng, mọi động tác nhanh nhẹn như thanh niên, đến mức khi tay người hầu đâm bổ tới thì chẳng còn gì để làm nữa. Lời lẽ đầu tiên của ông Green ở bàn là những biểu thị sự kinh ngạc về chuyện Karl được ông bác cho phép đến đây thăm. Ông vừa múc hết thìa xúp đầy này tới thìa xúp đầy khác đưa lên miệng vừa giải thích sang bên phải cho Klara, sang bên trái cho ông Pollunder, tại sao ông ta ngạc nhiên như vậy và ông bác trông chừng Karl ra sao và tình thương của ông bác dành cho Karl quá lớn, khiến ta khó có thể gọi đó là tình thương của một ông bác.
“Ông ta mò đến đây không cần thiết còn chưa đủ, lại can thiệp luôn cả vào chuyện giữa hai bác cháu mình nữa,” Karl nghĩ và không nuốt trôi một hớp nào của món xúp vàng óng. Nhưng rồi cậu lại không muốn người ta nhận thấy mình xiết bao bối rối, nên bắt đầu lặng lẽ tọng xúp vào miệng. Bữa ăn trôi đi chậm chạp như một điều phiền toái. Chỉ ông Green, và cùng lắm thêm Klara nữa, là sinh động và đôi lúc tìm được cơ hội cho một tiếng cười ngắn ngủi. Chỉ vài lần ông Pollunder bị lôi kéo vào cuộc trao đổi ý kiến, khi ông Green bắt đầu nói về kinh doanh. Nhưng ông cũng nhanh chóng rút khỏi những cuộc trò chuyện này và sau một thời gian ông Green lại phải gây bất ngờ cho ông với chủ đề ấy. Tiện thể ông Green nhấn mạnh - lúc ấy vì Karl lắng nghe, như có gì đấy đe dọa mình, Klara đã phải lưu ý cậu rằng món thịt quay ở trước mặt và cậu đang ngồi tại bữa ăn tối - rằng ngay từ đầu ông đã không có ý định thực hiện chuyến viếng thăm bất ngờ này. Vì cho dù chuyện làm ăn, mà ông với ông Pollunder sẽ còn nói tới, đặc biệt gấp gáp, thì chí ít điều quan trọng nhất vẫn có thể bàn bạc hôm nay trong thành phố và điều kém quan trọng hơn có thể để dành lại cho ngày mai hoặc hôm sau. Thế nên trước khi ngân hàng đóng cửa rất lâu, ông quả thật cũng đã ghé ông Pollunder rồi, nhưng không gặp, khiến ông buộc phải gọi điện thoại về nhà, bảo tối nay ông không về và lái xe tới đây.
“Thế thì cháu phải xin lỗi,” Karl nói lớn và trước khi ai đó kịp trả lời, cậu đã nói tiếp, “vì cháu có lỗi về việc hôm nay ông Pollunder rời nhiệm sở sớm hơn và cháu rất lấy làm tiếc về chuyện đó.”
Ông Pollunder che phần lớn khuôn mặt mình bằng tấm khăn ăn, trong khi Klara tuy mỉm cười với Karl, nhưng đó không phải là nụ cười thông cảm, mà nó cần gây ảnh hưởng lên cậu thế nào ấy.
“Đâu cần phải xin lỗi,” ông Green nói trong lúc hăm hở ấn mạnh dao xẻ thịt con bồ câu, “mà hoàn toàn ngược lại, quả tình tôi rất vui được qua buổi tối với những người dễ chịu thế này, thay vì ăn tối một mình ở nhà; ở đó tôi được bà quản gia già phục vụ, bà ta già đến nỗi đoạn đường từ cửa tới bàn của tôi đã là khó nhọc đối với bà ta và tôi có thể ngồi tựa ghế thật lâu, nếu muốn quan sát bà ấy đi đứng. Mãi gần đây tôi mới đạt được chuyện người hầu bưng món ăn tới cửa phòng ăn, còn đoạn đường từ cửa tới bàn ăn của tôi, nếu tôi hiểu đúng bà quản gia, vẫn thuộc bà ấy.”
“Lạy Chúa,” Klara kêu lên, “quả là một con người trung thành!”
“Phải, trên đời vẫn còn sự trung thành,” ông Green nói và đưa một miếng vào miệng, nơi cái lưỡi phấn khởi đớp lấy thức ăn, như Karl tình cờ nhận thấy. Cậu suýt buồn nôn và đứng dậy. Ông Pollunder và Klara đã nắm lấy hai bàn tay Karl gần như cùng lúc.
“Anh phải ngồi lại,” Klara nói. Và khi cậu đã ngồi lại, nàng thì thầm với cậu: “Chúng mình sắp cùng nhau chuồn được rồi. Anh hãy kiên nhẫn.”
Trong lúc đó ông Green thản nhiên lo việc ăn uống của mình, như thể nhiệm vụ đương nhiên của ông Pollunder và Klara là trấn an Karl, khi ông làm cho cậu buồn nôn.
Bữa ăn kéo dài, đặc biệt do sự tỉ mỉ của ông Green khi xử lý từng món ăn, cho dù ông luôn sẵn sàng đón nhận không mệt mỏi mọi món mới, có vẻ như ông thật sự muốn hồi phục triệt để khỏi bà quản gia già. Thỉnh thoảng ông khen ngợi nghệ thuật của Klara trong chuyện quản lý việc nhà, rõ ràng là tâng bốc nàng, trong khi Karl tìm cách đáp trả, như thể ông đã đả kích nàng. Nhưng ông Green không chỉ hài lòng với việc khen ngợi nàng, mà còn thường phàn nàn, song mắt không ngước khỏi đĩa, rằng Karl ăn uống uể oải thấy rõ. Ông Pollunder bênh vực sự kém ngon miệng của Karl, tuy lẽ ra với tư cách chủ nhà ông cũng nên khuyến khích Karl ăn thêm. Và quả thật Karl cảm thấy khó chịu vì sự ép uổng mà mình phải chịu đựng trong suốt bữa ăn, đến mức cậu đã diễn giải, ngược với óc suy xét đúng đắn của mình, ý kiến của ông Pollunder là không thân thiện. Và điều đó hoàn toàn phù hợp với tâm trạng lúc này của cậu, khiến cậu đột nhiên ngốn thật nhanh và nhiều, hoàn toàn không đúng nơi đúng lúc, để rồi mệt mỏi buông dao nĩa một lúc lâu và là kẻ ì nhất trong nhóm, khiến anh hầu lo việc mời món ăn thường không biết phải làm gì với cậu.
“Ngay ngày mai tôi sẽ kể với ngài thượng nghị sĩ rằng cậu đã xúc phạm cô Klara như thế nào qua việc cậu không chịu ăn,” ông Green nói và tự giới hạn ý định đùa bỡn của lời nói này qua cách thức ông sử dụng dao nĩa. “Cậu cứ nhìn cô ấy xem cô ấy buồn nhường nào,” ông nói tiếp và nâng cằm Klara. Nàng cứ để yên và nhắm mắt lại.
“Cô bé ơi!” ông kêu lên, ngả người ra sau ghế và cười, mặt đỏ gay với sức mạnh của kẻ đã no nê. Karl cố giải thích thái độ của ông Pollunder, nhưng hoài công. Ông ngồi trước cái đĩa của mình, nhìn vào đó, như thể chuyện thật sự quan trọng xảy ra ở đấy. Ông không kéo ghế của Karl lại gần mình hơn và nếu có lần nào nói, thì ông nói với mọi người, còn với Karl ông chẳng có gì để nói riêng. Ngược lại ông chịu để yên cho Green, lão già độc thân láu cá người New York này sờ mó Klara với ý định rõ rệt, để yên cho lão nhục mạ Karl, khách của ông, hoặc ít nhất cư xử với Karl như con nít và ai mà biết được Green định làm ra những hành động tồi tệ nào nên lão ăn uống tẩm bổ đẫy.
Sau khi bữa tiệc kết thúc - khi Green nhận ra bầu không khí chung, ông ta là người đầu tiên đứng dậy và có thể cho là đã kéo mọi người đứng lên theo - Karl tách ra một mình đi tới một trong những khung cửa sổ to (được phân ra bằng những thanh nẹp nhỏ màu trắng) dẫn ra hàng hiên và đúng ra không phải cửa sổ mà cửa thật sự, như cậu nhận thấy khi lại gần. Giờ đây mối ác cảm ban đầu mà ông Pollunder cùng cô con gái cảm thấy đối với ông Green - lúc ấy Karl thấy có vẻ hơi khó hiểu - còn lại những gì? Giờ đây họ cùng đứng bên ông Green và gật gù với ông ta. Khói từ điếu xì gà của ông Green, quà tặng của ông Pollunder (về độ lớn của nó thì bố cậu ở nhà thỉnh thoảng vẫn hay kể đúng như thế, dù có lẽ ông chưa bao giờ thấy tận mắt), tỏa khắp phòng và đem ảnh hưởng của ông Green vào tận những ngóc ngách mà bản thân ông ta sẽ chẳng bao giờ đặt chân tới. Tuy Karl đứng cách xa đến thế, cậu vẫn cảm thấy mũi bị nhột vì khói ấy và thái độ của ông Green, mà từ chỗ đang đứng cậu chỉ thoáng quay nhìn ông ta có mỗi một lần, theo cậu là bỉ ổi. Giờ đây Karl hoàn toàn không loại trừ rằng sở dĩ ông bác mãi mới chịu cho phép cậu đi, vì ông bác biết ông Pollunder tính tình yếu đuối và vì thế ông bác thấy trước, tuy không chính xác nhưng trong phạm vi có thể, rằng Karl sẽ bị xúc phạm trong lần thăm viếng này. Cả cô gái người Mỹ cậu cũng không ưa, tuy trước khi tới đây cậu tuyệt đối không chờ đợi rằng có thể nàng xinh đẹp hơn nhiều. Từ lúc ông Green bận bịu nhiều với nàng, cậu thậm chí ngạc nhiên vì khuôn mặt nàng lại có thể đẹp đến thế và nhất là vẻ tuyệt vời trong đôi mắt xúc động mãnh liệt của nàng. Cậu chưa từng thấy cái váy nào ôm khít thân thể như chiếc váy của nàng, những nếp nhăn nho nhỏ trên làn vải màu ngà mịn và chắc cho thấy độ căng của nó. Vậy mà Karl hoàn toàn không quan tâm đến nàng và sẵn sàng khước từ được dẫn lên phòng nàng, nếu thay vì thế cậu mở được cái cửa (hai tay cậu đã sẵn sàng đặt trên nắm đấm của nó), leo lên ô tô hoặc, nếu người tài xế đã ngủ, được phép một mình đi bộ về New York. Đêm quang đãng cùng vầng trăng tròn trìu mến rộng mở cho bất kỳ ai và theo Karl thấy ở ngoài trời kia mà sợ hãi thì rõ thật vớ vẩn. Cậu tưởng tượng - và lần đầu tiên cậu thấy dễ chịu trong căn phòng này - mình sẽ làm ông bác ngạc nhiên biết mấy vào sáng mai - cậu sẽ không thể về tới nhà sớm hơn nếu đi bộ. Tuy cậu chưa bao giờ vào phòng ngủ của ông, cũng hoàn toàn không biết nó nằm chỗ nào, nhưng cậu sẽ hỏi được thôi. Rồi cậu sẽ gõ cửa và khi nghe câu “Vào đi!” hình thức, cậu chạy ùa vào phòng và bất ngờ gặp ông bác yêu quý (mà đến nay cậu chỉ luôn thấy đương đầy đủ áo xống, cúc cài kín mít), mặc đồ ngủ, ngồi thẳng trên giường, mắt sửng sốt hướng ra cửa. Thật ra có lẽ chuyện này chẳng ghê gớm gì, nhưng ta phải suy tính kỹ những hệ quả mà nó có thể gây ra. Có thể cậu sẽ ăn sáng lần đầu tiên với ông bác, ông bác trên giường, cậu trên ghế, món điểm tâm để trên một chiếc bàn con đặt giữa hai bác cháu, có thể bữa ăn sáng chung này sẽ trở thành một sinh hoạt thường xuyên, có thể vì kiểu ăn sáng này mà họ sẽ gặp nhau thường xuyên hơn thay vì chỉ một lần trong ngày như cho tới nay (điều này thậm chí khó tránh khỏi) và rồi đương nhiên họ cũng có thể trò chuyện cởi mở hơn. Rốt cuộc thì cũng chỉ vì thiếu sự trò chuyện cởi mở này mà hôm nay cậu đã không vâng lời đôi chút, hay đúng hơn, đã bướng bỉnh đối với ông bác. Và ngay cả nếu hôm nay cậu phải ở lại đây qua đêm - tiếc thay có vẻ sẽ hoàn toàn như thế thật, tuy người ta để mặc cậu đứng ở cửa sổ và tự ý tiêu khiển - có thể cuộc viếng thăm đáng tiếc này đã trở thành bước ngoặt làm tốt hơn mối quan hệ với ông bác, có thể tối nay ông bác cũng có những ý nghĩ tương tự trong phòng ngủ của mình.
Được an ủi đôi chút, cậu quay người lại. Klara đứng trước mặt cậu và nói: “Anh hoàn toàn không thích ở đây với chúng tôi sao? Anh không cảm thấy chút ít thân thuộc như ở nhà ư? Nào, tôi muốn thử lần cuối cùng.”
Nàng dẫn cậu đi ngang qua phòng, ra tới cửa. Ở một cái bàn bên cạnh hai ông kia đang ngồi bên những chiếc ly cao đựng đầy thứ nước uống hơi sủi bọt mà Karl không biết đó là nước gì và muốn nếm thử. Ông Green tì một khuỷu tay lên bàn, cả bộ mặt ông gí gần sát ông Pollunder; nếu ta không quen biết ông Pollunder, hẳn ta rất có thể cho rằng họ đang bàn bạc việc gì đấy tội lỗi, chứ không phải chuyện làm ăn. Trong khi ông Pollunder thân ái nhìn theo Karl ra tới cửa, ông Green lại chẳng quay nhìn Karl chút nào (dù người ta thường có thói quen bất giác nhìn theo ánh mắt người đối diện); theo Karl thấy thì thái độ này nói lên một kiểu niềm tin vững chắc của ông Green rằng ở đây mỗi người phải thử xoay xở theo năng lực riêng, Karl cho mình và Green cho ông ta, mối quan hệ xã hội tất yếu giữa họ sẽ được hình thành đúng lúc qua thắng lợi hoặc diệt vong của một trong hai người. “Nếu ông ta nghĩ thế,” Karl tự nhủ, “thì ông ta là một người khờ dại. Mình thật sự chẳng muốn gì hết ở ông ta và ông ta cũng nên để mình yên.”
Vừa ra tới hành lang, cậu sực nhớ có lẽ mình đã cư xử bất lịch sự, vì trong lúc dán mắt vào ông Green, cậu đã gần như để cho Klara lôi ra khỏi phòng. Nên giờ đây cậu đi cạnh nàng một cách ngoan ngoãn hơn. Trên đường đi qua những hành lang cậu mới đầu không tin vào mắt mình, khi cứ mỗi hai mươi bước lại thấy một người hầu mặc chế phục lộng lẫy đứng, hai tay nắm chặt cái thân to của một đài cắm nến.
“Cho đến nay đường dây điện mới mẻ mới chỉ được lắp đặt trong phòng ăn,” Klara giải thích. “Chúng tôi mua ngôi nhà này mới gần đây thôi và thuê người xây lại hoàn toàn, trong chừng mực mà một ngôi nhà cũ với lối kiến trúc lì lợm của nó cho phép xây dựng lại được.”
“Thế tức là ở Mỹ cũng đã có những ngôi nhà cũ rồi,” Karl nói.
“Dĩ nhiên,” Klara cười nói và kéo cậu đi tiếp. “Anh có những quan niệm thật lạ lùng về nước Mỹ.”
“Chị không nên chế giễu tôi,” cậu bực tức nói. Dẫu sao cậu đã biết châu Âu và nước Mỹ, còn nàng chỉ biết mỗi nước Mỹ thôi.
Khi đi qua một cánh cửa, Klara hơi đưa tay đẩy nó ra và nói mà không dừng lại: “Anh sẽ ngủ ở đây.”
Đương nhiên Karl muốn quan sát căn phòng ngay, nhưng Klara sốt ruột giải thích, gần như hét, rằng sẽ còn có thì giờ cho việc ấy và trước đó cậu hãy đi theo nàng đã. Họ giằng co một lúc trong hành lang, cuối cùng Karl cho rằng không nhất nhất chuyện gì mình cũng phải làm theo Klara, nên đã vùng khỏi nàng và vào trong phòng đó. Bóng tối bất ngờ trước khung cửa sổ hóa ra là do một ngọn cây đang đung đưa hết cỡ. Nghe có tiếng chim hót. Trong căn phòng, nơi ánh trăng còn chưa rọi tới, tất nhiên ta hầu như không thể phân biệt được gì. Karl hối tiếc đã không mang theo chiếc đèn pin được ông bác tặng. Trong ngôi nhà này một cái đèn pin quả là không thể thiếu được, giá mà có vài đèn pin như thế, người ta có thể cho các người hầu đi ngủ. Cậu ngồi trên bệ cửa sổ, nhìn và lắng nghe bên ngoài. Một con chim bị khiếp sợ dường như đang rúc qua tán lá của cái cây cổ thụ. Tiếng còi của một đoàn xe lửa ngoại ô New York vang lên đâu đó ở vùng quê. Còn thì yên ắng.
Nhưng chẳng được lâu, vì Klara đã vội vã bước vào. Nàng kêu lên, rõ ràng cáu kỉnh: “Thế là thế nào?” và vỗ vỗ lên váy. Karl định sẽ chỉ trả lời khi nào nàng tỏ ra lịch sự hơn. Nhưng nàng đã sải bước về phía cậu, kêu to: “Thế anh có muốn đi với tôi hay không?” rồi, vì cố ý hoặc chỉ vì khích động, đẩy vào ngực cậu mạnh đến nỗi cậu sẽ ngã lộn ra ngoài cửa sổ, nếu vào giây phút chót cậu không kịp trượt khỏi bệ cửa sổ, hai chân chạm sàn nhà.
“Tí nữa thì tôi lộn cổ ra ngoài rồi,” cậu trách.
“Đáng tiếc chuyện ấy đã không xảy ra. Sao anh lại khó bảo thế! Tôi đẩy anh xuống lần nữa.”
Và quả thật nàng đã ghì chặt cậu và, bằng cơ thể được thể thao tôi luyện, vác cậu, mới đầu cậu sửng sốt quên trì người xuống, gần tới cửa sổ. Nhưng lúc đó cậu hoàn hồn, xoay hông thoát ra được và ôm chặt lấy nàng.
“Ái, anh làm tôi đau,” nàng lập tức kêu lên.
Nhưng lúc này Karl nghĩ rằng không được buông nàng ra nữa. Tuy cậu để nàng được tự do bước, nhưng vẫn bám theo chứ không buông. Vả lại cũng rất dễ túm nàng trong cái váy chật.
“Buông tôi ra,” nàng thì thầm, khuôn mặt nóng bừng ghé sát mặt Karl, sát đến nỗi cậu phải căng mắt để nhìn nàng. “Buông tôi ra, tôi sẽ cho anh món này rất đẹp.”
“Sao nàng thở dài thế nhỉ?” Karl nghĩ, “nàng không thể nào đau được, mình đâu có ấn” và cậu chưa buông nàng ra. Nhưng đột nhiên, sau một khoảnh khắc đứng đó im lặng, không cảnh giác, cơ thể cậu lại cảm thấy sức mạnh dần tăng của nàng và nàng vùng khỏi cậu, túm cậu bằng cú nắm điêu luyện, cản đôi chân cậu bằng bộ vị bàn chân của một môn võ lạ và, nàng lấy hơi với sự đều đặn tuyệt vời, du cậu tới bên tường. Ở đó có một cái trường kỷ, nàng đẩy Karl xuống đấy và nói với cậu, mà không cúi xuống quá thấp:
“Bây giờ nhúc nhích đi, nếu chú mày làm được.”
“Đồ mèo cái, mèo cái điên,” Karl chỉ kịp kêu lên trong tình trạng rối loạn vừa giận dữ lẫn xấu hổ của mình hiện giờ.
“Mi đúng là điên, đồ mèo cái điên!”
“Chú mày hãy liệu liệu cái mồm,” nàng nói và một bàn tay lướt tới cổ cậu, nàng bắt đầu bóp thật mạnh, đến nỗi Karl hoàn toàn không có khả năng làm gì khác hơn là đớp đớp không khí, trong khi nàng đưa tay kia lên má cậu, vuốt như để thử nghiệm, rồi rút tay về, cứ tiếp tục như thế và bất cứ lúc nào cũng có thể giáng xuống một bạt tai.
“Chú mày nghĩ thế nào,” lúc ấy nàng hỏi, “nếu tôi tống cổ chú mày về nhà bằng một cái tát đích đáng để trừng phạt thái độ của chú mày đối với một cô nương? Có thể nó sẽ hữu ích cho đường đời tương lai của chú mày, tuy không để lại một kỷ niệm đẹp. Tôi lấy làm tiếc cho chú mày, chú mày khá xinh trai và giá như chú mày từng học môn jiu-jitsu, chắc hẳn chú mày đã nện tôi nên thân. Tuy thế, tuy thế - tôi gần như bị cám dỗ ghê gớm được bạt tai chú mày, giờ đây khi chú mày nằm đó như vậy. Có thể tôi sẽ cảm thấy không vui; nhưng nếu tôi bạt tai chú mày, thì chú mày nên biết ngay từ bây giờ rằng điều đó gần như trái với ý muốn của tôi. Và rồi tất nhiên tôi sẽ không hài lòng với chỉ một bạt tai thôi, mà sẽ tát bên phải rồi bên trái, cho đến lúc hai má chú mày sưng húp. Có thể chú mày là người trọng danh dự - tôi rất muốn tin như thế - sẽ không muốn tiếp tục sống nữa và biến khỏi thế gian này. Nhưng tại sao chú mày lại có thái độ như thế đối với tôi? Có thể chú mày không ưa tôi chăng? Có phải lên phòng tôi là không đáng chăng? Coi chừng! Suýt nữa tôi đã bất ngờ giáng cho chú mày một cái tát rồi đấy. Vậy nếu hôm nay chú mày còn thoát được, thì mai đây hãy cư xử lịch sự hơn nhé. Tôi không phải ông bác của chú mày để chú mày có thể thách đố. Ngoài ra tôi còn muốn chú mày lưu ý, nếu tôi thả chú mày mà không bạt tai, thì chú mày chớ nghĩ rằng hoàn cảnh hiện giờ của chú mày và việc chú mày thật sự bị tát chẳng khác gì nhau, xét từ quan điểm của danh dự. Nếu chú mày vẫn thích nghĩ như thế, tôi ưng được tát chú mày thật sự. Mack sẽ nói sao, khi tôi kể hết những chuyện này cho anh ấy?”
Khi nhớ tới Mack, nàng buông Karl ra; trong những cảm nghĩ mơ hồ của mình cậu thấy Mack như một cứu tinh. Cậu vẫn còn cảm thấy bàn tay của Klara trên cổ mình một lúc nữa, nên chỉ hơi quay qua quay lại, rồi nằm im.
Nàng ra lệnh cho cậu đứng dậy, cậu không trả lời, cũng không nhúc nhích. Nàng thắp một ngọn nến ở đâu đó, căn phòng bừng sáng, những đường ngoằn ngoèo xanh lơ hiện ra trên trần, nhưng Karl nằm, gối đầu lên cái gối dài, y như lúc Klara đặt cậu xuống, và không cựa quậy một ly. Klara đi quanh phòng, váy kêu sột soạt quanh hai chân nàng, có lẽ nàng dừng lại một lúc lâu bên cửa sổ.
“Hết bướng chưa?” rồi ta nghe nàng hỏi.
Karl cảm thấy đau đớn, vì không được bình yên trong chính căn phòng mà ông Pollunder đã dành cho cậu tối nay. Vì cô gái kia cứ hết đi quanh lại dừng, lại nói và cậu đã chán nàng khôn xiết. Ngủ thật nhanh và chuồn khỏi đây là ước muốn duy nhất của cậu. Cậu hoàn toàn không muốn vào giường nữa, chỉ muốn nằm trên trường kỷ này thôi. Cậu chỉ rình nàng đi khỏi, để nhảy theo sau nàng tới cửa, cài chốt, rồi quay lại buông người trên trường kỷ. Cậu thèm được duỗi người và ngáp, nhưng không muốn làm thế trước mặt Klara. Và cậu nằm như thế, đăm đăm nhìn lên trần, cảm thấy mặt mình càng lúc càng cứng đờ và một con ruồi cứ chập chờn lượn quanh trước mắt, mà cậu không thật biết đó là gì. Klara lại tiến tới gần, cúi xuống theo hướng ánh mắt Karl và nếu không kiềm chế được, cậu đã phải nhìn nàng rồi.
“Tôi đi đây,” nàng nói. “Có thể lát nữa chú mày có hứng qua phòng tôi. Cửa phòng tôi là cái thứ tư, tính từ cửa này, phía bên đây hành lang. Tức là chú mày đi qua ba cửa nữa, cái kế tiếp là đúng nó. Tôi không xuống phòng dưới kia nữa đâu, mà ở lại trong phòng tôi. Chú mày cũng đã làm tôi mệt thật sự đấy. Tôi sẽ không chờ chú mày đâu, nhưng nếu chú mày thích, thì cứ qua. Hãy nhớ rằng chú mày đã hứa chơi piano cho tôi nghe đấy. Song có thể tôi đã làm chú mày kiệt sức rồi và chú mày không nhúc nhích nổi nữa, vậy cứ ở lại đây và ngủ cho đẫy giấc. Tạm thời tôi sẽ không hé một lời nào với bố tôi về trận ẩu đả của chúng ta. Tôi nói thế phòng trường hợp chuyện này làm chú mày lo lắng.” Rồi, dù bảo rằng rất mệt, nàng chạy ra khỏi phòng chỉ với hai bước nhảy.
Karl lập tức ngồi thẳng dậy, nằm mãi thế này khiến cậu chịu không nổi. Để vận động đôi chút cậu đi tới cửa và nhìn ra hành lang. Ở đó mới tối làm sao! Cậu thấy mừng khi đã đóng và gài cửa, rồi quay lại đứng bên chiếc bàn dưới ánh nến. Quyết định của cậu là không nán lại lâu trong ngôi nhà này, mà xuống dưới kia gặp ông Pollunder, thẳng thắn nói với ông việc Klara đã đối xử với mình thế nào - cậu thấy chẳng sao cả khi thú nhận mình thua - và với luận chứng hẳn là đầy đủ này, cậu xin phép được chở bằng ô tô hoặc đi bộ về nhà. Nếu ông Pollunder có gì phản đối việc trở về lập tức này, Karl sẽ xin ông ít nhất cho một người hầu dẫn mình tới khách sạn gần nhất. Tuy thông thường người ta không cư xử như cách Karl dự tính với những chủ nhà hiếu khách, nhưng người ta lại càng hiếm khi cư xử với khách như Klara đã làm. Thậm chí nàng còn cho lời hứa của mình, tạm thời không kể gì hết với ông Pollunder về vụ đánh lộn, là một thái độ tử tế. Thật quá quắt! Ờ, chẳng lẽ Karl đã được mời tới một trận đấu vật, để đến nỗi cậu phải xấu hổ vì bị quật ngã bởi một cô gái có lẽ đã dành phần lớn cuộc đời để học những mánh lới của đô vật? Có lẽ nàng đã học từ Mack. Nàng cứ việc kể hết cho anh ta; chắc chắn anh ta phân biệt được phải quấy, Karl biết thế, tuy cậu chưa từng được trải nghiệm cụ thể. Song Karl cũng biết rằng nếu được Mack chỉ dạy, cậu sẽ còn tiến xa hơn Klara nhiều; rồi một ngày nào đó cậu sẽ quay lại đây, khả năng rất lớn là không được mời, tất nhiên trước hết cậu sẽ nghiên cứu địa thế, một ưu thế lớn của Klara là biết rõ địa hình, rồi tóm lấy cũng ả Klara này và dùng ả đập cho sạch bụi cái trường kỷ nhỏ mà bữa nay ả đã quẳng cậu lên đó.
Bây giờ chỉ cốt sao Karl tìm được lối quay lại phòng ăn, nơi mà có lẽ do lúc đầu lơ đãng cậu cũng đã để bừa cái mũ của mình ở chỗ nào đó. Tất nhiên cậu muốn cầm theo cây nến, nhưng ngay cả khi có ánh sáng, cũng không dễ tìm ra đường. Chẳng hạn cậu không hề biết căn phòng này có nằm cùng tầng với phòng ăn không. Trên đường tới đây Klara cứ một mực kéo cậu đi, khiến cậu hoàn toàn không thể đánh giá được chung quanh. Ông Green và những người hầu cầm giá nến cũng đã khiến cậu phân tâm; nói tóm gọn, quả thật giờ đây Karl hoàn toàn không biết họ đã đi qua một hay hai hay có thể không qua cầu thang nào. Xét theo toàn cảnh thì căn phòng này ở khá cao, do đó cậu thử hình dung rằng họ đã đi qua vài cầu thang, nhưng ngay lúc tới cửa để vào nhà họ đã phải leo cầu thang rồi, thế thì tại sao phía này của ngôi nhà lại không thể cũng được nâng cao chứ? Giá mà trên hành lang ít nhất thấy được ở đâu đó một tia sáng yếu ớt lọt ra từ một cái cửa hoặc nghe được một tiếng nói từ phía xa dù thật khẽ!
Chiếc đồng hồ bỏ túi, quà tặng của ông bác, chỉ mười một giờ, cậu cầm cây nến và đi ra ngoài hành lang. Cậu để cửa ngỏ, để nhỡ tìm đường không ra thì ít nhất cũng tìm lại được phòng của mình và sau đó, trong trường hợp cực kỳ khẩn cấp, cửa phòng Klara. Cho chắc chắn, cậu lấy ghế chặn cánh cửa để nó khỏi tự đóng lại. Trong hành lang chẳng may Karl gặp phải một luồng gió - đương nhiên cậu đi về phía trái, ngược hướng phòng Klara - tuy rất nhẹ, nhưng dẫu sao cũng có thể dễ dàng làm tắt nến, khiến Karl phải lấy tay che, ngoài ra cậu còn thường phải dừng lại, để ngọn lửa đang lụi dần hồi phục lại. Karl tiến tới rất chậm và con đường vì thế dường như dài gấp đôi. Karl đi qua một đoạn tường dài không có chiếc cửa nào, cậu không thể hình dung được đằng sau nó là gì. Rồi cửa lại san sát nhau, cậu thử mở nhiều cái, thấy chúng đều khóa và những phòng ấy hẳn là không có người ở. Thật là một sự phí phạm phòng ốc có một không hai, và Karl nghĩ tới những khu phố ở phía Đông New York mà ông bác đã hứa sẽ chỉ cho cậu, nghe bảo ở đó nhiều hộ cư ngụ trong một phòng con và tổ ấm của một gia đình chỉ gồm một góc phòng, nơi lũ trẻ túm tụm quanh cha mẹ chúng. Còn ở đây có nhiều phòng bỏ trống đến thế, chỉ để nghe vang lên âm thanh trống rỗng, khi ta gõ cửa. Theo Karl thấy thì ông Pollunder bị bạn bè giả dối lừa gạt và vì ông yêu cô con gái quá mức nên mới sinh đốn. Chắc chắn ông bác đã nhận xét đúng về ông Pollunder và chỉ vì nguyên tắc của ông bác, không gây ảnh hưởng lên việc Karl nhận xét con người, nên mới có chuyến viếng thăm này và chuyện Karl lang thang trong các hành lang. Karl muốn nói thẳng điều này với ông bác vào ngày mai, vì theo nguyên tắc của ông bác thì có lẽ ông cũng sẽ thích thú và điềm tĩnh chăm chú nghe đứa cháu nhận xét về ông. Ngoài ra, có lẽ nguyên tắc này là điều duy nhất mà Karl không thích ở ông bác, và ngay cả sự không thích này cũng không phải là vô điều kiện.
Chợt bức tường ở một bên hành lang kết thúc và thay vào đó là một hàng lan can bằng đá hoa cương lạnh ngắt. Karl đặt nến xuống bên cạnh và thận trọng cúi nhìn qua. Một khoảng không lờ mờ ập vào cậu. Nếu đó là sảnh chính của ngôi nhà - một mảng trần hình vòm hiện ra trong ánh nến lung linh - thì tại sao hồi tối họ không vào nhà qua sảnh này? Căn phòng sâu và rộng này dùng để làm gì nhỉ? Ta đứng ở trên đây cứ như tại hành lang nhà thờ. Karl gần như nuối tiếc không thể ở lại trong ngôi nhà này đến ngày mai, cậu rất muốn được ông Pollunder dẫn đi thăm thú khắp nơi trong ánh sáng ban ngày và giải thích mọi thứ.
Hàng lan can không dài và Karl lại nhanh chóng lọt vào trong hành lang khép kín. Ở một chỗ ngoặt đột ngột Karl đâm sầm vào bức tường, và chỉ nhờ cậu luôn thận trọng cầm chặt cây nến mới may mắn giữ được nó khỏi rơi và tắt ngấm. Vì hành lang mãi không chịu hết, không đâu có cửa sổ để nhìn ra được bên ngoài, cả ở trên cao lẫn dưới thấp chẳng thấy gì nhúc nhích, Karl ngờ rằng mình đang không ngừng đi lòng vòng trong cùng cái hành lang hình tròn và đã hy vọng có thể sẽ tìm thấy lại khung cửa để ngỏ của phòng mình, nhưng cả nó lẫn hàng lan can đều không xuất hiện lại. Cho đến giờ Karl vẫn dè dặt không kêu toáng lên, vì cậu không muốn gây ồn ào trong một ngôi nhà lạ vào lúc khuya khoắt như thế này, nhưng bây giờ cậu nhận thấy việc kêu chẳng có gì là sai trái trong ngôi nhà không được chiếu sáng này và vừa định hét to một tiếng “ai ơi!” về hai phía hành lang, thì cậu phát hiện ra ở hướng mình vừa đi qua một đốm sáng đang tới gần. Mãi lúc ấy cậu mới có thể ước lượng được chiều dài của cái hành lang thẳng tắp; ngôi nhà này là một pháo đài, chứ không phải biệt thự. Niềm hân hoan của Karl trước ánh sáng cứu mạng này lớn đến mức cậu quên khuấy mọi sự thận trọng và chạy ngay tới đó; nhưng mới phóng được vài bước nến của cậu đã tắt phụt. Cậu không quan tâm, vì chẳng cần đến nó nữa, một lão bộc đang cầm đèn lồng đi tới, ông ta sẽ chỉ cho cậu lối đi chính xác.
“Cậu là ai?” lão bộc hỏi và soi đèn lồng vào mặt Karl, qua đó đồng thời soi sáng luôn cả mặt lão. Khuôn mặt lão có vẻ hơi cứng nhắc vì bộ râu quai nón rậm, trắng như cước, xuống đến ngực mới tõe ra thành búp xoăn óng như tơ. “Hẳn phải là một gia nhân trung thành thì mới được phép mang một bộ râu như thế,” Karl nghĩ và đăm đăm nhìn bộ râu theo cả chiều dài lẫn chiều rộng, mà không cảm thấy khó chịu khi chính mình cũng bị quan sát. Dẫu sao cậu lập tức trả lời rằng mình là khách của ông Pollunder, muốn đi từ phòng mình tới phòng ăn mà không tìm thấy.
“Ra thế,” lão bộc nói, “chúng tôi chưa gắn điện.”
“Tôi biết,” Karl nói.
“Cậu có muốn châm nến ở cái đèn của tôi không?” lão hỏi.
“Có,” Karl nói và châm nến.
“Trong các hành lang gió lùa lắm,” lão bộc nói, “nến dễ tắt, nên tôi cầm đèn lồng.”
“Phải, đèn lồng tiện hơn nhiều,” Karl nói.
“Nến nhỏ đầy người cậu rồi kìa,” lão nói và cầm đèn lồng soi bộ com lê của Karl.
“Tôi quả tình hoàn toàn không nhận thấy đấy!” Karl buồn rầu kêu lên, vì đây là bộ com lê đen mà ông bác từng nói là hợp với cậu hơn cả. Trận đánh nhau vừa rồi với Klara hẳn cũng đã làm nó bị hư hại, giờ đây cậu nhớ lại. Người lão bộc đủ tử tế để làm sạch bộ com lê hết mức trong lúc vội vã; Karl không ngớt xoay người trước mặt lão và chỉ cho lão chỗ này chỗ nọ còn một vệt, được lão ngoan ngoãn cậy đi.
“Sao ở đây gió lùa thế nhỉ?” Karl hỏi, khi họ tiếp tục đi.
“Chính vì ở đây còn phải xây dựng nhiều,” lão bộc nói, “tuy đã bắt đầu rồi, nhưng tiến hành rất chậm. Mà nay công nhân xây dựng lại còn đình công nữa chứ, như cậu có lẽ cũng biết. Gặp phải kiểu kiến trúc như thế này bực mình lắm. Vì bây giờ người ta trổ vài chỗ xuyên qua lớn mà chưa xây bít lại, thành thử gió lùa khắp nhà. Nếu không nhét bông đầy tai, tôi không thể chịu nổi.”
“Vậy hẳn là tôi phải nói to hơn nhỉ?” Karl hỏi.
“Không, giọng cậu rất rõ,” lão bộc nói. “Nhưng để trở lại chuyện tòa nhà này; đặc biệt ở đây gần nhà nguyện, gió lùa không chịu nổi, sau này nhất định sẽ phải ngăn nó với phần còn lại của ngôi nhà.”
“Tức là cái bao lơn, mà ta đi qua trong hành lang này, dẫn tới nhà nguyện à?”
“Phải.”
“Tôi đã nghĩ ngay thế,” Karl nói.
“Nhà nguyện rất đáng xem,” lão bộc nói, “nếu không có nó, hẳn là ông Mack chẳng mua ngôi nhà này đâu.”
“Ông Mack à?” Karl hỏi, “tôi tưởng nhà này của ông Pollunder?”
“Thì vẫn,” lão bộc nói, “nhưng trong việc mua bán này ông Mack mới là người đưa ra quyết định. Cậu không quen ông Mack sao?”
“Có chứ,” Karl nói. “Nhưng ông ấy quan hệ thế nào với ông Pollunder vậy?”
“Ông ấy là hôn phu của tiểu thư,” lão bộc nói.
“Điều ấy dĩ nhiên tôi không biết,” Karl nói và dừng lại.
“Nó khiến cậu ngạc nhiên thế à?” lão hỏi.
“Tôi chỉ muốn cân nhắc cẩn thận về điều ấy. Nếu không biết những quan hệ như thế, quả thật ta có thể phạm những sai lầm to lớn,” Karl đáp.
“Tôi chỉ ngạc nhiên rằng người ta không cho cậu biết gì hết về chuyện ấy,” lão bộc nói.
“Phải, đúng thế thật,” Karl ngượng nghịu nói.
“Có lẽ người ta ngỡ cậu biết rồi,” lão bộc nói, “nào phải tin gì mới đâu. Vả lại chúng ta tới nơi rồi,” và mở một cánh cửa, đằng sau hiện ra một cầu thang dẫn thẳng xuống cửa sau của phòng ăn đang được chiếu sáng hệt như lúc Karl tới đây.
Trước khi Karl bước vào phòng ăn, mà ta nghe thấy vẳng ra từ đó giọng nói của ông Pollunder và ông Green chẳng khác khoảng hai tiếng đồng hồ trước đây, lão bộc nói: “Nếu cậu muốn, tôi sẽ chờ ở đây, rồi dẫn cậu về phòng cậu. Dẫu sao cũng khó biết rõ đường đi nước bước ở đây ngay buổi tối đầu tiên.”
“Tôi sẽ không quay về phòng mình nữa,” Karl nói và không biết tại sao lại buồn khi thốt ra điều ấy.
“Đâu đến nỗi tệ thế,” lão nói, hơi mỉm cười kẻ cả vỗ vai cậu. Hẳn là lão suy diễn rằng Karl định ở suốt đêm trong phòng ăn, trò chuyện và chè chén với hai ông kia. Lúc này Karl không muốn xác nhận gì, ngoài ra cậu nghĩ rằng lão bộc này (cậu thích lão hơn mọi người hầu khác ở đây) rồi đây sẽ chỉ cho mình hướng đi về New York, nên cậu nói: “Nếu ông muốn chờ ở đây, thì nhất định là ông rất tử tế và tôi cám ơn xin nhận. Dẫu sao lát nữa tôi sẽ trở ra và cho ông biết tôi sẽ làm gì tiếp sau. Tôi nghĩ rằng sẽ còn cần đến sự giúp đỡ của ông.”
“Được,” lão bộc nói, để đèn lồng xuống sàn và ngồi xuống một bệ thấp đang bỏ không, hẳn liên quan đến việc xây lại ngôi nhà. “Tôi sẽ chờ ở đây. Cậu cũng có thể để cây nến lại cho tôi,” lão nói thêm khi Karl định bước vào phòng với cây nến đang cháy.
“Tôi thật lơ đãng,” Karl nói và đưa nến cho lão, lão chỉ gật đầu, không rõ vì cố ý hay vì lão đang bận vuốt râu.
Karl mở cửa, nó kêu cọt kẹt thật to, nhưng không phải lỗi tại cậu, vì cửa chỉ làm bằng một tấm kính duy nhất, nó như thể bị cong khi cửa mở quá nhanh và chỉ được giữ ở tay cầm. Karl hốt hoảng buông ra, chính vì cậu muốn bước vào thật lặng lẽ. Không quay đầu lại, cậu vẫn nhận thấy sau lưng mình lão bộc, hiển nhiên đã bước xuống khỏi bệ, thận trọng đóng cửa mà không gây chút tiếng động nào.
“Cháu xin lỗi đã quấy rầy,” Karl nói với hai người đàn ông đang nhìn cậu với bộ mặt to và sửng sốt của họ. Cùng lúc, ánh mắt cậu lướt nhìn căn phòng, xem có thể nhanh chóng tìm thấy cái mũ của mình ở chỗ nào không. Nhưng chẳng thấy nó đâu, bàn ăn đã dọn sạch, có thể cái mũ đã bị đem xuống bếp sao đấy, thế thì quá phiền toái.
“Cậu đã để Klara ở đâu thế?” ông Pollunder hỏi, xem ra không phải ông không thích sự quấy rầy này, vì ông đổi ngay thế ngồi trong ghế bành và quay mặt hẳn về phía Karl. Ông Green đóng vai bàng quan, rút ra một cái ví, thuộc loại to và dày khủng khiếp, dường như tìm kiếm gì đấy trong bao nhiêu là ngăn, vừa tìm ông vừa đọc cả những giấy tờ khác rơi vào tay mình lúc đó.
“Cháu có một yêu cầu mà ông đừng hiểu nhầm về nó,” Karl nói, bước vội về phía ông Pollunder và đặt tay lên tay ghế bành, để được thật gần ông.
“Yêu cầu gì mới được chứ?” ông Pollunder hỏi và nhìn Karl với ánh mắt cởi mở, bộc trực. “Dĩ nhiên nó đã được chấp thuận.” Và ông quàng tay quanh Karl, kéo cậu lại giữa hai chân ông. Karl sẵn lòng chịu đựng, tuy nói chung cậu cảm thấy cách cư xử như thế không thích hợp vì mình đã quá trưởng thành. Nhưng sau hành động này của ông, tất nhiên cậu khó nói ra hơn điều định yêu cầu.
“Cậu hài lòng thế nào ở chỗ chúng tôi?” ông Pollunder hỏi. “Chẳng lẽ cậu không cảm thấy như chúng tôi, rằng từ thành phố về vùng quê ta gần như được giải thoát? Nói chung” - và một cái liếc xéo không thể hiểu nhầm, bị Karl che mất phần nào, hướng về phía ông Green - “nói chung tối nào tôi cũng có cảm giác ấy nhiều lần.”
“Ông ấy nói như thể không biết gì về ngôi nhà rộng rinh, những hành lang bất tận, nhà nguyện, những căn phòng bỏ trống, bóng tối khắp nơi.”
“Nào,” ông Pollunder nói, “lời yêu cầu!” và thân thiện lắc lắc Karl đang đứng lặng thinh ở đó.
“Cháu yêu cầu,” Karl nói, dù cậu hết sức hạ giọng cũng không thể tránh khỏi bị ông Green đang ngồi bên cạnh nghe thấy hết, cậu rất muốn giấu ông ta lời yêu cầu có thể sẽ bị hiểu như một sự xúc phạm ông Pollunder, “cháu yêu cầu ông để cháu về nhà, ngay bây giờ, trong đêm nay.”
Và vì điều khó nói nhất đã được thốt ra, mọi chuyện khác dồn tới càng nhanh hơn; không mảy may dối trá, cậu nói những điều mà trước đó cậu quả thật không hề nghĩ tới. “Cháu muốn về nhà bằng mọi giá. Cháu sẽ sẵn lòng quay lại, vì thưa ông Pollunder, ông ở đâu thì cháu cũng thích ở đó. Riêng hôm nay cháu không ở lại đây được. Ông biết rằng bác cháu không sẵn lòng cho phép cháu đi chuyến này. Bác ấy chắc chắn có lý do đúng đắn khi nghĩ thế, như trong mọi việc bác ấy làm, và cháu đã tự cho mình quyền chống lại nhận thức sáng suốt của bác ấy, đã thật sự ép bác ấy cho phép. Đúng là cháu đã lạm dụng tình thương của bác ấy dành cho cháu. Bác ấy băn khoăn gì về chuyến thăm này, giờ đây điều ấy quả thật không quan trọng, cháu chỉ biết hoàn toàn chắc chắn, thưa ông Pollunder, rằng trong sự băn khoăn ấy không có điều gì có thể xúc phạm ông, người bạn thân nhất của bác ấy. Không ai khác có thể sánh được với ông, dù chỉ mảy may, trong tình bạn với ông bác của cháu. Chính đó cũng là lời biện minh duy nhất cho sự không nghe lời của cháu, nhưng chưa đủ. Có lẽ ông không có được cái nhìn tổng quát chính xác về quan hệ giữa bác ấy và cháu, vì thế cháu chỉ muốn nói về những gì rõ ràng nhất. Bao lâu việc học tiếng Anh của cháu chưa kết thúc và cháu chưa thu thập đủ kinh nghiệm trong việc kinh doanh thực tiễn, cháu hoàn toàn phụ thuộc vào lòng tốt của bác ấy, mà tất nhiên vì là họ hàng ruột thịt cháu được phép hưởng.
“Ông chớ nghĩ rằng hiện nay cháu đã có thể kiếm sống bằng cách đàng hoàng nào đấy - cầu Chúa tránh cho cháu những cách khác. Thật đáng tiếc là để kiếm sống thì việc học của cháu trước đây quá không thiết thực. Trong bốn năm ở một trường trung học Âu châu cháu là một học sinh trung bình, để kiếm sống thì như thế còn thua xa mức chẳng có gì, vì giáo trình các trường trung học của chúng cháu rất lạc hậu. Cháu mà kể ra những gì mình đã học, ông sẽ cười ngất. Nếu tiếp tục học lên, xong trung học, rồi vào đại học, lúc ấy có thể tất cả sẽ cân bằng thế nào đấy và cuối cùng ta có được một sự đào tạo có hệ thống, để có thể bắt đầu làm gì đấy và nó giúp ta quyết tâm trong việc kiếm sống. Nhưng rất tiếc cháu đã bị bứt ra khỏi việc học hành chặt chẽ này; đôi khi cháu cho rằng mình chẳng biết gì hết thảy và rốt cuộc mọi điều cháu có thể biết, thì ở Mỹ vẫn luôn là còn quá ít ỏi. Hiện nay bên nước cháu người ta đang xây dựng đây đó những trường trung học cách tân, ở đó ta cũng học các ngôn ngữ hiện đại[14] và có lẽ cả môn khoa học thương mại nữa; khi cháu học xong tiểu học thì chưa có môn này. Tuy bố cháu muốn cho cháu học tiếng Anh, nhưng một là hồi đó cháu không thể ngờ được mình sẽ gặp phải sự bất hạnh gì và sẽ cần tiếng Anh tới mức nào, hai là cháu phải học nhiều ở trường trung học, khiến cháu không còn mấy thì giờ cho những công việc khác. Cháu nêu ra hết những điều này để ông thấy cháu phụ thuộc vào bác cháu tới mức nào và vì thế cũng hàm ơn bác ấy biết bao. Chắc chắn ông sẽ thừa nhận rằng, trong hoàn cảnh như thế cháu không thể cho phép mình mảy may, dù chỉ là phỏng đoán, làm trái ý của bác ấy. Chính vì thế, để sửa chữa, dù chỉ đến mức độ nào đấy, lỗi lầm cháu đã phạm đối với bác ấy, cháu phải về nhà lập tức.”
Trong suốt lời trình bày dài của Karl, ông Pollunder đã chăm chú lắng nghe; ông thường ôm siết Karl vào mình, dù khó nhận thấy, nhất là khi cậu nhắc đến ông bác, thỉnh thoảng ông nghiêm nghị và như đầy chờ đợi nhìn qua ông Green vẫn đang tiếp tục bận rộn với cái ví. Còn Karl, trong lúc nói càng ý thức rõ hơn về vị trí của mình đối với ông bác, cậu càng trở nên sốt ruột hơn, đã bất giác tìm cách vùng ra khỏi cánh tay của ông Pollunder. Mọi thứ ở đây câu thúc cậu; con đường về với ông bác (qua những cửa kính, những bậc thềm, qua con đường với hai hàng cây dẻ, qua những con đường làng, qua những vùng ngoại ô tới những đường lớn tấp nập xe cộ, dẫn đến ngôi nhà của ông bác) hiện ra với cậu như gì đấy gắn bó chặt chẽ với nhau, con đường nằm đó trống rỗng, nhẵn nhụi, được chuẩn bị sẵn cho cậu và bằng một giọng mạnh mẽ đòi gặp cậu. Lòng tốt của ông Pollunder và sự xấu xa của ông Green nhòe nhoẹt vào nhau, và từ căn phòng đầy khói này cậu không muốn có được gì khác hơn là sự cho phép mình từ biệt. Tuy cậu cảm thấy không liên quan gì với ông Pollunder nữa và sẵn sàng chiến đấu với ông Green, thế nhưng một nỗi sợ hãi mơ hồ tràn ngập chung quanh cậu, những cú thúc của nó làm mắt cậu mờ đi.
Cậu lùi lại một bước và giờ đây đứng cách đều ông Pollunder và ông Green.
“Ông muốn nói gì với cậu ấy không?” ông Pollunder hỏi và nắm bàn tay ông Green như nài nỉ.
“Tôi không biết nên nói gì với cậu ấy,” ông Green nói, rốt cuộc đã rút từ ví một bức thư và đặt nó trước mặt trên bàn. “Việc cậu ấy muốn trở về với ông bác là rất đáng khen, và ta nên tin rằng rất có thể cậu ấy sẽ gây cho ông bác một niềm vui đặc biệt. Trừ phi cậu ấy đã làm cho ông bác tức giận ghê gớm qua sự không vâng lời, điều này quả thật cũng có thể. Nếu thế thì đương nhiên cậu ấy nên ở lại đây. Ngay lúc này thật khó nói gì đấy cụ thể; tuy hai chúng tôi là bạn của ông bác và hẳn phải vất vả mới nhận ra được sự chênh lệch về thứ bậc giữa tình bạn của tôi với ông ấy và của ông Pollunder với ông ấy, nhưng chúng tôi không thể nhìn vào đời sống nội tâm của ông ấy, và nhất là ở khoảng cách nhiều cây số giữa chúng ta ở đây với New York.”
“Thưa ông Green,” Karl nói và nỗ lực vượt qua ngần ngại để xích lại gần ông ta. “Cháu nghe được từ những lời lẽ của ông, rằng ông cũng thấy tốt nhất cháu nên trở về ngay.”
“Tôi hoàn toàn không nói thế,” ông Green đáp và mải mê nhìn bức thư mà ông ta đang dùng hai ngón tay vuốt tới vuốt lui các mép. Có vẻ ông ta muốn ám chỉ bằng cách ấy rằng ông Pollunder đã hỏi ông ta và cũng đã được trả lời, còn với Karl đúng ra ông ta không liên quan gì.
Trong lúc đó ông Pollunder đã đến bên Karl và nhẹ nhàng kéo cậu khỏi ông Green tới một trong những cửa sổ to. “Cậu Roßmann thân mến,” ông vừa nói vừa cúi xuống tai Karl và để chuẩn bị, ông lấy khăn mùi soa lau mặt và tạm dừng ở mũi để xì. “Cậu đừng nghĩ rằng tôi muốn giữ cậu lại đây trái với ý muốn của cậu. Thật tình không có chuyện đó đâu. Tuy tôi không thể đưa ô tô cho cậu sử dụng, nó đậu trong một gara công cộng xa đây, vì tôi chưa có thì giờ để xây gara riêng ở đây, nơi mọi thứ mới đang trên đường hình thành. Mặt khác, người lái xe không ngủ trong nhà này, mà gần gara, thật tình tôi cũng không biết nó ở đâu. Ngoài ra anh ta hoàn toàn không có nhiệm vụ phải ở đây vào lúc này, anh ta chỉ có nhiệm vụ sáng sớm lái xe qua đây đúng giờ. Nhưng mọi điều này không phải là những cản trở cho việc trở về lập tức của cậu, vì nếu cậu khăng khăng đòi về, tôi sẽ đưa ngay cậu ra trạm xe lửa gần nhất chạy vào thành phố, song nó ở quá xa, khiến hẳn cậu sẽ không về đến nhà sớm hơn là mấy so với sáng mai cậu chịu đi chung ô tô với tôi - chúng tôi khởi hành vào lúc bảy giờ.”
“Thưa ông Pollunder, thế thì cháu muốn đi bằng xe lửa hơn,” Karl nói. “Cháu đã hoàn toàn không nghĩ tới xe lửa. Chính ông vừa nói bằng xe lửa cháu sẽ về sớm hơn so với đi sớm bằng ô tô.”
“Nhưng chỉ sớm hơn chút ít thôi.”
“Mặc dù vậy, mặc dù vậy, thưa ông Pollunder,” Karl nói, “để tưởng nhớ tới tấm lòng ưu ái của ông, cháu luôn sẵn lòng quay trở lại đây, tất nhiên với điều kiện ông vẫn còn muốn mời, sau thái độ hôm nay của cháu, và có thể mai đây cháu diễn đạt được rõ hơn tại sao hôm nay mỗi phút sớm hơn cháu gặp lại bác của cháu lại quan trọng đối với cháu đến thế.” Rồi như thể đã được cho phép ra về, cậu nói thêm: “Nhưng dứt khoát ông không được đưa cháu đi. Cũng hoàn toàn không cần. Ngoài kia có người lão bộc sẵn sàng đưa cháu ra trạm xe. Bây giờ cháu chỉ còn phải tìm cái mũ của mình thôi.” Còn chưa dứt lời cậu đã đi ngang căn phòng, vội vội vàng vàng thử tìm lần cuối cùng xem có thấy mũ của mình không.
“Tôi có thể giúp cậu cái mũ cát két được không?” ông Green nói và rút từ túi một mũ cát két. “Có thể ngẫu nhiên cậu đội vừa.”
Karl sửng sốt đứng lại và nói: “Cháu đâu thể nào lấy mũ của ông. Cháu đi đầu trần[15] cũng được mà. Cháu hoàn toàn không cần.”
“Không phải mũ của tôi đâu. Cậu cứ cầm lấy!”
“Vậy cháu cám ơn,” Karl nói, để khỏi phải dừng lại thêm, và cầm cái mũ cát két. Cậu đội vào và cười, vì nó thật vừa vặn, lại cầm nó trên tay, ngắm nghía, nhưng không thấy được điểm đặc biệt mà cậu tìm ở nó; đó là một cái mũ cát két mới tinh. “Rất vừa!” cậu nói.
“Vậy là nó vừa!” ông Green kêu và đập tay lên bàn.
Karl đã đi tới cửa để gọi người lão bộc, thì ông Green đứng dậy, vươn người sau một bữa ăn thịnh soạn và nghỉ ngơi lâu, vỗ mạnh lên ngực và nói bằng giọng vừa khuyên nhủ vừa ra lệnh: “Trước khi ra về, cậu phải chào từ biệt cô Klara chứ.”
“Phải đấy,” ông Pollunder tán thành và cũng đứng lên[16] luôn. Nghe giọng là biết ngay những lời lẽ này không xuất phát từ đáy lòng ông, ông yếu ớt để hai bàn tay chạm vào đường chỉ dọc ống quần, luôn tay cài và cởi cúc áo vét, theo mốt bấy giờ thì nó rất ngắn, chỉ dài tới hông, không thích hợp với những người to béo như ông Pollunder. Vả lại, khi ông đứng cạnh ông Green, người ta có cảm giác rõ rệt rằng ở ông Pollunder không phải là một sự mập mạp khỏe mạnh; lưng nặng nề hơi cong, bụng trông nhão và bệu, một gánh nặng thật sự, khuôn mặt trông nhợt nhạt và lo lắng không yên. Ngược lại ông Green đứng đây, có lẽ còn béo hơn ông Pollunder chút ít, nhưng đó là một sự mập mạp cố kết, hỗ tương gánh vác sức nặng, hai bàn chân ông chập vào nhau kiểu nhà binh, đầu vươn thẳng và hơi lắc lư; ông có vẻ là một vận động viên cự phách, một hướng dẫn viên thể dục.
“Vậy thì trước tiên,” ông Green nói tiếp, “cậu đến chỗ cô Klara. Chắc chắn cậu sẽ thích thú và cũng rất phù hợp với sự sắp xếp thời gian của tôi. Vì, trước khi cậu rời khỏi đây, quả thật tôi có đôi điều thú vị để nói với cậu, nó cũng có thể là chủ chốt cho việc trở về của cậu. Chỉ tiếc là tôi bị ràng buộc bởi lệnh trên, không được tiết lộ gì với cậu trước nửa đêm. Cậu có thể hình dung được rằng điều này cũng làm chính tôi khốn khổ, vì nó quấy rầy sự nghỉ ngơi ban đêm của tôi, nhưng tôi phải tuân thủ nhiệm vụ được trao. Bây giờ là mười một giờ mười lăm, tức là tôi còn có thể bàn bạc xong việc làm ăn với ông Pollunder, mà sự hiện diện của cậu chỉ làm phiền thôi, và cậu có thể vui vầy một lúc với cô Klara. Đúng mười hai giờ cậu tới đây, cậu sẽ được biết điều thiết yếu.”
Karl có thể nào cự tuyệt lời yêu cầu này không, nó quả thật chỉ đòi hỏi ở cậu chút xíu lịch sự và lòng biết ơn đối với ông Pollunder, hơn nữa nó do một người vốn vô can, thô lỗ đặt ra, trong khi ông Pollunder, người liên quan, lại hết sức dè dặt trong lời nói và ánh mắt? Và điều thú vị mà mãi tới nửa đêm cậu mới được phép biết đó là gì? Nếu nó không làm cho sự trở về nhà của cậu được nhanh hơn ít nhất bốn mươi lăm phút, quãng thời gian mà vì nó nên giờ đây việc trở về kia phải lùi lại, thì cậu không quan tâm mấy. Nhưng sự hoài nghi lớn nhất của cậu là mình có thật sự lên được với Klara không, nàng là kẻ thù của cậu mà. Giá mà ít nhất cậu có bên mình cái đục đã được ông bác tặng làm cái chặn thư! Phòng của Klara có thể là một hang ổ khá nguy hiểm. Nhưng bây giờ ở đây cậu hoàn toàn không thể nói chút gì chống báng Klara, vì nàng là con gái của ông Pollunder và, như cậu vừa được biết, còn là hôn thê của Mack nữa. Giá mà nàng cư xử khác với cậu chỉ chút xíu thôi, cậu sẽ công khai bày tỏ lòng ngưỡng mộ nàng vì những quan hệ ấy. Cậu còn đang cân nhắc mọi chuyện, nhưng đã nhận thấy ngay rằng người ta đâu có yêu cầu mình cân nhắc, vì ông Green đã mở cửa và bảo người lão bộc - lão đã nhảy khỏi cái bệ: “Lão dẫn cậu đây đến chỗ cô Klara.”
“Người ta thi hành mệnh lệnh như thế đấy,” Karl nghĩ, khi người lão bộc gần như chạy, hổn hển vì tuổi già sức yếu, dẫn cậu đến phòng Klara bằng một lối đi tắt đặc biệt. Khi đi qua căn phòng của mình, cửa vẫn để ngỏ, Karl muốn vào đó giây lát, có lẽ để trấn tĩnh. Nhưng người lão bộc không cho. “Không được,” lão nói, “cậu phải đến chỗ cô Klara. Chính cậu đã nghe thế mà.”
“Tôi sẽ chỉ dừng lại trong đó giây phút thôi,” Karl nói và nghĩ đến chuyện nằm lăn trên trường kỷ một chút cho có sự thay đổi, để thời gian trôi nhanh hơn tới nửa đêm.
“Cậu đừng làm khó dễ tôi trong việc thực hành nhiệm vụ chứ,” người lão bộc nói. “Lão có vẻ coi việc mình phải đến chỗ cô nàng Klara là một sự trừng phạt,” Karl nghĩ bụng và đi vài bước, nhưng rồi lại đứng lại vì thách thức.
“Đi thôi, cậu ơi,” người lão bộc nói, “một khi cậu đã tới đây rồi. Tôi biết cậu muốn đi khỏi ngay trong đêm nay, nhưng đúng là không phải mọi chuyện đều theo ý mình muốn, tôi đã nói ngay với cậu rằng không được đâu.”
“Đúng, tôi muốn đi khỏi và cũng sẽ đi khỏi,” Karl nói, “và bây giờ chỉ muốn chào tạm biệt cô Klara thôi.”
“Thế à?” người lão bộc nói, và Karl thấy rõ là lão không tin chút nào. “Thế thì tại sao cậu lại dùng dằng chào tạm biệt; đi thôi cậu.”
“Ai ngoài hành lang vậy?” giọng Klara vang lên, và ta thấy nàng thò đầu ra từ một khung cửa gần đó, tay cầm cái đèn bàn to với cái chụp màu đỏ. Người lão bộc bước vội tới và báo cáo với nàng. Karl chậm rãi theo sau.
“Anh đến muộn đấy.”
Tạm chưa trả lời nàng, Karl nói khẽ với người lão bộc, nhưng bằng giọng ra lệnh nghiêm khắc, do đã biết bản tính của lão: “Ông chờ tôi ngay trước cánh cửa này!”
“Tôi định đi ngủ rồi đấy chứ,” Klara nói và đặt đèn lên bàn. Giống như ở phòng ăn dưới kia, ở đây người lão bộc cũng thận trọng đóng cửa lại từ bên ngoài. “Đã hơn mười một rưỡi rồi.”
“Hơn mười một rưỡi rồi,” Karl lặp lại như hỏi, khác nào hốt hoảng về con số này. “Thế thì tôi phải lập tức cáo từ,” Karl nói, “vì đúng mười hai giờ tôi phải có mặt dưới phòng ăn.”
“Anh có công việc gì gấp gáp thế!” Klara nói và lơ đãng chỉnh lại những nếp nhăn của bộ đồ ngủ khoác hờ. Mặt đỏ bừng, nàng không ngớt mỉm cười. Karl cho rằng sẽ không có nguy cơ lại xảy ra chuyện cãi nhau với Klara. “Chẳng lẽ anh không thể chơi piano được một chút, như hôm qua bố tôi đã hứa với tôi và hôm nay chính anh cũng hứa?”
“Nhưng chẳng lẽ chưa quá muộn rồi ư?” Karl hỏi. Cậu sẵn lòng làm vui lòng nàng, vì giờ đây nàng khác hẳn hồi nãy, như thể nàng đã vươn thế nào đấy lên ngang tầm ông Pollunder và rồi đây sẽ ngang tầm Mack.
“Phải, đã muộn rồi,” nàng nói và có vẻ không còn hứng thú âm nhạc nữa. “Rồi mỗi âm thanh ở đây cũng sẽ vang khắp nhà, tôi chắc chắn nếu anh đàn thì cả đến đám gia nhân trên tầng áp mái cũng sẽ thức dậy hết.”
“Vậy tôi sẽ không đàn, tôi hy vọng sẽ còn trở lại mà; nhân tiện, nếu không mất công quá, thì lúc nào đó chị hãy đến thăm bác tôi và tiện thể ghé qua phòng tôi luôn. Tôi có một chiếc piano tuyệt lắm. Bác tôi tặng tôi. Rồi nếu chị thấy tiện, tôi sẽ đàn chị nghe mọi bản nhạc nho nhỏ của tôi, rất tiếc không nhiều, và chúng cũng hoàn toàn không thích hợp với một nhạc cụ tốt như thế, nó chỉ đáng được những nghệ sĩ bậc thầy chơi thôi. Nhưng cả điều thú vị này chị cũng có thể sẽ được thưởng thức, nếu chị cho tôi biết trước về chuyến thăm viếng của chị, vì mai đây bác tôi định sẽ thuê một ông thầy danh tiếng dạy tôi - chị có thể hình dung tôi vui mừng về chuyện này biết mấy - và ngón đàn của ông ấy chắc chắn sẽ là lý do đảm bảo để chị đến thăm trong giờ tôi luyện tập. Nói thật, tôi mừng rằng đã quá muộn nên không thể chơi đàn, vì tôi hoàn toàn chưa chơi được gì, chị sẽ ngạc nhiên nếu thấy tôi kém cỏi nhường nào. Và bây giờ xin tạm biệt chị, dẫu sao cũng đã đến giờ ngủ rồi.”
Và vì Klara hiền lành nhìn cậu và có vẻ không chút để bụng về vụ ẩu đả, cậu mỉm cười nói thêm, trong lúc chìa tay cho nàng bắt: “Ở nước tôi người ta quen nói: ‘ngủ ngon và mộng đẹp’.”
“Khoan đã,” nàng nói, không bắt tay cậu, “có lẽ anh cứ đàn đi.” Và nàng biến mất qua một cửa ngách nhỏ, bên cạnh chiếc piano. “Chuyện gì thế nhỉ?,” Karl nghĩ. “Mình đâu thể chờ lâu, dù nàng dễ thương mấy đi nữa.” Có tiếng gõ ở cửa thông ra hành lang và người lão bộc, không dám mở toang, thì thầm qua khe cửa: “Xin lỗi cậu, tôi vừa bị gọi, nên không thể chờ thêm được nữa.”
“Ông cứ việc đi,” Karl nói, giờ đây cậu dám tự mình tìm đường xuống phòng ăn. “Chỉ cần để lại cái đèn ở ngoài cửa cho tôi thôi. Với lại mấy giờ rồi nhỉ?”
“Sắp mười một giờ bốn lăm,” người lão bộc nói.
“Thời gian trôi chậm thật thôi!” Karl nói. Người lão bộc đã định đóng cửa, chợt Karl nhớ ra mình chưa cho ông ta tiền boa, liền móc một schilling[17] từ túi quần - bây giờ cậu luôn để tiền xu trong túi quần, kêu leng keng theo lối Mỹ, còn tiền giấy trong túi áo gi lê - đưa cho người lão bộc và nói: “Thưởng ông đã tận tâm phục vụ.”
Khi Klara quay trở ra, hai tay đặt trên mái tóc được kẹp chắc, Karl sực nhớ lẽ ra không nên bảo người lão bộc đi, vì bây giờ ai sẽ dẫn mình ra trạm xe lửa? Chậc, hẳn là ông Pollunder sẽ kiếm được một người hầu nào khác thôi, biết đâu chính người lão bộc bị gọi xuống phòng ăn để rồi sẽ được dùng vào việc này.
“Tôi vẫn yêu cầu anh chơi cho vài bài. Ở đây tôi hiếm khi được nghe nhạc, đến nỗi hễ có dịp là không thể bỏ qua.”
“Thế thì không thể chần chừ được nữa,” Karl nói không đắn đo và ngồi ngay vào piano.
“Anh cần nhạc phổ không?” Klara hỏi.
“Không cần đâu, tôi còn chưa đọc thông nốt nhạc mà,” Karl trả lời và chơi luôn. Đó là một bản nhạc ngắn mà Karl biết rõ là phải chơi khá chậm để có thể hiểu được, đặc biệt với người ngoại quốc, nhưng cậu chơi bừa theo nhịp hành khúc hối hả nhất cho xong chuyện. Dứt bản nhạc, sự yên ắng bị khuấy động của ngôi nhà trở về, như thể chen lấn dữ dội, với vị trí của nó. Họ ngồi đó như đờ đẫn và không nhúc nhích.
“Hay lắm,” Klara nói, nhưng không kiểu nói lịch sự nào có thể tâng bốc nổi Karl sau khi cậu trình tấu bản nhạc này.
“Mấy giờ rồi nhỉ?” cậu hỏi.
“Mười hai giờ kém mười lăm.”
“Vậy tôi còn chút thì giờ nữa,” cậu nói và thầm nghĩ: “Được ăn cả, ngã về không. Mình đâu phải chơi hết cả mười bài mình biết, nhưng có một bài mình có thể chơi tương đối hay.” Và cậu bắt đầu chơi bản nhạc lính yêu thích của mình. Chậm đến nỗi sự khát khao thảng thốt của người nghe kéo dài tới nốt nhạc tiếp theo mà Karl giữ lại và khó khăn lắm mới chịu nhả ra. Quả thật cho mỗi bản nhạc cậu đều phải đưa mắt tìm trước những phím cần thiết, nhưng ngoài ra cậu còn cảm thấy trong lòng mình trào dâng một nỗi buồn, nó tìm một kết thúc khác vượt ra khỏi sự kết thúc của bản nhạc, nhưng không thể tìm thấy.
“Tôi thật tầm thường,” Karl nói sau khi kết thúc và rưng rưng nước mắt nhìn Klara. Lúc ấy từ phòng bên cạnh vang lên tiếng vỗ tay lớn.
“Còn có người nữa nghe!” Karl kêu lên, bừng tỉnh.
“Mack đấy,” Klara nói khẽ.
Và ta nghe ngay tiếng Mack gọi: “Karl Roßmann, Karl Roßmann!”
Karl tung cả hai chân một lượt qua cái ghế ngồi chơi piano và mở cửa. Cậu thấy Mack đang nửa nằm nửa ngồi trên một cái giường to có màn trướng, chăn vứt bừa lên đôi chân. Tấm màn bằng lụa xanh lơ là vẻ lộng lẫy duy nhất đặc thù con gái của cái giường vốn đơn giản, đóng thô kệch bằng loại gỗ nặng. Trên cái bàn ngủ nhỏ chỉ thắp một ngọn nến duy nhất, nhưng ga giường và sơ mi của Mack trắng nõn, khiến ánh nến rọi lên đó hắt lại gần như làm lóa mắt; cả tấm màn cũng lấp lánh sáng, ít nhất ở mép màn, với thứ lụa hơi dợn sóng và không thật căng. Ngay sau lưng Mack, cái giường và mọi thứ chìm vào bóng tối hoàn toàn. Klara tựa cột giường và ánh mắt nàng chỉ còn dành cho Mack.
“Servus[18],” Mack nói và chìa tay cho Karl. “Cậu đàn thật hay, cho tới nay tôi chỉ được biết tài cưỡi ngựa của cậu thôi.”
“Cả hai môn tôi đều dở như nhau,” Karl nói. “Nếu biết anh lắng nghe, tôi chắc chắn đã không chơi. Nhưng cô nàng của anh” - cậu ngừng lại, do dự không nói “hôn thê”, vì rõ ràng Mack và Klara đã ngủ với nhau rồi.
“Tôi đoán cậu sẽ nói thế,” Mack nói, “nên Klara mới phải nhử cậu từ New York tới đây, bằng không tôi sẽ chẳng được nghe ngón đàn của cậu. Cậu đúng là mới tập tành, và ngay trong những bài được soạn rất sơ đẳng, mà cậu đã nhiều lần tập đi tập lại, cậu vẫn phạm vài lỗi, nhưng dẫu sao tôi cũng rất vui, ấy là chưa kể tôi không coi thường ngón đàn của ai cả. Nhưng cậu không muốn ngồi lại đây với chúng tôi một lát nữa sao? Klara, đưa cậu ấy cái ghế.”
“Cám ơn,” Karl ấp úng nói. “Tôi không thể ở lại, dù muốn tới đâu. Tôi được biết quá muộn rằng trong nhà này có căn phòng ấm cúng đến thế.”
“Tôi xây lại hết theo kiểu này đấy,” Mack nói.
Đúng lúc đó vang lên mười hai tiếng chuông, dồn dập nối nhau, tiếng này đập vào âm vang của tiếng kia. Karl cảm thấy gió từ sự chuyển động mạnh của những cái chuông thổi qua hai má. Ngôi làng như thế nào mà có những cái chuông thế ấy!
“Đã đến lúc không nấn ná được nữa rồi,” Karl nói, chỉ chìa tay cho Mack với Klara, song không bắt tay họ và chạy ra hành lang. Ở đấy cậu không thấy đèn đâu và tiếc rẻ đã cho người lão bộc tiền boa quá sớm. Cậu định lần mò theo vách tường tới cái cửa để ngỏ của phòng mình, nhưng chưa đi được nửa đường đã thấy ông Green giơ cao ngọn nến vội vã lắc lư đi tới. Trong bàn tay cầm nến ông cũng mang một bức thư.
“Roßmann, sao cậu lại không tới? Sao cậu để tôi chờ? Cậu đã làm gì ở chỗ cô Klara vậy?”
“Hỏi lắm thế!” Karl nghĩ bụng, “và bây giờ ông còn ép mình vào tường nữa,” vì quả thật ông ta đứng sát trước mặt Karl, còn cậu tựa lưng vào tường. Trong hành lang này vóc dáng ông Green trông to lớn đến nực cười và Karl tự hỏi đùa, chẳng lẽ ông ta đã ngốn hết ông Pollunder hiền lành rồi sao.
“Cậu đúng là người không giữ lời. Hứa đúng mười hai giờ xuống dưới, nhưng lại rón rén đi quanh cửa phòng cô Klara. Còn tôi đã hứa cho cậu biết điều gì đấy thú vị vào lúc nửa đêm và tôi mang nó tới đây.”
Nói xong ông ta đưa bức thư cho Karl. Trên phong bì viết “Gửi Karl Roßmann, đưa tận tay vào lúc nửa đêm, dù gặp nó ở đâu.”
“Dẫu sao,” ông Green nói, trong lúc Karl mở thư, “tôi đã vì cậu mà lái xe từ New York tới đây, việc này thật đáng ca ngợi, tôi nghĩ thế, vậy cậu cũng đừng nên để cho tôi phải chạy theo cậu trong các hành lang chứ.”
“Của ông bác!” Karl nói, lúc vừa mới nhìn vào thư. “Cháu đã chờ đợi chuyện này,” cậu nói với ông Green.
“Cậu chờ đợi hay không đối với tôi cũng thế thôi. Cậu hãy đọc ngay đi,” ông ta nói và giơ nến cho Karl.
Karl đọc dưới ánh nến:
“Cháu yêu quý!
Như cháu hẳn đã nhận thấy trong cuộc sống chung rất tiếc quá ngắn ngủi của bác cháu ta, bác là người hoàn toàn có nguyên tắc. Điều này không chỉ rất khó chịu và đáng buồn cho những người chung quanh bác mà cho cả bác nữa, nhưng chính nhờ những nguyên tắc của mình mà bác có được mọi thứ như ngày nay và không ai được quyền đòi hỏi bác phủ nhận cái nền tảng bất di bất dịch đó của bác, không ai, kể cả cháu, cháu yêu quý, tuy rằng nếu lúc nào đấy bác chợt thấy nên chấp nhận một sự công kích bác về mọi mặt, thì chính cháu sẽ là người đầu tiên trong số những người được quyền đó. Lúc ấy bác thích nhất được chụp lấy cháu và nhấc bổng lên với đôi bàn tay mà bác đang giữ tờ giấy và viết bức thư này. Nhưng vì tạm thời hoàn toàn không có gì báo hiệu điều ấy có thể xảy ra một ngày nào đấy, bác bắt buộc phải đuổi cháu đi sau vụ việc hôm nay, và bác khẩn thiết yêu cầu cháu đừng tìm đến bác hoặc tìm cách liên lạc với bác qua thư từ hay qua trung gian. Tối nay cháu đã quyết định rời khỏi bác trái với ý muốn của bác, vậy cháu hãy giữ lấy quyết định này suốt đời cháu; chỉ lúc ấy nó mới là quyết định của người đàn ông. Để đưa tin này, bác đã chọn ông Green, người bạn thân nhất của bác; ông ấy chắc chắn sẽ tìm được những lời lẽ đủ nhã nhặn để nói với cháu, mà quả tình bác không nghĩ ra được vào lúc này. Ông ấy là người có nhiều ảnh hưởng và, để làm vui lòng bác, sẽ giúp cháu bằng lời nói và hành động trong những bước đi tự lập đầu tiên của cháu. Để hiểu thấu sự chia tay của bác cháu ta, mà bây giờ khi kết thúc bức thư này bác lại thấy không thể tin được, bác cứ phải không ngớt lặp đi lặp lại: Karl ạ, từ gia đình cháu chẳng có được gì tốt đẹp. Nếu ông Green quên trao cho cháu cái rương và cái dù, cháu hãy nhắc ông ấy.
Gửi cháu những lời chúc tốt đẹp nhất cho sự bình an mai sau.
Bác Jakob đáng tin cậy của cháu.”
“Cậu đọc xong chưa?” ông Green hỏi.
“Xong rồi ạ,” Karl nói. “ông có mang cái rương và dù cho cháu không?” Karl hỏi.
“Nó đây,” ông Green nói và đặt cái rương cũ của Karl, mà cho đến lúc đó ông ta vẫn giấu sau lưng bằng tay trái, xuống sàn nhà, cạnh cậu.
“Thế còn cái dù?” Karl lại hỏi.
“Ở đây tất,” ông Green nói và kéo ra cả cái dù mà ông móc ở túi quần. “Một người tên Schubal nào đó, trưởng cơ khí tuyến tàu Hambourg-Mỹ, đã đem những thứ này tới, bảo đã tìm thấy trên tàu. Có dịp thì cậu nhớ cám ơn hắn.”
“Ít nhất cháu đã tìm lại được những đồ cũ của mình,” Karl nói và đặt dù lên cái rương.
“Trong tương lai cậu nên chú ý đến chúng kỹ hơn, ngài thượng nghị sĩ nhờ tôi nhắn như thế với cậu,” ông Green nói, rồi hỏi, rõ ràng vì sự tò mò riêng: “Cái rương gì mà lạ lùng vậy?”
“Đây là loại rương mà những người lính ở nước cháu mang theo khi nhập ngũ,” Karl trả lời, “nó là cái rương cũ của bố cháu thời đi lính. Đúng ra nó rất tiện lợi,” cậu mỉm cười nói thêm, “miễn là đừng để quên nó ở đâu đó.”
“Dẫu sao cậu cũng đã được chỉ dẫn đủ rồi,” ông Green nói, “và hẳn là cậu không có một ông bác thứ hai ở Mỹ. Đây tôi đưa cậu một cái vé hạng ba đi San Francisco. Tôi đã quyết định cho cậu chuyến đi này, vì một là khả năng cậu tìm việc ở bên phía Đông[19] dễ dàng hơn nhiều và hai là ở đây mọi công việc cậu có thể định làm đều có liên quan đến ông bác mà cậu tuyệt đối phải tránh gặp. Ở San Francisco cậu có thể hoàn toàn thanh thản làm việc; cậu hãy bình tĩnh bắt đầu từ dưới cùng và cố gắng làm việc để vươn lên dần.”
Karl không nhận thấy ác ý nào trong những lời lẽ này, cái tin xấu ông Green giữ trong người suốt buổi tối đã được trao, và từ nay xem ra ông Green là một người vô hại mà có lẽ ta có thể trò chuyện thẳng thắn hơn so với mọi người khác. Chẳng làm gì nên tội mà bị chọn làm kẻ chuyển giao một quyết định bí mật và gây đau khổ nhường ấy, thì con người tử tế nhất này phải có vẻ đáng nghi, chừng nào ông còn giữ điều bí mật ấy bên người.
“Cháu sẽ lập tức rời khỏi ngôi nhà này, vì cháu chỉ được tiếp đón với tư cách cháu của ông bác, chứ nếu là người lạ thì đừng hòng. Ông vui lòng chỉ cho cháu lối ra, rồi dẫn cháu tới đường để cháu đến quán trọ gần nhất được không?” Karl nói, chờ đợi sự xác nhận của một người từng trải.
“Nhưng gấp gáp lên,” ông Green nói. “Cậu gây không ít phiền toái cho tôi đấy.”
Thấy ông Green sải bước đi ngay, Karl khựng lại; đó quả là một sự vội vã đáng nghi, cậu túm áo vét của ông Green và nói, vì đột nhiên nhận ra thực chất của chuyện này: “Còn một điều nữa ông phải giải thích cho cháu: trên phong bì mà ông phải đưa cho cháu chỉ ghi rằng cháu cần nhận được thư vào lúc nửa đêm, dù gặp cháu ở đâu. Thế thì tại sao ông lại viện dẫn bức thư này để giữ cháu lại đây, khi cháu muốn đi khỏi vào lúc mười một giờ mười lăm? Ông đã vượt quá nhiệm vụ của mình.”
Green mở đầu câu trả lời của mình bằng một cái phác tay, diễn tả một cách phóng đại sự vô ích trong nhận xét của Karl, rồi nói: “Phải chăng trên phong bì có ghi rằng vì cậu mà tôi phải chạy đôn chạy đáo đến chết và chẳng lẽ nội dung bức thư cho phép hiểu dòng chữ ấy như thế? Nếu tôi không giữ cậu lại, hẳn tôi sẽ phải trao bức thư cho cậu vào nửa đêm trên đường làng.”
“Không,” Karl nói không nao núng, “không hoàn toàn thế. Trên bì thư ghi: ‘Trao sau nửa đêm’. Nếu ông quá mệt, hẳn ông không thể chạy theo cháu được, hoặc cháu đã về đến nhà bác cháu vào lúc nửa đêm rồi, điều mà chính ông Pollunder đã bảo là không thể được, hoặc rốt cuộc nhiệm vụ của ông là đưa cháu về bằng xe của ông (bỗng dưng cái xe không được nhắc tới nữa), vì cháu đã thiết tha trở về đến thế cơ mà. Chẳng lẽ lời ghi này không nói lên hoàn toàn rõ, rằng nửa đêm vẫn còn là thời hạn cuối cùng cho cháu sao? Và chính ông có lỗi trong việc cháu đã hụt thời hạn này.”
Karl nghiêm khắc nhìn ông Green và hẳn là cậu nhận ra được rằng trong lòng ông ta sự hổ thẹn vì bị lật tẩy đang giao chiến với niềm vui đã thực hiện được ý đồ của mình. Cuối cùng ông ta trấn tĩnh lại và nói bằng giọng như thể ngắt lời Karl, dù cậu đã im lặng từ lâu: “Đừng nói nữa!” và đẩy cậu, đã lại xách rương và dù, qua một khung cửa nhỏ mà ông ta đạp mở ra trước mặt cậu.
Karl sửng sốt đứng ngoài trời. Trước mặt cậu là một cầu thang không lan can, được xây thêm vào nhà, dẫn xuống dưới. Cậu chỉ cần đi xuống, rồi quẹo phải một quãng là tới lối đi với hai hàng cây dẻ, dẫn ra con đường làng. Trong ánh trăng vằng vặc cậu không thể nào đi lạc được. Dưới vườn cậu nghe nhiều tiếng chó sủa; được thả ra, chúng đang chạy quanh trong bóng cây tối om. Ngoài ra thảy đều im lặng, ta nghe rất rõ tiếng chúng rơi trên cỏ sau khi nhảy thật xa.
Rốt cuộc Karl đã ra khỏi vườn mà không gặp rắc rối với lũ chó. Cậu không thể xác định chắc chắn New York nằm hướng nào. Lúc đi tới đây cậu đã chú ý quá ít đến những chi tiết mà lúc này có thể giúp được mình. Cuối cùng cậu tự nhủ rằng mình không nhất thiết phải về New York, ở đó chẳng ai chờ đợi mình và một người thậm chí dứt khoát không chờ đợi. Cho nên cậu chọn một hướng bất kỳ và bắt đầu lên đường.
[14] Cho tới đầu thế kỷ 20, trường trung học Đức chú trọng dạy tiếng Hy Lạp và Latin.
[15] Thời bấy giờ ở Âu Mỹ đàn ông lịch sự ra đường cần đội mũ, mặc vét.
[16] Có lẽ tác giả quên: khi kéo Karl tới cửa sổ, ông Pollunder đã đứng lên rồi.
[17] Schilling là đơn vị tiền tệ của Anh và Áo (đế chế Áo-Hung, bao gồm cả Boheme, cho đến cuối Thế chiến I) - Kafka nhầm hay cố ý?
[18] Servus: kiểu chào (khi gặp gỡ hoặc tạm biệt) đặc trưng của người Áo và vùng Bavaria (Đông Nam Đức).
[19] San Francisco không ở phía Đông, mà phía Tây của New York (và nước Mỹ). Không rõ Kafka nhầm lẫn hay cố ý.