Vienne. Những chuyến xe điện cuối cùng lướt trong đêm. Đại lộ Mariahlifer Strasses. Chúng tôi cảm thấy rờn rợn. Chỉ vài bước chân nữa thôi chúng tôi sẽ đứng ở quảng trường Concorde[83]>. Xuống xe điện ngầm, lần chuỗi hạt theo kiểu sau đây để yên lòng: Cung điện Tuilseries, Palais Royal, Louver Châtelet. Mẹ chúng tôi đang đợi, phố bờ sông Conti. Chúng tôi sẽ uống nước bạc hà, nhìn những bóng sáng mà chiếc ca nô nhỏ chạy trên sông hắt lên tường căn phòng ngủ của chúng tôi. Chưa bao giờ chúng tôi yêu Paris, yêu nước Pháp như lúc này. Một đêm tháng Giêng, người họa sĩ Do Thái này, người họ hàng của chúng tôi, đã chân thấp chân cao đi khu phố Monmartre, lẩm bẩm trong cơn hấp hối: “Cara, cara Italia”[84]>. Số phận ngẫu nhiên khiến anh ta sinh ra ở Livourne, trong khi anh ta rất có thể sinh tại Paris, Londons, Varsoivie, bất cứ đâu. Chúng tôi sinh ra tại Boulogne-sur-Seine, Ile-de-France. Cách xa đây, Tuilseries, Palais Royal, Louver Châtelet. Bà La Fayette tuyệt diệu. Choderlos de Laclos. Benjamin Constant. Stendhal đáng quý. Số phận đã chơi khăm chúng tôi một vố. Chúng tôi không được trở lại đất nước chúng tôi nữa. Chết ở đại lộ Mariahilfer, Vienne, Áo, như những con chó lạc lối. Không ai có thể che chở cho chúng tôi. Mẹ chúng tôi đã chết hoặc hóa điên. Chúng tôi không biết địa chỉ của cha chúng tôi ở New York. Cũng như địa chỉ của Maurice Sachs. Của Adrien Debigorre. Còn Charles Lévy-Vendôme thì nhắc đến kỉ niệm về ông ta chỉ vô ích. Tania Arcisewska đã chết, bởi nàng nghe theo lời khuyên của chúng tôi. Essarts cũng đã chết. Cô Loitia chắc đã quen dần với các nhà chứa ở miền đất xa lạ. Những khuôn mặt đã đi qua cuộc đời chúng tôi, chúng tôi đã không cố níu họ lại, ôm chặt họ, yêu quý họ. Chúng tôi đã không có khả năng làm một cử chỉ nào.
Chúng tôi đến Burggarten, ngồi xuống một ghế dài công viên. Đột nhiên chúng tôi nghe thấy tiếng chân gỗ đập xuống mặt đất. Một người đàn ông tiến về chúng tôi, một người tàn phế khủng khiếp… Hai mắt ông rực lên như lân tinh. Chòm tóc và hàng ria mép nhỏ lấp lánh trong bóng tối. Nụ cười gằn trên môi ông làm tim chúng tôi đập thình thình. Cánh tay trái ông đưa ra nắm một cái móc. Chúng tôi đã tiên đoán chúng tôi sẽ gặp ông ta ở Vienne. Một cách định mệnh. Ông ta mặc quân phục hạ sĩ quan Áo để làm chúng tôi thêm hoảng sợ. Ông ta đe nẹt chúng tôi. Ông ta hét: “Sechs Millionen Juden! Sechs Millionen Juden!”[85]>. Tiếng cười ngặt nghẽo của ông ta như chui vào tận bên trong lông ngực của chúng tôi. Chúng tôi bỏ chạy. Ông ta đuổi theo, miệng vẫn gào: “Sechs Millionen Juden! Sechs Millionen Juden!”. Chúng tôi chạy rất lâu từ bên này sang bên kia một thành phố chết, một thành phố bị tê liệt do đình công, với những tòa lâu đài cổ. Hofburg. Lâu đài Wilazek… Sau lưng chúng tôi, người cựu quân nhân Cái Móc giọng khàn khàn hát bài Hitler leute[86]>, gõ nhịp bằng cái chân gỗ trên mặt đường. Chúng tôi cảm thấy trong khắp thành phố chỉ có chúng tôi. Sau khi giết chết chúng tôi, kẻ thù của chúng tôi sẽ chạy dọc theo những phố xá này như một bóng ma, cho đến nơi tận cùng thời gian.
Ánh sáng những ngọn đèn của Graben làm đầu óc chúng tôi dần dần tỉnh lại. Ba du khách Hoa Kỳ cam đoan với tôi rằng Hitler đã chết từ lâu. Tôi theo chân họ, giữ khoảng cách vài mét. Họ đi vào phố Dorothea Gasse, rẽ vào quán giải khát đầu tiên. Tôi ngồi vào bàn trong cùng. Tôi không có lấy một shilling trong người nên tôi bảo hầu bàn là tôi vào đây là để đợi một người. Anh ta cười, đem đến cho tôi một tờ báo. Tôi thấy hôm qua, lúc nửa đêm, Albert Speer và Baldur von Schirach đã rời khỏi nhà tù Spandau, trong những chiếc xe Mercedes đen.
Trong cuộc họp báo ở khách san Hilton Berlin, Schirach tuyên bố: “Rất tiếc là đã bắt các vị phải chờ đợi quá lâu!”. Trong tấm ảnh chụp, y mặc áo len cổ lọ, chắc bằng lông dê vùng Cashmire, Made in Scotland[87]>. Một ông lớn. Xưa kia làm thị trưởng Vienne. Năm chục ngàn người Do Thái[88]>.
Một người phụ nữ trẻ tóc đen, bàn tay chống cằm. Tôi thầm tự hỏi, cô ta làm gì ở đây mà đi một mình và mặt buồn rười rượi giữa đám người nốc bia ầm ĩ kia? Chắc hẳn cô ta thuộc về một chủng tộc mà tôi lựa chọn trong mọi chủng tộc: người thuộc chủng tộc đó có đường nét trên mặt vừa cứng rắn vừa dễ vỡ, biểu lộ một sự trung thành với khổ đau. Raphael Schlemilovitch không phải loại cầm lấy bàn tay thiếu máu của họ rồi van nài họ hãy làm lành với cuộc sống. Tôi, những người tôi yêu, tôi đều giết đi. Cho nên tôi luôn chọn những người yếu đuối, không có khả năng chống đỡ. Chẳng hạn tôi đã làm mẹ tôi chết vì buồn rầu. Bà tỏ ra ngoan ngoãn một cách lạ thường. Bà van nài tôi chữa bệnh lao phổi. Tôi lạnh nhạt đáp: “Lao phổi không chữa được, người ta chỉ bảo quản nó, giống như một bao ca-ve”. Mẹ tôi cúi mái đầu. Sau này, Tania cũng van xin tôi che chở cho nàng. Tôi liền chìa lưỡi dao cạo râu nhãn Gillette loại xanh biếc. Nói đúng ra, tôi đã nhìn thấy trước điều mong muốn của nàng và đã giúp nàng thực hiện điều mong muốn ấy: bởi rồi nàng sẽ ngán một thằng cha sống vui vẻ. Lén tự tử trong lúc hắn đang lớn tiếng ca ngợi vẻ đẹp của mùa Xuân. Còn Essarts, người anh em, người bạn thân thiết duy nhất của tôi, thì chẳng phải chính tôi đã điều khiển phanh ôtô để cậu ta được vỡ sọ một cách hoàn toàn yên ổn đấy sao?
Người phụ nữ trẻ sửng sốt nhìn tôi. Tôi sực nhớ câu căn dặn của Nam tước Lévy-Vendôme: cậu hãy dùng vũ lực mà xông vào cuộc đời người khác! Tôi bèn ngồi sang bàn cô ta. Cô ta nhoẻn một nụ cười và chất sầu não của nó làm tôi rất khoái. Tôi quyết định lập tức tin cậy cô ta. Hơn nữa cô ta lại tóc đen. Tóc vàng, nước da trắng hồng, cặp mắt như bằng sứ bao giờ cũng làm tôi căm ghét. Còn mọi thứ gì toát lên sức khỏe và hạnh phúc đều nâng dạ dày của tôi lên. Người theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc theo cách của tôi. Người ta sẵn sàng tha thứ những định kiến của một tên Do Thái đang bị lao phổi.
- Ông sẽ đến chứ? - Cô ta nói với tôi.
Trong giọng nói của cô ta có nhiều chất dịu dàng đến mức tôi phải tự hứa sau này sẽ viết một cuốn tiểu thuyết thật đẹp tặng cô ta, lấy tên là “Schlemilovitch trong thế giới phụ nữ”. Trong cuốn truyện đó tôi sẽ nêu lên một thanh niên Do Thái trong những lúc tuyệt vọng đã tìm cách lẩn trốn nơi các phụ nữ. Thiếu họ, thế gian không thể chịu nổi. Nam giới quá nghiêm chỉnh. Quá mải mê vào những thứ đẹp nhưng trìu tượng, những cái họ gọi là thiên hướng: chính trị, nghệ thuật, công nghệ dệt. Họ cứ phải xem xét, đánh giá chúng ta rồi mới chịu giúp. Nam giới không có khả năng làm một cử chỉ không vụ lợi. Họ quá lí trí. Thực dụng. Keo kiệt. Lắm ảo tưởng về bản thân họ. Nếu cứ trông cậy vào nam giới thì tôi đến chết đói mất.
Tôi và cô gái rời khỏi phố Dorothea Gasse. Từ giờ phút đó trở đi, mọi kỉ niệm của tôi như chìm sau một làn sương. Chúng tôi ngược lên Graben, quặt sang trái. Vào một quán giải khát lớn hơn nhiều so với quán lúc trước. Tôi uống rượu, ăn, tôi lấy lại sức khỏe, trong khi Hilda - tên của nàng- đắm đuối nhìn tôi. Xung quanh hai chúng tôi các bàn đều có rất nhiều phụ nữ. Gái điếm. Hilda là gái điếm. Nàng vừa tìm thấy ở Raphael Schlemilovitch một ma cô dắt gái. Sau này tôi gọi thằng cha đó là Marizibill: Khi đó Apollinaire nói về “gã dắt gái người Do Thái, tóc hung đỏ và mặt trắng hồng”, chính là ông ta nghĩ đến tôi. Tôi đâm thành chủ nhân ông của ngôi nhà này: gã hầu bàn bưng rượu đến cho tôi hơi giống Nam tước Lévy-Vendôme. Đám lính tráng Đức đến quán của tôi để làm tình giải khuây trước khi lên đường sang mặt trận Nga. Ngay tên trùm mật Đức Heydrich thỉnh thoảng cũng đến đây. Hắn mê Tania, Loitia và Hilda, mấy gái điếm xinh đẹp nhất của tôi. Hắn không cảm thấy ghê tởm khi hắn nằm đè lên thân thể Tainia, cô gái Do Thái. Dù sao thì Heydrich cũng mang một nửa dòng máu Do Thái. Hitler đã lờ đi chuyện ấy, vì thấy tên trợ thủ này quá mẫn cáng. Và người ta cũng chừa tôi ra, tôi - Raphael Schlemilovitch, tên dắt gái lớn nhất của Đệ tam Đế chế, đám gái điếm đã làm lá chắn cho tôi. Nhờ họ, tôi không bị đưa đi trại tập trung Auschwitz. Nếu chẳng may tên thị trưởng thành phố Vienne có thay đổi cách nghĩ đối với tôi thì Tainia, Loitia và Hilda sẽ một ngày nào đó hùn tiền lại để chuộc tôi. Tôi hình dung thấy chỉ năm trăm ngàn mác là đủ, nếu ta tính đến một điều là giá trị một tên Do Thái không bằng giá trị sợi dây thừng treo cổ nó. Bọn mật vụ Gestapo sẽ nhắm mắt lờ đi để mặc cho tôi trốn sang Nam Mỹ. Không cần đến cái triển vọng ấy làm gì: nhờ Tainia, Loitia và Hilda, tôi rất có uy tín với Heydrich. Mấy cô xoay được của thằng cha một tấm giấy bảo lãnh có thêm cả chữ kí của tên trùm Quốc xã Himmler, chứng thực tôi là công dân danh dự của Đệ tam Đế chế. Một người Do Thái quan trọng, cần thiết. Khi được đàn bà con gái che chở thì mọi sự cứ êm ru.
Từ 1935 trở đi, tôi là nhân tình của Eva Braun[89]>. Quốc trưởng Hitler luôn bỏ mặc ả một mình ở Brechtesgaden. Lập tức tôi nghĩ đến những thuận lợi của tình trạng đó.
Tôi đang đi vơ vẩn xung quang tòa biệt thự Berghof thì lần đầu tiên nhìn thấy Eva Braun. Cả hai đều bị “sét đánh”. Hitler mỗi tháng một lần đến Obersalzberg. Hắn và tôi rất ăn ý. Hắn vui lòng chấp nhận tôi làm chân tháp tùng, phục vụ Eva. Hitler coi tất cả những chuyện đó là chuyện tầm phào, không đáng quan tâm… buổi tối hắn nói chuyện với Eva và tôi về những dự định của hắn. Chúng tôi ngồi nghe hắn như hai đứa trẻ con. Hitler phong tôi làm Binh đoàn trưởng S.S danh dự. Tôi sẽ phải tìm cho được tấm ảnh của Eva Braun, trên đó ả viết: “Fur mein kleine Jude, mein geliebter Schlemilovich.- Seine Eva”.[90]>
Hilda nhẹ nhàng đặt bàn tay lên vai tôi. Đêm đã khuya. Khách đã ra hết khỏi quán. Gã hầu bàn đang đọc tờ “Der Stern”[91]> ở quầy. Hilda đứng dậy, lùa một đống tiền kim loại vào khe của máy hát. Lập tức giọng hát Zarah Leander ru hồn tôi như một dòng sông êm ái. Cô ta hát Ich stehe im Regen Em đợi anh dưới trời mưa. Cô hát Mit roten Rosen Fangt die Liaber meistens an Tình yêu bao giờ cũng bắt đầu bằng những bông hồng đỏ. Và tình yêu thường kết thúc bằng những lưỡi dao cạo nhãn Gillete loại xanh biếc. Gã hầu bàn đề nghị tôi và cô gái rời khỏi quán.
Chúng tôi đi xuống một đại lộ vắng tanh. Tôi đang ở đâu? Vienne? Genève? Paris? Và cô gái đang khoác tay tôi tên là Tainia, Loitia, Hilda hay Eva Braun? Lát sau chúng tôi đến giữa một quảng trường, trước cửa một tòa nhà giống như nhà thờ kiểu lớn, đèn nến sáng trưng. Nhà thờ Sacre- Coeur? Tôi buông mình xuống ghế băng của một phòng thang máy. Người ta mở một cánh cửa. Một gian phòng lớn tường trắng. Một chiếc giường có tán ở trên[92]>. Tôi ngủ thiếp đi.
Hôm sau tôi làm quen với Hilda, cô bạn mới. Mặc dù làn tóc đen và da mặt hơi xám, Hilda vẫn là một cô gái Aryen, lai Đức lai Áo. Cô lấy trong ví ra rất nhiều tấm ảnh của cha mẹ. Cả hai đều đã chết. Cha cô chết ở Berlin trong cuộc oanh kích. Mẹ cô bị bọn Cô-dắc mổ bụng. Tôi tiếc đã không quen được với Murzzuschlag, viên sĩ quan S.S cứng đơ, suýt là bố vợ tương lai của tôi. Tấm ảnh đám cưới ông làm tôi rất thích: Murzzuschlag ở Bruxelles làm đám trẻ con xung quanh tò mò nhìn, do ông mặc bộ quân phục may cắt không thể chê được và ông có cái cằm ngạo mạn. Ông ta không phải nhân vật bình thường: bạn thân của hai trùm Quốc xã Rudolph Hess và Goebbels, mày tao với Himmer. Ngay cả Hitler lúc trao huân chương Quân công cho ông ta cũng tuyên bố: “Skorzeny và Murzzuschlag chưa bao giờ làm tôi thất vọng”.
Tại sao tôi không gặp Hilda vào những năm ba mươi? Phu nhân Murzzuschlag pha cho tôi li kneudel, còn ông chồng bà thì âu yếm tát nhẹ vào má tôi, nói:
- Anh là Do Thái phải không? Anh yên tâm, chúng tôi sẽ thu xếp chuyện đó! Các chuyện khác để tôi lo! Der treue Heinrich[93]> sẽ thông cảm thôi.
Tôi cảm ơn ông, nhưng tôi không cần nhờ ông: là người tình của Eva Braun, người thân cận của Hitler, từ lâu tôi đã là người Do Thái hợp pháp của Đệ tam Đế chế. Cho đến ngày cuối cùng, kì nghỉ cuối tuần nào tôi cũng đến Obersalzberg và các quan chức Quốc xã đều tỏ lòng kính trọng tôi một cách sâu sắc.
Phòng ngủ của Hilda ở tầng cuối cùng trong một tòa lâu đài cổ kính, đại lộ Backer Strasse. Phòng cực kì sang trọng và rất lớn, trần cao, giường có tán ở trên, cửa sổ to xây kiểu có bệ vươn ra ngoài và lắp kính. Giữa phòng treo chiếc lồng nhốt con họa mi Do Thái. Một con ngựa bằng gỗ ở phía trong, bên trái. Vài ống kính vạn hoa khổng lồ đặt rải rác trong phòng. Chúng đều gắn tấm biển nhỏ đề “Công ty hữu hạn Schlemilovitch. New York”.
- Chủ công ty này hẳn là người Do Thái, em tin chắc là như thế! - Hilda nói với tôi. - Nhưng điều đó không cản trở ông ta sản xuất những cái kính vạn hoa tuyệt đẹp. Em rất mê kính vạn hoa. Anh nhìn vào đây xem, Raphael! Vẫn khuôn mặt người nhưng được tạo thành bởi hàng ngàn chấm sáng và chúng liên tục thay đổi hình dạng.
Tôi định nói với cô ta rằng cha tôi chính là tác giả những kiệt tác nhỏ đó, nhưng lại thôi vì thấy cô ta nói xấu những người Do Thái. Họ đang đòi bồi thường, viện cớ gia đình họ bị tàn phá trong các trại tập trung. Họ cắt tĩnh mạch của nước Đức làm nước Đức thành kiệt quệ. Họ lái xe Mercedes, uống rượu sâm banh, trong khi những người Đức nghèo khổ phải làm việc quần quật để tái thiết đất nước. Ôi, đồ con bò! Sau khi đã tàn hại nước Đức, bây giờ chúng lại dắt khách cho gái điếm Đức.
Bọn Do Thái đã thắng trận, chúng đã giết cha, hiếp dâm mẹ. Hilda không ngớt chửi rủa. Tốt nhất là chịu khó nghe cô ta nói vài ngày nữa rồi hãy kể gốc gác lai lịch của tôi. Cho đến lúc này đối với Hilda, tôi vẫn là hiện thân cho vẻ đẹp và duyên dáng của người Pháp mà nàng hình dung qua những chàng ngự lâm mặc áo quần màu xám, qua thái độ táo tợn, lịch sự, qua tinh thần made in Paris. Hilda đã chẳng khen ngợi tôi về giọng nói tiếng Pháp du dương đó sao?
- Chưa bao giờ, - nàng luôn nói, - em nghe một người Pháp nói tiếng mẹ đẻ hay như anh nói.
- Anh là người vùng Tours, - tôi giải thích. - Người vùng Tours nói tiếng Pháp thuần khiết nhất. Tên anh là Rapheal de Chateau-Chinon, nhưng em đừng nói với ai: anh đã xé và nuốt mất thẻ căn cước cốt để không ai biết anh là ai. Chuyện khác: vì là người Pháp anh thấy món ăn của người Áo khó nuốt! Khi anh nghĩ đến món vịt hầm canh, món Nuits-Saint-Geogers cho rượu chát, món gà quay Bresse. Hilda, anh sẽ đưa em sang nước Pháp, để em văn minh lên đôi chút! Hilda, nước Pháp muôn năm! Dân nước em là những kẻ man di mọi rợ.
Hilda tìm cách để tôi quên đi sự thô thiển Đức - Áo bằng cách chuyển câu chuyện sang nói về Mozart, Schubert, Hugo von Hofmansthal.
- Hofmansthal ấy ư? - tôi nói - Một tên Do Thái, Hilda ạ! Nước Áo là nơi đầy những cộng đồng Do Thái. Bác học Freud, nhà văn Zweig, rồi Schnitzler, Hofmansthal, đều sinh ra trong các khu phố Do Thái! Anh thách em nêu ra được tên một nhà thơ lớn nào ở vùng Tyrol[94]> đấy! Bên Pháp, bọn anh không đời nào chịu để kẻ khác xâm lấn như thế. Những tên tuổi Montaigne, Proust, Louis-Fredinarid Céline không thể nào biến được nước Pháp thành Do Thái! Những người Pháp chính cống như Ronsard và Du Bellay đã túc trực sẵn. Họ sẽ che chở cho nước Pháp! Chưa kể em, Hilda yêu quý của anh, người Pháp chúng anh sẽ không buồn phân biệt người Đức với người Áo, người Tiệp với người Hung, tất cả bọn họ đều giống như người Do Thái hết. Nhất là em đừng bao giờ nói với anh về cha em, sĩ quan S.S. Murzzuschlag, cũng như về đám Quốc xã. Tất cả bọn họ đều là Do Thái hết, Hilda bé bỏng của anh, đảng viên Quốc xã đều là những người Do Thái tiên tiến nhất! Em thử nghĩ về Hitler mà xem, một tên hạ sĩ quèn, thấp bé, tội nghiệp, ngày trước từng lang thang lêu lổng trên đường phố Vienne, áo không có mà mặc, bánh mì không có mà ăn! Hitler muôn năm!
Cô nàng chăm chú nhìn tôi, mắt trợn lên kinh ngạc. Liền sau đấy tôi còn kể cho cô nghe những sự thật khác còn tàn bạo hơn. Tôi nói thật ra với cô về gốc gác Do Thái của tôi. Tôi chọn đúng lúc thuận lợi nhất, ghé vào tai cô nói lời ngỏ tình của chàng hiệp sĩ vô danh thời cổ ghé vào tai cô con gái một vị pháp quan Giáo hội Cơ-đốc:
Ich, Senora, eur Geliebter,
Bin der Sohn, des vielbelobten
Grossen, schriftegelehrten Rabbi
Israel von Saragossa. [95]>
Chắc chắn Hilda chưa đọc bài thơ đó của Heine.
Buổi tối chúng tôi hay đến Prater. Các hội chợ luôn gây cho tôi ấn tượng mạnh.
- Em thấy không, Hilda, tôi giảng giải, các hội chợ đều buồn khủng khiếp. Dòng sông thần chẳng hạn: em lên chiếc thuyền với vài bè bạn, em để dòng nước đưa đi. Đến nơi, em và bè bạn mỗi người nhận được một viên đạn vào sau gáy. Ở đây có cả hành lang dị hình, những ngọn núi Nga[96]>, vòng tròn đu quay, những chỗ bắn cung. Em đứng trước tấm gương dị hình và mặt em thành dài ngoẵng, gầy đét như que củi, ngực em chỉ còn là bộ xương và em kinh hoàng. Những ngọn núi Nga thì chạy vùn vụt nhưng đột nhiên trật đường ray và thế là em gãy xương sống. Xung quanh vòng tròn đu quay, bọn cung thủ đứng thành vòng tròn, dùng mũi tên tẩm thuốc độc bắn xuyên vào lưng em. Vòng tròn cứ quay tít không dừng lại và người ngồi trên lưng các con ngựa gỗ cứ thế ngã bật ra ngoài. Lâu lâu đu quay lại ngừng chạy vì xác chết chất thành đống chẹn lại. Thế là đám cung thủ kia vào dọn sạch các xác chết, cho những người mới đến ngồi vào vòng quay. Người ta mời những thằng cha ngu ngốc tụ tập vào những chỗ bắn cung lấy thưởng, Người bắn cung phải nhằm vào chỗ đúng giữa hai mắt của hình nộm, nhưng đôi khi mũi tên bay chệch hướng, trúng vào tai, vào mắt, có khi vào giữa cái miệng đang há hốc. Khi những người bắn nhằm trúng, họ được năm điểm. Khi mũi tên đi chệch ra ngoài họ bị trừ năm điểm. Người bắn cung có số điểm cao nhất là một cô gái tóc vàng, kiểu người Ba Lan. Cô ta nhận giải thưởng là một thứ trang trí bằng giấy bạc và một cái đầu lâu bằng sôcôla. Tôi quên chưa kể về những “túi bất ngờ” được bán trong các ki ốt bánh kẹo: người mua bao giờ cũng thấy trong túi có vài hạt tinh thể améthyste cyanure kèm theo cách dùng: “Na, friss schon!”[97]> Những cái túi cyanure dành cho tất cả mọi người! Sáu triệu[98]>! Chúng ta thật sung sướng ở Theerensienstadt…
Bên phía Prater, có một công viên lớn, nơi các cặp tình nhân dạo chơi. Buổi tối, tôi dẫn Hilda đến dưới một tán cây, gần những luống trồng hoa, những bãi cỏ xanh mướt. Tôi liền tát cô ba cái như giáng trời. Tôi thích nhìn thấy máu rỉ ra ở hai mép cô. Một sự thích thú thật sự. Một đứa con gái Đức. Thời trước, loại con gái này hẳn đã ngủ với một thằng S.S Totenkopf nào đó. Tôi có tính thù dai.
Bây giờ tôi mới thả mình trôi theo cái dốc của sự thú nhận. Tôi không giống Gregory Peck như tôi đã quả quyết ở trên. Tôi không có sức khỏe cũng như keep smiling[99]> của thằng cha Hoa Kỳ đó. Tôi giống như người họ hàng của tôi, họa sĩ gốc Do Thái Modigliani. Người ta gọi ông là “Chúa Jesus vùng Toscane”. Tôi cấm ai dùng cái tên gọi ấy, khi người ta muốn ám chỉ đến cái đầu đẹp đẽ của người mắc bệnh lao.
Ồ, không, tôi không khác Modigliani hơn khác Gregory Peck. Tôi giống hệt nghệ sĩ hề Groucho Marx: cũng cặp mắt ấy, cái mũi và hàng ria mép ấy. Tồi tệ hơn nữa, tôi là anh em sinh đôi của tên Do Thái Suss. Cần cho Hilda thấy như thế bằng mọi giá. Đã một tuần nay, cô ta không còn dáng tự tin trước mắt tôi nữa.
Trong phòng cô ta lăn lóc những đĩa ghi bản nhạc Horst Wessel Lied và Hitlerleute cô ta giữ làm kỷ niệm về cha cô. Diều quạ ở Stalingrat và chất lân tinh ở Hambourg lúc này đang gặm nhấm dây thanh đới của những chiến binh đó. Từng đứa một. Tôi kiếm được hai máy quay đĩa. Để soạn bản nhạc Requiem Judeo-nazi - Lễ cầu hồn Do Thái - Quốc xã, tôi đặt lên máy cùng một lúc hai đĩa Horst Wessel Lied và Einheitsfront của các binh đoàn quốc tế. Sau đấy tôi cho thêm vào đĩa Hitlerleute bài hành khúc của Binh đoàn Thaelman, tiếng kêu lìa đời của những người Do Thái và Đảng viên cộng sản Đức. Sau đấy, đến lúc kết thúc bản Cầu hồn, tôi đặt lên máy đĩa Hoàng hôn các Thánh thần của Wagner, gợi lên hình ảnh thành phố Berlin đang bốc cháy, số phận bi thảm của dân tộc Đức, trong khi lời than khóc những người đã chết trong trại tấp trung Auschwitz lại gợi lên hình ảnh những trại giam nơi người ta dẫn đến sáu triệu con chó.
Hilda không làm việc. Tôi hỏi dò xem cô ta sống bằng nguồn nào. Cô ta bảo cô ta bán số đồ đạc ở Bidermaier của một bà cô đã qua đời được hai mươi ngàn silinh. Hiện nay cô chỉ còn một phần tư của số tiền đó.
Tôi ngỏ ý với cô về những mối lo lắng của tôi.
- Anh yên tâm, Raphael, - cô ta nói.
Tối tối cô đến Quầy rượu Xanh của khách sạn Sacher. Cô lựa chọn nhũng khách giàu tiền nhất, bán dâm cho họ. Sau ba tuần lễ, chúng tôi kiếm được ngàn rưỡi đô la. Hilda thích công việc đó. Cô ta thấy cô đâm có được tính trật tự nghiêm túc là thứ xưa nay cô vẫn thiếu.
Hilda làm quen một cách hoàn toàn tự nhiên với Yasmine. Cô gái này cũng luôn đến khách sạn Sacher và bán cho người Hoa Kỳ cặp mắt đen láy, làn da nuột nà và dáng điệu ẻo lả phương Đông của cô.
Thoạt đầu hai cô trao đổi với nhau vài suy nghĩ về hoạt động kiếm ăn song hành của họ, sau đó hai cô trở thành đôi bạn thân thiết nhất trên đời. Yassmine đến sống ở đại lộ Backer-Strass. Chiếc giường có tán che bên trên vừa đủ cho ba chúng tôi nằm.
Hai phụ nữ trong hậu cung của mi[100]>. Trong hai ả điếm xinh đẹp ấy, chẳng bao lâu Yassmine được mi yêu quý hơn. Cô ả kể với mi về Istambul, thành phố Thổ Nhĩ Kỳ quê hương của ả, về chiếc cầu Galata và về nhà thờ Hồi giáo Validi. Mi bỗng khát khao được đến Bosphore. Ở Viene thời tiết sắp chuyển sang mùa đông và mi sẽ không sống nổi. Khi những bông tuyết đầu mùa rơi xuống, mi càng ghì chặt thêm tấm thân của cô bạn Thổ Nhĩ Kì. Mi rời khỏi Viene và đến thăm họ hàng của mi ở Trieste, những người sản xuất những lá bài để chơi bài. Sau đó mi ghé nhanh qua thủ đô Budapest của Hungari. Không còn người thân thuộc nào ở Budapest. Tất cả đã bị thủ tiêu. Ở Salonique, cái nôi của gia tộc mi, mi cũng thấy tình trạng đau buồn ấy, bọn Đức đặc biệt quan tâm đến cộng đồng Do Thái ở đây. Tại Istanbul, những người phụ nữ họ hàng của mi Sarah, Rachel, Dinah và Blanca tổ chức tiệc lớn để đón mừng đứa con lạc bước trở về. Mi dần dần quen, đâm thích cuộc sống và các món mứt hoa quả ở đây. Họ hàng của mi ở Cairo Ai Cập đang nóng lòng chờ mi đến với họ. Họ hỏi mi tín tức về những người thân thích của họ lưu vong ở London, Paris và Caracas.
Mi dừng lại một thời gian ngắn ở Ai Cập. Vì mi không còn một xu dính túi, mi tổ chức ở Port Said một cuộc hội, trong đó mi triển lãm tất cả các bạn cũ của mi. Với giá vé hai mươi đina một người, những kẻ tò mò có thể nhìn thấy Hitler bị nhốt trong cũi đang hoa tay múa chân biểu diễn màn độc thoại của chàng hoàng tử Hamlet. Rồi đám tướng lĩnh của hắn: Goering và Rodoft Hess biểu diễn môn xiếc đu bay, Himmler điều khiển những con chó thông thái của hắn, Goebbels thổi sáo sai khiến con rắn hổ mang ngóc đầu. Von Schirach biểu diễn tiết mục nuốt kiếm. Rồi tiết mục của gã Do Thái lang thang Julius Streicher. Xa chút nữa là khu vực nhảy múa: “Người đẹp cộng tác với phát xít” biểu diễn một màn vũ kịch “phương Đông”. Trong màn sân khấu này, Robert Brasillach trong trang phục vua Hồi giáo, Drieu La Rochelle trong vai vũ nữ, Abel Bonnard trong vai bà trưởng hậu cung canh giữ các cũng tần mĩ nữ của vua, Bonny và Laffont đóng vai hai Tể tướng khát máu. Có cả nhà truyền giáo Mayol, de Lupé. Những ca sĩ “Điên cuồng Vinchy” của mi trình diễn một vở ca kịch đồ sộ, trong số diễn viên có một vị Thống chế[101]>, các đô đốc Esteva, Bard, Platon, vài giám mục, tư lệnh binh đoàn Darnand và hoàng tử phản bội Laval[102]>. Tuy nhiên gian hội đông nhất là gian người ta lột trần truồng ả tình nhân cũ của mi: Eva Braun. Ả vẫn còn một chút khả năng làm tình. Những ai thích có thể sử dụng khả năng đó của ả với giá một trăm đina mỗi người một lần.
Sau một tuần, mi bỏ mặc những bóng ma đó, đem đi toàn bộ số tiền thu được. Mi vượt Biển Đỏ, đến đất Palestine và chết vì kiệt sức. Vậy là mi đã hoàn thành trọn vẹn chuyến đi của mi từ Paris đến Jerusalem.
Chỉ riêng hai cô bạn của tôi, mỗi đêm đã kiếm được ba ngàn silinh, nghề mại dâm và nghề dắt gái đột nhiên khiến tôi nhận ra mộ điều bất ngờ: thứ nghề mạt hạng có thể thành kiếm lớn nếu vào tay tài nghệ có tầm cỡ như Lucky Luciano[103]>. Không may, tôi lại không có cái tài của vị đại tướng trong ngành kĩ nghệ ấy.
Cô gái điếm Yasmine tạo cho tôi làm quen với một số người có vẻ khả nghi: Jean Farouk de Mérode, Paulo Hayakawa, bà Bá tước già Lydia Stahl, Sophie Knout, Rachid von Rosenheim, M.Igor, T.W.A Lesvy, Otto da Silva và nhiều nhân vật nữa mà tôi tiến hành buôn bán vàng, tiêu thụ ztoli[104]> giả, bán cho ai cần thứ cỏ “phiêu diêu” như cần sa. Cuối cùng tôi gia nhập cơ quan mật vụ Gestapo Pháp. Số lính S.1113. Biệt phái phối hợp với cơ qian mật vụ phố Lauriston.
Ngành cảnh sát mật làm tôi thất vọng. Tôi thấy ở đó chỉ toàn là những hướng đạo sinh chẳng khác gì mấy thằng cha táo tợn trong tổ chức Kháng chiến. Darnand là một tên tổ sư lý tưởng chủ nghĩa.
Tôi không còn thấy gì thoải mái cùng với đám Pierre Bonny, Henry Chamberlin Laffont và bè lũ của chúng. Thế rồi tôi bắt gặp ở phố Lauriston, thày giáo dạy luân lí cũ của tôi, Joseph Joanovici.
Hai chúng tôi, Joano và tôi, là những tên Do Thái tận tụy phục vụ đám đồ tể của tổ chức mật vụ phát xít Gestapo. Đứa thứ ba trong bọn tôi nằm ở Hambourg, tên hắn là Maurice Sachs.
Cái gì rồi cũng làm người ta chán nản. Cuối cùng tôi bỏ hai ả gái điếm và cái tiểu thế giới ám muội kia, nó hủy hại sức khỏe của tôi ghê gớm. Tôi bèn đi theo một đại lộ dẫn ra bờ sông Danube. Đêm tối. Tuyết rơi chầm chậm. Tôi có nên nhảy xuống dòng sông hay không? Đường phố Franz-Joseph-Kai vắng tanh. Tôi không hiểu từ đầu vẳng đến những mẩu của một bài hát: “Weisse Weihnacht”. À phải rồi, người ta đang ăn tết Noel. Cô gia sư Evelyn đọc cho tôi nghe truyện của Dickens và Andersen. Tuyệt diệu biết bao. Sáng mai tôi sẽ thấy mình dưới gốc cây thông Noel với hàng ngàn hàng vạn thứ đồ chơi! Tất cả những cái đó đã từng diễn ra trong ngôi nhà trên phố Conti, bên bở sông Seine. Một tuổi thơ có một không hai, một tuổi thơ tuyệt vời mà tôi không có thời gian để kể các bạn nghe. Một cái nhẩy điệu đà xuống dòng sông Danube giữa đêm Noel chăng? Tôi tiếc đã không để lại đôi lời vĩnh biệt hai em Hilda và Yasmine. Chẳng hạn: “Đêm nay anh không về, bởi vì đêm vừa đen vừa trắng”. Không sao! Tôi sẽ tự an ủi rằng hai ả gái điếm đó chưa đọc văn của Gerrard de Nerval. May thay ở Paris người ta đã không quên đánh một dấu bằng giữa Nerval và Schlemilovitch, hai kẻ tự tử vào mùa Đông. Tôi là kẻ không sao sửa đổi tính nết được. Tôi đã tính ăn cắp cái chết của một người khác như tôi đã từng ăn cắp những chiếc bút máy của hai văn sĩ Proust và Cesline, những chiếc bút lông của hai họa sĩ Modgliani và Soutine, những cái nhăn mặt hài hước của Groucho Marx và Chaplin. Còn lao phổi của tôi? Phải chăng tôi đã ăn cắp căn bệnh đó của Franz Kafka? Có thể tôi còn thay đổi ý kiến và sẽ chết ngay như ông ta ở bệnh viện Kierling, ngay gần đây. Nerval hay Kafka? Tự tử hay nằm viện? Không, tự tử không thích hợp với tôi. Một người Do Thái không có quyền tự tử. Cần phải nhường sự sang trọng đó cho chàng Werther đầy lãng mạn của thi hào Goethe. Vậy tôi làm gì bây giờ? Tự mình đến viện Kierling chăng? Liệu tôi có chắc chắn được chết ở đó như ở Kafka không?
Tôi không nghe thấy tiếng chân hắn bước đến gần. Hắn lập tức chìa ra cho tôi tấm các. Tôi đọc: CẢNH SÁT. Hắn yêu cầu tôi xuất trình giấy tờ. Tôi để quên. Hắn túm cánh tay tôi. Tôi hỏi tại sao hắn không còng tay? Hắn khẽ cười vỗ về:
- Ôi, vậy là ông đang say! Chắc tiệc Noel nốc nhiều rượu quá chứ gì? Thôi, để tôi đưa ông về nhà! Nhà ông ở đâu?
Tôi kiên quyết từ chối không cho hắn biết địa chỉ.
- Nếu vậy tôi buộc phải giải ông về đồn.
Thái độ thiện chí giả vờ của hắn làm tôi nổi cáu. Tôi đoán hắn làm ở sở Mật vụ Gestapo. Tại sao hắn không nói toạc ra điều đó với tôi cho xong? Hay hắn nghĩ tôi sẽ chống cự, la hét như con lợn bị chọc tiết? Những không. Bệnh viện Kierling nơi Kafka chết không ăn thua gì với cái bệnh viện mà tên cảnh sát này sắp dẫn tôi đến.
Thoạt đầu là những thủ tục thông thường. Họ hỏi tên, họ, ngày tháng sinh đẻ của tôi. Người ta khám xem tôi có ốm đau không bằng cách tiến hành một xét nghiệm oái oăm. Cuối cùng là phòng mổ. Nằm dài trên chiếc bàn bi-a, tôi nóng lòng chờ các bác sĩ, các Giáo sư Torquemada[105]> và Ximénès. Họ chìa cho tôi xem tấm phim chiếu X quang hai là phổi của tôi và tôi nhìn thầy chúng chỉ còn là hai khối u hình thù như con bạch tuộc.
- Ông có bằng lòng cho người ta phẫu thuật ông không? – giọng bình thản của Giáo sư Torquemada hỏi tôi.
- Chỉ cần ghép vào ngực ông hai lá phổi bằng thép là xong, -Giáo sư Ximénès nói, giọng thân tình.
- Chúng tôi có tinh thần trách nhiệm rất cao, - Giáo sư Torquemada nói với tôi.
- Cộng thêm là chúng tôi hết sức quan tâm đến sức khỏe của ông, - Giáo sư Ximénès nói thêm.
- Đáng buồn là phần lớn khách hàng của chúng tôi yêu bệnh tật của họ khủng khiếp và không đối xử với chúng tôi đúng như cần phải đối xử với các bác sĩ phẫu thuật.
- Mà họ đối xử với chúng tôi như thể chúng tôi là những kẻ tra tấn.
- Bệnh nhân thường hay bất công với thầy thuốc chữa bệnh của họ, -Giáo sư Ximénès nói thêm.
- Chúng tôi đành phải cứ chữa, bất chấp họ muốn hay không, Giáo sư Ximénès nói thêm.
- Chúng tôi đành phải cứ chữa, bất chấp họ muốn hay không, Giáo sư Torquemada nhắc lại.
- Một công việc được đánh giá đúng, Giáo sư Ximénèsnói thêm.
- Ông có biết một số bệnh nhân trong bệnh viện chúng tôi tổ chức nghiệp đoàn không? – Giáo sư Torquemada hỏi tôi. – Họ quyết định đính công để từ chối những chăm sóc của chúng tôi…
- Một mối đe dọa nguy hiểm cho các thầy thuốc, -Giáo sư Ximénès nói thêm. Nhất là bệnh sốt nghiệp đoàn lúc này đang lây lan ra tất cả các khoa trong bệnh viện chúng tôi.
- Chúng tôi đã giao cho Giáo sư Himmler[106]> , một bác sĩ rất chu đáo, việc dập tắt cuộc nổi loạn đó. Ông ta dùng loại thuốc gây cái chết nhẹ nhàng cho những người mắc bệnh nghiệp đoàn, cái chết dần dần.
- Vậy bây giờ ông muốn sao, - Giáo sư Torquemada hỏi tôi. – Phẫu thuật hay loại thuốc kia?
- Không thể có giải pháp nào khác đâu.
Tình hình diễn ra không như tôi dự đoán. Gã cảnh sát vẫn nắm chặt cánh tay tôi, quả quyết nói rằng hắn sẽ giải tôi đến đồn cảnh sát gần nhất chỉ cốt để thẩm tra căn cước mà thôi. Khi tôi bước vào văn phòng viên thanh tra cảnh sát, thì một tên mật vụ S.S có học, đã từng đọc các nhà thơ Pháp, hỏi tôi:
- Nói đi! Mày đã làm gì bằng cái tuổi trẻ của mày?
Tôi giảng giải cho y nghe tôi đã hủy hoại tuổi trẻ của tôi như thế nào. Rồi tôi kể y nghe nỗi áy náy của tôi: vào tuổi mà những người khác chuẩn bị cho tương lai thì tôi chỉ nghĩ đến huyện tự hủy hoại con người tôi. Chẳng hạn ở ga Lyon, dưới thời chiếm đóng, tôi muốn lên một đoàn tàu nào đưa tôi đi xa khỏi bất hạnh và nhức nhối. Hành khách lúc đó đứng xếp hàng dài trước cửa bán vé. Tôi chỉ cần xếp hàng, đợi nửa giờ đồng hồ là có được vé. Nhưng không, tôi lại trèo thẳng lên toa hạng nhất, không vé, như một kẻ đi lậu. Tàu đến Chalon sur Saone, các kiểm tra viên Đức vào toa. Tôi hoảng quá, bèn vội vã chìa hai tay ra. Tôi bảo họ rằng giấy tờ của tôi là giả, tôi không phải là Jean Cassis de Coudray - Macouard, mà tôi là DO THÁI. Tôi thở phào nhẹ nhõm.
- Sau đấy họ giải tôi đến đây cho ông thưa ông thanh tra. Xin ông quyết định số phận của tôi, tôi sẽ hết sức tuân theo.
Viên thanh tra cười thân mật, vỗ má tôi rồi hỏi có thật tôi mắc bệnh lao không.
- Chuyện đó không làm tôi ngạc nhiên, - ông ta nói. – Vào tuổi anh, tất cả mọi người đều bị lao. Nhất thiết phải chữa, nếu không anh sẽ ho ra máu và sẽ khốn khổ suốt đời, cho nên tôi quyết định như sau: nếu anh ra đời sớm hơn, ta sẽ gửi anh đến trại tập trung Auschwitz để chữa bệnh lao phổi. Nhưng bây giờ chúng ta sống trong một thời đại văn minh hơn. Đây, anh cầm lấy tấm vé tàu đi Israel. Nghe đâu ở đó người Do Thái…
Biển xanh thẫm một màu mực và thành phố Tel-Aviv trắng, trắng toát. Khi tàu cập bến, tim y[107]> đập đều đặn khiến y cảm thấy dễ chịu được trở về mảnh đất tổ tiên sau hai nghàn năm xa cách[108]>. Y lên tàu ở Marseille, lên con tàu của công ty quốc gia Israel. Trong suốt chặng đường, y cố dẹp đi nỗi lo lắng bằng cách dùng liên tiếp rượu và morphine. Bây giờ thủ đô Tel-Aviv đã trải rộng trước mắt y, y có thể chết với trái tim thanh thản.
Tiếng Đô đốc Lévy cắt đứt giấc mơ của y:
- Anh hài lòng với chuyến đi chứ, anh bạn trẻ? Đây là lần đầu tiên anh đến Israel phải không? Đất nước chúng tôi sẽ làm anh phấn khởi. Một đất nước tuyệt vời rồi anh sẽ thấy. Những thanh niên ở tuổi anh không thể thản nhiên khi nhìn thất sự năng động thần kỳ diễn ra trên Tổ quốc của chúng ta: từ Haifa đến Eilat, từ Tev-Aviv đến biển Đen…
- Tôi tin chắc là như thế, thưa Đô đốc.
- Thế ra anh là người Pháp? Chúng tôi rất yêu nước Pháp, yêu truyền thống tự do của nó, vẻ dịu dàng của đất Anjou,đất Touraine, những mùi hương của miền Provence. Và bài quốc ca của các anh nữa chứ! Tuyệt vời “Tiến lên, những đứa con của Tổ quốc!” Tuyệt vời! Tuyệt vời!
- Tôi không hoàn toàn là pháp, thưa Đô đốc, tôi là người Pháp gốc DO THÁI. Pháp gốc DO THÁI.
Đô đốc Lévy nhìn y bằng cặp mắt thù địch. Đô đốc Lévy giống Đô đốc Doenitz[109]> như hai anh em ruột. Cuối cùng Đô đốc Lévy lạnh lùng nói với y:
- Đi theo tôi!
Ông dẫn y vào một phòng nhỏ kín mít.
- Tôi khuyên anh hãy ngoan ngoãn. Người ta sẽ có lúc quan tâm đến anh.
Đô đốc tắt đèn rồi ra, đóng cửa lại, vặn chìa khóa hai vòng.
Y ngồi trong bóng tối đen như có người bịt mắt suốt gần ba tiếng đồng hồ. Chỉ một chút ánh sáng lân tinh rất mờ trên mặt đồng hồ đeo tay của y còn nối y với thế giới. Cửa phòng bật mở và y chói mắt trước ngọn đèn trần. Ba người đàn ông mặc áo mưa màu xanh lá cây tiến về phía y. Một người trong bọn chìa cho y một tấm các:
- Elias Bloch. Cục mật vụ quốc gia. Anh là người Pháp gốc DO THÁI? Tốt lắm. Anh vui lòng chìa hai tay ra để chúng tôi còng!
Người thứ tư cũng mặc áo mưa anh lá cây như ba người kia, bước vào.
- Cuộc lục soát đã đạt kết quả tốt. Rất nhiều cuốn Proust và Kafka, nhiều bức phiên bản tranh của Modigliani và của Soutine, một số tấm ảnh chụp Charlie Chpalin, Eric von Stroheim và Groucho Marx trong hành lý của anh này.
- Vậy là đã rõ ràng. – người tên là Elias Bloch nói, - trường hợp của anh lại càng nặng! Dẫn hắn đi!
Họ đẩy y ra khỏi phòng tạm giam. Còng số tám cọ vào cổ tay làm y rất đau. Ra đến hè, y trượt chân ngã khuỵu xuống. Một trong mấy nhân viên cảnh sát lợi dụng lúc đó đá liên tiếp vào sườn y, rồi dựng y đứng lên bằng cách cầm cái còng kéo mạnh.
Họ giải y đi ngang qua những dẫy kho tàng vắng tanh. Một xe tải nhỏ chở rau xanh, giống như loại xe cảnh sát Pháp đã sử dụng trong những cuộc càn quét quy mô ngày 16 ngày 17 tháng Bẩy 1942, đậu ở một góc phố. Elias – Bloch lên ngồi cạnh lái xe. Y bước vào ghế sau, cùng ba nhân viên cảnh sát kia.
Chiếc xe tải chở rau đi vào đại lộ Champs Elysées[110]>. Khách xếp hàng dài trước của rạp chiếu bóng. Trên sân trời của nhà hàng Fouquet các bà các cô mặc những râm áo liền váy màu sáng. Lúc này là một chiều thứ Bẩy của mùa xuân.
Xe đỗ lại trên quảng trường Ngôi Sao. Vài quân nhân Mỹ đang chụp ảnh Khải Hoàn Môn, nhưng y không cảm thấy cần phải gọi họ đến cứu. Bloch nắm tay y dẫn ngang qua quảng trường. Bốn nhân viên cảnh sát đi cách họ vài mét.
- Vậy anh là người Pháp gốc Do Thái? – Bloch ghé vào mặt y hỏi.
Ông ta đột nhiên giống hệt Henri Chamberlin Laffont thuộc cơ quan Gestapo Pháp.
Người ta đẩy y vào một chiếc xe hơi mầu đen đậu trên đại lộ Kléber.
- Mày sẽ được đi tàu bay, - gã cảnh sát ngồi bên phải y nói.
- Tàu ngầm chứ, phải không, Saul?- Tên ngôi bên trái nói.
- Đúng thế, Isaac. Hắn sẽ đi tài ngầm, - tên ngồi lái nói.
- Để tao làm cho.
- Không, tao! Tao đang cần tập thể dục, - tên ngồi bên phải y nói.
- Không, Isaac! Hôm nay đến lượt tao. Tối hôm qua mày đã cho thằng cha Anh gốc Do Thái đi rồi. Thằng này là của tao.
- Hình như nó Pháp gốc Do Thái phải không?
- Ý hay đấy. Ta sẽ gọi nó là Marcek Proust chứ nhỉ ?
Isaac thổi một quả trời giáng vào giữa bụng y.
- Quỳ gối xuống, Marcel! Quỳ xuống!
Y ngoan ngoãn quỳ xuống sàn xe. Y rất khó chịu phải ngồi ở cái ghế sau. Isaac tát y liền một lúc sau cái.
- Mày chảy máu, Marcel, như thế có nghĩa mày vẫn còn sống.
Saul giơ cao một dây bằng da thuộc
- Bắt lấy, Marcel Proust, - hắn nói với y.
Y nhận đòn roi da vào trúng gò má và suýt ngất.
- Thằng nhãi nhép khốn khiếp, - Isaac nói. – Thằng Pháp gốc Do Thái khốn kiếp.
Xe chạy ngang qua trước cửa khách sạn Majectic. Các cửa sổ của tòa nhà này đều tối om. Để tự trấn an, y thầm tự nhủ rằng Otto Abetz cùng tất cả số nhân viên vui vẻ của đám Cộng tác với chính quyền chiếm đóng chắc hẳn đang đợi đón y trong gian tiền sảnh và ông ta sẽ chủ trì một bữa tiệc Đức – Pháp thân thiện. Dù sao thì y chẳng đã từng là người Do Thái chính thức của Đệ tam Đế chế đó sao?
- Bọn tao sẽ cho mày tham quan khu vực, - Isaac nói với y.
- Xung quanh đây có rất nhiều công trình lịch sử – Saul nói với y.
- Đến mỗi nơi, bọn tao lại đỗ xe cho mày chiêm ngưỡng, - Isaac nói.
Chúng tỏ cho y thấy những nơi Gestapo đã trưng dụng. Các số nhà 31b và 72 đại lộ Foch 57 đại lộ Lannes. 48 phố Mallet Stevens. 21 và 23 vườn hoa trước Công viên Bois de Boulogne. 25 phố Astorg. 6 phố Adolphe-Yvon. 64 đại lộ Suchet. 49 phố Fàisanderie. 180 phố Pompe.
Khi họ đã tiến hành xong lộ trình tham quan đó, họ quay về tiểu khu Kléber-Boissière.
- Mày nghĩ gì về Quận XVI? – Isaac hỏi y.
- Đấy là quận ít biết đến nhất của Paris, - Saul nói.
- Vậy bây giờ, lái xe, cậu lái đến sô 93 phố Lauriston, - Isaac nói.
Y cảm thấy yên tâm. Hai ông bạn y Bonny và Chamberlin Laffont tất sẽ ra lệnh chấm dứt cái trò đùa tàn bạo này. Sau đấy y lại đập vỡ cổ chai sâm banh cùng với bè bạn như mọi buổi tối trước kia. René Launay, chỉ huy lực lượng Gestapo ở đại lộ Henr Martin và Odicharia chỉ huy Gestapo.
“Giêoocgi” cũng sẽ đến cùng tham dự bữa tiệc rượu với bọn y. Mọi thứ đâu lại vào đấy.
Isaac bấm chuông số nhà 93 phố Lauriston. Có vẻ ngôi nhà bị bỏ không.
- Sếp hẹn đợi chúng ta ở số 3b quảng trường Hoa Kì để tiến hành tra tấn, - Isaac nói.
Bloch đi bách bộ trên vỉa hè. Hắn mở cửa sổ nhà 3b rồi kéo cả tốp vào.
Y biết rõ tòa tư dinh này. Các bạn y Bonny avd Chamberlin Laffont đã bố trí ở đây tám xà lim và hai phòng tra tấn, còn ngôi nhà ở phố Lariston thì dùng làm chỉ huy sở và bộ phận hành chính.
Họ leo lên tầng năm. Bloch mở một cửa sổ.
- Quảng trưởng Hoa Kì yên tĩnh, - hắn nói.
- Anh bạn nhìn kìa, các ngọn đèn đường chiếu một thứ ánh sáng dịu xuống các cành lá. Đúng là một đêm tháng Năm. Vậy mà chúng tôi buộc phải cho anh bạn đi tầu ngầm! Tra tấn trong bồn tắm ấy mà, anh bạn hiểu chứ? Buồn thật! Anh bạn dùng một cốc curacao để lấy sức nhé. Một điếu Craven? Hay anh bạn muốn nghe một chút âm nhạc? Sắp tới chúng tôi sẽ cho anh bạn nghe một chút bài hát cổ của Charles Trenet. Tiếng nhạc đó sẽ át những tiếng thét của người bị tra tấn.
Saul, Isaac và Isaie bước vào. Bọn chúng vẫn không rời tấm áo mưa màu xanh lá cây. Y nhận thấy ngay bồn tắm đặt giữa phòng.
- Bồn tắm này trước đây là của Emilienne d’Alencon, - Bloch nói với y và nhe răng cười nụ cười buồn. Anh bạn trẻ hãy xem chất men này. Những hoa văn đẹp làm sao! Vòi nước bằng sạch kim.
Isaac quặt hai cánh tay ra sau lưng rồi còng lại. Saul cho máy quay đĩa chạy. Y nhận ngay ra giọng hát của Charles Trenet:
Dữ dội
Ta nghe thấy tiếng gió thổi trên biển
Dữ dội
Ta nhìn thấy mưa, những ánh chớp,
Dữ dội
Ta cảm thấy sắp có, chỉ lát nữa
sẽ có
Một cơn dông
Dữ dội...
Bloch ngồi lên thành cửa sổ, đập chân theo nhịp.
Chúng ấn đầu tôi[111]> vào làn nước lạnh giá. Hai lá phổi của tôi cứ mỗi lần lại như vỡ toác ra. Những khuôn mặt tôi đã từng yêu mến lướt qua rất nhanh trong đầu tôi. Mẹ tôi và cha tôi. Ông Giáo sư già dạy văn Adrien Debigorre. Linh hồn Perrache. Đại tá Aravis. Rồi khuôn mặt tất cả những cô gái đã từng là vợ chưa cưới của tôi: trong mỗi tỉnh tôi đều có một cô. Breragne. Normandie. Poitou, Corrèze, Lozère, Savoie... Ngay cả Limousnin. Ở Bellac. Nếu như mấy thằng vũ phu này để tôi sống sót tôi sẽ viết một cuốn tiểu thuyết đẹp: “Schéhérade và tỉnh Limousin” trong đó tôi sẽ chứng minh rằng tôi là một người Do Thái đã hoàn toàn đồng hóa.
Bọn chúng giật tóc tôi. Tôi lại nghe thấy tiếng hát của Charles Trenet:
... Dữ dội,
Ta tưởng như ngồi xem chiếu bóng
Màn bạc
Trên đó ta nhìn thấy bao thứ đẹp
Bao trò kĩ xảo, bao biến hoa
Khi một bông hồng
Bị giết...
- Chuyến tàu ngầm thứ hai sẽ kéo dài hơn, - Bloch nói với tôi, đưa tay lau nước mắt.
Lần này, hai bàn tay trắng ấn vào gáy tôi và hai bàn tay khác giữ đỉnh đầu tôi. Trước khi bị chết vì ngạt thở, tôi thoáng nghĩ rằng tôi đối xử với mẹ tôi nhiều lúc đã không được trìu mến.
Tuy nhiên cuối cùng chúng vẫn được tôi đưa ra ngoài không khí. Lúc này tiếng hát của Trenet chuyển sang:
Rồi sau đó
rồi sau đó
trên gác sân ga
mưa rơi
mưa rơi
không hề làm phức tạp
cuộc đời
mưa cười khanh khách
và soi bóng xuống những vững nước
- Bây giờ ta chuyển sang những trò nặng, - Bloch nói và cố nén một tiếng khóc.
Chúng đặt tôi nằm dài trên sàn. Isaac lấy trong túi ra một con dao díp Thụy Sĩ và rạch nhiều vết khá sâu vào gan bàn chân tôi. Sau đó hắn ra lệnh bắt tôi đi trên một đống muối. Rồi Saul tỉ mỉ lột ba móng tay tôi. Rồi Isaie giũa răng tôi. Lúc đó Trenet hát:
Thời tiết mới đẹp làm sao
đối với đàn cá nhỏ
Thời tiết mới đẹp làm sao
Đối với những chàng trai lớn
Thời tiết mới đẹp làm sao
Đối với những nàng gái tơ
Hỡi các cô, chúng tôi đang chờ...
- Tôi nghĩ đêm nay thế là đủ, Elias Bloch nói và đưa cặp mắt hiền hậu nhìn tôi.
Hắn xoa cằm tôi.
- Hiện anh đang ở khu vực dành chung cho người Do Thái cư trú ở nước ngoài. Sau đây chúng tôi sẽ dẫn anh vào xà lim dành riêng cho Do Thái Pháp. Lúc này anh là người duy nhất. Sẽ có thêm những người khác. Anh yên tâm.
- Tất cả những thằng nhãi nhép này có thể sẽ đến Marcel Proust, Isaie nói.
- Tôi khi nghe nói đến văn hóa, tôi rút dùi cui ra, - Saul nói[112]>.
- Còn tôi thì cho một phát đạn kết liễu! – Isaax nói.
- Thôi đừng có dọa dẫm cậu trai này nữa, - Bloch nói, giọng khẩn khoản.
Hắn quay lại tôi:
- Từ ngày mai, anh sẽ có số phận dứt khoát.
Isaac và Saul dẫn tôi vào một căn phòng rất nhỏ. Isaie vào theo, đưa tôi bộ pigiama kẻ sọc. Trên chiếc áo có đính ngôi sao của David bằng vải màu vàng và tôi nhìn thấy trên đó: “Franzosich Jude”. Do Thái Pháp. Trước khi đóng cửa, Isaac ngáng chân tôi một cái làm tôi ngã sấp xuống sàn.
Một ngọn đèn nhỏ nhoi sáng xà lim. Tôi nhanh chóng nhận thấy sàn xà lim đầy lưỡi dao cạo râu nhãn Gillette loại xanh biếc. Làm sao bọn cảnh sát kia đoán được tật xấu của tôi là điên rồ muốn nuốt những lưỡi dao cạo? Bây giờ tôi tiếc là chúng đã không cởi trói tôi vào tường. Suốt đêm, tôi cứ phải quằn quại, phải cắn vào lòng bàn tay để khỏi chóng mặt. Chỉ thiếu một chút nữa là tôi đã nuốt lần lượt những cái lưỡi dao cạo kia. Một cuộc nuốt liên hồi sản phẩm của hãng Gillette loại xanh biếc. Chống đỡ lại ý muốn đó quả là một cực hình giống như của vua Tantale phải chịu trong truyện cổ[113]>.
Sáng ra, Isaie và Isaac vào tìm tôi. Chúng dẫn tôi dọc theo một hành lang dài tưởng như bất tận. Isaie trỏ một cái cửa, bảo tôi vào. Để chào từ biệt, Isaac thoi một quản đấm vào cằm tôi.
Hắn đang ngồi trong phòng giấy rất lớn lát gỗ gụ, có vẻ hắn chờ tôi. Hắn mặc đồng phục đen, tôi nhìn thấy hai ngôi sao David[114]> trên ve áo vét. Hắn hút tẩu, khiến hàm răng của hắn trông càng trịnh trọng. Đầu đội mũ nồi, trông hắn giống như Josseph Darnad.
- Anh đúng là Raphaei Schlemilovitch? – Hắn hỏi tôi bằng giọng quân sự.
- Vâng
- Do Thái Pháp
- Vâng,
- Anh đã bị Đô đốc Lévy nhận mặt trên tầu Sion?
- Vâng
- Và bị giao cho chính quyền cảnh sát dưới quyền chỉ huy của Elias Bloch?
- Vâng
- Những cuốn sách phá hoại này đúng là trong hành lí của anh?
Hắn chìa ra cho tôi một cuốn của Prous, cuốn Nhật kí của Franz Kafka, những tấm ảnh chụp Chaplin, Strohein và Goucho Mã, những phiên bản tranh của Modigliani và của Soutine.
- Thôi được, tôi tự giới thiệu: tướng Tobie Cohen, Bộ trướng Thanh niên và phục hồi tinh thần. Bây giờ ta nói chuyện một chút nhưng thành thật. Anh đến Israel nhằm mục đích gì?
- Tôi vốn có tính lãng mạn. Tôi muốn trước khi chết được nhìn thấy đất đai của tổ tiên.
- Và anh tính sau đó trở về châu Âu chứ gì? Để tiếp tục làm trò hề? Anh không cần trả lời, tôi đã biết đĩa hát cũ rích: nỗi lo lắng Do Thái, lời than thở Do Thái, nỗi sợ hãi Do Thái, nỗi tuyệt vọng Do Thái… các người nằm trong bất hạnh, các người đòi hỏi nó, các người muốn tìm lại không khí của những xóm Do Thái nghèo khổ và những cuộc tàn sát Do Thái! Trong hai thứ anh phải chọn một, Schlemilovitch: hoặc anh nghe tôi và làm theo lời tôi chỉ dẫn, đó là cách tốt nhất! Hoặc anh vẫn giữ trò cứng đầu cứng cổ, sống theo khiểu người Do Thái lang thang, kẻ bị hành hạ, nếu vậy tôi sẽ trả lại anh cho viên chỉ huy cảnh sát Elias Bloch! Anh đã biết ông ta sẽ làm gì anh chứ, ông Elias Bloch ấy?
- Biết thưa Tướng quân! Ông ta sẽ biến máu tôi thành nước ép thịt bò, biến xương tôi thành que diêm, biến da tôi thành những cái chụp đèn.
- Rất đúng! – hắn nói và chùi giọt nước mắt. –Tôi báo anh biết rằng chúng tôi có đầy đủ phương tiện cần thiết để ngăn chặn những gã khổ dâm thuộc nòi giống các anh. Tuần lễ vừa rồi, một gã Do Thái Anh đã định giở trò ranh ma! Hắn từ Châu Âu sang Israel và lên bờ đem theo những câu chuyện bất tận, những câu chuyện nhây nhụa: nào Do Thái lưu vong, nào tra tấn, nào bị số phận bi đát của dân tộc Do Thái….Hắn bướng bỉnh nhất định nhận số phận bị lột da cho đến chết! Hắn không muốn nghe chúng tôi nói! Lúc này đây, Bloch cùng các trợ thủ của ông ta đang làm việc với hắn! Tôi cam đoan với anh rằng hắn đang cực kì đau đớn! Vượt cả mọi điều hắn dự tính, dù hắn đã dự tính khả năng xấu nhất! Hắn sẽ được thấy số phận bi thảm của dân tộc Do Thái trên thực tế còn bi thảm đến mức nào! Hắn sẽ nhớ đến Torquemada, đến Himmler! Bloch đảm nhận việc đó! Chỉ một mình ông ta thôi cũng đủ thay mặt toàn thể các pháp quan giao hội, các nhân viên Gestapo nhập lại. Anh định sẽ qua bàn tay ông ta chứ, Scheherazard?
- Không, thưa Tướng quân.
- Nếu vậy anh hãy nghe ta nói: hiện giờ anh đang ở trong một quốc gia trẻ, sung sức, năng động. Từ Tev-Aviv đến bờ biển Chết, từ Haifa đến Eliat, sự lo âu, cơn sốt, nước mắt, sự NHẦY NHỤA Do Thái không còn làm ai quan tâm. Không một ai! Chúng tôi muốn nghe nói đến óc phê phán Do Thái, trí thông minh Do Thái, thái độ hoài nghi Do Thái, sự trăn trở dằn vặt Do Thái đến sự nhẫn nhục, nỗi bất hạnh Do Thái… (Nước mắt giàn giụa trên mặt hắn). Chúng tôi nhường tất cả những thứ đó cho các nghệ sĩ tinh tế châu Âu kiểu như anh! Chúng tôi là loại người cương nghị, có quai hàm vuông vắn. Chúng tôi là những người khai phá chứ hoàn toàn không phải những cô ca sĩ Do Thái kia, theo kiểu Proust, kiểu Kafka, kiểu Chaplin! Tôi báo anh biết là gần đây chúng tôi đã tiến hành một cuộc tự giác tiêu hủy một loạt thứ trên quảng trường lớn của Tev-Aviv: các tác phẩm của Proust, Kafka, và đồng bọn, phiên bản tranh của Soutine, của Modigliani và những tên bạc nhược khác. Tất cả những thứ đó đã bị đốt do bàn tay của các thanh niên nam nữ chúng tôi, những chàng trai cô gái này hoàn toàn không thua gì các đoàn viên thanh niên Hitler, cũng tóc vàng, mắt xanh, cũng vai u thịt bắp, bước chân kiên nghị, ham thích hành động và đánh nhau! (Hắn thốt lên một tiếng rên rỉ). Trong khi các người truyền bá thói loạn thần kinh thì đám trai gái kia lao động cật lực trong các công nông trường! Anh không thấy xấu hổ sao, Schlemilovitch?
- Có, thưa Tướng quân.
- Rất tốt! Nếu vậy anh hãy hứa với tôi là không bao giờ đọc Proust, Kafka cùng đồng bọn nữa. Không bao giờ trầm trồ trước những phiên bản tranh của Modigliani và của Soutine nữa. Không bao giờ nghĩ đến Chaplin, đến hai anh em nhà Marx nữa. Hãy quên hẳn bác sĩ Louis Ferdinand Celine, tên Do Thái nham hiểm nhất của mọi thời đại.
- Tôi xin hứa, thưa Tướng quân!
- Còn tôi, tôi sẽ đưa anh đọc những tác phẩm tốt! Tôi có rất nhiều loại sách này bằng tiếng Pháp: anh đã đọc Nghệ thuật làm chỉ huy của Courtois chưa? Phục hồi gia đình Cách mạng quốc gia của Sauvage chưa? Cuộc chơi đẹp trong đời tôi của Guy de Larigaudie? Sách giáo khoa của người cha trong gia đình của phó Đô đốc Penfentenyo? Chưa à? Anh hãy học thuộc lòng tất cả những cuốn ấy! Tôi muốn rèn luyện tinh thần cho anh! Mặt khác, tôi sẽ bí mật gửi anh đến một công trường cải tạo. Anh đừng lo, thời gian anh thử thách ở đó chỉ ba tháng thôi! Vừa đủ thời gian để tạo cho anh những bắp thịt rắn chắc mà hiện anh còn thiếu, đồng thời loại trừ cho anh hết mọi vi khuẩn của chủ nghĩa quốc tế Do Thái. Vậy là ta nhất trí chứ?
- Vâng, thưa Tướng quân.
- Vậy là xong, Schemilovitch, anh có thể đi. Tôi sẽ cử tùy phái của tôi đem đến cho anh những tác phẩm tôi đã kể với anh. Anh đọc đi trong lúc cầm cán cuốc hoạt động ở Néguev. Hãy nắm chặt bàn tay tôi, Schemilovitch. Nắm thật mạnh vào, vì Chúa. Mắt nhìn thẳng! Cằm vênh lên! Chúng tôi sẽ làm anh biến thành một người Do Thái trên đất Israel! (Hắn òa khóc nức nở).
- Cảm ơn, thưa Tướng quân.
Saul dẫn tôi về xà lim. Tôi nhận thêm vài quả đấm nữa, nhưng gã cai ngục của tôi từ hôm qua bỗng bớt hung hăng hẳn đi. Tôi nghĩ hắn đã đứng ngoài cửa nghe lỏm. Chắc chắn hắn đã xúc động mạnh trước thái độ ngoan ngoãn của tôi đối với tướng Cohen.
Buối tối, Isaac và Isaie đưa tôi lên một xe tải quân sự, trong đó đã có nhiều thanh niên, đều là Do Thái sống ở nước ngoài như tôi. Tất cả đều mặc Pigiama kẻ sọc.
- Cấm không được nói về Kafka, Proust cùng đồng bọn của chúng, - Isaie nói.
- Khi chúng tôi nghe đến văn hóa, chúng tôi rút dùi cui ra, - Isaac nói.
- Chúng tôi không ưa gì óc thông minh, Isaie nói.
- Nhất là óc thông minh Do Thái, Isaac nói.
- Và chúng bay đừng đóng vai của những kẻ tử vì đạo trẻ ranh, - Isaie nói. Cái trò đó đã kéo quá dài rồi. Chúng bay có thể nhăn mặt làm trò ở châu Âu cho đám goye xem. Còn ở đây ta như nhau cả. Đừng vất vả vô ích.
- Hiểu chưa? –Isaac nói. –Chúng bay có thể hát dọc đường, từ đây cho đến đó. Những bài hành khúc này rất tốt cho chúng bay đấy. Nào, hát theo tao…
Khoảng bốn giờ chiều chúng tôi đến công trường cải huấn. Một ngôi nhà lớn bằng bê tông, bao quanh là dây thép gai. Chúng tôi có tám tù nhân: ba Do Thái Anh, một Do Thái Italia, hai Do Thái Đức, một Do Thái Áo và tôi, Do Thái Pháp. Trưởng trại ra, căm chú quan sát lần lượt từng đứa chúng tôi. Hắn to như hộ pháp, tóc vàng, mặc bộ quần phục đen, thắt lưng to bản chít chặt ngang lưng, không gợi cho tôi chút tin cậy nào. Tuy hiên hai ngôi sao David lấp lánh trên ve áo hắn.
- Toàn bọn trí thức cả, hắn là thế! Hắn nói với chúng tôi bằng giọng giận dữ. Các anh định cải tạo bọn người rác rưởi này thành lính xung kích chứ gì? Chà bọn chúng bay đã làm chúng tao nổi tiếng ở Châu Âu bằng những tiếng rê rỉ than vãn và bằng óc phê phán của chúng bay. Bây giờ đừng có rên rỉ than vãn mà hãy rèn cơ bắp thành cứng như thép. Đừng có phê phán mà phải xây dựng! Thức dậy vào sáu giờ , ngay từ sáng mai. Lên phòng ngủ tập thể ! Nhanh lên! Chạy! Một- hai! Một – hai!
Khi chúng tôi đã nằm xuống, tên trại trưởng đi kiểm tra phòng ngủ, theo sau là ba tên cũng cao to và tóc vàng như hắn.
- Đây là các giám thị các anh, hắn nói giọng dịu dàng. Siegfried, Gunther Cohen, Hermann Rapporport.Mấy vị thiên sứ này sẽ dậy dỗ các anh! Một hành vi cưỡng lại dù là nhỏ nhất cũng sẽ bị trừng phạt đến chết! Đúng thế không ba bạn thân mến? Các cậu đừng ngần ngại, hễ chúng gây phiền gì cho các cậu cứ việc bắn bỏ.... Một viên đạn vào thái dương, không bàn cãi gì hết! Hiểu rồi chứ, ba thiên sứ của ta?
Hắn trìu mến xoa má ba tên giám thị.
- Ta không muốn để bọn Do Thái ngoại quốc này ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tinh thần của các cậu...
Sáu giờ sáng, Siegfried, Gunther và Hermain thúc chúng tôi khỏi giường bằng những cú đấm. Chúng tôi đến phòng hành chính của trại cải huấn. Chúng tôi khai họ tên, ngày sinh cho một cô gái tóc đen mặc áo sơ mi ka ki và quần màu xanh đá của quân đội. Siegfried, Gunther và Hermain đứng bên ngoài cửa phòng. Các đồng phạm với tôi sau khi đã trả lời những câu hỏi của cô gái, lần lượt từng người bước ra ngoài. Còn lại tôi. Cô ta ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt tôi. Cô rất giống Tania Arcisewaka, như hai chị em sinh đôi vậy. Cô ta nói:
- Tên em là Rebecca và em yêu anh.
Tôi không biết trả lời ra sao.
- Thế này nhé cô ta giải thích cho tôi nghe, bọn chúng sẽ giết anh. Anh phải trốn ngay đi ngay từ tối nay. Em sẽ lo chuyện này. Em là sĩ quan quân đội Israel, em không có trách nhiệm gì trước trại trưởng ở đây. Em sẽ mượn chiếc xe tải quân sự, viện cớ phải đi Tel-Aviv dự cuộc họp của bộ tham mưu. Anh sẽ đi với em. Em sẽ ăn trộm hết giấy tờ của tên Siegfried Lévy đưa anh. Bằng cách đó trong một vài ngày tới anh chưa phải sợ cảnh sát. Sau đấy chúng ta sẽ nghĩ cách khác. Chúng ta có thể lên con tàu gần nhất để sang Châu Âu và cưới nhau bên đó. Em yêu anh, em yêu anh. Tối nay em sẽ cho gọi anh vào phòng giấy của em. Tạm chia tay!
Chúng tôi đập đá dưới cái nắng như đổ lửa cho đến năm giờ chiều. Tôi chưa cầm cuốc bao giờ cho nên hai bàn tay trắng trẻo, thon đẹp của tôi rướm máu khủng khiếp. Ba tên giám thị Siegfried, Gunther và Hermain vừa đứng coi chúng tôi vừa hút thuốc lá nhãn Lucky Strike. Suốt cả ngày chúng không hề hé răng nói một lời nào khiến tôi nghĩ hay chúng bị câm? Siegfried giơ tay ý nói thời gian lao động đã kết thúc. Hermain đi về phía ba phạm nhân Do Thái Anh, rút súng ra, bắn hạ cả ba, mắt hắn thản nhiên. Hắn châm thêm một điếu Lucky Strike rồi vừa thở khói vừa nhìn lên trời. Ba giám thị dẫn chúng tôi về trại, sau khi đã chôn qua quít ba chàng Do Thái Anh. Chúng để chúng tôi đứng nhìn sa mạc qua hàng rào dây thép gai. Tám giờ tối, Hermain đến tìm tôi dẫn tôi đến phòng hành chính của Trại.
- Tôi muốn giải trí, Hermain! – Rebecca nói. – Anh để tên Do Thái này ở đây, tôi sẽ đưa hắn đi Tel-Aviv, tôi sẽ hiếp hắn và lột da hắn, tôi hứa tôi sẽ làm như thê!
Hermain gật đầu.
- Bây giờ còn tao với mày! – Cô ta nói giọng đầy đe dọa.
Khi Hermain Rappoport đã ra khỏi phòng, cô ta âu yếm nắm bàn tay tôi.
- Ta phải tranh thủ, không được để phí một chút thời gian nào! Anh đi theo em!
Chúng tôi ra khỏi cổng Trại cải huấn, trèo lên chiếc xe tải quân sự. Rebecca ngồi vào sau tay lái.
- Bây giờ chúng ta được tự do, - cô ta nói. Lát nữa ta sẽ dừng lại. Anh thay vào bộ đồng phục của Siegfried-Lévy em vừa mới ăn trộm được của hắn. Giấy tờ nằm ở túi trong.
Chúng tôi đến nơi lúc mười một giờ đêm.
- Em yêu anh và em muốn quay về Châu Âu, cô ta nói, ở đây chỉ toàn bọn đần độn, lính tráng, bọn hướng đạo sinh và bọn thích sinh sự. Ở Châu Âu chúng ta được yên ổn. Chúng mình có thể đọc tác phẩm của Kafka cho con cái chúng mình nghe.
Những tên lính chúng tôi gặp trên đường đều đứng nghiêm, chào Rebecca.
- Em là Trung úy, - cô cười bảo tôi, - Tuy nhiên em cần làm một việc ngay: quẳng bộ quân phục này vào thùng rác và quay trở về Châu Âu.
Tại Tel-Aviv Rebecca biết một hộp đêm bí mật, nơi người ta khiêu vũ theo những bài hát của Zarah Leander và của Marlène Dietrich. Các cô gái trong quân đội rất thích đến đây. Những chàng trai tháp tùng các cô qua cửa đều phải mặc đồng phục sĩ quan Đức hoặc phi công Không lực Đức.
Y chọn một bộ sĩ quan S.S. thật diện. Làn ánh sáng mờ ảo kích thích sự buông thả. Điệu nhẩy đàu tiên của y và Rebecca là một bản tăng gô: Der Wind hat mir ein Lied erzahlt và giọng hát của Zarah Leader thật sự mê li. Y ghé vào tai Rebecca nói: “Dubist der Lenz nachdem ich verglangte”. Sang điệu nhẩy thứ hai: Schon war die Zeit, y nắm vai cô gái, hôn rất lâu. Tiếng hát của Lala Andersen át tiếng hát của Zarah Leander. Ngay lúc những câu đầu tiên của bản Lili Marlène y đã nghe thấy thiếng còi rú của xe cảnh sát. Không khí rối loạn nhưng không ai trong đám ra cửa được: tên chỉ huy Elias Bloch, theo sau là Saul, Isaae và Isaie xông vào phòng, tay lăm lăm khẩu súng ngắn.
- Giải tất cả bọn khốn kiếp này ra xe, - Bloch gầm lên. – Trước tiên kiểm tra căn cước đã.
Khi đến lượt y, Bloch nhận ra y mặc dù y mặc bộ đông phục S.S.
- Sao thế này? Schlemilovitch? Tôi tưởng anh được gửi đến một công trưởng cải tạo lao động kia mà! Vậy mà lại mặc đồng phục sĩ quan S.S thì thật là quá đáng. Không còn nghi ngờ gì nữa, bọn Do Thái châu Âu này đúng là bất trị.
Hắn trỏ Rebecca:
- Vợ chưa cưới của anh à? Một Do Thái Pháp? Mà cải trang thành Truung uý quân đội Israel! Tuyệt! Còn đây là các bạn của tôi là một phong lưu, xin mời các bạn phạt cổ các chai sâm banh!
Lập tứ một đám đàng điếm ùa vào. Y nhận ra Quận chúa Fougeire-Jusquiames, Nam tước Lévy-Vendôme, Paulo Hayakawa, Sophie Knout, Jean Farouk de Mérode, Otto da Silva, M.Igor, bà Bá tước già Lydia Stahl, Công chúa Chericheff Deborazoff, Louis-Ferdinand Céline và Jean Jacques Rousseau.
- Tôi vưa bán năm mươi ngàn đôi giầy cho quân đội Đức - Jean Farouk de Mérode báo tin, lúc họ ngồi vào bàn.
- Còn tôi, mười ngàn hộp sơn cho Hải quân Đức, - Otto da Silva nói.
- Các vị biết không, bọn hướng đạo sinh của Đài phát thanh London đã kết an tử hình tôi? - Paulo Hayakawa nói. Chúng tôi là bọn “liếm gót giầy quốc xã của rượu cô nhắc!”.
- Các vị đừng lo, Lévy-Vendôme nói. Chúng ta sẽ mua bọn kháng chiến Pháp và bọn Anh – Mĩ như chúng ta đã từng mua bon Đức! Các vị hãy luôn luôn ghi nhớ trong óc câu châm ngôn này của ông thầy chúng tôi Joanvici: “Tôi không bán mình cho bọn Đức. Chính tôi, Joseph Joanovici, Do Thái, tôi MUA bọn Đức”.
- Tôi là kẻ chỉ điểm xuất sắc nhất của thành phố Paris, Sophie Knout nói. - Bọn họ gọi tôi là tiểu thư Abwehr.
- Tôi rất mê bọn mật vụ Gestapo, - Quận chúa Fougeire-Jusquiames nói. - Bọn họ nhiều tính đàn ông ơn mọi người khác.
- Bà nói đúng, - Công chúa Chericheff Deborazoff nói. – Tất cả những kẻ giết người đó đều làm cho tôi sướng rên lên bần bật.
- Quân Đức chiếm đóng nước Pháp là tốt, - Jean Farouk de Mérode nói và ông ta chìa ra chiếc ví da cá sấu dầy chặt giây bạc.
- Paris trở nên yên tĩnh hơn, - Otto da Silva nói.
- Cây cối vàng rộm hơn, - Paulo Hayakawa nói.
- Và người ta còn được nghe thấy cả tiếng chuông nhà thờ nữa chứ[115]>, Lévy-Vendôme nói.
- Tôi mong cho nước Đức thắng! – M.Igor nói.
- Các vị muốn dùng Lucky Strike không? - Quận chúa Fougeire-Jusquiames chìa ra hộp thuốc lá bằng bạch kim, nạm những viên hồng ngọc. - Tôi thường xuyên nhận được loại này ở Tây Ban Nha chở sang.
- Không, cho tôi sâm banh! Chúng ta phải nâng cốc ngay bây giờ để chúc sức khỏe tiểu thư Abwehr! – Sophie Knout nói.
- Và chúc Gestapo! Công chúa Chericheff Deborazoff nói.
- Một cuộc dạo chơi trong rừng Boulogne? Viên chỉ huy Bloch quay về phía y, đề nghị. Tôi đang muốn được ra ngoài trời! Cô vợ chưa cưới của ông có thể đi cùng với chúng ta. Chúng ta sẽ gia nhập với một hội khác vào lúc nửa đem trên Quảng trường Ngôi Sao để uống li rượu cuối cùng trước khi ngủ.
Họ đang trên hè phố Pigalle. Viên chỉ huy Bloch trò cho y thấy ba xe nhãn Delahaye trắng và một chiếc xe đen đậu trước cửa hộp đêm.
- Xe của hội chúng tôi đây! Hắn giải thích cho y. – Chúng tôi dùng loại xe này để tiến hành những cuộc vây ráp. Ta chọn chiếc Delahaye nếu ông thích. Ngồi xe ấy thú hơn.
Saul ngồi vào sau tay lái, Bloch và y ngôi ghế trước. Isaie, Rebecca và Isaac ngồi ghế sau.
- Ông vẫn làm gì ở Grand Duc? – Chỉ huy Bloch hỏi y. – Ông không biết hộp đêm ấy danh cho các nhân viên Gestapo Pháp và cho bọn buốn bán chợ đen hay sao?
Họ đến Quảng trường Nhà hát. Y nhận thấy một tấm vải lớn chăng trên đó đề: “ QUẢNG TRƯỞNG ỦY BAN QUÂN QUÂN” bằng tiếng Đức.
-Ngồi trên xe Delahaye khoái thật! – Bloch nói với y. – Nhất là trên đường phố Paris, vào tháng Năm 1943. Đúng thế không, Schlemilovitch?
Y chăm chú nhìn hắn. Cặp mắt hắn lành hiền và thông cảm.
- Chúng ta hãy thỏa thuận với nhau, Schlemilovitch: tôi không muốn cản trở thiên hướng của anh. Nhờ tôi, chắc chắn người ta sẽ tặng thưởng cho anh cành cọ của vị trí tử đạo là thứ anh vẫn ao ước từ khi mới ra đời. Đúng, món quà quý nhất anh có thế nhận được từ ngay bây giờ: một bẳng đanh chì vào gáy! Trước tiên, bọn tôi giết cô vợ chưa cưới của anh đã. Anh vừa lòng chứ?
Để ghìm nỗi hoảng sợ, y nghiến chặt hai hàm răng và cố nhớ lại một số kỉ niệm. Những cuộc tình với Eva Braun và Hilda Murzzuucchlag. Những cuộc dạo chơi đầu tiên của y ở Paris mùa Hè 1940, trong bộ đồng phục của Binh đoàn trường S.S. Bây giờ một kỉ nguyên mới mẻ bắt đầu, nước ta bọn họ sáng sủa và tóc họ vàng óng. Sau này xe tăng Con Báo của y nghiến lên cánh đồng lúa mỳ ở Ucren. Sau này y đi cùng với Thống chế Rommel giẫm lên cát sa mạc. Y bị thương ở Stalingrad. Ở Hambourg bom lân tinh tiêu hủy nốt những gì còn sót lại. Y đã theo Quốc trưởng đến cùng. Liệu y có chịu để Elias Bloch dọa dẫm không?
- Một băng đạn chì ngay vào gáy! Anh nói sao Schlemlovitch?
Cặp mắt tên chỉ huy Bloch lại xoay vào mắt y.
- Anh thuộc loại chịu dùi cui tha hồ quật vào người, chỉ đành cười nụ buồn rầu! Những người Do Thái chân chính. Do Thái một trăm phần trăm made in Euorope.
Họ đi vào rừng Boulogne. Y nhớ lại những buổi chiều y ngồi ở Pré-Catelan, bên cạnh Ngọn tháp lớn dưới sự giám sát của cô gia sư Evelyn, nhưng y sẽ không bắt bạn đọc phải chán tai nge những kỉ niệm thời thơ ấu của y. Các bạn hãy đọc Proust, như thế hơn.
Saul đỗ xe Delahaye giữa lối đi công viên tên là Acacias. Hắn và Isaac lôi Rebecca ra, hiếp cô ngay trước mắt tôi. Tên chỉ huy Bloch trước đó đã còng tay tôi và khóa cửa xe. Dù sao rôi cũng đã không làm một cử chỉ nào để che chở vợ chưa cưới của tôi.
Chúng tôi đi về phía Bagatelle. Isaie, tinh tế hơn hay tên đồng bọn, nắm gáy Rebecca rồi thọc dương vật của hắn vào miệng vợ chưa cưới của tôi. Tên chỉ huy Bloch đâm những mũi dao găm vào tôi khiến chẳng mất lúc chiếc quần S.S tuyệt đẹp của tôi ướt đẫm và rỏ máu xuống sàn.
Sau đây chiếc Delahaye đỗ lại trên ngã tư Khu vực Thác nước. Isaie và Isaac lại lôi Rebecca trong xe ra. Isaac nắm tóc cô lật lên. Rebecca bật cười khanh khách. Tiếng cười ngày càng lớn, tiếng vang của nó lan ra khắp khu rừng, càng lớn hơn, đến một độ tột đỉnh rồi biến thành tiếng khó nức nở.
- Vợ chưa cưới của cậu thế là bọn mình đã thanh toán xong, - tên chỉ huy Bloch thầm thì. – Cậu đừng buồn! Bây giờ chúng ra phải gặp các bạn của chúng ta!
Cả đám đang đợi chúng tôi, quả thế, trên Quảng trường Ngôi Sao.
- Đã đến giờ giới nghiêm, - Jean-Farouk de Mérode bảo tôi, - nhưng chúng ta có những lí do đặc biệt.
- Anh có muốn chúng ta đến One-Two-Two không?- Paulo Hayakawa đề nghị với tôi. – Ở đó có những cô gái dữ dội. Không mất tiền! Tôi chỉ cần giơ tấm các Gestapo của tôi ra là đủ.
- Hay chúng ta tiến hành khám nhà mấy đứa giầu nhất khu phố này? – M.Igor nói.
- Tôi thích cướp một hiệu kim hoàn, - Otto da Goering ba phòng giấy đồ đạc thời kì Chấp chính[116]>.
- Hay ta làm một cuộc vây ráp, các ông nghĩ sao? – Tên chỉ huy Bloch hỏi. – Tôi biết một cơ sở bí mật của bọn kháng chiến phố Lepic.
- Ý kiến rất hay, - Công chúa Chericheff Deborazoff reo lên. – Chúng ta sẽ giải chúng về biệt thự của tôi trên Quảng trường Iéne rồi tra khảo.
- Chúng ta là những ông vua của thành phố Paris, - Paulo Hayakawa nói.
- Nhờ các bạn Đức của chúng ta, - M.Igor nói.
- Ta hãy vui chơi cho sướng! – Sophie Knout nói. – Abwehr bà Gestapo che chở cho chúng ta.
- Sau chúng ta là cơn hồng thủy! - Quận chúa Fougeire-Jusquiames nói.
- Chúng ta hãy đến. Sở chỉ huy trên phố Lauriston! – Bloch nói. – Tôi vừa nhận được ba thùng whisky! Chúng ta sẽ kết thúc đêm nay trong hoan lạc.
- Ông nói đúng đấy, ông chỉ huy, - Paulo Hayakawa nói.
- Vả lại, chẳng thế người ta lại gọi chúng ta là “Bọn cướp trên phố Lauriston”.
- PHỐ LAURISTON! PHỐ LAURISTON!” - Quận chúa Fougeire-Jusquiames và - Công chúa Chericheff Deborazoff đồng thanh dằn từng âm một.
- Không cần ngồi xe, - Jean-Farouk de Mérode nói. – Chúng ta đi bộ thôi. Cho đến lúc đó học vẫn còn thái độ tốt với tôi. Nhưng chỉ vào đến đầu phố Laurston là họ đều nhìn tôi bằng những cặp mắt thù địch.
- Anh là ai? – Paulo Hayakawa hỏi.
- Anh là nhân viên Sở liêm phóng chăng?- Sophie Knout hỏi tôi.
- Anh nói đi, anh là ai? – Otto da Silva hỏi.
- Tôi trông anh không hề quen! – Bà Bá tước già Lydia Stahl tuyên bố.
- Tại sao anh cải trang thành nhân viên S.S.? - Jean-Farouk de Mérode hỏi tôi.
- Giấy tờ anh đâu, đưa xem, -M.Igor ra lện cho tôi.
- Anh là Do Thái phải không? – Lesvy-Vendôme hỏi tôi. – Thú nhận đi!.
-Anh vẫn tự nhận là Marcel Proust, đúng thế không?- Quận chúa Fougeire-Jusquiames hỏi.
- Y sẽ phải cho chúng ta biết sự thật ra sao, - Công chúa Chericheff Deborazoff tuyên bố. Mọi kẻ đến phố Lauriston đều phải khai hết.
Bloch lại còng tay tôi. Những người khác thi nhau hỏi tôi. Đột nhiên tôi bổng buồn nôn. Tôi tựa người vào một cái cổng.
- Chúng ta không đi được chậm trễ một phút, - Isaac bảo tôi, - Đi!.
- Chịu khó một chút thôi, - tên chỉ huy Bloch bảo tôi. – Sắp đến rồi. Đó là số nhà 93.
Tôi loạng choạng, ngã khuỵu xuống vỉa hè. Họ vây quanh tôi, Jean-Farou de Mérode, Paul Hayakawa, M.Igor, Otto da Silva và Lesvy-Vendôme mặc những bộ lễ phục đuôi tôm màu hồng và đội mũ mềm. Bloch, Isaie và Saul trông nghiêm nghị hơn nhiều trong những tấm áo mưa màu xanh lá cây. Quận chúa Fougeire-Jusquiames, Công chúa Chericheff Deborazoff và Bà Bá tước già Lydia Stahl mỗi người khoác một tấm áo lông chồn trắng và đeo một chuỗi dài kim cương.
Paulo Hayakawa hút một điếu xì gà và lơ đãng giụi tàn lên mặt tôi. Công chúa Chericheff Deborazoff giơ cao một đôi giầy, đạp nhẹ gót lên má tôi.
- Thế nào, Marcel Proust, ông không muốn đứng lên sao? - Quận chúa Fougeire-Jusquiames hỏi.
- Gắng lên một chút, Schlemiovitch, - viên chỉ huy Bloch năn nỉ. – Cố sang bên kia đường thôi mà. Anh nhìn trước xem, số nhà 93 đây rồi…
- Thằng trai này quả là cứng đầu, - Jean-Farou de Mérode nói. - Các vị tha lỗi, tôi phải đi uống một chút whisky. Tôi không chịu nổi khi cổ họng bị khô.
Hắn sang bên kia đường, theo sau là Paulo Hayakawa, Otto da Silva, M.Igor. cánh cửa số nhà 93 đóng lại sau khi họ bước vào. Sophie Knout, Bà Bá tước già Lydia Stahl, Công chúa Chericheff Deborazoff, Quận chúa Fougeire-Jusquiames, Jean-Farouk de Mérode vội vã đi theo họ. Quận chúa Fougeire-Jusquiames choàng tấm áo lông chồn lên vai tôi, thầm thì vào tai tôi.
- Đây là áo quan của anh. Vĩnh biệt, anh bạn trẻ của tôi.
Còn lại viên chỉ huy Bloch, Isaac, Saul, Isaie và Leesvy-Vedôme. Isaac cố nâng tôi dậy bằng cách nắm vào còng số tám kéo tôi lên.
- Mặc hắn, - viên chỉ huy Bloch nói. –Hắn nằm dễ chịu hơn.
Saul, Isaac, Isaie và Leesvy-Vedômede đến ngồi xuống bậc thềm ngôi nhà số 93, nhìn tôi, khóc.
- Bây giờ tôi sẽ đi vào trong đó với họ, - Viên chỉ huy Bloch bói với tôi, giọng buồn bã. – Rượu whisky và sâm banh sẽ tuôn chảy như suối như thường lệ tại phố Lauriston.
Hắn cúi mặt xuống sát mặt tôi. Chắc chắn rồi, hắn giống từng nét một người bạn cũ của tôi Henei Chamberlin- Laffont.
- Cậu sẽ chết trong bộ đồn phục S.S., hắn nói với tôi. – Cậu quả là đáng thương, Schemilovitch, đáng thương!
Từ trong ngôi nhà số 93, bay ra qua các cửa sổ tiếng cười đùa vui vẻ và tiếng hát điệp khúc của một bài ca:
Tôi, tôi yêu trò tạp kĩ
Những diễn viên tung hứng
Những vũ nữ nhẹ nhàng…
- Anh nghe thấy không? – Bloch hỏi tôi, hai mắt hắn ướt đẫm. – Ở Pháp, Schlemilovitch, chuyện gì cũng kết thúc bằng một bài ca! Cho nên, anh hãy giữ mặt mũi tươi tỉnh lên!
Hắn rú trong túi áo mưa bê phải ra một khẩu súng ngắn. Tôi đứng lên, loạng choạng lùi lại. Tên chỉ huy Bloch nhìn tôi không rời mắt. Trước mặt, trên bậc thềm, Isaie, Saul, Isaac và Leesvy-Vedômede vẫn khóc nức nở. Tôi nhìn một lúc ngôi nhà số 93. Phía sau những ô cửa kính, Jean-Farouk de Mérode, Paulo Hayakawa, Sophie Knout, Jean Farouk de Mérode, Otto da Silva, M.Igor, bà Bá tước già Lydia Stahl, Công chúa Chericheff Deborazoff, Thanh tra Bonny nhăn mặt nhìn tôi và đưa ngón tay phải lên mũi, vẫy vẫy bàn tay. Một nỗi buồn nhè nhẹ trào lên trong lòng tôi, nỗi buồn mà tôi đã biết rất rõ. Lúc nãy Rebecca cười rũ rượi là có lí do. Tôi thu hết sức lực còn lại, bật lên một tiếng cười đã lớn đến mức làm rung chuyển toàn thân tôi và tôi phải gấp đôi người xuống để cười vì quá đau bụng. Tôi không cần quan tâm đến chuyện viên chỉ huy Bloch từ từ đến bên tôi. Tôi đã hoàn toàn bình thản. Hắn giơ súng, hét:
- Mày cười hả? MÀY CƯỜI hả? Vậy thì nhận lấy cái này, thằng Do Thái nhãi ranh, nhận lấy.
Đầu tôi vỡ tung, nhưng tôi không biết đấy là do những viên đạn hay do tôi cười nhiều quá.
Bốn bức tường xanh da trời và ô cửa sổ. Đứng ở đầu giường tôi là bác sĩ Sigmiund Freud. Để biết chắc không phải mình nằm mơ, tôi xoa bàn tay phải lên trán hói của ông.
- …các y tá của tôi thấy ông đêm qua nằm trên đường phố Franz-Joseph Kai, bèn đem về bệnh viện của tôi ở Potzleindorf. Một cuộc điều trị bằng phương pháo phân tâm sẽ làm đầu óc ông dáng suốt trở lại. Ông sẽ lành mạnh, lạc quan, ham thể thao, tôi hứa như thế. Bây giờ tôi muốn ông đọc bài tiểu luận sâu sắc của người đồng bào của ông là Jean-Paulo Schweitzer de la Sarthe: Suy nghĩ về vấn đề Do Thái. Bằng mọi giá ông cần hiểu điều này: KHÔNG LÀM GÌ CÓ NGƯỜI DO THÁI, nói theo cách nói hết sức đúng của Schweitzer de la Sarthe. ÔNG KHÔNG PHẢI NGƯỜI DO THÁI, ông là một người như mọi người khác, có vậy thôi. Ông không phải là Do Thái, tôi nhắc lại, chỉ là ông có những cơn mê ảo giác, những ảo mộng, có vậy thôi, một chứng hoang tưởng paranôia nhẹ… Không ai muốn làm hại anh đâu, anh bạn trẻ. Người ta chỉ muốn tốt với anh thôi. Hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới chuộng hòa bình. Himmler đã chết, làm sao anh bạn có thể nhớ lại được tất cả những thứ đó, bởi thời bấy giờ anh bạn đã ra đời đâu? Ôi, ta phải biết điểu mới được, tôi xin anh bạn hãy nghe lời tôi. Tôi tha thiết năn nỉ anh bạn, tôi….
Tôi không, muốn nghe ông bác sĩ Freul nói nữa. Tuy nhiên ông quỳ gối xuống, chìa hai tay van vỉ tôi rồi đưa hai bàn tay ôm đầu, lăn xuống đất tỏ vẻ tuyệt vọng. Sau đây ông bò bằng chốn chân, sủa như chó, một lần nữa van nài tôi hãy bỏ những cơn “mê sảng ảo giác”, bỏ “chứng cuồng điên Do Thái”. Tôi rất ngạc nhiên thấy ông trong tình trạng đó: phải chăng sự hiện diện của tôi khiến ông vật vã khó ở?
- Ông hãy bỏ những trò lăn lộn ấy đi! – Tôi nói. – Tôi thừa nhận một thày thuốc duy nhất chữa cho tôi là bác sĩ Bardamu. Louis-Ferdinand Bardmu… Ông ta cũng là người Do Thái như tôi… Bardamu. Louis-Ferdinand Bardmu…
Tôi vùng dậy và rất khó khăn mới lần ra được đến cửa sổ. Vị bác sĩ phân tích tâm lí ngồi khóc nức nở ở một góc phòng. Bên ngoài trong công viên Potzleindorfer, những hạt tuyết lấp lánh trong nắng. Một tầu điện sơn đỏ đang xuôi theo đại lộ. Tôi nghĩ đến tương lai người ta đề nghị với tôi: điều trị cấp tốc nhờ sự chăm sóc chu đáo của bác sĩ Freud. Nhiều đàn ông và đàn bà đang đứng đợi tôi ngoài cổng bênh viện với cặp mắt nồng hậu và thân thiết. Thế giới đầy những công trường kì vĩ, những cộng đồng ồn ào như tổ ong. Ngoài kia là công viên Potzleindorfer, cây cối xanh um và những lối đi tràn ánh nắng…
Tôi nghĩ đến sau lưng vị chuyên gia về phân tích tâm lý, vỗ vào trán hói của ông.
- Tôi mệt rã rời, - tôi nói, rất mệt…
[82]> Ngôi sao tiêu biểu cho đạo Do Thái.
[83]> Đầu óc hoang tưởng của Schlemilovitch khiến anh ta lẫn lộn giữa các thành phố. Đang ở Vienne (Áo) anh ta lại đến quảng trường Concorde (Paris – Pháp).
[84]> Ôi, Italia! (tiếng Italia).
[85]> Sáu triệu thanh niên! (tiếng Đức).
[86]> Những người của Hitler! (tiếng Đức).
[87]> Chế tạo tại Scotland.
[88]> Ý nói dưới thời Hitler ông ta đã giết năm chục ngàn người Do Thái.
[89]> Vợ Hitler
[90]> Tặng chàng Do Thái xinh trai, người tình Schlemilovitch của em. Eva của anh.
[91]> Ngôi sao (tiếng Đức)
[92]> Loại giường quý tộc.
[93]> Cậu Heinrich thân thiết (Đức).
[94]> Vùng đất thuộc Áo giáp Italia gồm toàn dân miền núi, văn hóa thấp.
[95]> Xem chú thích trang 36.
[96]> Tên các trò chơi ở hội chợ.
[97]> Đi, đồ khốn.
[98]> Lại ám chỉ sáu triệu thanh niên chết.
[99]> Luôn tươi cười (Anh).
[100]> Tác giả lại chuyển sang ngôi thứ hai mi
[101]> Ám chỉ Pestain
[102]> Thủ tướng chính phủ bù nhìn do Đức lập nên tại Pháp
[103]> Tên trùm mafia khét tiếng
[104]> Tiền Ba Lan
[105]> Tác giả tưởng tượng viên pháp quan đã xử tử hàng ngàn người Torquemada lại thành Giáo sư phẫu thuật.
[106]> Cả tên đồ tể phát xít cũng được tưởng tượng thành “Giáo sư y khoa”.
[107]> Lại sang ngôi thứ ba: y
[108]> Dân Do Thái phải rời đất tổ từ cách đây 2000 năm
[109]> Đô đốc của Hitler
[110]> Schhlemilwitch lẫn lộn với Paris.
[111]> Lại trở về ngôi thứ nhất
[112]> Gợi lại câu của Hitler
[113]> Do chống lại thánh thần
[114]> Biểu trưng của dân tộc Do Thái
[115]> Ý nói là im ắng
[116]> Trong Cách mạng Pháp