Celia lớn lên trong hết nhà hát này đến nhà hát khác. Nhiều nhất là ở New York, nhưng còn trải rộng cả ở những thành phố khác. Boston. Chicago. San Francisco. Thi thoảng là những chuyến đi đến Milan, Paris hay London. Tất cả quay cuồng trong một màn sương mờ ảo của mùi ẩm mốc, những tấm màn nhung và mùn cưa, đến mức đôi khi cô không nhớ rõ mình đang ở đâu, mà thực ra ở đâu thì cũng chẳng có ý nghĩa gì.
Bố đưa Celia đi khắp nơi từ khi cô còn nhỏ, trưng cô bé ra như một con cún con được cưng chiều trong mớ váy áo đắt tiền, để đồng nghiệp và người quen của ông phải hết lời tán thưởng trong các quán rượu sau mỗi buổi biểu diễn.
Khi thấy con gái đã cao lớn, không còn phù hợp để là một món trang sức đáng yêu nữa, ông bắt đầu bỏ cô lại ở phòng thay đồ trong nhà hát hay các khách sạn.
Hàng đêm cô đều tự hỏi chẳng biết bố có về không, nhưng ông luôn trở về vào những giờ trái khoáy, thi thoảng khẽ vuốt tóc con gái khi cô giả vờ ngủ, còn lại hoàn toàn chẳng để ý gì.
Những bài học của Celia không còn theo trật tự như trước nữa. Trước đây bố thường bảo cô học theo giờ giấc được sắp xếp trước, dù có thể không đều đặn; còn bây giờ ông thường xuyên kiểm tra cô, nhưng không bao giờ trước mặt người khác.
Thậm chí những việc đơn giản như buộc dây giày, bố cũng không cho Celia làm bằng tay. Cô phải nhìn xuống chân, lặng lẽ điều khiển dây giày tự buộc và tháo những chiếc nơ dài ngắn lộn xộn, mặt mũi nhăn nhó những khi dây thắt lại thành những nút rối nùi.
Bố chẳng mấy hồ hởi mỗi khi cô đặt câu hỏi. Cô đã luận ra được rằng người đàn ông mặc đồ xám mà bố cô gọi là Alexander đó cũng có một người học trò, và sẽ có một trò chơi gì đó. Một lần cô đã hỏi:
“Như chơi cờ vua ấy ạ?”
“Không,” bố cô đáp. “Không giống cờ vua đâu.”
*
CẬU BÉ LỚN LÊN trong một ngôi nhà mặt phố ở London. Cậu chẳng gặp ai, thậm chí đến bữa thì đồ ăn được đưa tới qua cửa phòng, trên những chiếc khay được đậy kín, và cũng biến mất theo cách tương tự. Mỗi tháng một lần, một người đàn ông không bao giờ mở miệng nói chuyện tới cắt tóc cho cậu. Mỗi năm một lần, cũng người đàn ông đó đến lấy số đo của cậu để may quần áo mới.Hầu hết thời gian cậu dành để đọc. Và viết, tất nhiên rồi. Cậu chép lại những đoạn văn trong sách, viết ra những từ ngữ và ký hiệu mà thoạt đầu cậu chẳng hiểu gì, nhưng dần trở nên thân quen gần gũi ngay dưới những ngón tay lem mực của cậu, dần định hình thành những dòng đều đặn ngay ngắn. Cậu đọc những mẩu chuyện lịch sử, thần thoại và tiểu thuyết. Cậu từ tốn học những ngôn ngữ khác, dù có chút khó khăn khi luyện nói.
Thi thoảng có những chuyến thăm bảo tàng và thư viện, vào những giờ vắng vẻ ít khách. Cậu bé mê mẩn những chuyến đi ấy, vừa vì những điều được mục kích trong những công trình đó, vừa vì được thoát khỏi nhịp sinh hoạt đều đặn thường ngày. Nhưng chẳng có mấy dịp được thả lỏng như thế, và cậu chưa bao giờ được phép một mình ra khỏi nhà.
Người đàn ông mặc đồ xám ngày nào cũng đến, thường mang theo một chồng sách, dành đúng một tiếng đồng hồ giảng giải những điều mà cậu bé không chắc có bao giờ tự mình sẽ hiểu được chính xác.
Chỉ duy nhất một lần cậu hỏi khi nào mình thực sự được phép làm điều gì đó, như những điều người đàn ông mặc đồ xám vài lần hiếm hoi đã đích thân thực hiện trong những bài học theo thời khóa biểu rất nghiêm khắc.
“Khi cậu sẵn sàng” là câu trả lời duy nhất mà cậu nhận được.
Dường như cậu còn chưa được cho là sẵn sàng trong một khoảng thời gian nữa.
*
NHỮNG CON BỒ CÂU xuất hiện trên sân khấu và đôi khi bay lên từ hàng ghế khán giả trong những buổi biểu diễn của Prospero thường được nhốt trong những chiếc lồng sắt uốn cầu kỳ, và được chuyển đến nhà hát cùng với đống hành lý, đạo cụ.Cửa ra vào bật mở đánh “rầm” rồi cả núi hòm xiểng ùn vào phòng thay đồ của vị ảo thuật gia, trên cùng là cái lồng đầy nhóc bồ câu.
Lũ hòm xiểng tự động sắp xếp lại cho ngay ngắn, nhưng Hector với ngay lấy lồng bồ câu, quan sát xem có hư hại gì không.
Lũ bồ câu chỉ đang sa sẩm mặt mày vì vừa bị lộn tùng phèo trong đống đồ đạc, nhưng có một con rõ ràng đã gãy cánh. Hector cẩn thận lấy con chim ra khỏi lồng, những thanh nan bị xô gãy tự liền lại khi ông đặt cái lồng xuống.
“Bố có chữa được cho con chim không ạ?” Celia hỏi.
Người cha nhìn con bồ câu bị thương rồi nhìn sang con gái, chờ đợi cô đặt một câu hỏi khác.
“Con có chữa được cho nó không ạ?” cô hỏi sau thoáng chốc.
“Thử xem nào,” người cha nói và trao con chim cho con gái.
Celia nhẹ nhàng vuốt ve con bồ câu đang run rẩy, cô chăm chú quan sát bên cánh bị thương.
Con chim kêu một tiếng đau đớn và nghèn nghẹn, khác hẳn tiếng gù êm ái hàng ngày.
“Con không thể làm được,” Celia ngân ngấn nước mắt, giơ con chim trả lại cho bố.
Hector đón lấy con bồ câu và lập tức bẻ cổ nó, không mảy may bận tâm khi Celia thét lên phản đối. Ông nói: “Sinh linh tuân theo những qui tắc riêng. Con nên luyện tập với thứ gì đó cơ bản hơn.” Ông vớ lấy con búp bê duy nhất của Celia trên cái ghế gần đó và vứt luôn xuống sàn, phần đầu bằng sứ lập tức nứt vỡ.
Ngày hôm sau, khi Celia mang cho bố xem con búp bê đã được phục hồi hoàn hảo, ông chỉ gật đầu tỏ ý đã biết, rồi vẫy tay bảo cô đi, để ông tiếp tục chuẩn bị trước khi lên sân khấu.
“Lẽ ra bố đã có thể cứu con chim,” Celia nói.
“Thế thì con chẳng học được gì,” Hector đáp. “Con cần phải hiểu giới hạn của bản thân để có thể vượt qua những giới hạn đó. Con rất muốn thắng, phải không nào?”
Celia gật đầu, nhìn xuống con búp bê. Chẳng có dấu hiệu nào cho thấy nó từng bị hư hại, không có bất cứ vết rạn nào trên khuôn mặt mỉm cười vô tư lự.
Cô ném búp bê xuống dưới gầm ghế và không mang nó theo khi họ rời nhà hát.
*
NGƯỜI ĐÀN ÔNG MẶC ĐỒ XÁM đưa cậu bé đi Pháp một tuần. Không hẳn là một kỳ nghỉ, chuyến đi không được báo trước và cái va-li nhỏ được chuẩn bị mà cậu không hề hay biết.Cậu hình dung chắc hẳn sẽ có hình thức bài học nào đó được kết hợp trong chuyến đi, nhưng hóa ra không có. Sau ngày đầu tiên, cậu tự hỏi phải chăng chỉ việc thăm thú thưởng thức các món ăn, mê mẩn bánh mỳ mới ra lò giòn tan trong những hiệu boulangeries[3] với đủ các loại pho-mát trên đời.
Họ đến thăm những bảo tàng yên tĩnh vào giờ vắng khách. Cậu bé cố hết sức nhưng không tài nào bước được êm như ru qua các gian trưng bày như người thầy, nên ngại ngùng khi mỗi lần mình đặt gót lại có tiếng động vang lên. Cậu xin một cuốn sổ ghi chép nhưng ông thầy nhất quyết rằng cậu phải cố gắng lưu giữ hình ảnh bằng trí nhớ của mình.
Một tối nọ, cậu bé được đến nhà hát.
Cậu nghĩ chắc sẽ được xem kịch hoặc múa ba-lê, nhưng hóa ra màn trình diễn lại rất khác thường.
Người đàn ông trên sân khấu, một gã tóc vuốt mượt và để râu quai nón, với đôi găng trắng cử động như chim trên nền bộ vét đen, trình diễn những ngón đánh lừa sơ đẳng và thủ thuật thô kệch. Chim biến mất khỏi những cái lồng có đáy giả, khăn tay rút từ túi ra sẽ được giấu lại vào cổ tay áo.
Cậu bé theo dõi vị ảo thuật gia và số khán giả không mấy đông đúc một cách hiếu kỳ. Có vẻ họ cũng thích những trò bịp đó, thỉnh thoảng lại lịch sự vỗ tay tán thưởng.
Sau buổi biểu diễn, cậu bé hỏi thầy, và câu trả lời là vấn đề này sẽ chưa được bàn đến cho tới khi họ trở về London vào cuối tuần.
Tối hôm sau, cậu bé được tới một nhà hát lớn hơn, và một lần nữa phải một mình theo dõi buổi diễn. Khán giả chật cứng khiến cậu hồi hộp, cậu chưa bao giờ ở giữa đám đông lớn đến vậy.
Người đàn ông trên sân khấu có vẻ đứng tuổi hơn vị ảo thuật gia đêm hôm trước. Trang phục đẹp hơn và cử động của ông ta chính xác hơn. Mỗi tiết mục không chỉ lạ mà còn rất cuốn hút.
Những tràng vỗ tay nhiệt thành thán phục chứ không vì lịch sự.
Và ảo thuật gia này không giấu khăn trong cổ tay áo. Chim xuất hiện từ mọi vị trí và không hề bị nhốt trong lồng. Có những ngón nghề mà cậu bé chỉ gặp trong những bài học của mình. Những thủ thuật và ảo giác mà cậu đã được dặn đi dặn lại rằng phải giữ bí mật.
Chính cậu cũng vỗ tay khi Prospero Người Mê Hoặc cúi chào lần cuối.
Một lần nữa, thầy của cậu không chịu giải đáp câu hỏi nào cho đến khi họ về tới London.
Trở lại căn nhà phố, quay về nhịp sinh hoạt đều đặn như thể chưa từng bị gián đoạn, đầu tiên người đàn ông mặc đồ xám bảo cậu bé hãy chỉ ra sự khác biệt giữa hai màn trình diễn.
“Người đầu tiên dùng gương và kĩ xảo phụ trợ, khiến khán giả nhìn đi chỗ khác khi ông ta muốn che giấu gì đó, do vậy tạo nên hiệu ứng ảo. Người thứ hai, tên giống vị công tước trong vở Cơn bão, cũng giả vờ thực hiện những điều tương tự, nhưng ông ta không dùng đến gương hay mánh khóe. Ông ta làm như thầy vẫn làm.”
“Rất tốt.”
“Thầy có biết ông ta không ạ?” cậu bé hỏi.
“Ta biết ông ấy từ rất lâu rồi.”
“Ông ta có dạy những thứ đó không ạ, như thầy đã dạy con ấy?”
Ông thầy gật, nhưng không giải thích gì thêm.
“Sao khán giả lại không nhận ra sự khác biệt ạ?” cậu bé hỏi. Rõ là cậu nhận thấy sự khác biệt, dù không cắt nghĩa được tại sao. Rõ là đôi mắt cậu quan sát thấy, và cậu cảm nhận được gì điều gì đó trong bầu không khí.
“Con người chỉ nhìn những gì họ muốn nhìn. Và trong phần lớn trường hợp, những gì họ được bảo rằng họ thấy.”
Hai thầy trò không tiếp tục thảo luận vấn đề đó nữa. Dù sau đó thi thoảng vẫn có một số kỳ không hẳn là nghỉ, nhưng cậu bé không được đưa đi xem vị ảo thuật gia nào nữa.
*
PROSPERO NGƯỜI MÊ HOẶC dùng một con dao nhíp cứa banh đầu ngón tay con gái ra, từng ngón một, lặng lẽ quan sát cô bé kêu khóc cho đến khi cô đủ bình tĩnh làm lành vết thương, từng giọt máu chầm chậm trôi ngược vào da thịt.Da khép miệng vết thương, những đường vân tay tìm lại với nhau, và những đầu ngón tay lành trở lại như ban đầu.
Hai vai Celia rũ xuống, giãn khỏi sự căng thẳng vừa trói chặt lấy chúng, cô bé thở phào vì đã tự mình cầm máu được.
Người cha chỉ cho con gái tạm nghỉ chốc lát, rồi lại tiếp tục cứa toác từng đầu ngón tay vừa lành lại ấy.
• • •
NGƯỜI ĐÀN ÔNG MẶC ĐỒ XÁM rút cái khăn tay trong túi ra và vứt xuống bàn. Nghe một tiếng “cạch” nhẹ, có thứ gì đó nặng hơn lụa nằm giữa những nếp khăn. Ông ta tung miếng lụa vuông ấy lên, để lộ ra thứ ở trong, chỉ một chiếc nhẫn vàng rơi xuống, lăn trên mặt bàn. Chiếc nhẫn hơi xỉn, được khắc thứ gì đó trông như tiếng Latin, cậu bé nghĩ vậy, nhưng nét chữ uốn lượn quá nên cậu không đọc nổi.
Người đàn ông mặc đồ xám nhét lại vào túi chiếc khăn tay giờ không còn gói gì ở trong nữa. Ông nói:
“Hôm nay chúng ta sẽ học về sự gắn kết.”
Khi bài học đến đoạn cần biểu diễn thực hành, ông hướng dẫn cậu tự đeo nhẫn. Ông không bao giờ chạm vào cậu, bất kể hoàn cảnh nào.
Cậu bé cố rút chiếc nhẫn ra khỏi ngón tay mình nhưng chỉ vô ích, vì chiếc nhẫn đã tan hòa vào da thịt cậu.
“Gắn kết là vĩnh cửu, cậu bé của ta ạ,” người đàn ông mặc đồ xám nói.
“Gắn kết con với cái gì ạ?” cậu bé hỏi, nhíu mày nhìn nơi chỉ tích tắc trước chiếc nhẫn còn hiện hữu.
“Một nghĩa vụ cậu phải thực hiện, và một người cậu sẽ chưa gặp trong một thời gian nữa. Vào thời điểm này, chi tiết cụ thể không quan trọng. Đây chỉ là chút thủ tục cho phải phép thôi.”
Cậu bé chỉ gật và không hỏi gì thêm, nhưng đêm hôm đó, khi chỉ còn một mình và không ngủ được, hàng giờ liền cậu chăm chăm nhìn tay mình trong ánh trăng, tự hỏi không biết con người được gắn kết với cậu là ai.
• • •
CÁCH ĐÓ HÀNG NGÀN DẶM, tại một nhà hát chật ních khán giả, rung chuyển trong những tràng vỗ tay như pháo ran dành cho người đàn ông trên sân khấu, trốn trong bóng tối giữa những món đạo cụ không còn được dùng đến nữa ở cánh gà, Celia Bowen cuộn tròn mình và khóc.