Bailey đi vòng vòng quanh cánh đồng trống trải một lúc trước khi cậu thuyết phục được bản thân rằng rạp xiếc đã thực sự biến mất không còn một dấu vết. Chẳng còn gì cả, kể cả dấu cỏ rạp xuống, để gợi lên bất cứ thứ gì từng chiếm đóng không gian nơi đây hàng giờ trước đó.
Cậu ngồi xuống đất, hai tay ôm đầu, cảm thấy mất mát tột cùng dù cậu đã nô đùa ở cánh đồng này kể từ ngày nhỏ dại.
Cậu nhớ là Poppet có nói đến một con tàu.
Con tàu sẽ phải đi Boston để kịp tới bất cứ điểm đến xa xôi nào.
Trong khoảnh khắc ý nghĩ đó xẹt qua tâm trí, Bailey đứng bật dậy, chạy nhanh hết mức có thể về phía ga tàu.
Chẳng có con tàu nào ở đó khi cậu tới nơi, hụt hơi và đau nhói nơi chiếc túi đập vào lưng. Cậu đã hi vọng rằng một cách nào đó con tàu rạp xiếc mà cậu thậm chí vẫn chưa hoàn toàn chắc chắn có tồn tại sẽ vẫn ở đó, chờ đợi.
Trái lại, nhà ga hoàn toàn trống trải; chỉ có hai dáng người ngồi trên một trong những băng ghế ở sân ga, một người đàn ông và một phụ nữ khoác áo đen.
Mất một lúc Baiely mới nhận ra cả hai người đều đang quàng khăn màu đỏ.
“Cậu ổn cả chứ?” người phụ nữ hỏi khi cậu chạy đến thềm ga.
Bailey không thể nhận ra giọng của cô là người vùng nào.
“Chị đến đây vì rạp xiếc phải không ạ?” Bailey nói, hổn hển thở.
“Quả là thế thật,” người đàn ông trả lời bằng giọng nói trầm bổng tương tự. “Nhưng nó khởi hành rồi, chắc chắn cậu cũng đã nhận ra.”
“Cũng đóng cửa sớm nữa, nhưng thế cũng chẳng bất thường,” người phụ nữ nói thêm.
“Anh chị có biết Poppet và Widget không ạ?” Bailey hỏi.
“Ai cơ?” người đàn ông hỏi. Người phụ nữ nghiêng đầu như thể cô không hiểu câu hỏi.
“Họ là cặp song sinh biểu diễn với mèo con,” Bailey giải thích. “Họ là bạn tôi.”
“Cặp song sinh!” người phụ nữ reo lên. “Và những chú mèo tuyệt diệu của họ! Làm thế nào mà cậu lại thành bạn của họ vậy?”
“Chuyện dài lắm ạ,” Bailey nói.
“Thế thì cậu nên kể cho chúng tôi trong lúc đợi,” cô nói và mỉm cười. “Cậu cũng đi Boston đúng không?”
“Tôi không biết nữa,” Bailey đáp. “Tôi đang cố gắng theo chân rạp xiếc.”
“Chúng tôi cũng vậy đây,” người đàn ông nói. “Nhưng không thể theo nổi Le Cirque cho đến khi chúng ta biết điểm đến của họ. Sẽ mất chừng một ngày.”
“Chỉ hy vọng sẽ là một nơi nào đó có thể trong tầm xoay xỏa được,” người phụ nữ tiếp lời.
“Làm sao anh chị biết được nó ở đâu ạ?” Bailey thắc mắc, tỏ vẻ không tin tưởng.
“Những kẻ mộng mơ có cách riêng của mình chứ,” người phụ nữ nói rồi mỉm cười. “Chúng tôi mới đợi thôi, như thế chúng ta có dư thời gian để chuyện trò.”
Người đàn ông tên là Victor, chị gái anh ta là Lorena. Họ đang trong thời gian mà họ gọi là kỳ nghỉ dài ngày cùng rạp xiếc, theo chân Le Cirque des Rêves tới những nơi mà họ có thể lo liệu được. Bình thường họ chỉ làm thế trong lãnh thổ châu Âu, nhưng với kì nghỉ đặc biệt này hai chị em đã quyết định đi theo tới bờ bên kia của Đại Tây Dương. Trước đó họ đã tới Canada.
Bailey kể vắn tắt cho họ nghe chuyện làm thế nào mà cậu trở thành bạn với Poppet và Widget, lược bỏ những chi tiết kì thú hơn.
Khi dần dần tới bình minh, lại có thêm một kẻ mộng mơ nữa tới nhập bọn với họ, một phụ nữ tên là Elizabeth, cô đã trọ ở một nhà khách trong thành phố và cũng tới Boston vì giờ rạp xiếc đã rời đi. Cô được chào đón nồng nhiệt, và hóa ra họ là bạn cũ của nhau dù Lorena nói họ chỉ mới gặp cô ấy ít ngày trước đó. Trong lúc mọi người đợi tàu, Elizabeth mang kim đan và một cuộn len đỏ sậm ra.
Lorena giới thiệu với cô rằng Bailey là một kẻ mộng mơ trẻ tuổi không quàng khăn.
“Thực ra tôi không phải là kẻ mộng mơ,” Bailey nhẹ nhàng chỉnh lại. Cậu vẫn chưa hoàn toàn chắc là mình hiểu rõ cụm từ này.
Elizabeth nhìn cậu qua tấm len đan, đánh giá cậu bằng cặp mắt nheo lại khiến cậu nhớ tới những giáo viên nghiêm khắc nhất của mình, dù cậu đứng cao hơn cô rất nhiều. Cô nhoài người về phía trước, dáng vẻ thần bí.
“Cậu có ngưỡng mộ Le Cirque des Rêves không?” cô hỏi cậu.
“Có chứ ạ,” cậu đáp không chút chần chừ.
“Hơn bất cứ thứ gì trên thế giới này chứ?” cô hỏi thêm.
“Vâng,” Bailey đáp. Cậu không thể ngăn mình mỉm cười dù cho giọng điệu của cô thật nghiêm túc và cảm giác căng thẳng vẫn đang ngăn trái tim cậu đập những nhịp bình ổn.
“Thế thì cậu chính là một kẻ mộng mơ,” Elizabeth tuyên bố. “Bất kể cậu mặc cái gì.”
Họ kể cho cậu nghe những câu chuyện về rạp xiếc và về những kẻ mộng mơ khác. Làm thế nào lại có cả một xã hội nho nhỏ luôn dõi theo từng động thái của rạp xiếc, thông báo cho những kẻ mộng mơ khác để họ du hành từ điểm này tới điểm kia. Victor và Lorena thường xuyên theo chân rạp xiếc trong khả năng cho phép của họ suốt hàng năm trời, trong khi Elizabeth chỉ chuyên tới những nơi gần New York hơn và đi lần này là một chuyến kéo dài đối với cô, dù có một câu lạc bộ phi chính thức của những kẻ mộng mơ đặt tại thành phố này, chuyên tổ chức các buổi tụ họp hết lần này tới lần khác, nhằm giữ liên lạc khi rạp xiếc rời đi.
Con tàu vào ga ngay khi mặt trời hoàn toàn ló rạng, và trên đường tới Boston, những câu chuyện lại tiếp tục, trong lúc Elizabeth đan len và Lorena tựa đầu lên cánh tay vẻ buồn ngủ.
“Cậu định ở đâu trong thị trấn?” Elizabeth hỏi.
Bailey chưa hề cân nhắc chuyện này, bởi cậu đang từng bước một bước vào cuộc hành trình này, cố gắng không lo lắng về những gì có thể đến một khi họ đặt chân tới Boston.
“Tôi cũng chưa chắc chắn,” cậu đáp. “Có lẽ tôi sẽ ở ga cho đến khi biết được mình sẽ đi đâu tiếp theo.”
“Vớ vẩn nào,” Victor nói. “Cậu sẽ ở cùng chúng tôi. Chúng tôi có gần như cả một tầng ở Nhà Parker. Cậu có thể dùng phòng của August, anh ấy quay lại New York hôm qua mà tôi thì chưa bao giờ thèm báo với ban quản lý là chúng tôi còn dư một phòng cả.”
Bailey định tranh luận nhưng Lorena ngăn cậu lại. “Em tôi cực kì cứng đầu,” cô thì thào. “Cậu ấy sẽ không chấp nhận lời từ chối một khi cậu ấy đã quyết làm cái gì.”
Và quả thực, Bailey bị xua vào xe của họ gần như ngay khi họ vừa rời khỏi tàu. Túi của cậu được đưa tới cùng hành lý của Elizabeth khi họ tới khách sạn.
“Có chuyện gì sao?” Lorena hỏi khi cậu tròn mắt nhìn quanh sảnh khách sạn lộng lẫy.
“Tôi có cảm giác mình giống một trong mấy cô nàng trong truyện cổ tích, những người thậm chí còn chẳng có lấy một đôi giày, rồi tự dưng được tham dự dạ hội ở lâu đài,” Bailey thì thầm, và Lorena bật cười to đến mức vài người quay lại và nhìn cô chằm chằm.
Bailey được hộ tống tới một căn phòng to bằng nửa ngôi nhà của cậu nhưng cậu phát hiện ra mình không tài nào ngủ được, dù những tấm rèm nặng nề đã chặn hết cả ánh mặt trời. Cậu đi dạo quanh phòng cho tới khi bắt đầu lo lắng rằng mình sẽ làm hỏng mất tấm thảm, rồi cậu ngồi xuống bên cửa sổ, ngắm nhìn dòng người phía dưới.
Bailey thấy nhẹ nhõm khi có tiếng gõ cửa lúc giữa buổi chiều.
“Anh đã biết rạp xiếc ở đâu chưa?” cậu hỏi, trước khi Victor kịp nói câu nào.
“Vẫn chưa đâu, chàng trai ạ,” anh ta nói. “Chúng tôi đôi lúc được thông báo trước nơi rạp xiếc tới nhưng thường không muộn. Tôi đồ chừng chúng ta sẽ biết được vào cuối ngày hôm nay, và nếu gặp may thì chúng ta sẽ khởi hành chuyến sớm nhất vào buổi sáng. Cậu có bộ vét nào không?”
“Tôi không mang theo,” Bailey nói, nhớ ra bộ vét tống trong rương ở nhà vốn cũng chỉ được lôi ra trong những dịp đặc biệt. Cậu đoán là mình cũng đã quá khổ so với nó, chẳng tài nào nhớ chính xác dịp đáng để mặc vét cuối cùng là lúc nào.
“Thế thì chúng tôi sẽ sắm cho cậu một bộ,” Victor đề nghị, như thể việc này đơn giản như nhặt tờ báo lên vậy.
Họ gặp Lorena ở sảnh và hai người bọn họ lôi Bailey đi quanh thị trấn vì mấy việc linh tinh, trong đó có lần dừng lại tiệm may để may vét cho cậu.
“Không, không,” Lorena nói khi họ ngắm nhìn các mẫu áo. “Mấy bộ này hoàn toàn lệch lạc với màu sắc của cậu ấy. Cậu ấy cần màu xám. Một màu xám thẫm nhã nhặn.”
Sau vô khối ghim lược và đo đạc, Bailey cuối cùng cũng có một bộ vét đẹp hơn tất thảy những bộ vét mà cậu đã từng có trong đời, thậm chí còn đẹp hơn cả bộ vét đẹp nhất của cha cậu, một bộ màu xám đá. Bất chấp sự phản đối của Bailey, Victor còn mua cho cậu đôi giày bóng nhoáng và chiếc mũ mới.
Hình ảnh phản chiếu trong gương trông thật khác so với những gì cậu đã quen nhìn, đến mức Bailey thấy thật khó mà tin rằng đó chính là cậu.
Họ quay trở lại Nhà Parker với lỉnh kỉnh những gói hàng chất có ngọn, chỉ kịp dừng lại ở phòng mình và ngồi một lát trước khi Elizabeth tới đưa họ xuống ăn tối. Trước sự kinh ngạc của Bailey, có gần cả tá những kẻ mộng mơ đang đợi trong nhà hàng dưới tầng, vài người sẽ theo đuôi rạp xiếc còn số khác sẽ ở lại Boston. Nỗi lo lắng của cậu trước sự tráng lệ của nhà hàng được xua đi bởi cử chỉ thân mật và nồng ấm của nhóm người. Đúng như dáng vẻ, họ được bao phủ gần như hoàn toàn trong sắc đen, trắng, xám và điểm chút tươi sáng của sắc đỏ trên cà-vạt hay khăn tay.
Khi Lorena phát hiện ra Bailey không có màu đỏ, cô len lén rút một bông hồng từ lẵng hoa gần đó rồi gài vào ve áo cậu.
Có vô khối những câu chuyện không hồi kết về rạp xiếc trong mỗi bữa ăn, những bình luận về căn lều Bailey chưa từng nhìn thấy và những đất nước cậu thậm chí còn chưa từng nghe tên. Bailey chủ yếu lắng nghe, hẵng còn bàng hoàng khi mình đã tình cờ nhập hội với một nhóm người yêu rạp xiếc nhiều như cậu vẫn yêu.
“Mọi người có... mọi người có nghĩ là có chuyện gì xảy ra với rạp xiếc không?” Bailey khẽ hỏi, khi bàn ăn chia thành những cuộc đối thoại riêng lẻ. “Gần đây ấy?”
Victor và Lorena liếc nhìn nhau như thể xem ai nên đáp lời, nhưng chính Elizabeth là người trả lời đầu tiên. “Rạp xiếc đã không còn như xưa kể từ khi Herr Thiessen qua đời,” cô nói. Victor đột nhiên nhíu mày trong khi Lorena gật đầu đồng tình.
“Herr Thiessen là ai vậy?” Bailey hỏi.
Cả ba người bọn họ trông có vẻ kinh ngạc trước sự ngờ nghệch của cậu. “Friedrick Thiessen là kẻ mộng mơ đầu tiên,” Elizabeth nói. “Ngài ấy là nhà tạo tác đồng hồ. Ngài ấy đã làm chiếc đồng hồ bên trong cổng đấy.”
“Chiếc đồng hồ đó được một người ngoài rạp xiếc chế tác ư? Thật sao?” Bailey hỏi. Đây không phải là điều cậu đã từng nghĩ tới để hỏi Poppet và Widget. Cậu đã từng mặc định rằng nó là thứ được tạo từ rạp xiếc.
Elizabeth gật đầu.
“Ngài ấy cũng là tác gia nữa,” Victor tiếp lời. “Chúng tôi đã gặp ngài ấy như thế, rất rất nhiều năm trước đây. Đọc một bài báo ngài ấy viết về rạp xiếc và gửi cho ngài ấy một lá thư, rồi ngài ấy viết lại và cứ thế. Đó là chuyện trước khi chúng tôi được gọi là những kẻ mộng mơ.”
“Ngài ấy đã làm cho tôi một chiếc đồng hồ giống như Vòng Đu Quay,” Lorena nói, vẻ mặt bâng khuâng. “Với những sinh vật xuyên qua đám mây và những bánh răng bằng bạc. Đó là một thứ tuyệt diệu, tôi ước gì mình có thể mang nó theo mình. Thật là tốt khi có thể giữ trong nhà thứ gì gợi nhớ đến rạp xiếc.”
“Tôi nghe nói là ngài ấy có mối tình bí mật với một ảo thuật gia,” Elizabeth nói, mỉm cười qua ly rượu.
“Tào lao vớ vẩn,” Victor giễu cợt.
“Ngài ấy quả là luôn tỏ ra yêu mến ảo thuật gia trong những bài viết của mình,” Lorena nói giống như cô đang cân nhắc khả năng.
“Sao lại có ai không yêu mến cô ấy cho được?” Victor hỏi. Lorena quay sang nhìn anh vẻ hiếu kì. “Cô ấy cực kì xuất chúng,” anh lắp bắp, và Bailey bắt gặp Elizabeth đang cố gắng không bật cười.
“Vậy rạp xiếc đã không còn như xưa vì thiếu vị Herr Thiessen này phải không ạ?” Bailey hỏi, băn khoăn liệu chuyện này có gì liên quan tới những điều Poppet đã từng kể cho cậu hay không.
“Dĩ nhiên, rạp xiếc đã khác đi khi không có ngài ấy, với chúng tôi là thế,” Lorena đáp. Cô ngừng lại thận trọng trước khi nói tiếp. “Bản thân rạp xiếc cũng có vẻ gì đó khang khác. Chẳng có gì đặc biệt, chỉ là có điều gì đó...”
“Điều gì đó nằm ngoài trật tự,” Victor chen vào. “Như đồng hồ không đung đưa đúng cách.”
“Ngài ấy qua đời khi nào vậy?” Bailey hỏi. Cậu không dám hỏi là đã qua đời như thế nào.
“Chính là đêm này một năm về trước,” Victor đáp.
“Ồ, tôi đã không nhận ra đấy,” Lorena nói.
“Nâng cốc vì Herr Thiessen,” Victor đề nghị, đủ lớn tiếng để cả bàn nghe thấy, và anh nâng ly mình lên. Ly được nâng lên quanh bàn, và Bailey cũng nâng ly.
Những câu chuyện về Herr Thiessen vẫn tiếp tục trong bữa tráng miệng, chỉ bị chen ngang bởi một cuộc thảo luận về chuyện vì sao cái bánh bông lan lại được gọi là bánh nướng trong khi rõ ràng nó là bánh bông lan. Victor cáo lỗi rời đi sau khi uống xong cà phê, từ chối tham gia vào cuộc tranh luận bánh trái.
Khi anh quay lại bàn ăn, trên tay anh có một bức điện tín.
“Các bằng hữu ơi, chúng ta sẽ tới New York.”