Có nhiều nguyên do khiến bản hiệp ước ký bên bờ sông Ocavaha không có hiệu lực bắt buộc đối với người da đỏ. Thứ nhất, bản hiệp ước không phải do đa số thủ lĩnh ký kết: chỉ có mười sáu thủ lĩnh lớn nhỏ ký tên. Trong khi đó, số thủ lĩnh trong toàn bộ lạc đông hơn thế gấp năm lần.
Thứ hai, cái gọi là hiệp ước đó hoàn toàn chưa phải là một hiệp ước, đúng hơn thì nó chỉ là một bản thỏa thuận có điều kiện. Cụ thể là trong thỏa thuận qui định sẽ cử một đoàn đại biểu da đỏ đi thăm vùng đất Wight River mà người da trắng chừa ra cho họ. Đoàn đại biểu có nhiệm vụ thị sát và trở về báo cáo trước cộng đồng. Chính tính điều kiện đó đã cho thấy không một hiệp định, văn bản nào về việc di cư da đỏ có thể có hiệu lực, một khi việc thị sát đất mới chưa được tiến hành.
Vậy là người ta phải bắt đầu công việc thị sát. Bảy thủ lĩnh da đỏ theo một phái viên chính phủ khởi hành đi miền Tây. Các thủ lĩnh này được tuyển chọn trong số những người tán thành việc di dân, trong đó có anh em Omatla và Đất Sét Đen. Quả thực, trong số đó có cả Hoitl-metti, một người yêu nước. Người chiến binh can đảm ấy đã bị bao người da đỏ chửi rủa nặng nề, chỉ vì anh đam mê “nước lửa”. Feghen, phái viên chính phủ tháp tùng phái đoàn đi thị sát đất mới, đã biết rất rõ nhược điểm nát rượu của Hoitl-metti.
Cái bẫy của chính phủ đã được tính toán kỹ càng và đưa vào thực hiện hết sức khéo léo. Các đại biểu da đỏ được đón tiếp nồng hậu ở đồn Gibson trên sông Arcanzas. Hoitl-metti vui như gặp hội. Người ta đặt bản hiệp định di dân trước mặt bảy vị thủ lĩnh, và cả bảy đã nhanh nhẹn ký tên. Màn ảo thuật thế là hoàn thành tốt đẹp!
Nhưng ngay cả khi đó cũng chưa có nghĩa là hiệp ước ký bên bờ sông Oclavaha đã hoàn toàn có hiệu lực. Đoàn thị sát còn phải về báo cáo kết quả và xin ý kiến cộng đồng. Muốn vậy lại phải triệu tập một cuộc họp các thủ lĩnh và chiến binh. Tất nhiên việc đó chỉ có tính chất hình thức, vì ai cũng biết rõ là nhân dân rất bất bình với bảy vị thủ lĩnh thỏa hiệp, và chắc chắn là sẽ không ủng hộ họ.
Tình hình đó càng rõ nét hơn khi những điều khoản khác của hiệp ước cứ đổ sụp dần. Chẳng hạn điều khoản về việc các thủ lĩnh da đỏ tham gia hiệp ước Oclavaha có nghĩa vụ trao trả nô lệ bỏ trốn cho chủ nô da trắng. Bây giờ người da đỏ không chịu trao trả nô lệ nữa. Trái lại, các nô lệ da đen tin cậy tìm chỗ nương náu ngay trong cộng đồng da đỏ. Ông phái viên chính phủ biết rõ điều đó. Ông ta triệu tập một cuộc họp mới, tuy vẫn coi đó chỉ là một chuyện hình thức thuần túy. Biết đâu đấy, có thể trong cuộc họp ông sẽ thuyết phục được người da đỏ ký kết hiệp định. Nếu không thành ông sẽ dọa dẫm, sẽ dùng lưỡi lê ép họ phải ký. Chính miệng ông đã không dấu diếm, nói toạc ra như vậy. Đồng thời các đội quân chính phủ từ mọi ngả đang kéo tới đồn King, nơi ở của phái viên, còn các đơn vị tăng cường khác mỗi ngày kéo về vịnh Tamp một đông thêm. Chính phủ đã có biện pháp, khi cần họ sẽ dùng bạo lực.
Hồi còn học tôi cũng nắm được tình hình đang diễn tiến. Còn các bạn học cùng trường võ bị với tôi phải nói là rất rành công việc về người da đỏ. Những vấn đề này đặc biệt lôi cuốn họ, nhất là những anh chàng nôn nóng muốn mau mau ra khỏi bốn bức tường học viện. Cuộc “chiến tranh Ó Đen”* vừa chấm dứt ở miền Tây đã từng là cơ hội tốt cho nhiều võ quan lập công tích, còn bây giờ các chàng trai ham mê chiến công đều hướng tới Florida.
“Chiến tranh Ó Đen”: cuộc nổi dậy của người da đỏ, do thủ lĩnh Ó Đen lãnh đạo, chống lại chính quyền Mỹ (1832).
Tuy nhiên hầu hết đám võ quan tương lai đều coi chuyện tìm kiếm vinh quang trong cuộc chiến tranh này chỉ là một chuyện khôi hài. Cuộc chiến sẽ dễ dàng kết thúc với thắng lợi của người da trắng: đối phương không đáng phải chú ý gì nhiều. Một nhúm người hoang dã ấy vị tất đã chọi nổi một đại đội da trắng. Dân da đỏ hoặc sẽ bị giết sạch, hoặc bị bắt làm tù binh ngay từ cuộc đụng độ đầu tiên. Họ làm sao mà kháng cự lâu cho được! Lũ bạn cùng trường với tôi tin tưởng điều đó, và nói chung cả nước đều tin như vậy. Thậm chí có viên sĩ quan còn dám tuyên bố chỉ cần một trung sĩ tháp tùng, thay cho cả một đơn vị hộ tống, anh ta sẽ xuyên suốt lãnh thổ da đỏ bình an vô sự. Không một ai tin rằng các bộ lạc da đỏ sẵn sàng và có đủ khả năng chống chọi lâu dài. Chỉ có một số rất ít người dè dặt cho rằng người da đỏ sẽ chống lại.
Riêng tôi, tôi có quan điểm khác. Tôi hiếu biết người da đỏ nhiều hơn phần lớn những kẻ đang phán xét về họ. Tôi biết đất nước, con người họ, tôi biết mặc dù không cân sức và vô vọng trong cuộc đọ sức với đội quân xâm lược, người da đỏ sẽ không dễ dàng chấp nhận những điều kiện nhục nhã. Và chinh phục họ không phải là chuyện dễ như các chàng trai kia lầm tưởng. Nhưng đó là ý nghĩ của riêng tôi, cũng có thể tôi lầm.
Mọi tin tức chi tiết chúng tôi biết qua báo chí. Chúng tôi cũng thường xuyên có thư của những người bạn cùng học ở West-Point và hiện đang đóng ở Florida. Chúng tôi biết khá chi tiết, tường tận nhiều việc, và biết khá nhiều tên tuổi các thủ lĩnh da đỏ, cũng như chính sách nội bộ của các bộ lạc. Hình như giữa các bộ lạc da đỏ có những bất đồng. Phái da đỏ do một trong số anh em nhà Omatla cầm đầu có lẽ đã đồng ý nhượng bộ chính phủ. Đó là phái phản bội, và là phái thiểu số. Những người yêu nước đông hơn nhiều. Trong đội ngũ những người yêu nước có cả mico và các thủ lĩnh hùng mạnh như Holata, Koa-hadzo và Abram da đen.
Trong đội ngũ những người yêu nước còn có một chàng trai mà dư luận dành cho biết bao tiếng đồn bay bổng, tên tuổi chàng trai ngày càng hay xuất hiện trên báo chí và trong những bức thư của bạn bè tôi. Đó là một trong những thủ lĩnh da đỏ trẻ, người mà mấy tháng nay vừa chiếm được uy tín và ảnh hưởng lớn lao trong bộ lạc mình. Anh là một trong những người phản đối quyết liệt chủ trương di cư, anh nhanh chóng trở thành linh hồn của phái kháng chiến, lôi cuốn theo mình các thủ lĩnh già và hùng mạnh nhất.
Chúng tôi, những học viên West-Point, rất hâm mộ chàng trai ấy. Tên tuổi anh được gắn với những phẩm chất cao quí của một người anh hùng - anh có khuôn mặt và phong thái cao thượng, anh dũng cảm, đẹp trai, thông minh xuất chúng... Nói chung, những ưu việt thể chất và trí tuệ anh được ca tụng hết lời, đầy hào hứng, thán phục, đến nỗi có cảm giác như có phần khuyếch đại. Anh đẹp như Apollon, như Adonis hay Endimion... Anh là số một trong mọi thứ: nhà thiện xạ số một, con cá kình số một, kỵ sĩ số một, tay săn số một... Anh luôn là nhân vật kiệt xuất, cả trong thời bình cũng như thời chiến.
Nhân dân Mỹ đã một thời gian dài sống trong hòa bình với người da đỏ. Những kẻ “hoang dã” thi vị sống đâu đó tận biên giới xa xôi. Ở các thôn trấn hiếm khi gặp người da đỏ, và cũng ít ai được nghe những câu chuyện ly kỳ về họ. Đã từ lâu người ta không thấy các đại biểu da đỏ xuất hiện ở các thành phố. Nhưng giờ đây, những người con của núi rừng đã khơi dậy trong tất cả mọi người một mối quan tâm nóng bỏng. Người da đỏ chỉ còn thiếu vị anh hùng của mình. Và họ đã có. Một thủ lĩnh trẻ măng. Thủ lĩnh Oskeola.