Prospero Người Mê Hoặc không đưa ra lý do chính thức nào cho quyết định giải nghệ.
Những buổi biểu diễn của ông trong mấy năm vừa qua đã trở nên hiếm hoi, cho nên ông không biểu diễn nữa thì cũng không mấy ai bận tâm.
Nhưng Hector Bowen vẫn lưu diễn, trên một phương diện nào đó, dù Prospero Người Mê Hoặc thì không.
Ông đi từ thành phố này sang thành phố khác, sắp xếp để cô con gái mười sáu tuổi của mình làm công việc của một bà đồng biết gọi hồn người đã khuất.
“Con ghét cái việc này mà bố,” Celia nhiều lần phản đối.
“Nếu con có cách nào khác để tận dụng thời gian trước khi thử thách của con bắt đầu thì cứ việc, nhưng chớ có nói với ta rằng con muốn đọc sách. Thực ra muốn đọc thì con cứ việc, miễn là cũng kiếm được hậu hĩnh như thế này. Vả lại đây còn là cơ hội tốt để con tập biểu diễn trước công chúng.”
“Thật không thể chịu nổi những người đó,” Celia nói, dù ý cô không hẳn là vậy. Họ khiến cô thấy khó chịu. Cách họ nhìn cô, ánh mắt khẩn khoản và hàng mi đẫm lệ. Với họ, cô như một thứ gì đó, một kiểu cầu nối với những người thân yêu đã khuất mà họ đang tuyệt vọng muốn níu giữ.
Họ nói chuyện với cô như thể cô không hiện hữu trong phòng, như thể cô cũng hư vô như những người thân đã khuất của họ. Cô phải ép bản thân không được co rúm lại khi họ ôm chầm lấy cô và nức nở cảm ơn.
“Đám người đó chẳng là gì hết,” bố cô nói. “Thậm chí họ còn chẳng hiểu nổi những gì họ nghĩ, nhìn và nghe thấy. Tốt hơn cứ để họ tin rằng họ đang nhận được những giao cảm kỳ diệu từ thế giới bên kia. Tại sao không tận dụng điều đó, nhất là khi họ sẵn lòng dốc hầu bao cho thứ việc dễ ợt ấy?”
Celia cho rằng bao nhiêu tiền cũng không bõ cái công việc hành xác đó, nhưng Hector rất kiên quyết, và thế là hai bố con tiếp tục lên đường, phù phép cho những cái bàn bay lên lơ lửng và tạo ra hồn ma sẽ gõ lên những bức tường được phủ đủ loại giấy dán đắt tiền.
Celia vẫn không hiểu tại sao những khách hàng của cô tha thiết níu giữ mối liên kết và sự an ủi đến vậy. Chính cô chưa bao giờ muốn liên lạc với người mẹ đã qua đời của mình, và cô không cho rằng mẹ sẽ nói gì đó với cô nếu bà có thể nói được, đặc biệt qua những cách thức phức tạp đến vậy.
Tất cả là dối trá, cô chỉ muốn nói vậy với họ. Những người đã chết không lang thang trong không khí chỉ cốt để lịch sự gõ lên chén trà, lên mặt bàn, hay thì thầm gì đó nhờ những tấm rèm bị gió lay động đâu.
Thỉnh thoảng cô làm vỡ những món đồ quý của khách hàng, đổ lỗi tại các linh hồn không chịu ngồi yên.
Bố chọn cho cô những cái tên khác nhau mỗi khi họ chuyển đến nơi khác, nhưng ông thường dùng tên Miranda nhất, có lẽ bởi ông biết cái tên đó khiến cô khó chịu đến mức nào.
Vài tháng sau cô kiệt sức vì phải đi lại nhiều, vì áp lực và vì bố hầu như không cho cô ăn gì, ông bảo vẻ ốm yếu khiến cô càng có vẻ đáng tin hơn và gần hơn với thế giới bên kia.
Chỉ sau khi cô thực sự bị bất tỉnh trong lúc gặp khách hàng, chứ không phải dàn dựng một màn ngất xỉu màu mè kịch tính đến hoàn hảo, thì ông mới đồng ý về nhà của hai bố con ở New York vài ngày.
Một buổi chiều ngồi dùng trà, người cha hé mắt nghía đống mứt và kem bơ Celia chất lên cái bánh của mình, rồi bảo ông đã sắp xếp để cuối tuần cô sẽ gặp một bà quả phụ u sầu ở đầu kia thành phố, bà này bằng lòng trả gấp đôi mức giá thông thường. Khi Celia tỏ ý không muốn đi, Hector nói mà chẳng buồn ngước mắt khỏi đống báo ông trải ra la liệt trên bàn ăn:
“Ta đã nói rằng con có thể nghỉ ngơi. Con đã nghỉ ba ngày, thế là đủ rồi. Bây giờ trông con đã khỏe. Một ngày nào đó con sẽ còn xinh đẹp hơn cả mẹ con nữa kia.”
“Bố vẫn nhớ mặt mẹ con ư? Thật ngạc nhiên đấy!” Celia nói.
“Con có nhớ không?” người cha hỏi, liếc nhìn con gái và nói tiếp khi Celia chỉ nhíu mày thay cho câu trả lời. “Có thể ta chỉ ở bên mẹ con vài tuần, nhưng ta nhớ về bà ấy rõ hơn con nhiều, mà con thì ở bên mẹ những năm năm. Thời gian là một thứ quái đản. Rồi con sẽ hiểu điều đó.”
Ông lại vùi đầu vào trang báo.
“Thế còn thử thách mà bố vẫn rèn luyện con, bảo con phải sẵn sàng thì sao?” Celia hỏi. “Hay đó cũng chỉ là một cách bố kiếm tiền thôi?”
“Celia, cưng ơi, những điều lớn lao sẽ đến với con, nhưng chúng ta đã nhường quyền kiểm soát khi nào chúng sẽ đến rồi. Chúng ta không phải là bên động thủ trước. Chúng ta sẽ chỉ được thông báo thời điểm cần đưa con ra sân khấu, như trước đây vẫn vậy.”
“Khi chưa đến lúc đó, những việc con làm thì có can hệ gì chứ?”
“Con cần luyện tập.”
Celia nghiêng đầu, chăm chú nhìn bố khi cô đặt hai tay lên mặt bàn. Đống báo tự gấp lại thành những hình dạng phức tạp: những kim tự tháp, những đường xoắn ốc và những con chim giấy vỗ cánh liên hồi.
Người cha cau có ngước lên. Ông nhấc một cái chặn giấy nặng trịch bằng pha lê lên và nện thẳng xuống tay Celia, mạnh đến mức cổ tay cô lập tức bị gãy trong tiếng “rắc” khô khốc.
Những tờ báo tự động trải phẳng ra, ngoan ngoãn đáp xuống mặt bàn.
“Con cần luyện tập,” Hector nhắc lại. “Còn quá thiếu khả năng kiểm soát.”
Celia nín thinh rời khỏi phòng, ôm cổ tay và cắn môi kìm những giọt nước mắt lại.
“Và vì Chúa, đừng có khóc lóc nữa,” bố cô gọi với theo.
Phải mất gần một giờ đồng hồ Celia mới nắn lại và chữa lành được chỗ xương gãy.
*
ISOBEL NGỒI TRÊN CÁI GHẾ BÀNH chẳng mấy khi có người ngồi trong góc căn hộ của Marco. Một dải cầu vồng những ruy-băng lụa loằng ngoằng xoắn quanh các ngón tay cô khi cô cố công điều khiển chúng tết thành một bím cầu kỳ.“Trò này ngớ ngẩn quá,” cô nói, nhăn mặt nhìn mớ ruy-băng rối nùi.
“Đó là phép thuật đơn giản thôi mà,” Marco nói từ bàn làm việc nơi anh ngồi, xung quanh la liệt những cuốn sách đang mở. “Mỗi sợi ruy-băng là một yếu tố, gắn kết với nhau bằng nút thắt và chủ ý. Giống như những lá bài của em, chỉ tác động lên chủ thể chứ không dò đoán ý nghĩa. Nhưng nếu em không tin thì sẽ không có tác dụng đâu, em cũng biết mà.”
“Có lẽ em đang không có tâm trạng để tin,” Isobel nói, tháo các nút thắt ra và xếp đám ruy-băng sang một bên, để chúng buông xuống theo tay chiếc ghế bành. “Mai em sẽ thử lại.”
“Thế thì giúp anh cái nào,” Marco ngẩng khỏi trang sách và nói. “Hãy nghĩ đến thứ gì đó. Một đồ vật. Một vật quan trọng mà anh không thể biết được.”
Isobel thở dài nhưng ngoan ngoãn nhắm mắt lại, tập trung tư tưởng.
“Một chiếc nhẫn,” Marco nói sau chốc lát, thấy được hình ảnh từ tâm trí cô dễ như thể cô đã vẽ nó ra giấy cho anh. “Một chiếc nhẫn vàng, mặt đá xa-phia, cẩn kim cương ở hai bên.”
Isobel mở bừng mắt. Cô hỏi: “Làm thế nào mà anh biết được?”
“Là nhẫn đính hôn phải không?” anh hỏi tiếp và mỉm cười đắc ý. Isobel đưa hai tay che miệng rồi gật đầu.
“Em đã bán nó,” Marco nói, nhặt những mẩu ký ức gắn với chiếc nhẫn. “Ở Barcelona. Em chạy trốn một đám cưới được sắp đặt trước, đó là lý do em ở London. Sao trước đây em chưa từng kể với anh?”
“Đó có phải là chuyện đem ra tán gẫu được đâu,” Isobel nói. “Mà anh cũng hầu như không kể gì về anh, biết đâu anh cũng từng là một chú rể chạy trốn ấy nhỉ.”
Họ lặng lẽ nhìn nhau một lúc, trong khi Marco còn đang nghĩ cách trả lời sao cho thích hợp, Isobel đã bật cười.
“Có lẽ anh ta đã đi tìm chiếc nhẫn còn lâu hơn là tìm em,” cô nói, đưa mắt xuống đôi bàn tay không trang sức. “Một món đồ đáng yêu, suýt nữa em đã không nỡ rời nó, nhưng lúc ấy em không có tiền và chẳng có gì khác bán được.”
Marco đang định nói tiếp rằng anh biết cô đã bán được chiếc nhẫn với giá hời, thì có tiếng gõ cửa.
“Chắc ông chủ nhà hả anh?” Isobel thì thầm, nhưng Marco đặt một ngón tay lên môi và lắc đầu.
Chỉ một người từng gõ cửa như vậy mà không lên tiếng. Marco ra hiệu bảo Isobel hãy ở trong phòng làm việc, rồi anh ra mở cửa.
Người đàn ông mặc bộ vét xám không vào trong căn hộ. Ông chưa từng vào đó kể từ khi ông sắp đặt việc chuyển nhà, đẩy cậu học trò của mình ra thế giới.
“Cậu sẽ nộp đơn xin làm việc cho người đàn ông này,” ông nói ngay mà không chào hỏi gì, rút một tấm danh thiếp đã cũ từ túi áo ra. “Có thể cậu sẽ cần một cái tên.”
“Con vẫn có tên mà,” Marco nói.
Người đàn ông mặc đồ xám không bận tâm hỏi tên đó là gì, chỉ nói tiếp. “Buổi phỏng vấn được lên lịch vào chiều mai. Gần đây ta đã thu xếp rất nhiều công việc làm ăn cho Monsieur[6] Lefèvre và đã hết lòng đề cử cậu, nhưng cậu nên làm tất cả những gì cần thiết để nắm được vị trí ấy.”
“Đây có phải là khởi đầu thử thách không ạ?” Marco hỏi.
“Đây chỉ là động thái dọn đường, đặt cậu vào một vị trí thuận lợi.”
“Thế bao giờ thì thử thách mới bắt đầu ạ?” Marco hỏi, dù anh đã từng hỏi câu đó cả chục lần và chưa lần nào nhận được câu trả lời rõ ràng.
“Khi nào đến thì cậu sẽ biết,” người đàn ông mặc đồ xám nói. “Khi thử thách bắt đầu, nếu khôn ngoan thì cậu cần tập trung chú ý vào cuộc đấu” – ánh mắt ông quét đầy chủ ý lên cánh cửa phòng làm việc đang đóng – “tuyệt đối không được phân tâm.”
Ông quay đi và ra khỏi tòa nhà, để Marco vẫn đứng ở ngưỡng cửa, đọc đi đọc lại tên và địa chỉ trên tấm danh thiếp đã cũ mờ.
*
CUỐI CÙNG HECTOR BOWEN cũng đồng ý khi cô con gái kiên quyết muốn hai bố con ở lại New York, nhưng ông làm vậy còn vì những mục đích riêng.Dù thỉnh thoảng vẫn nhắc nhở Celia phải tập luyện nhiều hơn, nhưng phần lớn thời gian ông chẳng để ý gì đến cô mà ở lỳ một mình trong căn phòng trên gác.
Celia khá hài lòng với hoàn cảnh, hầu như suốt ngày cô dành thời gian để đọc. Cô lén đến hiệu sách và ngạc nhiên khi bố cô không hỏi han xem những chồng sách mới tinh đó từ đâu mà ra.
Celia cũng có luyện tập thường xuyên: đánh vỡ đủ thứ trong nhà để gắn chúng trở lại như cũ, làm đám sách bay mòng mòng như chim ở trong phòng, tính toán xem chúng có thể bay được bao xa để điều chỉnh kĩ thuật cho phù hợp.
Cô dần điều khiển được vải vóc rất diệu nghệ, thay đổi trang phục của mình dễ dàng như một thợ may lành nghề để phù hợp với cân nặng cô đã lấy lại được sau thời kỳ suy kiệt. Cô lại cảm thấy cơ thể là của mình.
Celia phải nhắc bố ra khỏi phòng khi đến bữa, dù gần đây ông thường bỏ bữa nhiều hơn, hầu như không rời phòng.
Hôm nay ông còn chẳng buồn trả lời dù cô kiên nhẫn gõ cửa. Bực mình và biết rằng ông đã yểm bùa lên ổ khóa để cô không mở được, trừ phi có khóa của ông, Celia đá vào cánh cửa và ngạc nhiên thấy nó bật ra.
Bố cô đang đứng bên cửa sổ, chăm chú quan sát cánh tay khi ông giơ nó lên trước mặt, ánh nắng xuyên qua ô cửa kính bám đầy băng giá và xỉa xuống tay áo ông.
Bàn tay ông biến mất hoàn toàn rồi xuất hiện trở lại. Ông duỗi các ngón tay, nhíu mày nghe các khớp xương khẽ kêu răng rắc.
“Bố đang làm gì vậy ạ?” Celia hỏi, sự tò mò đã thắng cơn cáu kỉnh. Cô chưa từng thấy ông làm điều gì tương tự, cả trên sân khấu lẫn trong bài học riêng của hai cha con. “Không có gì cho con tham gia đâu,” người cha nói, kéo phần măng-sét tua rua xuống tận cổ tay.
Cửa đóng sầm lại trước mặt Celia.