Đang nằm, chị Tám bỗng bật dậy, chị nhìn chăm chú qua căn nhà của Nguyệt ở trước cửa nhà chị, nơi kẽ vách có ánh sáng đèn le lói. Chị nghĩ thầm:
– Không có lý Công an nó hay tin mau thế, mẹ con Nguyệt ra đi mới mấy ngày nay…
Chị rón rén đến bên cửa sổ nhìn ra, nghe ngóng. Bên nhà Nguyệt vẫn không tiếng động. Không cần suy nghĩ thêm, chị Tám mở cửa, rảo bước đi qua. Chị ghé mắt nhìn vào khe hở nơi vách gỗ, rồi chị hồi hộp gọi nhỏ:
– Nguyệt! Nguyệt! Mở cửa… chị Tám đây.
Sau vài phút, cửa hé mở, Nguyệt thận trọng hỏi vọng ra:
– Ai đó? …
Chị Tám đẩy rộng cánh cửa, nắm lấy cánh tay Nguyệt, bồi hồi:
– Uả? Về rồi à ?… Sao vậy?
Nguyệt kéo bạn vào nhà, đóng sập cửa lại:
– Vào đây chị Tám, vào đây để tôi kể mà nghe.
Chị Tám có vẻ nóng nảy :
– Bể hả?
– Không phải bị bể, mà ..tụi nó gài cả bọn…
– Sao? Bị gài? Đâu kể đại nghe coi.
Nguyệt ngồi xuống giường cạnh chị Tám, buồn bực:
– Cả bọn đều bị tụi nó gài rõ ràng. Để tôi kể chị nghe. Tới địa điểm, tôi với thằng nhỏ vô quán ngồi trước, lần lượt mười mấy người kia kéo tới sau. Mọi người ai nấy gần đủ mặt thì bỗng Công an ở đâu ào tới, đòi xét giấy tờ hết mọi người. Trong lúc chộn rộn, tôi sợ quá, may sao ngồi ngay cái cửa khít nhà bếp nên tôi dắt thằng nhỏ lỏn ra ngoài, trốn luôn về đây.
Chị Tám cau mày :
– Chi mà lạ vậy? Mới xuống tới nơi đã bị hốt, vậy là nghĩa lý gì ?
– Nào tôi biết! Nhưng tôi hiểu và tôi thấy rõ ràng bọn Công an nó đến xét giấy tờ để bắt người vượt biên. Tôi còn nghe tụi nó nói «mấy người này tính đi vượt biên hả», và tôi thấy tụi lên cò súng.
Chị Tám thở ra:
– Vậy là đúng quá rồi! Dính cả chùm rồi.
Nguyệt chán nản nằm lăn ra giường:
– Trời ơi! Vậy là tôi mất hết rồi! Đi mấy lần không xong, tiền bạc tiêu tan hết. Chẳng còn đồng bạc!
Chị Tám an ủi bạn:
– Thôi, đừng buồn. Đợi dịp khác.
Nguyệt chậm nước mắt:
– Còn đợi gì nữa! Tiền đâu mà đợi.
Giọng chị Tám cương quyết:
– Phải ráng mà đi cho thoát. Ở lại đây không yên, cô quên cô lấy Mỹ trước đây rồi sao? Còn thằng con lai sờ sờ ra đó.
Nguyệt vắt tay lên trán thở dài não nuột. Chị Tám lại tiếp:
– Thứ này nó đâu có chứa Me Mỹ với con lai. Cô quên chuyện đó rồi sao?
Giọng Nguyệt như rên:
– Tôi nhớ lắm chứ. Nhưng đi hoài không thoát thì biết làm sao. Từ hồi «họ» vô đến nay tròm trèm hai năm, trong thời gian ấy tôi mất hết bao nhiêu tiền của rồi mà vẫn không xong!
Chị Tám chợt hỏị:
– Còn thằng nhỏ đâu?
– Nó nằm kia. Mới đi có mấy bữa mà vừa về đến nhà là ngủ như chết. Cái thằng thấy mà phát ghét!
Chị Tám vén cái tấm màn gió nhìn vào giường kê khuất bên trong, nơi thằng con trai của Nguyệt nằm ngủ. Chị bảo với Nguyệt:
– Mà cô nhớ cạo đầu kỹ cho nó, đừng để tóc ra ngõ thấy màu tóc đó là hết chối cãi. Nhớ nghe.
Nguyệt nhìn lên trần nhà mục nát:
– Hay là để tôi năn nỉ với cậu Hai nó, gởi nó về Long Xuyên với má tôi.May ra ở dưới đó nó được yên hơn.
Chị Tám «hứ» một tiếng rồi nói tiếp:
– Cô làm như Vi-xi nó sợ bà già cô lắm. Tôi nói thật cho cô biết, càng dưới quê họ càng ghét cái giòng lai. Nói chi chính thằng cậu Việt cộng của nó cũng đã đuổi không chịu chứa nó nữa là!
– Cũng may hồi đó tôi lấy khai sinh cho nó bằng tên họ tôi. Trên giấy tờ nó là dân Việt Nam mà.
Chị Tám nói mau:
– Cô này nói chuyện như người dỡn chơi. Giấy tờ thời buổi này mà làm gì ? Ăn thua bộ mặt của nó kìa. Tóc tai, mắt mũi rành rành là thằng Mỹ con, dấu ai?
Rồi chị Tám hỏi lại thêm:
– Năm nay nó bao nhiêu tuổi rồi mà nhỏ thó vậy?
– Mười ba! Nó đẹt người vậy chứ tuổi đâu có ít.
Nguyệt uể oải ngồi dậy, than:
– Hụt chuyến này là kể như tôi kẹt luôn rồi đó. Số chi mà khổ quá vậy không biết nữa.
Chị Tám cười mát:
– Thì coi còn cái gì bán nữa. Gom bao giờ đủ tiền, kiếm đám nào tin cẩn, mình lại nhào vô, mấy hồi!
Nguyệt lắc đầu :
– Tôi hết trọn tiền rồi, chị Tám ơi! Ba cái đồ «mớp» đây cũng thuộc về chủ nhà rồi. Chị coi, cả năm nay tôi đâu có tiền mướn nhà. Tôi nói với chủ nhà, đợi tôi đi được, tôi gửi đô la về, vậy mà hụt hoài. Hư đường, hư bột hết!
Chị Tám kêu lên:
– Gì mà dở quá vậy? Cũng mang tiếng me Mỹ mà sao quá dở vậy cô Nguyệt?
Nguyệt thở ra:
– Cũng tạị ba cái vụ đi chui đi nhủi này nên tôi mới hết tiền, chứ hồi di tản hụt trở về tôi cũng còn mấy cây vàng, rồi mớ nữ trang, ê hề. Bốn, năm chuyến đi hụt, mấy lần bị dính, phần bị mất, phần bị tụi nó lột, phen này chắc có nước đi ở đợ.
Chị Tám nghiêm giọng:
– Cô nói thật hay nói chơi đó?
Nguyệt buồn bã:
– Không tin tôi, chị thử ngồi đây tới trưa xem bữa nay tôi có tiền đi chợ hay không cho biết. Nói chị nghe, một lon gạo trong nhà cũng không còn!
– Trời ơi! Vậy rồi lấy gì mà sống?
– Tôi đang điên cái đầu. Không còn biết tính ra sao nữa. Không lẽ lên cầu Bình Lợi, chứ tôi thấy vô phương rồi.
Chị Tám chép miệng:
– Bây giờ có muốn đi ở đợ cho người ta cũng không xong. Thời nay, ai còn dám mướn người làm, phường khóm nó dòm ngó, nó tưởng là tư sản, nó đày đi kinh tế mới, chết luôn.
Nguyệt ngồi bó gối:
– Tôi cũng đã nghĩ đến chuyện đó rồi. Mấy nhà khá giá, hồi vi-xi mới vô còn phải cho anh bồi, chị bếp, chị vú nghỉ việc. Nay đã hai năm, ai còn dám rước mình về nhà nữa cho thêm họa!
Chị Tám vươn vai đứng đậy:
– Nghe chuyện cô, ớn quá! Thôi, thây kệ hết! Tới đâu hay đó, lo nhiều nhức đầu quá.
Và chị thân mật quàng vai Nguyệt:
– Bây giờ đi uống cà-phê, còn chuyện gì tính sau. Đi, cô Nguyệt, bữa nay tôi bao. Mới trúng áp-phe bán cái ti-vi cho mụ cán bộ ngoài đầu hẻm đây.
Nguyệt theo chị Tám đi ngược về phía trong con hẻm. Hai năm nay, kể từ sau ngày Sàigòn thất thủ, ở nhiều ngõ ngách đã mọc lên những quán nhỏ bán cà-phê. Địa điểm không cần rộng mà chỉ cần kê được vài cái bàn nhỏ, mươi chiếc ghế đẩu thấp lè tè và nếu được nơi nào càng kín đáo càng tốt.
Quán cà-phê gần nhà chị Tám và nhà Nguyệt có đủ những điều kiện đó. Chủ quán là một người đàn bà không già, không trẻ. Chồng và con trai bà thuộc thành phần đi học tập 10 ngày nhưng đã hết bao nhiêu lần 10 ngày rồi mà cũng chẳng thấy tăm hơi người nào về. Là một gia đình «ngụy quân, ngụy quyền» chính gốc, xưa nay chỉ sống bằng đồng lương quân nhân, công chức nên sau một thời gian cầm cự, tiền bạc đã cạn. Khoảng nửa năm nay bà Hiền cùng người con gái út, cô Lan, mở quán cà-phê trong hẻm gần nhà, kiếm sống qua ngày.
Quán cà-phê của mẹ con bà Hiền không đông khách lắm, người đến uống, đa số là bà con trong hẻm đã từng quen biết ít nhiều với gia đình bà Hiền. Họ đến đây, gọi ly cà-phê nóng, nhâm nhi bàn chuyện thế sự, hoặc có nhữngg ông khách rất quen mặt thường túm tụm lại để bàn chuyện vượt biên. Khách đàn bà thì dùng quán của mẹ con bà Hiền làm chỗ hẹn để áp-phe mua bán đồ cũ cùng là đủ thứ chuyện linh tinh.
Vì thế, mẹ con bà Hiền ở giữa, vô tình trở thành những người nghe nhiều, biết nhiều và gần như thông thạo chuyện của nhiều người, của nhiều gia đình.
Ở những nơi này người ta nói chuyện vượt biên tỉnh bơ, chỉ trừ khi thấy bóng mấy tên áo vàng, họ mới phải dè chừng và thận trọng. Chứ còn, «ngụy» với «ngụy» mà gặp nhau thì khỏi ngại!
Vừa thấy chị Tám và Nguyệt ghé vào quán mình, hai mẹ con bà Hiền đã đoán ra một phần câu chuyện; Lan nói nhỏ với mẹ:
– Cô Nguyệt với thằng Lai, lại đi hụt rồi!
Và Lan niềm nở kéo ghế mời hai người ngồi. Lan chưa kip hỏi Nguyệt thì chị Tám đã thân mật báo tin:
– Má con cô này, xém chút nữa là Tết này ăn khoai mì trong tù cải tạo!
Lan nói tỉnh bơ:
– Thôi, để qua ba ngày Tết, đưa ông bà xong đi tiếp. Lo gì phải không chị Nguyệt.
Thấy Nguyệt chỉ cười, Lan lại tò mò:
– Có ai bị dính không chị Nguyệt?
Nguyệt co cả hai chân lên chiếc ghế nhỏ, mệt mỏi dựa lưng vào vách tường:
– Vừa thấy tụi «cá» nó ào vô là tôi mất hồn kéo thằng nhỏ chạy êm. Đâu dám ngó lại mà biết.
Quán đang vắng khách, bà Hiền rời cái bếp lò, đến gần góp chuyện, bà lấy giọng kẻ cả, khuyên Nguyệt:
– Tôi nói cho cô Nguyệt nghe, chẳng qua mọi sư đều do số Trời định đoạt, cô «đi» đã mấy lần mà lụi đụi giờ này vẫn còn ngồi đây là đủ biết cái số của cô không có «sao» xuất ngoại. Như vậy thì tốt hơn là cô nên yên phận lo làm ăn, buôn bán cho xong.
Nguyệt khoanh hai tay trên đầu gối, giọng chán chường:
– Cháu cũng muốn tính như vậy lắm, nhưng chỉ sợ không được yên thân thôi.
Chị Tám không đồng ý với bà Hiền, chị dài miệng:
– Cái dòng Me Mỹ mà ở đây sao yên!
Lan cũng cười theo: ,
– Mệt cho chị Nguyệt là thằng Lai đó. Không có nó thì đỡ biết mấy.
Chị Tám ra điều biết nhiều:
– Tôi nói cho mấy người nghe, bây giờ «tụi nó» còn lo Đông lo Tây nên chưa đụng đến Me Mỹ, con lai, chứ ít năm nữa, đâu đó xong xuôi hết, chuyện này mệt lắm chứ không phải dỡn chơi đâu.
Nghe mỗi người một ý, Nguyệt chỉ biết thở dài.
Bà Hiền lại nói tiếp:
– Cũng còn nhiều Me Mỹ, bao nhiêu con lai, chứ chẳng phải một mình mẹ con cô. Rồi ra sau này, ai sao mình vậy còn bây giờ nên kiếm cái gì buôn bán để có gạo ăn, lang thang hoài đói chết.
Thấy Nguyệt vẫn ngồi im, bà Hiền có vẻ ái ngại, góp ý:
– Cô về nhà xem còn cái gì bán được, bán phứt đi mà kiếm cái vốn. Rồi sáng sáng chịu khó thức sớm nấu một nồi xôi đem ra đầu đường ngồi bán. Người ta đi làm sớm, ai cũng cần nắm xôi cho nó chắc bụng, vậy là mình có cơm ăn đó, cô Nguyệt.
Bà uống một ngụm nước trà, bàn thêm:
– Còn thằng con cô, hãy ra chợ coi có hàng quán nào người ta cần người quét dọn, cho nó tập làm kiếm miếng cơm, đỡ cho cô.
Lan phản đối:
– Thôi má ơi, má cứ tưởng đời nay như thuở xưa, bây giờ ai còn dám mướn người nữa mà má bàn chuyện quét dọn.
Bỗng một người đàn ông ngồi bàn bên nói vọng sang:
– Sao? Cô này muốn cho thằng con lai đi làm mướn hả?
Mấy người đàn bà đều quay lại, bà Hiền vui vẻ nói trước tiên :
– À, chú Hai xe lam, chú coi việc gì làm được, chú giúp dùm mẹ con cô Nguyệt, một mẹ một con, hoàn cảnh bế tắc quá.
Chị Tám cũng nhanh nhẩu:
– Anh Hai ngồi đây mà hồi nãy đến giờ, tôi không thấy. Hồi này anh chạy xe lam có khá không?
Anh Hai xe lam tươi cười:
– Khá thì chưa thấy khá vì xăng dầu lên giá quá, nhưng tạm thời có gạo ăn.
Chị Tám lại hỏi:
– Sao lâu nay không thấy anh ghé quán cà-phê đây, anh còn ở hẻm kế đây không?
– Lúc này tôi dời về Chợ-Lớn vì hộ khẩu ở trong địa chỉ đó, nhưng hai, ba bữa tôi đều có ghé đây. Tôi đi mối cho lò bánh mì gần đây.
Và anh Hai kéo ghế đến bên bàn của chị Tám và Nguyệt đang ngồi, cởi mở nói với Nguyệt:
– Cô có muốn để thằng nhỏ lai theo phụ xe cho tôi không.
Nguyệt do dự:
– Sợ nó còn nhỏ lại chưa có đi theo xe bao giờ…
Lan cũng ghé ngồi bên Nguyệt, cướp lời hỏi anh Hai xe lam:
– Phải anh tính cho nó thay chân thằng con trai anh đó không?
Và Lan quay lại Nguyệt:
– Chị Nguyệt đừng lo, dễ lắm. Công việc của nó chỉ là rước mối, lấy tiền xe và lặt vặt vậy thôi. Tôi đi xe của anh Hai hoài tôi biết mà.
Anh Hai xe lam đắc ý:
– Cô Lan hay quá, nói đâu đúng đó. Thắng nhỏ nó mà theo xe tôi, thì chỉ có bấy nhiêu thôi, hoặc rủi khi xe hư nó cũng phụ tôi chút đỉnh. Cô chịu thì tôi kêu nó đi luôn ngày mai. Mỗi ngày tôi cho nó ăn bữa trưa, tối nó về nhà và tôi đưa trước cho cô một trăm đồng.
Bà Hiền tán thành ngay :
– Thời buổi này không dễ gì có người nuôi đỡ cho mình một miệng ăn đâu, cơm gạo khó khăn, cô nên nhận đi.
Lan ghé tai Nguyệt thì thầm:
– Một trăm đồng một chỉ vàng, ít sao chị Nguyệt?
Nguyệt lưỡng lự:
– Không biết nó có làm nổi hay không, hồi nào tới giờ nó ở dưới quê nên nhút nhát lắm.
Lan nói vội vàng:
– Đứa nào thỏ đế cho bằng thằng Thành con anh Hai vậy mà tôi thấy nó theo xe ba nó cả năm nay rồi. Cứ cho đi theo anh Hai đi, chị Nguyệt.
Anh Hai xe lam hất hàm hỏi bà Hiền:
– Một nồi xôi giỏi lắm hai chục đồng chứ mấy? Bây giờ tôi chịu giúp vốn cho cô Nguyệt luôn năm nồi xôi đây, bà coi có ai ngon bằng tôi không?
Và anh quay lại Nguyệt:
– Chịu chưa cô Nguyệt? Cô chịu là cô rảnh tay đó.
Từ gần hai năm nay điều làm Nguyệt mất ăn mất ngủ vẫn là cái «mác» Me Mỹ cùng là chuyện sản xuất ra thằng con lai. Đôi ba phen nửa đêm nhớ lại những lần bị lôi ra tra hỏi về lý lịch, những câu «Từ trước đến nay chị đã lấy bao nhiêu thằng giặc Mỹ, tên họ, cấp bực, quê quán của chúng nó, khai tất cả ra đây».
Nguyệt sợ nhất câu: «Khi giặc Mỹ bị nhân dân ta đánh bại, trước khi thua chạy, chúng nó đã gài chị ở lại với nhiệm vụ gì?» Những câu nói đó ám ảnh Neuyệt như cơn ác mộng và Nguyệt đã sợ đến nỗi không còn dám chường mặt đến chỗ đông người nữa.
Nhưng còn thằng con lai, mỗi lần «đi» hụt về, Nguyệt lại bực bội nghĩ thầm phải chi mình không cho nó ra đời. Thế nhưng, bây giờ, khi thấy đứa con vất vưởng sắp có người hứng lấy, người mẹ bỗng hoang mang.
Lan chợt huých nhẹ Nguyệt:
– Mà chị có biết tại sao anh Hai đây muốn mượn thằng con chị thay cho thằng Thành không?
Và Lan nói luôn:
– Trời ơi! có gì khó hiểu đâu, hai thằng con trai ảnh «đi» hết rồi!
Mọi người xôn xao cả lên, chị Tám kêu lên:
– Thật không vậy đó, anh Hai? Mà anh cho tụi nó «đi» hồi nào? Mấy cây một đứa?
Bà Hiền cũng trầm trồ:
– Phước đức quá! Mà sao kín miệng quá vậy chú Hai?
Anh Hai xe lam bỗng cảm thấy nở mày nở mặt, anh cười sung sướng nhưung vẫn thận trọng:
– Đó là phần số may mắn của hai đứa con tôi, tự thằng cậu nó là Hải quân, hồi đó cậu nó lái tàu đi thường lắm, người ta biết, bây giờ người ta có tàu, người ta kêu. Đó rồi thằng cậu nó dắt hai đứa nó đi theo, chứ vợ chồng tôi nghèo như vậy, lo sao nổi.
Chị Tám vẫn tò mò:
– Bao lâu rồi mà chỉ có một mình nhỏ Lan này nó biết thôi vậy, anh Hai ?
Lan lại mau miệng:
– Mới đây chứ lâu lắc gì! Hay nhất ở điều họ vừa ra tới hải phận là gặp tàu Mỹ vớt liền. Bây giờ họ đang ở đảo.
Câu chuyện vượt biên thành công của gia đình anh Hai xe lam bỗng làm Nguyệt tỉnh người. Nguyệt ước thầm nếu mình cũng gặp trường hợp như thế và Nguyệt nhìn anh Hai bằng đôi mắt thán phục.
Nguyệt bỗng muốn kết thân vói gia đình anh Hai.
Trong khi mọi người đang còn bàn tán về câu chuyện may mắn của gia đình anh Hai thì Nguyệt bỗng thân mật nói với anh Hai xe lam:
– Anh đã có lòng tốt muốn giúp đỡ mẹ con tôi, vậy tôi cũng xin đồng ý. Tôi bằng lòng giao hẳn thằng nhỏ để anh nuôi nó, mai sau nếu anh có tính chuyện gì thì anh cho nó đi theo. Từ nay tôi kể như chỉ có một mình.
Anh Hai xe lam nhìn Nguyệt một giây, gật gù:
– Cô đưa tôi về nhà cô, tôi muốn biết mặt thằng nhỏ.
Cuộc đời của bé Lai thay đổi từ giờ phút đó.
Mười ba năm trước, khi bé Lai cất tiếng khóc chào đời, lúc bấy giờ Nguyệt, người mẹ trẻ cũng chẳng tha thiết gì đến đứa con. Đối với nghề chiêu đãi của Nguyệt thời ấy, cho ra đời một đứa con là một trở ngại.
May mắn cho bé Lai là nó có bà ngoại, một bà già quê mùa, chất phác. Dù đứa cháu hoang khác giống nòi, bị mẹ bỏ rơi nhưng bà vẫn thương yêu, ấp ủ. Tuy nhiên lúc nào bà cũng cẩn thận cạo đầu cho Lai kỹ đến nổi không mấy ai biết đến màu tóc hung hung của nó nữa.
Nơi tỉnh nhỏ, Lai lớn dần trong nếp sống của một đứa trẻ nghèo, thất học.
Mãi đến giữa năm 75, người con trai lớn của bà ngoại bé Lai đi tập kết về, nhất định đòi đuổi nó đi, thì khi ấy Lai mới rõ nó còn một người mẹ.
Đối với Lai, mẹ nó thật là một người xa lạ, cho nên buổi sáng hôm ấy, khi nghe mẹ cho biết nó sẽ đến ở với vợ chồng chú Hai xe lam, thằng Lai bình tĩnh ra đi, không có gì quyến luyến.
Từ hôm ấy trên chiếc xe lam của chú Hai luôn luôn có một thằng bé đầu trọc, mắt nâu, mũi nhọn ngồi xệp ở sàn xe đón khách thu tiền.
Sự xuất hiện của một đứa trẻ lai vào những thời gian này dù chỉ gặp gỡ trên một chuyến xe, cũng làm cho mọi người để ý. Có người chỉ kín đáo nhìn Lai nhưng cũng có những người kèm theo câu dè bĩu «Giờ này mà cũng còn con lai ở thành phố Bác». Đối với Lai, những câu nói đó đã nhàm tai, nhất là kể từ ngày ông cậu đội nón cối trở về nhà bà ngoại nó. Vì thế, ai nói mặc ai, Lai chỉ lo thu tiền cho đủ đầu người, rồi thối lại tiền và đếm cho kỹ để trả lại chú Hai.
Mỗi chuyến xe lam chỉ được phép cho mười hành khách lúc rời bến, song ở dọc đường chú Hai thường đón thêm nên xe lúc nào cũng chật cứng và Lai luôn luôn phải ngồi một chỗ rất nhỏ ở bực thềm xe, hứng làn khói xám khét lẹt làm cay xè đôi mắt.
Những ngày đầu Lai mới đến, chú Hai cho xe chạy từ sáng cho đến tối mịt mới trở về nhà, nhưng qua mấy ngày hình như chú Hai bận, xe chạy giờ giấc bất thường, có những buổi cả chiếc xe cùng Lai đều được nghỉ.
Đến ở với vợ chồng chú Hai được hơn tuần lễ, Lai được thím Hai soạn cho mấy bộ đồ cũ của con trai thím vượt biên bỏ lại, nhưng chuyện làm cho Lai ngạc nhiên là chú Hai cho phép Lai từ đây được để tóc, không còn cạo trọc nữa.
Tất cả những sự việc ấy làm Lai bằng lòng với chuyện đổi thay, mặc dầu khối óc non nót của nó vẫn nhận xét thấy rằng không hẳn vợ chồng chú Hai đã thiện cảm với nó.
Từ ngày cho con đến ở với vợ chồng anh Hai xe lam, không những Nguyệt không phải nấu xôi đi bán như dự tính trước mà trái lại cũng kể từ hôm Lai ra khỏi nhà, Nguyệt có phần thảnh thơi đôi chút. Nguyệt cũng không ngờ anh Hai đã xử đẹp với mình như thế.
Lúc ở quán cà-phê bà Hiền, anh Hai hứa đưa cho Ngu một trăm đồng làm vốn. Nhưng khi đưa anh về nhà gặp mặt thằng Lai thì anh đã không ngần ngại rút chiếc khâu năm chỉ đeo trong tay đưa cho Nguyệt với điều kiện thằng Lai là con nuôi anh. Kể từ nay nó không còn gì liên hệ đến mẹ đẻ của nó nữa.
Trông thấy vàng, Nguyệt không do dự và đã hấp tấp nhận lời ngay.
Lai ra khỏi nhà mẹ, chẳng mấy chốc đã hơn một năm trời.
Suốt thời gian ấy hai mẹ con không gặp nhau lần nào. Riêng Nguyệt như đã hồi sinh vì không còn vướng mắc bởi con lai nữa.
Nhưng vào một chiều cuối năm, sau khi ở quán cà-phê bà Hiền về, Nguyệt hớt hải đi tìm chị Tám để kể cho chị rằng ở các quận, «nhà nước» Việt Cộng cho con lai đăng ký đi hồi hương.
Nghe Nguyệt báo tin, chị Tám ngạc nhiên lắm, chị nhìn Nguyệt trân trối và hỏi lại:
– Ai cho cô tin đó vậy? Coi chừng tụi nó gài cho chường mặt ra rồi tụi nó hốt cả đám, thấy mẹ!
Nguyệt vẫn còn thở dốc:
– Tin này là thứ thiệt, không phải loại đồn ẩu đâu.
– Nhưng ai nói với cô?
– Ông… ông gì tôi quên mất tên, à ông mang kiếng cận mà chị vẫn khen đó.
Chị Tám gật gật đầu:
– Nhớ rồi, ông thầy dạy Anh văn… ông này ưa ngồi ở quán ngoài đầu hẻm, họ đi một băng ba người. Mỗi lần ra quán ngồi cả buổi đó, phải không?
– Đúng rồi. Hồi chiều này tôi ra ngoài đó, chính tai tôi nghe họ nói với nhau, quận nào có con lai, lai Mỹ, lai Tây, miễn là có đăng ký họ sẽ cho «đi» hết.
– Rồi sao nữa? Ai bảo lãnh cho mà đi?
– Không cần có người bảo lãnh mà!
– Cô nói tôi nghe không vô! Thuở nay, không ai bảo lãnh mà đòi đi được, không biết «đi» chỗ nào.
– Chị đừng nóng, để tôi kể hết chị nghe. Thấy mấy ông nói vậy tôi mừng quá, nên tôi tới làm quen rồi tôi kể chuyên thằng Lai thì họ nói đừng có sợ. Cứ việc dắt nó đi đăng ký. Sau này còn ra gặp phái đoàn, miễn đúng con lai thứ thiệt là họ cho đi.
Thấy Nguyệt khựng lại, chị Tám vội hỏi:
– Còn chuyện gì nữa?
Nguyệt có vẻ bối rối:
– Họ có nói với tôi, khi đi đăng ký phải có hộ khẩu.
– Thì cô với thằng nhỏ cũng có tên trong một hộ khẩu mà?
Nguyệt ngồi xuống chiếu thở dài:
– Anh Hai đã chuyển hộ khẩu cho thằng nhỏ từ hồi năm ngoái. Hồi đó tôi đang ớn nó, lại thấy anh ta mau mắn chịu đưa năm chỉ vàng nên anh nói gì tôi cũng bằng lòng. Tôi chịu cho nó làm con nuôi ảnh rồi mà.
– Bây giờ cô tính sao? Bề nào cũng phải chuộc nó về rồi nói chuyện đăng ký đăng cái được chứ.
Nguyệt không đáp, vẻ mặt đăm chiêu đứng lên đi ra cửa.
Thành phố trong những ngày cận Tết thật là nhộn nhịp. Ngoài đường xe đạp, xe lam và xe xích lô hỗn độn chen nhau như những mối chỉ rối nùi.
Nguyệt đi nhanh về một bến xe lam ồn ào, đông nghẹt những người ngược xuôi các chợ. Mấy chục chiếc xe đậu đầy nhưng xe của anh Hai tuyệt nhiên vắng bóng. Sốt ruột, Nguyệt đành đến hỏi một ông già chạy xe lam, đang đợi vá lốp xe bên lề đường gần bên.
Ông già nhìn Nguyệt chăm chú rồi hỏi lại:
– Cô kiếm thằng Hai có chuyện gì ?
Nguyệt lúng túng chưa biết đáp ra sao cho gọn thì thanh niên vá lốp xe lên tiếng:
– Phải cô muốn kiếm anh Hai xe lam có thằng con lai phải không?
Anh thanh niên có vẻ vui tính và nhanh miệng không đợi Nguyệt trả lời đã tươi cười nói luôn:
– Cô đến kiếm ảnh hơi trễ đó, vợ chồng anh ta đã «đi» từ mấy tuần nay rồi.
Ngụyệt sửng sốt:
– Ủa? Anh Hai xe lam «đi» rồi?
Anh thanh niên vẫn cười vừa vá lốp xe vừa nói tiếp:
– Cha đó không đi thì ai đi? Gốc an ninh quân đội lại trốn trình diện mà ở lạị, có ngày rục xương.
Ông già lúc ấy mới lên tiếng:
– Mày nói thằng Hai đen đó hả?
– Thì ảnh chứ ai? Hồi nằm ngoái ảnh mua một thằng nhỏ Mỹ lai, thằng nhỏ vẫn theo xe anh ta đó.
Ồng già kêu lên:
– Thằng này giỏi ha, sao chuyện người ta mà mầy biết rành quá vậy?
Anh chàng đắc chí cười lớn:
– Tôi ngồi đây, cha nào làm sao tôi biết hết.
Nguyệt nóng nảy ngắt lời anh ta:
– Hồi nãy anh nói anh Hai «đi», vậy đi… hết hay có chừa người nào ở lại không?
Anh thanh niên lại cười:
– Cái vụ «đi» của cha này rắc rối lắm. Nguyên do cũng tại mụ vợ, chả tuy đa mưu túc kế nhưng dở ngón đòn tâm lý đối với con nít, cho nên cuối cùng tuy cũng đi lọt song hao hụt bộn tiền.
Thấy Nguyệt xề xuống một bên chăm chú nghe, anh ta cao hứng kể:
– Có gì đâu, hồi năm ngoái sau vụ hai thằng con trai chả đi lọt rồi, chả đưọc tin nhà nước sẽ cho con lai đi «líp» không cần người bảo lãnh, vậy là chả lật đật đi mua thằng nhỏ Mỹ lai. Chả có tiền nên chạy đầy đủ giấy tờ cho thằng lai làm con riêng của mụ vợ, rồi kéo nhau đi đăng ký, họ cho… trót lọt….
Nguyệt hồi hộp:
– Vậy là đi hết? Kể cả thằng nhỏ lai?
Anh thanh niên cười hề hề:
– Đâu có phải như vậy, nếu như vậy thì đâu có chuyện. Phải công nhận cha này, rất chịu chi tiền, cho nên đăng ký xong mấy tháng gì đó, thằng Mỹ lai và vợ chồng chả được cho gặp phái đoàn.
– Rồi sao nữa anh?
Anh thanh niên lại cười thành tiếng:
– Lần này thì tiêu tùng. Bởi vì khi vô phái đoàn họ hỏi thằng nhỏ, không biết ấm ức chuyện gì, nó nhè kể huỵch toẹt hết. Nó nói bị mẹ bán lấy năm chỉ vàng, còn người nuôi nó từ nhỏ cho tới lớn và rất thương nó là bà ngoại nó. Nó còn nói chỉ thương bà ngoại, nếu đem nó qua Mỹ thì phải có ngoại theo nó mới chịu. Vì nó khai tùm lum như vậy nên người ta để hồ sơ, nghiên cứu lại. Vợ chồng Hai đen sợ rắc rối bỏ nhà trốn luôn, nhưng cách nay ít tuần vợ chồng anh ta đã đi thóat hết rồi.
Nguyệt không hỏi thêm câu cuối cùng, vội vàng đứng dậy đi lẩn nhanh vào đám người gồng gánh đang chen chúc lên xe.
Những ngọn đèn đường đã bật sáng, ánh điện vàng mờ, lạnh lẽo khiến Nguyệt cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết.