Hai đứa con gái của Tuyết vừa thấy Hạnh vào nhà đã rối rít mừng rỡ gọi mẹ:
– Tata Hạnh tới nhà mình kìa, mẹ ơi…
Tuyết từ trong bếp chạy ra đón Hạnh, cũng vui mừng không kém, vừa có vẻ ngạc nhiên:
– Sao hôm nay đi chơi tối thế này?
Hạnh đi thẳng vào sân trong nơi có sẵn mấy chiếc ghế mây cũ kê dưới gốc mãng cầu, cười ý nhị:
– Tối nay mình muốn ở lại với mẹ con Tuyết một lần cuối để còn nói chuyện, mình có đem theo bộ đồ ngủ đây.
Tuyết vui vẻ ôm lấy bạn:
– Ừ, có thế chứ. Trước khi rời bỏ xứ này, ít nhất mi cũng phải đến nằm đất với ta một đêm, cho nó trọn tình trọn nghĩa.
Đứa con gái lớn của Tuyết chen vào:
– Tata đi rồi là mẹ con buồn lắm; vậy con xin góp ý là từ nay đến ngày tata lên đường, tối tối tata đến đây ngủ với mẹ con cho vui.
Hạnh ôm đầu Thiên Hương;,
– Tata cũng muốn vậy lắm những không được, vì tata còn nhiều nơi phải từ giã. Tối nay ráng lắm mới đến được với mẹ con, từ mai là cận ngày đi rồi.
Tuyết nhìn lên lịch:
– Còn đúng ba đêm, vậy mi chia cho ta đêm nay đêm mai, chịu không?
– Rất là không được. Để bù lại, đêm nay hai đứa mình thức cho tới sáng nói chuyện, cũng vậy thôi.
Thiên Hương cười to:
– Mẹ với tata tính tổ chức một đêm không ngủ «thì tụi con phải nối gót xuống đường» luôn, đặng yêu sách họ thả ba con về, trước giờ tata lên máy bay để mẹ con bớt buồn thì mới đúng.
Tuyết hối hai chị em Thiên Hương:
– Hai con chia nhau đứa nấu nước sôi, đứa đem ly tách ra đây để mẹ trổ tài pha cà-phê một lần cuối, cho tata chúng mày thưởng thức trước khi mụ ta bỏ mẹ con mình đi Tây. Mau lên hai đứa.
Và Tuyết trịnh trọng đem ra một cái hộp sắt nhỏ, đưa vào tận mũi Hạnh:
– Ngửi coi, cà-phê Ban Mê Thuột đó, thơm không? Sản phẩm buôn lậu của con bạn ta, mụ này chuyên môn «chạy» hàng trên đường Sàigòn Pleiku. Con Ngọc dược sĩ đó, bây giờ nó đi buôn giỏi hơn pha thuốc trong la-bô.
Thiên Hương nói vọng từ trong bếp ra:
– Con còn hộp sữa «Ông Thọ» mẹ lấy ra đãi tata luôn.
Hạnh cười:
– Chà! mẹ con mày sang quá, thời buổi này mà vẫn còn «chứa» nổi hộp sữa trong nhà.
Thiên Nga đang đứng lau mấy cái tách, bỗng ghé tai mẹ thì thầm :
– Hộp sữa đó là của con, để con đãi tata. Mẹ biết không ? nhờ con nhắc, đem cái quần «jin» đỏ bán cho chị của con Bê, nên Thiên Hương mới trúng mánh.
Hạnh phì cười, vuốt tóc cô bé:
– Con nói lén kiểu đó hỏng to. Tata nghe rõ hết rồi. Thôi được, hai chị em con đều đãi tata hết, để qua tới Tây rồi tata sẽ gởi riêng cho mỗi đứa 1 hộp Nestlé bự để các con chờ Ba về, đãi lại Ba các con.
Bếp củi cháy đỏ rực và ấm nước đã lên hơi, Tuyết ngồi bên, ánh lửa nhuộm hồng đôi má. Nhìn bạn, Hạnh bỗng thấy tội nghiệp. Trăng mười sáu trong như mặt gương, soi sáng mảnh sân gạch nhỏ.
Tuyết đã pha xong hai tách cà phê, hỉ hả bảo với bạn:
– Mi uống đi. Uống để nhớ đến ta… và để có ngày ta nhận được thư mi nói rằng «chỉ có cà-phê uống dưới gốc mãng-cầu nhà con Tuyết mới ngon».
Hạnh khuấy thật nhẹ tách cà-phê vừa nhìn ánh trăng lồng trên nền gạch rêu phong:
– Đặc biệt là đêm nay cũng có trăng. Vì thế trong khi thưởng thức cà-phê của Tuyết, mình sẽ cho Tuyết nghe một chuyện xảy ra cách đây ba mươi năm, cũng vào một đêm trăng sáng như đêm nay.
Và Hạnh hỏi Tuyết:
– Tuyết còn nhớ bà cụ già tóc bạc trắng như bông, có cửa hàng bán bánh kẹo, đồ chơi trẻ con và chỉ thêu ở hẻm bên hông trường học Bàn Cờ không ? Cửa hàng của bà cụ mà có lần mình dắt Tuyết đến mua chỉ thêu đó ?
Tuyết gật gù:
– Biết rồi, cửa hàng của bà cụ mà bên trong có treo tấm hình to tướng chụp một bầy trẻ con của đoàn thiếu nhi Thánh Thể hát trong một nhà Thờ, có phải không ?
– Đúng đấy. Mà Tuyết có còn nhớ đường đến căn nhà đó không ?
Tuyết đáp nhanh:
– Yên chí! Yên chí ! làm gì mà dặn kỹ thế. Bà cụ có họ hàng gì với gia đình mi không ?
Hạnh nhìn xuống tách cà-phê:
– Không có họ hàng gì hết, nhưng càng ngày mình càng thương bà cụ hơn. Để mình kể Tuyết nghe.
☆
Năm xưa, lúc bấy giờ mình mới mười tuổi. Thời gian ấy gia đình mình sống tại một tỉnh có tiếng ở miền Tây, tỉnh Cần Thơ. Sát vườn nhà mình, ngày nọ có một người đàn bà đã có tuổi, đến hỏi căn nhà ngay cạnh nhà mình. Người đàn bà ấy tuy hơn tuổi mẹ mình khá nhiều, nhưng bà lại rất thích mẹ mình và chẳng bao lâu, hai người đàn bà, một già một trẻ, một Nam một Bắc đã thân nhau.
Người đàn bà ấy có phong cách một bà nhà giàu ở vùng quê, nhưng bà ta lại vui tính và văn minh. Nơi căn nhà nhỏ, bà ở một mình cùng với một người tớ gái đi theo, săn sóc cơm nước và hầu hạ. Từ khi quen với mẹ mình, thì gần như buổi nào bà cũng có mặt trong gian bếp, là nơi mẹ mình phải thổi nấu mỗi ngày hai bữa.
Mẹ mình kể rằng chồng bà là một chủ điền rất giàu, ruộng đất mênh mông trong miệt Bình Thủy hay Ô Môn gì đó. Mẹ bảo rằng vì bà ấy mắc bệnh tim nên phải ra Cần Thơ để theo chữa bệnh với một bác sĩ chuyên khoa. Vì thế chỉ có một mình bà ta cùng người tớ gái ở tại căn nhà đó trong thời gian chữa bịnh.
Người đàn bà làm mình chú ý vì bà có nước da thật đẹp, trắng nõn nà. Và, mặc dù đã lớn tuổi bà cũng có một mái tóc dài, đen mướt. Bà lại đeo rất nhiều nữ trang, những bộ neo vàng quanh cổ tay tròn lẳn, những chiếc nhẫn đủ kiểu và bộ dây chuyền gồm ba sợi – thượng trung hạ – của bà khiến mình thích ngắm bà. Mình thích nhất chiếc trâm vàng hình mặt trăng lưỡi liềm, có gắn một hàng kim cương lấp lánh mà bà thường hay ghim trên búi tóc, bới theo kiểu bỏ bánh lái, trông rất là điệu nghệ thời gian bấy giờ.
Nói tóm lại, lúc bấy giờ, cả tỉnh Cần Thơ mình chỉ thấy một mình bà là người diêm dúa nhất, đã đẹp lại sang. Rồi mình cũng ước ao rằng nếu mẹ mình mà cũng vàng đeo ngọc dắt như bà, thì có lẽ mình thích hơn.
Một điều làm mình hài lòng là bà ta cũng rất thích mình.
Bà cũng hay nhìn mình chăm chú và có lần bà nói đùa với mẹ mình rằng «Phải cô Hai với thày Hai cho con nhỏ Kim Hạnh này để nó làm con nuôi tôi thì tôi vui biết mấy». Dĩ nhiên đời nào mẹ chịu, và mẹ mình đã dở cái giọng chanh chua của người con gái làng Lim, mà trả đũa bà rằng: «Bà Hương nói dễ nghe thật! gia tài vợ chồng tôi có mỗi một đứa con gái… bà thử nặn một đứa nhỏ bằng vàng, đem đổi lấy con gái tôi xem tôi có chịu không cho biết»..
Tuy vậy càng ngày bà Hương với mẹ mình càng thân nhau hơn. Bà nói cho mẹ biết, không phải bà tên Hương mà đó là chức hàm của chồng bà. Miệt bà ở mọi người đều gọi chồng bà bằng ông Hương Cả.
Mẹ mình rất khéo về các môn bánh mứt, gần như tuần nào mẹ cũng bày ra làm một món bánh, và mỗi lần như thế mẹ lại sai mình bưng qua một dĩa lớh biếu bà. Bà Hương nhận bánh tức khắc, nếm liền và khen không tiếc lời, rồi bà cắt một phần lớn sai chị tớ gái đón xe đem về Bình Thủy cho cậu con trai Út mà bà cưng nhất nhà.
Có những buổi trưa thấy mình thơ thẩn bắt bướm ngoài vườn, thì bà từ trong nhà cũng theo ra và bà dắt tay mình bắt phải vào nhà, vừa nói «Con ra nắng làm chi cho hư hết da mặt, vô đây với Má». Một lần bà ôm mình vào lòng hôn lấy hôn để, vừa nói: «Con dễ thương quá! Ước gì má có một đứa con gái như con». Không hiểu sao lúc đó mình cũng mồm mép lắm, mình nhớ mình đã hỏi bà: «Vậy chứ bác Hương không có đứa con nào hết à?». Bà liền nói ngay «Con gái cưng ơi, con đừng kêu “qua” bằng bác nữa, con kêu “qua” bằng Má nghe con. Má thương con lắm đó». Mình gật gật nhưng vẫn hỏi lại «Má Hương không đẻ đứa con nào hết sao?».
Nghe mình hỏi, bà vuốt tóc mình, cười đáp: «Má có ba đứa nhưng cả ba thằng đực rựa hết, nên má thèm con gái lắm. Phải chi má sanh thêm được một đứa con gái xinh xinh như con thì ba má có phước biết mấy».
Rồi bà nói tiếp: «Anh Hai với anh Ba của con đi học trường Tây trên Sàigòn, còn thằng Út của má, má cưng nó lắm, nhưng nó cũng sắp lên Sàigòn học nữa rồi».
Nói xong bà dắt mình vào phòng riêng lấy ra một quyển album, chỉ vào những tấm hình, giới thiệu: «Đây là anh Hai con, đây anh Ba, còn đây là…Út Quang của má đó». Mình chăm chú nhìn tấm hình có thằng Út cưng của bà Hương. Mình thấy một thằng bé, mặt trắng, tròn với đôi mắt đen nháy giống bà Hương như đúc. Thằng bé đó mặc sơ-mi trắng trông diện và chững chạc lắm, cậu Út cưng của bà Hương đứng cùng một hàng với những đứa trẻ khác, có đứa chỉ bé bằng mình. Mình hỏi bà Hương: «Thằng Út Quang của Má chụp hình với những ai mà đông quá vậy?». Bà vội kêu lên: «Ý! con đừng có kêu Út cưng của má bằng “thằng”. Con phải kêu bằng…Anh Quang nghe chưa?».
Và bà bảo mình: «Anh Út của con có giọng lắm, nên các Cha Xứ cho nó vô hát trong nhà thờ». Thấy mình nhìn Út Quang, bà chợt hỏi mình: «Con có thương …thằng Út của má không?». Mình nhìn thằng bé mặt tròn, đôi mắt cũng tròn, đen như hai hột nhãn, gật đầu: «Cũng thương nhưng mà… con không thương nó nữa đâu, vì nó là con trai mà». Nghe mình trả lời như vậy, bà Hương phá lên cười ngặt nghẽo, rồi bà chợt ôm lấy mình hôn như mưa vừa kêu lên: «Con sẽ là con của má, con sẽ là con của má.»
Mình về kể lại với mẹ thì mẹ có vẻ không bằng lòng, mẹ vùng vằng nói một mình: «Vô duyên quá. Khi không bát con gái của ngươi ta kêu mình bằng má! Má má cái gì». Và mẹ cấm mình không được dùng danh từ đó với bà Hương. Trong khi đó bà Hương thương yêu và chiều chuộng mình giống như mình là con thật của bà.
Một đêm Hè trời oi bức, trăng cũng tròn và sáng như đêm nay. Mẹ và bà Hương ngồi hóng gió ngay trong vườn nhà. Còn mình, sau khi học bài xong, mẹ cũng cho phép ra ngồi chơi trên ghế bố. Ngồi một lúc thì cơn gió thoảng từ mặt sông đưa lên mát rượi, mình nằm lăn ra ghế bố để tìm chú Cuội trong trăng. Mình nhớ đêm ấy trăng trong như hòn ngọc, lang thang một mình giữa biển trời mênh mông không một gợn mây.
Nhìn trăng một lúc, mình ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Đang ngủ ngon mình bỗng tỉnh dần vì những câu to nhỏ giữa mẹ và bà Hương. Mình nghe rõ giọng bà Hương nói với mẹ:
«… Tôi nói thiệt, tôi thương con nhỏ Kim Hạnh này lắm, bữa nào không thấy mặt nó một lần là tôi ăn cơm không thấy ngon. Thiệt là kỳ! Con nít nhỏ như nó, trong tôi thiếu gì, nhưng thiệt lạ! Tôi chỉ thương có một mình nó mới lạ chứ! … Bây giờ tôi nói điều này…Cô Hai cũng đã biết gia đình sự sản của vợ chồng tôi, cô Hai chỉ cần vô miệt trong đó hỏi thăm ông Hương là mọi người chỉ cho thấy ruộng của nhà tôi nhìn mút mắt. Vợ chồng tôi chỉ có ba thằng con trai, mà tôi thì nay bác sĩ nói, đã hết sanh đẻ rồi. …Tôi chẳng nói xa xôi làm gì, tôi xí phần con nhỏ Kim Hạnh này cho thằng Út cưng của tôi đó. Cô Hai nên bằng lòng đi để mình giao ước với nhau, rồi để thủng thẳng, khi chúng nó lớn, tôi xui làm đám cưới…Mặc sức cô Hai muốn thách cưới bao nhiêu tôi cũng không ngán. Tôi đâu có nhiều con mà sợ phải chia gia tài cho nhiều đứa. Mà tôi cũng nói thiệt cho cô Hai biết, trong ba đứa con trai, tôi thương thằng Út nhiều nhứt, cho nên cưới vợ cho nó tôi cũng sẽ cho dâu Út nhiều hơn hết».
Tự nhiên mình hiểu là mình phải giả vờ như đang ngủ say, không hay biết một tý gì… Rồi mình nghe tiếng má trả lời: «Nhưng mà con gái tôi nó mới có mười tuổi.» Giọng bà Hương nhiệt thành: «Tôi biết! tôi biết lắm chứ. Nhưng mình cần phải giao ước , sáu bảy năm nữa, mấy hồi? » Mẹ mình đáp: «Coi vậy chứ cũng còn lâu, với lại, tôi cũng phải hỏi ý kiến Ba nó đã». Bà Hương vẫn nói tiếp: «Thì cô Hai cứ hỏi thày Hai, nhưng mà chỗ bà con, tôi nói thiệt, mình đàn bà, nên nhìn xa cho con nó nhờ. Ăn thua ở chị em mình, chứ mấy ổng… biết gì ?»
Sau đó, không biết hai bà còn nói những gì, nhưng mình thì lại đã ngủ quên từ lúc nào. Có điều mình chỉ gặp Út Quang đâu có một lần, vào dịp đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể của giáo xứ hát ở Nhà Thờ Cần Thơ đêm Giáng Sinh năm đó. Thằng bé con trai hơn mình hai tuổi, có gương mặt trắng, tròn với đôi mắt to đen nháy chính là Út Quang.
Quang cũng nhìn mình vì thấy mình được bà Hương ôm vào lòng, ngồi ở hàng ghế rõ nhất.
Nhưng sau đó ít lâu, gia đình mình phải dời ra miền Trung, vì bố mình là công chức làm ở Bưu Điện, đã từng thuyên chuyển từ Bắc vào Nam. Ngày gia đình mình rời Cần Thơ, bà Hương buồn đến phát ốm, bà cầm tay mình mãi như không bao giờ muốn buông ra…
Từ đó mối giao hảo giữa hai gia đình gián đoạn, mẹ mình và bà Hương là những người không bao giờ cầm bút viết cho ai một chữ nào.
Riêng mình, câu chuyện năm xưa dưới đêm trăng mà bà Hương đòi «xí phần con nhỏ Kim Hạnh cho thằng Út Quang» thì đã in sâu trong trí óc mình. Dù còn nhỏ nhưng mình cũng hiểu, nếu mẹ và bố bằng lòng thì mình thuộc về một người. Hình ảnh thằng bé con trai có gương mặt trắng tròn và cặp mắt đen như hai hột nhãn cứ lẩn quẩn với mình. Mình nghĩ đến Út Quang và mình thích như yêu thích một món đồ chơi hợp ý nhất.
Cũng thời gian gia đình đang ở miền Trung, có một lần vào dịp nghỉ Hè, bất chợt đi chơi về, mình nghe mẹ nói với bố, từ trong phòng riêng vọng ra những câu đứt đoạn: «…Người ta đạo gốc, nhà mình suốt đời thờ Phật đâu có hợp… rồi ông xem, của cải như thế cũng sẽ hết… người ta có câu tam đa bất phú…». Xuyên qua những mẩu chuyện đứt quãng của bố mẹ, mình còn nghe loáng thoáng hình như gia đình bà Hương vẫn giữ ý định hỏi mình cho Quang. Năm đó mình vừa tròn mười bảy tuổi.
Điều đó làm cho mình vui vui. Mình nghĩ đến Quang, chắc bây giờ cũng đã thay đổi nhiều. Chắc anh ta cao hơn mình. Mình âm thầm hình dung một gã thanh niên mười chín tuổi, mặt trắng mắt đen để tự hỏi, không biết lớn lên, mặt Quang có còn tròn vo như năm mười hai tuổi không?
Câu chuyện hình như được bố mẹ mình bàn đến nhiều lần riêng với nhau, nhưng không bao giờ mình được cho biết. Rồi lại êm ru.
Thấy câu chuyện có vẻ bị bỏ qua, một buổi mình làm gan, vờ hỏi mẹ về…sức khỏe của bà Hương, thì mẹ có vẻ không bằng lòng, đáp rằng không có biết tin tức gì hết, và hơn nữa «Bà ấy khỏe hay yếu, can gì đến cô». Thế là mình tịt luôn! Mình hiểu mẹ không muốn kết thân với gia đình bà Hương, mình cũng buồn, nhưng lần lần thời gian qua, chính mình lại quên câu chuyện đó trước hơn ai hết. Rồi mình lấy chồng và trở về Sàigòn sống bình yên với hạnh phúc, mắc dầu vợ chồng mình không có đứa con nào.
Cuối năm 1975, sau gần ba mươi năm trời kể từ ngày mình theo bố mẹ rời bỏ tỉnh Cần Thơ, một ngày trời mưa to, trên đường đi qua mình phải trú mưa ở mái hiên một cửa tiệm nhỏ bán bánh kẹo, mình bỗng giật mình vì bà cụ bán hàng giống hệt bà Hương ở Cần Thơ năm xưa. Đột nhiên mình nhớ đến Quang. Mình có ý định nhìn vào trong nhà nhưng căn nhà, không thấy ai ngoài một bà cụ già đang ngồi trông hàng.
Mình lại nhìn bà cụ. Đúng là bà Hương Cả ngày xưa.
Mình nhìn Cụ từng nét lại từng nét, chỉ có khác là bây giờ tóc bà đã trắng như bông và bà già đi nhiều lắm. Đôi mắt bà đã hết tinh anh và bà cũng không còn đeo nhiều nữ trang như ngày trước nữa. Bà ngồi một mình trên chiếc ghế nhỏ nhìn ra ngoài mưa như mong đợi một người nào.
Đứng ngoài hiên, mình kín đáo nhìn bà cụ. Hình như bà cũng không để ý đến chung quanh, cũng không nhận ra có một người lạ đang nhìn bà chăm chú. Mình tự hỏi nếu bà Hương ở đây thì Quang? có Quang ở cùng trong chỗ này không ? và mình nghĩ: có lẽ bây giờ anh chàng cũng đã vợ con đùm đề.
Nửa tin nửa ngờ, cuối cùng mình chào bà cụ và đến gần cái tủ để hàng hóa; trong đó có bán đồ chơi trẻ con và một mớ chỉ thêu đủ màu. Mình vừa lên tiếng muốn mua mấy tép chỉ màu, thì từ sau một cánh màn gió, một thiếu phụ và một đứa con gái nhỏ đi ra.
Bà cụ lập cập đứng lên, hỏi mình: «Mua gi đó con?».
Giọng nói làm mình xúc động, và đúng là giọng của bà mẹ Quang năm xưa. Mình chỉ vào một tép chỉ thêu, thiếu phụ lạ mặt đã ra đến nơi, nói với mình «Bà già tôi điếc, không nghe cô nói gì đâu. Cô lấy màu nào?» Mình nói «cho tôi mua cái tép màu hồng» . Thiếu phụ cầm hộp chỉ lên do dự một giây rồi nói với mình «chỗ này có tám tép, nếu cô lấy hết thì tôi bán vốn luôn» và nàng chép miệng «mớ chỉ này bị huông ế quá. Nhiều người hỏi mà vẫn chẳng ai mua». Nghe vậy mình nói luôn «Để tôi mua hết cho chị ạ».
Cô bé đứng cạnh rất xinh, đôi mắt bồ câu, toét miệng cười nói với thiếu phụ «Từ sáng đến giờ mới có người mở hàng, lại mua chỉ của con… Cô Ba đưa tiền đây, để con bỏ heo». Mình nhìn cô bé, rất có cảm tình và mình bảo nó «Bé yên tâm. Tôi mở hàng, bán cũng mau lắm. Ngày nay hy vọng con heo đất của bé sẽ no tiền».
Thiếu phụ và cả cô bé cùng cười và chị kể với mình «Mớ chỉ màu là vốn của con nhỏ này. Nó thích chỉ màu lắm nên cứ đòi Ba nó phải gửi về để nó làm vốn mai mốt lớn, đi học thêu». Mình vuốt má cô bé «Còn nhỏ thế này làm sao học thêu nổi? năm nay bé đã mười tuổi chưa?» Cô bé lắc đầu, cười mà không đáp!
Bà cụ hình như chẳng thiết gì chuyện mua bán, cụ lơ đãng nhìn ra bên ngoài. Cơn mưa chợt dữ dội hơn, nước chảy ào ào từ mái hiên xuống bắn cả vào chân tủ kính. Thiếu phụ vội kéo thêm một bên cánh cửa sắt, nói với mình: «Mưa lớn quá, cô ngồi vào trong giây lát nữa bớt bớt hãy về.»
Mình được đưa vòng vào sau tủ hàng thì vừa chợt trông thấy một tấm hình phóng lớn, trong đó một đoàn thiếu nhi áo trắng đang hát thánh ca trong một nhà thờ… Tự nhiên mình đứng bật dậy và đến gần…. Đứng hàng đầu gần giữa là cậu bé mặt tròn, hai mắt đen nháy.
Tim mình đập liên hồi… Thiếu phụ cũng đến gần mình, lên tiếng thân mật: «Tấm hình này cũ lắm rồi, cũng tới gần ba chục năm nay, nhưng bà già tôi quý lắm. Đi đâu bà cũng đem theo. Dù bây giờ bà đã lẫn nhiều, nhưng riêng tấm hình này, hỏi ai bà chỉ đúng hết».
Minh bồi hồi nhìn chăm chú người con trai nhỏ đứng giữa tấm hình, vừa buột miệng : «Gần ba mươi năm rồi. Mau quá! ».
Thiếu phụ ngạc nhiên nhìn mình: « Nói vậy … cô cũng biết hồi chụp tấm hình này? …» Mình bối rối, đành nói lưng chừng: « Hồi đó…hồi đó bác Hương Cả đây có quen với mẹ tôi…hồi đó nhà tôi ở Cần Thơ, bác Hương ra Cần Thơ chữa bịnh.
Thiếu phụ reo lên, sắc mặt mừng rỡ: «Trời ơi! cũng bà con mà không có nhìn ra». Và nàng chạy ra nói với bà cụ:«Bác ơi, gia đình cô đây có biết bác từ hồi bác ra Cần Thơ chữa bịnh. Bác có nhìn ra cô đây không?»
Bà cụ chậm chạp quay lại, trên gương mặt già nua nhợt nhạt, đôi mắt lờ đờ, nụ cười ngờ nghệch, hỏi lại «Cần Thơ à? cái gì ở Cần Thơ?… Tao đâu có bỏ quên cái gì ở Cần Thơ?»
Thiếu phụ chép miệng nói với mình «Bác Hương lúc này lẫn nhiều quá. Chắc bác quên hết rồi!» Mình nhìn bà cụ muốn nhắc cho bà nhớ đến tên mình, nhưng mình lại thôi. Thiếu phụ lại hỏi mình: «Cô ở Cần Thơ có lâu không? chắc hồi đó cũng có gặp anh Hai, anh Ba với cậu Út, ba con Minh Hằng này rồi chứ?»
Câu nói của thiếu phụ làm mình choáng váng thêm. Thảo nào từ nảy đến giờ mình cứ nhìn con bé…Mình cố giữ bình tĩnh đáp lại: «Dạ, có…có một lần bác Hương cho tôi tới nhà thờ nghe anh Quang hát Thánh Ca…»
Minh Hằng sung sướng reo lên: «Ba con hồi nhỏ đó. Cô Ba ơi, té ra cô này cũng có quen bà nội với Ba con nữa à?» Cô Ba cầm tay mình, có vẻ cảm động: «Sao mà từ hồi đó đến giờ, em không có gặp mặt chị lần nào vậy? Bây giờ chị ở đâu? Mà chị thứ mấy đó, nói cho em biết đặng mình dễ xưng hô?».
Mình cũng xúc động không ít và mình còn hoang mang tự hỏi nếu gặp Quang bây giờ thì sẽ ra sao. Vì thế mình trả lời lưng chừng: «Hồi đầu mẹ tôi với bác Hương có quen nhau, nhưng sau đó gia đình tôi dọn nhà đi xa nên hai bên ít gặp.»
Cô Ba lại nói:
«Anh Hai với anh Ba thì đi Tây từ mười mấy năm nay rồi. Hai ông qua đó học rồi lấy vợ đầm, ở luôn bên đó, đâu có ngó ngàng gì đến cha mẹ và quê hương nên hai bác tôi buồn lắm. Ông bà có ba người con trai, rốt cuộc coi như còn một. Chỉ còn một cậu Út là có hiếu với cha mẹ, nhưng cậu Út này lại lộn xộn về đường vợ con. Chắc chị biết hồi nhỏ cậu ấy đã có giọng hát hay nên bác gái em cưng cậu lắm.
«Em nghe hình như hồi cậu Út mới lớn lên, bác gái đã tính cưới một cô nhỏ nhà ở tuốt ngoài Huế cho cậu ta, mà lụi đụi sao đó, lại không thành. Em nghe kể lại thi cậu Út cũng chịu cô đó lắm, còn bác gái em thì khỏi nói, mắc mớ gì mà bác thương cô dâu hụt đó lắm. Bác nói “Kim Hạnh nó dễ thương mà đẹp lắm”. Báo hại cậu Út cứ theo bắt đền bà mẹ hoài!»
Minh Hằng ngồi nghe đến đây, chen vào «Vậy chứ má con là ai? có phải bà đó không?» Cô Ba nguýt con bé một cái dài, nói tiếp: «Cũng cái vụ hụt cưới cô Kim Hạnh năm đó, cậu Út buồn mới phát ăn chơi, tối ngày đi theo cái đám ca hát ngoài đời nên mới đụng má con này. Hai người ở luôn với nhau, chẳng có cưới hỏi gì.»
Mình lại buột miệng: «Chắc vợ cậu Út đẹp làm nên cậu ấy mới bất chấp cả gia đình». Minh Hằng ôm miệng cười, còn cô Ba giọng điềm đạm hơn : «Mẹ con này là ca sĩ, đẹp thì có đẹp, nhưng chỉ thương tiền của Ba nó, chứ thương gì Ba nó».
Càng nghe chuyện, mình càng bối rối trong lòng, cô Ba vô tình vẫn kể tiếp :«Bà già đâu có ưa cô này nên bà không chấp nhận, bà không cho tiền. Rồi không hiểu loay hoay làm sao, mới sanh con Minh Hằng này được mấy tháng, hai vợ chồng đã rã đám. Con nhỏ này nó đâu có biết mặt mẹ nó, bà nội đặt tên cho nó đó».
Minh Hằng lại toe toét cướp lời: «Ba con ở bên Tây. Ba gửi đồ cho bà nội với cho con thiếu gì. Bác Hai với bác Ba đâu có gửi thư thăm bà nội.»
Bên ngoài cơn mưa đã ngớt, cô Ba sai Minh Hằng đẩy rộng hai cánh cửa sắt ra, nhưng con bé không đủ sức, nó đưa mắt nhìn mình làm mình càng thương nó hơn. Cũng như bà nội nó ngày xưa, bây giờ chính mình lại ước ao được nhận nó làm con nuôi của mình.
Một đoàn hai ba cô nữ sinh chợt kéo nhau vào hỏi mua chỉ màu, mình cũng nhân cơ hội đứng lên chia tay với cô Ba và Minh Hằng. Khi mình chào bà cụ, bà ngơ ngác nhìn mình như nhìn một kẻ không quen khiến mình muốn khóc. Minh lén cầm lấy tay bà một lúc rồi đi thẳng.
Dù sao tất cả câu chuyện mà mình vừa được biết về cuộc đời và gia đình Quang cũng đã làm mình xao xuyến và phải nghĩ đến Quang. Gần ba mươi năm trôi qua, câu chuyện năm xưa bây giờ như sống lại, nhưng mà hình ảnh Quang, với mình vẫn chỉ là một cậu bé mươi hai tuổi. Mình làm sao biết được hình dáng Quang bây giờ ra sao. Rồi mình nghĩ đến Minh Hằng, tội nghiệp, con bé xinh đẹp như thế mà mới bằng tí đã không có mẹ.
Từ đấy, mình vẫn thỉnh thoảng ghé thăm cái gia đình cô đơn ấy, rồi mình được biết thêm rằng, cô Ba chỉ là người cháu họ xa của bà Hương Cả. Gia đình cô rất nghèo và cô sống đồng trinh để vào nhà Tu Kín, nhưng sau ngày mất nước các tu viện đã gặp nhiều khó khăn nên cô đành đến với bà Hương để săn sóc bà, vì gia đình bà chẳng còn ai ngoài hai bà cháu.
Cô Ba kể với mình rằng bà Hương Cả đã mất hết ruộng đất, phải bỏ xứ lên đây. Bây giờ bà sống bằng một phần nữ trang quý giá còn lại và một phần do Quang gởi về. Cô còn nói rằng «tội nghiệp cho cậu Quang, trên bốn mươi tuổi rồi mà vẫn lang thang chưa vợ».
☆
Tách cà-phê đã cạn từ lâu, Hạnh tha thiết nói với bạn:
– Đây là câu chuyện mà mình chưa hề kể cho một ai, kể cả anh Thiện là chồng mình. Mình nghĩ tuy đi xa, nhưng mình sẽ không quên gia đình bà Hương. Vì thế mình xin Tuyết hãy thay mình, thỉnh thoảng ghé thăm bà cụ cùng hai cô cháu con bé Minh Hằng.
Tuyết rót cho Hạnh một tách trà nóng, do dự hỏi Hạnh:
– Một ngày nào đó, mi có cho phép ta nói rõ cho họ biết mi là ai không?
Hạnh ngồi im, mơ màng nhìn lên mảnh trăng mười sáu sáng ngời, lơ lửng trên nền trời khuya. Trong một thoáng Hạnh tưởng như đâu đây ngọn gió hiền hòa từ mặt con sông Hậu Giang đang lướt qua dưới ánh trăng ngà… Ngọn gió ngọt ngào ấy chỉ có miền Tây đất Việt mới có. Vài ngày nữa Hạnh đã lên đường rời xa quê hương, chuyến đi này biết đến bao giờ mới trở lại.
Và cũng chuyến đi này, Hạnh đã bỏ lại bao nhiêu thân yêu, bao nhiêu thương nhớ, bao nhiêu là kỷ niệm đã từng ghi sâu trong tâm hồn. Hạnh thở dài dịu dàng bảo với Tuyết:
– Dù sao tất cả câu chuyện cũng thuộc về quá khứ, tốt hơn hết, Tuyết đừng nói gì về sự thật của mình.
Bếp củi dưới chân hai ngươi đã tàn từ lâu, từng lớp tro mỏng thoảng bay theo chiều gió. Đêm đã khuya, tất cả đều im vắng. Tuyết thu dọn ly tách rồi rủ Hạnh vào nhà. Căn nhà của Tuyết bây giờ trống trơn. Hai chị em Thiên Hương nằm ngủ lăn lóc trên một mảnh chiếu cũ trải ngay nhà ngoài. Tuyết chỉ một cái giường nhỏ bảo Hạnh :
– Cả nhà chỉ còn một cái giường này duy nhất, đáng lẽ đã bán rồi, nhưng hai đứa con mình nó bảo cất đó để dành cho Ba nó về có chỗ mà nằm. Đi học tập đã bịnh hoạn, về lại nằm đất, chịu gì thấu.
– Tuyết đã được tin bao giờ ông xã về chưa?
Giọng Tuyết chán ngắt:
– Chắc phải đợi cho đến khi nào dẹp trại mói được về. Nói đi một tháng mà mấy năm nay vẫn chưa nghe tin gì.
Rồi Tuyết lấy một chiếc chiếu lớn trải giữa phòng, quăng xuống một đôi gối:
-Ngủ đất một đêm rồi mai mốt mặc sức nằm giường nệm êm ái.
Đặt lưng nằm xuống, nhưng Hạnh không sao chợp mắt nổi.
Hạnh nằm thao thức, mặc dầu giữa thành phố, đâu đây vẫn có tiếng gà gáy gần xa. Tiếng gà eo óc, cô đơn, và lạnh lùng.
Hạnh nghĩ đến Tuyết, từ ngày Tùng đi học tập, Tuyết sống vất vưởng ở khắp mọi chợ trời để kiếm tiền nuôi con, chạy gạo từng ngày, chạy tiền từng buổi, tương lai mù mịt…
☆
Một đoàn người lặng lẽ theo chân nhau tiễn ra sân bay, đến đây chợt có tiếng ồn ào kêu gọi từ một phía lầu trên cao vẳng xuống. Không ai bảo ai, cả đoàn người cùng luống cuống nhìn lên, thân nhân của họ còn đứng đó, chen chúc cố lách lấy một chỗ để nhìn theo người sắp đi xa. Những tiếng gọi nhau, những bàn tay rối rít vẫy chào, những chiếc khăn tay lất phất. Và đoàn người dưới sân bay, trong một phút bỗng xôn xao, hỗn độn… đứng lại hay đi nhanh, chẳng ai quyết định được!
Hạnh đứng ngừng hẳn lại, bối rối nhìn lên đoàn người lố nhố trên từng lầu cao. Hạnh cố nhìn nhưng không thấy Tuyết đâu, chỉ nghe một giọng con trẻ gọi vọng xuống:
– Con đây… con đứng đây này..
Rồi có những tiếng thúc giục: « Lên xe! tất cả lên xe hết ».
Chiếc xe ca đưa hành khách đến tận chân thang của chiếc máy bay… Mọi người đưa giấy tờ một lần chót, từng người một lặng lẽ đặt chân lên nấc thang vô định…
Trước khi bước chân qua khung cửa máy bay, thốt nhiên Hạnh dừng lại, quay nhìn về phía sau, mắt mờ ngấn lệ…
– Vĩnh biệt quê hương…Vĩnh biệt !
Trong một giây ngắn, gương mặt những người thân yêu như ẩn, hiện, nhạt nhòa…
Trong lòng máy bay như một thế giới nào khác lạ, xa vời cảnh cũ, đoàn người bỡ ngỡ…. Rồi máy bay lên cao, lên cao, Hạnh lọt người trong lòng chiếc ghế nệm, vừa rộng vừa êm, nhắm nghiền đôi mắt… dưới kia là thành phố rồi đến đồng quê… tất cả chỉ còn là mây khói mịt mờ.
Việt Nam, mảnh đất ta đã được sinh ra, nơi ta đã được mở mắt chào đời, nơi ta đã thấm nhuần những câu à-ơi ru ngọt của mẹ hiền, ngày nay…vĩnh biệt!
Hạnh choàng dậy nhìn ra cửa sổ máy bay một lần nữa, nhưng bên dưới chỉ có mây, muôn ngàn cánh mây trắng bao la… Quê hương chỉ còn trong ngấn lệ.
…Mười tám tiếng đồng hồ sau, giữa một bầu trời mờ sương, máy bay từ từ hạ cánh. Đây, đất hứa. Mảnh đất này, để được đặt chân đến đây, biết bao người đã đánh đổi cả cuộc đời. Và cũng còn biết bao nhiêu người giờ đây ngoắc ngoải trên những con tàu vượt biên, vật lộn với sóng gió, với tử thần để đến được nơi đây. Và cũng còn biết bao nhiêu người ước mơ, mong đợi… để chẳng bao giờ đặt chân đến.
Đất lành nhưng sao quá xa lạ, những con người cũng xa lạ.
Đoàn người tị nạn, như những cánh chim lạc đàn, tự nhiên sát lại với nhau.
Có những ông bà già mắt mờ chân chậm đi để tìm con, có những cặp vợ chồng xa cách, bây giờ là thời gian được gặp lại nhau, có những gia đình lìa xa tứ tán ngày nay xum họp. Và cũng có những người trẻ tuổi lẻ loi, lần đầu nơi xứ lạ, không hiểu từ ngày mai, cuộc đời thay đổi, thân phận mình sẽ ra sao.
Và bây giờ, đoàn người đã bước chân vào ngưỡng cửa của một trại tiếp cư tạm thời.
Mọi thay đổi bắt đầu từ đây.
Từ cửa sổ một căn phòng riêng nhìn ra, bên ngoài cảnh có đẹp, đời sống nơi đây có bình yên, nhưng tất cả đều xa lạ. Hạnh nhìn những tòa biệt thự xinh xắn, kiểu cách, ẩn náu giữa những mảnh vườn đầy hoa tươi muôn sắc, muôn màu, những nóc nhà lợp ngói đỏ au, những con đường sạch trơn, những con người diêm dúa những lạ lùng. Ôi ! Tất cả chẳng có gì thân thuộc với mình.
Bất giác Hạnh nhớ đến cảnh cũ quê nhà. Con đường nơi Hạnh ở, tấp nập từ sáng sớm cho đến nửa đêm khuya. Mới bốn giờ sáng, đường phố đã có xe lam, xe đạp chạy qua. Mặt trời lên càng cao, xe và người càng đông, hỗn độn, nghèo nàn giữa những đám khói xe khét lẹt, tỏa đầy đường . Người đông, lếch thếch hoặc đi bộ hoặc gánh gồng chen chúc với những hành khách đói rách, tật bệnh, lê lết kêu xin.
Những người ra đi cùng chuyến với nhau, dễ quen nhau, quen để mà tâm sư với nhau nỗi cô đơn, nỗi buồn xa cố quận. Có những người đăm chiêu, có những người im lặng, như tâm tư còn vương vấn muôn ngàn hình ảnh của quê hương.
Sau những bữa cơm xô bồ, từng nhóm dăm ba người túm tụm ngồi sưởi nắng để xua tiết lạnh chưa quen, và để cùng nhau nhắc lại nếp sống cũ, của thời bình yên đã qua nơi quê nhà.
Qua những ngày đầu đã có nhiều gia đình bà con đến thăm hỏi, và đón đi xem thành phố Paris, nhưng cũng có người chỉ lủi thủi một mình, trong số đó có Hạnh.
Chồng Hạnh làm việc ở một tỉnh thuộc miền Nam nước Pháp, khi được tin Hạnh đến nơi, Thiện đã gọi điện thoại nói chuyện và hẹn Hạnh, sau mười lăm ngày ở trại ra, Hạnh cứ việc đi xe lửa về Marseille, Thiện sẽ ra ga đón.
Hạnh đi một mình, thơ thẩn trên một con đường dài vắng vẻ, hai bên đường những tòa nhà lịch sử, vườn hoa vun xới thật là đẹp mắt. Ở đây cái gì cũng đẹp, cũng sang, cũng lạ mắt, và những thứ thừa dùng dù còn tốt đẹp, ngươi ta cũng sẵn sàng cho ra vỉa hè. Hạnh bỗng nhớ đến bầy trẻ con đói rách, mỗi đứa chỉ có manh quần, mình mẩy đầy sình, ngập sâu dưới những con lạch trong thành phố, mót từng cái bao ni-lông cũ hoặc từng cái chai mà người ta đã vất đi, đem về bán lấy tiền để có miếng cơm.
Buổi chiều mùa Hạ, trời xứ Pháp ngày dài, dù đã 8, 9 giờ đêm mà trời hãy còn ánh nắng, bốn năm thiếu nữ đi cùng chuyến với Hạnh kéo nhau chạy lên ngọn đồi nhỏ trước Trại, để nhìn về phía bên kia thành phố. Nơi ấy xe chạy có hàng, lên xuống theo từng đoạn đường trên dưới, kiến trúc tân kỳ, với tốc độ nhịp nhàng.
Hôm sau, trời nắng đẹp, không gian một màu xanh trong như đại dương những ngày im sóng. Từng đàn chim sẻ ríu rít sà xuống những bãi cỏ mướt như nhung. Thứ bẩy đẹp trời lại có tin sẽ có một đoàn thanh niên Việt Nam có thiện chí đến ca hát giúp vui cho đồng bào mới đến tị nạn. Người già người trẻ đều vui mừng vì có dịp gặp lại người đồng hương và cũng còn là dịp để hỏi thăm đường đi nước bước nơi đất lạ quê người.
Thế là mọi người nôn nóng đợi chờ, nhất là các cô thiếu nữ.
Quả nhiên đoàn ca hát đúng hẹn, họ đến đúng giờ, đem theo đàn sáo và bắt đầu bằng những bản dân ca tặng đồng bào. Những bài hát ngọt ngào tình quê làm mũi lòng kẻ ly hương. Hạnh cũng có mặt nhưng Hạnh ngồi hàng ghế cuối cùng, khuất vào một góc vắng người.
Họ hát thật hay, tình cảm cởi mở khiến không khí trở nên thân mật và mọi người thấy gần gũi nhau hơn. Trong lúc đoàn ca hát còn đang tiếp tục thì có một thiếu nữ và một người đàn ông, có vẻ là người nhiều tuổi nhất bọn, đưa đến tận tay mọi người bản chương trình đi thăm thắng cảnh Paris vào thứ bảy sau. Lại một phen ồn ào, mọi người bàn tán, hỏi han. Mấy cô thiếu nữ cười nói xôn xao, vui vẻ.
Riêng Hạnh vẫn ngồi yên chỗ cũ mải để hồn theo dư âm những lời ca, không nhận ra người đàn ông cầm xấp chương trình đi về phía mình, chào hỏi. Người ấy nói với Hạnh:
– Mời chị ghi tên đi thăm thành phố Paris với chúng tôi một lần cho vui.
Hạnh ngẩng lên, chợt có cảm tình ngay với giọng nói trầm ấm của người lạ mặt. Sau một giây do dự, Hạnh nhận lời. Người ấy cúi xuống viết tên Hạnh, hỏi thăm qua loa vài câu, hẹn sẽ gặp lại vào cuối tuần sau.
Trại tiếp cư nhờ buổi hát giúp vui nên ngày hôm ấy không khí bớt buồn tẻ. Nhưng chiều tối, phải nhìn thấy dãy hành lang dài hút, trống trơn và vắng vẻ, nỗi cô đơn lại xâm chiếm lòng người. Nhiều gia đình đã rút lui vào phòng riêng khóa cửa, tránh tiết lạnh ban đêm. Hạnh cũng về phòng, lúc đi ngang một cánh cửa, Hạnh chợt nghe thấy mấy cô thiếu nữ ở phòng kế cận, nhắc nhở và cũng đang mong cho mau đến ngày được có người dắt đi thăm thành phố Paris.
Hạnh nghĩ đến những người lạ mặt trong đoàn ca hát vừa gặp hôm nay. Ai cũng nghĩ người Việt sang đây thành Tây hết, và họ rất là ích kỷ, thế nhưng, nếu căn cứ vào những người này thì Hạnh thấy không đúng.
Họ tự giới thiệu là người đồng hương, chỉ muốn tự lực cả vật chất lẫn tinh thần, giúp vui cho người mới đến xứ lạ đỡ cô đơn. Chỉ giản dị có thế mà thôi.
Hạnh nghe cô bé Linh ở gần phòng Hạnh bảo mấy cô kia:
– Mấy người trong đoàn ca hát này họ chu đáo lắm. Em nghe họ bàn với nhau là kỳ này họ sẽ đem xe hơi đến đón bọn mình, chứ không để mình đi métro.
Thiếu nữ có mái tóc dài tên là Hoa hỏi Linh:
– Tại sao không cho mình đi métro để cho mình được biết cái thú ngồi xe điện đường hầm ?
Linh vênh váo:
– Đi métro là con đường đi dài dài, đi mút mùa. Được ngồi xe hơi đi ngắm thành phố mới quý. Họ cũng biết điệu lắm nên mới «lo» xe, để đưa mình đi du ngoạn đấy.
Cô lớn tuổi nhất trong đám lên tiếng với Linh:
– Sao em có vẻ rành chuyện quá vậy?
Linh cười toe toét:
– Em nghe ông phát chương trình, hồi ghi tên em, ông ấy nói như vậy.
Cô đẹp nhất bọn từ nãy đứng im, bây giờ mới chen vào:
– Hình như ông đó là người tổ chức, em thấy ông ta «già» nhất bọn và mấy anh đều xưng «em» với ông ta hết.
Linh lại nói:
– Thì xe hơi mà bữa tới này đến đón tụi mình đi, là của ông ấy mà. Ổng bảo với chị phát chương trình là ông sẽ cố thu xếp, cho có được chiếc xe ca để chở hết những bà con nào muốn đi.
Rồi Linh hạ giọng làm ra vẻ quan trong:
– Mấy chị biết không? Hồi nãy tụi em khen hai anh cầm ghi-ta hát hay, thì cái chị phát chương trình lại nói nhỏ với em rằng: ông lớn tuổi ấy mới là người hát hay nhất. Chị Lan nói ông ấy ít khi chịu hát lắm.
Hoa lại hỏi:
– Chị Lan nào?
– Chị phát chương trình tên Lan.
Cả mấy cô cùng cười, và cô lớn nhất nói với Linh :
– Em giỏi quá. Mới đó đã biết tên người ta rồi .
Linh cười rất tươi:
– Em biết hết, tại vì em hỏi chị Lan, em biết hai anh chơi ghi-ta tên là Tân với Hỷ,còn…
Cô lớn tuổi tò mò:
– Còn ông ấy tên gì?
Linh vẫn cười:
– Em thấy chị Lan gọi ông ta là anh Cao…
Liên ôm miệng cười:
- Em chẳng thấy ông cao là bao nhiêu, chỉ vừa vừa người thôi.
Cô đẹp nhất lại lên tiếng:
– Đúng rồi. Ông ấy đâu có cao, nhưng mặt ông ấy hiền. Em «chịu» những người đàn ông hiền hiền như vậy.
Tất cả mấy cô đều phá lên cười:
– Trời ơi! Chưa gì hết đã «chịu» rồi!
Cô đẹp nhất đành cười theo:’
– Chịu thì nói chịu, đâu có sao. Ăn thua là «người ta» kìa. Một mình em mà chịu thì nhằm nhò gì.
Và cô lại nói thêm:
– Mấy chị tin em đi. Kỳ này mà gặp ông ấy lần nữa, thế nào em cũng nài cho ông ta phải hát, em mới chịu. Em mà đã nói là thế nào ông ta cũng nể mà làm theo.
Nhưng Linh đã thấp giọng, và thì thầm:
– Mấy chị biết không? Chị Lan mét với em chỉ những trường hợp đặc biệt lắm ông Cao mới chịu hát.
Và Linh nháy mắt:
– Tụi mình cứ chịu khó đợi, dịp đặc biệt sẽ không xa, vì em đã có cách.
Một luồng gió lạnh lùa vào làm các cô lạnh run, thế là họ vội chia tay, ai về phòng nấy.
Hạnh đứng trong cánh cửa từ nãy đến giờ, chợt vui lây vì đã tò mò nghe lóm trọn câu chuyện. Thốt nhiên, Hạnh cũng mong cho mau đến cuối tuần để có dịp gặp lại đoàn người dễ mến ấy.
Rồi ngày mong đợi cũng đã đến. Ngay sau bữa ăn sáng, mọi người đã quần áo chỉnh tề, đứng đợi ngay trước cửa trại. Một chiếc xe ca chạy tới và Lan, người con gái duy nhất của đoàn ca hát đã đứng ngay cửa xe, đưa tay vui vẻ chào đón mọi người. Dù mới gặp một lần, nhưng hôm nay, cả hai bên đều đã có phần thân cận với nhau hơn. Những người trẻ tuổi thuộc tên nhau rất chóng, và họ nói những câu chuyện như là đã quen biết từ lâu.
Cao đích thân xếp chỗ cho mọi người ngồi, và sau một hồi nói qua về chương trình cuộc du ngoạn, Cao ra hiệu cho xe lên đường. Tân và Hỷ, hai tên ghi-ta của đoàn hôm nay có nhiệm vụ giới thiệu từng chặng đường. Cả hai cùng có lối nói chuyện rất hài hước nên mọi người càng cởi mở, vui vẻ hơn.
Lần đầu tiên được đi xem thủ đô ánh sáng của nước Pháp, đoàn người vừa háo hức vừa mải mê, vì nơi nào cũng đẹp và lạ, mà một số người chỉ mới được biết qua hình ảnh, sách vở. Đến Château de Versailles thì xe ngừng hẳn. Lâu đài cổ xưa và những di tích lịch sử đã thu hút mọi người. Nhưng với Hạnh nàng lại say mê khu vườn mênh mông với những mặt hồ, những pho tượng cổ đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử nước người.
Đoàn người chia nhau từng nhóm nhỏ, nhưng Hạnh chỉ lủi thủi một mình. Hạnh thích mặt hồ lặng lờ mà đằng xa in bóng trời mây bát ngát. Đứng nơi đây, Hạnh như quên tất cả, có một cái gì thật hư vô, thật siêu thoát khiến giây phút tâm hồn Hạnh bỗng lâng lâng. Bỗng Hạnh giật mình vì một tiếng chào, Cao tươi cười đứng bên Hạnh từ lúc nào. Cao hỏi Hạnh:
– Xem chừng chị thích những nơi vắng lặng hơn chỗ đông người.
Hạnh hơi mất tự nhiên, giọng nàng ấp úng:
– Dạ, … có lẽ tại thói quen từ bao nhiêu năm nay rồi.
– Vậy là tình cờ ở đây cũng có một người, cũng chỉ thích cảnh vắng lặng giống như chị vậy đó.
Tự nhiên Hạnh ngớ ngẩn hỏi lại:
– Ai vậy ạ? Người đó có đi trong đoàn mình không ?
Nụ cười của Cao có phần hóm hỉnh, nhưng giọng Cao rất dịu dàng:
– Thưa chị, người đó xin phép được hầu chuyện với chị đây.
Hạnh như sực nhớ cái đãng trí của mình, cũng phải bật cười:
– Chết thật! Không ai ngớ ngẩn như tôi.
Và Hạnh nói luôn :
– Đôi khi nói chuyện với bạn bè vừa dứt lời, tôi đã không còn nhớ mình đã nói những câu gì, thật vô duyên quá
Cao vẫn cười, nói tiếp:
– Thì… chính cái kẻ đang đứng trước mặt chị cũng đã mắc chứng bịnh đó. Xét ra đôi khi còn trầm trọng hơn chị nữa kìa đấy.
Hạnh đã mạnh dạn hơn, nàng nhìn Cao ý nhị:
– Vậy mà tôi cứ tưởng chỉ những người mới xa nhà lần đầu tiên, nên mới lẩm cẩm như thế.
Cao tủm tỉm:
– Mới xa hay đã xa lâu, thì cũng đều mang nặng trong lòng mối sầu viễn xứ như nhau, chị ạ.
Hạnh lại hỏi Cao:
– Nói vậy có lẽ anh sang đây đã lâu?
– Dạ, trước ngày mất nước một năm. Lúc bấy giờ tôi không định ở lại, nhưng rồi tình hình thay đổi nên đành ở luôn cho đến bây giờ.
Hạnh tò mò:
– Ở đây lâu như vậy, chắc anh cũng đã làm giấy bảo lãnh cho gia đình đi hết rồi chứ?
Nét mặt Cao thoáng buồn:
– Trái lại, gia đình tôi không ai đi hết.
Hạnh ngạc nhiên:
– Ồ, lạ thật. Vậy thì…
Thấy Hạnh có vẻ hiểu lầm mình, Cao đành nói tiếp:
– Không phải gia đình chúng tôi theo Việt cộng, mà thật sự, chỉ vì nhà tôi cũng chẳng còn ai!
Hạnh càng thấy Cao khó hiểu, nàng chưa kịp lên tiếng thì Cao đã nói tiếp:
– Mẹ tôi đã quá già, còn con tôi…
Những tiếng ồn ào bỗng vẳng lại làm át mất câu nói của Cao., và Lan cùng đi với mấy thiếu nữ, tay cầm máy ảnh, đang chạy về phía hai người, vừa nói với Cao:
– Các bác và mấy em muốn chụp hình kỷ niệm chung với đoàn mình, nên tụi em đi kiếm anh và cả chị Hạnh đây nữa. Từ nãy giờ chưa có tấm hình nào của chị Hạnh hết.
Không đợi chọ Lan dứt lời, mấy thiếu nữ đó xúm lại, tranh nhau đòi chụp với Cao. Chiếc máy ảnh bấm không ngừng, nhưng Tân báo tin đã đến giờ phải trở về. Khác với chuyến đi, trên đường về, mọi người nói cười, bàn tán vui vẻ, chuyến du ngoạn đã kết thúc bằng bài đồng ca «Tạm Biệt», rồi hai bên vui vẻ chia tay.
Thấy Cao nói những lời từ giã với đoàn người tị nạn, Hạnh bỗng thấy buồn. Và Hạnh càng buồn hơn khi thấy Cao cũng chỉ chào mình như đã chào những người khác.
Từ hai tuần nay sống tạm nơi trại tiếp cư này, hôm nay lần đầu tiên Hạnh cảm thấy bước chân nặng nề khi phải lên hết bốn từng lầu, với những hành lang dài lạnh lẽo, âm u. Đêm hôm ấy, trong căn phòng vắng vẻ, Hạnh bỗng nghĩ về Cao, ở người đàn ông này có những điều gì khác lạ. Đột nhiên Hạnh tự trách và hỏi thầm rằng, người ấy là gì mà mình phải bận tâm thắc mắc. Nhưng cùng lúc đôi mắt Hạnh lại nhìn vào gương để nhận thấy một chút màu hồng phớt trên đôi má.
Hạnh thấy mình nên gọi điện thoại cho Thiện, nàng lại ao ước nếu giờ này được nghe tiếng của Thiện nói chuyện với mình dù chỉ vài câu cũng đủ. Vẫn đứng trước gương, Hạnh thầm ôn lại những lời Thiện đã nói với mình sau mấy năm trời vợ chồng xa cách. Tuy nhiên Hạnh không khỏi chạnh lòng vì Thiện không cố gắng lên đây một lần khi được tin Hạnh vừa mới đến.
Hạnh vứt mảnh giấy ghi số điện thoại của chồng xuống mặt bàn, buông một tiếng thở dài và cầm bút viết thơ cho Tuyết.
Bỗng có tiếng gọi cửa báo tin cho Hạnh biết, có người đang gọi điện thoại xin nói chuyện với Hạnh, tự nhiên Hạnh thấy vui vui, hết còn giận lẫy với chồng nữa…. Nhưng, tiếng nói qua đường dây làm Hạnh sững sờ, nàng hỏi lại:
– Dạ, …ông, à…anh Cao ạ ?
Đầu dây kia một giọng đàn ông thật ấm nói vào tai Hạnh:
– Vâng, thưa chị, Cao đây. Tôi xin lỗi chị vì buổi sáng đang nói chuyện dở dang, đến lúc về hơi vội không kịp nói với chị câu nào… Thưa chị, nếu chị cho phép, ngày mai tôi xin đến thăm chị một lần.
Hạnh bối rối chẳng biết nên trả lời ra sao, cứ dạ bừa.
Đầu dây kia hình như Cao hiểu, vì Hạnh nghe Cao hỏi lại:
– Có gì phiền chị không, thưa chị? Nếu chị thấy không tiện thì cho tôi xin lỗi và tôi sẽ không bao giờ dám đến quấy rầy chị nữa.
Nghe nói thế Hạnh càng cuống hơn, vội lên tiếng:
– Dạ, không có gì trở ngại cả, mời anh cứ đến chơi…
– Cám ơn chị đã cho phép, vậy thì, xin chị đợi tôi khoảng năm giờ chiều mai. Giờ đó chị có bận gì không?
– Tôi không bận gì, mời anh cứ đến.
Cao nói thêm vài câu thăm hỏi nữa rồi thôi.
Không biết có phải vì buổi sáng đã đi bộ nhiều hay không, mà đêm đó Hạnh ngủ ngon. Một giấc dài, êm đềm nhưng vẫn có một giấc mơ nhỏ, thật đẹp đối với Hạnh.
Hạnh thấy mình ngồi trên chiếc xuồng ba lá bơi dọc theo một con lạch nhỏ để về Bình Thủy. Mặt nước trong veo, có những hàng dừa lá dài, cong xuống chạm vào be xuồng. Chiếc xuồng nhỏ cứ thế lướt êm trong dòng nước, quanh xuồng muôn ngàn bông hoa màu tím giống như những chiếc đèn hoa, lững lờ trôi theo. Có một giọng ai hò đâu đây văng vẳng vang lên nghe thật êm tai. Hạnh nhìn quanh nhưng không thấy một ai và.. Hạnh chợt tỉnh. Té ra chỉ là một giấc mơ !
Mấy chục năm trời đi qua, đến giờ phút này, dù đã cách xa ngàn dậm, tiềm thức của Hạnh cũng vẫn còn lưu luyến những hình ảnh của ngày xưa. Đường về Bình Thủy năm xưa đã từng làm Kim Hạnh thuở lên 10 háo hức, đến nay, ở tuổi vào thu tâm tư Hạnh vẫn lưu luyến. Mặc dù giờ phút này cảnh cũ đã xa vời.
☆
… Có tiếng gõ cửa. Hạnh chợt bồi hồi và Hạnh liếc nhanh vào tấm gương trên tường, một tay mở cửa. Cao xuất hiện với nụ cười và một bó hoa nhỏ:
– Chào chị, chị có được mạnh không ?
Hạnh nhìn bó hoa, mỏm cười mời Cao:
– Cám ơn anh, nhờ thời tiết mùa này không lạnh lắm nên tôi cảm thấy rất dễ chịu. Mời anh vào chơi, anh chọn hoa khéo quá.
Cao tươi cười đưa bó hoa cho Hạnh:
– Tôi đang lo không biết chị có thích loại hoa màu tím này hay không ?
Hạnh ngắm những cành violette xinh xinh, tấm tắc:
– Hoa bên này đẹp quá, và thật là sự tình cờ !
Vừa nói Hạnh vừa chỉ vào chai nước hoa nhỏ để trên mặt bàn:
– Anh xem này, tôi cũng dùng nước hoa violette.
Giọng Cao rất tự nhiên :
– Còn tôi, suốt đời chẳng bao giờ mua hoa, nhưng hôm nay, trên đường đến đây, đi qua một cửa hàng hoa, bỗng dưng tôi lại nghĩ nên biếu chị một bó hoa màu tím. Thú thật với chị, chỉ vì quê tôi rất nhiều những loài hoa màu tím. Ngay trong vườn nhà tôi, vừa nhìn vào đã thấy toàn những chùm hoa leo màu tím. Chẳng biết tên nó là gì, nhưng tôi cứ nhớ đến nó hoài, rồi hoa trôi trên dòng nước sau nhà cũng màu tím.
Hạnh vuốt ve những cánh hoa nhỏ, liên tưởng đến giấc mơ đêm qua, nói với Cao:
– Anh nói thế tôi hiểu rồi, tôi hiểu anh vẫn luôn nhớ đến quê hương bên nhà. Quê anh ở tỉnh nào ?
Cao nói bằng giọng hân hoan :
– Tôi là dân miền Tây, ông bà cha mẹ tôi sinh trưởng ở Ô-Môn nhưng đất đai mồ mã thì nằm hết tại Bình Thủy.
Hạnh bỗng cảm thấy hoang mang, nàng nhìn Cao:
– Bình Thủy? … gia đình anh ở Bình Thủy?
Cao vẫn vô tình:
– Còn chị? Tôi nghĩ chị không phải người miền Nam ?
Hạnh cười gượng :
– Vâng, anh nói đúng đó. Nơi tôi chào đời là phần đầu của giải đất mang hình chữ S, thế nhưng tôi cũng đã có dịp biết khá nhiều những nơi khác.
Hạnh định nói thêm «nhất là miền Tây» nhưng Hạnh đã kịp ngưng lại, để hỏi một câu khác :
– Còn anh, anh ở Bình Thủy đến năm nào ?
Cao tươi cười :
-Tụi tôi chỉ ở hồi nhỏ xíu thôi, kể từ khi xong tiểu học ba má tôi tống hết ba anh em tôi lên Sàigòn học tiếp.
Hạnh chớp chớp đôi mắt, che dấu cơn bối rối:
– Hôm trước nghe anh kể, anh còn gia đình ở bên nhà, chắc thân quyến của anh nay vẫn ở dưới miền Tây ?
Cao cười thành tiếng :
– Từ sau tháng Tư – 75, gia đình tôi coi như xả láng với miền quê. Bây giờ tôi còn đúng hai người thân, bà mẹ và con gái. Một bà già, một đứa nh, cả hai người đều sống ở Sàigòn
Hạnh thấy tim mình đập thình thình trong lồng ngực, Hạnh phải ngồi xuống ghế, hai mắt vẫn chăm chú nhìn Cao:
– Vậy chắc ở bên này, anh có gia đình đông người hơn ?
Cao lại cười:
– Tôi cũng mong được như thế, nhưng hiện tại thì không!
Hạnh cố gợi chuyện:
– Tôi ở bên nhà mới sang. Nêu được biết anh từ trước, để có dịp đến thăm gia đình anh ở bên đó trước khi sang đây thì tốt quá. Không biết ở bên nhà, bác ở đường nào ?
– Tôi nghe mẹ tôi kể trong thư, sau khi lên Sàigòn, bà đã mua được một căn phố lầu nhỏ, ở tại một hẻm gần trường Bàn Cờ, mẹ tôi thích ở gần trường để cho con bé Minh Hằng sau này đi học cho gần.
Hạnh cắn môi để đừng bật lên một tiếng kêu, vừa gượng đứng lên lấy chai nước, rót ra hai cái ly, tự trấn tĩnh. Nàng mời Cao và bưng ly nước lên môi, cố tìm ở Cao một nét quen thuộc của ngày xưa.
Ngày xưa, cậu Út Quang mặt trắng tròn, hai mắt đen như hột nhãn và có giọng hát thật hay, liệu có phải là người đàn ông đang ngồi trước mắt nàng không. Nàng vẫn cố moi óc tìm cho ra lai lịch của người xưa.
Nàng lấy giọng tự nhiên hỏi Cao:
– Cô bé Minh Hằng là con ai mà có tên đẹp thế?
Cao điềm nhiên nói tiếp:
– Nó là con gái duy nhất của tôi đấy chị a. Mẹ tôi rất hiếm con cháu nên đã đích thân chọn tên cho con bé này. Bà kể rằng có một kỷ niệm gì đó trong thời gian chọn nàng dâu út, vì tôi là con út trong gia đình. Chi tiết câu chuyện không thành …
Không đủ can đảm nghe hết câu nói của người xưa, Hạnh vụt đứng dậy đi nhanh ra cửa, vừa nói với Quang:
– Xin lỗi anh, tôi có cái hẹn trong điện thoại giờ này mà quên mất.
Quang ngơ ngác cũng đứng lên theo, thì Hạnh đã ra đến cửa vừa chạy như trốn vừa nói vói lại:
– Nhà tôi, anh ấy ở dưới Marseille hẹn cỡ ngoài 5 giờ chiều hôm nay thì gọi lên, để thứ Hai này đón tôi về dưới ấy… Xin anh tha lỗi…Xin vĩnh biệt anh !
Trong hành lang hút gió và lặng trang, Quang ngỡ ngàng.
Chàng xuống phòng điện thoại, chiếc máy vẫn nguyên chỗ cũ… Không một bóng người. Chàng ngạc nhiên thấy người thiếu phụ ấy trốn mình.
2-1986